Cuốn sách tập hợp kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học và nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm và chính sách về phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ TÂN
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH KHÁNH HÒA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ TÂN
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH KHÁNH HÒA HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN MAI ƯỚC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Trần Mai Ước Nội dung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn ngốc, xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tp HCM, ngày tháng năm 2016
Tác giả
TRẦN THỊ TÂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15
1.1 Quan điểm về phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin 15
1.1.1 Nội dung quan điểm về phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin 15
1.1.2 Sự khác biệt trong quan điểm phát triển của triết học Mác – Lênin với triết học trước Mác 25
1.2 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin 30
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực 30
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực 33
1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực 40
1.2.4 Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực 48
Kết luận chương 1 57
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀO PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Ở KHÁNH HÒA HIỆN NAY 59
2.1 Những nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh Khánh Hòa 59
2.1.1 Yêu cầu phải phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh hòa 59
2.1.2 Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa 64
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin 69
2.2.1 Quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trong phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa 69
Trang 52.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực của
tỉnh Khánh Hòa 74
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa 87
2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay 90
2.3.1 Phương hướng 90
2.3.2 Giải pháp 99
Kết luận chương 2 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 124
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay đã góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, tạo ra của cải ngày càng nhiều, đáng ứng nhu cầu phong phú và đa dạng của xã hội loài người Về mặt logic, con người ngày càng có khả năng được thỏa mãn và có điều kiện phát triển toàn diện khi những nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của xã hội ngày một tăng cao về chất lượng và số lượng Nhưng trên thực tế, tình trạng đói nghèo, sự phân hóa xã hội và khoảng cách giàu nghèo giữa những nhóm người, các quốc gia, các khu vực trên thế giới ngày càng tăng
Một trong những nhân tố quyết định sự phát triển toàn diện của xã hội, đó
là con người Con người là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như vị thế của quốc gia đó trên thế giới Trước đây, trong phát triển kinh tế, con người không được coi trọng bằng máy móc thiết bị
- công nghệ, không được coi là trung tâm của sự phát triển, nên công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không được chú trọng, dẫn tới chất lượng nguồn nhân lực không tương xứng với sự phát triển Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự ra đời của nền kinh tế tri thức đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động nói riêng Khả năng phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn lực con người, tri thức khoa học công nghệ
Đối với nước ta nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa và thành công khi vấn đề con người được coi trọng phát triển Các mục tiêu phát triển phải gắn liền với phát triển con người và giải phóng con người Xét về địa chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, Khánh Hòa là tỉnh nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có tiềm năng,
Trang 72
thế mạnh về phát triển du lịch, dịch vụ, phát triển công nghiệp, cảng biển quốc tế, cảng hàng không, nông-lâm-thuỷ sản xuất khẩu Những vấn đề trên cho chúng ta thấy, những lợi thế của Khánh Hòa không có nguồn gốc tự thân để tự chuyển hóa thành sức mạnh của cả tỉnh mà sức mạnh và những nhân tố thời đại phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, quyết định đối với sự phát triển
Trong những năm đổi mới, vấn đề phát triển nhân lực ở nước ta nói chung và ở Khánh Hòa nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng Tỉnh Khánh Hòa đã vượt rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, tiếp tục duy trì phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao;
cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ, phát huy được các thế mạnh của tỉnh; kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa vẫn còn những hạn chế, khó khăn nhất định Một số tiềm năng thế mạnh của tỉnh chưa được đầu tư khai thác triệt để; chất lượng tăng trưởng chưa cao, trình độ phát triển giữa các khu vực lãnh thổ còn có sự chênh lệch; kết cấu hạ tầng một số địa bàn phát triển chưa đồng bộ; một số vấn đề xã hội vẫn còn bức xúc, đời sống của một số bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn nhất là khu vực nông thôn miền núi, vùng hải đảo
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010-2015 đã khẳng định: Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, các lĩnh vực Củng cố
và phát triển mạng lưới các cơ sở dạy nghề, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, có chính sách khuyến khích đẩy mạnh đào tạo nghề tại
cơ sở sản xuất, kinh doanh
Trang 83
Vì vậy, việc cần tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận, đặc biệt
là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển, cũng như sự vận dụng quan điểm đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những tiền đề lý luận quan trọng cho việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng Thêm nữa, việc làm rõ tính đúng đắn, khoa học trong quan điểm của C Mác về phát triển càng có ý nghĩa hơn khi một số học giả tư sản đang ra sức xuyên tạc quan điểm của Mác về phát triển
Xuất phát từ thực tiễn phát triển và yêu cầu phát huy mạnh mẽ hơn nữa các tiềm năng thế mạnh của tỉnh để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới; với Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2020 là làm luận cứ khoa học để hoạch định các chương trình, kế hoạch
5 năm, kế hoạch hàng năm về phát triển nhân lực; góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII Từ những khía cạnh trên,
tôi chọn đề tài “Quan điểm phát triển trong triết học Mác – Lênin và vấn đề
phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay” làm luận văn thạc sĩ
triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ở Việt Nam trong những năm qua đã có rất nhiều người quan tâm đến nguồn nhân lực, thể hiện ở những công trình nghiên cứu và những bài viết dưới những góc độ khác nhau Tuy nhiên các công trình nghiên cứu và bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu
về phát triển nguồn nhân lực mang tính tổng quát, một số tập trung nghiên cứu dưới phương diện lĩnh vực, ngành, đơn vị - tổ chức Từ đó, ta có thể khái quát công trình nghiên cứu trên theo ba hướng chính như sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu liên
quan đến quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển
Trang 94
Trong cuốn “Mác – Người vượt trước thời đại” (1998) của tác giả
Đaninen Benxaiđơ đã nhấn mạnh Mác không quan niệm lịch sử như một định mệnh, mà lịch sử là do con người làm ra Tác giả đã làm nổi bật mối quan tâm của toàn thể loài người, đó là vấn đề vai trò của khoa học với tính cách là lực lượng sản xuất trực tiếp và vấn đề môi sinh, môi trường sống cho con người
“Triết học Mác – Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt
Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001) của tác giả Vũ
Thiện Vương, đã phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất của con người Tác giả cũng phân tích những luận điểm cơ bản của triết học Mác về giải phóng con người, đánh giá thực trạng, những vấn đề đặt ra và một số phương hướng, giải pháp xây dựng con người Việt Nam
“Chủ nghĩa Mác – Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt nam” (2002) của
tác giả Đặng Hữu Toàn đi sâu phân tích vai trò của Chủ nghĩa Mác – Lênin đói với công cuộc đổi mới ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã dành riêng một phần luận giải học thuyết Mác về con người, giải phóng con người và phát triển con người Việt Nam
“Con người và phát triển con người trong quan niệm của C Mác và Ph
Ăngghen” (2003) do Hồ Sỹ Quý làm chủ biên Phần một, tác giả đã trình bày
chi tiết dẫn tư tưởng cơ bản của C Mác về phát triển con người Phần hai, những bài viết của tác giả chủ yếu phân tích, làm rõ quan điểm của C Mác và
Ph Ăngghen về vấn đề phát triển con người
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội” (1996), của
tác giả Lê Sĩ Thắng đã phân tích vấn đề con người trong truyền thống tư tưởng dân tộc, quan niệm về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
“Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện” (2001) của tác giả Thành Duy đã đề cập đến mối quan
hệ văn hóa với việc xây dựng con người phát triển toàn diện, nguồn gốc tư
Trang 105
tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn diện, đặc điểm, bản chất, quan niệm, giải pháp xây dựng con người phát triển toàn diện
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người” (2005), do
Đặng Xuân Kỳ làm chủ biên đã luận giải tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
và con người, sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc trong điều kiện mới, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người và làm rõ vấn đề xây dựng văn hóa mới, xây dựng con người mới
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” (2003) của
tác giả Nguyễn Hữu Công đã phân tích chủ nghĩa Mác – Lênin là tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện Tác giả khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người phát triển toàn diện là đỉnh cao quá trình phát triển của con người
Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương khóa X “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Hà Nội Đây là một Nghị
quyết chuyên đề của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức - lực lượng quan trọng trong nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ mới, cung cấp những quan điểm và cơ sở lý luận, chính trị, tư tưởng rất cơ bản, mà việc nghiên cứu luận
án này cần phải quán triệt và làm chỗ dựa Nghị quyết đưa ra cách tiếp cận nghiên cứu, xem xét và chỉ ra khái niệm trí thức; nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong quá trình cách mạng; phân tích thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và nhược điểm của đội ngũ này; những hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục - đào tạo, trong công tác trí thức; chỉ rõ mục tiêu, quan điểm, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 116
Đề tài Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Đề tài
cấp Nhà nước, Mã số: KX.04.16/06-10, thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước KX.04/06-10: “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010” Đề tài là một công trình khoa học lớn, trình bày nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ trí thức Việt Nam; về phương pháp tiếp cận nghiên cứu trí thức, các khái niệm, quan niệm về trí thức, những nhận định, đánh giá ưu điểm, hạn chế, nhược điểm, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức qua các thời kỳ cách mạng và những năm qua; luận giải yêu cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện mới; chỉ ra và phân tích những vấn đề cấp thiết và cơ bản về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Nguyễn Mạnh Hưởng, (Chủ nhiệm - 2012), Đề tài Xây dựng đội ngũ trí
thức quân đội trong thời kỳ mới, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội
Đề tài xác định đội ngũ trí thức quân đội là bộ phận trọng yếu của nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội; đưa ra khái niệm và tiêu chí nhận biết trí thức quân đội; làm rõ những ưu điểm và hạn chế chính của đội ngũ trí thức quân đội hiện nay; xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp cơ bản, đặc biệt là giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, sử dụng, chính sách đãi ngộ nhằm xây dựng đội ngũ trí thức quân đội trong thời kỳ mới
Nguyễn Duy Bắc, (Chủ nhiệm - 2013), Đề tài khoa học cấp Bộ Đặc điểm
của con người Việt Nam với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia, Hà Nội Đề tài đã
phân tích những đặc điểm cơ bản của con người Việt Nam, những ưu điểm và nhược điểm; từ đặc điểm đó, đưa ra và luận giải một số vấn đề phát triển đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện
Lê Thị Ái Lâm (2003), Sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo
dục và đào tạo - kinh nghiệm Đông Á, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 127
Cuốn sách trình bày vai trò và giải pháp phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nước Đông Á; từ đó đưa ra một số lưu ý cần tham khảo học tập đối với Việt Nam từ bài học Đông Á
Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu lý luận về
nguồn nhân lực và thực trạng của nguồn nhân lực ở Việt Nam: Vũ Hy
Chương (Chủ nhiệm - 2002), Đề tài Đánh giá, dự báo triển vọng và những
giải pháp cơ bản tạo nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Đề tài Khoa học xã hội 02-02 Đề tài đã đánh giá nguồn nhân lực đất nước, chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân; dự báo những yếu tố tác động đến sự phát triển của nguồn nhân lực và những triển vọng phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và
hệ giải pháp cơ bản khá toàn diện, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp giáo dục
và đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phạm Tất Dong, (Chủ nhiệm - 2005), Đề tài Luận cứ khoa học cho các
chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Đây là đề tài trực tiếp bàn về cơ sở
với tư cách là luận cứ khoa học xác định và thực hiện chính sách phát huy năng lực lao động sáng tạo của trí thức và sinh viên Đề tài đã phân tích cơ sở
lý luận, đánh giá thực trạng năng lực lao động sáng tạo, chỉ rõ những thiếu hụt của trí thức và sinh viên nước ta; phân tích những yếu tố tác động đến năng lực lao động sáng tạo của họ; đề xuất các chính sách, nhấn mạnh thực thi chính sách giáo dục và đào tạo nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của lực lượng này với tư cách là một bộ phận trọng yếu trong nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước
Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998), Sách Phát triển nguồn nhân lực -
kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Hà Nội Cuốn sách đã luận giải một
Trang 138
số vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực; trình bày thực trạng phát triển nguồn nhân lực, từ đó khái quát một số kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các cường quốc trên thế giới trong những thập kỷ gần đây và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, tập trung vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo, coi đó yếu tố quyết định phát triển nguồn nhân lực Cuốn sách chỉ ra rằng, sự phát triển thành công và cất cánh của một quốc gia luôn gắn chặt với chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, tức là “chiến lược trồng người”
Viện Phát triển giáo dục (2002), Sách Từ chiến lược phát triển giáo dục
đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Viện Phát triển giáo dục, Hà Nội
Cuốn sách tập hợp kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học và nhà quản
lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm và chính sách về phát triển nguồn nhân lực; đề xuất chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu trong chiến lược giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng đất nước
Lê Du Phong, (Chủ biên - 2006), Sách Nguồn lực và động lực phát triển
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà
xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, đã đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, phân tích tầm quan trọng nguồn nhân lực với tư cách là động lực của sự phát triển; phân tích một số vấn đề về thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trước yêu cầu phát triển mới
Ngô Huy Tiếp, (Chủ biên - 2009), Sách Đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay,Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội Cuốn sách phản ánh thực trạng trí thức Việt Nam, thực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta thời gian qua
Trang 149
Trên cơ sở đó, trình bày một số giải pháp nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, trong đó chú trọng đến giải pháp đổi mới nhận thức của các cấp uỷ đảng và cơ quan quản lý nhà nước, chính sách đãi ngộ và tôn vinh trí thức có cống hiến cho xã hội
Dương Văn Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức Dụ (Chủ biên - 2009),
Sách Kỷ yếu Hội thảo “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế”,
Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Cuốn sách tập hợp những bài viết về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; nhiều bài đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, chỉ ra hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực nước ta trước đòi hỏi của hội nhập quốc tế; làm rõ những vấn đề hạn chế do giáo dục đào tạo; xác định những vấn đề
cơ bản đối với giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế
Trịnh Ngọc Thạch (2008), Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo dục Hoàn thiện
mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam Tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích mô hình quản lý đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số trường đại học trọng điểm của Việt Nam, trong đó nghiên cứu khá kĩ về mô hình ở Đại học quốc gia Hà Nội,
từ đó mô tả những nét đặc trưng của mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học ở nước ta, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và khả năng áp dụng; đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam
Lê Quang Hùng (2011), Luận án Tiến sĩ Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Viện Chiến lược phát triển
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Luận án đã trình bày tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thực trạng gồm ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của
Trang 1510
nguồn nhân lực chất lượng cao; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục - đào tạo
Nguyễn Thị Hồng Vân (2005), Bài báo Giáo dục với phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Phát triển giáo dục,
số 4, đã phân tích vai trò của giáo dục với phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chỉ ra thực trạng và một số vấn đề bất cập của giáo dục trong vấn đề này; đề xuất một số ý kiến đổi mới giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hoàng Xuân Long (2006), Bài báo Chính sách phát triển nguồn nhân
lực khoa học và công nghệ, thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Lao động và Xã
hội, số 288, đã trình bày thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của nước ta, chỉ ra hạn chế, bất cập trong chính sách đối với vấn đề đó; đề xuất một số ý kiến về chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ trong thời kỳ mới
Phạm Minh Hạc (2008), Bài báo Phát triển con người, nguồn nhân lực -
quan niệm và chính sách, trong Sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trình bày một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển con người; đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, nhân tài, đội ngũ lao động; phân tích một số nét thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực đất nước
Đường Vĩnh Sường (2012), Bài báo Giáo dục, đào tạo với phát triển
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí
Cộng sản, số (833) Bài báo phân tích vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta, phân tích một số hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực nước ta so
Trang 1611
với một số nước khác trong khu vực và thế giới; đưa ra những giải pháp chính
về giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Sách Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục
đại học giai đoạn 2010 - 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội Cuốn sách trình bày một số nghị quyết, quyết định, thông tư, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan chức năng của
Bộ trong những năm gần đây nhằm khắc phục hạn chế, yếu kém, bất cập trong giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, đồng thời triển khai giải pháp đồng
bộ để đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012; đáng chú ý là quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, làm cơ sở đổi mới giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta trong giai đoạn này và những năm tiếp theo
Trần Khánh Đức (2010), Sách Giáo dục và đào tạo: phát triển nguồn
nhân lực trong thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách đã đề
cập và phân tích khá sâu sắc tình hình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực nước ta trong thế kỷ XXI; từ đó đề xuất một số vấn đề nhằm thúc đẩy, đổi mới giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Nguyễn Văn Khánh (2010), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt
Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Cuốn sách đã phân tích khá sâu sắc nguồn lực trí tuệ Việt Nam với nhiều góc
độ về nguồn lực trí tuệ; đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ, chỉ rõ hạn chế, bất cập về trình độ chuyên môn, khả năng hội nhập, về cơ cấu của nguồn lực trí tuệ nước ta; đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thời kỳ mới
Trang 1712
Tạ Ngọc Tấn (Chỉ đạo biên soạn - 2012), Phát triển giáo dục và đào tạo
nguồn nhân lực, nhân tài, Một số kinh nghiệm của thế giới, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã phân tích khá sâu sắc những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhân tài và phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài của một số nước trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đất nước
Hướng nghiên cứu thứ ba, công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở
tỉnh Khánh Hòa: Vũ Thị Kim Oanh, Hà Nội, 2011 Xây dựng nhân cách sinh
viên sư phạm phục vụ việc đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Khánh Hòa
Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn đã cho
thấy bức tranh khá đầy đủ và toàn diện cả lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta qua các thời kỳ
Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao
là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển của các quốc gia, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Nhiều công trình khẳng định, mỗi giai đoạn khác nhau thì yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đặt ra có sự khác nhau; mỗi loại nhân lực chất lượng cao có yêu cầu cụ thể riêng về tiêu chí chất lượng, phẩm chất, năng lực, phù hợp với đặc điểm, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng loại nguồn nhân lực Nhiều công trình khẳng định tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm
vụ cách mạng trong thời kỳ mới
Tuy nhiên, do cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu của từng công trình,
mà chưa có công trình nào trình bày một cách có hệ thống, toàn diện và cụ thể
về vấn đề phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện
Trang 1813
nay trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin Với tinh thần kế thừa những thành quả quý giá của các công trình nghiên cứu trước đó, luận văn cố gắng phân tích làm rõ thực trạng, nguyên nhân và giải pháp vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận chung về sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, về vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của tỉnh Khánh Hòa, luận văn nhằm phân tích thực trạng, xu hướng phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa trong quá trình đổi mới Từ đó chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế, để phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh đạt chất lượng cao, góp phần vào sự phát triển của Tỉnh và của đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu cơ sở lý luận về sự phát triển và các quan điểm phát triển của các nhà triết học trong lịch sử, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin
Thứ hai: Phân tích thực trạng của nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực mà luận văn nghiên cứu chỉ giới hạn ở tỉnh Khánh Hòa, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2012
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các chủ trương,
Trang 1914
chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh và đối chiếu, phương pháp quy nạp và diễn dịch, thống kê để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn tiếp tục hệ thống hóa và làm rõ các quan niệm khác nhau về quan điểm phát triển, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những đánh giá về thực trạng nguồn nhân lực, những nhân tố tác động, phương hướng, giải pháp để phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Khánh Hòa mà luận văn đề xuất sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Khánh Hòa góp phần phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh nhằm đáp ứng các yêu cầu mới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết:
Trang 2015
Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VỀ PHÁT TRIỂN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Quan điểm về phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin
1.1.1 Nội dung quan điểm về phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin
Sự ra đời của phép biện chứng duy vật gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa Mác Nó ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng, giữa lí luận nhận thức với logic biện chứng Đây là một cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học và nó đem lại cho con người tính tự giác cao trong mọi hoạt động
Mỗi nguyên lí, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khái quát và luận giải trên cơ sở khoa học, chính vì vậy phép biện chứng duy vật
đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự giác Nguyên lý về sự phát triển là một trong những nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản [65; tr 201]
Trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển cũng là quá trình phát sinh
Trang 21mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc đi lên Điều đó có nghĩa là quá trình phát triển mà sự vật dường như sự vật quay trở về điểm xuất phát trên cơ sở cái mới cao hơn
Sự phát triển theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung, mà chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động, xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển, sự vật sẽ hình thành những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động của mình
Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của từng dạng vật chất Sự phát triển của giới vô cơ thể hiện ở dạng biến đổi các yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động qua lạigiữa chúng
và trong các điều kiện nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chấtphức tạp Từ đó cũng làm xuất hiện các hợp chất hữu cơ ban đầu - tiền đề của sự sống Trong giới hữu cơ, sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của sinh vật với sự biến đổi phức tạp của môi trường, ở sự hoàn thiện thường xuyên thông qua quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao hơn, từ đó làm xuất hiện ngày càng nhiều các giống loài mới phù hợp với môi trường sống Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên và cải biến xã hội cũng như bản thân con người Sự phát triển của mỗi con người biểu hiện ở khả năng tự hoàn
Trang 2217
thiện mình cả vềthể chất lẫn tinh thần, phù hợp với sự vận động và phát triển của môi trường, trong đó có con người là chủ thể
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, nguồn gốc của
sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó
sự vật luôn luôn phát triển Do vậy, sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức con người Dùcon người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynhhướng chung nhất của thế giới vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Đó là quá trình giải quyết liên tục trong bản thân sự vật Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Tồn tại
ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật sẽ phát triển khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử, cụ thể Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí có thể làm cho sự vật thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác…Đó đều là những biểu hiện của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển
Sự phát triển mang tính phổ biến, do nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan Các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển Hay nói cách khác mọi hình thức của tư duy cũng luôn phát triển Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù mới có thể phản ánh đúng hiện thực luôn vận động và phát triển
Trang 2318
Về sự phát triển trong tự nhiên Sự phát triển trong giới tự nhiên, nó
được hiểu là sự phát triển không phải là đặc tính riêng vốn có của một lĩnh vực nào của thế giới mà đó là sự phát triển từ thế giới vật chất vô cơ đến hữu
cơ, từ vật chất chưa có năng lực sự sống đến sự phát sinh các cơ thể sống và
sự tiến hóa dần lên các cơ thể có cơ cấu sự sống phức tạp hơn
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định con người là hiện thực, là sự thống nhất giữa yếu tố xã hội và yếu tố sinh học Tiền đề vật chất đầu tiên quy định
sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong đó tất cả bản tính sinh học và tính loài của nó
Ý thức xuất hiện do là yếu tố xã hội, do lao động và các yếu tố xã hội khác quyết định Luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về “lao động bản năng” và chỉ ra rằng, trong sự phát triển của mình, “lao động bản năng”
đã chuyển hoá thành lao động của con người Với phương pháp duy vật biệt chứng, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện,
cụ thế trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết đó là lao động sản xuất ra của cải vật chất Đó là do có hoạt động chế tạo công cụ
có hệ thống cùng với sự xuất hiện ngôn ngữ trừu tượng, hệ thống tín hiệu thứ hai Và cũng nhờ lao động mà ý thức con người có thể nắm được quy luật của thế giới vật chất
Lao động làm cho con người nhanh nhẹn, cơ bắp nổi lên, bàn tay mềm dẻo hơn, con mắc phân biệt được màu sắc, đường nét tốt hơn, các giác quan phát triển hơn, theo định hường xã hội Không thể nó rằng con người xã hội là
do đột biến sinh học mà có (tức là thuần tuý thay đổi về sinh học) Ở đây không đơn thuần là tăng lên các tập tính động vật, mà là sự đột biến về chất, khác về chất, qua một tác nhân khác Sự thay đổi sinh học đã là cơ sở tự nhiên cho tiến hóa xã hội như chính bản thân giới tự nhiên vậy
Trang 2419
Trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất, do điều kiện kinh
tế, chính trị ở mỗi thời kỳ rất khác nhau, nên nội hàm và ngoại diên của khái niệm con người của sự phát triển cũng khác nhau Khái niệm con người phát triển ngày càng phong phú hơn với nhiều chất mới, phù hợp yêu cầu đặt ra của thực tiễn xã hội cũng như những tri thức về đức, trí, thể, mỹ mà loài người đã tích lũy được trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, phát triển bản thân
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, có áp bức bóc lột, về mặt lý luận việc đào tạo những con người phát triển mọi mặt đã được nêu ra như là một yếu tố không thể thiếu được cho sự phát triển của xã hội, cho việc duy trì ách thống trị của giai cấp bóc lột cũng nhý là mục tiêu tự thân trong quá trình phát triển tự nhiên của con người Song, do điều kiện phân công lao động ngày càng ngặt nghèo; do mục đích khai thác triệt để sức lực của người lao động nhằm thu lợi nhuận tối đa của giai cấp bóc lột, đặc biệt là trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cho nên con người đã bị "tha hóa" đến cùng cực, quá trình phát triển của con người - do bị chế ước bởi điều kiện của lao động bóc lột hết sức sâu sắc Điều này dẫn đến những hậu quả nặng nề cho xã hội và cho sự phát triển lành mạnh của mỗi con người Vấn đề phát triển con người được đặt ra, điều này không phải cho mọi thành viên xã hội nói chung mà chỉ giành cho một thiểu số người lắm tiền, nhiều của Cái phi nhân văn trong sự phát triển con người dưới chế độ áp bức bóc lột là ở chỗ, sự phát triển tự do và toàn diện của người này nhằm tước đoạt sự phát triển tự do và toàn diện của của người khác, buộc những người khác trở thành nô lệ về mọi mặt cho một cá nhân hay một thiểu số bóc lột
Sự vận động và phát triển của xã hội cũng như khả năng tự vươn lên để hoàn thiện, nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân con người là vô cùng Những gì phản tiến bộ, phản nhân văn trong quá trình phát triển con người sẽ
Trang 2520
bị lịch sử đào thải, những gì tích cực, tiến bộ sẽ được nhân loại ghi nhận và kế thừa, nhằm góp phần khắc phục những thiếu sót, sai lầm và hạn chế của lý luận về phát triển con người đã xuất hiện trong các xã hội có đối kháng giai cấp - những xã hội chà đạp thô bạo nhân phẩm con người, làm thui chột khả năng phát triển mọi mặt của con người, coi con người chỉ là những công cụ biết nói
Vấn đề phát triển con người trong các xã hội có áp bức bóc lột đã được khắc phục bởi sự xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin Với tư cách là học thuyết
về giải phóng và phát triển con người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những quan điểm hết sức đúng đắn để phát triển con người một cách hài hòa, cân đối, nhằm đưa con người từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã chỉ ra được bản chất xã hội của con người Đó là phát hiện mang tính chất lịch sử và có ý nghĩa đột phá để có thể nhận thức đúng đắn về con người Hơn nữa, nó cũng chỉ ra quy luật hình thành, phát triển nhân cách của con người và đây cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt con người với các động vật khác
Về sự phát triển tư duy Đây là sự phát triển về mặt nhận thức của con
người Sự tiến hóa của các giống loài làm phát sinh các loài thực vật và động vật mới đến mức có thể làm phát sinh loài người với các hình thức tổ chức xã hội từ đơn giản đến trình độ tổ chức cao hơn, cùng với quá trình đó là quá trình không ngừng phát triển nhận thức của con người từ thấp đến cao
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người là quá trình phát triển tư duy của con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất Hay đó là một quá trình, đó cũng là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận; từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học… Nhờ đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất, từ trừu tượng đến cụ thể,
Trang 2621
nhờ có năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá mà tư duy con người có thể sáng tạo nên các hình thức phản ánh thế giới một cách gián tiếp, với mức độ khái quát và trừu tượng hoá cao
Trong quá trình phát triển tư duy của con người, đó là quá trình nhận thức Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra
những tri thức về thế giới khách quan đó Trong Bút ký triết học, V.I Lênin
đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhận thức Ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách
quan đi “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn” [51; tr 179]
Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng, nhận thức cần phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất Bởi vì, có như vậy con người mới đạt tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới khách quan nói chung Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật cũng cho thấy, trong thế giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau; cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua cái cá biệt Chẳng hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng
Quan niệm duy vật biện chứng về bản chất của nhận thức xuất phát tứ bốn nguyên tắc cơ bản sau: Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người; Thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan vào bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được
Trang 2722
mà chỉ có những cái mà con người chưa nhận thức được; Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc và toàn diện hơn,…; Coi thực tiễn là
cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Về sự phát triển xã hội Sự vận động, phát triển và thay thế nhau trong
đời sống xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên Sự thay thế giữa các hình thái kinh tế - xã hội được Mác phân tích đó là do sự tác động của các quy luật khách quan chi phối các yếu tố cơ bản hợp thành một hình thái kinh tế xã hội
có quan hệ biện chứng với nhau, hình thành nên những quy luật phổ biến của
xã hội, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng… Chính do sự tác động của các quy luật đó, mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động phát triển và thay thế nhau từ thấp lên cao như một quá trình lịch sử tự nhiên
Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định nhất Nó vừa bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của xã hội, vừa biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử
Khi C Mác mổ xẻ, phân tích chủ nghĩa tư bản thì đã chỉ ra rằng chế độ
tư bản là tiến bộ so với chế độ phong kiến, song cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội tại mà tự nó không cứu vãn nổi, đồng thời lại chuẩn bị cả những tiền đề cho một hình thái kinh tế xã hội mới, cao hơn, tất yếu ra đời
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc tức chủ nghĩa tư bản độc quyền, V.I Lênin chỉ thêm sự phát
Trang 2823
triển không đều về kinh tế và chính trị của nó, và rằng một khi cách mạng chín muồi thì một nước kinh tế kém phát triển vẫn có thể nổ ra cuộc cách mạng vô sản, đưa đất nước mình lên con đường xã hội chủ nghĩa V.I Lênin còn phát hiện thêm một thời kỳ lịch sử đặc biệt, đó là thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ này càng dài, càng phức tạp, gian khổ đối với những nước xuất phát từ nền kinh tế lạc hậu đi lên
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin còn cho rằng phải trang bị cho con người những tri thức chung, những kỹ năng để tổ chức và tiến hành hoạt động lao động sản xuất cũng như tham gia các hoạt động xã hội khác Điều này đòi hỏi con người phải có tri thức ngày càng cao về mọi mặt để làm chủ quá trình sản xuất xã hội, làm chủ cuộc sống của bản thân và đóng góp tích cực cho sự phát triển của cộng đồng Vì vậy, con người phải phát triển trên mọi phương diện để làm chủ quá trình phát triển sản xuất, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Do đó, Mác, Ăngghen, Lênin chủ trương phải trang bị cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ những tri thức khoa học hiện đại vì "khoa học là lực lượng thúc đẩy cách mạng trong lịch sử" và tương lai "khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp" Từ đó các ông cho rằng phải giáo dục, tạo điều kiện để mọi người được học tập, tiếp cận với các ngành khoa học như vật lý, toán học, hóa học, sinh học, thiên văn học, cơ học, lịch sử, địa lý, văn học, dân tộc học, triết học, kinh tế học, ngoại ngữ
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng hết sức quan tâm đến giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cho con người Đó là đạo đức được thiết lập trên
cơ sở phương thức sản xuất hiện đại và của những con người mang tính cách mạng triệt để, đó là đạo đức mới, thấm đậm tính nhân văn, nhân ái sâu sắc, vì con người, vì cuộc sống tốt đẹp của con người Mác, Ăngghen, Lênin còn nhấn mạnh sự cần thiết phải trang bị cho con người những tri thức thẩm mỹ
và tiến hành giáo dục thể chất cho mọi người Mỹ học mácxít quan niệm giáo
Trang 2924
dục thẩm mỹ là giáo dục cái đẹp cho con người, nhằm tạo lập nên quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau, giữa con người với tự nhiên cũng như giữa cá nhân với cộng đồng
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cho rằng, những điều kiện vật chất
và tinh thần cao của xã hội mới là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người toàn diện Chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra những qui luật tất yếu của quá trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại nói chung cũng như tiến trình phát triển của con người nói riêng Bằng những luận chứng khoa học, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: con người phát triển toàn diện là đỉnh cao trong quá trình phát triển của con người, là bước đi tất yếu của nhân loại để giải phóng con người một cách triệt để nhất, đem lại cho con người sức mạnh và quyền năng mới, xứng đáng là người chủ chân chính trên trái đất này Tuy nhiên, các ông cũng lưu ý quá trình hình thành và phát triển của con người không phải một sớm một chiều mà diễn ra lâu dài
"chỉ đạt tới sau bao năm lâu dài nữa" và là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Bởi vậy, khi xây dựng và phát triển con người cần phải tính đến điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi nước, yêu cầu đặt ra của cách mạng ở từng thời kỳ, để có những bước đi thích hợp Làm được như vậy, sự nghiệp đào tạo, phát triển nguồn lực con người cho chế
độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mới có thể từng bước trở thành hiện thực sinh động trong thực tiễn cách mạng mỗi nước cũng như trên phạm
vi toàn thế giới
Như vậy, sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ là
hiện tượng diễn ra trong mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội, tư duy Nếu xem xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên, vận động tuần hoàn, thậm chí có vận động đi xuống Song, nếu xét cả quá trình vận động với một không gian rộng và thời gian dài thì quá trình vận động đi lên là khuynh hướng chung của mọi sự vật
Trang 3025
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong qua trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải nhận thấy khuynh hướng phát triển trong tương lai của sự vật, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi tính chất thụt lùi tạm thời Đồng thời phải khái quát những khuynh hướng biến đổi chính của sự vật
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển cần phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể, chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đo sự vật sinh ra tồn tại va phát triển Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩysự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển là có lợi hay có hại đối với đời sống của con người
Bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại, phát triển trong mối liên hệ với các sự vật khác,rất đa dạng phong phú, do đó khi nhận thức về
sự vật, hiện tượng chung ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận
về bản chất hay về tính quy luật của chúng Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác
1.1.2 Sự khác biệt trong quan điểm phát triển của triết học Mác – Lênin với triết học trước Mác
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn
Trang 31Thứ nhất, đó là triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong
mối quan hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất”
Triết học Ấn Độ suy cho cùng là sự phản ánh xã hội Ấn Độ cổ đại – xã hội rất coi trọng và đề cao tôn giáo, một xã hội rất mê triết lý Quan niệm về phát triển trong triết học Ấn Độ cổ đại chủ yếu bàn về vấn đề phát triển của con người, đó là triết lý nhân sinh Mục đích của triết học Ấn Độ là để đạt đến
sự giải thoát, nên mỗi hệ thống triết học Ấn Độ là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát Do đó, triết học Ấn Độ là triết lý sống, nó gắn liền với tôn giáo, tâm linh, là triết học của tôn giáo Trong đó, việc phân con người thành những yếu tố cấu thành, trong đó cái tâm có ý nghĩa quyết định, từ đó hướng chủ yếu của nó là đi sâu nghiên cứu, phân tích cái tâm của con người Triết học Ấn Độ cho rằng muốn hiểu được thế giới thế giới trước hết phải hiểu mình đã và khi đã hiểu mình thì hiểu tất cả vì bản thể vũ trụ có trong mỗi con người
Trang 3227
Quan niệm về sự phát triển trong triết học Trung Quốc, thể hiện tập trung ở nội dung luân lý đạo đức và tư tưởng về chính trị - xã hội Trong quan niệm về thế giới, như Khổng Tử quan niệm về con người và học thuyết luân
lý đạo đức xã hội Những phạm trù đạo đức, phản ánh những đức tính của con người, không tách rời nhau mà có liên hệ mật thiết với nhau, làm tiền
đề cho nhau, tạo thành một thể thống nhất hữu cơ Như Không Tử quan niệm, con người muốn thực hiện điều nhân phải có lễ, thực hiện điều nhân
theo lễ là nghĩa, là trung, là hiếu, là kính đễ…; trong đó, nhân được
Khổng Tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất
Thứ hai, ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người,
đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc để giải phóng con người
Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã hội đã phát triển lên chế độ chiếm hữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ, nên hệ tư tưởng là thế giới quan của giai cấp chủ nô thống trị Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng và đề cao vai trò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hóa Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, khi nói về phát triển, đó
là quan niệm hết sức độc đáo về sự hài hòa, đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ và tính thống nhất của vũ trụ Khẳng định thế giới hay vũ trụ vừa
là cái duy nhất, vừa là cái bội đa và trong nó, các mặt đối lập vừa có mối liên
hệ ràng buộc lẫn nhau, vừa có sự trao đổi, chuyển hóa lẫn nhau Theo Đêmôcrít, là dạng nhận thức mà con người có được nhờ cảm giác Con người nhận thức thế giới thông qua các cơ quan cảm giác (thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác) của họ Đêmôcrít gọi dạng vật chất này
là nhận thức theo “dư luận chung”, nhận thức đem lại cho con người những cảm giác về mùi vị, âm thanh, màu sắc, nóng - lạnh, đắng - cay,…
mà theo “dư luận chung”, mọi người đều thừa nhận [113]
Trang 3328
Hêghen là nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Trong triết học tự nhiên, hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hechen
là tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với vận động, dự đoán không gian, thời gian và vận động có mâu thuẫn bên trong, ở đó thể hiện tính thống nhất giữa tính gián đoạn và tính liên tục; là tư tưởng cho rằng sự khác biệt hóa học
về chất bị phụ thuộc vào những thay đổi về lượng, là sự biện chứng của quá trình hóa học; là mối liên hệ hữu cơ giữa hóa học và vật lý, quá trình hóa học
là khâu chuẩn bị cuối cùng cho đời sống hữu cơ
Nguyên lý xuất phát triết học Hêghen là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và thế giới và thế giới được hiểu như hiện thân của tinh thần đó Tư duy, tinh thần, theo Hêghen là nguồn gốc duy nhất của mội cái trong tồn tại Thế giới tự nhiên la tư duy đã tha hóa, là tư duy tồn tại dưới dạng vật chất Tư duy khi suy tư về chính bản thân mình thì nó đã lấy chính bản thân mình làm đối tượng dể tư duy Hêghen đã quy mọi quá trình của hiện thực thành quá trình tư duy, quy lịch sử hiện thực về lịch sử tư duy, quy hoạt động thực tiễn của con người về quá trình tự ý thức, tự nhận thức Hegel coi con người vừa là chủ thể vừa là kết quả của chính quá trình hoạt động của mình; con người vừa là chủ thể, đồng thời là mục đích của sự phát triển lịch sử; tư duy và trí tuệ con người hình thành và phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải biến thế giới, đối lập với bản thân mình thành cái của mình, ý thức con người là sản phẩm của lịch sử xã hội, hoạt động của con người càng phá triển thì ý thức của nó càng mang bản chất xã hội
Trang 34Thứ ba, sự khác nhau trong cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật
mang tính chất quyết liệt, triệt để hơn
Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”,
“vật chất” Còn ở phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình, vạn pháp, hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Để nói về bản chất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ thì phương Tây dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy Còn phương Đông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần Trong đó hình thần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất
Nói về tính chất, sự biến dổi của thế giới: phương Tây dùng thuật ngữ
“biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh cái động là chính Đối với phương Đông dùng thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch, vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái tĩnh làm gốc là vì phương Đông triết học được xây dựng trên quan điểm vũ trụ là một, phải mang tính nhịp điệu
Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật” Còn phương Đông dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”, cũng xuất phát từ thế giới quan thiên nhân hợp nhất nên tất cả phải mang tính nhịp điệu, tính quy luật,
Trang 3530
tính soắn ốc của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi Có nhịp điệu là hài hoà
âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc
1.2 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin
1 2.1 Khái niệm nguồn nhân lực
"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau Để đưa ra khái niệm nguồn nhân lực phải xuất phát từ phương pháp xem xét, tiếp cận tổng hợp, toàn diện về con người và nhân tố con người Quan điểm triết học Mác - Lênin, hành vi lịch sử đầu tiên và chủ yếu của con người là lao động sản xuất, thông qua đó, con người cải tạo chính bản thân mình Mặt tự nhiên và xã hội trong con người gắn bó khăng khít với nhau Bản chất con người, theo C.Mác, “không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [61; tr 11] Nhân tố con người, đặc biệt là sức lao động, là nhân tố quan trọng của lực lượng sản xuất, nhân lực có nghĩa
là sức người dùng trong sản xuất Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Sức lao động là một phạm trù tổng hợp gồm: thể lực, trí lực Thể lực chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe, y tế và sự rèn luyện của từng người, quyết định năng lực hoạt động của con người Trí lực được xác định bởi tri thức về khoa học, trình độ kiến thức, chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng tư duy xét đoán, được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn của con người
Trang 3631
Khái niệm “nguồn nhân lực”, “nguồn lực con người” (Human Resource) được sử dụng từ những năm 70 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và châu Á Hiện nay, khái niệm này khá thịnh hành dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí con người trong sự phát triển Ở nước ta, khái niệm này được sử
dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay
Theo Cơ quan Phát triển của Liên hợp quốc UNDP: Nguồn nhân lực là tất
cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước [124; tr 8] Ngân hàng Thế giới cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân, đó là nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Theo
đó UNDP cho rằng: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; "tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi Thực chất đó là tiềm năng của con người về
số lượng, chất lượng và cơ cấu" [8; tr 9]
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nguồn nhân lực là toàn bộ số người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động, được hiểu:
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho
sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển; theo nghĩa
hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động,
có khả năng tham gia quá trình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia quá trình lao động [27; tr 40]
Trang 3732
Theo Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai Theo đó tác giả cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Tiếp cận là lực lượng lao động, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đưa ra quan niệm nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của quốc gia, có thể được xác định trên một địa phương, ngành hay vùng; là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội Quan
niệm này thể hiện: thứ nhất, nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp
sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình
thường, có khả năng lao động; thứ hai, là nguồn lực với tư cách là yếu tố của
sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động, với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động; thứ
ba, nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia
vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần của các cá nhân được huy động vào quá trình lao động, phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng
chủ yếu dưới góc độ nguồn lực lao động Luật Lao động Việt Nam quy định:
những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 16 đến
55 đối với nữ, đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động Những
Trang 3833
người trong độ tuổi lao động, không có khả năng lao động do sức khoẻ, bệnh tật, sinh lý… không nằm trong khái niệm nguồn nhân lực đang nghiên cứu, đó không phải là nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực cần được xem xét trên cả hai yếu tố: số lượng (quy mô
số dân), chất lượng thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỷ thuật và cơ cấu Số lượng, chất lượng và cơ cấu quan hệ với nhau tạo nên sức mạnh và sự phát triển của nguồn nhân lực
Trên cơ sở các quan niệm và cách tiếp cận trên, có thể đưa ra khái niệm: Nguồn nhân lực là dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là nguồn lao động, gồm tổng thể các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội; là tổng thể số lượng, chất lượng con người và cơ cấu với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực có thể huy động vào phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, nguồn nhân lực bao gồm cả những người đang lao động, trong
độ tuổi lao động; cả những người trong độ tuổi lao động sức khỏe bình thường nhưng chưa có việc làm; cả những người chuẩn bị đến tuổi lao động,
ở dạng dự trữ, với các tiêu chí cụ thể về thể lực, trí lực, tâm lực để có khả năng trực tiếp huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Những người không có khả năng lao động, không thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì không nằm trong nội hàm khái niệm này
1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân
Trang 3934
Từ quan điểm coi con người là trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức kỹ năng và năng lực của mọi người trong xã hội Dưới góc độ kinh tế, quá trình này được mô
tả như sự tích lũy vốn con người và sự đầu tư vốn đó một cách hiệu quả vào
sự phát triển của nền kinh tế Dưới góc độ của chính trị, phát triển nguồn nhân lực là nhằm chuẩn bị cho con người tham gia chính chắn vào hoạt động chính trị như là công dân của một nền dân chủ Dưới góc độ của xã hội học thì phát triển nguồn nhân lực là góp phần giúp mọi người biết sống một cuộc sống
trọn vẹn, phong phú hơn; con người tiến từ cá nhân thành con người xã hội
Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là "cả một quá trình quan trọng mà qua
đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy
đủ nhất của họ theo thời gian" [83; tr 23] Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng, có trình độ cao, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ mới và ứng dụng vào sản xuất đời sống Phát triển nguồn nhân lực là một "quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế- xã hội" [8; tr 13], đó là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển Với quan niệm con người là động lực và đồng thời là mục tiêu của sự phát triển thì phát triển nguồn nhân lực không chỉ có mục đích làm gia tăng về thu nhập của cải vật chất mà là mở rộng và nâng cao khả năng lựa chọn của con người đối với môi trường xung quanh; tạo cho họ có cơ hội tiếp cận với điều kiện và môi trường sống tốt hơn, đồng thời qua đó tăng cường năng lực và tiềm năng của con người phù hợp hơn với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội Quá trình phát triển nguồn nhân lực gồm
Trang 40Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi,
cơ cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu về giới
Phát triển về chất lượng là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các thành viên trong xã hội hoặc trong tổ chức Thước đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời
kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển con người, do Liên hợp quốc sử dụng Từ năm 1990, UNDP đã đưa ra chỉ số HDI để đo đạc những khía cạnh cơ bản của năng lực con người HDI là một hệ tiêu chí có khoảng 100 chỉ số thể hiện chất lượng cuộc sống Trong đó
3 chỉ số quan trọng nhất là: (i) chỉ số kinh tế (phản ánh qua tổng sản phẩm xã hội bình quân đầu người - GDP/người); (ii) năng lực sinh thể (phản ánh qua chỉ số tuổi thọ bình quân của người dân) và (iii) năng lực tinh thần (phản ánh qua chỉ số giáo dục, xác định bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục) Các chỉ số HDI cơ bản nêu trên mang giá trị từ 0 đến 1: chỉ số giáo dục được coi là 1 khi 100% người trên 15 tuổi biết đọc biết viết,
và bằng 0 khi 0% người trên 15 tuổi không biết đọc biết viết Chỉ số tuổi thọ
là 1 khi tuổi thọ bình quân là 85 tuổi, bằng 0 khi tuổi thọ bình quân là 25 tuổi Chỉ số kinh tế được coi là 1 khi GDP bình quân đầu người đạt 40.000$/năm (tính theo sức mua tương đương), bằng 0 khi giá trị đó là 100$/năm