1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Phân tích bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão

10 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, Phạm Ngũ Lão đã rất tài năng khi chỉ qua bốn câu thơ ấy mà truyền đạt tới moi người những quan điểm tư tưởng của một con người của trời đất của vũ trụ, của [r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 10

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI THƠ THUẬT HOÀI CỦA PHẠM NGŨ LÃO

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

1 M i

- Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Thuật Hoài

- Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận

2 Thân bài

- Khái quát chung

 Hoàn cảnh sáng tác: Chưa rõ bài thơ viết năm nào nhưng có lẽ vào khoảng cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ 2 đến gần

 Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt đường luật

 Bố cục:

o Hai câu đầu: Vẻ đẹp con người với tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ, khí thế hào

Trang 2

hùng

o Hai câu cuối: Ước vọng hoài bão của người tráng sĩ đời Trần

- Phân tích

 Hai câu thơ đầu: Vẻ đẹp con người với tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ, khí thế hào hùng

o Mở đầu bài thơ bằng cụm động từ “hoành sóc”: Tư thế cắm ngang ngọn giáo vẽ

nên nét đẹp ngang tàng, oai phong lẫm liệt của một tráng sĩ xung trận, sẵn sàng chiến đấu:

o Người tráng sĩ ấy, vị tướng quán ấy đã chinh chiến triền miên, dãi dầu gian khó

để bảo vệ giang sơn đã mấy thu rồi

o Liên hệ: hình ảnh người tráng sĩ trong Chinh phụ ngâm: “Múa gươm rượu tiễn

chưa tàn – Chí ngang ngọn giáo cào ngàn hang beo” Hình ảnh người tráng sĩ

càng đẹp hơn khi đạt trong khung cảnh bừng bừng khí thế tiến công cua một đội quân dũng mãnh muốn át cả trời sao (ba quân khí mạnh…)

o Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu): Tì là loài thú lai giống cọp và beo (theo truyền thuyết), hổ là cọp Tam quân tì hổ ý nói ba quân có sức mạnh vô địch Khí thôn ngưu ngụ ý quân đội bừng bừng khí thế chiến đấu và chiến thắng

o Lời thơ ước lệ, hào tráng, hình ảnh kì vĩ, toát lên khí thế ngất trời của quân đội đời Trần qua ba lần chiến thắng bọn xâm lược Mông Nguyên

 Hai câu thơ đã phác họa nên một bức tranh hoành tráng về một thời oanh liệt với một giọng điệu thật hào hùng Đó chính là âm hưởng vang vọng của hào khí nhà Trần

 Hai câu thơ cuối: Ước vọng, hoài bão và quan niệm về công danh của người tráng

sĩ đời Trần

o Nam nhi vị liễu công danh trái (Công danh nam tử còn vương nợ): Công danh là

sự nghiệp và tiếng tăm Trong thời phong kiến, kẻ làm trai rất coi trọng công danh, tức là phải lập sự nghiệp ích quốc lợi dân (công) để lưu lại tiếng thơm cho

hậu thế (danh) Cho nên, công danh xem như món nợ đối với người trai: “Có

trung hiếu nên đứng trong trời đất,/Không công danh thà nát với cỏ cây.”

(Nguyễn Công Trứ)

o Câu thơ thể hiện ý chí và khát vọng thật cao đẹp: muốn được cống hiến cao nhất, muốn làm tròn sứ mệnh của đấng nam nhi

Trang 3

o Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu): Hoài bão của người trai càng cao đẹp hơn mà người đọc bắt gặp ở đây là một nhân

cách lớn lao: một con người “cắp ngang ngọn giáo”, xông ra giữa trận tiền chống

giặc suốt mấy thu rồi không nhớ nữa Thế mà vẫn nghĩ mình chưa làm tròn

trách nhiệm, còn nợ với non sông, đất nước; vẫn thấy “thẹn” khi nghĩ mình công

danh vẫn chưa bằng được Vũ Hầu

o Gia Cát Vũ Hầu được xem là một bậc tuyệt tri trong thời Tam Quốc, đầy tài năng thao lược, đã giúp Lưu Bị dựng nên nhà Thục Hán, công danh xếp vào bậc nhất thiên hạ Phạm Ngũ Lão có thể tự thấy mình còn thua kém Gia Cát Lượng về

công danh sự nghiệp Cũng có thể hiểu “thẹn” là cách nói thể hiện khát vọng,

hoài bão muốn sánh ngang với Vũ Hầu

o Cái “thẹn” ấy cao đẹp và quý giá biết chừng nào! Đó là nỗi thẹn của một nhân

cách lớn Nỗi thẹn ấy giúp cho con người ta biết vươn tới lẽ sống cao cả hơn

 Hai câu thơ cuối bộc lộ nỗi niềm, khát vọng của người làm tướng và những boăn khăn trăn trở về trách nhiệm của kẻ làm trai giữa thời đại

3 Kết bài

- Nhận xét, đánh giá chung (Bài thơ thể hiện tấm lòng và ý chí của Phạm Ngũ Lão, đồng thời tiêu biểu cho tư tưởng và tình cảm của lớp người cùng thế hệ với ông, thế hệ làm nên hào khí Đông A)

- Mở rộng vấn đề bằng liên tưởng của các nhân

C BÀI VĂN MẪU

B i văn mẫu 1

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn

võ toàn tài Ông đã có công giúp cho hưng đạo đại vương biết bao nhiêu trận thắng cùng những chiến công lẫy lừng bảo vệ tổ quốc bình yên độc lập, dẹp yên lũ cướp nước Có thể nói ông giống như một cánh tay đắc lực cho Hưng Đạo Đại vương vậy tuy nhiên chúng ta không chỉ biết đến ông với tư cách là một vị danh tướng mà còn biết đến ông với tư cách

là một nhà thơ Nhắc đến ông là ta nhớ ngay đến bài thơ thuật hoài – một bài thơ thể hiện

rõ nỗi lòng của ông cũng như chủ nghĩa anh hùng yêu nước, khí thế của quân dân nhà Trần

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, một bài thơ chỉ có bốn câu thơ thì

Trang 4

tác giả làm thế nào để thể hiện hết quan điểm, tình yêu đất nước, trung quân được? Thế nhưng, Phạm Ngũ Lão đã rất tài năng khi chỉ qua bốn câu thơ ấy mà truyền đạt tới moi người những quan điểm tư tưởng của một con người của trời đất của vũ trụ, của một đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, đồng thời tác giả còn thể hiện chủ nghĩa anh hùng yêu nước của bản thân qua những quan niệm của đại đa số những danh tướng yêu nước trung thành hồi bấy giờ

Hai câu thơ đầu tác giả tập trung thể hiện vẻ đẹp hiên ngang trong tranh đấu cũng như vẻ đẹp đoàn kết tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ của những binh lính nhà Trần:

“ Hoành sóc giang san kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

( Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu) Hình ảnh con người nhà Trần hiện lên hiên ngang với ngọn giáo trong tay họ có thể

đi bất cứ nơi nào có giặc, hành hiệp trượng nghĩa cứu giúp người nghèo kẻ yếu cũng như đánh đuổi quân xâm lược Mông Nguyên Xét về vẻ đẹp hiên ngang ấy trong bản dịch chữ

“hoành sóc” thành “múa giáo” không lột tả hết được sự hiên ngang ấy Múa giáo thể hiện

sự yếu ớt đồng nghĩa với việc không lột tả được sự hùng mạnh anh dũng của quân đội,

con người nhà Trần Hai chữ “hoành sóc” như khắc tạc lên những con người anh dũng lẫm

liệt với ngọn giáo ngang trong tay đi khắp giang sơn để bảo vệ đất nước Quân xâm lược,

có thể mạnh về số lượng cũng như chất lượng, đầy đủ về vật chất nhưng chúng lại thiếu đi

sự đánh giá và ý chí vượt qua gian khổ nên chúng phải chuốc lấy thất bại vì đã đánh giá thấp con người nhà Trần Những con người ấy tuy có nhỏ bé về mặt thể chất hay không đông đảo như số lượng quân của nhà Mông nhưng ý chí của họ thì vượt qua hữu hạn về mặt thế chất và số lượng ấy Và cứ thế với ngọn giáo ngang trong tay họ đã trải qua biết bao nhiêu mùa thu như thế để bảo vệ đất nước tổ quốc này Họ góp phần tạo nên một đất nước tươi đẹp như xã hội ngày nay Hình ảnh ngọn giáo trở nên thật đẹp khi được hiện lên trong cái rộng lớn của không gian và chiều dài của thời gian lịch sử Hình ảnh ấy cũng như thể hiện được vẻ đẹp của chính tác giả trong những trận chiến nảy lửa, căng go vẫn ngang ngọn giáo để bảo vệ đất nước Không chỉ đẹp về mặt ngoại hình con người nhà Trần còn hiện lên với vẻ đẹp của khí chất cao ngất, mạnh mẽ lấn át hết cả sao Ngưu trên trời Sức mạnh của quân đội Sát Thát giống như hổ như báo có thể nuốt trôi cả mọt con

Trang 5

trâu mộng Hay cũng chính là vẻ đẹp đoàn kết ba quân một lòng khơi dậy trong nhau một tinh thần thép để có thể vượt qua những khó khăn trông gai của cuộc chiến và đi đến một cái kết đẹp và có hậu cho cuộc chiên tranh chính nghĩa bảo vệ tổ quốc

Tiếp đến hai câu thơ cuối tác giả thể hiện quan niệm về chí làm trai của mình trong thời buổi ấy:

“ Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

(Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe thuyết vũ hầu)

Đã sống ở trên trời đất thì phải có công danh với núi sông, đó cũng là một tuyên ngôn khẳng định chí làm trai của Nguyễn Công Trứ, theo đó ta thấy quan niệm này không chỉ của riêng Phạm Ngũ Lão mà còn có cả tất cả những bậc nam nhi có chí thời bấy giờ Đó

là xu hướng chung, quan niệm chung của họ và cũng chính vì thế mà Phạm Ngũ Lão cũng không nằm ngoài quan niệm đó Tuy nhiên ở đây tác giả nhấn mạnh thêm quan niệm ấy

và mở nó ra với ý nghĩa của cá nhân tác giả mà thôi Dù là một vị tướng trung thành giống như cánh tay phải của Trần Hưng Đạo, trải qua biết bao nhiêu trận đánh vào sinh ra tử nhưng đối với ông đó vẫn chưa được liệt kê vào những công danh của đất nước Đối với Phạm Ngũ Lão thì công danh vẫn là một thứ mà còn vương nợ với ông Và chính vì vương

nợ nên ông thấy hổ thẹn khi nghe chuyện về Vũ Hầu So sánh mình với Vũ Hầu để thấy những cái chưa được của mình, đây không phải là sự ngộ nhận thân phận của mình giống như Vũ Hầu mà đó là cả một tinh thần học hỏi của nhà thơ đối với người tài giỏi Có một điểm chung là cả ông và Vũ Hầu đều giúp sức cho một người lớn hơn nhưng tác giả muốn nói ở đây là khi Vũ Hầu giúp được cho vị tướng của mình thì Phạm Ngũ Lão lại khiêm tốn nhận mình chưa giúp được gì cho Hưng đạo đại vương nên thấy hổ thẹn khi nghe chuyện

Vũ Hầu Đồng thời qua đó ta thấy được sự trung thành và cống hiến hết sức mình của tác giả với Hưng Đạo đại vương Tuy xuất thân từ một người nông dân nhưng Phạm Ngũ Lão

đã thể hiện được sức mạnh ý chí và trí tuệ của mình khiến cho người ta không thể vịn vào hoàn cảnh xuất thân ấy để mà chê trách được ông

Qua đây ta thêm yêu hơn những con người nhà Trần nói chung và Phạm Ngũ Lão nói riêng Ông không những là một vị danh tướng với vẻ đẹp hiên ngang trừ gian diệt bạo, bảo vệ đất nước hòa bình yên ổn mà còn là một nhà thơ tuyệt bút Đối với ông, những gì

Trang 6

ông làm được vẫn chưa thỏa cái công danh đối với đất nước Những chiến công mà ông đạt được vẫn chưa thấm vào đâu so với Vũ Hầu, nên khi nghe chuyện ông không khỏi thẹn thùng Như vậy ta thấy được vẻ đẹp của một vị danh tướng không kể công những gì

mình làm được mà còn khiêm tốn nhận còn “vương nợ” Và ở đâu đó trong những câu thơ

của bài ta thấy rõ một tinh thần yêu nước anh hùng của Phạm Ngũ Lão

B i văn mẫu 2

Thuật hoài là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, chia thành hai phần khá rõ: ở hai câu đầu là

hình tượng con người và hình tượng quân đội thời Trần, hai câu sau là “nỗi lòng” của tác

gia Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng, sảng khoái:

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Hai câu thơ có hai hình ảnh: hình ảnh tráng sĩ (con người thời Trần) và hình ảnh ba quân (quân đội thời Trần, thời đại, dân tộc) Tráng sĩ hiện lên trong hành động cắp ngang

ngọn giáo với mục đích giữ gìn non sông đã mấy thu rồi Các bản dịch thơ dịch “hoành

sóc” bằng “múa giáo” Theo tôi, cách dịch như vậy là hay nhưng chưa có sức âm vang

“Múa giáo” thể hiện sự điêu luyện, bền bỉ, dẻo dai nhưng thiếu đi độ cứng rắn, mạnh mẽ

“Cầm ngang ngọn giáo” khắc hoạ được tư thế hiên ngang, lẫm liệt, vững chãi của người

trai thời Trần Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước Đó chính là dáng đứng của con người Việt Nam đời Trần

Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn

lao, kỳ vĩ thì câu thơ thứ hai tô đậm hình ảnh “ba quân” tượng trưng cho sức mạnh dân

tộc

Tam quân tì hổ khí khôn ngưu

“Tam quân” là chỉ quân đội, dân tộc; “Ngưu” có nghĩa: là sao Ngưu, là trâu Hình ảnh

ba quân trong tư thế xông lên giết giặc với khí thế bừng bừng Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh

thần của “hào khí Đông A” Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh

khách quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn

Tác giả Trần Trọng Kim dịch là “Ba quân hùng khí át sao Ngưu”, còn Bùi Văn Nguyên

dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” Tôi thích cách dịch của Trần Trọng Kim, bởi lẽ dịch “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nói được sức mạnh, khí thế dũng mãnh “Sát Thát”

Trang 7

của quân đội, sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một khi chúng tràn tới… nhưng chưa nói

được tầm vóc Hơn nữa dịch “át sao Ngưu”… câu thơ có lẽ giàu hình ảnh, gợi cảm hơn, kết

hợp với câu thơ thứ nhất mở ra cả một không gian rộng lớn, vì thế ý thơ cũng giàu sức khái quát hơn

Hai câu thơ nhỏ mà mang hai hình ảnh lớn: Hình ảnh một tráng sĩ cắp ngang ngọn

giáo đi cứu nước ròng rã bao năm mà chưa hề mảy may mệt mỏi Hình ảnh “ba quân”

xông lên giết giặc bừng bừng hùng khí át cả sao Ngưu, nghĩa là át cả trời cao Bút pháp miêu tả, so sánh, phóng đại, phép đối hài hoà, giọng thơ hào hùng, sôi nổi tạo ra cách nói hấp dẫn và ấn tượng Hình ảnh tráng sĩ còn có tính chất cụ thể ít nhiều, hình ảnh ba quân thì rõ ràng chỉ từ ấn tượng, từ cảm hứng chủ quan, dĩ nhiên là rất mãnh liệt và sảng khoái

“Ở đây chủ quan mà lại chân thực, chân thực của ấn tượng chứ không phải chân thực của thị giác Chân thực ở cái hồn của sự việc chứ không phải ở sự việc cụ thể Xét cho cùng, chính đó là cái chân thực của thời đại, của đất nước” (Nguyễn Đình Chú)

Nếu cái tư thế của tráng sĩ với hình ảnh cây trường giáo như đo bằng chiều ngang của non sông thì tư thế của ba quân lớn mạnh đo bằng chiều dọc Nghĩa là không gian mở

ra theo chiều rộng của núi sông và mở theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm Con người kì vĩ như át cả không gian bao la trong một bối cảnh không - thời gian kì vĩ Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần Đó chính là sản

phẩm của “hào khí Đông A”

Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao Con người mang tầm vóc của vũ trụ này vì ai mà xông pha, quyết chiến…? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình đất nước… Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm, con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những biểu hiện củacon người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước Điều đặc biệt ở đây là, khác với văn học Trung Quốc hay Ấn Độ, con người vũ trụ, con người cộng đồng trong văn học Việt Nam nói chung và Thuật hoài nói riêng gắn với lòng tự hào, tự tôn dân tộc, gắn với thời đại và đất nước

Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại Điều đó rất phù hợp với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ Nói cách khác âm hưởng thơ góp phần thể hiện nỗi lòng của Phạm Ngũ

Trang 8

Lão

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)

Vẻ đẹp của người trai thời Trần không chỉ thể hiện ở cái tư thế, khí phách, tầm vóc, sức mạnh mà còn thể hiện ở cái chí, cái tâm của người tráng sĩ Cái chí, cái tâm ấy gắn liền với quan niệm chí làm trai Theo Phạm Ngũ Lão chí làm trai phải gắn liền với hai chữ công danh, chí làm trai này mang tinh thần, tư tưởng tích cực, gắn với ý thức trách nhiệm, lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm cho đời) Chí làm trai đó được coi là món nợ đời phải trả Trả xong nợ công danh có nghĩa là hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước Quan niệm lập công danh đã trở thành lý tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến Sau này Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông

Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con người từ bỏ lối

sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp lớn lao “cùng trời đất

muôn đời bất hủ” Phạm Ngũ Lão cũng từ cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân

tộc chiến đấu chống xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái

nợ đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn Nói cách khác cái tâm thể hiện qua nỗi thẹn…

Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán

để trừ giặc, cứu nước Thẹn bởi vì so với cha ông mình chưa có gì đáng nói Gia Cát Lượng

là quân sư của Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là

lòng tuyệt đối trung thành với chủ Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo, “thẹn” còn được hiểu là cách

nói thể hiện khát vọng, hoài bão muốn sánh với Vũ hầu Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn

Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu vịnh” từng bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ tới Đào Tiềm

– một danh sĩ cao khiết đời Tấn Đó là nỗi thẹn của người có nhân cách Trong bài Thuật

Trang 9

hoài,Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa trả xong nợ nước Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân cách Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người

Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng Như vậy, Phạm Ngũ Lão vừa đề cao cái chí, vừa đề cao cái tâm của con người Việt Nam đời Trần Đó chính là con người hữu tâm trong thơ ca trung đại Việt Nam

Tóm lại bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được quan niệm về con người trong văn học phương Đông Hình ảnh tráng sĩ – con người Việt Nam đời Trần vừa mang tầm vóc vũ trụ, vừa có ý thức, trách nhiệm cộng đồng, vừa lắng sâu một nỗi lòng cao cả Nói cách khác ba kiểu con người: con người vũ trụ, con người cộng đồng và con người hữu tâm đồng hiện, hài hoà Chính ý thức trách nhiệm với đất nước (con người cộng đồng) nên sẵn sàng xông pha cứu nước với tư thế và tầm vóc lớn lao (con người vũ trụ) và luôn biết nghĩ suy, khát vọng (con người hữu tâm)… Dáng đứng Việt Nam, con người Việt Nam đời Trần cao đẹp làm sao!

Trang 10

Website HOC247 cung cấp một môi trường học trực tuyến sinh động, nhiều tiện ích thông minh, nội dung bài giảng được biên soạn công phu và giảng dạy bởi những giáo viên nhiều năm kinh

nghiệm, giỏi về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm đến từ các trường Đại học và các

trường chuyên danh tiếng

dựng các khóa luyện thi THPTQG các môn: Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học

trường PTNK, Chuyên HCM (LHP-TĐN-NTH-GĐ), Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An và các trường Chuyên khác cùng TS.Trần Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Trịnh Thanh Đèo và Thầy Nguyễn Đức Tấn

II Khoá Học Nâng Cao và HSG

lớp 6, 7, 8, 9 yêu thích môn Toán phát triển tư duy, nâng cao thành tích học tập ở trường và đạt điểm tốt

ở các kỳ thi HSG

học sinh các khối lớp 10, 11, 12 Đội ngũ Giảng Viên giàu kinh nghiệm: TS Lê Bá Khánh Trình, TS Trần

Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Lưu Bá Thắng, Thầy Lê Phúc Lữ, Thầy Võ Quốc Bá Cẩn cùng đôi HLV đạt

thành tích cao HSG Quốc Gia

môn học với nội dung bài giảng chi tiết, sửa bài tập SGK, luyện tập trắc nghiệm mễn phí, kho tư liệu tham khảo phong phú và cộng đồng hỏi đáp sôi động nhất

phí từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các môn Toán- Lý - Hoá, Sinh- Sử - Địa, Ngữ Văn, Tin Học và Tiếng Anh

Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

Học mọi lúc, mọi nơi, mọi thiết bi – Tiết kiệm 90%

Học Toán Online cùng Chuyên Gia

HOC247 NET cộng đồng học tập miễn phí HOC247 TV kênh Video bài giảng miễn phí

Ngày đăng: 21/04/2021, 03:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w