1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và phiên dịch tác phẩm mỗi hoài ngân thảo của hà đình nguyễn thuật

303 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 303
Dung lượng 8,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay, tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo của Hà Đình Nguyễn Thuật vẫn chưa được công bố một cách chính xác về mặt văn bản và nghiên cứu một cách tập trung hệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ NGỌC MINH

NGHIÊN CỨU VÀ PHIÊN DỊCH

TÁC PHẨM MỖI HOÀI NGÂM THẢO

CỦA HÀ ĐÌNH NGUYỄN THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Hán Nôm

Thành phố Hồ Chí Minh, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ NGỌC MINH

NGHIÊN CỨU VÀ PHIÊN DỊCH

TÁC PHẨM MỖI HOÀI NGÂM THẢO

CỦA HÀ ĐÌNH NGUYỄN THUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi chân thành cảm ơn:

- Phòng Sau đại học, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn TPHCM, đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

- TS Lê Quang Trường đã nhiệt tình chỉ dẫn và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin ghi ơn những người đã giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn trong suốt quá

trình học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, cũng như các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 [2, tr.10] : Tài liệu số 2 trong mục Tài liệu tham khảo, trang 10

2 [2, tr.5; tr.11] : Tài liệu số 2 trong mục Tài liệu tham khảo, trang 5 và 11

3 [2, 8, tr.15] : Tài liệu số 2 trong mục Tài liệu tham khảo, tập 8, trang 15

4 KHXH&NV : Khoa học xã hội và Nhân văn

10 UBND : Uỷ ban nhân dân

11 VH-TT-DL : Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 6

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Đóng góp mới của luận văn 13

6 Kết cấu luận văn 14

Chương 1: 15

TỔNG QUAN VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ BỐI CẢNH THỜI ĐẠI 15

1.1 Bối cảnh thời đại 15

1.1.1 Tình hình đối nội và đối ngoại 15

1.1.2 Các hoạt động kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 22

1.1.3 Tư tưởng, văn hoá và thực trạng xã hội 24

1.2 Tiểu sử tác giả Nguyễn Thuật 26

1.2.1 Hoàn cảnh xuất thân 26

1.2.2 Sự nghiệp chính trị 29

1.2.3 Sự nghiệp trước tác 38

1.3 Tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo 43

Tiểu kết chương 1 51

Chương 2: 53

MỖI HOÀI NGÂM THẢO: 53

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT 53

2.1 Đặc điểm nội dung tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo 53

2.1.1 Lòng trung quân, ái quốc, thương dân 53

2.1.2 Tâm sự nhớ quê hương, bạn bè, người thân 61

2.1.3 Phong thái uyên thâm, lịch thiệp và đa tài 67

2.2 Đặc điểm nghệ thuật tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo 74

Trang 7

2

2.2.1 Thể loại 74

2.2.2 Ngôn ngữ thơ 80

2.2.3 Giọng điệu 87

Tiểu kết chương 2 92

Chương 3: 93

PHIÊN DỊCH, CHÚ THÍCH TÁC PHẨM MỖI HOÀI NGÂM THẢO 93

3.1 Tiêu chí dịch và cách thức trình bày của chúng tôi 93

3.2 Phiên dịch, chú thích tự bạt trong Mỗi hoài ngâm thảo 94

3.3 Tuyển dịch, chú thích Mỗi hoài ngâm thảo 103

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 1 157

PHỤ LỤC 2 292

Trang 8

3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triều Nguyễn - triều đại Phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã tồn tại hơn

143 năm với 13 đời vua, khởi đầu với triều Gia Long và kết thúc với triều Bảo Đại Tồn tại trong hơn một thế kỷ, triều Nguyễn đã để lại cho hậu thế một di sản Hán Nôm hết sức đồ sộ mà đến nay chúng ta vẫn chưa khai thác hết Bên cạnh những di sản Hán Nôm có khối lượng đồ sộ về lịch sử, bộ phận thơ văn Hán Nôm của các nhân sĩ đương thời cũng chiếm một lượng đáng kể

Tuy nhiên, nhiều lý do dẫn đến việc chưa khai thác hết số tài liệu Hán Nôm của triều Nguyễn, và vì vậy, chúng ta chưa có cái nhìn toàn diện đối với từng văn nhân và thơ văn cả triều Nguyễn Việc nghiên cứu và giới thiệu thơ văn của từng văn nhân đương thời sẽ góp phần làm sáng tỏ bối cảnh văn hoá xã hội chung của triều Nguyễn thời bấy giờ Thế nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tác giả văn học nổi tiếng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Gia Định tam gia, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Thiện Chánh…, nhưng cũng còn nhiều tác giả chưa được quan tâm nghiên cứu và giới thiệu đúng mực và kỹ lưỡng

Trong số sau này có trường hợp của Hà Đình Nguyễn Thuật, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Quảng Nam Ông làm quan dưới năm triều vua nhà Nguyễn, hai lần đi sứ Trung Quốc, sáng tác rất nhiều thơ, văn, tham gia biên soạn nhiều công trình, tác phẩm được vua cho đem khắc in Nhưng đến nay còn rất ít nhà nghiên cứu

để tâm đến, nghiên cứu đầy đủ, chính xác về ông cũng như các trước tác của ông

Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Q Thắng cho công bố hai công trình sưu tầm, phiên âm và dịch nghĩa rất đồ sộ, tập hợp được phần lớn tác phẩm của Hà Đình

Nguyễn Thuật, đó là Hà Đình Nguyễn Thuật tác phẩm và Sống đẹp với Hà Đình

Tuy nhiên, bên cạnh việc đánh giá cao quyết tâm và công phu của người biên soạn, các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng hai công trình này không tránh khỏi những sơ suất đáng tiếc

Trong công trình Hà Đình Nguyễn Thuật tác phẩm, tác giả Nguyễn Q Thắng

đưa ra đánh giá: “Thơ Hà Đình là một thể loại thơ có tứ thơ phóng khoáng không bị câu thúc bởi một chủ đề nào cố định, một thi pháp nghệ thuật duy nhất; mà nghệ thuật ngôn từ thơ Hà Đình vượt lên trên sự câu thúc hoặc chủ đề cố định nào ràng buộc …” [55, 25] Vấn đề đặt ra là, liệu thực tế thơ của Hà Đình có như vậy không?

Từ những băn khoăn ấy khiến chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Nghiên cứu và phiên dịch tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo của Hà Đình Nguyễn Thuật, mong rằng sẽ góp phần vào công tác phiên dịch giới thiệu tập thơ Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn

Trang 9

4

Thuật một cách chính xác hơn, cũng như bước đầu tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo của Hà Đình Nguyễn Thuật vẫn

chưa được công bố một cách chính xác về mặt văn bản và nghiên cứu một cách tập trung hệ thống

Về tình hình phiên dịch Mỗi hoài ngâm thảo

Khoảng những năm 1962-1963, các học giả miền Bắc trong đó có Đào Phương Bình đã tiến hành phiên dịch thơ Nguyễn Thuật Theo một tư liệu cho biết:

“Bản dịch chia làm 9 tập, đóng thành 2 quyển, bản thảo hiện còn lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học, ký hiệu DH/1-5 và DH/6-9 Trên bìa tập có ký hiệu DH/4 thuộc quyển DH/1-5 có ghi rõ thời gian dịch tác phẩm là hai tháng bảy và tám năm 1962, đồng thời còn đề rằng “Cụ Hoàng T Đồng đã duyệt tháng 12 năm 1962” Trang cuối tập DH/9 thuộc quyển DH/6-9 chép chi tiết hơn: “Từ bài Xích Bích hoài cổ đến trang này là tài liệu trong tháng 9 năm

1963, số lượng 23 trang Kiểm liệu ngày 5.10.1963 Phương Bình” Thống kê

sơ bộ cho thấy bản dịch có 295 mục bài với 892 trang viết Mỗi bài đều có chép nguyên văn chữ Hán, tập đầu tiên có phần phiên âm Hán – Việt, các tập còn lại chỉ có phần dịch nghĩa và chú thích theo lối cũ, chưa có phần dịch thơ Bản thảo này được viết bằng mực xanh trên cả hai mặt giấy kẻ thường, đến nay chữ đã bị mờ, rất khó đọc.” [92, tr.404]

Nghĩa là bản dịch của Đào Phương Bình vẫn chưa được xuất bản, vì vậy chúng tôi vẫn xem như chưa được công bố

Năm 1993, trong công trình Thơ đi sứ do Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì,

giáo sư Phạm Thiều và Đào Phương Bình chủ biên, NXB KHXH xuất bản tại Hà

Nội, trong đó có công bố 4 bài thơ (Khải quan, Thính viên, Đăng Hoàng hạc lâu, Tức sự) trong Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn Thuật

Năm 2005, Nguyễn Q Thắng công bố toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Thuật

trong đó có Mỗi hoài ngâm thảo qua công trình sưu tập, dịch thuật: Hà Đình Nguyễn Thuật – tác phẩm, NXB Tổng hợp TPHCM xuất bản Theo lời giới thiệu của ông, có

được tập thơ này là nhờ “sự tìm học cùng duyên hàn mặc” [66, tr.7] và số lượng thơ

của tập Mỗi hoài ngâm thảo mà ông Nguyễn Q Thắng đã dịch là 206 đề thơ Đến nay, bản dịch của tác giả Nguyễn Q Thắng vẫn là bản dịch Mỗi hoài ngâm thảo duy

nhất ra chữ quốc ngữ được công bố, trở thành nguồn tư liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn trung đại tham khảo và trích dẫn Đây là một công trình được mọi người đánh giá cao ở góc độ tâm huyết, công sức của tác giả đã cống hiến, cũng như mức độ đồ sộ của xuất bản phẩm

Trang 10

5

Năm 2009, Nguyễn Q Thắng lại cho ra mắt quyển Sống đẹp với Hà Đình

cũng do NXB Tổng hợp TPHCM xuất bản Tuy nhiên, nội dung thơ của Nguyễn Thuật được công bố trong công trình này lại giống với công trình trước, nghĩa là không bổ sung, chỉnh lý về nội dung thơ

Trong hai cuốn sách trên của Nguyễn Q Thắng về Hà Đình Nguyễn Thuật,

chúng tôi chỉ chú ý đến tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo do phạm vi đối tượng của

luận văn này, đã được ông tìm hiểu nghiên cứu, đánh giá về Nguyễn Thuật với tư cách là tác gia văn học bởi tài năng sáng tạo kỳ lạ của ông mà theo chúng tôi là có phần hơi quá Bởi trong hai công trình này, nguồn tư liệu mà ông dẫn cho phép chúng ta suy đoán rằng ông căn cứ vào văn bản A.554 để tiến hành phiên dịch tập

thơ Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn Thuật, không đối chiếu với các bản khác

Chính vì vậy những ngộ nhận, nhầm lẫn trong nhận định hay lỗi sai trong quá trình

biên dịch tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo cũng như ở các tác phẩm khác của ông

Nguyễn Q Thắng khá nhiều Thế nên các nhà nghiên cứu đã đánh giá là công trình của Nguyễn Q Thắng là phần lượng tuy nhiều, nhưng phần chất còn nhiều sai sót phải cải chính, dù cho đến thời điểm này chưa có công trình nào có chất lượng hơn được công bố

Theo chúng tôi, bản dịch này vẫn còn nhiều điểm chưa thoả đáng, tập trung ở

ba điểm chính gồm: Ngắt câu sai, Phiên âm Hán – Việt sai, Dịch sai nội dung bài thơ

và nguyên chú

Thứ nhất, ở lỗi ngắt câu sai, nguyên nhân chính xuất phát từ đặc điểm của

văn bản Hán Nôm thường viết liền mạch, cách chữ hay đài hàng, lại ít khi có dấu chấm câu như văn bản quốc ngữ ngày nay, nên gây khó khăn cho công tác đọc và phiên dịch, chỉ cần ngắt câu sai thì sẽ dẫn đến hiểu sai nội dung mà tác giả muốn nói

Hệ quả là nhiều đề thơ mới đã xuất hiện trong bản dịch của Nguyễn Q Thắng Ví dụ,

bài Khải quan, do đọc nối lời bình của Hoàng Tự Nguyên dành cho bài Du Nhị Thanh động (bản VHv.852 là Nhị Thanh động) vốn đứng trước bài này là Thoả thiếp lực bài, ưu (妥貼力排,奡: tĩnh lặng nhưng khí lực tự bày ra, ưu), nên khiến bài Khải quan có một tiêu đề rất khác lạ là Thoả thiếp lực bài khải quan Hay như bài Chu trung cửu nhật (舟中九日), người dịch đã đổi thành tiêu đề khác là Lãnh liên minh mộc phúc liên trử tả tánh linh tuyệt khứ điêu sức châu trung cửu nhật [66, tr.82 - 83], nguyên nhân vì đọc nối lời bình của Hoàng Tự Nguyên cho bài Minh Giang chu trung (明江舟中) vốn đứng trước liền kề với bài này Hoặc bài Thứ vận thù Trung thư Trương Đường Ấm (次韻酬中書張棠蔭), ở bài thứ nhất của đề thơ này, người dịch đã phiên thành một đề thơ khác là Qui hiện chưởng tả uý nam chánh nghị nhị thư viện, mà vốn dĩ đây là lời nguyên chú của Hà Đình Nguyễn Thuật cho

Trang 11

vốn dĩ gồm ba bài thơ ngũ ngôn như sau:

Thị thư từ ngọc án, Bổng tiết xuất thừa minh

Dịch lộ kinh mai tảo,

Lễ dĩ y thường trọng, Nhân tòng hàn mặc thân

Tuân tư thuỳ bổ khuyết, Tiêu cán cửu lao thần

Tối ức Loan Pha thượng, Kinh niên viễn tiếu tần

3

Kế cập quy gia nhật,

Kỳ đàn báo quốc tâm

Sủng hạnh thiêm duệ chế, Bái giáo bội Luân âm

Nhã tần Chu đình nhạc, Phong huân Thuấn bệ cầm

Sằn chinh hoài mỹ cập, Trách trọng cánh ân thâm

Trang 12

Bỗng tiết xuất thừa minh Yên, Kế,

Tinh thời viễn quan hà thu

Khí thanh chiêm hồi Nam cực

Dạ tâm cọng phiến vân sách

Sơn hà thiên cổ định

Cựu hảo nhốt triều thân

Lễ dĩ y thường, trọng nhân tùng hàn mặc thân

Tuần tư thuỳ bổ khuyết, tiêu can cửu lao

Thần tối ức giám pha thượng kinh

Niên viễn tiếu tần, kế cập qui gia nhật

Kì đan báo quốc tâm sưng, hanh thiên canh

Chế bái giáo bội luân âm

Nha thính châu đình lạc

Phong y thuấn bệ cầm

Chân chinh hoài mị, cập trách trùng cánh ân thâm

Tương tự là trường hợp ở đề thơ Khởi hành nhật Lễ bộ Đỗ Thứ Khanh tống chí Ngự hà, khẩu chiếm ngũ ngôn dĩ tặng, phú thử phụng đáp (啟行日禮部杜次卿

送至御河口占五言以贈賦此奉答) vốn dĩ được làm theo thể thơ Ngũ ngôn bát cú,

nhưng vì ngắt câu nhầm nên thành ra một thể thơ khác trong đề thơ Khải hành nhựt

Lễ bộ Đỗ Thứ Khanh (Đại nhơn Tống chí Hàm Hà khẩu chiếm ngũ ngôn dĩ tặng phú thử phụng đáp) [66, tr.69 – 70]

Thứ hai là lỗi phiên âm Hán – Việt chưa chính xác, lỗi này khá phổ biến

hầu như bài nào cũng có Ở đây, chúng tôi xin dẫn vài trường hợp để minh hoạ Ví

dụ ở đề thơ Quá Tam Điệp sơn (過三疊山), nguyên tác nội dung đề thơ như sau:

昨朝三疊唱陽關 今日經過三疊山 鄉樹遙懸雲外眼 巖花慣作雨中顏 叢祠人集寒溪畔 林徑樵歸暮靄間 廿載承平消伏莽 風旌高掛戌樓閒

Bản phiên của Nguyễn Q Thắng:

Trang 13

8

Tộ triều Tam Điệp xướng Dương quan,

Kim nhật kinh qua Tam Điệp Sơn,

Hương thọ điêu huyền vân ngoại nhãn,

Nham ba quán tác vũ trung nhan,

Tùng tự nhân tập hàn khê bạn,

Lâm kỉnh tiều qui mạc ái gian

Thử địa thừa bình tiêu phục mãn

Phong tinh cao quái tuất lầu nhàn.[66, tr.71-72]

Thứ ba là, dịch nghĩa sai Từ việc ngắt câu, phiên âm Hán – Việt có sự

nhầm lẫn như vậy, dẫn đến việc dịch nghĩa nội dung thơ và lời chú cũng sai theo

Chúng tôi xin lấy bản dịch của đề thơ vừa nêu trên để minh hoạ Trước tiên là

bản dịch nghĩa bài Quá Tam Điệp sơn (Qua núi Tam Điệp):

Bản dịch của Nguyễn Q Thắng:

“Sáng hôm qua nghe Tam Điệp gọi Dương Quan,

Sáng nay bước tới núi Tam Điệp nầy

Cây làng cao ngất khuất mây trông,

Đá hoa mưa đã quen mặt rồi

Cây rậm đền thờ, người túm tụm bên khe lạnh,

Lão tiều bước tắt rừng về, mây không che

Đất đây sống yên diệt gai góc um tùm,

Treo cao cờ tinh gió thổi suốt lầu nhàn.” [66, tr.71-72]

Hoặc hai câu đầu của bài Quan Lê triều tiến sĩ đề danh bi:

Sau mùa thu lúa cắt, lá cây rụng rời,

Nhưng người đậu cao bia mãi còn đây!

Không chỉ phiên âm và dịch sai nghĩa nội dung của đề thơ, phần nguyên chú

của Mỗi hoài ngâm thảo cũng bị hiểu sai Ví dụ lời bình của Hoàng Tự Nguyên cho

đề thơ Yết Mã Phục Ba từ (nhị thủ) (謁馬伏波祠二首) vốn chép là: 黃評:二詩開

合動宕磊落英多銅柱句是何等魄力。(Hoàng bình: Nhị thi khai hợp động đãng lỗi

lạc anh đa đồng trụ cú thị hà đẳng phách lực = Hoàng Tự Nguyên bình luận: Hai bài thơ, đóng mở chập chùng, hào sảng hơn người, câu thơ khởi đầu với chữ Đồng Trụ ấy sao mà khí phách.), thì được Nguyễn Q Thắng ghép thành lời bình cho bài Nam Nịnh châu thứ rồi phiên âm và dịch nghĩa như sau: Tam thi khai biệt nham lồi

Trang 14

9

thạch lạc anh đa đồng trụ cư nhị hà đẳng phách lực = Lòng khẳng khái sống với khẳng khái đó, muốn bảo vệ nó, rút kiếm đứng lên múa [66, tr.87], tiếp đó lời bình này được ghép vào bài Trưng Vương nữ tại hạ quốc diệc (vốn là bài Yết Mã Phục Ba từ), và được dịch như sau: Ba thơ mở đóng động núi đá lỗi lạc anh tài nhiều, câu đồng trụ, cái gì là sức mạnh của hồn phách nó? [66, tr.88] Tương tự là trường hợp cùng một bài thơ, nhưng hai lần dịch lại hai ý khác nhau, đó là bài Dạ quá Tam Tài sơn [66, tr.76-77; tr.438-441]

Tuy nhiên, chúng tôi không phủ nhận sự đóng góp của tác giả các công trình này về mặt tư liệu tham khảo cho nghiên cứu học thuật Việc làm của chúng tôi hôm nay, chỉ góp phần làm tăng thêm tính khoa học, để bạn đọc có cái nhìn chính xác hơn đối với tiền nhân mà thôi

Về tình hình nghiên cứu Nguyễn Thuật và Mỗi hoài ngâm thảo

Tình hình nghiên cứu thơ Nguyễn Thuật có thể nói khá vắng vẻ cho đến khi UBND và Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo về Hà Đình Nguyễn Thuật tại Thăng Bình vào năm 2015 Trước đó cũng có một số bài viết đơn lẻ, như

Mai Quốc Liên có bài “Hai danh sĩ đất Quảng” đăng trên Tạp chí Đất Quảng (Hội

Văn học Nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng) số 55 (1/12/1988) đã bước đầu bình

luận và giới thiệu một số câu của vài bài trong Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn

Thuật

Tháng 9 năm 2015, Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Nam đã tổ chức hội thảo

khoa học Hà Đình Nguyễn Thuật – Danh nhân văn hoá tại Thăng Bình, quê hương

của ông Hội thảo lần này, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu hai nội dung chính liên quan đến chủ đề

Thứ nhất, Hà Đình Nguyễn Thuật với tư cách là một nhân vật lịch sử, nhà tư tưởng Ở phương diện nghiên cứu ông như một nhân vật lịch sử, các tham luận đã đi sâu tìm hiểu về bối cảnh xuất thân, bối cảnh thời đại và hành trạng của ông, nhằm làm sáng tỏ địa vị và vai trò chính trị của ông trong lịch sử triều Nguyễn những năm nửa cuối thế kỷ XIX, cũng như quan điểm của ông trước những biến cố lịch sử của dân tộc khi Pháp từng bước thiết lập nền đô hộ ở Việt Nam Tiêu biểu cho nhóm tham luận này có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, như “Vài nét về quê hương và gia đình cụ Hà Đình Nguyễn Thuật (1842 – 1911)” của Nguyễn Văn Đăng1

, “Nguyễn Thuật với nền ngoại giao Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX”của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh2, “Hà Đình Nguyễn Thuật trong lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Thị Thu Thuỷ3

, hay “Hà Đình Nguyễn Thuật qua

Trang 15

10

tư liệu lịch sử” của Nguyễn Thị Phương Chi… Tuy nhiên, đây là vấn đề mang tính chuyên sâu về sử học, tạm thời chưa phải là đối tượng chính mà chúng tôi tìm hiểu ở luận văn này

Nội dung thứ hai, Hà Đình Nguyễn Thuật với tư cách một tác gia văn học có

vị thế và đóng góp nhất định trong tiến trình văn học Hán Nôm của Việt Nam dưới triều Nguyễn Số lượng bài viết thuộc chủ đề này khá lớn với 18 trong tổng số 45 tham luận Bên cạnh việc nêu bật sự nghiệp trước tác đồng sộ, phong phú về thể loại, cũng như sự uyên bác, tài hoa của Hà Đình Nguyễn Thuật, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu lên vấn đề mang tính cơ sở, tính khoa học để từ đó có thể tìm hiểu chính xác và đầy đủ về giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như góp phần làm sáng tỏ thêm những nhận định về con người và tính cách của ông, đó là công tác văn bản học và phiên dịch các trước tác của ông Trong tham luận nhan đề “Thơ văn Nguyễn Thuật và yêu cầu phiên dịch xác đáng”,Trần Đại Vinh sau khi lược sơ về cuộc đời và sự nghiệp

của Nguyễn Thuật, cũng như nêu một số trước tác của ông như Mỗi hoài ngâm thảo,

Hà Đình ứng chế thi sao, Hà Đình thi thảo trích sao, đã khẳng định:

“Thơ văn ấy đòi hỏi phải được người đọc tiếp nhận Nhưng sự tiếp nhận ấy cần thiết phải qua việc phiên dịch xác đáng Thế nhưng trình độ Hán học của người biên dịch ngày nay không đủ chuyển dịch tác phẩm của người xưa một cách bình thường, nói gì đến yêu cầu đạt tín nhã.” [84, tr.709]

Đồng thời, ông đã giới thiệu Hà Đình Nguyễn Thuật tác phẩm của Nguyễn

Q Thắng Và với tinh thần khoa học khách quan, ông đã chỉ ra ba vấn đề tồn tại chính cần khắc phục ở công trình này, bao gồm lỗi phiên âm, lỗi dịch thuật và lỗi sai

về chú thích Vừa bày tỏ sự cảm thông với người đi tiên phong, ông vừa đặt ra yêu cầu:

“Dù sao phải ghi nhận đó là những khai phá buổi đầu về tác phẩm của Hà Đình, có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về danh sĩ Nguyễn Thuật đã qua Nhưng trong tinh thần tôn trọng tác phẩm tâm huyết của Hà Đình, thì tập phiên dịch này phải được sửa lại nghiêm cẩn, có thế mới không phụ lòng của tác giả cũng như của hậu duệ tác giả và người đọc hôm nay Mong sao một công trình như thế sẽ được tiếp tục tiến hành.” [84,

tr.714]

Nguyễn Hữu Sơn4 trong tham luận “Xu thế sáng tác „Hướng tâm‟ và „Ly tâm‟ trong thơ Hà Đình Nguyễn Thuật” của mình cũng đưa ra nhận xét tương tự: “Rất tiếc rằng văn bản tác phẩm Hà Đình Nguyễn Thuật chưa được dịch một cách đầy đủ,

4

Viện Văn học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Trang 16

“Cuộc đời Nguyễn Thuật là ngôi sao trên bầu trời toả sáng cho đến khi tan vào vô tận mà dư quang vẫn còn lấp lánh trong hồn thiêng sông núi soi sáng cho lớp hậu bối Tiếc thay cho đến nay hậu nhân vẫn chưa đánh giá đúng vị trí – tầm vóc của cụ trong lịch sử nước nhà Dân tộc ta có truyền thống biết ơn, sống nhân nghĩa, thuỷ chung Tài năng, đức độ, công lao của Nguyễn Thuật xứng đáng được biết ơn, xứng đáng được vinh danh và như thế, chúng ta trả lại giá trị thật cho một con người mà nhân cách – tâm hồn rất trong sáng – cao đẹp.” [85, tr.384]

Nhận định trên đây của Nguyễn Văn Hà dù có phần hơi quá, nhưng đã nói lên được những băn khoăn trăn trở của người đời sau đối với tiền nhân

Một số nhà nghiên cứu khác khi tham dự hội thảo, trong tham luận của mình cũng hoặc ít hoặc nhiều, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề rằng chưa

có một bản dịch đáng tin cậy về các trước tác của Nguyễn Thuật, nên việc nghiên cứu về ông thật sự gặp khó khăn, trước hết ở phương diện tác giả - tác phẩm, trong

đó có tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo

Một số tham luận như “Tìm hiểu Hà Đình Nguyễn Thuật, một nhà thơ lớn bị lãng quên” của Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Để hiểu đúng nhà thơ Nguyễn Thuật (Vấn đề văn bản tác phẩm Hà Đình Nguyễn Thuật)” của hai tác giả Nguyễn Ngọc

Quận – Lê Quang Trường, “Hà Đình Nguyễn Thuật qua Mỗi hoài ngâm thảo” của

Lê Quang Trường, “Hà Đình Nguyễn Thuật và thơ cảm tác về lầu Hoàng Hạc” của

Phan Mạnh Hùng, “Mỗi hoài ngâm thảo của Hà Đình Nguyễn Thuật trong dòng thơ

sứ trình thời Nguyễn giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX”của Đỗ Thị Thu Thủy,… đã tiến hành nghiên cứu thơ Nguyễn Thuật và đưa ra một số nhận định về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật, con người Nguyễn Thuật qua thơ ca của ông Đặc biệt là các nhận

định của các tác giả trên đây được rút từ việc khảo sát và nghiên cứu thơ trong Mỗi hoài ngâm thảo không thông qua bản dịch của Nguyễn Q Thắng mà thông qua các

tư liệu Hán Nôm nên có thể nói là xác đáng hơn Trong hội thảo này, chúng tôi cũng

có bài viết nghiên bước đầu tìm hiểu về thơ Nguyễn Thuật

Ở nước ngoài, gần đây nhất chúng tôi thấy có tác giả Đới Vinh Quan (戴榮冠)6 cũng quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu về Hà Đình và các trước tác của ông, đặc

5

Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng

Trang 17

12

biệt là tập thơ đi sứ Mỗi hoài ngâm thảo Bài viết “Nguyễn Thuật Mỗi hoài ngâm thảo thi tác khảo 阮术《每怀吟草》诗作考”7 của Đới Vinh Quan công bố vào

tháng 6 năm 2013 trên Tĩnh Nghi Trung văn học báo, kỳ 3, là công trình khảo cứu

thú vị, được thực hiện rất kỹ lưỡng, nghiêm túc Bài viết chủ yếu thông qua tác

phẩm Mỗi hoài ngâm thảo để tìm hiểu sơ bộ về thơ ca và con đường đi sứ Trung

Quốc cũng như con đường trở về Việt Nam của Nguyễn Thuật, khảo cứu đính chính xác định bài thơ nào trong tập thơ này được sáng tác không phải trong thời gian đi

sứ, cùng một bảng phụ lục dài 21 trang sắp đặt các bài thơ theo từng thời gian, địa điểm, căn cứ xác định trên hành trình đi sứ và trở về của Nguyễn Thuật Nguồn tư liệu Hán Nôm để làm căn cứ cho những nhận định của tác giả gồm 4 bản là A.554, VHv.852, VHv.851 và VHv.253, nhưng việc khảo chính trong phần phụ lục chúng tôi chỉ thấy tác giả căn cứ chính vào 2 bản A.554 và VHv.852 nên rõ ràng là chưa toàn diện

Một vài tác giả khác của Trung Quốc khi nghiên cứu về giao lưu văn hóa

Việt Nam – Trung Quốc cũng có nhắc đến Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn Thuật,

tuy nhiên chỉ là nhắc đến như một chứng cứ cho mối quan hệ bang giao, chứ không

đi sâu vào khảo cứu, nên cũng không có nhiều giá trị tham khảo cho đề tài mà chúng tôi thực hiện Chẳng hạn bài viết “Phương thức truyền bá thư tịch Trung Quốc vào Việt Nam và ảnh hưởng đối với văn hóa triều Nguyễn” của tác giả Hà Thiên Niên,

đăng trên tạp chí Thanh sử nghiên cứu (Bắc Kinh) năm 2014, kỳ số 2 ngày 30 tháng

10 năm 2014, hay bài “Sứ thần Việt Nam với Giao lưu văn học Trung Việt”, được công bố trên trang web: http://www.xchen.com.cn/wxlw/xfwhlw/446184.html, của hai tác giả Phi Tuyết, Tôn Hoàng Niên (2010), “Nguyễn Thuật: sứ giả nho nhã trong

sứ mệnh bi tráng”, Tạp chí Tri thức Thế giới, số tháng 6 năm 2010…

Những công trình kể trên dù vậy vẫn chưa tập trung và nghiên cứu sâu mà chỉ ở trên diện rộng hay những nhát cắt nghiên cứu đã khơi mở tiếp cho chúng tôi

tiếp tục công tác phiên dịch nghiên cứu về Hà Đình Nguyễn Thuật và Mỗi hoài ngâm thảo Chúng tôi cho rằng, một cách để hiểu rõ cốt cách, tâm hồn và nỗi suy tư

của Nguyễn Thuật, không gì hơn là qua những trước tác của ông, mà muốn thế thì công tác văn bản, phiên dịch phải tiến hành trước hết Chính vì thế mà chúng tôi

quyết định chọn đề tài phiên dịch và giới thiệu Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn

Thuật nhằm mục đích có thể góp phần nhỏ vào việc bổ khuyết tình hình tư liệu thơ Nguyễn Thuật của hai công trình nói trên

Trang 18

13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ những tiền đề gợi mở ở trên, trong đề tài này, chúng tôi xác định đối

tượng chính để tiến hành nghiên cứu là các văn bản Hán văn tập thơ Mỗi hoài ngâm thảo của Nguyễn Thuật

Từ việc khảo sát đối tượng nghiên cứu trên, chúng tôi giới hạn phạm vi đề tài

chủ yếu là nghiên cứu văn bản, phiên dịch (tuyển) và tìm hiểu tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo từ đó nêu lên một vài nhận định về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

nhằm hiểu thêm về con người Nguyễn Thuật với tư cách là một nhà thơ cận đại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như sau:

- Phương pháp văn bản học: được chúng tôi sử dụng trong quá trình khảo dị,

đối chiếu giữa các bản chép tay cũng như bản in của Mỗi hoài ngâm thảo, giúp tìm

ra chỗ giống và khác nhau giữa các bản này, làm cơ sở để quyết định lựa chọn bản phù hợp nhất để phiên dịch và nghiên cứu

- Phương pháp phiên dịch: được chúng tôi sử dụng trong khi dịch Mỗi hoài ngâm thảo Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở Chương 3 và phần Phụ lục

của Luận văn

- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp giúp chúng tôi trong quá trình phân tích và tổng hợp tư liệu, để trình bày, lý giải hoặc đúc rút những luận điểm của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử được vận dụng để tìm hiểu về tác giả, tác phẩm trong bối cảnh thời đại và tiểu sử cá nhân và sự tác động qua lại giữa những

yếu tố ấy trong Mỗi hoài ngâm thảo Đồng thời, phương pháp này còn giúp chúng

tôi tìm hiểu về vấn đề ảnh hưởng tiếp nhận các giá trị lý luận văn học cũng như hoạt động sáng tác của tác giả, vận dụng vào tác phẩm như thế nào trong quá trình giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc lúc bấy giờ

5 Đóng góp mới của luận văn

Tiền đề để nhận định đánh giá những giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật thơ văn của Hà Đình một cách khách quan và khoa học, là vấn đề văn bản phải được

xử lý tốt, phiên dịch tốt Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi có những đóng góp chủ yếu như sau:

- Chúng tôi đã phiên dịch và chú thích toàn bộ 206 bài thơ trong Mỗi hoài ngâm thảo Với những cố gắng trong công tác văn bản, phiên dịch, chú thích, luận

văn hy vọng sẽ có đóng góp nhất định trong việc công bố thêm tư liệu thơ của

Trang 19

triều Nguyễn và là một tác giả văn học thời cận đại Việt Nam

- Nghiên cứu tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo chắc chắn sẽ rất hữu ích cho các

nhà nghiên cứu khi tìm hiểu sâu hơn về nội dung, nghệ thuật thơ của một danh thần triều Nguyễn, qua đó khắc họa lại rõ nét hơn tầm vóc, ảnh hưởng của Hà Đình trong dòng chảy lịch sử dân tộc nói chung và dòng chảy văn học – nghệ thuật của khu vực nói riêng, góp phần bảo vệ và phát huy những giá trị lịch sử, tinh thần quý giá mà nhân vật này gửi gắm qua trước tác của mình, trong điều kiện lịch sử - xã hội hiện nay của chúng ta

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và Phụ lục, luận văn có bố cục chính gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về tác giả, tác phẩm và bối cảnh thời đại

Chương 2: Mỗi hoài ngâm thảo: đặc điểm nội dung và nghệ thuật

Chương 3: Phiên dịch, chú thích tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo

Trang 20

15

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ BỐI CẢNH THỜI ĐẠI

1.1 Bối cảnh thời đại

Năm 1802, vua Gia Long8 lên ngôi sau khi đánh bại nhà Tây Sơn trong cuộc chiến kéo dài hơn một thập kỷ (1787 – 1802) Trong khoảng thời gian hơn 143 năm tồn tại, triều Nguyễn đã đưa xã hội Việt Nam trải qua nhiều biến động với phạm vi, mức độ ảnh hưởng khác nhau Ở đây, chúng tôi xin đi vào những điểm chính, nổi bật, có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh của triều Nguyễn, cũng như nguồn cơn

của sự ra đời tác phẩm Mỗi hoài ngâm thảo của Hà Đình Nguyễn Thuật, trong đó

đặc biệt chú trọng đến những sự kiện giai đoạn từ năm 1842 đến năm 1920

1.1.1 Tình hình đối nội và đối ngoại

Về đối nội, triều Nguyễn xây dựng nhà nước theo mô hình quân chủ chuyên chế Bằng cách thành lập Cơ mật viện, Tôn nhân phủ, bãi bỏ mô hình bộ máy chính quyền ở Bắc Thành và Gia Định Thành, sắp đặt lại bộ máy cai trị từ trung ương đến

cơ sở theo hướng tinh giản các chức vụ trung gian, cài người của mình vào chính quyền địa phương ở miền ngược, vừa để do thám động tĩnh, vừa để từng bước không chế tất cả các mặt đời sống xã hội địa phương đó, mọi quyền hành tập trung trong tay vua Triều đình chú trọng xây dựng và ban hành luật lệ để khẳng định tính

chính thống của mình Vua Gia Long cho soạn và ban hành Hoàng triều luật lệ 9

(soạn từ năm 1811 đến năm 1815) Bộ luật ra đời trên cơ sở tham khảo các luật lệ của các triều trước và của các nhà Minh, Thanh bên Trung Quốc, nhưng thực chất thì như học giả Trần Trọng Kim10 nhận xét: “Bộ luật ấy tuy nói theo luật Hồng Đức, nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi” [29, tr.177] Bên cạnh đó, một lực lượng quân đội mạnh với số quân thường trực lên đến vài chục vạn người, gồm các lực lượng bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kỵ binh, pháo binh, luôn được duy trì nhằm chống lại các lực lượng thân Tây Sơn và bảo vệ vương quyền

8

Vua Gia Long (1762 –1820): tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh, là

vị vua đã thành lập nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Ông trị vì

từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820, được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Thế Tổ

9

Hoàng triều luật lệ: còn có tên là Hoàng Việt luật lệ, Quốc triều điều luật, Nguyễn triều hình luật,

Bộ luật Gia Long là bộ luật chính thức của Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn do Bắc thành Tổng trấn

Nguyễn Văn Thành soạn thảo và vua Gia Long cho ban hành năm 1815

10

Trần Trọng Kim (1883 – 1953): bút hiệu Lệ Thần, người làng Kiều Linh, xã Đan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông là một học giả danh tiếng, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo, thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam (1945) được thành lập trong thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như

Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, …

Trang 21

16

Về đối ngoại, bên cạnh mối bang giao với các nước kề cận như Miên, Xiêm, Lào và Miến Điện, triều đình Huế chủ yếu giải quyết mối quan hệ tay ba giữa Việt Nam – Trung Quốc – Pháp Đối với Trung Quốc, mối quan hệ phiên thuộc tiếp tục được duy trì Các vua triều Nguyễn đều cử sứ thần sang cầu phong với nhà Thanh để khẳng định tính chính thống của mình, dẹp yên những tư tưởng chống đối trong nước, đảm bảo giữ cho vùng biên giới phía Bắc được bình yên giúp đất nước có thời gian để phục hồi sau chiến tranh, đồng thời hy vọng một sự “che chở” theo kiểu môi

hở răng lạnh, trước ý đồ xâm chiếm ngày một rõ ràng của tư bản phương Tây Điều này được chính vua Gia Long bày tỏ trong thư gửi vua nhà Thanh: “Thần phục tùng chính quyền của đế chế vì thần tin vào nó và hy vọng được đế chế giúp đỡ” [16, tr.32] Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy rằng, việc thần phục này phần nhiều mang

ý nghĩa về chính trị, còn trên thực tế, các vua nhà Nguyễn đều lên ngôi trước rồi mới xin sách phong sau11 Theo tục lệ, sau khi nhận sách phong, các vua triều Nguyễn đều thực hiện đúng nghĩa vụ gửi sứ bộ đem vật phẩm sang triều cống định kỳ để tạ

ơn và đáp lễ Triều Gia Long, có 3 lần đi cống sang Trung Quốc vào các năm 180512,

1809 và 1813 Đời vua Minh Mạng13

, nếu không kể kỳ cống năm 1821 được dồn sang năm 1825, thì chúng ta còn 3 lần khác vào các năm 1829, 1833, 1837 Đến thời vua Thiệu Trị14, cả hai kỳ đi cống vào các năm 1841 và 1845 đều được triều Thanh miễn cho Năm 1848, sau khi lên ngôi được một năm, vua Tự Đức15 cử sứ đoàn sang triều cống nhà Thanh theo lệ, đến năm 1852 lần tiến cống thứ hai được tiến hành,

11

Gia Long lên ngôi năm 1802, đến năm 1804 mới nhận sách phong; vua Minh Mạng kế ngôi xong, một năm sau mới cử sứ bộ đi cầu phong; vua Tự Đức thậm chí còn lên ngôi rồi hai năm sau mới nhận sách phong; trước đó vua Thiệu Trị cũng vậy Thậm chí vua Gia Long từng ngỏ ý có thể không nhận sách phong nếu nhà Thanh không công nhận quốc hiệu do ông chọn là Nam Việt, cuối cùng sau nhiều lần đàm phán, phía nhà Thanh đề xuất lấy tên là Việt Nam để cho khỏi nhầm lẫn với các vùng đất khác vốn thuộc Trung Quốc, thì đôi bên mới đi đến thống nhất

Vua Tự Đức (1829 - 1883): Vua húy là Thì, tên đặt theo đế hệ là Hồng Nhậm, sinh ngày 25 tháng

8 năm Kỷ Sửu (1829), con thứ hai của Thiệu Trị Mẹ họ Phạm, con gái thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, người huyện Tân Hòa (Gia Định) Tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 3, năm Quí Mão (1843) Thì 14 tuổi, được phong làm Phúc Tuy công, lấy vợ là con gái của Vũ Xuân Cẩn Khi ấy Yên Phong công Hồng Bảo tuy đã lớn nhưng là con của vợ thứ lại ít học, chỉ ham vui chơi Ngược lại, Hồng Nhậm nhân hiếu, thông sáng và chăm học, được vua cha rất yêu quí, bảo có nhiều tính giống mình nên có ý truyền ngôi cho Hồng Nhậm, vì thế thường được vua gọi vào chầu riêng để dạy bảo Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Hồng Nhậm lên ngôi ở điện Thái Hòa, năm 1848 lấy niên hiệu là Tự Đức, lúc này vua 19 tuổi

Trang 22

17

sang đến Trung Quốc, đoàn sứ gặp lúc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc16 nổ ra ác liệt trên 17 tỉnh thành, đoàn sứ của ta bị kẹt lại đến mãi năm 1856 mới về đến Việt Nam Để đối phó với tình hình trong nước, từ năm 1852 triều đình nhà Thanh đã tạm dừng việc đón tiếp các đoàn sứ đi tiến cống đối với nước ta Các sứ bộ của ta đi sứ sang Trung Quốc, ngoài nhiệm vụ triều cống theo lệ ra, còn thám thính, điều tra và nghiên cứu, nghe ngóng tình hình của Trung Quốc, những thông tin thu thập được dọc đường đi về sẽ được sứ bộ cập nhật và báo cáo nhanh nhất về Huế dưới hình thức “điệp tấu”, giúp triều đình ra quyết sách phù hợp Ngoài ra, họ còn nhân cơ hội này để tìm mua những vật phẩm quý của Trung Quốc về cho vua như tranh, sách quý, nhân sâm,

Đến năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta, mối quan hệ bang giao giữa ta với Trung Quốc ngày càng khó khăn hơn, một mặt do Pháp cản trở, mặt khác chính triều đình nhà Thanh cũng đang đứng trước nguy cơ sụp đổ trước sự tấn công của tư bản phương Tây

Năm 1881, sứ bộ do Hà Đình Nguyễn Thuật dẫn đầu sang tìm kiếm sự giúp

đỡ kháng Pháp từ Thanh triều nhưng phải trở về tay trắng Đây cũng là chuyến đi đã

giúp Nguyễn Thuật cho ra đời hơn một trăm bài thơ của tập Mỗi hoài ngâm thảo

Sau đó, một số sứ bộ khác tiếp tục được cử sang nhà Thanh, với những hy vọng cuối cùng vào “người bạn cũ”, nhưng tất cả đều không như mong đợi

Mối quan hệ nổi bật, quyết định đến vận mệnh quốc gia dân tộc dưới triều Nguyễn chính là với Pháp Pháp thông qua các thừa sai đã giúp sức cho vua Gia Long khôi phục được ngôi báu, nhưng đồng thời cũng bắc những nhịp cầu đầu tiên

để thực hiện mưu đồ tiến hành một cuộc “thập tự chinh” đối với Việt Nam, đẩy nhân dân và đất nước ta vào một trong những trang đen tối nhất trong lịch sử dân tộc – thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh giành độc lập, kéo dài ngót một thế kỷ

Người Pháp vốn dĩ thấy rằng: “Nam Hà là một nước phong phú có nhiều quý vật, xứ này lại gần Phi Luật Tân, nếu thành căn cứ thương mại, thì căn cứ này sẽ phát đạt bậc nhất ở đây” đồng thời “Hải cảng Tourane sẽ được coi là một trung tâm điểm giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân cùng eo biển Malacca Về phương diện quân

sự, Tourane do vị trí quân sự của nó sẽ giúp ta ngăn chặn ngành thương mại quan trọng nhất của địch quốc” [16, tr 67]

16

Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1851–1864): là cuộc nổi dậy của nông dân do Hồng Tú Toàn cầm đầu vào giữa thế kỷ 19 và thành lập nước Thái Bình Thiên Quốc Thái Bình Thiên Quốc có lãnh thổ trải rộng từ sông Dương Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị,

có thủ đô là Thiên Kinh (Nam Kinh) Cuộc chiến tranh giữa Thái Bình Thiên Quốc và các thế lực đối kháng được coi là một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất trong thế kỷ 19 ở Trung Quốc

Trang 23

18

Cho nên sau năm 1763, Pháp thua trận và phải ký với Anh hoà ước Paris, nhường thuộc địa Ấn cho Anh quốc và giải thể công ty Đông Ấn Pháp đã chọn Việt Nam với vị thế địa chính trị - kinh tế của mình làm thuộc địa và thị trường thay thế

Về phần chúa Nguyễn Ánh, sau khi cầu viện quân Xiêm nhưng thất bại dưới tay Quang Trung17, ông đã quay sang cầu viện Bá Đa Lộc18 Để có được sự đồng ý của giáo sĩ Pháp này, ông đã giao hoàng tử Cảnh cho giáo sĩ làm tin, và soạn thảo một ước văn gồm 13 điều, nội dung cơ bản là nhường Cù Lao Chàm, Côn Lôn cho Pháp, Pháp có toàn quyền và độc quyền buôn bán tại lãnh thổ Việt Nam Bá Đa Lộc

đã nhiệt tình, tự thân vận động để tìm nguồn tài chính mua sắm khí giới, tàu chiến và nhân lực giúp chúa Nguyễn Ánh Bức thư của ông gửi về Pháp vào năm 1787 cho rõ

vì sao ông làm như vậy:

“Một căn cứ Pháp ở Nam Kỳ chắc chắn sẽ tạo ra một phương tiện đối lập lại ảnh hưởng lớn lao của người Anh Với những tài nguyên chắc chắn hơn, và những viện trợ ở xa hơn là trông chờ ở châu Âu, để có thể khống chế trên tất cả những biển Trung Quốc, những quần đảo, cuối cùng là để làm chủ tất cả thương mại ở phần đất này trên thế giới” [16, tr.73]

Quá trình đưa vũ khí, kỹ thuật và cố vấn vào tham chiến cũng chính là quá trình người Pháp tiến hành do thám về Việt Nam Những thông tin này hết sức quý giá liên tục được cập nhật về các nhà hoạch định chiến lược thuộc địa ở Paris

Vua Gia Long thừa biết ý đồ đó của Pháp, nên sau khi lên ngôi vào năm 1802, ông “gìn giữ” chứ không “thắt chặt” các mối quan hệ đã có trước đây với tầng lớp giáo sĩ ở Việt Nam cũng như với triều đình Pháp là có lý do của nó Đường lối này tiếp tục được vua Minh Mạng thực thi triệt để và cứng rắn hơn, như hạn chế thông thương với các thuyền buôn đến từ trời Âu, buộc tất cả thuyền buôn các nước khi đến Việt Nam phải cập cảng Đà Nẵng, thực hiện giao dịch mua bán rồi rời đi chứ không cho phép mở thương điếm, liên tiếp từ chối nhận vật phẩm tặng cũng như yêu cầu được yết kiến để xin mở văn phòng đại diện thương mại của thuyền buôn và đại diện các nước, trong đó có Pháp Mặc dù vậy, các thuyền buôn của Pháp vẫn được tạo điều kiện buôn bán và nhận được sự giúp đỡ của triều đình khi chẳng may gặp nạn

17

Quang Trung (1753 – 1792): hay còn gọi là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, tục danh là Thơm, sau đổi tên là Quang Bình, Văn Huệ, nhân dân Bình Định đương thời gọi ông là Ông Bình hay Đức ông Tám

18

Bá Đa Lộc (1741 – 1799): hay Bách Đa Lộc, còn gọi là Cha Cả, nguyên tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, thường viết là Pigneau de Behaine (Pi-nhô đờ Bê-hen) Ông là một vị giáo sĩ người Pháp được Nguyễn Ánh trọng dụng trong việc lấy lại quyền bính từ tay nhà Tây Sơn Ông được phong làm giám mục hiệu tòa Adran nên cũng thường được các sách sử gọi là Giám mục Adran

Trang 24

bộ do Trần Viết Xương và Tôn Thất Thường dẫn đầu sang tận Paris và London để tìm kiếm cơ hội ký kết hiệp ước liên minh Tuy nhiên, lúc này đôi bên đã có những cái nhìn không mấy thiện cảm về nhau, đặc biệt trong vấn đề tôn giáo, nên mọi nỗ lực của sứ bộ Việt Nam đều thất bại Ngày 21 tháng 1 năm 1841, vua Minh Mạng qua đời trong ngổn ngang lo lắng

Năm 1839, Pháp cho nâng cấp lãnh sự quán ở Manille thành Tổng lãnh sự Đông Dương, tăng cường do thám Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau19, thậm chí chỉ huy tàu Le Lancier còn đề xuất đánh chiếm Côn Lôn và Cù Lao Chàm

để tạo bàn đạp tiến vào đất liền nước ta

Từ năm 1843 đến năm 1847, lấy cớ đòi triều đình Huế phải phóng thích các giáo sĩ đang bị giam cầm, khi họ ba lần cho chiến thuyền vào thị uy ở Tourane, mưu

đồ xâm lược Việt Nam ngày càng rõ ràng

Ngày 22 tháng 4 năm 1857, cái gọi là Hội đồng Nam kỳ được lập ra, nhằm xem xét lại việc thi hành các điều ước Versailles Sau 7 phiên điều trần, Hội đồng này thống nhất đi đến quyết định kiến nghị hoàng đề Pháp phê chuẩn kế hoạch đánh chiếm xứ An Nam, với một lý lẽ đậm chất thực dân rằng: đây là xứ chưa có nước nào chiếm, đồng thời đây cũng là “xứ sở mà các thừa sai đã chinh phục được cho nước Pháp.”

Ngày 31 tháng 8 năm 1858, Rigault de Genouilly – chỉ huy hạm đội Viễn đông của Pháp, cùng lính Tây Ban Nha và 14 chiến thuyền nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược Việt Nam Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm Gia Định Ngày 23 tháng 2 năm 1861, quân Pháp do đô đốc Charner chỉ huy đánh chiếm được đồn Chí Hoà Nguyễn Tri Phương20 lui quân về Thuận Kiều, rồi về Biên Hoà,

19

Cho các giáo sĩ đội lốt vào thám tính, vẽ bản đồ về cách bố trí phòng thủ của triều Nguyễn, hoặc

cử hẳn phó hạm trưởng Fourichon (sau này là bộ trưởng Hải quân của Pháp) đi theo tàu Artemise, sau chuyến đi này, Fourichon đã viết báo cáo yêu cầu chính phủ Pháp phải đánh chiếm Tourane càng sớm càng tốt

20

Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873): tên thật là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đường Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân (9 tháng 9 năm 1800), quê làng Đường Long (Chí Long), xã Điền Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Ông là một đại danh thần thời

Trang 25

20

còn quân Pháp cứ thế tiến lên chiếm trọn Gia Định vào ngày 12 tháng 3 năm 1861

và ra lệnh tàn sát dân chúng quanh vùng không thương tiếc Ngày 14 tháng 12 năm

1861, quân Pháp đánh chiếm thành Biên Hoà Ngày 20 tháng 3 năm 1862, quân Pháp đã làm chủ thành Vĩnh Long

Đến tháng 5 năm 1862, quân Pháp sa lầy Syrie, Mexique, giới chóp bu của Pháp bị dân chúng Pháp phản đối, thì “May mắn thay, đang lúc phải đón đợi một tình thế xấu thì Huế lại yêu cầu ký hoà ước” và đây thật là “một tin mừng giữa lúc

có nhiều lo âu nghiêm trọng” đối với thực dân Pháp [57, tr 280-281] Vua Tự Đức

cử sứ giả cầu hoà gồm Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp dẫn đầu, tuỳ tùng trong đoàn còn có một linh mục người Việt tên là Đặng Đức Tuấn Ngày 3 tháng 6 năm

1862 đoàn đến được Gia Định, ba ngày sau, hiệp ước 12 khoản được ký Theo đó, Huế nhượng đứt cho Pháp ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn Pháp tạm thời chiếm đóng Vĩnh Long, Huế sẽ ra lệnh giải giáp ở miền Nam Đánh giá về hiệp ước này, chính người Pháp cũng phải lấy làm ngạc nhiên: “về sự dễ dàng của người An Nam, trước kia đã từng bác bỏ các ý định giảng hoà của chúng ta với bao nhiêu bực tức, đột nhiên lại đến yêu cầu một hiệp ước mà điều kiện hình như đắt giá đối với họ” [57, tr.286] Bằng việc ký hiệp ước 1862, Huế đã không chỉ tước đoạt quyền được đấu tranh để bảo vệ tổ quốc trước quân xâm lăng, mà còn ra sức đàn áp nhân dân, giúp Pháp yên tâm thiết lập bộ máy cai trị của chúng ở xứ của ta Cho nên, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đây là một “hàng ước” (Ca Văn Thỉnh), hay

“đây là một sự phản bội đối với những người kháng chiến” (Trần Văn Giàu) [57, tr.286]

Sau khi ký một hiệp ước “đắt giá” năm 1862, vua Tự Đức đã cử cụ Phan Thanh Giản21, Phạm Phú Thứ22 và Nguỵ Khắc Đản23 sang Pháp để thương lượng chuộc lại “đất tổ” Một tháng sau, cụ Phan Thanh Giản thay mặt triều đình ký tắt với đại diện của Pháp là Aubaret một bản hoà ước gồm 21 điều Pháp trả lại ba tỉnh miền Đông cho Tự Đức Huế thừa nhận sự “bảo hộ” của thực dân Pháp ở miền Nam

Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa của Pháp là Chasseloup Laubat kiên quyết phản

nhà Nguyễn, Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873)

21

Phan Thanh Giản (1796 - 1867): tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu Ước Phu, Lương Khê; là một danh

sĩ, một đại thần trải ba triều đời Nguyễn là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức

danh sĩ và làm quan triều Nguyễn Tác phẩm của Ngụy Khắc Đản có: Tây phù nhật ký, Như Tây ký,

Tuồng Kim Vân Kiều

Trang 26

Lúc này, những tiếng nói đòi hỏi canh tân đất nước bắt đầu lên tiếng Tiêu biểu có các cụ Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ24, Trần Đình Túc25, Đinh Văn Điền26

nhưng tất cả đều bị gạt đi với lý do “chưa hợp thời thế” Điểm chung của tất cả các đề xuất của họ là vẫn phải hoà hoãn với Pháp để lợi dụng thời gian hoà hoãn, học tập theo châu Âu, dần dần tự cường, chứ không hề đề cập đến bản chất thực sự của chủ nghĩa thực dân Pháp, vai trò và sức mạnh của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng Pháp giành độc lập, chính vì vậy chúng đều mang bản chất nhất thời, cách mạng nửa vời, cải lương

Chiếm xong miền Nam, Pháp liền nhòm ngó miền Bắc, vì đánh chiếm miền Bắc nước ta “là vấn đề sinh tử cho tương lai thống trị” của chúng ở vùng Viễn Đông

Mờ sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, Pháp đánh Hà Nội, bắt sống tướng Nguyễn Tri Phương với ý định chiêu hàng nhưng thất bại Ông tuyệt thực và mất ngày 20 tháng 12 năm 1873 Thừa thắng, Pháp đánh chiếm Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định

Trước thế tấn công dồn dập của Pháp, ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước hoà bình và liên minh gồm 22 điều, thay thế cho hiệp ước ký năm Nhâm Tuất (1862) Hiệp ước này thừa nhận chính quyền thực dân mà Pháp dựng ở miền Nam cũng như các điều khoản có lợi về lâu dài cho Pháp ở miền Bắc Ngày 31 tháng 8 năm 1874, hai bên lại ký tiếp một bản thương ước gồm 29 điều, thừa nhận quyền kiểm soát tuyệt đối của Pháp đối với mọi hoạt động kinh tế

24

Nguyễn Trường Tộ (1830 ? – 1871), còn được gọi là Thầy Lân, là một danh sĩ, kiến trúc sư, và là nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỷ 19 Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 58 bản điều trần đề cập đủ mọi lĩnh vực (theo tập họp của Linh mục Nguyễn Bá Cần) đề xuất canh tân xây dựng đất nước

25

Trần Đình Túc (1818-1899), quê làng Hà Trung xã Gio Châu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, quan đại thần nhà Nguyễn (thời Tự Đức), từng giữ các chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội, Ninh Bình), Hiệp biện Đại học sĩ Trần Đình Túc là một trong những đại thần chủ chốt trong việc ký hoà ước Quý Mùi (1883) nghị hòa với Pháp

26

Đinh Văn Điền: nhân sĩ đời vua Tự Đức, không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Ông là người có lòng yêu nước, ưu thời mẫn thế, từng dâng bản điều trần, trình bày sách lược ích nước lợi dân: khai hoang, khai mỏ, làm tàu hỏa, mở hải cảng cho quốc tế giao thương, chỉnh đốn binh bị, tăng lương cho quan quân, bớt sưu thuế cho nhân dân, cứu tế xã hội

Trang 27

27 điều này đã tước bỏ hoàn toàn nền độc lập của Việt Nam, mọi chính sách của triều đình Huế phải nằm dưới quyền giám sát của quan khâm sứ Pháp Nhưng tự thấy, nếu trắng trợn về mặt chính trị thì sẽ khiến Pháp tốn người tốn của cho công cuộc đô hộ, nên chúng đã thâm độc đề nghị thay hiệp ước Harmand bằng hiệp ước Patenotre, chia nước ta thành ba vùng gồm: Nam Kỳ thuộc địa do chính quyền Pháp cai quản, Bắc Kỳ bảo hộ do Công sứ Pháp chủ sự và Trung Kỳ của triều đình Huế

do khâm sứ Pháp chủ khiển Đến lúc này, Pháp xem như đã hoàn thành mục tiêu xâm lược mà chúng đã đề ra từ những năm đầu triều Nguyễn mới thành lập Cuộc xâm lược ấy đã đẩy chế độ phong kiến Việt Nam đến điểm cuối của hành trình lịch

sử ngàn năm tồn tại, đẩy nhân dân Việt Nam vào một thời kỳ đấu tranh gian khổ và đau thương kéo cả thế kỷ để tìm lại nền độc lập đã mất

1.1.2 Các hoạt động kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Nước ta dưới thời nhà Nguyễn vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên để sản xuất lúa gạo Để khôi phục lại diện tích sản xuất bị bỏ hoang do nội chiến, và mở rộng thêm đất đai, triều đình đã thực hiện hai chính sách là doanh điền và đồn điền

Ở miền Bắc, triều đình chuẩn y cho Nguyễn Công Trứ27

thực hiện mô hình

“doanh điền”, trong đó di dân lập ấp đóng vai trò then chốt Kết quả từ năm 1828 đến 1829, hơn ba mươi ba ngàn mẫu ruộng được khai khẩn thành công tại các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình và Nam Định Ở miền Nam, nhằm mục đích “lúc vô sự thì ở yên cày cấy, quân thừa lương, dân thừa ăn, lúc có việc thì bảo vệ cho nhau, dân đều

là quân, giữ thì vững, đánh thì thắng Đó là mưu kế tốt nhất để đủ lương đủ quân, có thể giữ vững bờ cõi và phòng bị giặc ngoài” [46, 4, tr.701], năm 1836 triều đình ban lệnh cho 6 tỉnh Nam Kỳ “đem hết các loại tù phạm sung quân, đi đày, cho làm binh

ở đồn điền hoặc sung vào các sở đồn điền” [46, 5, tr.1007] Kết quả là hàng trăm đồn điền mới được thanh lập ở Nam Kỳ, tổng số nhân khẩu lên đến cả vạn người, con số này còn tăng thêm đến khi Pháp xâm lược nước ta Tuy ruộng đất được khôi

27

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), danh sĩ, doanh điền sứ đời Tự Đức, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ nổi tiếng thời Nguyễn Nguyên quán làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 28

23

phục nhiều, nhưng do chính sách quản lý và thu thuế ruộng đất của triều Nguyễn, đời sống nông dân vẫn không được cải thiện triệt để, khiến họ lầm than, nên hậu quả

là các cuộc nổi dậy của nông dân vẫn nổ ra liên miên Về hoạt động này, chúng tôi

sẽ nói tiếp ở phần sau

Nếu nông nghiệp gặp nhiều lực cản để phát triển, thì công nghiệp lại có điểm sáng Các tài liệu cho thấy, thợ đóng tàu của ta đã đóng được những loại tàu có tải trọng đến 400 tấn, tay nghề thành thạo, kỹ thuật hết sức chính xác Họ cũng đã mô phỏng chế được tàu hơi nước kiểu Tây, và nhiều thiết bị khác như máy giã, máy xẻ

gỗ, luyện thuốc súng, xe nước, thuỷ hoả ký tế (xe chữa cháy) chạy bằng động cơ hơi nước Nhưng sự nghiệp công nghiệp hoá này chỉ diễn ra với động lực như để đáp ứng sở thích nhất thời của nhà vua, chứ không phải chiến lược lâu dài của một đất nước, cho nên chỉ được một thời gian rồi tất cả rơi vào quên lãng

Về tiểu thủ công nghiệp, ở khắp nơi từ nông thôn đến thành thị, các làng nghề vẫn hoạt động khá nhộn nhịp Những làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, Ngũ Xã, Vạn Phúc, Bảo An, Yên Thái vẫn đều đặn cho ra lò nhiều loại sản phẩm đáp ứng đời sống xã hội Thời này thịnh nhất ba nghề là dệt, gốm và làm đường Dệt và gốm thì các làng nghề ở phía Bắc nước ta chiếm ưu thế vì có truyền thống và kinh nghiệm lâu đời Riêng ngành làm đường, Quảng Nam và Quảng Ngãi là hai nơi sản xuất nhiều nhất Nhưng cũng như bao ngành nghề, lĩnh vực khác, cơ chế quản lý, sản xuất và thị trường nhiều bất cập đã không giúp ích cho các làng nghề này phát triển hơn được Triều đình đánh thuế kép vào người làm nghề, khi cần có thể trưng nộp sản phẩm bên cạnh vẫn phải đóng thuế, đồng thời quy định cái nào được làm, dùng cho ai, cái nào không được làm và không được dùng, khiến cho sản phẩm làm ra đơn điệu, rập khuôn từ đời này sang đời khác theo kiểu cha truyền con nối mà thiếu tính bứt phá, cách tân, cải tiến

Về thương nghiệp, sau thời gian nội chiến những nơi đô hội như Kẻ Chợ, Gia Định, Hội An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang lại hồi sinh và trở thành những thương cảng sầm uất Đường sá, sông ngòi được mở mang đã tạo điều kiện cho giao thông đi lại thuận tiện, hàng hoá nhờ đó lưu thông dễ dàng Bên cạnh đó, nhiều đô

thị mới mọc lên cũng hoạt động hết sức nhộn nhịp Sách Gia Định thành thông chí

có chép:

“(Chợ Long Hồ) phố xá liền nhau, bách hoá tụ tập, dăng dài 5 dặm, thuyền ghe suốt bến, đền thần, đình làng, đàn hát náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn.”, hay như “chợ Sa Đéc ở phía đông huyện lỵ Vĩnh Am, phố chợ ở ven sông, nhà phố nối liền đối nhau, san sát như vảy cá, dăng dài 5 dặm Bè tre ở dưới sông cũng dựng nhà buồng san sát thành hàng Chỗ thì bán lụa đoạn, đồ dùng nam bắc chỗ thì bán các thứ dầu rái, than gỗ mây tre, muối

Trang 29

Việc buôn bán với nước ngoài cũng diễn ra khá sôi nổi Hầu như các nước trong khu vực như Xiêm La, Mã Lai, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, đặc biệt là Trung Quốc đều có thuyền buôn qua nước ta buôn bán hoặc ngược lại Chúng ta xuất đi chủ yếu các loại nông lâm thổ sản như ngà voi, đường cát, cánh kiến, vải vóc, gỗ quý, gạo và nhập về chủ yếu vũ khí, chì, kẽm, diêm tiêu, cũng như các loại vải vóc mà trong nước không có Hoạt động ngoại thương này chủ yếu

do các đơn vị triều đình thực hiện, tư nhân rất hiếm Đối với các thuyền buôn đến từ

Âu Mỹ như Anh, Pháp, Mỹ thì triều đình vẫn giữ kẽ, cho phép cập cảng buôn bán, nhưng tuyệt đối không cho mở văn phòng đại diện hay ký kết hiệp ước chính thức, càng về sau luật lệ đối với các thuyền buôn đến từ những xứ này càng thêm khắt khe,

số cảng cho phép cập bến cũng hạn chế lại rất nhiều Hình thức mua bán chủ yếu là nửa hàng nửa tiền mặt Các mặt hàng được giao thương có đường, súng tây (còn gọi

là điểu thương), đá lửa, lưu huỳnh Đối với các mặt hàng nhạy cảm có thể chế thành vũ khí, chỉ nhà nước mới được quyền giao dịch

1.1.3 Tư tưởng, văn hoá và thực trạng xã hội

Ý thức hệ nền tảng thời Nguyễn chính là Khổng giáo Để khẳng định tính chính thống của triều đình, các vua nhà Nguyễn đã cho tiến hành biên soạn một loạt

các công trình được xem là cương mục quốc gia như Thực lục tiền biên 寔錄前

編 (1844), Thực lục chính biên 寔錄正編 (1848), Liệt truyện tiền biên 列傳前編 (1852), Hội điển sự lệ 會典事例 (1855), Cương mục 綱目 (bản thảo) (1859), Thực lục chính biên 寔錄正編 (1862), ngay cả sau khi bị mất sáu tỉnh miền Đông vào tay

Pháp, các công trình của sử quán triều Nguyễn vẫn tiếp tục được thực hiện và ban hành Tuy nhiên, quá trình này diễn ra chậm chạp, nên hầu như sử Trung Hoa vẫn là nguồn chính phục vụ cho giáo dục đào tạo và trị vì đất nước “Và đây cũng là lý do giải thích tại sao ở thế kỷ XIX khuôn mẫu Trung Hoa chiếm vai trò “thái quá” trong triều đình nhà Nguyễn, kể cả trong ngôn ngữ và văn phong biên soạn lịch sử dân tộc” [57, tr.99]

Về đời sống tôn giáo, nổi bật là xung đột giữa các vua triều Nguyễn với các thừa sai Thiên Chúa giáo Vua Gia Long đối đãi với các thừa sai như những ân nhân của mình dù đâu đó vẫn còn chút “lấn cấn” kiểu “Gia-tô giáo là thứ tôn giáo hợp với

lẽ phải nhất, nhưng tiếc rằng nó quá khắc nghiệt đối với chế độ đa thê Đối với Trẫm thì khó mà chỉ lấy một vợ, mặc dầu Trẫm thấy cai trị thiên hạ còn dễ hơn và ít vất vả

Trang 30

Về thực trạng đời sống nhân dân, triều đình đã ban hành nhiều chính sách nhằm vỗ yên bá tính sau cơn binh lửa, nhưng đó lại là nguồn cơn cho những nỗi cơ cực mà họ phải gánh chịu Chẳng hạn việc nộp tô thuế, năm được mùa thì nộp bằng thóc đã đành, năm mất mùa thì triều đình ra sắc lệnh nói là gia ơn cho dân, nhưng thực chất đổi hình thức quy thóc ra tiền mà nộp, thật chẳng khác nào bắt người đói được miễn nộp thuế bằng gạo mà chuyển sang nộp thuế bằng cơm Chế độ lao dịch cũng hết sức hà khắc, đặc biệt hầu như lúc nào triều đình cũng huy động một đội dân bình hùng hậu hàng vạn người để xây mới, tu sửa lăng tẩm, đắp đê, đào kênh Năm

1845, vua Thiệu Trị cho sửa lăng Thiên Thụ Năm 1848, vua Tự Đức xây Xương Lăng cho vua Thiệu Trị Kế đó, vua Tự Đức lại ra lệnh cho xây Khiêm Lăng để làm nơi thiên thu cho mình Công trình này quy mô còn to gấp chục lần so với Thiên Thụ

Những công trình trên đã khiến cho “Tiền của, sức lực của dân gian kém trước năm, sáu phần mười” Đây cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân làm cho niềm tin

của nhân dân đối với triều đình giảm sút vì họ phải chịu quá nhiều gánh nặng lao dịch Dân gian có câu:

“Vạn Niên là Vạn Niên nào

Thành xây xương lính, hào đào máu dân”

Ngoài lao dịch nặng nề, thiên tai dịch hại càng tăng thêm gánh nặng cho dân Năm 1820, bệnh dịch bùng phát khắp cả nước, số dân chết lên đến hơn 20 vạn người Năm 1926, Gia Định lại có dịch, gây thiệt mạng 18.000 người Đặc biệt trận dịch tả kéo dài trong hai năm (1849 – 1850) đã làm cho hơn 50 vạn người bỏ mạng Năm

1842, triều cường dâng cao ở Nghệ An, làm hơn 5.000 người chết, đổ nát nhà cửa của hơn 5 vạn hộ Bốn năm sau tỉnh này lại gặp bão lớn Thiên tai tương tự cũng xảy

ra vào năm 1851 tại hai tỉnh Ninh Bình và Nam Định gây thiệt hại gần 1 vạn nhân mạng Nạn mất mùa thì nhiều không đếm xuể Tất cả những yếu tố trên đã đẩy nông dân vào cảnh khốn cùng Dân gian có hẳn một bài vè để phản ánh thực trạng này:

“Cơm thì chẳng có

Rau cháo cũng không

… Vơ vất đi ăn mày

Ngồi xó chợ lùm cây

Trang 31

26

Quạ kêu vang bốn phía

Xác đầy nghĩa địa

Thây thối bên cầu

Sẵn bút đây ta tả

Để giữ lại vài câu

Cho ngàn vạn năm sau

Ở miền núi và tây nguyên, tình hình cũng không ổn định hơn Một loạt các cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương30 (1833 – 1838) ở Sơn Âm, Nông Văn Vân (1833 – 1835) ở Bảo Lạc (Tuyên Quang), khởi nghĩa Đá Vách ở miền tây Quảng Ngãi của các dân tộc thiểu số như Co, H‟rê, K‟tu khiến triều đình nhiều phen vất vả

Đặc điểm chung là các cuộc khởi nghĩa này đều kết thúc trong sự đàn áp đẫm máu của triều đình Nguyên nhân thất bại có nhiều, nhưng chủ yếu là do chưa có cương lĩnh rõ ràng, thiếu sự chuẩn bị, chia rẽ trong nội bộ quân khởi nghĩa Nhưng chúng cho thấy tinh thần phản kháng không bao giờ dứt của nhân dân đối với chính sách bất công hà khắc của tầng lớp thống trị, tinh thần ấy sẽ phát triển lên một tầm cao mới, ở một mặt trận mới đó là chống quân xâm lược sau khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta

1.2 Tiểu sử tác giả Nguyễn Thuật

1.2.1 Hoàn cảnh xuất thân

Theo Gia phả của dòng họ Nguyễn Công ở Hà Lam, ông tổ của cụ là ngài Nguyễn Công Châu, quê xã Bình Luật, huyện Thạch Hà, phủ Hà Ba, Thừa tuyên Nghệ An di cư đến làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, Thừa tuyên Quảng Nam Kế đó, ông Nguyễn Công Để thuộc đời thứ hai của dòng tộc, là tướng dưới cờ Bình Chiêm Hưng Quốc của vua Lê Thánh Tông Năm Tân Mão (1471), đại quân tiến binh vào Nam đánh Chiêm Thành, mở rộng biên cương về phương Nam Sau khi bình định xong lãnh thổ, Nguyễn Công Để được vua Lê cho phép ở lại trấn

30

Lê Duy Lương (1814 - 1833): là thủ lĩnh cuộc nổi dậy ở Sơn Âm-Thạch Bi, thuộc tỉnh Hòa Bình

Trang 32

27

nhậm Cai phủ, tước phong Phó đô hầu Từ đó, dòng họ này tiếp tục truyền đời qua nhiều thế hệ, cùng nhau sinh sống ở vùng đất Hà Lam này, tính đến thế hệ của Nguyễn Thuật đã trải qua mười mấy đời

Cha của Nguyễn Thuật là Nguyễn Đạo hay còn có tên khác là Nguyễn Công

Đạo (1803 – 1872), tự là Suất Tính, sinh ra và lớn lên tại Quảng Nam Sách Đại Nam liệt truyện chép: “Lúc nhỏ mồ côi chăm học, đầu niên hiệu Minh Mạng (1820)

2 lần đỗ tường sinh Năm 40 tuổi, hạch theo lệ, được bổ giáo chức, vì có mẹ già xin

từ chối ở nhà phụng dưỡng Ở nhà, lấy việc cày ruộng, đọc sách làm nghề nghiệp, lấy hiếu, hữu, lễ, nhượng dạy con em, người làng đều cảm hóa theo Tính chất phác ngay thẳng, đối với mọi người ít khi uốn mình chiều ý, nhưng mau chân cứu cấp khi hoạn nạn, vui lòng giúp đỡ khi túng thiếu” [47, 4, tr.575] Ông nhiều lần được triều đình cử đi giúp dân trong các đợt thiếu đói, làm tốt và được khen thưởng Sách chép:

“Hồi đầu niên hiệu Tự Đức (1848), mùa màng luôn bị thất bát, Đạo quyên chẩn không ngại tốn, làng Đạo ở và những thôn xã lân cận nhờ được qua sống rất nhiều Đạo lại quyên thóc ra khuyên dân lập nghĩa thương làm kế phòng đói Tỉnh đem việc tâu lên, tiết thứ được thưởng áo lụa mầu (2 chiếc) và phi long ngân tiền (12 đồng)” [47, 4, tr.575] hay như “Từ năm Mậu Ngọ đến năm Quý Hợi (1858-1863), vùng bờ biển hữu sự, dân trong hạt đói, tỉnh thần phái ủy cho Đạo đi khuyên quyên được 6 vạn quan Đạo lại tự quyên của nhà để cấp cho hương binh và giúp việc phát chẩn, tiền cũng như thóc đều kể có hàng vạn Quần thần luận công, được thưởng lạc quyên ngân bài và lạc quyên nghĩa sĩ ngân bài mỗi thứ 1 tấm” [47, 4, tr.575] rồi

“Hai phường An Phú, Dục Thúy trong huyện không có đất ăn ở lênh đênh trên mặt nước Đạo khuyên dân xã mình trích ra hơn 20 mẫu công điền nhượng cho Việc tâu lên, dân xã được thưởng 1 tấm biển 4 chữ “Thiện tục khả phong” (Tục thiện đáng làm gương)” [47, 4, tr.576] Nhờ những chính sách ấy, mà gặp năm đói không phải xin nhà nước cấp giúp nữa Ông lại “khuyến khích dân làng đặt ra học điền, dựng trường học, học võ, mời thấy về dạy”, kết quả là “Hơn 40 năm dân trong làng không

có việc thưa kiện gì phải đến quan Học trò trong làng văn cũng như võ đỗ đạt nối gót nhau, bèn thành một làng danh vọng trong hàng huyện” [47, 4, tr.576] Còn về sức ảnh hưởng của ông trong vùng, sử sách cũng ghi nhận: “Quan phủ huyện về nhậm đều lấy Đạo làm trọng thường mời đến hỏi về việc lợi hại trong dân xã, được nhiều điều bổ ích” [47, 4, tr.576] Tuy nhiên, không vì thế mà ông kiêu ngạo, trái lại còn rất mực khiêm tốn, không tranh đấy là công của mình, thật xứng với môn đồ của Nho gia Chuyện kể rằng, khi Thượng thư Ngụy Khắc Đản, Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Chính Thủ muốn đem những việc tốt lành của ông tâu cho vua hay đặng khen thưởng, thì ông liền nói đó chẳng qua “tiếng đồn quá với thực tình” rồi xin miễn cho

Trang 33

28

Ông mất năm 70 tuổi31, nhờ Nguyễn Thuật khi ấy làm quan trong triều, căn

cứ theo luật của nhà Nguyễn, ông được vua truy phong là Đô sát viện Hữu phó Đô ngự sử, tôn thụy là Trang Khải [47, 4, tr.577]

Nguyễn Đạo có hai người vợ, trong đó bà chánh thất là Võ Thị Tại sinh ra Nguyễn Tạo và Nguyễn Thuật Nguyễn Tạo (1822 – 1892), tên gốc là Nguyễn Công Tuyển, tự Thăng Chi Học giỏi, hay chữ, đỗ Cử nhân vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), nhưng sau đó thi Hội sáu kỳ mà không đạt như ý nguyện Năm 1862, ông được bổ chức Huấn đạo huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, sau đó điều về làm Huấn đạo huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế, rồi chuyển tiếp về kinh bổ chức Biên tu ở Viện Tập hiền Năm 1865, ông làm Tri huyện Phù Cát (Bình Định) Khoảng ba năm sau, ông được bổ chức Thị độc và điều ra Bắc, giữ ấn Án sát sứ Hải Dương Năm

1874, ông được thăng làm Bố chánh Quảng Bình rồi Bố chánh Nam Định Giai đoạn sau, ông làm Giáo thụ Thăng Bình rồi Đốc học Quảng Nam Năm 1885, vua Hàm Nghi ra chiếu Cần vương chống Pháp, ông nghe theo và ngầm ủng hộ Triều đình tay sai và Pháp biết sức ảnh hưởng của ông rất lớn nên cho đòi về Kinh phục mệnh

Đánh giá về Nguyễn Tạo, sách Đại Nam liệt truyện chép: “Nguyễn Tạo là người

thanh liêm giỏi giang, làm quan ở đâu đều có tiếng tốt, được vua phê rằng: “Quan giỏi hiếm có” [47, 4, tr.364]

Người vợ thứ hai của Nguyễn Đạo là bà Võ Thị Kẻ, sinh ra Nguyễn Duật Nguyễn Duật (1847 – 1886) còn có tên khác là Nguyễn Uýnh, lúc nhỏ tên Nguyễn Công Trứ, sau đổi ra Nguyễn Duật, tự Vọng Sơn Năm Tự Đức thứ 30 (1877), ông thi đỗ Tú tài Sau đó hai năm, trong kỳ thi Hương năm Kỷ Mão (1879) ông thi đỗ cả

Cử nhân Văn, lẫn Cử nhân Võ, được ban chức Lãnh binh, nhưng lấy cớ cha mẹ già xin không phục mệnh, ở nhà dạy chữ và dạy võ cho con em trong vùng Đến năm

1885, ông ra Huế thi Hội thì kinh thành rơi vào tay Pháp Ông quay về tham gia phong trào Cần vương cùng với Trần Văn Dư (1839 – 1885), làm Tán tương Quân

vụ quản lý sự vụ ở vùng Thăng Bình – Quế Sơn Thời gian này, ông ra sức chiêu binh luyện võ chờ ngày xung trận Sau đó, khi được lệnh tấn công, ông đem quân đánh thành Quảng Nam, tiếp đó dẫn đầu một cánh quân hợp cùng bốn cánh quân khác đánh mạnh vào Bình Sơn, nhưng gặp phải quân triều đình và quan binh Pháp kháng cự quyết liệt, thế quân bất lợi, nên toàn quân phải rút lui Ông dẫn quân của mình bọc hậu, đến địa phận Cầu Cháy thì bị quân của Nguyễn Thân mai phục đánh

31

Theo sách Phạm Phú Thứ toàn tập, tr.1620 [21], khi thân sinh cụ Nguyễn Thuật mất, cụ Phạm

Phú Thứ có đến làm đôi câu đối để điếu, toàn văn như sau: Lam điền thực ngọc lưu song bích/ Ích

bộ trưng kỳ thiểu nhất nhân Nghĩa là: Ruộng lam trồng ngọc lưu song bích/ Sáu mươi mời họp

thiếu một người Cứ theo ý của câu đối này, thì lẽ nào cha của cụ Nguyễn Thuật mất năm 60 tuổi?

Nguyên chú của câu đối này còn cho biết, khi cha ông mất thì anh ông đã đỗ Cử nhân và làm quan đến chức Át sát Hải Dương, còn ông thì đỗ Phó bảng làm quan Thị độc ở Nội các

Trang 34

29

úp, ông hy sinh tại trận Nghĩa quân cướp được xác ông đem về an táng ở quê nhà Cuộc đời của một con người lừng lẫy kết thúc tại đây, nhưng đồng thời cũng thêm một trang sử vẻ vang cho dòng tộc Nguyễn xứ Hà Lam

Trong ba người con của cụ Nguyễn Đạo, Nguyễn Thuật có sự nghiệp quan trường vinh hiển nhất, có địa vị lịch sử hết sức quan trọng không chỉ đối với dòng họ

mà còn đối với lịch sử triều Nguyễn nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung

1.2.2 Sự nghiệp chính trị

Nguyễn Thuật hiệu là Hà Đình, tự Hiếu Sinh Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Dần (1842) tại làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (nay là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) Năm Tự Đức thứ 20 (1867), ông đi đỗ Cử nhân

Trong kỳ thi Phúc thí được tổ chức vào tháng 4 năm Tự Đức thứ 21 (1868), ông đỗ Phó bảng32 cùng với mười một người khác [46, 7, tr.1104] Có giai thoại kể

rằng, mặc dù kết quả thi rơi xuống bảng Ất, nhưng khi thân hữu đến mừng ông thi

đỗ mà vẫn tỏ vẻ lấy làm tiếc cho ông vì không đỗ cao hơn, thì ông đã khiêm tốn thưa rằng: “Nhà tôi vốn nhà thanh bạch, tôi lại không có công đức gì, cái phúc quá to như vậy, sợ không đương nổi Đó chính là các vị trong điều đáng mừng lại mừng thêm vậy”

Sau khi thi đỗ Phó bảng, cụ được triều đình bổ dụng vào Nội các làm việc Phải nói rằng, Hà Đình Nguyễn Thuật được vua Tự Đức ưu ái để tâm, có lần ông bị

vua trách phạt theo kiểu “thương cho roi cho vọt”, vua kỳ vọng vào ông “là hạng thiếu niên tân tiến, vì chăm học, lại thông minh biết lẽ phải, không hay a tùng, vì thế nên mong cho tiến tới mà được thăng luôn để làm người cần dùng cho nhà nước sau này”, nên khi thấy ông có biểu hiện “khí lượng hẹp hòi, tự mãn, chưa sao sửa đổi được tập tục phù phiếm thô suất” trong việc soạn thảo sách văn tấn phong, nên

“nghĩ phạt giáng xuống hàm Quang Lộc tự khanh, nhưng cho sung biện công việc nội các”, để cho “biết thành thực sửa đổi lầm lỗi, hoặc có thành đạt sau này, cho được xứng đáng, không phụ ơn trên” [17, 2, tr.119-120] Quả thật, sự tu dưỡng về

sau của ông đã không phụ niềm tin yêu mà vua đã trao cho, đỉnh cao chính là sự kiện ông được cử đi sứ sang Trung Quốc trong hoàn cảnh vận nước nhiều biến chuyển hệ trọng

Tháng 6 năm Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880), theo lệ cống hằng năm, vua Tự Đức xuống chiếu sai Nguyễn Thuật đang là Hữu thị lang bộ Lại làm việc trong Nội các, đổi bổ hàm qua bộ Lễ sung chức Chánh sứ Phó sứ thứ nhất là

32

Học vị ở dưới Tiến sĩ trên Cử nhân, người đi thi Hội mà không đủ điểm đỗ Tiến sĩ, được lấy đỗ thêm, tên ghi vào một bảng phụ, gọi là Phó bảng, đây là danh hiệu chỉ xuất hiện duy nhất dưới thời nhà Nguyễn

Trang 35

30

Thị độc Học sĩ sung chức Sử quán Toản tu là Trần Khánh Tiến được đổi thụ hàm Hồng lô Tự khanh Phó sứ thứ hai là Lang trung bộ Binh Nguyễn Hoan được đổi thụ hàm Thị độc Học sĩ Ngày ra đi, vua tự tay làm thơ tiễn Vì tình hình biên giới với nước Thanh xảy ra biến động, do các thế lực chống phá nhà Thanh gây ra, nên triều đình có thư nhờ ông mang đến Quảng Tây yêu cầu phía bạn cử quân đi chặn dẹp [46,

4, tr.420]

Ngày ông lên đường, dân chúng đi đưa tiễn rất đông Các bạn đồng liêu thì bịn rịn chia tay rồi làm thơ đưa tiễn Về việc chuẩn bị cho chuyến đi, có một câu chuyện thú vị liên quan đến cụ Phạm Phú Thứ Chúng ta biết được điều này thông

qua lời dẫn của bài Chí cảm (ghi lại cảm xúc):

“Hà Đình đi Yên Kinh, tuân sắc vua biên chép thơ đưa tiễn của các bạn đồng liêu dâng lên vua xem Rồi được sắc vua hỏi: “Phạm Phú Thứ sao không có thơ đưa tiễn? Khâm thử!” Hà Đình phúc tâu: “Hiện tại Phạm Phú Thứ đang lo buồn bệnh hoạn, duy có nói vì tình đồng hương với nhau nên cũng đang cố gắng làm thơ đưa tặng Đợi gần đến ngày khởi hành, làm xong đưa đến tiễn” Rồi vua đi tuần xem lúa, lúc vua trở về thì Hà Đình đã lên đường Lại được sắc vua hỏi: “Nghe Phạm Phú Thứ đã làm ba chương thơ đưa tiễn, ngày nào sẽ đưa đến? Nguyễn Thuật đã đi rồi mà sao cũng không thấy chép thơ đưa đến?” Bề tôi ở Nội các là nhóm của Tham tri Bùi Ân Niên liền sai thuộc hạ lập tức sưu tập bản thảo chép vào phía sau phần Nguyên biên để dâng lên vua Dao Khanh là quan Tham tri ở Nội các ngày ấy có đến thăm và thuật lại việc đó” [21, tr.1254-1255]

Ngoài thơ, đích thân cụ Phạm Phú Thứ còn viết một bức lụa tiêu đề Đồng châu tiễn Lại bộ Thị lang Nguyễn Hà Đình sung như Thanh chánh sứ tự (Lời bày tỏ

của người đồng châu tiễn quan Lại bộ Thị lang Nguyễn Hà Đình đi sứ sang nhà Thanh) Nội dung bài tự này vừa cho thấy khung cảnh của đoàn chuẩn bị đi sứ, vừa bày tỏ tình cảm của người viết đối với việc đi sứ sang Thanh của cụ Nguyễn Thuật, đồng thời nhắc đến nhiều nét về con người của cụ Hà Đình:

“ Mang cờ tiết trương cờ tinh, sứ giả cất cao cánh phượng Người ta xúm xít ngựa xe ngoài cửa đô thành đứng xem và nói: Chánh sứ lần này, quan Thị lang Nội các là họ Nguyễn, người Quảng Nam đó Khắp tỉnh, người ngồi xe, kẻ đội nón, đứng trước đình ca hát, yêu mến bước đường đi Con người (chỉ Hà Đình) như ngọc khuê, ngọc bích, không ai được làm rạn vết; văn từ như ngọc lãm ngọc lang, ai nấy đều khen đẹp, nhưng vẫn theo thói thận trọng Cây trong nhà ấm có bao giờ nói với mọi người Cũng khi sảnh hoè viện ngọc, tỏ ý bàn luận, đâu cứ gì mang thanh danh học sĩ cửa Bắc mới được Đức vua ta khen đức hạnh và lời bàn luận của ông tỏ ra muốn sự đền

Trang 36

31

đáp Người ta sẽ gộp làm một giữa phong độ của cụ Nguyễn Tế tửu với văn

từ đẹp đẽ của Phạm Trọng Vũ để tặng Hà Đình ” [21, tr.1636-1638]

Chuyến đi này, Nguyễn Thuật còn đem theo Giá Viên thi tập của Phạm Phú

Thứ sang Thanh triều trình cho các đại thần xem Sau khi xem xong, Bảng nhãn Tư Thuỷ Hoàng Tự Nguyên đã viết bài đề tựa cho tập thơ này

Tháng 4 năm Nhâm Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 35 (1882), đoàn đi sứ sang Thanh của cụ về đến Huế Trên thực tế, sứ bộ đã về nước từ trước đó, nhưng do tình hình ở Hà Nội chưa yên ổn, vì lúc này Pháp đang có những hành động đánh chiếm miền Bắc nước ta, nên vua cho sứ bộ ở lại Lạng Sơn để nghe ngóng tình hình Sau

đó, cụ đã đến Bắc Ninh rồi theo đường thượng đạo qua Sơn Tây về Mỹ Đức, qua Ninh Bình rồi về tỉnh Thanh Hoá, từ đây trở về Kinh [48, tr.526] Bốn tháng sau, ông được sung vào dạy học cho Hoàng tử thứ ba ở nhà Dưỡng Thiện [48, tr.542] Vua nhận xét về Nguyễn Thuật rằng:

“Nội các Thị lang Nguyễn Thuật được gặp biết sớm là người thông hiểu, cẩn thận, cho gia hàm Tham tri, kiêm sung chức dạy bảo ở nhà ấy Ngươi nhân lúc việc công được rỗi, hằng ngày đi đến đốc thúc bảo bọn tán thiện giảng tập, dạy chăm dỗ khéo, cho kiến văn ngày một rộng ra và xét bảo đường thuộc kính cẩn hầu hạ, chớ phạm vào làm bậy, để cho hoàng tử chóng được có đức tốt, học thông nết thuần, mới xứng đáng với ân mệnh [48, tr.544] Ngày 25 tháng 4 năm 1882, thành Hà Nội thất thủ sau nhiều đợt công phá của Henri Riviere Trong lúc cấp bách, Huế nhận thấy giữa triều Thanh và Pháp dường như có sự bất đồng trong việc giải quyết vấn đề An Nam, đồng thời hy vọng thượng quốc còn nghĩ đến mối tình “môi hở răng lạnh” mà ra tay giúp đỡ Cuối năm 1882 đầu năm 1883, triều đình tiếp tục sai Thượng thư bộ Hình là Phạm Thận Duật làm chánh sứ, Nguyễn Thuật làm phó sứ lên đường đi sứ sang Thanh [48, tr.550-551]

Theo Vãng Tân nhật ký thì trước khi đi sứ Thiên Tân, Nguyễn Thuật được

khâm phái cùng với Nguyễn Tịch, Đỗ Phú Túc và Lê Đăng Trinh đến Quảng Đông trình quốc thư cho Quan đốc thương Quốc Thuyên Đoàn xuất phát từ cảng Đà Nẵng, vòng qua Hải Nam và Hồng Kông, ngày 12 tháng 2 năm 1883 đến Quảng Đông Đoàn lưu lại ở đây đến ngày 01 tháng 3 thì rời đi về nước

Tiếp đó, Nguyễn Thuật mới được cử làm Phó sứ đi Thiên Tân cùng Phạm Thận Duật Sứ bộ lần này đến Thiên Tân vào ngày 17 tháng 3 năm 1883 và lưu lại

đó đến ngày 23 tháng 11 mới trở về nước Mục đích chuyến đi là thương lượng với

Lý Hồng Chương nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc để liên minh đối phó với Pháp, đồng thời hỏi thăm tình hình đàm phán giữa đại diện chính phủ Pháp là Công sứ Bourre‟e và Lý Hồng Chương Khi việc điều đình giữa các bên chưa có kết quả thì tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức băng hà Lúc này, đối với vấn đề Việt Nam,

Trang 37

32

triều Thanh giữ thái độ đứng xa mà trông, tận dụng kế hoãn binh chứ không có quyết định hay hành động gì quyết liệt Thừa cơ hội đó, Pháp tấn công trực diện vào Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Harmand năm 1883, qua đó thừa nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam

Thấy rằng có tiếp tục ở lại cũng chẳng ích gì, ngày 31 tháng 8 năm 1883, sứ

bộ của ta trình công văn xin về nước Nguyễn Thuật vừa thất vọng, vừa căm phẫn rằng:

“Việc của nước tôi với nước Pháp vốn do Trung triều gửi công văn muốn điều đình giúp, lại còn triệu mấy người chúng tôi tới Thiên Tân xét hỏi, rồi thì giảng giải cũng không thành, lại còn do dự sợ sệt, không chịu đem binh thuyền cứu trợ, để cho người Pháp nhân lúc nước tôi có việc, ép chúng tôi hoà Nước tôi lần này có biến dồn dập, cái thế không thể không theo, còn Trung triều thì không bảo vệ được nước phên giậu, không biết có lời nào giải thích với thiên hạ chăng? Sự tình đã đến nước này, còn nói gì được nữa!” [82,

1, tr.59]

Ngày 12 tháng 11, lấy lý do “Sứ thần ở Thiên Tân, nay không còn việc gì thương thuyết nữa nên chuẩn cho về nước, để khỏi chờ đợi lâu”, Lý Hồng Chương đại diện Thanh triều cho phép sứ bộ rời Thiên Tân để trở về Ngày 23 tháng 11, sứ

bộ về đến Việt Nam trong tâm trạng lo âu, buồn bã đến tuyệt vọng Có nhà nghiên cứu cho rằng, sự thất bại của chuyến đi này, đã đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

và thể chế quan hệ “tông phiên” truyền thống ở Đông Nam Á với việc lấy Trung Quốc làm trung tâm đã bắt đầu chuyển hướng sang mô hình mới thời cận đại [63, tr.85]

Trở về nước sau chuyến đi sứ ấy, Nguyễn Thuật tiếp tục công việc trong triều theo sự sắp đặt của vua

Tháng 5 (nhuận) năm Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc thứ 1 (1884), nhân triều đình mở kỳ thi Điện, ông được sung làm quan Duyệt quyển [46, 9, tr.81] Kế tiếp đó, triều đình có sự luân chuyển nhân sự, ông đổi qua thự Tả tham tri bộ Lại [46,

9, tr.84]

Mùa Thu, tháng 9 cùng năm 1884, nhân kỳ Ân khoa thi Hương ở hai trường

Hà Nam phụ vào trường Thanh Hoá, ông được cử làm quan chủ khảo Kỳ thi này, số

học trò đi thi có đến hơn 3000 người [46, 9, tr.110]

Năm Ất Dậu, Hàm Nghi năm thứ 1 (1885), Ông được thực thụ chức Tả thị lang bộ Lễ [46, 9, tr.123-124] Sau đó trong cùng năm, vua bổ ông giữ chức Tuần phủ Thanh Hoá Vua dụ rằng: “Đến nay cho đó là nơi quan trọng và công việc nhiều (các hạt ở thượng du, hiện có giặc Xá) Đốc thần (Tôn Thất Thế) võ biền khó làm nổi

Trang 38

ký ngày 4 tháng Giêng năm Ất Dậu (18.2.1885), ông tham gia cuộc ký kết này với

tư cách là Phó toàn quyền đại thần là Thượng thư bộ Hộ, quản lĩnh Thị vệ đại thần Mọi việc hoàn thành vào ngày 20 tháng Giêng năm Đồng Khánh thứ nhất

(23.2.1886) [46, 9, tr.222]

Kể từ khi Tự Đức qua đời (19/7/1883), ưu thế chính trường nghiêng hẳn về phe chủ chiến Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi34 ban chiếu Cần vương, phong trào kháng Pháp nổ ra khắp cả nước Tiêu biểu có Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1892)

ở Hưng Yên do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu, khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 – 1892)

ở Thanh Hoá do Tống Duy Tân chỉ huy, Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896) ở Hà Tĩnh do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo, Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) ở Thanh Hoá do Phạm Bành và Đinh Công Tráng khởi xướng Ở Quảng Nam, anh em của Nguyễn Thuật gồm các ông Nguyễn Tạo, Nguyễn Duật, Nguyễn Tiến cũng nổi lên ứng nghĩa Năm 1886, nhóm này bị quân triều đình dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thân truy kích, người bị bắt, kẻ tử trận Trước tình cảnh đó, tháng 2 cùng năm, Nguyễn Thuật dâng sớ trình bày nỗi oan của Nguyễn Tạo, rằng: “Một nhà bị nạn, tại chức cũng không yên tâm, xin nộp giả quan hàm, chỉ giữ nguyên chân xuất thân (Phó bảng) theo bộ, viện phái đi làm việc, để chuộc tội cho anh và em (Tạo là anh Thuật, Tiến, Quýnh đều là em Thuật)

33

Nguyễn Hữu Độ (1813-1888) tự Hi Bùi, hiệu Tông Khê, là một đại thần đời vua Đồng Khánh, từng giữ chức Kinh lược Bắc kỳ, Tổng đốc Hà-Ninh Ông quê xã Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

34

Hàm Nghi (1872 – 1943): là vị vua thứ 8 của nhà Nguyễn Năm 1884, ông được phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi khi mới 13 tuổi Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, ông phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp Cuộc khởi nghĩa Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì ông bị bắt Sau đó, Pháp đưa ông đi an trí ở thủ đô Alger của Algérie, ông bị bệnh và mất ở đây vào năm 1943

Trang 39

34

Sau khi nghe Đình thần tâu rõ sự tình, Vua chuẩn cho tha đối với Tạo, Tiến

và Quýnh, còn việc nộp trả quan hàm của Nguyễn Thuật thì vua không đồng ý vì

“xét trong thể lệ không hợp lẽ” [46, 9, tr.242-243]

Về sự kiện này, Đại Nam thực lục chép khá chi tiết:

“Trước đây, nguyên Giáo thụ Quảng Nam là Nguyễn Tạo (người xã

Hà Lam, là Sơn phòng sứ phải giáng xuống hàm ấy) và em viên ấy là Tiến, bị quan Pháp ngờ bắt (em Tạo là cử nhân Nguyễn Quýnh nhận chức bang tá của giặc Hội, rồi sợ tội trốn biệt Tiến nhân thấy giặc Hội đốt, giết dân giáo, mới cùng người nhà tới chỗ ấy xem, bị người tố giác, cho nên quan Pháp bắt Tiến, bắt cả Tạo), giao cho tỉnh xét xử, đem Tiến phải tội lưu, Tạo phải tội đồ Đã được viện Cơ mật bàn với viên khâm sứ y án, đều do bộ Hình bắt giam, Thượng thư bộ Hộ là Nguyễn Thuật dâng sớ trình bày nỗi oan của Tạo và nói:

1 nhà bị nạn, tại chức cũng không yên tâm, xin nộp giả quan hàm, chỉ giữ nguyên chân xuất thân (phó bảng) theo bộ, viện phái đi làm việc, để chuộc tội cho anh và em (Tạo là anh Thuật, Tiến, Quýnh đều là em Thuật) Vua chuẩn cho đình thần xét lại phúc tâu Đình thần tâu: Cứ tập tâu của Thuật trình bày

và tờ tư trước ở tỉnh Quảng Nam, thì Quýnh, Tiến là bị chúng ức hiếp bắt đi, Tạo là già yếu, răn cấm không được, tình cũng đáng tha Xin ban ân chuẩn cho Tạo và Tiến theo quan Khâm sai Phan Liêm để làm việc chuộc tội, còn như việc Thuật xin nộp trả quan hàm chuộc tội thay, xét trong thể lệ không hợp lẽ, xin không phải bàn Vua y cho” [46, 9, tr.248]

Sau sự kiện trên, sự nghiệp chính trị của ông lại có thay đổi mới vào tháng 4, ông đang là Thượng thư bộ Hộ, được “vua sung làm lưu Kinh đại thần, kiêm

Chưởng bộ Lại” [46, 9, tr.258]

Tháng 2 năm Đinh Hợi niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 2 (1887), ông từ Thượng thư bộ Hộ đổi làm Thượng thư bộ Lại, đồng thời kiêm thêm công việc bên Quốc sử quán với chức Phó tổng tài [46, 9, tr.312-313] Tháng 8 cùng năm, ông được sung thêm chức vụ mới làm Tuyên uý xử trí đại thần ở Tả trực kỳ [46, 9, tr.359] Sau khi nhậm chức, ông về Quảng Nam lo thu xếp tình hình sau cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo Tại đây, ông đã dùng lời lẽ biện hộ cho một số thân sĩ tham gia nghĩa hội của xứ này, giúp cho nhiều người thoát tội chết Đến tháng 9, trước tình cảnh khó khăn của dân chúng, ông đã dâng sớ xin miễn thuế cho dân Quảng Nam, lời sớ có đoạn viết:

“Dân hạt Quảng Nam hiện nay điêu háo, tình hình quá lắm, xin từ Hàm Nghi năm đầu, các thuế lệ đinh điền và biệt nạp, (trừ các thuế thuốc phiện, tổ chim yến, mỏ than và rượu, chiểu giá trưng thu ra), còn thiếu bao nhiêu hết thảy cho miễn cả”

Trang 40

35

Sau khi xem xét, vua xuống Dụ rằng:

“Hạt ấy vốn là đất xấu, dân nghèo , vậy thuế lệ năm ngoái, năm trước

và năm nay ở hạt ấy, đều gia ơn cho tha hết, để tỏ lòng kính theo tổ tiên, yêu dân trước sau không khác của trẫm đối với tai mắt của dân ta Nguyễn Thuật, ngươi là người ở đó, nên khéo thể theo ân ý, hội cùng với quan tỉnh ấy, xử trí thế nào, khiến cho kẻ lưu tán sớm được trở về, chỗ thấp chỗ cao lại được san sửa, để cứu dân phương ấy, trẫm vẫn hằng ngày chờ mong” [46, 9, tr.364-

365]

Tháng 10, Công-tăng sang làm Chánh toàn quyền đại thần ở Gia Định, cai quản cả Nam lẫn Bắc Kỳ, đổi cho Toàn quyền Bi-u về nước Vua bèn sai Nguyễn Thuật cùng đoàn đem các vật phẩm, theo đường thuỷ vào Gia Định thăm hỏi và trao

tặng [46, 9, tr.366]

Trở về sau chuyến đi Gia Định, triều đình cho đặt chức Phó đề đốc ở Kinh thành, đồng thời cho ông với tư cách là Thương đốc nha Hộ thành (Phó vệ uý) sung vào vị trí ấy [46, 9, tr.367]

Tháng 2 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3 (1888), ông trở lại làm việc ở vị trí cũ như trước khi đi sứ nhà Thanh [46, 9, tr.397] Nhằm tiện lợi cho dân chúng trong nhiều việc, ông đã quyết định cho sắp xếp lại 14 đơn vị xã, thôn của

Tuy nhiên, khi được gia thêm phẩm trật, ông đã dâng sớ xin vua thu lại thánh lệnh, vì cho rằng mình chưa xứng đáng Vua khen ông khiêm tốn, nên tạm rút lại quyết định để chờ khi nào thích hợp hơn sẽ trao cho Khi về làm Tổng đốc Thanh Hoá, tới hạn thu thuế đinh, điền, sản vật các năm trước cho tỉnh, ông đã dâng tập tâu rằng:

“Hạt ấy nhiều lần bị giặc quấy nhiễu, nhân dân hao tán; từ Đồng Khánh năm thứ 2 trở về trước đến Tự Đức năm thứ 36, phàm thuế chính cung

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Đình An, Thạch Phương (2010), Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Đình An, Thạch Phương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2010
11. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
12. Trần Văn Chánh (2000), Tự điển Hán Việt, Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điển Hán Việt
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb Trẻ Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
13. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
14. Cao Xuân Dục (2001), Quốc triều khoa bảng lục, Nxb Văn học, Hà Nội 15. Cao Xuân Dục (2011), Quốc triều hương khoa lục, Nxb Lao động – Trungtâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều khoa bảng lục", Nxb Văn học, Hà Nội 15. Cao Xuân Dục (2011), "Quốc triều hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục (2001), Quốc triều khoa bảng lục, Nxb Văn học, Hà Nội 15. Cao Xuân Dục
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
16. Đinh Thị Dung (2001), Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19
Tác giả: Đinh Thị Dung
Năm: 2001
17. Phan Đăng (1996), Thơ văn Tự Đức, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Tự Đức
Tác giả: Phan Đăng
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1996
18. Kim Định (1965), Cửa Khổng, Nxb Ra Khơi, không để nơi xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cửa Khổng
Tác giả: Kim Định
Nhà XB: Nxb Ra Khơi
Năm: 1965
19. Kim Định (1967), Chữ Thời, Nxb Thanh Bình, không để nơi xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Thời
Tác giả: Kim Định
Nhà XB: Nxb Thanh Bình
Năm: 1967
20. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giáo Dục, 1998 21. Nhiều tác giả (2014), Phạm Phú Thứ toàn tập, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí, "Nxb Giáo Dục, 1998 21. Nhiều tác giả (2014), "Phạm Phú Thứ toàn tập
Tác giả: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giáo Dục, 1998 21. Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2014
22. Trần Văn Giáp (1962), Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1962
23. Trần Văn Giàu (1993), Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
24. Dương Quảng Hàm (1996), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
25. Dương Quảng Hàm (2001), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
26. Phạm Thị Hảo (2008), Khái niệm và thuật ngữ Lý luận văn học Trung Quốc, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm và thuật ngữ Lý luận văn học Trung Quốc
Tác giả: Phạm Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
27. Lưu Hiệp (2007), Văn tâm điêu long, Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo dịch Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long", Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo "dịch
Tác giả: Lưu Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
28. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
29. Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Trung tâm học liệu Sài Gòn tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Năm: 1971
30. Trần Trọng Kim (2003), Đường thi, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường thi
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
31. Trần Trọng Kim (1971), Nho giáo, Tân Việt xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Năm: 1971

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w