Về phương pháp và kết quả tính giá trị cây xanh bằng tiền, luận văn đã áp dụng công thức của phương pháp CTLA Mỹ để định giá về giá trị kinh tế của hệ thống cây xanh Thành phố Hồ Chí Min
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI ĐAN CHI
ĐỊNH GIÁ VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan: Luận văn ―Định giá về giá trị kinh tế của hệ thống cây
xanh đô thị Thành phố Hồ Chí Minh‖ là đề tài nghiên cứu do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Chế Đình Lý (Viện Môi trường Tài nguyên) Các dữ liệu sử dụng trong luận văn này là trung thực từ đề tài nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn mà tôi có tham gia
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Đan Chi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sĩ chính quy tại trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh khóa học 2012 – 2014
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
- Ban Giám hiệu nhà trường, Cán bộ Phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
- Thầy Cô giáo - trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy Cô đã trực tiếp giảng dạy, cung cấp kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- Đặc biệt, Thầy PGS.TS Chế Đình Lý, Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp hướng dẫn đề tài và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
- Ban Giám đốc Khu Quản lý giao thông đô thị số 1, cùng toàn thể anh em phòng Quản lý công viên cây xanh và phòng Kế hoạch đầu tư đã tạo điều kiện cho tôi thu thập thông tin và số liệu ngoài thực địa
- Các anh chị cùng lớp Quản lý tài nguyên môi trường và bạn bè thân thiết đã giúp đỡ, đã hỗtrợ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
- Mẹ và anh em luôn thương yêu, giúp đỡ, ủng hộ tinh thần cho tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Nhân đây tôi xin gởi lời kính chúc sức khỏe đến quý Thầy Cô, những người thânvà bạn bè của tôi
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Đan Chi
Trang 4TÓM TẮT
Luận văn ―Định giá về giá trị kinh tế của hệ thống cây xanh đô thị Thành phố
Hồ Chí Minh‖ được thực hiện trên cơ sở phương pháp thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu cây xanh đô thị tại Tp Hồ Chí Minh
Để thực hiện tính toán xác định giá trị kinh tế của cây xanh đô thị TP HCM, tác giả đã tham gia điều tra số liệu bổ sung, áp dụng lấy mẫu ngẫu nhiên theo phương pháp Calc – Random Data – Sample from Column trong phần mềm Minitab để tính tỷ
lệ chất lượng và tỷ lệ cấp kính cho từng loài cây; Trên cơ sở số liệu cây xanh, tác giả tiến hành hai nội dung nghiên cứu trình bày trong 2 chương (bao gồm phương pháp và kết quả)
Về phương pháp và kết quả tính giá trị cây xanh bằng tiền, luận văn đã áp dụng công thức của phương pháp CTLA (Mỹ) để định giá về giá trị kinh tế của hệ thống cây xanh Thành phố Hồ Chí Minh và phương pháp hệ số để tính tiềm năng lưu giữ các bon
và giá trị môi trường Để tính giá trị cây xanh bằng tiền, tác giả áp dụng theo công thức: Giá trị cây = giá trị cơ bản trên 1 cm2 x hệ số chất lượng x hệ số loài và hệ số vị trí Luận văn áp dụng phương pháp đa tiêu chí, xây dựng thang điểm GAS để đánh giá
hệ số loài, hệ số vị trí
Các kết quả của luận văn bao gồm cách tính hệ số chất lượng, hệ số loài, hệ số
vị trí, thang điểm GAS cho các tiêu chí Từ đó tính toán kết quả giá trị cây xanh trên các quận huyện, công viên và các loài quan trọng
Về phương pháp và kết quả tính tiềm năng lưu giữ các bon và tác động môi trường, luận văn đã áp dụng các công thức suy diễn sinh khối từ đường kính cây (trung bình nhiều phương pháp) từ đó suy diễn tiềm năng lưu giữ các bon Để tính tác động môi trường, tác giả tham khảo hệ số của USDA và qui ra giá trị bằng tiền cho các tác động: Lợi ích tiết kiệm điện do tác dụng che bóng; Lợi ích thanh lọc CO2; Lợi ích thanh lọc NO2 ; Lợi ích thanh lọc SO2; Lợi ích thanh lọc bụi; Lợi ích thanh lọc hợp chất hữu cơ VOC dễ bay hơi; Tác động hợp chất hữu cơ dễ bay hơi sinh học BVOC
Từ khóa tiếng Việt: Giá trị cây xanh đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh, biến đổi khí
hậu
Từ khóa tiếng Anh: Value of Urban Trees, Hochiminh city, Climate change
Trang 5SUMMARY
The thesis "The valuation of the economic from urban green system in Ho Chi Minh City" is done the basis of the method to collect, analyzing data trees municipality
in Ho Chi Minh City
The author participated in the investigation of additional data, application of random sampling by the method of Calc-Random Data-Sample from Column in software Minitab to calculate quality rate and the rate for each level of the tree to calculate determine the economic value of urban greenery HCM,; On the basis of the Green document,The author use the data trees that makes two research content presented in 2 chapters( include the methods and the results)
On the method and the result value trees with money, it has applied the formula
of CTLA method (USA) to evaluation of the economic value of the plant system in Ho Chi Minh City and the method for calculating potential coefficient storage of carbon and environmental value To calculate the value of trees in the money, the author applies the following formula: value = basic value trees on 1 cm2 x quality coefficient
of species and the number of the position the thesis apply multi criteria methods, building GAS scale to evaluate the coefficient of species, location
The results of the dissertation includes calculation of quality coefficient, coefficient of species, location, GAS point for the criteria From that calculation the result value trees on the County District, the Park and other important species
On methods and results of potential carbon retention properties and environmental impact, the essay has applied the reasoning formula biomass from tree diameter (average many methods) from that rethink the potential performance kept the bon To calculate the environmental impact, the authors refer to the USDA's number system and the monetary value for impact: power-saving benefits by masking the shade; The value of CO2 purification; value of NO2 Purification; value of SO2 purification; Benefits of dust purification; Benefits of purifying organic compounds VOC volatile; Impact volatile organic compounds BVOC bio
Trang 6DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT
TẮT
CXĐT Cây xanh đô thị
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.LÝDOCHỌNĐỀTÀI 1
2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
3.NỘIDUNGNGHIÊNCỨU 2
4.PHẠMVINGHIÊNCỨUVÀGIỚIHẠNĐỀTÀI 3
5.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3
5.1 Phương pháp luận 3
5.2.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 3
6.ÝNGHĨAKHOAHỌCVÀTHỰCTIỄN 5
6.1 Về khoa học 5
6.2 Về thực tiễn: 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 7
1.1.TỔNGQUANTÀILIỆUVỀĐỊNHLƯỢNGGIÁTRỊCỦAHỆTHỐNGCÂY XANHCÔNGCỘNG 7
1.1.1 Nghiên cứu định lượng chi phí lợi ích của cây xanh đô thị 8
1.1.2 Đánh giá và lựa chọn phương pháp 17
1.2.TỔNGQUANTÀILIỆUVỀTIỀMNĂNGTÁCĐỘNGGIẢMTHIỂUMÔI TRƯỜNGCỦAHỆTHỐNGCÂYXANH 19
1.3.TỔNGQUANTÀILIỆUVỀTIỀMNĂNGLƯUGIỮCÁCBONCỦAHỆ THỐNGCÂYXANHĐÔTHỊ 26
1.3.1.Thế giới 26
1.4.2 Việt Nam 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ BẰNG TIỀN CHO HỆ THỐNG CÂY XANH TP.HCM 30
2.1.PHƯƠNGPHÁPTÍNHGIÁTRỊBẰNGTIỀNCHOCÂYXANHĐÔTHỊ 30
2.1.1 Phân tích kinh nghiệm thế giới về cách tính giá trị cơ bản của cây xanh đô thị 30
2.1.2 Phương pháp xác định giá trị cơ bản cho cây xanh đô thị ở Tp Hồ Chí Minh 32
2.1.3 Xác định hệ số chất lượng cây xanh đô thị Tp HCM 37
2.1.4 Hệ số loài cho cây xanh đô thị Tp HCM 38
2.1.4.1 Khái niệm hệ số loài 38
2.1.4.2 Kinh nghiệm thế giới về hệ số loài 38
2.1.4.3 Phương pháp xác định hệ số loài cho thành phố Hồ Chí Minh 44
2.1.5 Xác định hệ số vị trí cho cây xanh đô thị Tp HCM 50
2.1.5.1 Khái niệm hệ số vị trí 50
2.1.5.2 Hệ số vị trí từ kinh nghiệm thế giới 51
Trang 82.1.5.3 Xác định hệ số vị trí cho cây xanh đường phố 55
2.1.5.4 Xác định hệ số vị trí cho cây xanh công viên 58
Tóm tắt phương pháp tính toán định lượng giá trị bằng tiền 61
2.2.KẾTQUẢGIÁTRỊBẰNGTIỀNCỦAHỆTHỐNGCÂYXANHĐÔTHỊTẠI TP.HCM 63
2.2.1.Tổng hợp giá trị hệ thống cây xanh Tp HCM 63
2.2.2 Giá trị hệ thống cây xanh theo quận huyện 63
2.2.3 Giá trị hệ thống cây xanh theo chiều cao 65
2.2.4 Giá trị hệ thống cây xanh theo loài cây 65
2.2.5 Giá trị hệ thống cây xanh theo công viên 67
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN TIỀM NĂNG LƯU GIỮ CÁC BON, LƯỢNG HÓA CÁC TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 68
3.1.QUITRÌNHTÍNHTOÁNTIỀMNĂNGLƯUGIỮCÁCBON,ĐỊNHLƯỢNG HÓACÁCTÁCĐỘNGMÔITRƯỜNG 68
3.2.PHƯƠNGPHÁPTÍNHTOÁNKHẢNĂNGLƯUGIỮCÁC-BONVÀLƯU TRỮCO2 69
3.2.1.Phương trình tính sinh khối từ đường kính 69
3.2.2 Tính lượng các-bon lưu giữ: 71
3.2.3 Tính lượng CO2 lưu trữ (Carbon storage) 71
3.2.3 Phương pháp tính lợi ích môi trường 72
3.3.KẾTQUẢĐÁNHGIÁTIỀMNĂNGLƯUGIỮCÁCBONCỦACÂYXANH ĐÔTHỊTPHCM 75
3.3.1 Giá trị thành tiền của việc lưu giữ các bon phân theo quận huyện 76
3.3.2 Giá trị thành tiền của việc lưu giữ các bon phân theo loài cây 77
3.3.3 Giá trị thành tiền của việc lưu giữ các bon phân theo Khu quản lý giao thông 77
3.4.KẾTQUẢGIÁTRỊMÔITRƯỜNGCỦAHỆTHỐNGCÂYXANHĐÔTHỊ 78 3.4.1 Giá trị làm mát, tiết kiệm điện 78
3.4.2 Giá trị làm giảm CO2 và Ozone 78
3.4.3 Giá trị làm giảm NO2 và Bụi kích thước nhỏ PM10 79
3.4.4 Giá trị làm giảm SO2 và tác động các hợp chất dễ bay hơi VOC và BVOC 79
3.4.5.Tổng hợp các giá trị môi trường bằng tiền của một cây xanh đô thị 80
3.4.6 Giá trị môi trường phân theo Quận huyện 80
3.4.7 Tổng hợp giá trị các thông số môi trường khác phân theo quận huyện 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
4.1.KẾTLUẬN 83
4.2.KIẾNNGHỊ 86
Trang 91 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề định lượng chi phí lợi ích đã được nhiều đô thị lớn trên thế giới quan tâm vì nó liên quan đến ngân sách đô thị, sử dụng đất Tuy nhiên, khi xảy ra biến đổi khí hậu, vai trò của cây xanh (hạ tầng xanh đô thị) được quan tâm đặc biệt Bên cạnh
đó, định lượng khả năng giảm thiểu và ứng phó biến đổi khí hậu cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nhằm theo dõi và điều chỉnh chính sách nhằm thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu
Theo số liệu Công ty Công viên Cây xanh TPHCM năm 2010, hiện nay tổng diện tích cây xanh đô thị là 35.299,62 ha, chiếm khoảng 16,8% tổng diện tích toàn thành phố Tính bình quân, diện tích cây xanh trên mỗi đầu người chưa tới 3m2 Nếu tính riêng diện tích cây xanh sử dụng công cộng toàn thành phố thì chỉ đạt trung bình 1,6m2/người, trong đó khu vực nội thành cũ (gồm 13 quận) chỉ đạt 0,6m2/người, khu vực quận mới (6 quận) là khoảng trên 2,8 m2/người và ngoại thành là trên 3,3m2/người
Hàng năm với gần 60.000 cây đường phố và có gần 100 công viên tập trung chủ yếu ở quận 1 (22 công viên) và quận 5 (17 công viên) Một số quận ven và ngoại thành như Bình Chánh, Thủ Đức, quận 12 rất ít công viên với diện tích nhỏ
Để duy trì và bảo dưỡng khối lượng cây công cộng này, hàng năm Thành phố phải bỏ ra hàng trăm tỷ đồng Tuy vậy, mảng xanh đô thị có tiềm năng làm cho đô thị
có khả năng thích nghi với các tác động của biến đổi khí hậu Cụ thể là chúng cung cấp các dịch vụ thiên nhiên có thể ứng phó các tác động của biến đổi khí hậu: điều hòa nhiệt độ không khí chung quanh, thanh lọc bụi, lưu giữ các bon, làm giảm lực nước chảy tràn, giảm lụt , giảm tiêu thụ năng lượng trong các tòa nhà, làm giảm tốc độ gió, bảo tồn đa dạng sinh học
Với những lợi ích trên, các nhà quản lý (UBND Thành phố, Sở Giao thông Vận tải) cần biết một cách định lượng: Chí phí cho đơn vị cây xanh là bao nhiêu? Giá trị của cây xanh là bao nhiêu? Giá trị bằng tiền, giá trị trong lưu giữ các bon góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; các giá trị gián tiếp khác?
Từ trước đến nay, nghiên cứu về mảng xanh đô thị, về hệ thống thông tin quản
lý đô thị tại Tp Hồ Chí Minh đã được thực hiện, nhưng chưa có nghiên cứu nào đặt vấn đề nghiên cứu định lượng về chi phí, lợi ích của hệ thống cây xanh công cộng, giúp Sở Giao thông Vận tải, UBND TP có cơ sở khoa học trong các quyết định quy hoạch sử dụng đất cho cây xanh, đầu tư cho hệ thống cây xanh, đặc biệt là trong điều kiện biến đổi khí hậu
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 10năng và xây dựng chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu các Quận Huyện tại TP Hồ Chí Minh là rất cần thiết và cấp bách phục vụ cho quản lý phát triển của Thành phố
Để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài tốt nghiệp: ―Định giá về giá trị kinh tế của hệ thống cây xanh đô thị thành phố Hồ Chí Minh‖
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu tổng quát:
Định giá về giá trị kinh tế của cây xanh đô thị: bao gồm giá trị bằng tiền và giá trị đối với môi trường nhằm góp phần cung cấp thông tin cho công tác quản lý cây xanh tại Tp Hồ Chí Minh
- Mục tiêu cụ thể:
Để thực hiện mục tiêu đó, đề tài có bốn mục tiêu cụ thể:
1 Nghiên cứu phương pháp tính giá trị cơ bản cho từng loại: loại 1, loại 2, loại 3 của một loài cây và nghiên cứu các hệ số loài, hệ số vị trí và hệ số chất lượng cây phục
vụ tính toán giá trị bằng tiền cho cây xanh đô thị và áp dụng phương pháp để kết xuất các thông tin tổng hợp về giá trị bằng tiền của cây xanh tại các Quận Huyện, Công viên, các tuyến đường, các loài…
2 Nghiên cứu phương pháp tính giá trị môi trường, tính toán tiềm năng lưu giữ các bon từ kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu trên thế giới.và áp dụng phương pháp, thực hiện tính toán tiềm năng lưu giữ các bon, định lượng hóa các giá trị môi trường của hệ thống cây xanh công cộng của thành phố
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Điều tra bổ sung, mô tả hiện trạng về cây xanh đô thị gồm cây xanh đường phố và công viên thành phố Hồ Chí Minh
Lựa chọn các công thức tính giá trị cây xanh công cộng (bằng tiền) phù hợp với thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu hệ số loài, hệ số vị trí và hệ số chất lượng cây, trên cơ sở đó và khái toán giá trị của hệ thống cây xanh công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu phương pháp tính giá trị cơ bản cho từng loại: loại 1, loại 2, loại 3 của của hệ thống cây xanh công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu các hệ số loài, hệ số vị trí và hệ số chất lượng cây phục vụ tính toán giá trị bằng tiền cho cây xanh đô thị
Áp dụng phương pháp để kết xuất các thông tin tổng hợp về giá trị bằng tiền của cây xanh tại các Quận Huyện, Công viên, các tuyến đường, các loài…
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phương pháp tính giá trị môi trường, tính toán tiềm năng lưu giữ các bon bao gồm nghiên cứu suy diễn sinh khối từ đường kính,
từ sinh khối, suy diễn ra các hệ số về tiết kiệm điện, giảm thiều bụi, giảm thiểu
Trang 11NO2, SO2, VOC…
Thực hiện tính toán tiềm năng lưu giữ các bon, định lượng hóa các giá trị môi trường của hệ thống cây xanh công cộng của thành phố bao gồm cây xanh đường phố, cây xanh công viên, tổng hợp theo quận huyện, theo loài, theo công viên…
Qui đổi giá trị bằng tiền về lưu giữ các bon, các giá trị môi trường của hệ thống cây xanh công cộng về tiết kiệm điện, giảm thiều bụi, giảm thiểu NO2, SO2, VOC…
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ cây xanh đường phố và công viên của các quận huyện nội ngoại thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
do các Khu Quản lý giao thông đang quản lý
- Giới hạn đề tài: Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ nghiên cứu về giá trị bằng tiền, định lượng hóa tiềm năng lưu giữ các bon, giá trị môi trường của hệ thống cây xanh thành phố Hồ Chí Minh mà không tính giá trị sinh thái khác của cây xanh như nghĩ dưỡng, cảnh quan
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp luận
Do vấn đề tính toán giá trị cây xanh là mới và cần phải nghiên cứu, luận văn này sẽ áp dụng các cách tiếp cận sau đây:
a Kiểu phương pháp luận nghiên cứu phương pháp (Methodological)
Trong luận văn, tổng quan, khảo sát cách tiếp cận tính toán giá trị cây xanh, nghiên cứu phương pháp tính toán giá trị cây xanh đô thị, để đưa ra cách áp dụng cho
TP Hồ Chí Minh
b Kiểu phương pháp luận nghiên cứu thăm dò (Exploratory):
Do không thể kiểm kê đánh giá 100% cây xanh đường phố và công viên, luận văn áp dụng cách tiếp cận thăm dò thống kê Trong từng loài sẽ lấy mẫu để khảo sát đánh giá hệ số vị trí, hệ số chất lượng… để từ các mẫu suy diễn ra cho toàn bộ cây trong một loài
c Kiểu phương pháp luận nghiên cứu mô tả tình trạng (Status)
Trên cơ sở các cách tiếp cận trên, tác giả sẽ mô tả tình trạng về giá trị của hệ thống cây xanh đô thị toàn thành phố
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp
- Thu thập số liệu thức cấp và sơ cấp về hệ thống cây xanh đường phố và công viên sẵn có tại các cơ quan sau đây:
+ Phòng Quản lý CVCX Khu Quản lý giao thông đô thị số 1
Trang 12+ Công ty TNHH một thành viên Công viên Cây xanh
- Đồng thời thu thập tài liệu kinh nghiệm quốc tế trên internet qua các bộ máy tìm kiếm Google.com
- Sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống hóa các dữ liệu
b Phương pháp tính toán giá trị cây xanh và hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện TP Hồ Chí Minh
b1) Tính giá trị kinh tế của cây xanh hiện có trên thế giới dựa vào các chỉ dẫn của E
Gregory McPherson Benefit-Based Tree Valuation 2007, được sử dụng phương pháp
chính của CTLA theo quan niệm:
Giá trị đánh giá: (Appraisal Value) = Giá trị chi phí cơ bản x hệ số % loài x hệ
f = hình số của cây , lấy 0,6 cho cây loại 2, 3; 0,5 cho cây loại 1
- Khảo sát giá các loại gỗ theo loài (hỏi xí nghiệp của Cty CVCX) để tính ra giá trị gỗ hiện tại
- Thu thập và thống kê chi phí trồng, bảo dưỡng phải tính theo loài, theo tuổi tại Khu quản lý giao thông số 1
b2) Phương pháp nghiên cứu hệ số loài
Hệ số % loài: dựa vào đặc điểm và tính chất của từng loài riêng biệt, tùy vào khí hậu và môi trường của từng quốc gia mà khác nhau
Ở đây tác giả dựa vào Quyết định số 2198/CNR ngày 26/11/1977 [57] và Quyết định số 334/CNR ngày 10/5/1988 của Bộ Lâm Nghiệp [58] về Bảng phân loại gỗ sử dụng trong cả nước Việt Nam để phân loại loài
Thực hiện điều tra lấy ý kiến các chuyên gia cây xanh đô thị về hệ số loài Kết quả phải đạt là danh sách loài xếp thứ tự hệ số giảm dần 1 đến 0
b3) Phương pháp nghiên cứu hệ số vị trí
Hệ số % vị trí: là tỷ lệ giữa vị trí của cây trong cảnh quan và diện tích tổng thể Xác định tiêu chí đánh giá hệ số vị trí dựa vào Thông tư 06/2013/TT-BXD ngày 13/5/2013 của Bộ Xây Dựng [59] và Quyết định 199 của Ủy ban nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh [60]
Thực hiện phân loại theo những tuyến đường thuần chủng, lấy mẫu thống kê tỉ
Trang 13lệ ở 5 tuyến đường, 3 loại cây (1, 2, 3) cho một loài Tính tỉ lệ chung trung bình cho từng loài Đề tài sử dụng khoảng 20 loài cây trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả phải đạt:
Loài cây => hiện diện trên n tuyến đường
Có 5 hạng vị trí: (I) Xuất sắc, (II) tốt , (III) trung bình, (IV) yếu, (V) kém Chọn mẫu k cây=> đánh giá thực tế để có % của từng hạng
Ví dụ 24% hạng I, 28% hạng II, 12% hạng III, 14% hạng IV, 22 % hạng V b4) Phương pháp nghiên cứu hệ số chất lượng (hệ số điều kiện):
Hệ số % chất lượng (điều kiện): xác định sự phát triển của cây so với tổng thể cây
Dựa vào tiêu chuẩn cây xanh của đô thị để xác định hệ số chất lượng Tương tự như hệ số vị trí, thực hiện phân loại theo những tuyến đường thuần chủng, lấy mẫu thống kê tỉ lệ ở 5 tuyến đường, 3 loại cây (1, 2, 3) cho một loài
Thực hiện lấy mẫu điều tra để xác định tỉ lệ các hạng chất lượng cây cho từng loài Có 5 hạng về chất lượng cây: Rất tốt (A), tốt (B), trung bình (C), chưa tốt (D), kém (E); phải đi thực tế đánh giá mẫu để xác định tỉ lệ Phải xác định % của từng hạng chất lượng cây trong một loài để dùng cho tính toán giá trị của từng loại quan trọng:
Ví dụ 24% hạng A, 28% hạng B, 12% hạng C, 14% hạng D, 22 % hạng E
c Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến một số chuyên gia về xếp hạng thứ tự các tiêu chí phân hạng hệ số loài, hệ số vị trí…
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
6.1 Về khoa học
Đề tài này là nghiên cứu đầu tiên về đánh giá giá trị kinh tế của hệ thống cây xanh của thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, ta có thể biết được chi phí, từ đó xác định suất đầu tư, tính toán giá trị đền bù của các loài cây tại thành phố Hồ Chí Minh đồng thời biết được phẩm chất và giá trị của từng loài cũng như khả năng thích nghi với các tác động của biến đổi khí hậu
Đây là nghiên cứu đầu tiên về hệ thống cây xanh công cộng về định lượng hóa giá trị môi trường Từ đó xây dựng các chiến lược quản lý thích ứng với biến đổi khí hậu với chi phí thấp
Kết quả của đề tài là công cụ phục vụ tính toán đền bù cây xanh, giải quyết kiện tụng về cây xanh
Trang 14và hiệu quả nhất góp phần cải thiện môi trường sống tại thành phố Hồ Chí Minh Công
cụ này còn giúp quy hoạch phát triển cây xanh cho hợp lý nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa được cây ngã đổ vào mùa mưa bão và những hiện tượng thời tiết thất thường tại thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra cách tính toán này còn là cơ sở cho việc xác định chi phí bồi thường, đốn hạ và di dời cây xanh cho các công trình xây dựng hợp lý hơn so với trước
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN
Trong chương 1, trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài của luận văn nhằm học hỏi các phương pháp và kinh nghiệm trên thế giới
1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ ĐỊNH LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HỆ THỐNG CÂY XANH CÔNG CỘNG
* Tình hình nghiên cứu trong nước
Về cây xanh thành phố Hồ Chí Minh, trong hai thập niên qua, Thành phố đã đầu tư nhiều đề tài nghiên cứu về cây xanh như: Chế đình Lý và các cộng tác viên (1994) thực hiện nghiên cứu kiểm Kê Hiện Trạng Cây Xanh Đường phố - Khuôn Viên - Công Viên 12 Quận nội thành Thành Phố Hồ Chí Minh trong đề tài do Giám đốc Công ty CVCX chủ trì [61], [62]
Năm 1995, Lê văn Khôi và các cộng sự, nghiên cứu bảo tồn và phát triển mảng xanh
12 quận nội Thành TpHCM [63]Vũ xuân Đề và các cộng sự (1994) nghiên cứu về quy hoạch hệ thống rừng cây xanh thành phố[64]
Chủ nghiệm đề tài đã hướng dẫn nhiều luận văn đại học và cao học về cây xanh đô thị như:Nguyễn Đỗ Quỳnh Phương – Chế Đình Lý - Nghiên cứu tiềm năng cảnh quan của các địa chỉ xanh phục vụ quảng bá du lịch xanh khu vực TP.HCM Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh[65]
Phan thị Thúy Diễm – Chế Đình Lý ‖Nghiên cứu hiện trạng cây xanh đường phố, công viên và giải pháp tin học hóa công tác quản lý, quy hoạch tài nguyên xanh đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh‖ Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn.[66]
Phan Thị Như Quỳnh – Chế Đình Lý -Hiện trạng và giải pháp phát triển môi trường
―xanh‖ ở TPHCM, trường ĐH Khoa học Tự Nhiên[67]
Gần đây, Chế đình Lý (2009) đã nghiên cứu về hệ thống thông tin quản lý cây xanh TpHCM[32], [68]
Ngoài ra nhiều tỉnh thành khác cũng có nghiên cứu về cây xanh đô thị như ứng dụng GIS trong quản lý cây xanh độ thi
Gần đây hai Uỷ Ban Nhân dân Cần thơ (2012) và Tp Hồ Chí Minh (2010) ban hành định mức quản lý cây xanh đô thị [69], [70]
Tóm lại, các tác giả trong nước có quan tâm đến nghiên cứu hệ thống rừng và cây xanh nhưng chưa có báo cáo nào nghiên cứu về đánh giá định lượng chi phí lợi ích cho
hệ thống cây xanh công cộng; đặc biệt nghiên cứu gắn hệ thống cây xanh công cộng với định lượng tiềm năng giảm thiều và ứng phó với biến đổi khí hậu
* Trên thế giới:
Vấn đề định lượng chi phí lợi ích đã được nhiều đô thị lớn trên thế giới quan tâm vì nó liên quan đến ngân sách đô thị, sử dụng đất Tuy nhiên, khi xảy ra biến đổi khí hậu, vai trò của cây xanh (hạ tầng xanh đô thị) được quan tâm đặc biệt Bên cạnh
Trang 16đó, định lượng khả năng giảm thiểu và ứng phó biến đổi khí hậu cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nhằm theo dõi và điều chỉnh chính sách nhằm thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu
Có thể tóm tắt tình hình nghiên cứu chủ đề này theo hai tiêu đề có liên quan đến
đề tài: (1) Định lượng chi phí lợi ích của cây xanh đô thị; (2) Định lượng khả năng giảm thiểu môi trường của hệ thống cây xanh
1.1.1 Nghiên cứu định lượng chi phí lợi ích của cây xanh đô thị
Khối lượng trang web với chủ đề ―Cost benefit Analysis – Urban tree Adaptation‖ là 1.240.000 trang Trong các công trình liên quan đến chủ đề tính toán lợi ích của cây xanh đô thị, có thể tham khảo các công trình:
Có thể tóm lược các phương pháp tính toán trong bảng sau:
Bảng 1.1: Tóm tắt các phương pháp tính toán giá trị cây xanh đô thị
Trang 17cơ quan luật pháp theo ý kiến của [5]
Công thức của phương pháp CTLA là:
Giá trị cây = Giá trị cơ bản × Tiết diện ngang × hệ số loài × x Hệ số chất lượng cây x
Juniper American (red cedar) Juniperus virginiana 60
Trang 18Pine – Scots Pinus sylvestris 40
Giá trị dùng trong công thức
Rất tốt
(A)
Cây hoàn hảo, có dạng và sức sống tốt đối với loài
Không tổn thương cơ học và sâu bệnh, Không cần tác động chỉnh sửa, Tuổi thọ dài hơn 30 năm từ lúc đánh giá
Khoẻ mạnh và sức số tốt Không có dấu hiệu tổn thương
cơ học và sâu bệnh, Không cần tác động chỉnh sửa hay chỉ tác động nhỏ Hình dạng tiêu biểu cho loài, Tuổi thọ hơn 20 năm từ lúc đánh giá
phân bố từ 0.3-0.1 Chết hay đang
chết (E)
từ0.1-0.0
Hệ số vị trí dự trên bảng lập sẵn , người đánh giá chỉ cần tra để xác định hệ số:
Bảng 1.4: Tra hệ số vị trí cho công thức CTLA [7]
TT
Giá trị dùng trong công thức
2 Cây có tác dụng cảnh quan, khu vực nhà ở 80-90 0.8-0.9
Trang 197 Cây mảng xanh môi trường (đám, rừng) 60-80 0.6-0.8
Phương pháp CTLA cũng được nhiều tác giả khác nghiên cứu [6], [7], [8]
2 Phương pháp STEM
Phương pháp đánh giá cây tiêu chuẩn (Standard Tree Evaluation Method—STEM áp dụng ở New Zealand Giống như phương pháp Helliwell, STEM sử dụng hệ thống điểm để đánh giá 20 đặc trưng của cây (3 đến 27 điểm cho mỗi đặc trưng) trong
3 nhóm về điều kiện , thẩm mỹ và chất lượng có thể nhận biết Các đặc trưng đã được phân hạng là:
Chất lượng cây, Dạng cây, Tần suất sống sót, chức năng hữu dụng; Tình trạng che bóng, khả năng nhận dạng từ xa (km) (có hiện diện cây khác), vai trò cải thiện khí hậu nhận biết được, đặc tính đặc biệt, dạng cây; tuổi thọ cây; sự kiện lịch sử gắn với cây; đặc tính bản địa; sự xung đột với môi trường, đặc tính di truyền, sự quý hiếm… Sau đó tổng điểm nhân với chi phí bán sỉ của cây 5 năm tuổi
Giá trị này được thêm vào chí phí cây được trồng và chi phí bảo dưỡng cây cho đến khi đạt được cùng tuổi khi cây bị mất
Sau cùng, toàn bộ giá trị đó nhân cho hệ số chuyển đổi từ bán sỉ sang bán lẻ (đề nghị gấp đôi)
Giá trị đánh giá = [(Tổng điểm (có thể đến 540) × Chí phí bán sỉ)+ Chi phí trồng + chi phí bảo trì] × Hệ số chuyên đổi bán lẻ (đề nghị là 2)
G M Moore,(2006) phân tích các tiến bộ trong lượng giá cây đô thị và kiến nghị hiệu chỉnh phương pháp Trong đó, phân ra hai cách tính phương pháp tính giá trị có thay thế và không thay thế Trong đó tác giả đề nghị hiệu chỉnh ba phương pháp để tính giá trị cây đô thị không thay thế:[4]
Công thức tính theo phương pháp khác Phương pháp Úc/New Zealand hiệu chỉnh
Giá trị cây =P(I*L*C+F*Y*S*V)
Giá trị = giá trị cây tính theo Đô la Úc
P = Yếu tố giá trị đơn vị
Trang 20V = Giá trị hình dạng và sức sống (1,5-15) Phương pháp Burnley hiệu chỉnh (2005)
Các điểm của các yếu tố nhân với nhau và sau đó nhân với 14 Bảng Anh
Giá trị đánh giá = kích thước cây × tuổi thọ của cây* × tầm quan trọng của cây trong
cảnh quan × Sự hiện diện của các cây khác × liên hệ với hạ tầng × dạng cây × các yếu
tố đặc biệt × £14
Trang 21∗ Ghi chú: Phương pháp này chỉ đưa ra qui trình xác định tuổi cây, nhưng phương pháp xác định tuổi không đúng ở BắcIllinois khi khảo nghiệm với cây đã biết
Thay vào đó, người đánh giá có thể ước lượng tuổi thọ bằng các phương pháp phù hợp theo họ giống như phương pháp Burnley và Norma Granada
4 Phương pháp nhanh CAVAT [6]
Christopher Neilan (2012) nghiên cứu và đưa ra hướng dẫn về cách tính giá trị cây xanh đô thị (phương pháp CAVAT) [8] Trong đó, đưa ra phương pháp tính 5 bước:
1 Tính giá trị cơ bản = kích thước x giá đơn vị
2 Tính giá trị chỉ số cộng đồng CTI, vị trí theo nghĩa cộng đồng sử dụng và quyền tiếp cận
3 Tính giá trị chức năng Tình trạng chức năng;
4 Tính giá trị hiệu chỉnh/các yếu tố thẩm mỹ tích cực lẫn tiêu cực
5 Tính giá trị đầy đủ/ tuổi thọ an toàn
Tác giả áp dụng phương pháp luận của mình và đưa ra hướng dẫn minh hoạ cách tính
Bang Concepción áp dụng công thức
Gá trị cây (USD $) = (A*B*C*D)/10 [ ]
Bang La Florida áp dụng công thức sau đây đề tính giá trị cây:
Giá trị (USD) = I * (1+ i)e + CM *((1+i)e – 1)/0,1
Trong đó:
Trang 22I = Giá trị thị trường ban đầu đối với loài cây 2 -3 năm tuổi trong vườn ươm , nó bao gồm chi phí trồng cây, vận chuyển và chằng chống…
CM = Chi phí bảo dưỡng hàng năm của cây;
e = tuổi hiện tại của cây, không tính thời gian ở vườn ươm
I = lãi suất , tính là 4 %
Bang Renca
Bang Renca áp dụng công thức sau đây:
Giá trị (USD) = VA + (MA * k) + CE
Trong đó:
VA = giá trị thị trường của cây
MA = giá bảo dưỡng hàng năm
CE = Giá đốn hạ di dời
k = Hệ số xác định bởi tuổi của cây
6 Phương pháp Norma Granada [6]
Phương pháp Norma Granada công bố lần đầu năm 1990 và hiệu chỉnh năm 1999 ở Tây Ban Nha (Hiệp hội Española de Parques y Jardines Publicos)
Phương pháp Norma Granada dùng một chuỗi các bảng liên quan đến loài cây (tốc độ tăng trưởng và tuổi thọ) và các yếu tố kích thước nhằm xác định một hệ số giá trị Hệ
số giá trị này nhân với chi phí bán sỉ của vườn ươm nhằm xác định giá trị ban đầu Tương tự như phương pháp CTLA và phương pháp Burnley hiệu chỉnh, Các hệ số liên quan đến chất lượng cây và vị trí cây trong cảnh quan được dùng để hiệu chỉnh giá trị cây
Nhưng không như hai phương pháp đó, hệ số chất lượng có thể hoặc là tăng hay giảm giá trị (Một cây có chất lượng trung bình sẽ không có ảnh hưởng)
Tuổi thọ và thông số ―extrinsic‖ của cây chỉ làm tăng giá trị cơ bản của cây Giá trị lý thuyết tối đa của cây bằng 8 lần giá trị ban đầu Công thức tóm tắt của phương pháp này là:
Giá trị đánh giá = (Giá trị hệ số × chí phí bán sỉ × hệ số điều kiện) × [1 + tuổi thọ + (giá trị thẩm mỹ + độ quý hiếm của loài + Sự phù hợp với vị trí + Hệ số ngoại lệ)]
7 Phương pháp Burnley
Phương pháp Burnley hiệu chỉnh (Australia) được xây dựng bởi Đại học Victorian College of Agriculture and Horticulture Limited, Burnley Campus, Phương pháp này công bố lần đầu tiên năm 1988 (McGarry and Moore) và hiệu chỉnh năm 1991 (Moore)
Tương tự như công thức phương pháp CTLA, nó dựa trên kích thước cây và giá trị bằng tiền
Trang 23Kích thước cây được tính bằng thể tích của một hình chóp chuyển đổi
Thể tích cây được nhân với chi phí cho 1 m3 của giá bán lẻ ở vườn ươm (cùng một loài)
Sau đó, giá trị tối đa được nhân hệ số đối với tuổi thọ (0,5 đến 1) , hệ số hình dạng và sức sống (0 đến 1) và vị trì (0,4 đến 1)
Giống như phương pháp CTLA, tất cả các hệ số làm giảm giá và tất cả các hệ số không thể làm cho giá trị giảm thành 0
Phương pháp này còn gọi là phương pháp Burnley Công thức dạng đơn giản là: Giá trị đánh giá = thể tích cây × giá trị cơ bản × hệ số tuổi thọ × hệ số sức sống × hệ
số vị trí
8 Phương pháp đánh giá cây Thyer (2005)
Phiên bản cuối cùng của phương pháp Thyer , giá trị cây xác lập thoe công thức:
Giá trị cây = S x A x Q x P ™
Trong đó
Giá trị cây = giá trị tính bằng AuD,
S= số đo chiều cao của tán cây ở phí đường kính lớn nhất
A = Tuổi của cây
9 Phương pháp vốn tư bản hoá (Capitalisation)
Phương pháp Vốn tư bản đánh giá giá trị bằng cách áp dụng các chỉ số, các bảng ma trận và các dạng đơn giản khác và nhằm mục đích làm đơn giản việc tính toán đối với người không nhất thiết phải là chuyên gia cây xanh [9]
Trang 24Tuy nhiên, phương pháp nhân bao gồm tuổi của cây làm biến số cơ bản khi được đo bởi chỉ số kích thước và tổi thọ
Lãi suất là tỷ lệ tăng trưởng của cây và tang trưởng hàng năm tích lũy trung bình hằng năm được phân bố teo các cách khác nhau trong quá trình sinh trưởng của cây
Có hai phương pháp tư bản hóa cơ bản: There are two basic methods of capitalization: Giá trị dựa trên các chi phí thay thế và giá trị dựa trên chi phí bảo dưỡng (Caballer 1999)
Phương trình dùng cho phương pháp chi phí thay thế là:
10 Phương pháp Tedesco (USA)
Phương pháp Tedesco method (Bernatzky 1978) sử dụng công thức sau đây để tính giá trị của cây:
Giá trị cây = Vb × BA × S × E × I × T × R
Trong đó:
Vb là giá trị thị trường cho 1 cm2 tiết diện ngang ngực
BA tiết diện ngang ngực,
S là biến số xác định vị tri cây (ngoại ô 1.3, ven đô 1.5, rừng 1.8, trung tâm đô thị 2, ngoại thành 3), và
E thể hiện chất lượng của cây theo thang giảm dần từ 1 là hòan toàn khỏe mạnh, đến
0 là cây rất yếu ớt
I, là một hệ số, phản ảnh sự tương thích với môi trường của cây theo thang giảm dần từ
1 là hoàn toàn phú hợp môi trường và đến 0,1 đối cây không tương thích môi trường
T là một hệ số, phản ảnh tỉ số giữa tuổi thọ và tuổi của cây
R là % giảm trong giá trị cây do sự tổn hại của cây
Trang 25với các cây trong các công viên tư nhân và vườn thực vật ở Pháp
Phương pháp này cố gắng xác định hầu hết chi phí thay thế
Giá trị tìm được bằng cách sử dụng 4 chỉ số : Chỉ số loài (E), Chỉ số sức sống và giá trị thẩm mỹ (B), Một chỉ số vị trí (L) và một chỉ số kích thước (D) (với các giá trị theo chu vi bình thường)
Công thức sau đây áp dụng tính giá trị của cây ở Pháp:
Giá trị của cây = E × B × L × D × T
12.Phương pháp Thuỵ Sỹ
Phương pháp Thụy sĩ (Ferraris 1984) xem xét bốn chỉ số cơ bản: Loài cây (E), trạng thái sức sống và giá trị vẻ đẹp (B), Vị trí (U), và kích thước (D) Các biến số này phân biệt một cách định tính nhằm tránh sai số đánh giá
Phương pháp này cũng đánh giá thiệt hại đối với cây bao gồm tổn hại không tính vào tổng thiệt hại của cây Phương pháp này áp dụng công thức:
số vị trí (S) với giá trị giữa 6 đến 10 , tùy vào cây mọc ở khu vực đô thị hay nông thôn
và cuối cùng, yếu tố thể hiện kích thước (C) , với giá trị từ 0 đến 55, với chu vi thông thường giữa 30 và 900 cm
14 Phương pháp Hungary 1&2
Phương pháp Radó
Hegedüs, M Gaál, and R Bérces,(2011) nêu thêm hai phương pháp đánh giá của
Hungary
1 Phương pháp Radó = Giá cơ bản x tuổi x vị trí x Chất lượng
Phương pháp Párkányi = Giá cơ bản x tuổi x điều kiện tán cây x vị trí
15 Phương pháp Koch của Đức
Giá trị cây = Chi phí trồng + chí phí bảo dưỡng tiếp theo ( 3 năm đầu) + Chi phí bảo dưỡng sau đó
1.1.2 Đánh giá và lựa chọn phương pháp
Để lựa chọn phương pháp, đề tài áp dụng phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: học tập kinh nghiệm về phương pháp của các nhà khoa học trên thế giới Qua tổng quan tài liệu có thể nói rằng, mỗi quốc gia đều muốn áp dụng riêng phương pháp đánh
Trang 26đây:
- Các phương pháp đều hướng đến việc tính toán giá trị bằng tiền,
- Các phương pháp phần lớn đều dùng các hệ số giảm để lồng các yếu tố vị trí cây, yếu tố loài
- Phần lớn các phương pháp đề cập đến yếu tố bảo dưỡng, chi phí trồng, chi phí đốn hạ di dời
- Phần lớn đề cập đến yêu tố kích thước cây hay tuổi thọ cây
Ngoài những điểm chung đó, một vài phương pháp tính đến lãi suất của chi phí và tuổi thọ của cây
Trong thư viện các phương pháp tính toán giá trị cây đô thị, mỗi phương pháp đều
có những hạn chế nhất định:
- Phương pháp Burnley dựa trên thể tích cây là không hợp lý vị cây con trong vườn ươm có thể đúng, nhưng với cây đô thị đã cắt ngọn, xén tỉa thi tính thể tích có nhiều sai số
- Các phương pháp dựa trên tuổi cây là rất khó áp dụng vị những cây lâu năm không xác định được tuổi nhất là đối với cây nhiệt đới ( Phương pháp STEM, Helliwell, CAVAT, Chi lê, Norma Granada, Burnley, Thyer, Phương pháp vốn
tư bản, Tedesco, Hungary)
- Các phương pháp Thụy sĩ, Ý, Pháp không dùng tuổi mà dùng kích thước thay cho tuổi là hợp lý nhưng, Công thức Thụy sĩ không có thành phần giá trị bằng tiền , trong khí đó phương pháp Pháp không có xác định rõ giá trị T
- Phương pháp Ý có tính đến giá trị ở vườn ươm nhưng không tính đến quá trình bảo dưỡng cây qua các năm
Sau khí xem xét các phương pháp, nhóm nghiên cứu thấy phương pháp của CTLA tương đối đơn giản, được chấp nhận rộng rãi ở Hoa Kỳ, có các ưu điểm sau đây
- Phương pháp CTLA dựa trên kích thước (tiết diện ngang), thay cho tuổi là rất hợp lý vì tiết diện ngang thân cây tỷ lệ thuận rất chặt với tuổi cây
- Công thức CTLA đặt ra giá trị cơ bản cho 1cm2 tiết diện ngang là rất hợp lý, giá trị tăng theo kích thước cây Tính hợp lý còn thể hiện ở chỗ giá trị cơ bản có tính đến chi phí trồng và chi phí bảo dưỡng cây từ khi trồng cho đến khí đạt kích thước được đánh giá giá trị
- CTLA có xem xét yếu tố loài, xác định hệ số loài theo vùng địa lý trong từng bang Có hạn chế là xem xét hệ số loài đơn giản, chỉ dựa trên một yếu tố là vùng địa khí hậu
- CTLA, có xác định hệ số vị trí là hợp lý vì cây mọc vị trí tốt có giá trị cao hơn cùng loài cây mọc ở vị trí thông thường hoặc có nhiều cây Tuy nhiên, xác định
hệ số vị trí cũng chỉ dựa vào đặc tính nơi cây mọc thì chưa hợp lý, cần phải xét nhiều tiêu chí khác
Trang 27- Phương pháp CTLA có tính hệ số chất lượng là hoàn toàn hợp lý
Với các phân tích trên, trong đề tài đã nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp CTLA
để thực hiện đánh giá cho cây đô thị ở TpHCM
Để tính toán giá trị cây xanh tại Tp Hồ Chí Minh, cần phải xác định các hệ số và hiệu chỉnh công thức của CTLA cho phù hợp như sau:
1- Thay vì sử dụng hệ số loài cố định, ở Tp HCM, đề tài sử dụng hệ số loài xác định dựa trên nhiều tiêu chí: giá trị gỗ, giá trị MT, giá trị thẩm mỹ cảnh quan
2- Hệ số điều kiện hay hệ số chất lượng cây, cần phải xác định cho từng cây Do trong CSDL cây xanh TpHCM không có thông tin, vì vậy cần phải xác định gián tiếp qua điều tra lấy mẫu tỷ lệ
3- Hệ số vị trí có thể xác định dựa trên nhiều tiêu chí: vĩa hè, lòng đường, khu vực cây mọc, hạ tầng điện nơi cây mọc
Tóm lại, mỗi quốc gia đều muốn áp dụng riêng phương pháp đánh giá của mình Tuy nhiên, trong các phương pháp, phương pháp của CTLA tương đối đơn giản, được chấp nhận rộng rãi ở Hoa Kỳ, vì vậy trong luận văn đã nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp CTLA để thực hiện đánh giá cho cây đô thị ở TpHCM
1.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ TIỀM NĂNG TÁC ĐỘNG GIẢM THIỂU MÔI TRƯỜNG CỦA HỆ THỐNG CÂY XANH
Hình 1.1: Dịch vụ hệ sinh thái cung cấp bởi cây xanh đô thị
Từ lâu, cây xanh đã có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống và phát triển của nhân loại Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày một gia tăng thì vai trò của cây xanh lại càng trở nên cấp thiết Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cây xanh đô thị làm giảm các tác động bất lợi của môi trường đô thị Lợi ích của hệ sinh thái đô thị bao gồm:
Trang 28mát cho căn hộ
- Hấp thụ các-bon đi oxit
- Hấp thụ chất ô nhiễm trong không khí
- Làm giảm dòng chảy nước mưa chảy tràn và bảo vệ cơ sở hạ tầng
- Gía trị thẩm mỹ (gia tăng giá trị thị trường bất động sản cá nhân)
Thêm vào đó, cây xanh còn cung cấp nhiều lợi ích về tâm lý, xã hội và kinh tế liên quan chính đến vẽ đẹp và tác động làm dịu mát của chúng
+) Hấp thụ CO 2 :
Nhiệt độ toàn cầu đâng gia tăng từ sau thế kỷ 18, giai đoạn ấm lên từ 1910 –
1945 và từ 1976 đến hiện tại Hoạt động của con người, mà chính là tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, đang tăng khí nhà kính vào không khí, và các nghiên cứu hiện đã cảnh báo rằng sự gia tăng nhiệt độ gần đây nguyên nhân chính là sự gia tăng khí nhà kính [10] Nhiệt độ toàn cầu tăng cao được dự đoán gây ra nhiều tác động bất lợi như: tan băng
có thể làm gia tăng mực nước biển từ 6 – 37 m vào năm 2100 Hơn 1/3 dân số thế giới sống ở vùng ven bờ sẽ chịu tác động thảm họa Sự gia tăng các vấn đề thời tiết cực đoan sẽ tiếp tục gia tăng mức độ khẩn cấp của quản lý nguồn tài nguyên Một số loài động vật và thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng do môi trường sống trở nên bị giới hạn [10]
Hình 1.2: Chu trình hấp thụ CO2 của cây xanh
Trang 29- Cách trực tiếp, thông quan hấp thụ CO2 như sinh khối gỗ và lá khi chúng phát triển
- Cách gián tiếp, thông qua hạ nhiệt và điều hòa không khí, từ đó làm giảm phát thải liên quan đến sản xuất năng lượng điện và tiêu thụ khí tự nhiên
Cây xanh hấp thụ CO2 khi chúng phát triển và làm giảm trực tiếp phát thải CO2 từ lò đốt thông qua bảo tồn năng lượng
Nghiên cứu khả năng lưu trữ và hấp thụ các-bon của cây xanh đô thị được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm A Waran và A Patwardhan đã thực hiện nghiên cứu tiềm năng lưu trữ các-bon cho thành phố Pune Trong nghiên cứu này nhóm nghiên cứu ước lượng sinh khối bằng nhân sinh khối với mật độ cây Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi năm thành phố Pune lưu trữ 15.000 tấn Các-bon [11] David J Nowak và Daniel E Crane cũng có nghiên cứu khả năng lưu trữ cacbon tại Mỹ Lượng các-bon lưu trữ của rừng đô thị tại Mỹ là 700 triệu tấn tương đương với 14.300 triệu đô la [12] Một số nghiên cứu tương tự như:
―Các-bon sequestration by urban trees on roadsides of Vadodara City‖ [12] Nghiên
cứu này đã sử dụng phương pháp tính sinh khối theo mật độ diện tích Tổng lượng
CO2 của tuyến đường là khoảng 159,47 tấn CO2, chiếm 22% lượng CO2 của thành phố Vadodara
―Assessment of các-bon sequestration in the U.S residential landscape‖ của David J
Nowak và Daniel E Crane Cây xanh đô thị tại Mỹ lưu trữ 700 triệu tấn các-bon (giá trị khoảng 14.300 triệu đô la) và hấp thụ khoảng 22,4 triệu tấn các-bon/năm[13]
―Method for calculating các-bon sequestration by trees in urban and suburban
settings‖ của Cơ quan Năng lượng Hoa Kỳ Trong báo cáo hướng dẫn cách tính toán
các-bon hấp thụ bởi cây xanh cá thể trong đô thị và ngoại ô [14]
Một số nghiên cứu khác nghiên cứu khả năng lưu trữ các-bon cho các trường đại học, công sở như B L Chavan và G B Rasal nghiên cứu lưu trữ cacsbon khung viên trường Đại học Aurangabad [15]
Nghiên cứu trữ lượng cacbon của cây xanh đô thị được thực hiện khá nhiều trên thế giới Các nghiên cứu chỉ ra rằng cây xanh đô thị cũng góp phần đáng kể vào quá trình hấp thụ CO2 Các phương pháp nghiên cứu trữ lượng cacbon cho cây xanh đô thị chủ yếu sử dụng phương pháp ước lượng Các nghiên cứu này minh chứng cho vai trò to lớn của cây xanh đô thị trong quá trình làm điều hòa vi khí hậu và nâng cao khả năng giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
+) Tiết kiệm năng lượng:
Năng lượng cần thiết để duy trì chất lượng sống và tăng trưởng kinh tế bền vững Tiết kiệm năng lượng từ bóng cây xanh có thể làm giảm nhu cầu sử dụng điện của căn hộ Cây xanh điều hóa khí hậu và bảo tồn năng lượng theo 3 nguyên tắc cơ bản:
- Bóng mát làm giảm lượng bức xạ năng lượng được hấp thụ và lưu trữ bởi bề mặt xây dựng
- Qúa trình hô hấp chuyển đổi hơi ẩm từ hơi nước và làm mát không khí bởi năng
Trang 30lượng mặt trời đã gây nóng không khí
- Làm giảm tốc độ gió giảm chuyển động không khí bên ngoài vào không gian bên trong và mất nhiệt dẫn nơi mà dẫn nhiệt cao
Hình 1.3: Cây xanh làm mát thông qua bóng cây và làm giảm nhiệt độ
Cây xanh làm giảm sự chuyển động của không khí vào các công trình xây dựng và làm mất nhiệt dẫn từ các công trình Cây xanh có thể làm giảm tốc độ gió và kết quả xâm nhập của không khí lên đến 50%, và chuyển đổi sang bảo tồn năng lượng tiềm năng khoảng 25% [16]
+) Cải thiện chất lượng không khí:
Xấp xỉ 159 triệu người sống trong khu vực có nồng độ O3 vượt tiêu chuẩn không khí Khoảng 100 triệu người sống trong khu vực có bụi và các chất lơ lững có kích thước nhỏ (PM10) vượt ngưỡng cho sức khỏe không khí Ô nhiễm không khí gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe như: nhức đầu, bệnh hô hấp và tim, ung thư, hen suyễn, ho…Kết quả làm tăng chi phí xã hội cho điều trị và chăm sóc sức khỏe, nghỉ việc thường xuyên và giảm tuổi thọ
Gần đây, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đã ghi nhận trồng cây như là một giải pháp trong quy hoạch thực hiện của các ban nhằm giảm thiểu O3 Các quận quản lý
Trang 31chất lượng không khí dành nguồn quỹ cho dự án trồng cây để kiểm soát bụi lơ lửng (particulate matter) Quyết định các chính sách này đang tạo ra cơ hội cho trồng và chăm sóc cây xanh như một giải pháp kiểm soát ô nhiễm [17]
Cây xanh đô thị cải thiện chất lượng không khí qua 5 cách cơ bản:
- Hấp thu các chất ô nhiễm như: ozone, nito đi oxit thông qua bề mặt lá
- Ngăn chặn bụi lơ lửng như: bụi, tro, đất, phấn hoa, khói
- Làm giảm phát thải từ lò đốt bằng cách giảm năng lượng tiêu thụ từ đó làm giảm phát thải các chất ô nhiễm bao gồm: NO2, SO2, PM10, và VOC
- Thải ra oxi thông qua quang hợp
- Bốc hơi nước và cung cấp bóng mát, kết quả làm giảm nhiệt độ không khí khu vực,
Nhiệt độ không khí giảm bởi cây xanh có thể cải thiện chất lượng không khí bởi sự phát thải của các chất ô nhiễm hoặc khu vực hình thành hóa chất phụ thuộc vào nhiệt
độ Nhiệt đô không khí giảm cũng có thể làm giảm khu vực hình thành [18]
Bên cạnh đó, cây xanh cũng gây tác động xấu đến chất lượng không khí Hầu hết cây xanh phát thải ra hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (biogenic volatile organic compounds (BVOCs)) như isoprenes và monoterpenes có thể hình thành O3 Sự góp phần phát thải BVOC của cây xanh đô thị phụ thuộc vào địa hình phức tạp và sự tương tác của không khí mà chưa được nghiên cứu ở hầu hết các thành phố Một số yếu tố phức tạp bao gồm biến đổi nhiệt độ và mức độ NO2 không khí Kết quả hình thành O3 khác nhau cho các loài cây khác nhau Mặc dù cây xanh làm gia tăng phát thải BVOC tuy nhiên tác động tiêu cực của cây xanh đối với không khí được xem là không đáng kể so với lợi ích vô cũng lớn mà nó mang lại
Trang 32Cây xanh hấp thụ chất ô nhiễm thông qua khí khổng, các lỗ nhỏ trên bề mặt lá Cách thứ hai loại bỏ chất ô nhiễm bao gồm hấp thụ các khí thông quan các lỗ trên vỏ cây Cây xanh gần các căn hộ có thể làm giảm nhu cầu sử dụng máy điều hóa, vì vậy làm giảm phát thải PM10, SO2, NO2 và VOCs liên quan đến các sản phẩm điện và làm giảm các lò nhiệt điện
+) Làm giảm tốc độ dòng chảy của nước mưa:
Nước mưa chảy tràn đô thị là một trong những nguồn ô nhiễm đưa vào đất ngập nước, suối, hồ và biển Cây xanh khỏe mạnh có thể làm giảm lượng nước mưa chảy tràn và các chất ô nhiễm vào nước tiếp nhận [19] Ngăn chặn nước mưa chảy tràn bởi cây xanh có thể làm giảm sự cố xấu trong suôt các cơn bão lớn Cây xanh như là một hồ chưa mini, kiểm soát dòng cảy tại nguồn, do đó làm giảm lượng dòng chảy và xói mòn của nguồn nước Cây xanh đô thị có thể giảm lượng nước chảy tràn và hàm lượng chất
ô nhiễm trong nước theo 3 cách chính:
Hình 1.5: Quá trình ngăn chặn nước mưa chảy tràn của cây xanh
Trang 33được ngăn chặn (intercepted rainfall) Bốc hơi nước chặn, chảy nhỏ giọt từ bề mặt lá
và chuyển xuống bền mặt thân sau đó xuống đất Trong suốt các chặn bảo lớn, nước mưa vượt lượng cây có thể lưu trữ khoảng 50 – 100 gal/cây Lợi ích ngăn chặn là lượng mưc không được ngấm xuống đất vì nó được bốc hơi từ tán Kết quả, lượng nước mưa được giảm và thời gian đạt đỉnh của dòng chảy được hạn chế Cây xanh bảo
vệ chất lượng nước từ việc làm giảm lượng nước mưa suốt các trận mưa nhỏ và giảm chất ô nhiễm đi vào nguồn nước Do đó, rừng đô thị có ý nghĩa rất lớn từ bảo vệ chất lượng nước hơn là kiểm soát lũ [20]
Lượng nước mưa cây xanh ngăn chặn phụ thuộc vào kiến trúc cây, mẫu nước mưa và khí hậu Đặc điểm tán cây ảnh hưởng đến sự ngăn chặn như thân, diện tích bề mặt, kết cấu, lá và đường kính Cây có bề mặt thô (coarse surface) giữ nước mưa nhiều hơn cây
có bề mặt nhẵn Cây lớn nhìn chung ngăn chặn nước mưa nhiều hơn cây nhỏ do có bề mặt lớn cho phép tỷ lệ bốc hơi cao hơn Tán cây có ít lỗ trống giảm nước rơi xuống đất [10]
Các nghiên cứu thực hiện đánh giá tác động lợi ích của cây xanh đô thị được khá nhiều tác giả trên thế giới thực hiện:
David J Nowak đã đánh giá tác động của cây xanh đô thị đến chất lượng không khí Trong nghiên cứu này tác cũng đã chỉ ra 4 cách chính mà cây xanh đô thị tác động đến chất lượng không khí: giảm nhiệt độ và tác động vi khí hậu khác, loại bỏ chất ô nhiễm không khí, tác động năng lượng của kiến trúc, giảm phát thải [18] Trong một
nghiên cứu khác David J Nowak và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu ―Assessing
urban forest effects and values: Toronto’s urban forest” Kết quả nghiên cứu cho thấy
rừng đô thị ước tính khoảng 1,1 triệu tấn CO2, giá trị khoảng 25 triệu đô la CAD, loại
bỏ khoảng 47000 tấn các – bon/năm (khoảng 1,1 triệu đô la CAD và loại bỏ khoảng
1905 tấn khí ô nhiễm mỗi năm (khoảng 16,9 triệu đô la CAD), làm giảm chi phí tiêu thụ năng lượng khoảng 9,7 triệu đô la CAD Trong nghiên cứu này nhóm tác giả sử dụng mô hình i-tree eco để hỗ trợ tính toàn các giá trị và lợi ích của rừng đô thị [21] Carlos Priego-González de Canales đã bình luận về lợi ích của trồng cây đối với kinh
tế, xã hội và môi trường Theo tác giả lợi ích môi trường của cây xanh đô thị có thể chia làm 4 lợi ích chính: tác động đối với chất lượng không khí (vi khí hậu, hấp thụ chất ô nhiễm, hấp thụ CO2, phát thải hợp chất VOC và tác động năng lượng trong xây dựng), bảo tồn nước và giảm sói mòn, giảm tiếng ồn và gia tăng đa dạng sinh học [22]
N J Georgi và K Zafiriadis thực hiện nghiên cứu ―The impact of park trees on
microclimate in urban areas‖ Kết quả cho thấy nhiệt độ không khí giảm, gia tăng độ
ẩm không khí, tăng độ làm mát và giảm bức xạ mặt trời [23]
Davey Resource Group thực hiện đánh giá lợi ích của cây xanh đường phố cho TP City of Pittsburgh Trong nghiên cứu này, mô hình i-tree street được sử dụng i-tree street là công cụ hỗ trợ đánh giá lợi ích cây xanh đường phố Kết quả nghiên cứu cho thấy các lợi mang lại từ cây xanh đường phố là rất lớn không những về giá trị môi trường mà còn giá trị về kinh tế Cụ thể như: giảm sử dụng khí tự nhiên và điện năng 2,227 MWh (xấp xỉ 1,2 triệu đô la Mỹ); giảm khí CO2 khoảng 5.303 tấn, giá trị khoảng 35.424 đô la/ năm; loại bỏ chất ô nhiễm với giá trị khoảng 252.935 USD/năm,
Trang 34ngăn chặn khoảng 41,8 triệu gallons nước mưa chảy tràn, giá trị thẩm mỹ mà cây xanh đường phố mang lại ước khoảng 572.882 đô la [16]
1.3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ TIỀM NĂNG LƯU GIỮ CÁC BON CỦA HỆ THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ
1.3.1.Thế giới
Một trong các áp lực lớn ngày nay của thế giới là phát thải khí nhà kính và biến đổi khí hậu CO2 là một trong những khí nhà kính chính và là nguyên nhân gây ấm lên toàn cầu Nó chiếm 72% lượng khí nhà kính phát thải, gây nên 9-26% tác động hiệu ứng nhà kính Theo báo cáo của IPCC (2007) lượng CO2 trong khí quyển tăng từ 280 ppm trong thời kỳ tiền công nghiệp (1750) lên 379 ppm năm 2005 và tăng 1,5 ppm mỗi năm [24] Vì vậy, việc giảm khí nhà kính đặc biệt là CO2 là một trong những việc làm cấp bách của toàn cầu
Các-bon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng [25-27] Việc xác định lượng các-bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng Các nghiên cứu đang được tiến hành nhanh chóng để tìm dẫn chứng về kho dự trữ các-bon tại các lớp phủ thực vật và làm thế nào để các bể dự trữ này có thể gia tăng hấp thụ
CO2 từ khí quyển Những nghiên cứu này rất quan trọng, đặc biệt đối với các nước công nghiệp cần đạt được sự giảm phát thải theo Nghị định Kyoto năm 1997 của UNFCCC
Hình 1.6 Trữ lượng và dòng các-bon trong hệ sinh thái rừng [28]
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lượng các-bon trung bình trong rừng nhiệt đới châu Á là
144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặn với độ sâu 1m, tương đương 42-43 tỷ tấn các-bon trong toàn châu lục và lượng các-bon trong rừng nhiệt đới Châu Á là 40-250 tấn/ha, trong đó 50- 120 tấn/ha ở phần thực vật và đất [12]
Trang 35Quá trình sinh trưởng của cây trồng cũng đồng thời là quá trình tích lũy các-bon Lượng sinh khối và các-bon không chỉ cố định trong các thành phần của cây mà tăng lên hàng năm theo tuổi cây [28]
Ngoài nghiên cứu về rừng nhiệt đới, thì nghiên cứu lưu trữ các-bon trong rừng ngập mặn cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Rabiatul Khairunnisa và Mohd Hasmadi đã sử dụng kỹ thuật viễn thám để đánh giá trữ lượng cacbon cho rừng ngập mặn [29] Công trình nghiên cứu của Daniel C Donato cho thấy rằng rừng ngập mặn
có trữ lượng các-bon lớn nhất rừng nhiệt đới, trung bình khoảng 1,023 Mg các-bon/ha [30] Patil V và nhóm nghiên cứu đã chứng minh trong lá rừng ngập mặn chiếm khoảng 36.9467% lượng các-bon [31]
Phương pháp nghiên cứu trữ lượng các-bon nhìn chung rất đa dạng Phân lớn phương pháp nghiên cứu trữ lượng các-bon là phương pháp thực nghiệm Phương pháp này cho độ chính xác cao nhưng tốn nhiều chi phí, thời gian và cần có các thiết bị phân tích hiện đại Một số nghiên cứu điển hình như Kevin G Black và Edward P Farrell nghiên cứu trữ lượng các-bon của hệ sinh thái rừng Ailen [32] Bên cạnh đó, phương pháp ước lượng sinh khối dựa vào mật độ cây trung bình trên diện tích được ứng dụng khá rộng rãi Phương này cho kết không hoàn toàn chính xác nhưng có thể tin cây được Một số nghiên cứu điển hình như: G Sandhya Kiran và Shah Kinnary [12] Ngoài ra sử dụng hệ số các-bon trung bình cũng được đề cập đến trong công trình của Gina Nicole Zirkle cho sinh cảnh khu dân cư [13]
Quá trình giám sát trữ lượng các-bon đòi hỏi thiết bị đặc biệt, phương pháp và kinh nghiệm của con người Do đó, để hướng dẫn cho quá trính giám sát các-bon đã được
một số Nhóm nghiên cứu công bố K.G MacDicken với công trình mang tên ―A guide
to monitoring carbon storage in forestry and agroforestry projects” [27]rất có ích cho
việc xác định và giám sát trữ lượng các-bon của rừng Timothy R.H Pearson và nhóm
nghiên cứu cũng đã có hướng dẫn tương tự với nhan đề ―Measurement guidelines for
the sequestration of forest carbon”
Bên cạnh đó, nghiên cứu khả năng lưu trữ và hấp thụ các-bon của cây xanh đô thị cũng được nhiều nhóm nghiên cứu quan tâm A Waran và A Patwardhan đã thực hiện nghiên cứu tiềm năng lưu trữ các-bon cho thành phố Pune Trong nghiên cứu này Nhóm nghiên cứu ước lượng sinh khối bằng nhân sinh khối với mật độ cây Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi năm thành phố Pune lưu trữ 15.000 tấn Các-bon [11] David
J Nowak và Daniel E Crane cũng có nghiên cứu khả năng lưu trữ các-bon tại Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng các-bon lưu trữ của rừng đô thị tại Mỹ là 700 triệu tấn tương đương với 14.300 triệu đô la [12] Một số nghiên cứu tương tự như:
―Carbon sequestration by urban trees on roadsides of Vadodara City‖ [12] Nghiên
cứu này đã sử dụng phương pháp tính sinh khối theo mật độ diện tích Tổng lượng
CO2 của tuyến đường là khoảng 159,47 tấn CO2, chiếm 22% lượng CO2 của thành phố Vadodara
―Assessment of carbon sequestration in the U.S residential landscape‖ [13]
―Method for calculating carbon sequestration by trees in urban and suburban
Trang 36Một số nghiên cứu khác nghiên cứu khả năng lưu trữ các-bon cho các trường đại học, công sở như B L Chavan và G B Rasal nghiên cứu lưu trữ cacsbon khung viên trường Đại học Aurangabad [15]
Các nghiên cứu về trữ lượng các-bon trên thế giới rất đa dạng và phong phú, việc nghiên cứu khả năng hấp thụ các-bon của nhiều loại rừng (tự nhiên, rừng trồng) khác nhau là cơ sở quan trọng để xác định tổng giá trị của rừng Từ đó khẳng định vị trí và đóng góp của ngành lâm nghiệp đối với phát triển kinh tế toàn cầu Có nhiều phương pháp xác định sinh khối và trữ lượng các-bon của rừng Tuy nhiên phương pháp đo đếm trực tiếp là phương pháp sử dụng phổ biến Việc xác định khả năng hấp thụ các-bon của rừng được tiến hành qua việc xác định sinh khối của lâm phần và chủ yếu dựa trên việc xác định sinh khối cây cá thể và sau đó xây dựng mô hình toán để xác định cho toàn lâm phần Một số mô hình toán về ước tính sinh khối và các-bon đã được xây dựng cho một số loài cây
Nghiên cứu trữ lượng các-bon của cây xanh đô thị được thực hiện khá nhiều trên thế giới Các nghiên cứu chỉ ra rằng cây xanh đô thị cũng góp phần đáng kể vào quá trình hấp thụ CO2 Các phương pháp nghiên cứu trữ lượng các-bon cho cây xanh đô thị chủ yếu sử dụng phương pháp ước lượng Các nghiên cứu này minh chứng cho vai trò to lớn của cây xanh đô thị trong quá trình làm điều hòa vi khí hậu và nâng cao khả năng giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
1.4.2 Việt Nam
Mặc dù các nghiên cứu trong nước chưa thực sự đang dạng, chưa đánh giá được một cách đầy đủ và toàn diện về khả năng hấp thu các-bon của rừng tự nhiên và rừng trồng nhưng những nghiên cứu ban đầu về lĩnh vực này có ý nghĩa rất quan trọng, làm nền tảng thiết lập thị trường giao dịch các-bon trong nước Hàm lượng các-bon trong các
bộ phận của các loài nghiên cứu tập trung chủ yếu là trong sinh khối thân (56-68%),
sau đó đến rễ (14-19%) và cành (10 - 18%), cuối cùng là trong lá (6-9%)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã xây dựng cẩm nang ngành lâm nghiệp hướng dẫn khái quát về các phương pháp tính toán khả năng hấp thụ các-bon Trong tài liệu này đã nêu rõ tiềm năng lưu trữ các-bon và các công ước, nghị định liên quan đến giảm thiểu khí nhà kính [34] Bên cạnh đó Bộ NT&PTNT cũng đã thực hiện
đề tài ―Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá trị thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam‖ Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng carbon hấp thụ được của cây cá thể Thông nhựa tập trung chủ yếu ở phần thân cây (25,7 -69,3%),
lượng carbon cố định trong đất rừng Thông nhựa dao động từ 26,5 -58,52 tấn/ha [35]
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ các-bon của một số loại rừng trồng keo lai, keo tai tượng, bạch đàn, thông mã vĩ và thông nhựa…Đối với mỗi loài cây, lập ô tiêu chuẩn
có diện tích là 200 m2 – 500 m2 Đo đếm đường kính ngang ngực và chiều cao của tất
cả các cây trong ô, xác định cây tiêu chuẩn để giải tích xác định sinh khối tươi Sinh khối tươi được xác định theo các bộ phận thân, cành, lá và rễ
Các nhóm nghiên cứu của Việt Nam cũng xây dựng phương trình mối tương quan và tính toán khả năng hấp thụ các-bon cho từng loại rừng Trong các nghiên cứu này các-
Trang 37bon được phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định tỷ lệ các-bon cho các bộ phận của cây Một số nghiên cứu như ―Nghiên cứu khả năng cố định CO2 của một số trạng thái rừng của vườn quốc gia Bạch Mã tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế‖ Kết quả nghiên cứu này cho thấy lượng hấp thụ CO2 của cây gỗ ở trạng thái rừng IIB
là 87,42 tấn/ha (khoảng 4.892,54 USD/ha) , chỉ đạt 33% so với trạng thái IIIA3 là 264 tấn/ha, rừng trạng thái IIB là 15,75 tấn/ha (khoảng 1.733,19 USD/ha) Khả năng hấp thụ CO2 của các trạng thái rừng phụ thuộc vào loài cây, cấp đường kính và vị trí của các lâm phần, khả năng hấp thụ CO2 ở sườn là cao nhất, tiếp theo là đỉnh và nhỏ nhất
là chân đồi [36]
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trữ lượng các-bon tập trung chủ yếu ở sinh khối trên mặt đất Nghiên cứu sinh khối của PGS.TS Bảo Huy về khả năng hấp thụ các-bon của
bời lời là khoảng thân 47.7%, vỏ 45.4%, lá 48.7% và cành 47.6% [29]
Trong quá trình thực hiện ―Định lượng khả năng tích tụ các-bon của một số loại rừng ở phía Nam làm cơ sở xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng (PFES)‖ của mình, TS Viên Ngọc Nam đã thực hiện tính toán khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng và bước đầu lượng giá chi phí môi trường dựa vào năng lực hấp thụ CO2 của rừng thông
qua lượng các-bon tích luỹ trong sinh khối của một số loại cây trồng ở phía Nam
Đối với Việt Nam, các nghiên cứu về khả năng hấp thụ các-bon của rừng mới chỉ tập trung xác định khả năng hấp thụ các-bon của một số loại rừng trồng, chủ yếu là các loài cây keo, bạch đàn, mỡ và thông Tuy nhiên, chưa có đánh giá và so sánh khả năng hấp thụ các-bon của cây xanh đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh Các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung nghiên cứu khả năng lưu trữ các-bon cho rừng ngập mặn Cần giờ Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá khả năng lưu trữ và hấp thụ các-bon của cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là rất cần thiết
Trang 38Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ BẰNG TIỀN CHO HỆ THỐNG CÂY XANH TP.HCM
Trong chương 1, Luận văn đã trình bày và phân tích sự lựa chọn công thức của CTLA để tính giá trị bằng tiền cho cây xanh đô thị ở TpHCM Trong công thức CTLA, có 4 thành phần: Giá trị cơ bản, hệ số chất lượng, hệ số loài và hệ số vị trí Trong chương này sẽ trình các cơ sở khoa học , phương pháp xác định các thành phần của công thức
Từ đó, tính toán kết quả giá trị bằng tiền của hệ thống cây xanh đô thị Tp HCM
2.1 PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ BẰNG TIỀN CHO CÂY XANH
(1) Theo Michael N Dana[1]giá trị cơ bản (dollars) gán cho một đơn vị tiết diện ngang (cm2 ha in.2)
Nó dựa trên chi phí của cây thay thế lớn nhất cùng loài
Để tính giá trị cơ bản, ta tìm chi phí (thường giá cây trồng) của một cây với kích thước thay thế từ vườn ươm hay công ty cây cảnh Sau đó, chia cho tiết diện ngang của cây thay thế
Giá trị này là giá trị cơ bản của 1 đơn vị tiết diện ngang Ví dụ, một cây có đường kính 5,08 cm (2 inches), đem trồng có giá 150$, ta chia cho 3,1 in.2, đã xác định giá 1 in.2 là 48,4 $/in.2
(2) [2]LEAF Environmental (2013)
đã sử dụng giá trị cơ bản như sau:
Giá trị cơ bản của cây = tiết diện ngang của cây x Hệ số giá đơn vị UVF (Urban Value Factor)
Tiết diện ngang tính từ đường kính cây đo ở 1,37 m hay đo chu vi sau đó qui đổi
Hệ số giá đơn vị UVF sử dụng từ qui định của địa phương Hệ số UVF là toàn bộ chi phí của cây mới trồng ở địa phương, chia cho tiết diện ngang của cây
Hệ số UVF có hai thành phần:
Trang 39- Giá tại cổng vườn ươm, tính theo giá trên đơn vị tiết diện ngang,
- Chi phí trồng (vận chuyển, trồng, vật liệu, chăm sóc trung gian và chi phí quản
lý nhưng không tính chăm sóc sau đó
Việc tính toán chi phí trên đơn vị tiết diện ngang được thực hiện trên nhóm loài thay vì tính riêng từng loài nhằm loại trừ sự khác biệt về giá trị chỉ dựa trên yếu tố sản xuất hay sự thay đổi nhu cầu
Ví dụ về tính giá trị cơ bản
Đường kính
thân (cm)
Bán kính thân (cm)
Tiết diện ngang thân (cm2)
Hệ số UVF Giá trị cơ bản
của cây (£)
(3) Theo [3]Gary Wayson (2001)
Cho thấy từ 1983 – 1988 giá trị cơ bản là từ 22$ đến 38 $, tính trung bình là 28$ - 36$
(4) E Gregory McPherson [4]
chỉ ra cách tính giá trị cơ bản như sau:
Chi phí cơ bản của cây = [(TAA – TAR) × Giá đơn vị] + Chi phí trồng cây
Trong đó: TAA =Tiết diện ngang của cây được đánh giá (cm2)
TAR = Tiết diện ngang của cây thay thế (cây mới trồng thay thế) (cm2)
Giá đơn vị=Chi phí của cây mới trồng có kích thước lớn nhất chia cho TAR ($/cm2) Chi phí trồng= tổng chi phí của cây thay thế (có kích thước TAR) và chi phí trồng
(5) David.j, N., et al,[5],
có giải thích về cách tính giá trị cơ bản như sau:
- Tiết diện ngang được sử dụng để xác định giá trị cơ bản Tiết diện ngang đo ở độ cao 1,37m
- Đối với cây mới trồng, chi phí thay thế trung bình và kích thước cây trồng được qui định bởi Hiệp Hội quốc tế cây cảnh Hiệp hội định kỳ ban hành giá thay thế (giá trị $ cho một đơn vị tiết diện ngang) Để tính giá trị cơ bản cho một cây, lấy giá đơn vị nhân cho tiết diện ngang của cây
- Giá trị cơ bản tối thiểu cho cây được qui định là có đường kính 2,54 cm (1 inch), qui định chung là 150$
- Đối với cây lớn hơn cây mới trồng, giá trị cơ bản tính theo công thức:
Giá trị cơ bản = Chi phí thay thế + [Giá cơ bản đơn vị x [ TAa – Tar)] x hệ số loài
Trong đó, chi phí thay thế là chi phí cho một cây có kích thước mới trồng cho phép lớn nhất, ($ /cm2); TAa là tiết diện ngang của cây được đánh giá, và TAr là tiết diện ngang của cây mới trồng cho phép lớn nhất
Trang 40Chi phí cho một cây có kích thước mới trồng cho phép lớn nhất,giá cơ bản cho đơn vị tiết diện ngang được ghi trong sách hướng dẫn của Hiệp hội Cây cảnh
Trong báo cáo này nêu ví dụ về tính giá trị cây:
Cây có đường kính 40,6 cm (tiết diện ngang 1.295 cm2); Hệ số loài 0,5; hệ số chất lượng 0,82; hệ số vị trí là 0,4; giá trị cơ bản 7$/cm2 và chi phí thay thế 1.300$ đối với cây có kích thước trồng lớn nhất là 12,7 cm (127 cm2 tiết diện ngang); thì giá trị của cây (dùng đền bù) là:
[1.300 + (1,295 – 127) x 0,5)] x 0,82 x 0,4 = 1.767 $
Qua phân tích các kinh nghiệm thế giới trên đây, cho thấy các điểm chung trong các tác giả và phương pháp là:
Giá trị cơ bản đã dựa trên chi phí trồng và chi phí thay thế cây
Các tác giả đều tính dựa trên tiết diện ngang của cây
Có tác giả tính giá trị cơ bản có lồng ghép hệ số loài, nhưng đa số là tính chung cho nhóm loài, dùng chung trong công thức tính giá trị, sau đó mới nhân cho hệ số loài
2.1.2 Phương pháp xác định giá trị cơ bản cho cây xanh đô thị ở Tp Hồ Chí Minh
Điều tra khảo sát mẫu cây đô thị trên địa bàn TP HCM
Để xác định hai nhóm tỷ lệ: tỷ lệ chất lượng và tỷ lệ về cấp kinh cho từng cấp loại chiều cao có trong CSDL, đề tài thực hiện lấy mẫu cho các loại chủ yếu (chia CSDL thành 19 nhóm loài)
Theo [44], dẫn tài liệu của Thompson (2002), rằng khi không có thông tin nào về các
tỷ lệ p và tập toàn thể có số lượng lớn, có thể áp dụng công thức sau đây để xác định
cỡ mẫu tối thiểu nmin:
và za/2 là giá trị trên cùa điểm a/2 của phân bố chuẩn bình thường
Đối với ước lượng nhiều tỷ lệ,Thompson (2002) chứng minh rằng n0 bằng510 khi