+ Về tiềm năng: Biển có ý nghĩa to lớn để chúng ta phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế. Tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ngh[r]
Trang 1Họ và tên : Nghề nghiệp : Đơn vị : Trường THCS Đồn Thị Điểm Địa chỉ : 56 Ngơ Quyền - Quận: Ninh Kiều – Thành phố Cần Thơ Điện thoại : 07103 824 332
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG VÀ TRUYỀN THỐNG 55 NĂM HẢI QUÂN
NHÂN VIỆT NAM ANH HÙNG
-Câu 1 Nội dung cơ bản Nghị quyết của Quốc hội Khố XI, kỳ họp thứ 5 thơng qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 về việc phê chuẩn Cơng ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 Tuyên
bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam?
*Tuyên bố của Chính phủ nước cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được uỷ ban thường vụ quốc hội chuẩn y tuyên bố quy định các vùng biển và thềm lục địa của nước cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau
1 Lãnh hải của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngồi đường
cơ sở nối liền các điểm nhơ ra nhất của bờ biển và các điểm ngồi cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất trở ra
-Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thuỷ của nứơc Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và tồn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lịng đất dưới đáy biển của lãnh hải
2 Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng tiếp liền phía ngồi lãnh hải Việt Nam cĩ chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam
- Chính phủ nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm sốt cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khố, đảm bảo sự tơn trọng các quy định về ý tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
3 Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
- Nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam cĩ chủ quyền hồn tồn về việc thăm dị, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và khơng sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển
và trong lịng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; cĩ quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dị và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế, cĩ thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam cĩ thẩm quyền bảo vệ mơi trường, chống ơ nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
4 Thềm lục địa của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lịng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngồi lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngồi của rìa lục địa; nơi nào bờ ngồi của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam khơng đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường
cơ sở đĩ
- Nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam cĩ chủ quyền hồn tồn về mặt thăm dị, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khống sản, tài nguyên khơng sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
5 Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngồi vùng lãnh hải nĩi ở điều 1 đều cĩ lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong các điều 1, 2, 3
và 4 của Tuyên bố này
6 Xuất phát từ các nguyên tắc cuả Tuyên bố này, các vấn đề cụ thể liên quan tới lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ
Trang 2được quy định chi tiết thêm trên cơ sở bảo vệ chủ quyền và lợi ích của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế
7 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên
Câu 2 Vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của Biển Đông đối với sự phát triển kinh tế xã hội –
an ninh quốc phòng của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết trung ương 4 (khoáX)?
* Nghị quyết trung ương 4:
- Thế kỷ XXI được thế giới xem là "Thế kỷ của đại dương" Các quốc gia có biển đều rất quan
tâm đến biển và coi trọng việc xây dựng chiến lược biển Khu vực Biển Đông, trong đó có vùng biển Việt Nam có vị trí địa kinh tế và địa chính trị rất quan trọng Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rõ vị trí, vai trò đó Với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, ngày nay biển càng có vai trò to hơn đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, đảng và Nhà nước ta đã có một số nghị quyết, chính sách
về các lĩnh vực liên quan đến biển Trước tình hình mới của đất nước, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia đối với biển, đảo và vùng trời của Tổ quốc, đòi hỏi nước
ta cần có chiến lược biển toàn diện nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
+ Về tiềm năng: Biển có ý nghĩa to lớn để chúng ta phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế.
Tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước, nổi bật là dầu khí với trữ lượng khoảng 3 - 4 tỷ tấn dầu quy đổi, cùng các loại khoáng sản có giá trị khác như than, sắt, titan, cát thủy tinh……; hải sản có tổng trữ lượng khoảng 3 - 4 triệu tấn; dọc bờ biển có trên 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó có nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển quốc tế; nhiều đảo có tiềm năng phát triển kinh tế cao; hơn 125 bãi biển lớn, nhỏ với cảnh quan đẹp có điều kiện tốt để xây dựng các khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch cao cấp phục vụ khách trong nước và quốc tế
Bên cạnh những tiềm năng, thế mạnh đó, biển nước ta cũng có một số khó khăn, trong đó, nổi lên là một số vùng thường xảy ta thiên tai với cường độ lớn và tần suất cao làm ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của nhân dân vùng ven biển và việc khai thác tiềm năng biển
1 Ý nghĩa chiến lược về quốc phòng - an ninh.
Biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với an ninh - quốc phòng của đất nước Ơ nhiều nơi núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho biệc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển
Hệ thống đảo và quần đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta nằm ở trung tâm Biển Đông, án ngữ các đường hàng hải quốc tế huyết mạch giữa Đại Tây Dương - An Độ Dương - Thái Bình Dương, là lá chắn bảo vệ sườn phía Đông của đất nước Ơ đây có thể xây dựng các căn cứ chiến lược để kiểm soát các tuyến đường biển, đường không đi qua Biển Đông
2 Ý nghĩa chiến lược về kinh tế - xã hội.
a) Về nguồn lợi hải sản:Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú,
có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài cá có giá trị kinh tế như: trích, thu, ngừ, bạc má, hồng………; 1.647 loài giáp xác (trong đó có tới 70 loài tôm), hơn 2.500 loài nhuyễn thể; hơn 600 loài rong biển…
b) Nguồn Lợi dầu khí, khoáng sản, năng lượng:thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích
chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn quy đổi Hiện nay chúng ta đang khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen…, đã phát hiện được trên 20 vị trí có tích tụ dầu khí
c) Về giao thông vận tải:Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển
của Việt Nam thông qua eo biển Malắcca để đi đến An Độ Dương, Trung Đông, Châu Au, Châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thaí Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Inđônêxia, Xingapo đến Oxtrâylia và Niu Di Lân… Đây là điều
Trang 3kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
d) Về du lịch biển: Nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên
tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh… có đủ các điều kiện và tiền đồ để trở thành những tụ điểm về du lịch biển - một ngành có thu nhập đáng kể trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay có khoảng 50% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển Hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, các cơ sở đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hàng triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng
Câu 3 Những định hướng cơ bản của Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 và những nhiệm vụ giải pháp thực hiện của Đảng ta?
1 Quan điểm chỉ đạo.
- Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn
- Kết hợp chặt chẽ giữa việc phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa Phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc
tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
2 Mục tiêu.
- Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh
- Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP của cả nước Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển Phấn đấu thu nhập đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước Xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh Phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch vụ biển Xay dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển
3 Định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
- Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển; phát triển khoa học – công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Tăng cường khả năng quốc phòng an ninh trên biển, khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và phòng, chống thiên tai Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người hoạt động trên biển Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước và quan hệ quốc tế về biển, đảo
- Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển như sau: 1 Khai thác, chế biến, dầu khí; 2 kinh tế hàng hải; 3 khai thác và chế biến hải sản; 4 du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5 xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển khu đô thị ven biển Sau năm 2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: 1 kinh tế hàng hải; 2 khai thác, chế biến dầu khí và các loại khoáng sản; 3 khai thác và chế biến hải sản;
4 du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5 các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thi ven biển
- trước mắt, tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, xây dựng đội tàu mạnh, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân
Trang 4hoạt động trên biển, đảo, người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai; đồng thời, xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển
4 Định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
- Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
và cá quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền của nước ta Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển Định hướng chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùng biển và ven biển là:
- Phat huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc
- Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc
- Phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân
- Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển
- Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định
cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của
Tổ quốc
5 Định hướng điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển.
- Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển để xác lập căn cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên, môi trường biển theo hướng phát triển bền vững Đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học; nâng cao chất lượng điều tra quan trắc, dự báo về tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý, điều hành công tác điều tra, thăm dò và sử dụng dữ liệu về tài nguyên biển
6 Định hướng phát triển khoa học – công nghệ biển.
Phát triển khoa học - công nghệ biển phải trở thành động lực của phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển Xây dựng tiềm lực khoa học – công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học – công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học – công nghệ cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước
7 Định hướng bảo vệ môi trường biển và ven biển, phòng, chống thiên tai.
- Hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển bền vững các
hệ sinh thái biển và ven biển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực phòng, chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, từng bước hiện đại hoá lĩnh vực này, dáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn đời sống dân cư và các thành phần kinh tế hoạt động trên biển, đảo và ven biển
8 Định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng dạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả ba miền Bác, Trung, Nam, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông với quốc tế Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kỹ thuật – công nghệ các cảng, tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hoá, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Sớm hoàn chỉnh, khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến đường ven biển và đường cao tốc Bắc – Nam trên biển
- Xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước ngọt đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế biển và phục vụ sinh hoạt của dân cư ven biển, trên biển và các đảo
- Xây dựng hệ thống thông tin, quan sát biển, hình thành hệ thống nghiên cứu và dự báo về biển (có trọng tâm, trọng điểm theo lĩnh vực và theo vùng)
Trang 59 Định hướng chiến lược các vùng biển.
a Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): xây dựng khu vực Hải Phòng –
Quảng Ninh thành trung tâm kinh tế mạnh, nòng cốt là cảng biển, công nghiệp và du lịch biển làm đầu tàu lôi kéo cả vùng phát triển Hình thành và phát triển các khu kinh tế tổng hợp, cụm công nghiệp ven biển Phát triển các khu kinh tế thương mại gắn với vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở xây dựng tuyến đường ven biển, cảng biển, các khu kinh tế, các thành phố, thị xã, thị trấn ở dải ven biển
b Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): xây
dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển của lớn của nước ta Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở tuyến cao tốc Bắc – Nam, các cảng nước sâu, san bay quốc tế, phát triển các đô thị ven biển Xây dựng các khu kinh tế tổng hợp; chú trọng phát triển kinh tế hàng hải, du lịch
c Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh):Phát
triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm hướng ra biển của vùng Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang kinh tế dọc quốc lộ 51
d Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang) xây dựng Phú
Quốc thành trung tâm kinh tế biển lớn của vùng hướng mạnh ra biển Đến năm 2020, cơ bản xây dựng Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao và trung tâm giao thương quốc tế Hình thành và phát triển tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây (Rạch Gía – Hà Tiên) và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông (Bạc Liêu – Ghềnh Hào – Cà Mau – Năm Căn) gắn với xây dựng khu công nghịêp khí – điện – đạm Cà Mau
Câu 4 HQND Việt Nam được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ơ đâu ? tên gọi qua các thời kỳ ? Những chiến công tiêu biểu của HQN Việt Nam trong 55 xây dựng chiến đấu và trưởng thành?
1 HQ nhân dân Việt Nam ra đời (7/5/1955).
- Chiến dịch Đông xuân năm 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của quân và dân ta Hoà bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, nhưng nước ta còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và tay sai thống trị
Bảo vệ chủ quyền, quản lý chặt chẽ một dải bờ biển miền Bắc dài hơn 800 km từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng Do đó, cuối tháng 7 năm 1954, Bộ tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho Cục tác chiến tổ chức một bộ phận chuyên theo dõi tình hình mọi mặt ở vùng biển, nghiên cứu, chuẩn bị đề án, xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển
Sau một thời gian nỗ lực làm việc, ngày 13 và 14/04/1955, Tổng Quân uỷ họp thông qua đề án xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển Đây là cơ sở, phương hướng cho sự ra đời một lực lượng mới, một Quân chủng tương lai của QĐND Việt Nam
Ngày 26/4/1955, Bộ quốc phòng ra Nghị quyết số 1125/QP – TTL thành lập trường huấn luyện bờ bể (c45) và Xưởng 46 Ngày 7/5/1955 Bộ quốc phòng ra quyết định số 284/NĐ thành lập
Cục phòng thủ bờ bể (tiền thân của HQ nhân dân Việt Nam).Việc ra đời của Cục phòng thủ bờ bể
cùng 2 đơn vị trực thuộc là trường huấn luyện bờ bể và Xưởng 46 đã mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển các thành phần nòng cốt đầu tiên của lực lượng Hải quân Ngày 7/5/1955 trở thành ngày thành lập HQND Việt Nam
- Người Chỉ huy trưởng đầu tiên của HQND Việt Nam là Đại tá Tạ Xuân Thu, sau này đồng chí là thiếu tướng, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân chủng
* Trải qua 53 năm vừa chiến đấu vừa xây dựng Hải quân nhân dân đã giành được nhiều chiến công to lớn trưởng thành lớn mạnh xây đắp nên truyền thống vẻ vang
Truyền thống của HQND Việt Nam là sự kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, của quân đội, đó là những biểu hiện sinh động tiêu biểu bản chất cách mạng của Quân chủng làm nhiệm vụ chiến đấu trên biển trong đấu tranh với thiên nhiên, trong thực hiện sản xuất và xây dựng Quân chủng Truyền thống vẻ vang của Quân chủng được thể hiện tập trung qua thư của Đảng uỷ quân
sự trung ương gửi bộ đội Hải quân nhân dịp kỷ niện lần thứ 25 ngày thành lập Quân chủng
”Chiến đấu anh dũng – mưu trí sáng tạo – làm chủ vùng biển – quyết chiến quyết thắng”.
1 Những chiến công nổi bật.
Trang 6* HQ nhân dân Việt Nam thành lập ngày 7/5/1955.Hơn nửa thế kỷ xây dựng chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, HQND Việt Nam đã lập nên những chiến công và thành tích vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, trong làm n/vụ quốc tế, trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
1 Chiến thắng trận đầu ngày 2 và 5/8/1964 - Tuy còn non trẻ, ngày 02/8/1964, HQND Việt
Nam nêu cao ý chí quyết tâm dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng quân xâm lược; mưu trí, dũng cảm đánh đuổi tàu khu trục Ma đốc, bắn rơi 1 máy bay, bắn bị thương 1 chiếc khác Ngày 5/8/1964 phối hợp với các lực lượng, các đơn vị Hải quân bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên trên miền Bắc, lập nên chiến thắng trận đầu, được Bác Hồ kính yêu gửi thư khen ngợi
2 Cùng quân và dân miền bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân
và Hải quân của đế quốc Mỹ.- Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của Giôn xơn và Ních xơn, Hải
quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu 716 trận, bắn rơi 118 máy bay và bắn bị thương 102
lần chiếc khác, bắn bị thương 45 lần chiếc tàu chiến Mỹ; cùng quân và dân miền bắc đánh thắng cuộc
chiến tranh phá hoại bằng Không quân và Hải quân của đế quốc Mỹ
3 Đánh thắng chiến tranh phong toả bằng thủy lôi, bom từ trường của đế quốc Mỹ.
- Với quyết tâm:"Đánh địch mà đi mở đường mà tiến" Hải quân nhân dân Việt Nam phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, lực lượng đầu tiên, trực tiếp và chủ yếu trong tháo gỡ, rà phá, làm mất hiệu lực 2.400 quả thủy lôi, mở tuyến thông luồng, đảm bảo cho tàu thuyền hoạt động, sản xuất cũng như vận tải tiếp nhận, chi viện cho chiến trường miền Nam trên hầu hết các cửa sông, cửa biển và hải cảng; đánh bại một phương thức tác chiến chiến lược rất thâm độc của địch Góp phần cùng toàn quân ta đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của địch trên miền Bắc
4 Mở đường Hồ Chí Minh trên biển đông, con đường huyền thoại để vận chuyển lực lượng , vũ khí trang bị cho chiến trường miền Nam.- Để chi viện cho cách mạng miền Nam, cùng
với Đoàn 559 mở đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn Đoàn 759 (tiền thân của đoàn 125) được thàn lập để mở đường Hồ Chí Minh trên biển
Trong suốt 16 năm vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam, HQNDVN đã sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ mưu trí vượt qua các tuyến bao vây, phong tỏa, đối phó với từng thủ đoạn của địch; sáng tạo ra nhiều phương thức hoạt động độc đáo, táo bạo; hình thàn nhiều tuyến, mở hàng chục bến bãi đến hầu hết các tỉnh ven biển miền Nam, đến tận cùng của đất nước và đến tận cửa ngõ Sài Gòn; vận chuyển kịp thời và đúng thời cơ hơn một trăm ngàn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, hàng chục ngàn lượt người đến những chiến trường khó khăn ác liệt nhất, góp phần chi viện đắc lực cho cách mạng miền Nam
Đường Hồ Chí Minh trên biển đông mãi mãi trở thành con đường huyền thoại, là nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125 đã thể hiện cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với lời tuyên dương: chiến đấu trên vùng biển Tổ quốc, luôn luôn đương đầu với địch, vận lộn với sóng to, gió lớn và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong những tình huống phức tạp khó khăn Đoàn đã 2 lần được tuyên dương đơn vị anh hùng LLVTND, được tặng thưởng 311 huân chương các loại, có 3 tàu và 5 cán bộ được tặng danh hiệu anh hùng LLVTND
5 Chiến công của đặc công hải quân - cách đánh độc đáo.- Trong điều kiện trang bị kỹ
thuật còn thô sơ, lại phải đương đầu với Hải quân hiện đại củaMỹ ngụy Hải quân nhân dân Việt Nam
đã nghiên cứu, tìm ra cách đánh sáng tạo, độc đáo, táo bạo và đạt hiệu quả cao
Ngày 13/4/1966, Đòan 126 đặc công Hải quân được thành lập Vượt qua tuyến bao vây phong tỏa dày đặc của địch, dựa vào dân, luồn sâu vào các cảng, dùng đơn vị nhỏ, tinh nhuệ, sử dụng vũ khí
có uy lực cao, đánh đau, đánh hiểm; 7 năm chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt - Đông Hà đặc công Hải quân đã đánh 300 trận; đánh chìm, đánh hỏng 336 tàu xuồng chiến đấu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch Góp phần cùng các lực lượng trên khắp chiến trường miền Nam đánh chìm, đánh hỏng 7.473 tàu thuyền, đánh sập hàng trăm cầu cống, bến cảng, diệt hàng ngàn lính địch, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí đạn dược, vật chất phục vụ chiến tranh, cùng quân dân miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Đoàn 126 đã lập nên nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc, hai lần được tuyên dương đơn vị anh hùng LLVTND; 3 đơn vị và 10 cá nhân được tuyên dương anh hùng LLVTND, trong đó đội 1 đã 3
lần được tuyên dương anh hùng LLVTND Đoàn 126 xứng đáng với lời khen của Quốc Hội: "Là một tập thể kiên cường, có quyết tâm chiến đấu rất cao, không ngừng phát huy tinh thần chịu đựng gian
Trang 7khổ, khắc phục khó khăn, tích cực bám địch, dũng cảm mưu trí sáng tạo nhiều cách đánh mới đạt hiệu suất chiến đấu cao, tiêu diệt nhiều địch, lập nhiều chiến công rực rỡ"
6 Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân cả nước tổng tiến công mùa xuân 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.- Tháng 3/1975, HQNDVN đã huy động cao nhất số tàu
vận tải để chở bộ đội và phương tiện chiến đấu vào chiến trường Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, tàu chiến của Hải quân ta thả thủy lôi phong tỏa cửa biểnThuận An; đặc công Hải quân chọc thẳng vào bán đảo Sơn Trà đánh lên cầu Thủ Tú phối hợp tiến công từ phía biển làm cho địch hoảng sợ và nhanh chóng tan rã
Vào chiến dịch Hồ Chí Minh, phát huy khí thế tiến công thần tốc, Hải quân cùng với quân khu
5 tiến công giải phóng hoàn toàn quần đảo Trường Sa(29/4) với chiến công có ý nghĩa chiến lược, kết thúc nhiệm vụ chiến đấu đặc biệt được giao Tiếp đó, HQNDVN cùng với Quân khu 9 tiến công giải phóng một số đảo ven biển và quần đảo Tây nam, ngăn chặn truy quét tàn quân địch, tiếp quản các căn
cứ, cơ sở Hải quân ngụy; góp phần vào thắng lợi trọn vẹn, vĩ đại của dân tộc Kết thúc chiến dịch mùa xuân 1975, Hải quân NDVN được tặng thưởng huân chương Hồ Chí Minh, 4 đơn vị được tuyên dương anh hùng LLVTND
7 Hải quân nhân dân Việt Nam hòan thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Lào và Cam Phu Chia - Sau chiến thắng 1975, bọn phản động Pôn Pốt Iêng xary lại gây chiến tranh ở biên
giới Tây nam nước ta Hải quân NDVN đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ toàn vẹn hải đảo và vùng biển Tây nam của Tổ quốc
Hưởng ứng lời kêu gọi của mặt trận Dân tộc cứu nước Căm phu chia, chấp hành mệnh lệnh của bộ chjỉ huy mặt trận Hải quân NDVN đã hòan thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang Cùng với quân dân Căm phu chia anh em và các lực lượng khác tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn tên địch, góp phần cứu nhân dân Căm phu chia thoát khỏi họa diệt chủng, cùng với 10 năm bảo vệ thành quả cách mạng
và công cuộc lao động hồi sinh của nhân dân nước bạn
8 Xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.- Thấm sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu khi người về thăm
Quân chủng (năm 1961) "Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải hiết giữ gìn lấy nó" Trong công cuộc đổi mới đất nước, Hải quân NDVN
đã nỗ lực phấn đấu mưu trí, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn thử thách, kể cả hy sinh xương máu; kiên cường kiên quyết, kiên trì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền vùng biển đảo, thềm lục địa cuả Tổ quốc
Câu 5 HQND Việt Nam vinh dự được đón Bác Hồ về thăm mấy lần? Ơ đâu? Ngày tháng năm nào? Những lời dặn dò sâu sắc của Bác Hồ trong những lần về thăm đó?
1 Quân chủng HQ vinh dự được 3 lần chính thức đón Bác Hồ về thăm.
- Lần thứ nhất là ngày 30/03/1959, Bác về thăm trường huấn luyện bờ biển và X46
- Lần thứ hai ngày 15 tháng 3 năm 1961, Bác về thăm cơ quan Cục Hải quân
- Lần thứ ba là ngày 13/11/1962, Bác về thăm Đoàn 135 của HQ ở Vạn Hoa
* Ngày 15 tháng 3 năm 1961, Bác về thăm cơ quan Cục Hải quân, khi Người về thăm Hải quân lần thứ 2 Lúc vào thăm hang Đầu Gỗ, nơi xưa Trần Hưng Đạo dựng công trường làm cọc để
cắm trên sông Bạch Đằng đánh tan giặc Nguyên – Mông Bác đã nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
- Hình ảnh Bác Hồ đội mũ dải Hải quân được chụp trong lần Bác cùng Anh hùng vũ trụ Liên
Xô Giéc-man-ti-tốp đi thăm vịnh Hạ Long Bộ đội HQ vinh dự được phục vụ Bác trong chuyến đi biển
này Trên buồng lái của con tàu Hải Lâm (tàu du lịch của Bác giao cho HQ quản lý), Bác Hồ đội mũ
dải HQ và tự cầm tay lái điều khiển con tàu đưa Giéc-man-ti-tốp đi thăm vịnh
Câu 6 Nêu truyền thống của Hải quân nhân dân Việt Nam và những phần thưởng cao quý
mà Đảng – Nhà nước trao tặng cho tập thể cá nhân trong Quân chủng?
1 Truyền thống của HQND Việt Nam.
* Trải qua 55 năm vừa chiến đấu vừa xây dựng Hải Quân nhân dân đã giành được kỳ tích to lớn trưởng thành lớn mạnh xây đắp nên truyền thống vẻ vang
Truyền thống của Hải Quân nhân dân Việt Nam là sự kế thừa và phát huy truyền thống
vẻ vang của dân tộc, của quân đội, đó là những biểu hiện sinh động tiêu biểu bản chất cách mạng của Quân chủng làm nhiệm vụ chiến đấu trên biển trong đấu tranh với thiên nhiên, trong thực hiện sản xuất và xây dựng Quân chủng Truyền thống vẻ vang của Quân chủng được thể hiện tập
Trang 8trung qua thư của Đảng uỷ quân sự trung ương gửi bộ đội Hải Quân nhân dịp kỷ niện lần thứ 25
ngày thành lập Quân chủng ”Chiến đấu anh dũng–mưu trí sáng tạo– làm chủ vùng biển – quyết chiến quyết thắng”.
1 Chiến đấu anh dũng: - Đó là truyền thống tiêu biểu cho chức năng của Hải Quân nhân dân
là chiến đấu trên mặt trận vũ trang vì độc lập, tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội , bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo thềm lục địa và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Là nét nổi bật phẩm chất cao quý ý chí khí phách của cán bộ,chiến sĩ Hải Quân trong chiến đấu hoạt động sản xuất
-Nội dung truyền thống đó được thể hiện trong Hải Quân là tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm kiên cường bền bỉ dẻo dai Chủ động liên tục tiêu diệt địch, là tinh thần biết đánh, quyết đánh, không sợ hy sinh, sẵn sàng chiến đấu xả thân giành thắng lợi cùng toàn quân, toàn dân đánh bại bất cứ
kẻ thù nào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
2 Mưu trí sáng tạo:- Đây là truyền thống tiêu biểu cho trí tuệ thái độ phong cách của cán bộ,
chiến sĩ Hải Quân trong thực hiện xây dựng và chiến đấu Đó là biểu hiện tính cách mạng khoa học trong đấu tranh chống những kẻ thù xâm lược lớn mạnh, chống lại thiên tai ác liệt, sự kết hợp khôn ngoan đối phó thăng lợi trước mọi thử thách và tình huống phức tạp, sự thông minh sáng tạo trong việc phát huy mọi lực lượng phương tiện vũ khí có trong tay Lợi dụng các quy luật điều kiện đặc biệt địa hình thời tiết sáng tạo ra cách đánh có hiệu quả, hiệu xuất cao phù hợp với điều kiện chiến đấu, chiến trường của ta biến khả năng có hạn thành sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù
Trong lao động xuất sắc đó là óc dám nghĩ, dám làm phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật Tổ chức khoa học nhằm tạo ra năng xuất chất lượng và hiệu quả cao, khắc phục khó khăn, giải quyết thành công những vấn đề vượt xa trình độ khả năng điều kiện của đơn vị Trong chiến đấu khi đương đầu với địch, mưu trí linh hoạt biết lợi dụng sơ hở mâu thuẫn khoét sâu các mặt yếu của chúng, chủ động tiến công tạo ra nhân tố bất ngờ giành thắng lợi
3 Làm chủ vùng biển.- Là biểu hiện tinh thần yêu nước XHCN có ý chí bảo vệ độc lập và
toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc làm chù vùng biển một lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của tổ quốc Nội dung của truyền thống bảo vệ vùng biển là lòng yêu biển, yêu đảo yêu mến gắn bó với Quân chủng, với ngành nghề với đơn vị Là biểu hiện tinh thần đi bất cứ nơi đâu làm bất cứ nhiệm vụ gì sẵn sàng hy sinh chiến đấu xả thân vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội Bảo vệ vùng biển đảo thềm lục địa của tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc
- Trong chống Mỹ, Hải Quân nhân dân đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường sông biển thể hiện ý chí làm chủ giành quyền là chủ vùng biển và được thể hiện bằng lòng say mê học tập nâng cao trình độ nắm vững và sử dụng bảo quản các phương tiện kỹ thuật có trong tay phù hợp với cách đánh của chiến trường để đánh thắng địch
4 Quyết chiến quyết thắng.- Truyền thống quyết chiến quyết thắng là kết quả của sự giác ngộ
về mục tiêu chiến đấu của quân đội, Quân chủng là sự kế tục truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc, tinh thần triệt để cách mạng tiến công của giai cấp công nhân Biểu hiện trước hết là tinh thần và sự chiến đấu quyết tâm cao hoàn thành mọi nhiệm vụ vượt qua mọi khó khăn đánh thắng mọi kẻ thù trong bất cứ tình huống nào, trong phòng ngự kiên cường giữ vững trận địa, giữ vững đảo trong tiến công dũng mãnh chất lượng cao đánh thắng số lượng đông, lấy lực lượng nhỏ tiêu diệt mục tiêu lớn, trước những thử thách ác liệt khó khăn nguy hiểm không dao động lùi bước giữ vững quyết tâm đoàn kết chiến đấu
2 Những phần thưởng cao quý.- HQND Việt Nam được Nhà nước tuyên dương danh hiệu
AH LLVTND năm1989 Được Nhà nước tặng thưởng
- 01 Huân chương Sao vàng (1985) – 01 Huân chương Hồ Chí Minh (1979)
- 02 Huân chương Độc lập (hạng Nhất năm 2000, hạng Nhì năm 1965)
- 03 Huân chương Quân công (hạng Nhất năm 1984 và 02 hạng Nhì 1964, 1983)
- 01 Huân chương Lao động hạng Ba
+ 49 đơn vị được Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng LLVTND và Anh hùng lao động
(trong đó Đội 1 thuộc Đoàn 126 được tuyên dương 3 lần; Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 101, Đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 và Tàu HQ 671 được tuyên dương 2 lần).
+ 31 cán bộ, chiến sĩ được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND và Anh hùng lao động; trên 6.500 tập thể và cá nhân được Nhà nước tặng nhiều Huân chương Quân công và Chiến công các loại
Câu 7 Hãy trình bày cảm nhận sâu sắc về Hải quân nhân dân Việt Nam và biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc (độ dài từ 500 đến 1.000 từ).