1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kịch bản văn học trong sự phát triển của sân khấu kịch nói đương đại ở thành phố hồ chí minh

251 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 45,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự phát triển chung của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ tác giả kịch bản văn học có nhiều chuyển biến theo hướng đông đảo về số lượng, đa dạng, gắn bó chặt chẽ v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LƯU TRUNG THỦY

KỊCH BẢN VĂN HỌC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SÂN KHẤU KỊCH NÓI

ĐƯƠNG ĐẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác./

NGƯỜI VIẾT

Lưu Trung Thủy

Trang 3

Trong quá trình thực hiện luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Kịch bản văn học trong sự phát triển của sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình của Hội Sân khấu Thành phố

Hồ Chí Minh; Chi hội tác giả kịch bản thuộc Hội sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Văn hóa-Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cùng một số đạo diễn sân khấu và tác giả kịch bản Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự hỗ trợ đó

Tôi bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương, người thầy đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận án Tôi chân thành cảm ơn thầy cô Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Văn học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã góp ý để tôi hoàn thiện luận án này

Tôi chân thành cảm ơn lãnh đạo, đồng nghiệp của tôi tại Ban Công tác Sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và gia đình đã động viên, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án./

Trang 4

i Lời cam đoan

ii Lời cảm ơn

iii Mục lục

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn vấn đề 4

2.1 Đối tượng nghiên cứu 4

2.2 Giới hạn vấn đề 4

3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 7

3.1 Cơ sở lý thuyết 7

3.2 Phương pháp nghiên cứu 8

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 9

5 Những đóng góp mới của luận án 9

6 Cấu trúc của luận án 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KỊCH NÓI ĐƯƠNG ĐẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 12

1.1 Các công trình, chuyên luận, bài viết về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh 12

1.2 Những vấn đề đã nghiên cứu, bàn luận về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh 17

1.2.1 Nguyên nhân làm nên sự khởi sắc của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh 17

1.2.2 Những thành tựu của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh 25

1.2.3 Những hạn chế của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh 27

1.2.4 Giải pháp khắc phục những hạn chế 31

Tiểu kết 34

CHƯƠNG 2: THỂ LOẠI KỊCH NÓI VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35

2.1 Một số vấn đề về kịch nói và văn học kịch 35

2.2 Tiến trình hình thành và phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh 42

2.2.1 Kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh từ khi hình thành đến năm 1975 42

2.2.2 Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến 1985 50

2.2.3 Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến nay 55

Tiểu kết 65

CHƯƠNG 3: XUNG ĐỘT TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67

3.1 Xung đột kịch 67

3.1.1 Phản ánh xung đột là đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của kịch 67

3.1.2 Mối quan hệ giữa xung đột và các thành phần của kịch 72

Trang 5

3.2.2 Nội dung xung đột theo đề tài 81

3.2.3 Giải quyết xung đột 95

3.2.3 Loại xung đột 98

Tiểu kết 101

CHƯƠNG 4: CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ NGÔN NGỮ TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 104

4.1 Xu hướng nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh 104

4.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu 112

4.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 131

4.4 Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ 140

4.4.1 Ngôn ngữ đối thoại 141

4.4.2 Ngôn ngữ độc thoại và bàng thoại 147

Tiểu kết 151

KẾT LUẬN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN PHỤ LỤC 1: TÁC GIẢ, TÁC PHẨM LUẬN ÁN KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2: DANH MỤC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM KỊCH NÓI ĐƯƠNG ĐẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÀI LIỆU PHIÊN HỌP BẢO VỆ, ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN CẤP TRƯỜNG

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Theo bước chân của người Pháp, kịch nói xuất hiện tại Sài Gòn vào nửa cuối thế kỷ XIX Con đường phát triển của kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh trải qua nhiều thăng trầm trước khi thể loại này giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn học-nghệ thuật của thành phố

Là thể loại du nhập và tiếp thu từ Phương Tây, đặt trong bối cảnh phát triển của văn học cũng như sân khấu Việt Nam, kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố

Hồ Chí Minh có một quá trình phát triển khá đặc biệt Sự đặc biệt ấy thể hiện ở chỗ mặc dù được tiếp nhận từ cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX nhưng trong hơn nửa thế kỷ, kịch nói không phải là loại hình nghệ thuật sân khấu chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn học-nghệ thuật của thành phố Dù nỗ lực thế nào, kịch vẫn xếp sau cải lương - thể loại kịch hát mới của Nam Bộ Đến thập niên cuối của thế kỷ XX, với việc chuyển đổi phương thức tổ chức hoạt động biểu diễn theo hướng xã hội hóa, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước chuyển mình mạnh mẽ trong bối cảnh sân khấu kịch nói của cả nước vẫn đang khó khăn trong việc thu hút khán giả Sự chuyển mình ấy tạo nên một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh Từ địa phương được xem là trung tâm của sân khấu cải lương, Thành phố

Hồ Chí Minh trở thành một trong những trung tâm sôi động của kịch nói Việt Nam

Hơn 20 năm kể từ khi chính thức chuyển đổi sang phương thức hoạt động mới gắn với sự kiện Nhà hát kịch sân khấu nhỏ và Nhà hát kịch Idecaf được thành lập vào năm 1997 và năm 1998, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu quan trọng với những tác phẩm gây tiếng vang, thu hút một lượng đông đảo khán giả thường xuyên đến với sân khấu Đến cuối

Trang 7

năm 2015, toàn thành phố có 11 sân khấu kịch nói chưa kể đến loại hình sân khấu cà phê kịch và sân khấu tạp kỹ, gồm: Nhà hát kịch sân khấu nhỏ, Sân khấu kịch Idecaf, Sân khấu kịch Hồng Vân, Sân khấu kịch Sài Gòn, Sân khấu kịch Thế giới trẻ, Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh, Sân khấu kịch Nụ cười mới, Sân khấu kịch Tâm Ngọc, Sân khấu kịch Trịnh Kim Chi, Sân khấu Hồng Hạc và Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh Các suất diễn tại các sân khấu trên diễn

ra đều đặn trong tuần Hàng năm, mỗi sân khấu dựng từ ba đến bốn tác phẩm mới Trung bình toàn thành phố có khoảng 40 tác phẩm kịch nói được dựng mỗi năm trên các sân khấu

Trong sự phát triển chung của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ tác giả kịch bản văn học có nhiều chuyển biến theo hướng đông đảo về số lượng, đa dạng, gắn bó chặt chẽ với sân khấu kịch và những yêu cầu mang tính chất kinh doanh của các sân khấu

Kể từ khi sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh chuyển hướng, đổi mới phương thức hoạt động và duy trì sự phát triển ổn định cho đến hôm nay, chưa có nhiều công trình đánh giá về kịch bản văn học cũng như sân khấu kịch nói ở thành phố Nhìn lại chặng đường phát triển vừa qua, sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh tuy thu được nhiều thành công nhưng còn tồn tại những vấn đề mà nếu không kịp thời khắc phục, chấn chỉnh thì sẽ dễ dẫn đến nguy cơ khán giả lạnh nhạt và xa rời kịch nói, như: mục tiêu thương mại lấn át mục tiêu thẩm mỹ; nội dung, chất lượng nghệ thuật của kịch bản văn học chưa cao; chưa

có nhiều tác phẩm mang tính thời sự, chính luận tiêu biểu phản ánh và đề xuất hướng giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của thành phố, đất nước hiện nay; tính chất chuyên nghiệp của công tác tổ chức biểu diễn và đội ngũ diễn viên; sự thiếu thốn về cơ sở vật chất Điều này càng đặt ra nhu cầu về việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua Trong quá trình sáng tạo tác phẩm sân khấu kịch nói, kịch bản văn học là một thành phần tạo nên vở diễn Nhưng đó là thành phần quan trọng, là yếu tố cần cho một tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao Một kịch bản văn

Trang 8

học chất lượng thấp thì dù đạo diễn, diễn viên và các thành phần liên quan có gắng sức thế nào cũng khó có thể tạo nên một vở diễn hay được Đứng ở góc độ văn học, kịch là một thể loại của văn học Kịch bản văn học vừa thuộc lĩnh vực sân khấu kịch nói vừa thuộc lĩnh vực văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo Và vì kịch bản văn học đứng ở ranh giới giữa hai ngành nghệ thuật nên ở nước ta, không biết từ bao giờ, điều này đã tạo

ra một số bất cập Người viết kịch bản văn học chưa hẳn được xem là nhà văn Còn phía sân khấu kịch nói tuy rất cần họ với tư cách người sáng tạo nên thành phần đầu tiên và quan trọng của tác phẩm sân khấu nhưng dường như vẫn xếp họ sau vị trí và vai trò của đạo diễn và diễn viên Đối với nghiên cứu, phê bình văn học Thành phố Hồ Chí Minh, suốt thời gian qua, trước những thăng trầm của văn học kịch, sân khấu kịch, những công trình nghiên cứu, phê bình về văn học kịch và kịch bản văn học còn hết sức khiêm tốn Chúng tôi nhận thức rằng, để nghiên cứu kịch bản văn học với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của văn học thì người nghiên cứu sẽ gặp phải những khó khăn nhất định trong đánh giá, nhìn nhận đối tượng, cũng như công chúng của nó so với các thể loại khác của văn học Tuy nhiên đã đến lúc giới nghiên cứu, phê bình văn học Thành phố Hồ Chí Minh không thể dè dặt trước văn học kịch thành phố Nhất là khi sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đang có chiều hướng rơi vào tình trạng khó khăn về khán giả và nguyên nhân đầu tiên được nhiều người nêu lên là chất lượng của kịch bản văn học

Từ nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài “Kịch bản văn học trong sự phát triển của sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh” cho luận án

tiến sĩ của mình, với mong muốn khảo sát, đánh giá về kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh trong hơn 20 năm qua trên phương diện nội dung lẫn nghệ thuật, từ đó chỉ ra những đóng góp, hạn chế của kịch bản văn học, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất một số giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kịch bản văn học ở thành phố

Trang 9

2 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn vấn đề

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là: kịch bản văn học của tác giả sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đã được dàn dựng trên sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Giới hạn vấn đề

2.2.1 Kịch bản văn học sử dụng khảo sát trong luận án

Kịch bản văn học là một thể loại có hai đời sống Ở góc độ văn học, kịch bản văn học tồn tại với đầy đủ phẩm chất của một tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật ngôn từ Ở góc độ sân khấu kịch nói, một tác phẩm sân khấu đến với khán giả là sự cấu thành của nhiều thành phần mà kịch bản văn học là thành phần đầu tiên, quan trọng Luận án này là một luận án chuyên ngành văn học, do vậy kịch bản văn học được khảo sát với tư cách là một thể loại của văn học

Kể từ khi sân khấu kịch nói ở thành phố thoát khỏi khủng hoảng về khán giả và có được sự phát triển mạnh mẽ, số lượng kịch bản văn học được sử dụng tại các sân khấu khá nhiều Tác giả kịch bản cộng tác với sân khấu kịch nói không chỉ đến từ Thành phố Hồ Chí Minh mà còn đến từ các địa phương khác Tuy nhiên, để có một cái nhìn khách quan về đặc điểm kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh đặt trong bối cảnh so sánh với các trung tâm kịch nói khác của cả nước với những đặc điểm chung của kịch nói Việt Nam và đặc điểm riêng biệt mang tính chất địa phương nên chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát kịch bản văn học của tác giả sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Do khuôn khổ của luận án có hạn, kịch bản văn học của các tác giả sinh sống ở địa phương khác chúng tôi không khảo sát trong luận án này

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian qua, văn học kịch và công chúng của văn học kịch gắn liền với các sân khấu kịch của thành phố Bên cạnh những kịch bản được dàn dựng thành tác phẩm sân khấu, số lượng kịch bản được dàn dựng trên truyền hình hoặc chưa được dàn dựng khá lớn Do khả năng của cá nhân có

Trang 10

hạn nên chúng tôi sẽ không tiến hành khảo sát các kịch bản văn học được dàn dựng trên truyền hình hoặc chưa được khán giả sân khấu tiếp nhận

Công chúng của văn học kịch ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua chủ yếu là công chúng “xem kịch” chứ không phải là công chúng “đọc kịch” Điều này xuất phát từ cả hai phía: tác giả kịch bản và công chúng Trong hơn 20 năm qua, số lượng kịch bản văn học in thành sách của các tác giả kịch bản không nhiều Đa phần các tác giả kịch bản thành phố không công bố tác phẩm của mình bằng các hình thức mà các nhà văn thường làm như qua báo chí hoặc xuất bản tác phẩm, do vậy con đường để kịch bản văn học đến với công chúng và nhận sự phản hồi của công chúng chủ yếu là qua tác phẩm sân khấu Từ đó, nếu không đặt văn học kịch thành phố trong mối quan hệ khăng khít với nghệ thuật sân khấu kịch nói thì sẽ khó giải thích được nhiều vấn đề Bên cạnh đó, có thể khẳng định chính sự phát triển và hoạt động mạnh mẽ của sân khấu kịch nói Thành phố

Hồ Chí Minh là động lực cho văn học kịch của thành phố phát triển về số lượng tác giả và kịch bản văn học đồng thời tác động không nhỏ đến xu hướng sáng tác kịch bản văn học Trong luận án này, chúng tôi chọn những kịch bản văn học đã được dựng trên sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút sự quan tâm của khán giả thành phố, qua đó chỉ ra xu hướng sáng tác của các tác giả, xu hướng lựa chọn kịch bản của các sân khấu và thói quen tiếp nhận, thị hiếu thẩm

mỹ của khán giả cũng như sự tác động qua lại giữa sân khấu kịch nói và văn học kịch Chúng tôi cũng nhận thức rằng giữa tác phẩm sân khấu và kịch bản văn học

có thể có một độ chênh nhất định về nội dung và cả chủ đề-tư tưởng Thực tế, kịch bản văn học và tác phẩm sân khấu của cùng một tác giả kịch bản có thể là hai tác phẩm khác nhau

Cuối cùng, trong hơn 20 năm qua, kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh không được các tác giả công bố nhiều qua báo chí hoặc in thành sách Bên cạnh đó, kịch bản văn học gắn liền với hoạt động kinh doanh của các sân khấu Nên khi thực hiện luận án này chúng tôi gặp khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu do nhiều tác giả, sân khấu kịch nói, thậm chí cả cơ quan quản

Trang 11

lý về sân khấu thành phố từ chối việc cho phép chúng tôi tham khảo văn bản tác phẩm vì e ngại vấn đề liên quan đến bản quyền giữa tác giả kịch bản với các sân khấu kịch nói Với mong muốn đóng góp cho kịch nói thành phố, chúng tôi đã

nỗ lực tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ nhiều nguồn như: kịch bản văn học in thành sách trong tuyển tập tác phẩm của các tác giả kịch bản, kịch bản văn học

do một số tác giả kịch bản cung cấp, kịch bản văn học lưu trữ tại Thư viện Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh và gián tiếp qua các công trình nghiên cứu cũng như các bài phê bình, giới thiệu tác phẩm trên báo chí Cho nên để đảm bảo tính khách quan và trung thực trong nhận định, đánh giá, chúng tôi chỉ khảo sát, phân tích, trích dẫn những kịch bản văn học mà chúng tôi được tiếp cận văn bản hoặc thông tin liên quan Các kịch bản văn học

mà luận án khảo sát được thể hiện trong danh mục tham khảo Các kịch bản văn học trong danh mục tham khảo này là các kịch bản được dàn dựng thành tác phẩm sân khấu kịch nói, thu hút quan tâm của công chúng trong hơn 20 năm qua

ở Thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, thu thập thông tin liên quan để tiến hành khảo sát Những kịch bản văn học còn lại chúng tôi sẽ đề cập đến trong những công trình khác khi đã được tham khảo văn bản

2.2.2 Khái niệm đương đại

Chúng tôi nhận thức rằng, dấu mốc cho sự chuyển mình của sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh được bắt đầu với sự kiện Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ được thành lập theo Quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997 và Sân khấu kịch Idecaf được thành lập vào năm 1998 Trên

cơ sở đó, phương thức xã hội hóa sân khấu chính thức được khẳng định, tạo nên

sự khởi sắc và phát triển của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày hôm nay Tuy nhiên, thời điểm hình thành của xu hướng này phải tính

từ khi Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm được thành lập và hoạt động vào năm

1984, đặc biệt là những tác phẩm gây tiếng vang, thu hút khán giả và đạt thành công vang dội tại các Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Sự chuyển đổi về mô hình hoạt động của sân khấu kịch nói ở

Trang 12

Thành phố Hồ Chí Minh từ mô hình đầu tư của nhà nước sang đầu tư của tư nhân, hoạt động sân khấu gắn với thị trường ảnh hưởng mạnh đến tác giả kịch bản, xu hướng sáng tác kịch bản văn học, tạo nên những điểm khác biệt so với thời gian trước Bên cạnh đó, khoảng thời gian sau năm 1986 đến nay cũng gắn liền với những thay đổi của văn học-nghệ thuật Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trong đó có kịch nói, mà trước hết là ở góc độ nội dung phản ánh Chính vì vậy, khái niệm kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh hay sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh được sử dụng trong luận án này nhằm chỉ kịch bản văn học hay sân khấu kịch nói thành phố trong thời gian từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay

3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

xã hội nhất định; bất kỳ một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ của những vấn đề cuộc sống, bất kỳ một người nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường sống nhất định Phản ánh hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn chương Hiện thực của nghệ thuật không phải là sự sao chép, chụp lại những hiện tượng, sự kiện lịch sử, xã hội cụ thể mà đó là hiện thực của thế giới tinh thần, tình cảm, tâm lý của con người xã hội Tác phẩm nghệ thuật là cách nhìn, cách đánh giá của người nghệ sĩ về hiện thực cuộc sống Lý thuyết này được chúng tôi vận dụng trong toàn luận án của mình

để có một cách đánh giá khoa học về tác giả, tác phẩm, công chúng

- Thứ hai là những lý thuyết mang tính chất nền tảng về bản chất thẩm mỹ của kịch nói mà Aristotle là người mở đầu vĩ đại, được bồi đắp bởi những nhà văn, nhà lý luận như Lessing, Hegel, Fretag… Những lý thuyết này

Trang 13

được chúng tôi tiếp thu và vận dụng trong toàn luận án, làm nền tảng lý luận về kịch nói và để diễn giải, phân tích các khái niệm liên quan đến văn học kịch, kịch bản văn học

- Thứ ba là những lý thuyết kịch nói Phương Tây và kịch Nga hiện đại như: Kịch hiện thực, Kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa, Kịch hiện thực tâm lý, Kịch tượng trưng, Kịch biểu tượng, Kịch tự sự hay Kịch sử thi (Epic drama), Kịch phi lý Các lý thuyết này được chúng tôi vận dụng để định

vị cho sự phát triển về mặt nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như làm cơ sở để phân tích các kịch bản văn học mà tác giả có sự tiếp thu và vận dụng vào việc xây dựng kịch bản

- Thứ tư là lý thuyết về thi pháp văn học và thi pháp kịch nói Chúng tôi vận dụng lý thuyết này để phân tích các đặc điểm trong nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh như: cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ

- Cuối cùng là lý thuyết về văn hóa, trong đó chúng tôi vận dụng lý thuyết

về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, lý thuyết về văn hóa vùng, lý thuyết về văn hóa đại chúng để lý giải một số vấn đề của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh như: xu hướng sáng tác, xu hướng tiếp nhận, thói quen tiếp nhận, thị hiếu thẩm mỹ của khán giả

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng ba phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp lịch sử, xã hội: tìm hiểu kịch bản văn học ở Thành phố Hồ

Chí Minh trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng Nam Bộ thời hiện đại

Phương pháp phân tích, tổng hợp: được chúng tôi sử dụng xuyên suốt

trong luận án của mình nhằm chỉ ra những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng cách tiếp cận của thi pháp học thể loại

để phân tích một số đặc điểm nghệ thuật của kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án “Kịch bản văn học trong sự phát triển của sân khấu kịch nói

đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh” mang những ý nghĩa sau:

Về ý nghĩa khoa học: nghiên cứu kịch bản văn học trong mối quan hệ giữa

nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật sân khấu; xem xét kịch bản văn học như một nhân tố quan trọng của tiến trình nghệ thuật kịch nói đương đại, có tác động tích cực đến sự phát triển của tiến trình đó

Về ý nghĩa thực tiễn: phân tích, đánh giá về kịch bản văn học từ góc độ nội

dung và nghệ thuật đặt trong bối cảnh phát triển của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 năm qua; qua đó bước đầu tổng kết văn học kịch của thành phố, đồng thời làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến kịch bản văn học, tác giả kịch bản văn học và công chúng của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất những giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần vào sự phát triển của kịch nói thành phố thời gian tới

5 Những đóng góp mới của luận án

Tác phẩm kịch nói khi đến với công chúng là sản phẩm của nghệ thuật tổng hợp, các khâu trong quá trình sáng tạo đấy có sự tác động qua lại với nhau Ngoài ra, kịch bản văn học cũng như các tác giả kịch bản văn học còn chịu sự tác động của các nhân tố như: nhu cầu sử dụng kịch bản của các sân khấu kịch, thói quen tiếp nhận, thị hiếu thẩm mỹ của khán giả Cho nên, kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh cần phải được đánh giá đặt trong sự tác động của nhiều nhân tố chi phối Luận án tiến sĩ của chúng tôi cố gắng đóng góp vào quá trình nghiên cứu kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh ở ba phương diện sau:

Trang 15

- Thứ nhất, khái quát tiến trình hình thành và phát triển của kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, để làm rõ:

 Tính chất phát triển liên tục, không ngắt quãng của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

 Sự nối tiếp, kế thừa truyền thống của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Thứ hai, khảo sát nội dung và nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ:

 Phạm vi hiện thực và nội dung hiện thực mà kịch bản văn học quan tâm phản ánh Ở đây chúng tôi phân tích và chỉ ra các đặc điểm về

đề tài, nội dung xung đột kịch, giải quyết xung đột và loại xung đột kịch

 Xác định đặc điểm nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học, qua đó định vị sự phát triển của nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học thành phố trong tiến trình phát triển chung của kịch nói Việt Nam và thế giới Ở đây chúng tôi phân tích và chỉ ra đặc điểm nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học ở ba thành phần: xây dựng cốt truyện và kết cấu, xây dựng nhân vật, xây dựng ngôn từ

- Thứ ba, trong quá trình phân tích nội dung và nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học, chúng tôi cố gắng chỉ ra xu hướng sáng tác của các tác giả và

cả xu hướng sử dụng kịch bản của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh; sự tác động của hoạt động sân khấu kịch nói và khán giả đối với xu hướng sáng tác của kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Thứ tư, trên cơ sở chỉ ra những đặc điểm của kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặt trong sự tác động, ảnh hưởng của nhiều nhân tố, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kịch bản văn học, góp phần cho sự phát triển của văn học kịch và sân khấu kịch nói

ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới

Trang 16

6 Cấu trúc của luận án

Bên cạnh phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án có các chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, luận án điểm qua các công trình,

chuyên luận, bài viết về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh; khái quát những vấn đề đã nghiên cứu, đánh giá, bàn luận về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2: Thể loại kịch nói và tiến trình hình thành, phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, luận án trình bày một

số vấn đề lý luận liên quan đến kịch nói và văn học kịch; khái quát tiến trình hình thành và phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Xung đột trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, luận án trình bày một số vấn đề lý luận liên quan đến

xung đột kịch; trình bày đặc điểm xung đột trong kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh ở góc độ phạm vi hiện thực phản ánh, nội dung xung đột theo đề tài, giải quyết xung đột và loại xung đột

Chương 4: Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, luận án trình bày đặc điểm xây

dựng kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh ở góc độ xây dựng cốt truyện và kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ

Ngoài ra, luận án còn có 2 phụ lục về tác giả, tác phẩm mà luận án khảo sát và tác giả, tác phẩm kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KỊCH NÓI

ĐƯƠNG ĐẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hơn 20 năm qua, văn học kịch Thành phố Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với sân khấu kịch nói thành phố Do đó, việc tách riêng những nghiên cứu, đánh giá về văn học kịch cũng như kịch bản văn học để trình bày có thể dẫn đến việc

bỏ sót những kết quả nghiên cứu, đánh giá về hoạt động sân khấu kịch nói qua

đó cho thấy tác động cũng như góp phần lý giải những vấn đề liên quan đến văn học kịch và kịch bản văn học ở thành phố Bên cạnh đó, việc tách biệt như thế cũng không phù hợp với thực tế nghiên cứu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, trong chương này, chúng tôi điểm qua các công trình, chuyên luận, bài viết về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời khái quát một số đánh giá về kịch nói đương đại ở thành phố, trong đó có kịch bản văn học

1.1 Các công trình, chuyên luận, bài viết về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian qua, công tác nghiên cứu về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và kịch bản văn học ở thành phố nói riêng được đề cập một cách hết sức khái quát trong những công trình nghiên cứu hoặc qua một số bài nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo Một số công trình, bài viết đề cập đến kịch bản văn học và sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đáng lưu ý như sau:

Cuốn Sân khấu và tôi (Nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội, 1999) của nhà

nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Thái Đây là cuốn sách tập hợp các bài phê bình được đăng trên các tạp chí văn nghệ, chuyên mục văn nghệ trên các báo Một số

bài viết tiêu biểu của Nguyễn Thị Minh Thái trong cuốn Sân khấu và tôi đề cập

và phân tích về sân khấu kịch và kịch bản văn học ở thành phố như: Sân khấu nhỏ hy vọng lớn; Một cơ hội tốt cho sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, Xã hội

Trang 18

hóa sân khấu: thực trạng và giải pháp; Kịch Idecaf điểm sáng xã hội hóa sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh; Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn khán giả, Sân khấu nhỏ - giải pháp khả thi vãn hồi sân khấu 1995 – 2000; Quá hiếm những kịch bản hay cho sân khấu nhỏ… Ngoài ra, sân khấu kịch và kịch

bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh còn được Nguyễn Thị Minh Thái đề cập trong một số bài phê bình các vở diễn Nhìn chung, các bài viết về kịch nói ở

Thành phố Hồ Chí Minh trong hơn 600 trang của Sân khấu và tôi đã cung cấp

một nguồn tư liệu ghi nhận, phản ánh, nhận định sắc sảo về sân khấu kịch và kịch bản văn học ở thành phố trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 1999

Trong Sân khấu và tôi, Nguyễn Thị Minh Thái đã chỉ ra xu hướng đi vào các nội

dung mang tính chất cá nhân của kịch bản văn học ở thành phố Tác giả cũng nhìn thấy bên cạnh những thành công của sân khấu kịch xã hội hóa ở Thành phố

Hồ Chí Minh thì vẫn còn những trở lực mà trước hết là chất lượng nghệ thuật của kịch bản văn học

Tiếp theo là công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX: Những vấn đề lịch sử

và lý luận, do Phan Cự Đệ chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2004)

Công trình dành hẳn một phần, do Phan Trọng Thưởng phụ trách, để mô tả, nhận định và đánh giá tiến trình phát triển của kịch nói Việt Nam cho đến cuối thế kỷ

XX Chương IV với nhan đề Tổng quan tiến trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX (Những vấn đề lý luận và lịch sử), tác giả tập trung mô tả và đánh

giá kịch nói Việt Nam cuối thế kỷ XX, trong đó tập trung vào kịch nói ở miền Bắc mà trung tâm là Hà Nội Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh được nhắc đến trong nội dung viết về 5 vở kịch của các đoàn kịch Hà Nội diễn tại thành phố trong Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985 và xem đó là một nguồn sinh khí mới để kịch nói tồn tại và phát triển tại Nam Bộ - lãnh địa của cải lương Trong phần đề cập đến kịch nói Việt Nam từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra xu hướng chung trong nội dung sáng tác kịch bản văn học thời gian này

Trang 19

Cuốn Kịch Việt Nam: thưởng thức và bình luận của Trần Trọng Đăng Đàn

(Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011) tập hợp

những bài viết chuyên về kịch nói của tác giả đã in trong Nghệ thuật sân khấu Việt Nam (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, năm 2004) Nội dung cuốn sách gồm

những bài phê bình, bình luận, đánh giá, tổng hợp của Trần Trọng Đăng Đàn về các vấn đề liên quan đến sân khấu kịch nói và cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI như: tác phẩm, đạo diễn, diễn viên, khán giả, kịch bản, các hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc Trong đó, một số bài viết thể hiện nhận định, đánh giá của

Trần Trọng Đăng Đàn về kịch nói ở thành phố đáng lưu ý như: Trên sân khấu hội diễn 1995: Vở diễn, đạo diễn và diễn viên sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1995; Bàn về trách nhiệm lãnh đạo, tổ chức, quản lý đời sống văn hóa sân khấu; Nghệ thuật sân khấu và nhu cầu phản ánh hiện thực cân đối, toàn diện; Góp bàn

về khán giả sân khấu và hiện tượng vắng khách trước quầy bán vé xem kịch; Về vấn đề nâng cao dần sinh hoạt văn hóa-sân khấu lên cấp độ lịch sự, sang trọng; Vắng khách mua trước quầy bán vé chớ không vắng người xem ? Nghệ sĩ sân khấu cần được đối xử công bằng, văn minh; Sân khấu Việt Nam: nghệ thuật thể hiện tư duy, tâm lý, tình cảm của con người

Công trình Kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh: một chặng đường lịch sử

của Nguyễn Văn Thành (Nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội, 2008) gồm 5 chương: chương đầu khái quát về kịch nói trong nền sân khấu Việt Nam; chương hai, ba khái quát về sự xuất hiện và phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975-2000; chương bốn giới thiệu về bốn tác giả kịch bản tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh; chương năm khái quát về công chúng của sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh Với nguồn tư liệu phong phú, có thể nói, cho đến nay, đây là công trình nghiên cứu hệ thống nhất về sự hình thành và phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh trên bình diện nghệ thuật sân khấu Trong phần viết về sự phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian từ năm 1975-2000, bằng phương pháp phân tích-tổng hợp, tác giả công

Trang 20

trình tập trung mô tả những sự kiện nổi bật của kịch nói thành phố thời gian này Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Thành cũng lý giải một số vấn đề liên quan đến thực tiễn phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh như: vì sao kịch nói tại Nam Bộ lại được phổ biến muộn màng trong mối tương quan với kịch nói Bắc

bộ, nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1990 và một số vấn đề lý luận về hình thức sân khấu nhỏ và sự thành công của sân khấu nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh Riêng phần viết về những tác giả tiêu biểu của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thành đã đi sâu phân tích phong cách nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học của Lê Duy Hạnh và Ngọc Linh qua những kịch bản văn học tiêu biểu của hai tác giả này

Tháng 5 năm 2012, Báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học Sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và hướng phát triển Kỷ yếu hội

thảo gồm 10 tham luận của các nhà nghiên cứu sân khấu, đạo diễn, diễn viên, các nhà quản lý sân khấu, nhà báo Các tham luận đã nêu lên một số thực trạng

về hoạt động sân khấu tại Thành phố Hồ Chí Minh ở các khía cạnh như nội dung kịch bản, tổ chức biểu diễn, khán giả và phê bình sân khấu kịch nói đồng thời đề xuất giải pháp phát triển cho kịch nói ở thành phố trong thời gian tới Đề cập đến chất lượng vở diễn chưa cao, một số tham luận đã chỉ ra nguyên nhân xuất phát

từ chất lượng của kịch bản văn học như: nội dung chưa bắt nhịp được với các vấn đề nổi cộm đang đặt ra trong cuộc sống hiện nay, nghệ thuật của một số kịch bản văn học còn lạc hậu, thiếu mạch lạc, hợp lý trong phát triển, giải quyết xung đột, xây dựng tính cách nhân vật

Công trình Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986-2006 do Hoàng Hương, Cao Tự Thanh chủ biên (Phân Viện

Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa-Nghệ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013) đã lý giải về sự vận động và thay đổi của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975 đến

Trang 21

năm 2006 Đề cập đến đổi mới phương thức hoạt động của sân khấu ở Thành phố Hồ Chí Minh, công trình có một luận điểm quan trọng là xã hội hóa sân khấu ở thành phố thực chất là đưa sân khấu về hoạt động theo cơ chế thị trường

Bài viết “Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh một chặng đường nghệ thuật chuyên nghiệp”của Trần Minh Ngọc in trong Văn học, nghệ thuật Việt Nam hôm nay: mấy vấn đề trong sự phát triển do GS.TS Đinh Xuân Dũng chủ biên (Hội

đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, Hà Nội, 2013) đã chỉ ra những vấn đề bản chất của sự phát triển của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay

Nghiên cứu một cách hệ thống về nghệ thuật biên kịch Việt Nam hiện đại

và đương đại đáng lưu ý là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Sự phát triển nghệ thuật biên kịch kịch nói Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, nghiệm thu năm

2004 tại Viện Sân khấu-Điện ảnh (thuộc Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội) do Nguyễn Chiến Thạc làm chủ nhiệm đề tài Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp kịch bản của các tác giả, tác phẩm kịch nói tiêu biểu từ sau Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến năm 2000, công trình khái quát đặc điểm vận động, phát triển của kịch bản văn học ở góc độ nội dung phản ánh, cốt truyện, cấu trúc, tổ chức xung đột, nhân vật, ngôn ngữ đối thoại và phong cách tác giả Các tác giả, tác phẩm được tác giả công trình chọn khảo sát phần lớn đều là các tác giả, tác phẩm kịch nói ở miền Bắc, trong đó chủ yếu là ở Hà Nội Công trình

đã chỉ ra quá trình vận động, phát triển của nghệ thuật biên kịch kịch nói Việt Nam hiện đại cũng như xu hướng biên kịch từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay

Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến văn học kịch và sân khấu kịch nói ở

Thành phố Hồ Chí Minh còn được đề cập rải rác trong một số bài viết trên Tạp chí sân khấu Việt Nam, Báo sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Nghiên cứu văn học hoặc những bài viết đăng chung trong các công trình về văn học-

nghệ thuật, kỷ yếu hội thảo hoặc các bài mang tính chất phê bình, đánh giá, tổng kết trên các báo Tuy nhiên các bài viết đấy hoặc là đề cập đến các tác giả, tác

Trang 22

phẩm cụ thể hoặc nội dung và nhận định trùng với các công trình chúng tôi đã dẫn ra ở trên nhưng về tính hệ thống và phân tích, lý giải, đánh giá thì không bằng cho nên chúng tôi không dẫn ra ở đây Chúng tôi sẽ trích dẫn ở những nội dung cụ thể của luận án

1.2 Những vấn đề đã nghiên cứu, bàn luận về kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh

Nhìn chung, trong các công trình nêu trên, sân khấu kịch, văn học kịch và kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh được nghiên cứu, đánh giá ở những nội dung chủ yếu sau:

1.2.1 Nguyên nhân làm nên sự khởi sắc của sân khấu kịch nói ở Thành phố

Hồ Chí Minh

Lý giải về thành công của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Văn Thành trong

tham luận Tìm hiểu những nhân tố làm nên sự bứt phá của kịch nói Thành phố

Hồ Chí Minh (trang 15-21) tại Hội thảo khoa học Sân khấu kịch nói Thành phố

Hồ Chí Minh – thực trạng và hướng phát triển tổ chức tháng 5 năm 2012 chỉ ra

7 nhân tố là:

- Thu hút được một đội ngũ nghệ sĩ có tài, có học, có nghề và có tâm huyết

từ ba miền đất nước quy tụ về và lại không ngừng bổ sung và trẻ hóa theo thời gian

- Xây dựng được một chương trình kịch mục đa dạng, bao quát nhiều phạm

vi hiện thực khác nhau, luôn được mở rộng biên độ và tính chất

- Tạo được nhiều sân chơi cho các đơn vị kịch nói cùng tồn tại

- Thiết lập được mối tương quan gắn bó giữa các sân khấu cụ thể với bộ phận khán giả thường xuyên của mình

- Không ngừng tìm tòi, thử nghiệm nghệ thuật hướng đến những chất lượng sáng tạo mới trong tất cả các khâu từ biên kịch, đạo diễn, biểu diễn đến thiết kế mỹ thuật, âm nhạc…

- Tính chất trẻ trung, nồng nhiệt của kịch nói thành phố

Trang 23

- Cải lương mất vị thế độc tôn

Những lý do mà Nguyễn Văn Thành đưa ra phù hợp với thực trạng của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, lý do cuối cùng, theo chúng tôi, có thể có cách đánh giá khác Thực tế, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh khởi sắc không hẳn vì cải lương mất vị thế độc tôn mà vì kịch đáp ứng nhu cầu tinh thần của khán giả, thu hút khán giả đến với sân khấu, tất nhiên một phần

do những hạn chế nhất định của cải lương chưa đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của lớp công chúng trẻ khiến cho thể loại kịch hát này mất vị thế hơn nửa thế kỷ của mình trong đời sống sân khấu Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyên nhân lý giải cho sự khởi sắc và phát triển mạnh của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh từ thập niên cuối của thế kỷ XX đến nay được đa số các nhà nghiên cứu thống nhất chính là cách thức quản lý và tổ chức sân khấu mới, phù hợp với kinh tế thị trường cũng như mô hình sân khấu phù hợp với cách thức quản lý mới, đáp ứng được mục tiêu đổi mới sân khấu kịch nói và thu hút

khán giả, đó là: phương thức xã hội hóa sân khấu và mô hình sân khấu nhỏ

1.2.1.1 Xã hội hóa sân khấu

Các tác giả của công trình Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986-2006 cho rằng sự chuyển đổi của sân khấu

Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu xã hội, từ một

xã hội bao cấp, từ một hình thức quản lý ít nhiều theo hình thức thời chiến chuyển sang xã hội của nền kinh tế thị trường Sự chuyển đổi ấy, trong thời gian đầu đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh Nhưng nghệ sĩ sân khấu thành phố đã gồng mình để tồn tại và cố gắng vươn tới những hoạt động sáng tạo Và để chuyển đổi thành công, sân khấu Thành phố

Hồ Chí Minh đã áp dụng hiệu quả mô hình xã hội hóa Các tác giả cho rằng mô hình xã hội hóa là thành tựu lớn nhất của sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh những năm 1986-2006 Theo các tác giả của công trình, xã hội hóa sân khấu ở nước ta là cách bứt sân khấu khỏi tháp ngà, bứt sân khấu khỏi bầu sữa bao cấp

để đưa sân khấu vào đời sống xã hội Sân khấu Việt Nam muốn tồn tại, phát triển

Trang 24

chỉ có một con đường là phá đi lối quản lý cũ của cơ chế xã hội bao cấp, thụ động, hướng tới công chúng Sự khác nhau về ý thích tiêu dùng văn hóa sẽ tạo nên nhiều loại nhà hát, nhiều loại vở diễn và sự phân hóa ấy cũng xảy ra với chính các đạo diễn, diễn viên Tham gia xã hội hóa, tức là sân khấu đã tham gia

cơ chế thị trường và chịu sự chi phối bởi các quy luật của nó Và theo các tác giả của công trình: “Giá trị vật chất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế đã trở thành một động lực tạo nên sự linh hoạt đặc biệt cho cỗ máy sân khấu hoạt động vốn đang rơi vào sự ì ạch, trì trệ” [53, tr.536] Chính mô hình ấy đã tạo nên một đời sống sân khấu kịch nói khởi sắc, sôi động: “Khách quan mà đánh giá thì những thay đổi trong đời sống sân khấu thành phố hai mươi năm đã là nét nhấn đậm, làm nên một diện mạo sân khấu chưa từng có trong một giai đoạn nào trong lịch

sử của Sài Gòn xưa” [53, tr.544]

Nguyễn Thị Minh Thái đánh giá cao mô hình xã hội hóa sân khấu trong việc kéo khán giả đến với sân khấu hằng đêm:

Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đang tìm mọi cách để lấy lại công chúng của mình và sau vài ba năm ráo riết xã hội hóa hoạt động sân khấu, sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã cơ bản làm được điều họ muốn, đã rút được nhiều bài học quý giá khiến cho Thành phố Hồ Chí Minh đang dẫn điểm trước cả thủ đô Hà Nội về công cuộc tìm kiếm lại người xem, trên một tinh thần xã hội hóa trúng cách [71, tr.498] Trong khi đó Trần Minh Ngọc cho rằng chính sự mạnh dạn thể nghiệm của các đạo diễn, diễn viên trẻ của thành phố trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX

từ những kiệt tác của kịch nói thế giới đã kéo công chúng thành phố đến với sân khấu kịch nói, hình thành nên một thói quen thẩm mỹ mới của người thành phố

là xem kịch Đồng thời, chính khán giả này đã làm cho kịch nói thành phố được nuôi dưỡng và phát triển Những tìm tòi, thể nghiệm thành công của đội ngũ đạo diễn, diễn viên trẻ thành phố đã tạo nên những điều kiện cho phép làm sân khấu

xã hội hóa cùng với chủ trương xóa bao cấp, hội nhập, mở cửa của Đảng và nhà nước Tác giả khẳng định: “Sân khấu xã hội hóa đã chuyển Thành phố Hồ Chí

Trang 25

Minh từ một địa danh là đất của cải lương trở thành địa danh lãnh địa của kịch nói, một trung tâm kịch phát triển” [9, tr.248]

Trần Minh Ngọc cũng chỉ ra hai đặc điểm của sân khấu xã hội hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh là mặc dù sân khấu xã hội hóa không nhận kinh phí của nhà nước nhưng lại chịu sự quản lý của nhà nước Điều này giúp cho sân khấu xã hội hóa không đi vào lối mòn của sân khấu thương mại là đặt lợi nhuận làm mục đích tối cao Và do phương thức hoạt động, quy mô tổ chức trình diễn sân khấu

xã hội hóa không phải là sân khấu chính thống, đại diện cho quốc gia nhưng vẫn luôn đặt cao tính chuyên nghiệp Bởi nếu không làm như vậy thì sẽ bị thị trường đào thải Từ thành công của 5 sân khấu xã hội hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh (Sân khấu Phú Nhuận, Sân khấu nhỏ 5B, Sân khấu kịch Sài Gòn, Sài Gòn Phẳng, Nhà hát thế giới trẻ) tại Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2012, Trần Minh Ngọc cho rằng các sân khấu xã hội hóa Thành phố Hồ Chí Minh đã vượt qua định kiến coi thường về tính nghiệp dư khi so sánh với các nhà hát kịch nói công lập tên tuổi của nước ta

Tuy nhiên nhìn về tình hình phát triển của sân khấu kịch nói xã hội hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, trong bài viết của mình, Trần Minh Ngọc cũng bày tỏ băn khoăn về mối quan hệ giữa sân khấu và thị trường Sân khấu kịch nói đang có xu hướng chiều theo thị hiếu của thị trường Kịch ma, kịch kinh

dị, kịch đồng tính liên tiếp ra đời ở nhiều sân khấu Các sân khấu đã lơi đi tính chất thể nghiệm và tìm tòi của mình:

Chạy theo mục đích giải trí, sân khấu cũng xa dần nhiệm vụ chức năng cao quý của mình là giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức của khán giả, lo an toàn đồng vốn, sân khấu sẽ không phiêu lưu vào thế giới bất trắc là giới thiệu với công chúng những tinh hoa văn hóa nhân loại Những kịch của Shakespeare, Molière, Corneille, Racine, Schiller làm sao có khách Hiện nay, sân khấu kịch nói thành phố đang dậm chân tại chỗ Người xem chỉ thấy trong dàn kịch mục toàn kịch về tâm linh, ma quỷ hiện hình [9, tr.250]

Trang 26

Tựu trung lại, phương thức xã hội hóa sân khấu ở Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá thành công ở hai điểm nổi bật sau:

- Thứ nhất là đưa hoạt động sân khấu tham gia vào cơ chế thị trường, thoát ra khỏi cơ chế bao cấp

- Thứ hai là đã tiếp sức cho nghệ sĩ sáng tạo, thể nghiệm, tạo nên những tác phẩm mới lạ, chất lượng, từ đó thu hút khán giả đến với sân khấu kịch nói

1.2.1.2 Mô hình sân khấu nhỏ

Trong bài viết Liên hoan sân khấu mùa thu Thành phố Hồ Chí Minh: Sự trở lại chắc chắn của công chúng in trong cuốn Sân khấu và tôi, qua thành công

của Sân khấu nhỏ tại Liên hoan sân khấu mùa thu Thành phố Hồ Chí Minh, năm

1998, Nguyễn Thị Minh Thái nhận định:

Liên hoan sân khấu 1998 này đã thực chứng rằng Thành phố Hồ Chí Minh đã mạnh dạn tôn vinh một thể loại sân khấu vốn không phải sở trường của Sài Gòn, đó là thể loại kịch với những vở diễn của sân khấu kịch nhỏ Có lẽ đã đến lúc phải khẳng định (mà không phải với thái độ thương tiếc cho loại hình sân khấu cải lương đã bị kịch nhỏ, thể loại chiếm chỗ ngay trên cái nôi ruột Nam Bộ của mình), rằng kịch

đã lên ngôi huy hoàng trong khi các loại hình sân khấu đang thoi thóp tồn tại ở Thành phố Hồ Chí Minh: hát bội, cải lương, rối, xiếc, v.v… [71, tr.499]

Lý giải cho sự lên ngôi này, Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm ra cách đối thoại với người xem thành phố bằng những câu chuyện sân khấu vừa xinh trong dạng thức sân khấu nhỏ với lượng khán giả vừa phải, chừng vài ba trăm

Nguyễn Thị Minh Thái đánh giá cao hiệu quả hoạt động của sân khấu nhỏ trong tình trạng sân khấu kịch nói cả nước đang trong giai đoạn khủng hoảng Thành công của Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm Thành phố Hồ Chí Minh tại Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc tháng 5 năm 1993 càng khẳng định hiệu quả

Trang 27

hoạt động của sân khấu nhỏ ở thành phố trong việc tạo nên những tác phẩm thu hút khán giả:

Chứng tỏ rằng nó đã tự vượt lên bản thân mình với tư cách thể nghiệm, nghiệm sinh cho sân khấu lớn, đã hội nhập vào lòng sân khấu hôm nay trên tinh thần đổi mới sân khấu, thích ứng với khẩu vị thẩm

mỹ mới của công chúng đô thị thời mở cửa Nói một cách khác, sân

khấu nhỏ đã phải thay thế sân khấu lớn hôm nay để lấy lại người xem

Từ những thành công của sân khấu nhỏ thành phố tại Liên hoan sân khấu

nhỏ năm 1993 và 1995, Nguyễn Thị Minh Thái nhận thấy nhiệm vụ thể nghiệm

của Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm đã hoàn thành, bên cạnh khả năng thu hút khán giả đến sân khấu, sân khấu nhỏ của câu lạc bộ đã tạo nên một lực lượng tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên chuyên biệt của mình Trong giai đoạn phát triển mới của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh, Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm phải được nâng cấp thành một nhà hát thực nghiệm

Chung nhận định với Nguyễn Thị Minh Thái, Trần Trọng Đăng Đàn cho rằng thành công của tác phẩm Dạ cổ hoài lang của Câu lạc bộ sân khấu thể

nghiệm tại Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1995, đợt 2, ghi dấu ấn về sự thành công và thắng lợi của quá trình thể nghiệm sân khấu kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh suốt thời gian qua Một thế hệ đạo diễn, diễn viên mới của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định tài năng của mình và

kế thừa thế hệ đi trước

Trang 28

Hai năm sau nhận định của hai nhà nghiên cứu, năm 1997, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Nhà hát kịch sân khấu nhỏ Đấy có thể được xem là cột mốc quan trọng trong sự phát triển của mô hình sân khấu nhỏ nói riêng và kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung Bên cạnh việc đánh giá cao đóng góp của sân khấu nhỏ trong tiến trình phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Minh Thái cũng chỉ ra rằng sân khấu nhỏ là một giải pháp hiệu quả để kịch nói tồn tại và phát triển tại thành phố giữa cơn khủng hoảng sân khấu của cả nước nhưng về lâu dài sân khấu lớn vẫn là bộ mặt của một nền kịch nói: “Tuy nhiên chỉ lưu ý sân khấu kịch nhỏ suy cho cùng vẫn chỉ là giải pháp tình thế cho một cuộc khủng hoảng sân khấu Còn như, luôn luôn và mãi mãi, sân khấu kịch lớn mới là bộ mặt văn hóa của một quốc gia và của một dân tộc…” [71, tr.599-606]

Nguyễn Thị Minh Thái chỉ ra đối tượng khán giả hướng tới trong xây dựng tác phẩm của sân khấu nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh là khán giả trẻ, đồng thời cũng sớm đưa ra cảnh báo cho quá trình phát triển của sân khấu kịch nói ở thành phố: “Chỉ xin đừng quên rằng điều vẫn luôn canh cánh trong lòng những người xem sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay trước hết và sau cùng vẫn là: chất lượng nghệ thuật của vở diễn phải cao mới chinh phục được người

xem…” [71, tr.506]

Nguyễn Thị Minh Thái cũng chỉ ra xu hướng sáng tác kịch bản của sân

khấu nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh là chuyên tìm những khoảnh khắc cô đọng

một kiếp người, một tính cách, chuyên chắt lọc ý nghĩa lớn từ những câu chuyện nhỏ mà thoạt nhìn có vẻ tầm thường, vặt vãnh

Đặt trong bối cảnh của kịch nói Việt Nam, Nguyễn Văn Thành trong công trình Kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh: một chặng đường lịch sử lại lý giải theo

hướng trả lời câu hỏi: tại sao sân khấu nhỏ lại thành công ở Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải là ở những địa phương khác Theo tác giả, sân khấu nhỏ được du nhập vào nước ta từ đầu những năm 80 ở miền Bắc nhưng không gây tiếng vang và sự chú ý của khán giả Tuy nhiên, ở Thành phố Hồ Chí Minh, sân

Trang 29

khấu nhỏ đã gặt hái được nhiều thành công, thậm chí mô hình sân khấu này chính là điểm tựa cho sự hồi sinh và phát triển của kịch nói ở thành phố Nguyên nhân được tác giả chỉ ra là:

- Thứ nhất, hình thức sân khấu nhỏ thích hợp với phương thức hoạt động của kịch nói theo hướng xã hội hóa

- Thứ hai, các nghệ sĩ trẻ của thành phố bắt gặp ở loại hình sân khấu nhỏ với tính chất là phương thức thể hiện đầy đủ nhất những khát vọng của mình, thái độ, phản ứng của mình trước nhịp vận động gấp gáp đầy sôi động của một đô thị đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường thời đổi mới, đẩy mạnh giao lưu, hội nhập

- Thứ ba, cái mới lạ, tân kỳ của hình thức sân khấu nhỏ vừa tương hợp với sức trẻ, với khả năng nhạy cảm, ham chuộng cái mới của đa số đội ngũ nghệ sĩ kịch nói vốn còn trẻ trung, đầy nhiệt huyết và với bộ phận nòng cốt của kịch nói là đội ngũ thanh niên, học sinh; bên cạnh đó sân khấu nhỏ không đòi hỏi nguồn đầu tư lớn về nhiều phương diện

Chính vì những lý do đó, theo Nguyễn Văn Thành, kịch nói dưới dạng thức sân khấu nhỏ “trở thành mũi công phá tiên phong mở một cục diện mới chưa từng có trong sinh hoạt sân khấu nói riêng và rộng ra là đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh” [72, tr.99]

Thực tiễn sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 năm qua

đã chứng minh chính phương thức xã hội hóa và mô hình sân khấu nhỏ là cơ sở cho sự khởi sắc của kịch nói ở thành phố Đồng thời, ở góc độ biên kịch, tuy hình thức sân khấu nhỏ không phù hợp cho những kịch bản có quy mô về nhân vật, trải dài và rộng qua nhiều không gian và thời gian nhưng đặc trưng thẩm mỹ của sân khấu nhỏ lại thích hợp cho những tác phẩm đi sâu vào khai thác tâm lý, tính cách nhân vật, thích hợp cho những thể nghiệm về nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học lẫn nghệ thuật trình diễn Điều này hoàn toàn phù hợp với vai trò của sân khấu nhỏ trong lịch sử sân khấu thế giới Sân khấu nhỏ trong lịch sử sân

Trang 30

khấu Phương Tây hiện đại chính là nơi thực hiện sứ mệnh thể nghiệm, đổi mới kịch nói

Tóm lại, về thành công của mô hình sân khấu nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu cũng có những góc nhìn và cách lý giải khác nhau Nhưng tập trung lại có thể thấy hai điểm chính:

- Thứ nhất, phương thức xã hội hóa đã mở ra hướng tồn tại của kịch nói

ở Thành phố Hồ Chí Minh, kích thích nghệ sĩ gắn với nghề Mô hình sân khấu nhỏ là hình thức sân khấu phù hợp với phương thức quản lý

và tổ chức sân khấu mới cũng như nâng cao hiệu quả hòa cảm giữa nghệ sĩ và khán giả

- Thứ hai, tính chất thể nghiệm của sân khấu nhỏ đã tạo nên những tác phẩm mới lạ, chất lượng, từ đó thu hút khán giả thành phố, nhất là khán giả trẻ đến với sân khấu

1.2.2 Những thành tựu của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đánh giá về thành tựu của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 năm qua, nhiều nhà nghiên cứu xem thành công của phương thức xã hội hóa sân khấu và mô hình sân khấu nhỏ vừa là nguyên nhân vừa là thành tựu quan trọng hàng đầu của kịch nói thành phố Chẳng hạn như đánh giá của các tác giả công

trình Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986-2006: “Xã hội hóa sân khấu thực sự là một thành tựu lớn của sân khấu

thành phố mà không một thành phố hay địa phương nào trong cả nước có thể có được” [53, tr.542]

Những đánh giá của các nhà nghiên cứu về phương thức xã hội hóa và mô hình sân khấu nhỏ chúng tôi đã trình bày ở phần trên Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn đánh giá kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh trong hơn 20 năm qua đạt được những thành tựu sau:

- Trở thành hoạt động văn hóa, giải trí không thể thiếu của người dân thành phố

Trang 31

Trong bối cảnh khó khăn của nghệ thuật sân khấu Việt Nam nói chung và kịch nói nói riêng từ khoảng cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ

XX, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi sắc, thu hút sự quan tâm của công chúng, trở thành thể loại văn hóa, nghệ thuật, giải trí hàng đầu của người

dân thành phố Các tác giả của công trình Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986-2006 đánh giá vai trò của kịch nói

trong đời sống văn hóa thành phố thời gian từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến năm 2006 như sau: “Kịch nói đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với công chúng thành phố ở mọi lứa tuổi” [53, tr.543]

- Chia sẻ những vấn đề mà người dân thành phố quan tâm

Hoạt động trong cơ chế thị trường, lấy khán giả làm đối tượng phục vụ trung tâm, các sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng được kịch mục đa dạng, bao quát nhiều phạm vi hiện thực, nêu lên những vấn đề mà người dân thành phố quan tâm Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành đánh giá:

“Đề tài kịch trải rộng ra nhiều phương diện từ lịch sử đến truyền thuyết dân gian,

dã sử Từ tâm lý xã hội đến những vấn đề chính luận gai góc Từ câu chuyện mang màu sắc vui vẻ đến những vở diễn kinh dị ma quái gây ấn tượng mạnh” [54, tr.18]

- Thu hút đông đảo nghệ sĩ, thúc đẩy công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn

Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được đông đảo nghệ sĩ của

cả nước về cộng tác Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành nhận định: “Không thể thống kê trong một lúc bản danh sách tên tuổi những nghệ sĩ kịch nói đã thành danh hoặc mới phát lộ qua nhiều khoảng thời gian khác nhau đã lần lượt tìm đến thành phố mang tên Bác làm chốn an cư lạc nghiệp Và không ít người trong số

đó đã tỏa sáng [54, tr.17] Còn đạo diễn Trần Minh Ngọc thì đánh giá: “Chúng ta đang có một lực lượng diễn viên trẻ được đào tạo khá bài bản từ nhà trường văn hóa, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh và một số lớp đào tạo do các công ty kinh doanh nghệ thuật mở để tạo nguồn”[54, tr.3]

Trang 32

- Luôn đổi mới, thể nghiệm, qua đó phần nào bắt kịp với kịch nói đương đại thế giới

Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu công chúng, các sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực đổi mới và thể nghiệm, tạo nên những tác phẩm mới

lạ, mang màu sắc đương đại của kịch nói thế giới Nhà nghiên cứu Tất Thắng nhận định: “Chính vì một chân trời tự do sáng tạo đã được mở ra với sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, mà ở đó đã sản sinh ra những tìm tòi đổi mới, tạo ra cho sân khấu thành phố chúng ta một vị thế trung tâm và hơn nữa dẫn đầu ở góc

độ nào đó”[54, tr.8] đồng thời, cho rằng những tìm tòi, thể nghiệm của kịch nói ở thành phố là “nhân tố khiến cho kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh bắt kịp với màu sắc đương đại của kịch trường thế giới…” [tr.20]

1.2.3 Những hạn chế của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Chất lượng kịch bản văn học chưa cao

Sân khấu nhỏ tuy là một trong những nguyên nhân tạo nên sự khởi sắc và

là thành tựu quan trọng của kịch nói thành phố nhưng ở góc độ biên kịch, không hẳn tất cả nghiên cứu đều đánh giá cao hình thức sân khấu này Phan Trọng Thưởng khi đề cập đến kịch nói Việt Nam nửa sau thế kỷ XX trong chương IV

của công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX: Những vấn đề lịch sử và lý luận, do

Phan Cự Đệ chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2004) cho rằng: “Nhiều giải pháp được đặt ra và thảo luận như giải pháp xã hội hóa sân khấu chẳng hạn, nhưng vẫn không tìm được hướng thoát khỏi khủng hoảng Mô hình sân khấu nhỏ tuy một thời gian có làm hoạt động biểu diễn năng động lên hơn đôi chút nhưng về phía nghệ thuật biên kịch, lại là một bước lùi trầm trọng” [18, tr.630 – 631]

Trong bài viết Khủng hoảng thiếu trong sân khấu hôm nay, Nguyễn Thị

Minh Thái chỉ ra một thực trạng từ sau Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, năm 1990: sân khấu Việt Nam đang rơi vào cuộc khủng hoảng thiếu những kịch bản văn học hay Tác giả đặt vấn đề sân khấu Việt Nam trong lịch sử đã

Trang 33

từng sản sinh ra những thế hệ nhà viết kịch và những kịch bản hay cho các loại hình sân khấu Tuy nhiên hầu hết tác phẩm kịch của họ đã tỏa sáng trong thời bao cấp Trong khi đó, sân khấu Việt Nam ngày hôm nay, nhất là từ sau Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1990, đang đứng trong thời sân khấu của

cơ chế thị trường, với biết bao bỡ ngỡ, đảo lộn Nguyễn Thị Minh Thái đặt ra những câu hỏi: “Sân khấu hoạt động theo phương cách nào để thích nghi với thời buổi mới và thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của công chúng trong cái thời mở cửa đầy cam go vất vả này?” [71, tr.460]

Sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng không thoát khỏi xu hướng chung đấy của cả nước Bài viết có một luận điểm đáng lưu ý là thiếu kịch bản hay khiến cho toàn bộ dây chuyền của sân khấu kịch nói đứng chựng lại Và thực tế thiếu kịch bản hay diện mạo sân khấu thành phố thu hẹp lại trong những tiểu phẩm hài nhàm chán, đơn điệu tại các tụ điểm sân khấu ca nhạc

Trong khi đó, ở bài viết Quá hiếm những kịch bản hay cho sân khấu nhỏ,

thông qua việc nêu lên một thực trạng từ Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc lần

2, năm 1996 là thiếu kịch bản văn học hay cho sân khấu nhỏ, Nguyễn Thị Minh Thái gợi ý những vấn đề liên quan đến nghệ thuật biên kịch cho sân khấu nhỏ đó là: ít nhân vật; vừa vặn với sàn diễn sân khấu nhỏ để diễn viên phát huy khả năng thăng hoa trong diễn xuất, đạo diễn phát huy khả năng tưởng tượng, bay bổng trong tư duy xử lý không gian sân khấu; và trên hết kịch bản văn học cho sân khấu nhỏ phải là cuộc đối thoại về những vấn đề mà người xem đang quan tâm

Về nội dung của kịch nói Việt Nam sau hội diễn sân khấu 1985, Phan Trọng Thưởng có nhận định xác đáng:

Kịch tính xã hội đã chuyển dần từ đời sống chính trị và sản xuất vật chất sang những lĩnh vực khác: lĩnh vực ứng xử đạo đức tinh thần giữa con người với con người, con người với lịch sử, con người với thời đại, con người với cơ chế quản lý xã hội, v.v Hay nói cách khác, kịch

Trang 34

tính xã hội đã chuyển sang cuộc đấu tranh để hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện con người trong quỹ đạo phát triển chung của toàn nhân loại – một cuộc đấu tranh đã mờ đi tính thời sự bởi tính muôn thuở, tính nhân loại của nó [18, tr.630]

Còn về nghệ thuật xây dựng tác phẩm, Phan Trọng Thưởng nhận định:

“Trước nhu cầu giải trí và trước tâm lý tiếp nhận mới có phần dễ dãi của công chúng, cấu trúc kịch truyền thống và những đặc trưng cơ bản của kịch đã bị phá

vỡ khiến cho nhiều vở kịch chỉ còn là sự ghép nối một cách cơ giới những mảng miếng thiếu nhất quán, tầm tư tưởng vì thế cũng bị hạ thấp” [18, tr.631]

Đánh giá về nghệ thuật thể hiện tư duy, tâm lý, tình cảm của con người Việt Nam trong kịch bản văn học đương đại Việt Nam, Trần Trọng Đăng Đàn cho rằng:

So với yêu cầu lý tưởng của việc thể hiện tư duy, tình cảm, tâm lý của người Việt Nam hiện đại bằng nghệ thuật sân khấu thì kết quả đó quả

là còn quá khiêm tốn Công chúng sân khấu Việt Nam hiện đại còn mong đợi rất nhiều vào sự phấn đấu nỗ lực của nghệ sĩ sân khấu Việt Nam về vấn đề này Mong đợi ở tất cả các thành viên nghệ sĩ có liên quan, nhưng trước hết là ở những người sáng tạo đầu tiên ra một tác

phẩm sân khấu: Những kịch tác giả [14, tr.359-360]

Hội thảo khoa học Sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và hướng phát triển cùng chung đánh giá đội ngũ tác giả kịch bản và kịch

bản chất lượng của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay vừa thiếu vừa yếu Tác giả thiếu bản lĩnh, không dám đấu tranh trực diện, không xông xáo vào những vấn đề mà xã hội đang quan tâm, chỉ loanh quanh ở những mảng đề tài về gia đình, tình yêu, mối tình đồng tính, lấy ma ra dọa khán giả Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thiếu những vở diễn phản ánh cuộc sống sinh động trong sự phát triển đi lên của đất nước ngày hôm nay và thiếu cả những vở diễn mang tính

Trang 35

dự báo cho ngày mai, thiếu những vở kịch chính luận, thiếu những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình

- Cơ sở vật chất thiếu thốn, lạc hậu

Thực trạng thiếu thốn cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động biểu diễn

của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đến hệ quả đạo diễn bị trói buộc nên

không thể sáng tạo và cho ra đời những vở kịch không được như mong muốn

Những vở kịch thiếu tính chuyên nghiệp cứ thế ra mắt phục vụ khán giả Đạo

diễn Trần Minh Ngọc nhấn mạnh: “Các tác phẩm làm ra hiện nay đang bị bào mòn về chất do thiếu thốn phương tiện Người đạo diễn, người diễn viên dù cố gắng đến mấy cũng rơi vào sự dễ dãi, tặc lưỡi cho qua Sự dễ dãi lan sang cả

công chúng” [54, tr 6]

- Thiếu chuyên nghiệp trong lao động sáng tạo

Các nghệ sĩ sân khấu cũng thẳng thắn chỉ ra một trong những hạn chế của kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh là vẫn còn một bộ phận diễn viên chưa chuyên nghiệp, chưa tâm huyết và trách nhiệm với vai diễn mà chỉ lo chạy

show, kiếm tiền nên không đầu tư nhiều cho vai diễn Sự cẩu thả của diễn viên

được thể hiện ngay từ khi vở diễn còn trên sàn tập, đạo diễn Khánh Hoàng chỉ ra thực trạng: “Từ những năm cuối thế kỷ trước (thế kỷ XX-Lưu Trung Thủy chú thích) đã không còn khái niệm thoại kịch, làm việc quanh bàn nữa Một tác phẩm cho dù gắn mác kinh điển hay hiện đại thì cũng không quá một tháng sáng tạo” [54, tr.33] Và khi bước ra sân khấu biểu diễn trước khán giả thì không có tâm

lý, cảm xúc để truyền cảm tới người xem, tạo nên những vai diễn hời hợt, vô cảm như nhận định của đạo diễn Phạm Huy Thục

- Thiếu đội ngũ phê bình chuyên nghiệp

Thiếu những người làm phê bình chuyên nghiệp, thiếu những con mắt nghiêm khắc, sắc sảo vạch đường chỉ lối cho những non yếu, những sai sót của quá trình hình thành tác phẩm sân khấu là một trong những hạn chế của kịch nói

ở Thành phố Hồ Chí Minh được đạo diễn Trần Minh Ngọc chỉ ra Sự thiếu thốn

Trang 36

đội ngũ làm phê bình đúng nghĩa đã tạo ra tâm lý dễ dãi trong cả những người sáng tạo lẫn khán giả mà hệ quả là kịch nói thành phố “chỉ mới tạo được những tác phẩm thường thường bậc trung nặng về giải trí” [54, tr.5]

- Thiếu những tác phẩm đỉnh cao

Hạn chế cuối cùng và cũng là hệ quả của tất cả những hạn chế nêu trên là kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thiếu những vở diễn chuyên nghiệp cao, có tầm tư tưởng, đạt tới đỉnh cao trong sự sáng tạo của nghệ thuật biểu diễn kịch nói như đánh giá của đạo diễn Huy Thục:

Nghiêm túc nhìn lại, sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh đang thiếu những vở diễn có tầm tư tưởng, có tính chuyên nghiệp cao, thiếu những vở diễn đạt tới đỉnh cao trong sự sáng tạo của nghệ thuật biểu diễn kịch nói, thông qua tác phẩm kịch có thể chuyển tải được tất cả những thông điệp nóng bỏng của thời đại chúng ta đang sống [54, tr.46]

Với phương thức tổ chức biểu diễn thích ứng với cơ chế thị trường, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh trong hơn 20 năm qua đã vượt qua khó khăn về khán giả và đạt được sự phát triển chưa từng có trong lịch sử của thể loại này tại

đô thị trung tâm của Nam Bộ Nhưng thực tiễn hoạt động của các sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cần khắc phục, chấn chỉnh Theo chúng tôi, bên cạnh những hạn chế mà các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh nêu ở trên còn có những hạn chế thuộc về công tác quản lý, tổ chức biểu diễn và cả về phía đối tượng tiếp nhận tức là khán giả kịch nói thành phố

Trang 37

- Về cơ chế, chính sách, đầu tư của Nhà nước:

Nhà nước cần có chính sách công bằng giữa các đơn vị nghệ thuật do nhà nước đầu tư với những đơn vị tư nhân

Hàng năm nhà nước dành một khoản kinh phí cấp cho các dự án nghệ thuật khả thi, đã được hội đồng có thẩm quyền duyệt thông qua, đặt hàng cho các đơn vị nghệ thuật có uy tín làm chương trình, vở diễn phục vụ chính trị của đất nước Nhà nước hỗ trợ cho các tác phẩm tốt của các tác giả trẻ, các tác phẩm đạo diễn đầu tay

Đầu tư cho Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh Đơn vị sân khấu kịch nói công lập này làm nhiệm vụ đặt hàng của nhà nước, dùng nghệ thuật chuyên nghiệp đối trọng với sân khấu ngoài công lập vốn được tự do trong hoạt động Nhà hát phải là tiếng nói chính thống, nghiêm túc, chính luận

- Về công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn: phải có một chủ trương quyết liệt

về đào tạo và truyền nghề Có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với các đơn

vị có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực để phát triển tư duy nghiệp vụ cho người học

- Về cơ sở vật chất: thành phố dành quỹ đất, phân bổ theo khu vực hợp lý,

nơi dân cư đông đúc để xây dựng nhà hát đủ tiêu chuẩn, trang bị đầy đủ âm thanh, ánh sáng hiện đại và các điều kiện cần và đủ, phục vụ diễn, đáp ứng cho đội ngũ sáng tạo làm nên những vở diễn chuyên nghiệp

Có thể nhận thấy, tuy các đánh giá đều xếp kịch bản văn học là hạn chế đầu tiên của kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng việc chỉ ra các điểm yếu của khâu này trong quy trình sáng tạo tác phẩm sân khấu chỉ dừng lại ở những nhận định chung, không nhiều những phân tích sâu về nội dung kịch bản văn học, nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học và các yếu tố tác động đến quá trình sáng tạo kịch bản của tác giả Thêm nữa, các hạn chế được nêu lên đều có những đề xuất, giải pháp khắc phục duy chỉ có khâu kịch bản văn học thì không thấy có giải pháp nào

Trang 38

Bên cạnh đó, trong các giải pháp đưa ra, các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ kịch nói chưa đề ra giải pháp cho một nguyên nhân hạn chế quan trọng đó là: sự mất cân bằng giữa nghệ thuật và thị trường, giữa mục tiêu thẩm mỹ và doanh thu của các sân khấu kịch Áp lực kinh doanh, doanh số để duy trì sự tồn tại của các sân khấu xã hội hóa thời gian qua là không nhỏ Áp lực này có thể là nguyên nhân chi phối đến toàn bộ quá trình và các nhân tố sáng tạo của một tác phẩm sân khấu Giải pháp để khắc phục hạn chế này phải tập trung ở phía cơ quan quản lý nghệ thuật, ở Hội sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, các giải pháp nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho khán giả là rất quan trọng Bởi, khán giả chính là một trong những nhân tố quan trọng, tích cực, trực tiếp quyết định định hướng và chất lượng nghệ thuật của các sân khấu kịch nói

Tóm lại, kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh đương đại đã được nghiên cứu

ở các nội dung sau:

- Thứ nhất, mô tả và lý giải về sự chuyển mình và phát triển mạnh mẽ của kịch nói ở thành phố, trong đó tập trung vào phương thức xã hội hóa sân khấu và mô hình sân khấu nhỏ

- Thứ hai, đánh giá hoạt động tổ chức biểu diễn kịch nói ở thành phố Bên cạnh việc nêu lên những thành tựu, các nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập của hoạt động tổ chức biểu diễn như: cơ sở vật chất, tính chất chuyên nghiệp trong việc dàn dựng tác phẩm, đội ngũ diễn viên, áp lực về kinh doanh của các sân khấu… đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và sản phẩm nghệ thuật của các sân khấu kịch nói xã hội hóa ở thành phố

- Thứ ba, phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật một số tác phẩm sân khấu tiêu biểu, thu hút sự quan tâm của công chúng

- Thứ tư, phân tích, đánh giá một số kịch bản văn học, trong đó tập trung chủ yếu vào nội dung phản ánh; đồng thời bước đầu chỉ ra xu hướng sáng tác của các tác giả kịch bản thành phố và nêu lên một số hạn chế trong nghệ thuật xây dựng kịch bản

Trang 39

Tiểu kết

Thực tế cho thấy rằng, việc nghiên cứu kịch nói đương đại ở Thành phố

Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề cần tiếp tục phải được phân tích, đánh giá, lý giải như: lực lượng sáng tác kịch bản văn học, đạo diễn, diễn viên; kịch bản văn học, nghệ thuật dàn dựng, diễn xuất, mỹ thuật sân khấu, âm nhạc sân khấu; xu hướng dàn dựng tác phẩm của các sân khấu và cả thói quen tiếp nhận, thị hiếu thẩm mỹ của khán giả thành phố Đánh giá về sự phát triển có phần chững lại của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây, kịch bản văn học luôn được xem là nguyên nhân chủ yếu Nhưng nhiều vấn đề thuộc về văn học kịch và kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa được đi sâu xem xét, lý giải, đánh giá một cách hệ thống như: lực lượng sáng tác kịch bản văn học, nội dung của kịch bản văn học, nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học, sự tác động qua lại giữa văn học kịch và sân khấu kịch ở thành phố, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc sáng tạo nên những kịch bản văn học chất lượng, có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra hiện nay cho công tác nghiên cứu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh là cần có những công trình nghiên cứu hệ thống các vấn đề liên quan đến kịch nói đương đại ở thành phố,

mà trước hết là kịch bản văn học – thành phần, chất liệu đầu tiên và quan trọng của quá trình sáng tạo tác phẩm sân khấu kịch nói

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỂ LOẠI KỊCH NÓI VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

So với các thể loại khác của văn học, kịch bản văn học vừa có những đặc điểm chung của một tác phẩm văn học vừa có những đặc trưng do tính chất trình diễn sân khấu chi phối Chương này tập trung trình bày một số nội dung liên quan đến lý luận về kịch nói và văn học kịch; khái quát những điểm mới trong nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học hiện đại so với kịch nói truyền thống ở Phương Tây; đồng thời trình bày tổng quan về tiến trình hình thành, phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

2.1 Một số vấn đề về kịch nói và văn học kịch

Kịch (drama) là một thể loại của sân khấu đồng thời cũng là một trong ba

phương thức phản ánh của văn học (tự sự, trữ tình và kịch) Khi nói rằng kịch là một trong ba phương thức phản ánh của văn học thì ta đang đề cập đến kịch bản văn học, tác phẩm nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu sáng tạo Đôi khi, để phân biệt sự khác nhau của kịch với tư cách là một tác phẩm sân khấu và kịch với tư cách là một tác phẩm văn học, tiếng Việt dùng từ vở kịch và kịch bản Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối Kịch bản là khâu đầu tiên trong quá trình sáng tạo một vở kịch Và mục đích của sáng tác kịch bản văn học chủ yếu là để dàn dựng thành vở kịch Điều đó cho thấy mối quan hệ khăng khít

giữa nghệ thuật sân khấu kịch (drama) và văn học kịch (dramatic literature)

Cho nên, trong số các phương thức phản ánh và thể loại của văn học, kịch có một đời sống khá đặc biệt Đặc biệt ở chỗ nó có hai đời sống Trong quá trình sáng tạo tác phẩm sân khấu kịch, kịch bản văn học là khâu đầu tiên Tác giả kịch bản là một cá nhân trong số tập thể sáng tạo tác phẩm Kịch bản văn học là một thành tố, chất liệu trong tổng hợp nhiều thành tố, chất liệu làm nên tác phẩm sân khấu Dù là một thành tố nhưng tác giả kịch bản và kịch bản văn học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp chất liệu cho ngôn ngữ trình diễn, góp

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle, Lưu Hiệp (1999), Lê Đình Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy (dịch), Đoàn Tử Huyến (hiệu đính), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristotle, Lưu Hiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1999
2. Aristophane (2005), Hoàng Hữu Đản (biên dịch), Hài kịch Hy Lạp, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hài kịch Hy Lạp
Tác giả: Aristophane
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
3. Trọng Anh (1962), “Tiếng nói sân khấu với phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam”, Tạp chí Văn học, số 9: tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng nói sân khấu với phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trọng Anh
Năm: 1962
4. Hà Đình Cẩn (2014), Ký ức nghệ thuật sân khấu truyền thống và tác phẩm, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký ức nghệ thuật sân khấu truyền thống và tác phẩm
Tác giả: Hà Đình Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2014
5. Hoàng Chương (1996), Vấn đề văn học kịch, Nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn học kịch
Tác giả: Hoàng Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Sân khấu
Năm: 1996
6. Kim Cương (2012), Mẹ trên sân khấu Kim Cương, Nhà xuất bản Văn hóa- Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ trên sân khấu Kim Cương
Tác giả: Kim Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ
Năm: 2012
7. Hà Diệp (2008), Tính dân tộc trong sân khấu kịch nói Việt Nam, Nhà xuất bản văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính dân tộc trong sân khấu kịch nói Việt Nam
Tác giả: Hà Diệp
Nhà XB: Nhà xuất bản văn học
Năm: 2008
8. Ngọc Diệp (2005), Nhân vật trung tâm của kịch nói Việt Nam 1920-2000, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật trung tâm của kịch nói Việt Nam 1920-2000
Tác giả: Ngọc Diệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2005
9. Đinh Xuân Dũng – chủ biên (2013), Văn học, nghệ thuật Việt Nam hôm nay, Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học, nghệ thuật Việt Nam hôm nay
Tác giả: Đinh Xuân Dũng – chủ biên
Năm: 2013
10. Đinh Xuân Dũng – chủ biên (2013), Mấy vấn đề sáng tạo văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay, Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề sáng tạo văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đinh Xuân Dũng – chủ biên
Năm: 2013
11. Đinh Xuân Dũng – chủ biên (2014), Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao, Hội đồng lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao
Tác giả: Đinh Xuân Dũng – chủ biên
Năm: 2014
12. Nguyễn Đức Đàn (1985), Các trào lưu, trường phái kịch Phương Tây hiện đại, Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trào lưu, trường phái kịch Phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1985
13. Trần Trọng Đăng Đàn (2004), Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sân khấu Việt Nam
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2004
14. Trần Trọng Đăng Đàn (2011), Kịch Việt Nam: thưởng thức và bình luận, Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch Việt Nam: thưởng thức và bình luận
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ
Năm: 2011
15. Hoàng Hữu Đản (2007), Bi kịch Hy Lạp, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch Hy Lạp
Tác giả: Hoàng Hữu Đản
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
16. Hoàng Hữu Đản (2007), Bí mật vườn Lệ Chi, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí mật vườn Lệ Chi
Tác giả: Hoàng Hữu Đản
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2007
17. Tất Đạt (1985), Nhất định viết được kịch (kinh nghiệm), Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhất định viết được kịch (kinh nghiệm)
Tác giả: Tất Đạt
Năm: 1985
18. Phan Cự Đệ (Chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX: Những vấn đề lịch sử và lý luận, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX: Những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cự Đệ (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
19. Hà Minh Đức, Vũ Đình Long, Nam Xương (1997), Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Hà Minh Đức, Vũ Đình Long, Nam Xương
Nhà XB: Nhà xuất bản Sân khấu
Năm: 1997
20. Hà Minh Đức (chủ biên) (2000), Lý luận văn học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w