1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch sinh thái văn hóa bền vững nhìn từ góc độ văn hóa (trường hợp huyện cần giờ thành phố hồ chí minh

254 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người làm du lịch tại Việt Nam đã đặt nhiều kỳ vọng vào một chương trình du lịch tầm quốc tế, mang tính chất nối kết và quảng bá cho thế mạnh của du lịch Việt Nam mà trước hết là s

Trang 1

-

NGUYỄN HOÀI THANH

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI-VĂN HÓA BỀN VỮNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA (TRƯỜNG HỢP HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ: 60220113

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HOÀI THANH

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI-VĂN HÓA BỀN VỮNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA (TRƯỜNG HỢP HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ: 60220113

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỂN NGỌC THƠ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Ngọc Thơ

Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 04 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoài Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng đến TS Nguyễn Ngọc Thơ - thầy đã dạy tôi chuyên đề “Văn hóa các dân tộc Việt Nam” và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn các bác, các anh/chị tại huyện Cần Giờ đã dành những sự chỉ dẫn, trao đổi, cung cấp thông tin nhiệt tình nhất trong thời gian tôi thực hiện đề tài cũng như khi đi khảo sát thực tế

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Việt Nam học, các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình đã quan tâm giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Do điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong Hội đồng, giáo viên hướng dẫn, các bạn học viên quan tâm đến đề tài này

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoài Thanh

Trang 5

9 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

10 ICOMOS International Council on Monuments and Sites

11 IUCN International Union for Conservation of Nature

and Natural Resources

12 GDP Gross Domestic Product

13 HST Hệ sinh thái

14 KDL Khu du lịch

15 KDTSQ Khu dự trữ sinh quyển

16 Nxb Nhà xuất bản

17 PATA Pacific Asia Travel Association

18 PGS TS Phó giáo sư - Tiến sĩ

19 QĐ Quyết định

20 SWOT Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats

Trang 6

28 TIES The International Ecotourism Society

29 UBND Ủy ban nhân dân

30 UNDP United Nations Development Programme

31 UNESCO United Nations Educational, Scientific

and Cultural Organization

32 UNWTO United Nations World Tourism Organization

33 WCED World Commission Environment Development

34 WTTC World Travel & Tourism Council

35 WWF World Wide Fund For Nature

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững của Jacobs & Sadler……… 25

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới……… 26

Hình 1.3 Mô hình phát triển bền vững kiểu 3 vòng tròn của Villen……… 26

Hình 1.4 Mô hình phát triển bền vững 10R tại Cần Giờ……….………28

Hình 1.5 Bản đồ huyện Cần Giờ……….………31

Hình 2.1 Cung đường kết nối các nguồn lực tự nhiên huyện Cần Giờ………50

Hình 2.2 Dự án đô thị du lịch Saigon Sunbay tại xã Long Hòa, Cần Giờ……… 59

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức lăng Ông và Ban tế lễ……….74

Hình 4.1 Các kênh phương tiện giúp du khách biết đến Cần Giờ………115

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện nghề nghiệp của du khách………116

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích của du khách dành cho những điểm du lịch tại Cần Giờ……… 116

Hình 4.4 Cảm giác của du khách khi tham quan Cần Giờ………117

Hình 4.5 Đánh giá của du khách về đường sá tại Cần Giờ……….…… 118

Hình 4.6 Thời gian du khách thích đến Cần Giờ……… 118

Hình 4.7 Mức chi phí du khách dành cho chuyến du lịch Cần Giờ trong ngày ……….118

Hình 4.8 Lý do du khách chọn Cần Giờ để tham quan……….119

Hình 4.9 Tỷ lệ du khách tham gia lệ hội Nghinh Ông Cần Giờ………119

Hình 4.10 Nhận xét môi trường tại Cần Giờ của du khách……… 120

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình lượng khách du lịch tại Cần Giờ trong 10 năm………64

Bảng 3.1 Hệ thống nghi lễ tại Thạnh Phước cổ tự……….109

Bảng 4.1 Trình độ du khách đến Cần Giờ……….115

Bảng 4.2 Phân tích SWOT cho khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ……… 140

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5

5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Kết cấu đề tài 12

CHƯƠNG 1 14

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Các khái niệm liên quan 14

1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận 22

1.2 Tổng quan Huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh 28

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Cần Giờ 28

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 30

1.2.3 Điều kiện xã hội 34

1.2.4 Tổng quan du lịch biển Cần Giờ 35

1.2.5 Những bài học kinh nghiệm 38

Tiểu kết chương 1 47

CHƯƠNG 2 48

NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 48

2.1 Nguồn lực tự nhiên và mối quan hệ với du lịch sinh thái - văn hóa 48

Trang 10

2.2 Hệ thống các cảnh quan tự nhiên phục vụ du lịch 50

2.2.1 Các cảnh quan vùng nước lợ 51

2.2.2 Các cảnh quan vùng ngập mặn 57

2.2.3 Cảnh quan biển 59

2.3 Nhu cầu du khách và thực trạng khai thác các giá trị cảnh quan tự nhiên phục vụ du lịch 62

2.3.1 Đặc trưng nhu cầu du khách đối với loại hình sinh thái 62

2.3.2 Các giai đoạn phát triển 63

2.3.3 Hiệu quả kinh tế 65

2.3.4 Tác động của du lịch đến môi trường sinh thái 68

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3 73

NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 73

3.1 Nguồn lực văn hóa phi vật thể 73

3.1.1 Cơ cấu tổ chức nghề đi biển Cần Giờ - tổ chức vạn và tri thức nghề đi biển 73 3.1.2 Hệ thống tín ngưỡng của cư dân trong vạn 78

3.1.3 Phong tục dân gian 80

3.1.4 Các làng nghề được khai thác phục vụ du lịch 82

3.1.5 Hệ thống các tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội biển 90

3.2 Nguồn lực văn hóa vật thể 101

3.2.1 Hệ thống các di tích lịch sử 101

3.2.2 Hệ thống các di tích văn hóa 104

Tiểu kết chương 3 111

CHƯƠNG 4 113

ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH SINH THÁI-VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ 113

4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch Cần Giờ 113

4.1.1 Phân tích kết quả khảo sát và các nhận định 113

4.1.2 Các yếu tố tích cực 121

Trang 11

4.1.3 Các yếu tố mang tính thách thức 127

4.2 Hệ quả của thực trạng khai thác du lịch “không bền vững” tại huyện Cần Giờ .134

4.2.1 Hệ quả đối với sinh thái 134

4.2.2 Hệ quả đối với văn hóa 135

4.2.3 Hệ quả đối với kinh tế 136

4.3 Xây dựng chiến lược phát triển bền vững ngành du lịch Cần Giờ 138

Tiểu kết chương 4 149

KẾT LUẬN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC PL 1

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước, có nhiều lợi thế du lịch, thuận lợi cho việc tổ chức các chương trình du lịch đặc thù như du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa, điền dã, du lịch mua sắm, du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo v.v Các chương trình du lịch tại thành phố thường tập trung ở những địa điểm quen thuộc với mọi người như nhà thờ Đức

Bà, dinh Thống Nhất, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Bưu điện Thành phố, khu Chợ Lớn, địa đạo Củ Chi, khu sinh thái Cần Giờ v.v Trong những năm gần đây, số lượng du khách đến thành phố tăng lên nhanh chóng, thế nhưng, mức độ tập trung

du khách ngày càng cao đã làm nảy sinh những bất cập trong mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và công tác bảo tồn, sự khai thác chưa thật tốt cũng như chưa có nhiều điểm đến thực sự mang tính tầm cỡ và hấp dẫn tại thành phố đã làm du khách cảm thấy chán ngán và xem đây như một điểm dừng chân trước khi đến những thành phố du lịch khác của nước ta Qua những chuyến tham quan thực tế tại các địa điểm trong nước mà tôi đã tham gia trước đó và nhờ vào sự tìm hiểu các thành phố du lịch nổi tiếng tại Thái Lan, Singapore qua sách báo, internet thì du lịch sinh thái-văn hóa là một trong những công cụ hữu hiệu được nhiều nước trên thế giới áp dụng, giải quyết những vấn đề này với chiến lược phát triển theo hướng bền vững, lấy du khách làm trọng tâm Những người làm du lịch tại Việt Nam đã đặt nhiều kỳ vọng vào một chương trình du lịch tầm quốc tế, mang tính chất nối kết và quảng bá cho thế mạnh của du lịch Việt Nam mà trước hết là sự nối kết của các di sản thế giới tại dải đất miền Trung cùng với hai di sản thế giới khác là cố đô Luang Phrabang của Lào và quần thể Angkor Wat của Campuchia, thực hiện các dự án quy hoạch và phát triển bền vững cho 21 khu du lịch quốc gia đã được công nhận trên cả nước, trong đó có Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ Thế nhưng cho đến hôm nay, những khu du lịch này vẫn còn nhiều tồn tại khiến cho chúng chưa phát huy hết tiềm năng vốn có Qua quan sát, suy ngẫm về cuộc sống hàng ngày cũng như nhìn nhận các khu du lịch của các nước dẫn đầu về du lịch trên thế giới một loạt câu hỏi đặt ra là “Làm thế nào để giải quyết những mâu thuẫn đó?”, “Du lịch trong cuộc

Trang 13

sống ngày nay là một phần tất yếu của cuộc sống con người chăng?”, “Vì sao các điểm du lịch ở nước ngoài không xuất sắc gì hơn ta mà lôi cuốn được khách du lịch khắp thế giới?”, “Chúng ta phải làm gì để các tài nguyên du lịch Nam Bộ nói chung

và các tài nguyên du lịch sinh thái-văn hóa tại Tp HCM có thể thu hút được đông đảo du khách trong và ngoài nước?” Trong tương lai gần, du lịch Tp HCM sẽ hình thành thêm nhiều dự án phát triển du lịch khác Với việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tại thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 thì Tp HCM sẽ phát triển hai hướng chính là hướng đông và hướng nam Do đó, Cần Giờ

là một trong những địa điểm được Tp HCM ưu tiên kêu gọi đầu tư Nhưng ai sẽ công nhận những dự án này, nó sẽ thu hút nhiều du khách đến tham quan hay nó sẽ lại tiếp tục lâm vào tình cảnh tương tự như một số chương trình phát triển du lịch bền vững mà nước ta đã thực hiện? Đề tài về du lịch sinh thái ở Cần Giờ đã được nhiều học giả nghiên cứu, đồng thời cũng có không ít đầu sách có bàn tới Nhưng trong quá trình tìm hiểu về những công trình nghiên cứu ấy, chúng tôi nhận thấy vấn đề phát triển du lịch sinh thái-văn hóa bền vững chưa được nhiều người quan tâm, nghiên cứu có hệ thống, nhất là đặt dưới các góc nhìn khoa học xã hội đương đại Đồng thời, tác giả cũng thấy yêu mến vùng đất Cần Giờ vì nó đặc biệt là “lá phổi xanh”, là huyện có biển duy nhất của thành phố Tháng 1 năm 2000, UNESCO (Tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa của Liên Hợp Quốc) đã công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ là một trong 368 khu dự trữ sinh quyển thế giới Lợi thế trên đã giúp cho Cần Giờ có đầy đủ những điều kiện cần thiết về tự nhiên để phát triển du lịch sinh thái; tuy nhiên, hiện tại nguồn tài nguyên du lịch quý giá này vẫn chỉ ở dạng tiềm năng Để trả lời cho những câu hỏi trên, cũng như để hiểu thêm về một vùng đất có những giá trị văn hóa lịch sử lâu đời nhưng vẫn chưa có được sự thu hút

và quan tâm nhiều của người Việt Nam và bạn bè thế giới, chúng tôi chọn đề tài

Phát triển du lịch sinh thái-văn hóa bền vững nhìn từ góc độ văn hóa (Trường hợp huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc

sĩ ngành Việt Nam học

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định các mục tiêu sau:

Thứ nhất, chúng tôi nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái, du lịch văn hóa ở huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm sau năm 2000

Thứ hai, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đánh giá đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hoạt động du lịch cũng như vai trò của các giá trị văn hóa trong việc hình thành và phát triển du lịch, đánh giá các giá trị văn hóa vật thể

và phi vật thể tại Cần Giờ trong quá trình phát triển kinh tế dựa trên quan điểm hướng đến sự phát triển bền vững

Cuối cùng, cố gắng đưa ra một số bài học kinh nghiệm từ các địa phương khá thành công trong việc phát triển du lịch bền vững để đưa ra một số định hướng, giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trước yêu cầu phát triển du lịch bền vững tại Cần Giờ

Thêm vào đó, luận văn được thực hiện dưới góc nhìn văn hóa học sẽ mang đến một góc nhìn mới hơn cho việc hoạch định các giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn du lịch sinh thái Nam Bộ nói chung, Cần Giờ nói riêng Chúng tôi cũng tập trung vào ba câu hỏi nghiên cứu chính: Thứ nhất, nguồn lực tự nhiên và văn hóa tại Cần Giờ có những gì tiêu biểu? Thứ hai, dưới tác động của hoạt động du lịch trong thời đại hiện nay có ảnh hưởng như thế nào đối với các nguồn lực nêu trên tại Cần Giờ trong việc phát triển bền vững? Thứ ba, từ thực trạng hiện nay tại Cần Giờ, những tác nhân có ảnh hưởng đến du lịch là gì và định hướng phát triển bền vững đối với ngành du lịch sinh thái, du lịch văn hóa là như thế nào?

Từ các câu hỏi nghiên cứu chính ở trên luận văn đặt ra giả thuyết nghiên cứu rằng:

- Cần Giờ là vùng đất hội tụ nhiều đặc điểm để phát triển du lịch sinh thái như rừng, biển; cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sừ, lễ hội truyền thống đặc sắc và không quá xa trung tâm thành phố Đồng thời nơi này lại sở hữu KDTSQ Cần Giờ nằm trong mạng lưới quốc tế các KDTSQ được UNSECO công nhận

- Vùng đất Cần Giờ có đầy đủ các nguồn lực sinh thái và văn hóa, song ngành du lịch thành phố chưa khai thác đúng giá trị Thách thức lớn cho ngành

Trang 15

du lịch Cần Giờ là chúng ta chưa tạo ra được các dịch vụ du lịch đi kèm, cơ sở

hạ tầng phụ vụ du lịch không nhiều, còn hạn chế trong các hoạt động quảng bá, thu hút du khách Do đó chỉ giữ khách trong một thời gian ngắn

- Đồng thời, việc đầu tư phát triển du lịch Cần Giờ cần bắt đầu từ công việc nghiên cứu xác định và quảng bá giá trị du lịch cần phải đặt dưới nhãn quan du lịch hiện đại Phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hóa Cần Giờ phải đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững, gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, gìn giữ và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên rừng ngập mặn để cụ thể hóa việc biến Cần Giờ thành “Đô thị du lịch sinh thái rừng - biển của Tp HCM

và khu vực”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phát triển du lịch bền vững dưới góc độ văn hóa trên địa bàn huyện Cần Giờ, bao gồm các nguồn lực sinh thái, văn hóa và khả năng xây dựng, phát triển du lịch sinh thái-văn hóa Cần Giờ trong tương lai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được giới hạn trong phạm vi huyện Cần Giờ vì đây là địa phương tuy không quy tụ các di sản văn hoá và thiên nhiên đẳng cấp quốc tế của đất nước nhưng có nhiều di tích lịch sử, một Khu dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận Điểm xuyết là một vùng biển hoang sơ nhưng có nhiều tiềm năng, một loạt các giá trị văn hóa độc đáo gắn liền với biển Trong thời gian khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi thực hiện điền dã tại thị trấn Cần Thạnh, xã Long Hòa, xã đảo Thạnh

An, xã Lý Nhơn Bốn xã, thị trấn này là nơi có nhiều nguồn lực tự nhiên và văn hóa cũng là nơi những nơi phát triển về du lịch của cả huyện Cho nên, việc chọn địa bàn này để khảo sát, nghiên cứu là rất thuận lợi, sẽ giúp chúng tôi thu thập được nhiều thông tin đáng tin cậy

Để tìm hiểu thực trạng của hoạt động du lịch sinh thái, văn hóa và những biến đổi trong giai đoạn hiện nay để hướng đến sự phát triển bền vững, chúng tôi

Trang 16

chọn mốc nghiên cứu của đề tài từ năm 2010 - là năm đánh dấu sự thay đổi rõ rệt về nhiều lĩnh vực của Cần Giờ khi UNSECO công nhận Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới quốc tế 368 Khu dự trữ sinh quyển của thế giới

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

4.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa thực tiễn và lý luận, là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu về Cần Giờ sau này Trong những năm gần đây, việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc để mang lại sự phát triển bền vững được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành Chính vì thế, chúng tôi muốn nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề này nhằm đem lại làn gió mới, tiếng nói mới trong việc bảo vệ và phát huy những nơi tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận Để từ đó những nơi này có thể tạo ra những giá trị to lớn cho

du lịch nước nhà, giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu quê hương đất nước và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục lòng tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam nói chung cũng như dân cư huyện Cần Giờ nói riêng

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa văn hóa với thiên nhiên, giữa con người với thiên nhiên, hi vọng đề tài sẽ góp một phần luận cứ khoa học để xây dựng động lực thúc đẩy phát triển xã hội, văn hóa của huyện Cần Giờ nói riêng và Tp HCM nói chung, thúc đẩy nhiều người hơn viết nghiên cứu sâu hơn về việc phát triển bền vững cột trụ thứ tư - văn hóa Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước" đã khẳng định, văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội và yêu cầu phải chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa Hội nghị Thượng đỉnh thế giới ở Nam Phi (2002) đã khẳng định một cách khái quát ba trụ cột của phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường Cùng với thời gian,

ba trụ cột này chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn và những bước tiến của nhân loại, chưa bao quát được tầm vóc và vị thế của văn hóa trong đời sống xã hội hiện đại Vì

Trang 17

vậy đến nay, quốc tế đã thừa nhận văn hóa là trụ cột thứ tư của phát triển bền vững.1

5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ những năm 1980 cho đến nay, trên thế giới số lượng người đi du lịch

ngày càng tăng nhất là họ thường tìm đến với những danh lam thắng cảnh khá nổi tiếng Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, mặc dù số lượng du khách nội địa và quốc tế có tăng liên tục nhưng không nhiều và khó có thể đuổi kịp Thái Lan

Xu hướng du lịch này đã thoát khỏi sự kiểm soát của các địa phương có những điểm đến hấp dẫn nhất hành tinh Vì thế khái niệm phát triển bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất và sử dụng trong nhiều năm qua Nhưng sự tiếp cận khái niệm này xuất hiện khá muộn vào khoảng cuối thập niên 1980 đầu những năm 1990 ở Việt Nam, mặc dù vậy nhưng khái niệm này lại sớm được thể hiện ở nhiều lĩnh vực như văn hóa - kinh tế - xã hội - du lịch Có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu, bài báo, sách quan tâm đến việc phát triển du lịch sinh thái-văn hóa hướng đến

sự bền vững trong tương lai như:

Năm 1995, Viện nghiên cứu Phát triển du lịch đã thực hiện đề tài “Hiện trạng

và những định hướng cho công tác qui hoạch phát triển du lịch vùng ĐBSCL (1996-2010)” xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch và đề xuất phương hướng phát

triển du lịch vùng ĐBSCL bằng các phương án phát triển cụ thể Tiềm năng du lịch của vùng qua các loại hình du lịch điển hình của vùng ĐBSCL như du lịch sinh thái,

du lịch sông nước, du lịch biển.v.v đã được nêu ra nhưng chưa nghiên cứu sâu về loại hình du lịch sinh thái, văn hóa cụ thể

Năm 1998, Phan Huy Xu và Trần Văn Thanh đã có công trình nghiên cứu về

“Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên và định hướng khai thác du lịch sinh thái

ở ĐBSCL” Công trình nghiên cứu này đã xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái

đa dạng nhằm phát triển du lịch bền vững

1 Nguyễn Mạnh Cầm, “Văn hóa: động lực của hội nhập và phát triển” (Ngày cập nhật: 15/7/2017)

http://www.baomoi.com/van-hoa-va-hoi-nhap-ky-1-van-hoa-dong-luc-cua-hoi-nhap-va-phat-trien-ben- vung/c/14632647.epi

Trang 18

Năm 2004, luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái ở huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Văn Thanh

tập trung nghiên cứu về thực trạng phát triền du lịch sinh thái tại Cần Giờ và trên cơ

sở đó nghiên cứu các giải pháp tổ chức quản lý để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại đây Tuy nhiên, luận văn chỉ chú trọng phân tích các nguồn lực sinh thái tự nhiên và chưa nêu cụ thể về nguồn lực văn hóa tại địa phương Bên cạnh đó, Cần Giờ cũng đã thay đổi khá nhiều trong những năm gần đây do đó luận văn thiên về

du lịch sinh thái bền vững dưới góc nhìn địa lý sẽ chưa bàn cụ thể tới được các góc nhìn từ kinh tế, tâm lý, xã hội; các tác nhân tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến du lịch sinh thái-văn hóa tại Cần Giờ Luận văn cũng không đề cập đến các bài học kinh nghiệm quý báu của các nước trên thế giới hoặc các vùng lận cận tại Việt Nam

để du lịch Cần Giờ có thể dựa vào đó mà hoàn chỉnh hơn để ngày càng thu hút du khách

Năm 2005, luận văn Thạc sĩ “Cần Giờ từ góc nhìn văn hoá sinh thái” của tác

giả Nguyễn Minh Mẫn được xem là một đề tài mới lạ trong việc nghiên cứu du lịch Cần Giờ dưới góc độ văn hoá sinh thái của nơi được UNESCO công nhận là Khu

dự trữ sinh quyển của thế giới tại Việt Nam để từ đó xây dựng một mô hình du lịch sinh thái nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc phát triển chung đã đề ra Tác giả có so sánh được Cần Giờ với hai vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Thượng Nhưng chừng đó là chưa đủ, bởi tác giả cũng không phân tích kĩ các đặc điểm của các nguồn lực tự nhiên và nhân văn tại Cần Giờ để đánh giá chúng có vai trò như thế nào đối với du lịch sinh thái của địa phương Ngoài ra, dưới góc nhìn văn hóa sinh thái, tác giả cũng chỉ nêu những định hướng để giảm thiểu các tác động tiêu cực của con người đến môi trường tự nhiên và nhân văn ở Cần Giờ nhưng không có những giải pháp nhằm phát triển một cách bền vững cho du lịch tại huyện này

Năm 2006, Huỳnh Thị Minh Hằng và Nguyễn Hoàng Anh đã viết “Hướng đến

sự phát triển bền vững các vùng dân cư trên đất ngập nước ven biển - huyện Cần

Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh” trên tạp chí Phát triển Khoa học công nghệ tháng 9

Báo cáo phân tích các đặc điểm tự nhiên của huyện Cần Giờ, xác định các thách thức với các dự án đã, đang và sẽ được khởi công tại Cần Giờ mà người dân vùng

Trang 19

này sẽ phải đối mặt Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp theo hướng thân thiện với môi trường cho người dân Cần Giờ Cũng trong năm này, nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Nguyễn Thanh Hùng, Huỳnh Thị Minh Hằng, Lâm Minh Triết của Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh có báo cáo “Du lịch sinh thái rừng - biển Cần Giờ Tp HCM theo định hướng phát triển thân thiện với môi trường” Báo cáo nêu khái quát được tiềm năng rừng và biển của huyện Cần Giờ và định hướng để phát triển bền vững ngành du lịch Cần Giờ cần dựa trên hai nguồn tài nguyên này cũng như đầu tư bảo vệ môi trường Tuy nhiên, giới hạn trong báo cáo này là chỉ trình bày nước thải và chất thải rắn mà chưa đề cập thêm nhiều yếu tố khác cũng liên quan đến sự phát triển du lịch nơi đây

Năm 2007, quyển sách Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tựu, cơ hội,

thách thức và triển vọng của Ngô Thắng Lợi được xuất bản Đây được xem là

quyển sách tập hợp những báo cáo mang tính thực tiễn cao khi đưa ra những cơ hội

và triển vọng của phát triển bền vững tại Việt Nam nhưng chưa phản ánh được sự mâu thuẫn giữa hội nhập và bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay

Năm 2012, cuốn sách Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí

Minh - là kết quả của đề tài nghiên cứu “Điều tra khảo sát khảo cổ học phục vụ nhu

cầu quy hoạch, xây dựng và phát triển huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 2006 - 2010)” do tác giả Nguyễn Thị Hậu (Viện Nghiên cứu phát triển) làm chủ nhiệm đề tài Bằng việc tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng hệ thống

di tích khảo cổ học huyện Cần Giờ để xác định tính chất, quy mô của hệ thống di tích khảo cổ học ở đây thì cuốn sách này đã đánh giá được giá trị lịch sử và văn hóa của các di tích, đề xuất một số giải pháp đối với các di tích đặc biệt cần được bảo tồn nguyên dạng hay khai quật để thành lập bảo tàng tại chỗ nhằm cung cấp tư liệu nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vùng đất Cần Giờ nói riêng

và Tp HCM nói chung

Năm 2013, hai tác giả Trần Chi Nhung và Võ Dao Chi có một bài viết với tên

“Phát triển bền vững - Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở Nam Bộ và Việt

Trang 20

Nam” đăng trên tạp chí Khoa học xã hội số 1(173) - 2013 Bài viết dài 14 trang này

nêu lên các học thuyết cơ bản, các nguyên tắc, tiêu chí của phát triển bền vững và tổng quan về tình hình nghiên cứu phát triển bền vững tại Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng

Năm 2014, Trần Hữu Dũng đăng bài viết cho tờ Tia Sáng có tựa đề “Phát triển

bền vững nhìn từ góc độ văn hóa xã hội và văn hóa” Ông dựa trên ý niệm của nhà

xã hội học người Mỹ James Coleman (1926 - 1995) và nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu (1930 - 2002) để nêu lên những nhận xét về mối liên hệ giữa văn hóa, kinh tế và phát triển Nghiên cứu này chỉ thảo luận sự phát triển bền vững từ góc độ xã hội và văn hóa chứ không đề cập đến sự phát triển bền vững trong du lịch Nguyễn Thị Thu trong bài viết “Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch” có nêu khái niệm về “văn hóa du lịch”, một số khía cạnh của văn hóa du lịch nhưng chưa nêu lên được nhiều về “du lịch văn hóa” để người đọc có cái nhìn rộng hơn về mối quan hệ của hai phạm trù này trong sự phát triển bền vững của du lịch

Năm 2015, cuốn Đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa của ngư dân và cư dân

vùng Nam Bộ của tác giả Phan Thị Yến Tuyết được xuất bản Đây là nguồn tài liệu

tổng quát về biển và đời sống của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ trong đó có

cả Cần Giờ Kết quả nghiên cứu của công trình này là nguồn tài liệu thiết thực phục

vụ cho việc phát triển kinh tế - du lịch - văn hóa Nam Bộ nói chung và Cần Giờ nói riêng, chuẩn bị cho việc quy hoạch và xây dựng huyện Cần Giờ thành khu Đô thị biển của Tp HCM

Ngoài ra, để có thể bao quát hết vấn đề nghiên cứu, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, các công trình mang tính lý luận về du lịch sinh thái, tâm lý du khách cùng thực trạng và quy hoạch du lịch Việt Nam/Thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ là nguồn tài liệu quý giá có giá trị tham khảo, đối chiếu của luận văn

Trang 21

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau để hỗ trợ làm cho luận văn thêm phong phú, tạo cho luận văn một cơ sở khoa học:

Phương pháp phân tích SWOT

Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2 hàng 2 cột

và chia làm 4 phần: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (Thách thức) Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng tôi tìm hiểu vấn đề, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng tôi có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế của Cần Giờ, phân tích các hoàn cảnh môi trường bên trong và bên ngoài của các nghề như ngư nghiệp, nghề làm muối, nghề nuôi chim yến, du lịch biển khi phát triển du lịch văn hoá và sinh thái ở Cần Giờ cũng như tổng quan về du lịch Cần Giờ Từ đó nhận định được những giá trị đã khai thác

để phục vụ cho hoạt động du lịch

Quan sát tham dự

Đây là phương pháp không thể thiếu trong ngành nhân học, ngành dân tộc học và đã được áp dụng rất rộng rải trong các ngành nghiên cứu xã hội Chúng tôi

sử dụng phương pháp này nhằm tiếp cận với đối tượng nghiên cứu, thấu hiểu họ và

từ đó giúp chúng tôi có được những kết quả nghiên cứu khách quan nhất, phù hợp với cộng đồng, văn hóa của địa bàn nghiên cứu Ở đây, tác giả đã kết hợp giữa phỏng vấn ít chính và quan sát tham dự: Đây là hình thức phỏng vấn sơ bộ, giống như một cuộc trò chuyện để tạo sự gắn kết với nhau, hiểu sbộ về nhau và hiểu tổng quát về đối tượng, cộng đồng chúng ta nghiên cứu Phỏng vấn ít chính thức có thể diễn ra một cách tình cờ, với mục tiêu thu thập được thông tin sơ bộ bước đầu làm tiền đề cho những phỏng vấn quan trọng

Trang 22

Phỏng vấn sâu

Đây là dạng phỏng vấn được tiến hành một cách trang trọng và chính thức

Để thực hiện được cuộc dạng phỏng vấn này, tác giả phải có sự đồng ý phỏng vấn của thông tín viên, và chỉ được ghi âm nếu thông tín viên cho phép, có ghi chép văn bản khoa học, thông tin thông tín viên cung cấp thường chính xác, phù hợp với đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trên nhiều đối tượng thông tín viên khác nhau Chủ thể được phỏng vấn mà chúng tôi hướng đến là các thông tín viên có liên quan trực tiếp đến đề tài Chúng tôi thực hiện tổng cộng là 10 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm trong

đó là các chức sắc, người dân ở các làng nghề, các nhân viên tại các điểm tham quan ở Cần Giờ Qua các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi có được một nguồn tư liệu khá hữu ích để phân tích và chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu trong luận văn bằng việc trích dẫn nội dung phỏng vấn

Phương pháp khảo sát thực địa

Kết hợp với việc đi khảo sát điền dã đồng thời thực hiện việc phát phiếu điều tra tại chỗ cho du khách tại huyện Cần Giờ với số lượng 100 mẫu được chia đều để thăm dò ý kiến về các nội dung nghiên cứu Đây là một phương pháp khá quan trọng trong việc thu thập thông tin Để thực hiện phương pháp này, tác giả đã dành một khoảng thời gian để đến cộng đồng địa phương tìm hiểu, trò chuyện với người dân tại đây Ngoài ra, với việc tham dự vào lễ hội biển của cộng đồng giúp tác giả cảm nhận được những tình cảm mà người dân tại Cần Giờ dành cho biển, đồng thời

có thêm những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu Sau đó, tác giả tiến hành soạn một bản câu hỏi gồm 30 câu như một phương tiện lưu giữ thông tin rồi chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản để tiến hành khảo sát Địa điểm khảo sát là Cần Giờ và nhà văn hóa Thanh Niên nơi có nhiều sinh viên Bởi lẽ, theo tìm hiểu và khảo sát trước khi thực hiện đề tài thì Cần Giờ hiện đang xây dựng các chương trình du lịch xanh, du lịch sinh thái với những mô hình và bài học bổ ích về cuộc sống và đối tượng mà họ chủ yếu hướng tới là sinh viên, học sinh Sau khi có được kết quả khảo sát, chúng tôi tiến hành dùng SPSS phân tích các nguồn số liệu, đề ra các hướng và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 23

Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu thành văn

Từ các nguồn tư liệu chính thống từ sách, báo, luận văn, luận án v.v của nhiều tác giả, học giả ở nhiều lĩnh vực như tôn giáo, văn hóa, du lịch, xã hội có liên quan đến đề tài thì chúng tôi tiến hành tổng hợp, chọn lọc và phân tích nhằm phục

vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình Bên cạnh đó, chúng tôi còn thực ghi chép nhật kí điền dã về một số vấn đề như: cách bày trí bàn thờ trong lăng Ông Cần Thạnh, các phong tục vòng đời tại địa phương cũng như các cảm nhận của du khách

về Cần Giờ

Phương pháp tiếp cận liên ngành

Phương pháp liên ngành, liên kết với nhau để nghiên cứu và dựa trên thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau để phân tích Đây là phương pháp rất cần thiết cho luận văn này khi đề tài này liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau Cụ thể, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên nhành của văn hóa học, Việt Nam học, du lịch học và sinh thái học Những kiến thức tổng hợp của các ngành kể trên được sử dụng một cách đầy đủ để nêu bật những vấn đề cần làm rõ trong luận văn

từ đó giải quyết những hạn chế trong hiện tại và dự đoán trước cho những điều sắp xảy ra tại địa phương nghiên cứu

Trang 24

Chương 2: NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH Chương này khá quan trọng khi trình bày chi tiết về nguồn lực

tự nhiên nổi bật của huyện Cần Giờ và thực trạng khai thác giá trị sinh thái của người dân bản địa Để từ đó chúng tôi có cơ sở phân tích nguyên nhân của những biển đổi và qua đó nêu lên những hệ quả của việc khai thác du lịch không bền vững trong chương 4

Chương 3: NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH Cũng giống chương 2, chương này cũng quan trọng và trình bày

về nguồn lực văn hóa đặc sắc do huyện sở hữu Các yếu tố này chính là nguồn tài nguyên quý giá cho việc thu hút du khách và phát triển hoạt động du lịch văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh nói chung

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH SINH THÁI-VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ Chương này nêu ra các tác nhân tích cực và thách thức có ảnh hưởng đến du lịch Cần Giờ, hệ quả của thực trạng khai thác du lịch “không bền vững” tại huyện Cần Giờ từ góc nhìn sinh thái - văn hóa - kinh tế Song song đó, dựa vào những bài học kinh nghiệm đã nêu ra trong phần chương 1 chúng tôi có cơ sở đề xuất xây dựng bền vững ngành du lịch Cần Giờ từ góc nhìn kinh tế, góc nhìn môi trường, góc nhìn xã hội - mô hình phát triển bền vững văn hóa 10R tại huyện Cần Giờ

Trang 25

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm liên quan

Luận văn đề cập trực tiếp đến các khái niệm cơ bản như văn hóa, du lịch sinh

thái, du lịch văn hóa, phát triển bền vững, phát triển du lịch bền vững và du khách hậu hiện đại Chính vì vậy, trong mục lý luận này chúng tôi thảo luận nền tảng khái

niệm và lý luận được áp dụng cụ thể

Văn hóa

Thế giới đã thảo luận về văn hóa từ đầu Công nguyên, bắt đầu đi từ giải thích

từ nguyên đến đề cập một cách có hệ thống khoa học, trong đó có các tác giả Lưu Hướng (Trung Quốc) TK I trước Công nguyên và E B Tylor TK XIX sau Công

nguyên Lưu Hướng sử dụng thuật ngữ văn hóa mang ý nghĩa đối lập với vũ lực,

xem sử dụng văn hóa là một phương thức giáo hóa con người – “văn trị giáo hóa” [48, tr.18] Ở phương Tây, E B Tylor khẳng định: “Từ văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người

chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội” [5, tr.202]

Đến đầu TK XX, giới nghiên cứu nhân học và văn hóa đã đề xuất rất nhiều định nghĩa cơ bản, trong đó có các tác giả tiêu biểu sau:

Theo A L Kroeber và C L Kluckhohn quan niệm “Văn hóa là loại hành vi

rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra” [48, tr.19]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhận định: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tồn” [10, tr.431]

Tổ chức UNESSCO đánh giá “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng quy định thế ứng xử của con người và làm số đông người có thể giao tiếp với

nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” [46, tr.36-37] Còn theo tác

Trang 26

giả Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [36, tr.10]

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa đến nay rất đa dạng và đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thực hiện đề tài luận văn này, theo đó văn hóa là thành quả nhận thức và lao động được tạo ra, gìn giữ và lưu truyền trong quan hệ tương tác qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu tất yếu và nâng cao của cuộc sống Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

và là phương tiện thể hiện khả năng phát triển và tích lũy tri thức sống của con người trong xã hội Vì thế, văn hóa của mỗi tộc người sẽ chia sẻ nhiều giá trị phổ quát song cũng hàm chứa những đặc trưng riêng tộc người mình Trong văn hóa luôn có dấu ấn tự nhiên, vì thế ứng xử với tự nhiên là một hoạt động phổ quát của nhân loại, trong đó có hoạt động du lịch

Du lịch sinh thái

Sinh thái chỉ môi trường tự nhiên – là tổng thể các nhân tố tự nhiên xung quanh chúng ta như bầu khí quyển, nước, thực vật, động vật, thổ nhưỡng v.v [48, tr.27] Sự đa dạng đó là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa lẫn sinh thái và khi hai yếu tố này kết hợp lại trong hoạt động du lịch thì nó tạo ra một loại hình du lịch hấp dẫn rất nhiều du khách, giới khoa học và nhiều doanh nghiệp Các khái niệm, định nghĩa phổ biến về du lịch sinh thái phổ biến như:

Theo Hector Ceballos – Lascurain (1987) thì “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với các mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thiên nhiên hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [20, tr.8] Theo Megan E Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho nhân dân địa phương” [20, tr.8] Bộ Luật du lịch Việt Nam (2005) thì

Trang 27

định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [49, tr.63]

Song song đó, Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế TIES (1999) nhận định:

“Du lịch sinh thái là việc đi lại của người có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương” [20, tr.10] Định nghĩa của Malaysia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này

sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế” [20, tr.9-10]

Theo tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới IUCN, “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” [2, tr.19]

Các định nghĩa, khái niệm trên đều nêu bật được vấn đề chung đó là khách

du lịch có thể khám phá và tìm hiểu những hệ sinh thái và văn hóa bản đại tại những vùng đất mới, còn tương đối hoang sơ Đồng thời, chính họ cũng sẽ là những người góp phần tạo ra lợi ích cho công đồng địa phương thông qua việc mang lại các phúc lợi và hành động bảo vệ thiên nhiên của họ Theo chúng tôi, định nghĩa của IUCN

có lẽ là đầy đủ hơn cả khi thể hiện hầu như các yếu tố cần thiết để mọi người có thể hiểu rõ về du lịch sinh thái

Trang 28

Du lịch văn hóa

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” [42, tr.79] Theo Hội đồng quốc tế các Di chỉ và Di tích (ICOMOS), “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã chứng minh cho những nổ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” [42, tr.165-166]

Theo khoản 22 (Điều 4) - Luật du lịch Việt Nam năm 2005, “du lịch văn hóa

là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [42, tr.165]

Ngoài ra, hai tác giả Ngô Thanh Loan và Huỳnh Quốc Thắng từng nêu: “Du lịch văn hóa là du lịch dựa trên các chương trình, sản phẩm du lịch chủ yếu khai thác các giá trị, các loại hình văn hóa như di tích, lễ hội, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, ẩm thực…nhằm tạo điều kiện cho du khách tìm hiểu, khám phá về các nền văn minh, văn hóa dân tộc, địa phương vùng, miền…” [31, tr.7-8]

Ngày nay nhiều người quan tâm việc du lịch đến những vùng cư trú, những vùng đất có những nét đặc sắc văn hóa mới lạ, đặc biệt là nơi còn tồn tại đa dạng sinh học và môi trường thiên nhiên tương đối hoàn chỉnh Cần Giờ tuy không phải

là vùng cư trú của tộc người thiểu số, song đối với người dân đô thị Tp HCM và du khách phương Tây thì văn hóa gắn liền với biển và tri thức nghề biển cùng cảnh quan tự nhiên, rừng ngập mặn Cần Giờ là những nguồn lực có giá trị Như vậy, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc như: nghệ thuật biểu diễn, các lễ hội, các di tích và đền đài, phong tục và tín ngưỡng dân gian để thu hút du khách đến trải nghiệm Tuy nhiên, du lịch văn hóa không chỉ đơn thuần là khai thác để làm du lịch mà còn gắn liền với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, du lịch văn hóa cần có một kế hoạch toàn diện bởi nếu không thì

Trang 29

các loại hình du lịch tự phát sẽ làm biến dạng văn hóa cư dân địa phương do chạy theo quy luật cung – cầu Theo Phan Thị Yến Tuyết thì “khách du lịch văn hóa ngày nay hầu hết đều chọn đến với những vùng cảnh quan còn “hoang sơ”, các tộc người

“chưa bị văn minh hiện đại chạm đến” nhưng đồng thời “người ta cũng quan tâm đến sự “tổn thương văn hóa” Nếu du lịch văn hóa bị kinh doanh theo kiểu “ăn xổi ở thì”, không có chiến lược du lịch bền vững, thiếu sự kiểm soát của ngành chức năng” thì mọi nguồn lực văn hóa, nguồn lực tự nhiên sẽ dần mai một thậm chí biến mất [43, tr.331]

Trên cơ sở của việc nêu ra các khái niệm, định nghĩa của du lịch sinh thái và

du lịch văn hóa thì chúng tôi cũng xin khái quát về cụm từ du lịch sinh thái – văn hóa Đây là cụm từ tổ hợp về hai loại hình du lịch sinh thái và du lịch văn hóa Mục tiêu cơ bản của DLST là làm cho du lịch trở thành một hoạt động môi trường và văn hóa đóng góp vào sự tăng trưởng bền vững của các cộng đồng địa phương Ngược lại, văn hóa cũng định hướng trở lại đối với sinh thái tạo ra một dạng thức văn hóa tương ứng với một vùng sinh thái nhất định Văn hóa sinh thái bao gồm những giá trị văn hóa gắn với mọi hoạt động, hiện tượng vật chất và tinh thần do con người tạo

ra trong mối quan hệ mọi yếu tố liên quan môi trường sống tại một nơi nhất định

Do đó chúng tôi sử dụng cụm từ “Du lịch sinh thái – văn hóa” như một cách thể hiện cho sự ngang hàng trong quan hệ và tuy là hai nhưng thực sự trong sinh thái có văn hóa cũng như trong văn hóa có sinh thái

Theo Điều 3.4 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 - Việt Nam: “Phát triển

bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp

Trang 30

chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”.1

Trên cơ sở đó, chúng tôi đi đến khái niệm phát triển du lịch bền vững Theo

Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), 1996 thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” [26, tr.149] Đây là một định nghĩa ngắn gọn, chỉ đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái

Còn theo Hens L., 1998, thì “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế,

xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống” [26, tr.149]

Tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn

và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho sự phát triển của con người” [26, tr.149]

Như vậy, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm kêu gọi con người sống và phát triển nguồn tài nguyên mà mình đang sở hữu một cách có trách nhiệm Điều này không chỉ có lợi cho chính họ mà còn mang lại cho thế hệ sau một cuộc sống tốt đẹp hơn Do có một mối liên kết giữa kinh tế, vốn văn hóa và xã hội nên phát triển bền vững cũng đòi hỏi phải tiến hành trên cả ba lĩnh vực này thì khái

1 Bộ Công thương Việt Nam (Ngày cập nhật: 08/4/2015)

http://www.moit.gov.vn/vn/pages/VanBanDieuHanh.aspx?TypeVB=1&vID=46

Trang 31

niệm ấy sẽ hữu ích hơn Phát triển bền vững là mục tiêu của Việt Nam và thế giới hiện nay Chính vì thế, phát triển bền vững có khá nhiều khái niệm nhưng định nghĩa của Brundtland được xem là phổ biến hơn khi đề cập được sự công bằng của các thế hệ trong quá trình phát triển cũng như làm rõ nội dung và giới hạn về nghiên cứu bền vững tại Cần Giờ Phát triển bền vững là một ý niệm hữu ích, đáng lưu tâm Việc tiếp cận bền vững từ góc độ văn hóa đem đến sự khác biệt và tính hiệu quả rõ rệt Cụ thể giá trị kinh tế có thể tăng lên nhờ giá trị văn hoá, văn hoá giúp hiểu sâu

hơn về ý niệm tính bền vững của phát triển Văn hoá cần phát triển không chỉ vì giá

trị tự tại của nó, nhưng còn bởi sự quan trọng của nó trong phát triển xã hội, kinh tế Phát triển du lịch bền vững nhìn từ góc độ văn hóa bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường v.v theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái giúp bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch Quan niệm phát triển bền vững từ góc độ văn hóa gắn liền với sự thân thiện môi trường là tương đồng với quan niệm

du lịch bền vững gắn liền với sự tôn trọng văn hóa Ràng buộc về môi trường và văn hóa như vậy trong phát triển du lịch là kỳ vọng ở du lịch cái ý thức về các giá trị địa phương, không xâm hại và hủy hoại các di tích Thay vì tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn từ việc khai thác nhu cầu du lịch, cần nhắm đến việc bảo tồn và nâng cao

sự thân thiện với môi trường và văn hóa, và đó phải là điều kiện đầu tiên thu hút du khách Chiến lược phát triển du lịch bền vững nhắm đến các mục tiêu dài hạn như vậy là cần thiết để vừa nâng cao các giá trị văn hóa vừa đảm bảo các lợi ích kinh tế Bên cạnh đó, nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường nên tiếp cận bền vững từ góc độ văn hóa

có thể đủ để đáp ứng cho hoạt động du lịch sinh thái

Trang 32

Du khách hậu hiện đại:

Theo Điều 4.2 của Luật du lịch năm 2005 - Việt Nam: “Khách du lịch là

người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”1 Còn khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xem

là một hệ thống lý thuyết được xây dựng ở thời kỳ hậu hiện đại: “Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hoá là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của thiết chế đại học phụ thuộc vào nó Chức năng tự sự mất đi các hình thức mang chức năng: các anh hùng lớn, các hiểm họa lớn, các chuyến hải hành lớn và mục đích lớn Nó tan ra thành từng mảng các yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự, nhưng cũng là tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả v.v và mỗi thứ đó mang chở theo mình những trị số dụng hành (valences pragmatiques) sui generis (đặc thù) Mỗi người chúng ta sống ở ngã tư đường hay nơi giao nhau của nhiều yếu tố đó Chúng ta không nhất thiết tạo nên những kết hợp ngôn ngữ ổn định, và những thuộc tính của những kết hợp mà chúng

ta tạo nên không nhất thiết là có thể tương thông với nhau được” [11, tr.54] Chủ nghĩa hậu hiện đại tìm kiếm một cam kết quan trọng với kỷ nguyên hiện đại, ở đó ý nghĩa của nó được đúc kết từ thế giới khách quan mà khách du lịch có tương tác đến Du khách thời hậu hiện đại hoàn toàn khác, họ chủ trương tìm kiếm ý nghĩa của hoạt động sống qua lăng kính mà ở đó các thực hành văn hóa phức tạp có thể được thể hiện và tổ chức trước mắt họ xung quanh họ, trong đó bản thân khách du lịch đôi khi là “diễn viên” thực thụ trong các “vở diễn” cuộc sống đầy tính trải nghiệm ấy [31, tr.510]

1 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật du lịch 2005 (Ngày cập nhật: 26/7/2017) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Luat-du-lich-2005-44-2005-QH11-2659.aspx

Trang 33

1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận

Đề tài luận văn liên quan đến nhiều khía cạnh của văn hóa đời sống và môi trường tự nhiên, phản ánh rõ nét sự tương tác giữa con người với môi trường và văn hóa của họ; chính vì thế luận văn sử dụng các lý thuyết cơ bản gồm Lý thuyết sinh

thái văn hóa, Lý thuyết vốn xã hội Các tác phẩm như Các nhóm chính trị xã hội thổ

dân vùng thung lũng-cao nguyên (Basin-Plateau Aboriginal Sociopolitical Groups)

được xuất bản năm 1938 của Julian Haynes Steward có đề cập đến lý thuyết sinh

thái văn hóa Trong khi đó, tác phẩm Trung tâm cộng đồng học tập nông thôn (The

rural school community center) của Lyda Judson Hanifan (1879 - 1932) và một bài

nghiên cứu ngắn gọn “Chơi bowling một mình: sự sụp đổ và sự trỗi dậy của cộng đồng người Mỹ” (Bowling Alone The collapse and revival of American community) của nhà chính trị học người Mỹ Robert Putnam (1941) có đề cập về lý thuyết vốn xã hội Các lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực liên quan, và là nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn trong thực tế

Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology)

Lý thuyết của Julian Steward (1902 - 1972) cho là các nền văn hóa được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau chứ không phải chỉ có yếu tố môi trường và

kỹ thuật, nhưng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố này là việc làm hết sức cần thiết Lý thuyết cũng nhằm tiếp cận cách thức mà con người dùng văn hóa

để thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, trải nghiệm cuộc sống của mình thông qua bối cảnh văn hóa Khi sinh sống ở môi trường thiên nhiên như thế nào thì con người sẽ

có những dạng thức tín ngưỡng thích nghi với môi trường thiên nhiên nơi ấy (đồng bằng, rừng núi, biển cả v.v ), ngoài ra ứng với hình thức mưu sinh, nghề nghiệp sẽ

có những tín ngưỡng tương đồng để thích nghi với môi trường xã hội Càng chưa hiểu biết về đời sống tự nhiên, chưa làm chủ được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì con người càng có những tín ngưỡng phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên, môi trường tự nhiên Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên,

cư dân vùng Nam Bộ nói chung và Cần Giờ nói riêng thể hiện lòng biết ơn với tiền nhân, tiền thần, tôn sùng những dạng thức tín ngưỡng của môi trường đồng bằng, biển cả Thế nhưng, vùng này có rất nhiều nguy hiểm trong quá trình khai hoang,

Trang 34

phát triển đã khiến cho nhiều người phải có hành vi ứng xử tôn trọng, sùng bái và phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên để họ được an toàn Do đó, lễ hội Nghinh Ông chính là nét đặc trưng cho những trải nghiệm thông qua các giác quan của cư dân Gia Định Vận dụng thuyết này, chúng tôi có thể giải thích được những nghi lễ được người dân Cần Giờ thực hiện trong các tôn giáo tín ngưỡng liên quan đến biển

và sinh hoạt thường ngày Chúng tôi có thể hiểu được phần nào nguyên nhân của việc họ đặt niềm tin vào tôn giáo mà mình đang theo, cũng như hành động của họ thể hiện qua việc thực hành các nghi lễ Đó là do họ cảm thấy bất an trước sự vận động của tự nhiên và xã hội, bản thân họ không thấy được sự an toàn nên họ tin tưởng và thực hành theo những nghi lễ giúp họ cảm thấy an tâm vì được che chở bởi một chỗ dựa tâm linh Con người trải nghiệm cuộc sống và phải thích nghi với các môi trường tự nhiên thông qua bối cảnh văn hóa Sinh thái văn hóa là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên, v.v Vốn là vùng đất có biển tồn tại từ lâu đời nên nhưng cư dân Cần Giờ từ thời các bậc tiền hiền đã gắn bó với các hoạt động mưu sinh, thể hiện ứng xử với rừng ngập mặn và biển Họ khai thác rừng một cách có tổ chức và hướng đến mục tiêu bền vững; đồng thời hình thành những làng chài, đàn ông ra biển đánh bắt, phụ nữ buôn bán Dần dà họ phát triển kinh tế, hình thành nên những nghề đặc trưng khác nhằm đáp ứng cho nhu cầu khai thác các nguồn lợi từ biển và những tín ngưỡng thờ cúng mà họ cho là sẽ mang lại bình an cho mình trong cuộc mưu sinh trên đại dương bao la vốn chứa đựng nhiều trắc trở Công cuộc xây dựng và phát triển Cần Giờ hiện tại và tương lai không được phá vỡ cấu trúc cân bằng sinh thái - sinh kế - tri thức địa phương, mà ngược lại nên coi chúng chính là những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế địa phương, trong đó có du lịch

Trang 35

Lý thuyết vốn xã hội (Capital social)

Lý thuyết vốn xã hội của Pierre Bourdieu (1930 - 2002) được tác giả sử dụng trong luận văn là lý thuyết có nội dung cơ bản về việc con người có thể sử dụng các quan hệ trong xã hội mà họ đang sinh sống để tìm kiếm những lợi ích nhưng nhấn mạnh mối quan hệ giữa nguồn lực văn hóa và nguồn lực kinh tế để cấu thành nguồn lực xã hội nói chung Pierre Bourdieu chia thành ba loại vốn là: kinh tế, văn hóa, xã hội Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn tài nguyên thực tế hoặc tiềm năng có liên quan đến việc sở hữu một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ Ông cũng cho rằng muốn hiểu được văn hóa như một nhân tố trong đời sống kinh tế, tiến trình phát triển xã hội thì nên nhìn nó như một loại vốn Thông thường nguồn lực xã hội

có tác động chi phối đến nguồn lực văn hóa, do vậy phát triển du lịch văn hóa ở Cần Giờ cần phải xem xét trong mối quan hệ tương tác đa chiều, trong đối mối quan hệ cung - cầu, mối quan hệ văn hóa - kinh tế du lịch cần phải được chú trọng Đặt vấn

đề tìm hiểu về nguồn lực tự nhiên và nguồn lực văn hóa của huyện Cần Giờ trong bối cảnh đương đại, sử dụng lý thuyết trong đề tài giúp chúng tôi phản ánh được quan hệ giữa văn hóa và kinh tế và phát triển Đồng thời, chúng tôi chọn lý thuyết Vốn xã hội để tiếp cận vì sử dụng lý thuyết nhằm giúp nghiên cứu tập trung sâu hơn

về Cần Giờ vốn tồn tại nhiều hình thức tổ chức xã hội.v.v Trong các tổ chức này ẩn chứa nhiều nguồn vốn xã hội quan trọng Từ trong đời sống cộng đồng, người ta đã biết khai thác, sử dụng các nguồn lực này để hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau không chỉ trong sản xuất và kinh doanh, mà còn trong tất cả các giai đoạn khác nhau trong chu trình đời người như sinh nở, cưới xin, tang ma, giỗ tết Có thể nói, môi trường xã hội đặc thù ở đây đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và vận hành của vốn xã hội Có thể nói, hướng nghiên cứu tài nguyên văn hóa Cần Giờ trong phát triển du lịch là một trường hợp cụ thể của nhân học biển (maritime anthropology), một hướng nghiên cứu bắt nguồn từ giữa thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ trong hai thập kỷ gần đây nhất Do vậy, luận văn hết sức quan tâm vận dụng các thành quả nghiên cứu của những người đi trước phục vụ cho việc nghiên cứu – tổng hợp thành luận điểm và làm nền tảng cho những kiến giải cần thiết

Trang 36

1.1.3 Mô hình tiếp cận và sử dụng làm cơ sở lập luận cho những kiến nghị về phát triển bền vững du lịch sinh thái-văn hóa Cần Giờ

Có nhiều lý thuyết, mô hình mô tả nội dung của phát triển bền vững Theo

Jacobs và Sedlera, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội);

hệ thống tự nhiên (hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của Trái Đất) Trong mô hình này, sự phát triển bền vững không cho phép vì sự

ưu tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler

(Nguồn: Jacobs và Sedlera, 1990)

Theo mô hình của ngân hàng thế giới phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội (công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người)

Hệ tự nhiên

Trang 37

Mục tiêu sinh thái

Mục tiêu kinh tế

Mục tiêu xã hội

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới

(Nguồn: World bank, 1987)

Trong mô hình của Hội đồng về Môi trường và phát triển bền vững thế giới (WCED) 1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội

Còn trong mô hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì sự cân bằng của mối quan hệ kinh tế - sinh thái - xã hội trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia

Hình 1.3 Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn của Villen

(Nguồn: Villen, 1990)

Phát triển bền vững

Xã hội Kinh tế

Môi trường

Trang 38

Nội dung phát triển bền vững được xã định bao gồm ba trụ cột:

- Bền vững về kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ

và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

- Bền vững về xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

- Bền vững về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế [8, tr.58]

Từ việc tiếp cận mô hình được đề cao trong chiến lược phát triển bền vững là

mô hình cân bằng các khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường thì chúng tôi lựa chọn

mô hình phát triển du lịch bền vững cho huyện Cần Giờ dựa trên các khía cạnh này cùng với nền tảng mối liên kết chặt chẽ của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư hướng tới mục tiêu thỏa mãn khách du lịch nhưng vẫn đảm bảo khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên hợp lý, hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường, gắn liền phát triển với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng, chú trọng chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương Mô hình này được chúng tôi gọi là mô hình 10R, hi vọng đây có thể là lựa chọn phù hợp đối với huyện

ở giai đoạn hiện nay và tương lai

Trang 39

Hình 1.4 Mô hình phát triển bền vững 10R tại Cần Giờ

(Nguồn: Tác giả lập 07/2017)

1.2 Tổng quan Huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm văn hóa, kinh tế chính trị của cả nước Về mặt hành chính, thành phố được chia làm mười chín quận

và năm huyện trong đó Cần Giờ chính là một trong năm huyện ngoại thành, là địa phương có hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc thù rất có tiềm năng phát triển kinh tế du lịch

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Cần Giờ

Cần Giờ là một vùng đất cổ ghi lại những dấu vết xa xưa của loài người qua các di chỉ khảo cổ học và các ngôi mộ cổ Tuy chưa có sự khẳng định một cách chính xác về quá trình định cư của con người tại vùng này nhưng thông qua những

di chỉ, chứng cứ đã chỉ ra rằng vùng đất này con người đến sinh sống từ khá sớm Trong đó, di chỉ khảo cổ Giồng Cá Vồ có niên đại cách nay khoảng 3.000 năm, đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 2000 Từ TK I đến TK XVII, không có nhiều hoạt động cũng như tài liệu nói về huyện Cần Giờ ngoài cuốn

Reward

Cộng đồng cư dân Chính quyền địa phương Công ty lữ hành

Trang 40

Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn: “Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa biển lớn và nhỏ của Cần Giờ, cửa Soài Rạp đi vào toàn là những đám rừng hoang vu cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm” [6, tr.79] Còn trong

quyển Chân Lạp phong thổ kí của Châu Đạt Quan viết như sau: “Chúng tôi đi

ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông Sông này có hàng chục ngã, nhưng ta chỉ

có thể vào được ngã thứ tư, các ngã khác có nhiều thuyền lớn đi không được Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết lối vào, thế nên các thuỷ thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông” [29, tr.22-23] Vào thế kỷ XVIII, Cần Giờ là tên một cửa biển,

“nằm ở trung tâm tam giác châu thổ do hệ thống hai sông Đồng Nai và Sài Gòn tạo nên” [6, tr.77] Đầu thế kỷ XIX, nơi đây được gọi là thôn Cần Giờ An Thạnh thuộc

tổng Dương Hoà, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An Cuối TK XIX, được nâng lên thành tổng và được biết đến nhiều hơn qua hai sự kiện là: trận đánh trên sông Ngã Bảy giữa quân Tây Sơn của vua Quang Trung và quân Nguyễn Ánh với sự hỗ trợ phương tiện hiện đại của Bồ Đào Nha (1782); kỳ tích chống Pháp của người dân Cần Giờ (1859) Ngày 10/3/1947, Pháp nhập Cần Giờ vào tỉnh Cap Saint

- Jacques (Vũng Tàu) Năm 1956, Cần Giờ thuộc tỉnh Tuy Phước Năm 1970, vùng này trở lại tỉnh Gia Định Sau 30/4/1975, nhà nước nhập huyện Cần Giờ vào tỉnh Đồng Nai Tháng 3/1978, Cần Giờ có một bước ngoặt thay đổi lớn khi huyện được sáp nhập vào Tp HCM với cái tên ban đầu là huyện Duyên Hải, đến ngày 18/12/1991 đổi thành huyện Cần Giờ Trong quá trình hình thành và phát triển, nơi đây chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử bi hùng của đất nước: nơi Gia Long rời khỏi đất nước khi bị quân Tây Sơn đánh bại ở Thất Kỳ Giang, nơi tàu chiến nước Pháp đầu tiên vào xâm chiếm Nam Bộ, một trong những địa bàn hoạt động của Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định, là căn cứ kháng chiến của Việt Minh và quân Bình Xuyên trong thời kỳ chống Pháp nhất là của đoàn 10 anh dũng thời kỳ kháng chiến

chống Mỹ

Cần Giờ là một bộ phận hữu cơ của đất Đồng Nai - Gia Định, có quá trình lịch sử - văn hóa chung với cả vùng lịch sử - văn hóa Nam Bộ; do vậy tài nguyên

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh, 1992, Nếp cũ - con người Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - con người Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
3. Nguyễn Gia Bảo, 2001, Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của huyện Cần Giờ, Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của huyện Cần Giờ
6. Trần Bạch Đằng, Dương Minh Hồ (chủ biên), 1993, Sơ khảo huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
8. Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2001, Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Huỳnh Thị Minh Hằng và Nguyễn Hoàng Anh, 2006, “Hướng đến sự phát triển bền vững các vùng dân cư trên đất ngập nước ven biển – huyện Cần Giờ Tp. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Phát triển khoa học công nghệ, Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến sự phát triển bền vững các vùng dân cư trên đất ngập nước ven biển – huyện Cần Giờ Tp. Hồ Chí Minh”, Tạp chí "Phát triển khoa học công nghệ
10. Lê Mậu Hân (chủ biên), 2000, Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
11. Lyotard J.F., 2008, Hoàn cảnh hậu hiện đại (Ngân Xuyên dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn cảnh hậu hiện đại
Nhà XB: Nxb Tri thức
12. Nguyễn Thị Hậu, 2012, Văn hóa khảo cổ Huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa khảo cổ Huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
13. Nguyễn Phước Hiền, 2014, “Vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa cồng chiêng tây nguyên trong hoạt động du lịch”, Tạp chí Phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng số 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa cồng chiêng tây nguyên trong hoạt động du lịch”
14. Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu, 2001, Du lịch bền vững, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
15. Đinh Kiệm & Hà Nam Khánh Giao, 2013, “Vài gợi ý về du lịch sinh thái biển - đảo Bình Thuận” (Bài tham luận trong “Hội thảo quốc gia: Nguồn nhân lực và phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận”), Nxb. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vài gợi ý về du lịch sinh thái biển - đảo Bình Thuận” "(Bài tham luận trong "“Hội thảo quốc gia: Nguồn nhân lực và phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận”
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
16. Nguyễn Lân, 2006, Từ điển từ và ngữ Việt - Nam, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt - Nam
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. HCM
17. Ngô Thanh Loan, 2016, “Tìm hiểu việc đáp ứng yêu cầu của du lịch sinh thái tại Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển khoa học công nghệ, tập 19, số X5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việc đáp ứng yêu cầu của du lịch sinh thái tại Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh, "Tạp chí Phát triển khoa học công nghệ
18. Ngô Thắng Lợi, 2007, Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb. Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng
Nhà XB: Nxb. Lao động - xã hội
19. Nguyễn Thanh Lợi, 2014, Tín ngưỡng dân gian những góc nhìn, Nxb. Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian những góc nhìn
Nhà XB: Nxb. Thời đại
20. Phạm Trung Lương (chủ biên), 2002, Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
21. Phạm Trung Lương, 2007, “Phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
22. Nguyễn Minh Mẫn, 2005, Cần Giờ từ góc nhìn văn hoá sinh thái, Luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần Giờ từ góc nhìn văn hoá sinh thái
23. Trần Xuân Mới, 2012, Phát triển du lịch sinh thái biển đảo Cù Lao Chàm - Tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ du lịch Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái biển đảo Cù Lao Chàm - Tỉnh Quảng Nam
24. Trần Thế Ngọc, 2004, “Tài nguyên và môi trường biển vùng Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển - Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường biển vùng Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh”, Tuyển tập báo cáo "Hội nghị Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w