Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài được nghiên cứu sẽ làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về vai trò, vị trí của KH - CN, góp phầ
Trang 1ĐỖ THỊ NGỌC LỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ (1997 - 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 2- --
ĐỖ THỊ NGỌC LỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ (1997 - 2013)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
TS HỒ SƠN DIỆP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 3Diệp Em cám ơn thầy đã tận tình hướng dẫn cho em trong suốt quá trình nghiên cứu Em cám ơn thầy đã luôn động viên, khích lệ tinh thần em, truyền cho em thêm lòng tin và quyết tâm mỗi khi em gặp khó khăn và chán nản
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm em học tập tại trường
Em cũng muốn gửi lời cám ơn chân thành đến Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương, Tỉnh ủy tỉnh Bình Dương, UBND tỉnh Bình Dương, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương,Thư viện tỉnh Bình Dương, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và một số cơ quan, ban ngành khác đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm và mượn tư liệu để phục
vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Con xin gửi lời tri ân đến cha mẹ - những bậc sinh thành và gia đình thân yêu đã quan tâm, động viên hết lòng; là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con trong những lúc khó khăn nhất Cám ơn các bạn đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Sau hết, em kính chúc quý Thầy/Cô dồi dào sức khỏe và thành công hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người” cao quý!
Em xin trân trọng cảm ơn!
Học viên thực hiện
Đỗ Thị Ngọc Lệ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được sự hướng dẫn khoa học của TS Hồ Sơn Diệp Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về sự cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Học viên
Đỗ Thị Ngọc Lệ
Trang 5Mục lục
Phần Mở đầu …1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1997-2013) 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1997 – 2013) 42
2.1 Giai đoạn 1997 - 2003 42
2.1.1 Chủ trương phát triển khoa học - công nghệ 42
2.1.2 Quá trình lãnh đạo phát triển khoa học - công nghệ 46
2.2 Giai đoạn 2003 - 2013 67
2.2.1 Chủ trương phát triển khoa học - công nghệ 67
2.2.2 Quá trình lãnh đạo phát triển khoa học - công nghệ 72
Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM (1997 – 2013) 115
3.1 Đánh giá chung 115
3.2 Những bài học rút ra trong quá trình lãnh đạo phát triển khoa học - công nghệ của Đảng bộ tỉnh Bình Dương 131
3.3 Xu hướng vận động phát triển của khoa học - công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế 138
Trang 63.4 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác lãnh đạo phát triển khoa học - công nghệ của Đảng bộ tỉnh Bình Dương 140 KẾT LUẬN 146 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- ATBX: An toàn bức xạ
- CBCCVC: Cán bộ công chức viên chức
- Báo cáo ĐTM: Báo cáo đánh giá tác động môi trường
- CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- CNTT: Công nghệ thông tin
- CNSH: Công nghệ sinh học
- ĐTCB&BVMT : Điều tra cơ bản và bảo vệ môi trường
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- KH - CN: Hoạt động Khoa học và công nghệ
- KHKT: Khoa học kỹ thuật
- KHTN: Khoa học tự nhiên
- KT - XH: Kinh tế - xã hội
- KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn
- NCKH và PTCN: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Sở KHCN&MT: Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường
- TBT: mạng lưới cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào
kỹ thuật trong thương mại
- TCĐLCL: Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
- TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
- UBND: Ủy ban nhân dân
- ƯDKHCNMT: Ứng dụng Khoa học Công nghệ và Môi trường
Trang 8KH - CN đã, đang và sẽ thâm nhập vào từng khâu nhỏ nhất của tất cả các ngành sản xuất, nó có sức mạnh chi phối đến sự phát triển nhanh chóng của tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội (KT – XH) Điều đó có nghĩa là bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển thì phải xem KH - CN như “chiếc chìa khóa” để mở “cánh cửa” thoát khỏi sự tụt hậu về kinh tế Sự thành công rực rỡ của các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Nhật Bản,… và sự vươn lên mạnh mẽ của các nước công nghiệp mới (NICs) với đóng góp vô cùng to lớn của KH - CN, chính là những ví dụ điển hình minh chứng cho vai trò, vị trí không thể thiếu của KH - CN đối với sự phát triển KT - XH của một quốc gia Đặc biệt, các nước thuộc nhóm đang phát triển và kém phát triển sẽ lâm vào tình trạng tự kéo mình tụt hậu xa hơn so với nhóm các nước phát triển nếu không biết phát huy tiềm năng trên cơ sở kế thừa và phát triển thành tựu KH - CN của nhân loại.
Nhận thức rõ vai trò, vị trí của KH - CN đối với sự phát triển KT - XH của đất nước, ngay từ Đại hội IV, Đảng ta đã xác định KHKT là cuộc cách mạng then chốt trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Tiếp đó, xuyên suốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, KH - CN luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là nền
Trang 9tảng và động lực đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
Với mục tiêu đến năm 2020, cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp
hóa, tháng 12 năm 1996, Đảng đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HNTW về “Định
hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2020” Và mới đây, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng
tiếp tục khẳng định: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển
lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới [45;tr.78], phấn
đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [45;tr.103]
Bình Dương, một tỉnh năng động trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều điều kiện thuận lợi về địa lý, tự nhiên, cư dân, truyền thống văn hóa,… do vậy, cũng chứa đựng tiềm năng lớn để phát triển KH – CN Những năm qua, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã rất nhanh nhạy trong việc tận dụng lợi thế, phát huy tiềm năng để phát triển KH - CN, tạo động lực để phát triển KT - XH, đưa vị thế của tỉnh vươn lên mạnh
mẽ Dù thế, trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về phát triển KH -
CN, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những tồn tại, hạn chế, và đó chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cho các tỉnh, địa phương hoạch định tốt hơn hướng đi của mình trong thời gian tới Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu chủ trương, quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với phát triển KH - CN là một việc làm cần thiết, không những góp phần tổng kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận, mà
Trang 10còn giúp tạo lập cơ sở, cứ liệu khoa học, làm tiền đề để thúc đẩy hoạt động KH - CN trên địa bàn tỉnh
Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Đảng bộ
tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển Khoa học - công nghệ (1997-2013)” làm Luận
văn Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài được nghiên cứu sẽ làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về vai trò, vị trí của KH - CN, góp phần tổng kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận; đồng thời kiếm tìm những cứ liệu khoa học, tạo điều kiện thuận lợi giúp Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thúc đẩy KH - CN phát triển, góp phần đưa KT - XH tỉnh Bình Dương tiến nhanh trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thứ nhất, đánh giá đúng quá trình lãnh đạo phát triển KH - CN của Đảng bộ
tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997-2013
Thứ hai, đánh giá mô hình phát triển KH - CN của tỉnh Bình Dương
Thứ ba, làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu vấn đề phát triển
KH - CN, lịch sử Bình Dương
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một phần rất quan trọng, thậm chí là then chốt của sự phát triển của mỗi quốc gia nên KH - CN luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà lãnh đạo, quản lý Ở phạm vi thế giới, nhiều Hội nghị về KH - CN đã được tổ
chức Tiêu biểu là Hội nghị Toàn cầu bàn về khoa học cho thế kỷ 21 diễn ra tại
Trang 11Buđapét (Hungary) từ ngày 26/6/1999 đến ngày 01/7/1999 với sự tham gia của 2000 nhà khoa học trên khắp thế giới Hội nghị đã thảo luận về các vấn đề cơ bản và tồn tại của khoa học bên thềm thiên niên kỷ mới, sự phát triển của khoa học với vai trò động lực phát triển của quốc gia, những cơ hội và thách thức đối với các nước, sự hợp tác quốc tế và khu vực, vấn đề phát triển mạnh công nghệ cao, nhất là công nghệ sinh học (CNSH), công nghệ thông tin (CNTT), tăng cường năng lực KH - CN cho các nước,…
Ở Việt Nam, phát triển KH - CN cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình sách, bài báo của các
nhà khoa học đề cập đến vấn đề này như: sách “Một số vấn đề về chính sách phát triển
khoa học và công nghệ” do Nguyễn Văn Thụy (Chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1994; sách “Các văn bản của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học và công
nghệ 1981-2001”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; Sách “Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010
Một số bài báo như: “Gắn khoa học và công nghệ với sản xuất kinh doanh
thành động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Hồ Ngọc Luật,
Tạp chí Cộng sản, số 11/2005; “Khoa học - công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa” của Nguyễn Hải Hà, Thông tin Lý luận, số 261, năm
1999,… Và các bài báo của các tạp chí chuyên ngành do Bộ KHCN phát hành như: Tạp chí Hoạt động Khoa học (nay là Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam), Tạp chí Khoa học Công nghệ và Môi trường với những bài viết theo hướng tiếp cận từ cơ chế, chính sách đến hoạt động nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất và đời sống
Nhìn chung, ở tầm vĩ mô, các công trình trên đã đề cập đến KH - CN với nhiều góc nhìn, khía cạnh khác nhau như: chính sách phát triển KH - CN, xây dựng nguồn nhân lực KH - CN, ứng dụng KH - CN vào hoạt động kinh tế,… Đây là nguồn tư liệu rất quan trọng, mang tính gợi mở hướng tiếp cận đề tài Tuy nhiên, có thể nói, trên
Trang 12phạm vi cả nước, hầu như chưa có nhiều công trình sử học nghiên cứu, tổng kết mang tính riêng biệt về KH - CN
Ở phạm vi tỉnh, thành phố, đã có một số công trình nghiên cứu về KH - CN, tiếp
cận dưới góc độ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, có thể kể đến như “Đảng bộ tỉnh Đồng
Nai lãnh đạo phát triển KH - CN thời kỳ 1996-2013” của Đỗ Thị Thu Phương, Luận
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
(KHXH& NV Tp HCM), 2015;“Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển
KH - CN thời kỳ 1991-2012” của Nguyễn Thị Hoài Thanh, Luận văn Thạc sĩ, Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh (KHXH& NV Tp
HCM), 2014; “Thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển
sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Thuận”, Luận văn Thạc sĩ của Trịnh Thị Cảnh, Trường
Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tiếp cận dưới góc độ quản lý
KH - CN Và một số công trình nghiên cứu vấn đề dưới góc độ phát triển nguồn nhân
lực KH - CN như: “Giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai” của Nguyễn Thị Hoàng, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học
KHXH&NV Tp HCM, 2006; “Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ
của tỉnh Tiền Giang đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển trường Đại học Tiền Giang” của Bùi Thanh Vân, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV TP
HCM, 2006, Nhìn chung, những công trình nghiên cứu tổng quan và chuyên biệt về phát triển KH - CN ở địa phương còn rất ít và chủ yếu vẫn được tiếp cận dưới góc độ một mảng nhỏ của KH - CN
Đối với tỉnh Bình Dương, nghiên cứu về KH - CN có đề tài “Thực trạng và giải
pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Bình Dương” của Lưu
Duẩn - Đỗ Văn Khiêm (đồng chủ nhiệm), Sở KHCN tỉnh Bình Dương nghiệm thu năm
2013 Nhưng hướng tiếp cận của đề tài này là phát triển nguồn nhân lực, vì vậy, đến nay vẫn chưa có công trình, đề tài nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàn diện và có
Trang 13hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với phát triển KH - CN Song, những đề tài trên và những công trình nghiên cứu tổng quan về địa lý, lịch sử Đảng bộ, tình hình KT - XH của tỉnh Bình Dương, sẽ là một trong những nguồn tư liệu quan trọng của luận văn Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Luận văn Thạc sĩ “Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp
giai đoạn 1997-2007” của Đỗ Minh Tứ, Đại học KHXH&NV Tp HCM, 2009 Luận
văn đã trình bày quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển các khu công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, đánh giá những thành tựu, hạn chế, rút ra một số bài học kinh nghiệm đồng thời đề ra những giải pháp khả thi để phát triển các khu công nghiệp
ở tỉnh trong thời gian tới Luận văn đã cung cấp cho tác giả phương pháp tiếp cận, hướng nghiên cứu đề tài
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1975-2010)”, NXB Chính trị Quốc gia,
2011 Sách cung cấp cho tác giả những hiểu biết cơ bản về quá trình lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Bình Dương trong suốt 35 năm qua
“Bình Dương thế và lực mới trong thế kỷ XXI”, Tổng Công ty cổ phần thông tin
kinh tế đối ngoại biên soạn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Cuốn sách là nguồn tư liệu phục vụ cho việc tìm hiểu tiềm năng và hướng phát triển KH - CN của tỉnh cũng như của các huyện, thị, các ngành, các lĩnh vực trọng yếu trong tỉnh
Nghiên cứu về KT - XH của tỉnh Bình Dương có những công trình như: Sách
“Sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1945-2007”, Nguyễn Văn Hiệp,
NXB Chính trị Quốc gia, 2011; “Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình
Dương từ 1945 đến 2005”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiệp, Đại học
KHXH&NV Tp HCM, 2007; “Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình
Dương (1997-2007)”, Luận văn Thạc sĩ của Võ Thị Cẩm Vân, Đại học KHXH&NV
Tp HCM, 2008; “Sự phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương trong thời kỳ đổi mới từ
Trang 141986 đến 2003”, Luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Thị Nga, Đại học KHXH&NV Tp HCM,
2005 ; “Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
(1993-2003)”, Luận văn Thạc sĩ của Huỳnh Đức Thiện, Đại học KHXH&NV TP
HCM, 2005 Tuy chỉ đề cập KH - CN dưới dạng lồng ghép vào các thành tựu KT - XH của tỉnh Bình Dương nhưng những công trình nghiên cứu này chính là tiền đề cho tác giả có những cái nhìn khái quát về bức tranh thực tiễn phát triển KT - XH của tỉnh trong gần 40 năm qua mà trong đó, sự phát triển KH - CN đóng một vai trò quan trọng
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, sách kể trên, còn có các bài viết ở một
số Hội nghị chuyên đề như Hội nghị khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế
xã hội các tỉnh/thành phố miền Đông Nam Bộ lần thứ II được tổ chức tại Bà Rịa -
Vũng Tàu trong 2 ngày 30 và 31/10/1996 Hội nghị đã có những đánh giá tình hình hoạt động KH - CN và bảo vệ môi trường năm 1996 ở các tỉnh, trong đó có tỉnh Sông
Bé (sau ngày 01/01/1997, tách thành hai tỉnh: Bình Dương và Bình Phước) với những kết quả bước đầu đáng ghi nhận về hoạt động KH - CN phục vụ nông nghiệp và công nghiệp xây dựng Và một số bài viết có liên quan đến phát triển KH - CN tỉnh Bình
Dương trên một số tạp chí như: “Hoạt động Khoa học và Công nghệ các tỉnh miền
Đông Nam Bộ”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 1 năm 1997, tr.32; “Hoạt động Khoa học và công nghệ ở Đông Nam Bộ - Kết quả và hạn chế”, Lê Văn Kiều, Tạp chí Hoạt
động Khoa học, số 4 năm 2003, tr.42-43 có đề cập đến một số kết quả hoạt động KH -
CN ở tỉnh Bình Dương trong tương quan với các tỉnh, thành phố lân cận; “Bình
Dương: hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng ISO 9000”, Nguyễn Văn Phước, Tạp chí Hoạt
động khoa học, số 8 năm 2004, tr.37-38; “Phát triển thị trường công nghệ tỉnh Bình
Dương”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 11 năm 2007, Nguyễn Văn Hiệp, tr.37;
“Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương” Tạp chí
Hoạt động Khoa học, số 11 năm 2007, tr.38-39; “Bình Dương: Xây dựng tiềm lực
Trang 15Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Hoạt động Khoa
học, số 2 năm 2010, Nguyễn Văn Rua, tr.43-45
Ngoài ra, còn có những bài viết trên trang web của Sở KHCN tỉnh Bình Dương, Báo điện tử Bình Dương về chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh cũng như những thành công trong ứng dụng KH - CN vào sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh
Nói tóm lại, về phát triển KH - CN, đã có rất nhiều công trình, sách, báo, bài
viết tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như tiềm năng, cơ chế quản lý, nhân lực, kinh doanh, môi trường, hiệu quả ứng dụng,…Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày một cách đầy đủ và hệ thống về quá trình lãnh đạo phát triển KH -
CN của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ khi tách tỉnh đến nay Song, các công trình trên, với những cứ liệu, nhận định, đánh giá rất đa chiều sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, là tiền đề để tác giả tiến hành nghiên cứu, hoàn thành Luận văn này
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một, tập hợp những tư liệu có liên quan đến đề tài, chọn lọc, phân tích và hệ
thống hóa những tư liệu hiện có
Hai, làm rõ những tiềm năng KH - CN và hoạt động KH - CN tỉnh Bình Dương
trước năm 1997
Trang 16Ba, làm sáng tỏ đường lối của Đảng, Nhà nước và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về phát triển KH - CN
Bốn, nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát triển KH - CN của Đảng bộ tỉnh Bình
Dương trong giai đoạn 1997-2013
Năm, đánh giá những thành tựu, hạn chế, đúc kết những bài học kinh nghiệm về
quá trình lãnh đạo phát triển KH - CN
Sáu, tìm hiểu xu hướng vận động phát triển của KH - CN trong thế kỷ XXI Bảy, xây dựng các giải pháp khoa học nhằm góp phần thúc đẩy KH - CN ở tỉnh
Bình Dương phát triển đúng hướng hơn trong thời gian tới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác lãnh đạo phát triển KH - CN của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, thể hiện qua chủ trương, chính sách và những hoạt động hướng dẫn, kiểm tra giám sát
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: đề tài được nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn
1997-2013, tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, phạm vi thời gian của đề tài được
mở rộng với thời kỳ trước đó nhằm làm tiền đề cho nội dung chính của đề tài
- Phạm vi không gian: địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng hai phương pháp cơ bản, đó là: phương pháp lịch sử và phương pháp logic:
Trang 17Phương pháp lịch sử sẽ giúp tác giả trình bày nội dung đề tài theo diễn tiến thời gian, dưới tác động chi phối của hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm làm nổi bật quá trình lãnh đạo phát triển KH - CN của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong từng giai đoạn, thời
6.2 Nguồn tư liệu của đề tài
Một, Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, các Nghị quyết của
Hội nghị Trung ương Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần IV đến Đại hội XI có liên quan đến phát triển KH - CN, đặc biệt là các Nghị quyết chuyên đề về phát triển KH - CN; Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bình Dương, Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ Đại hội Đảng bộ lần thứ VI đến Đại hội IX; các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Dương về phát triển KH - CN; các báo cáo, tổng kết về tình hình KT - XH của Cục Thống kê tỉnh; các báo cáo, tổng kết của Sở KHCN tỉnh Bình Dương
Hai, các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí ở thư viện tỉnh Bình Dương,
thư viện Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Lịch Sử, Thông tin Lý luận, Khoa học
Trang 18công nghệ và môi trường, Báo Bình Dương, các trang web của tỉnh Bình Dương về phát triển KH - CN, và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở hình thành chủ trương phát triển khoa học – công nghệ của Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1997 - 2013)
Trang 191.1.1 Khái niệm và một số thuật ngữ liên quan đến đề tài
Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự
vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không
kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên
cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH
- CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH - CN
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy
luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật
của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu
khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người
và xã hội
Trang 20Phát triển công nghệ (PTCN) là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản,
nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới
Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học
(NCKH) và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu
Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để
sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất
và đời sống
Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc
NCKH và PTCN; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT), chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ (ATBX), hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu KH - CN trong các lĩnh vực KT -
XH
Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu
khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH - CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật
Cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người thực hiện hoạt động KH -
CN
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề KH - CN cần được giải quyết
để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển KH - CN
Trang 21Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là việc bên đặt hàng đưa ra
yêu cầu về sản phẩm KH - CN, cung cấp kinh phí để tổ chức, cá nhân hoạt động KH -
CN tạo ra sản phẩm KH - CN thông qua hợp đồng
Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học và công nghệ là cơ sở vật chất - kỹ
thuật của tổ chức KH - CN; hệ thống chuẩn đo lường, phòng thí nghiệm trọng điểm; khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH - CN; hạ tầng thông tin, thống kê KH - CN
Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ
thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển KT - XH, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa [58;tr.1-3]
1.1.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học - công nghệ
Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) chỉ rõ: “Phát triển
khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [41;tr.135]
Với chỉ đạo trên, rõ ràng, KH - CN luôn là một chủ trương quan trọng trong đường lối của Đảng Thực hiện đường lối của Đảng, hoạt động KH - CN của nước ta
đã bước đầu đạt được một số thành tựu khi gắn bó hơn với nhu cầu phát triển KT - XH, thích nghi dần với cơ chế thị trường, đóng góp vào sự tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm tăng 13,3% [130] Nhưng bên cạnh những kết quả kể trên, nền KH
- CN nước ta phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH và còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã thông qua
Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Trang 22Trên cơ sở vạch rõ những yếu kém và nguyên nhân khiến hoạt động KH - CN thời gian qua còn yếu kém, Nghị quyết đã đưa ra định hướng chiến lược phát triển KH
- CN đến năm 2020:
Một là, tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng và động lực của KH - CN trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước
Hai là, xác định nội dung định hướng chung của chiến lược KH - CN đến năm
2020 với các nội dung:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu KH - CN trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng - an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nước Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhận từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI
- Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực KH - CN của nước nhà: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân lành nghề, trẻ hóa và phát triển đội ngũ cán bộ KH - CN có đủ đức, tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông tin, từng bước hình thành một nền KH - CN hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trong quá trình CNH, HĐH
Ba là, xác định rõ nhiệm vụ của các lĩnh vực KH - CN (KHXH&NV; khoa học
tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; tiềm lực KH - CN) Những mục tiêu và
Trang 23nhiệm vụ trên sẽ được thực hiện trên cơ sở quán triệt 5 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết
Bốn là, đưa ra mục tiêu phát triển KH - CN đến năm 2000 là nâng cao mặt bằng
khoa học và dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và phải phát triển một bước tiềm lực KH -
CN Mục tiêu này phù hợp với điều kiện KT - XH của đất nước thời điểm này và phù hợp với những mục tiêu CNH, HĐH mà Đảng đề ra trong Đại hội VIII
Năm là, để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ trên, Nghị quyết đưa ra những
giải pháp chủ yếu như: tạo lập thị trường cho KH - CN; cải thiện chính sách đối với cán bộ KH - CN; phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; đồng thời tăng cường đầu tư cho phát triển KH - CN (đạt không dưới 2% tổng chi ngân sách) từ nhiều nguồn; hợp tác quốc tế về KH - CN; tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm; đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động KH - CN; đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH - CN [39]
Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) ra đời đã định hướng và tạo cơ sở quan trọng cho sự nghiệp của nền KH - CN nước ta, từng bước phát huy vai trò động lực đối với sự phát triển KT - XH Nghị quyết đã thực sự trở thành tư tưởng chỉ đạo phát triển
KH - CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Để Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đi vào thực tiễn, Đảng và Nhà nước tiếp tục có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể để thực hiện Nghị quyết như: Nghị định
45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công
nghệ; Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định 16/2000/NĐ-CP ngày 10/5/2000 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Quản lý Nhà nước về chuyển giao công nghệ,… Đặc biệt, để
nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về KH - CN
Trang 24cũng như để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động
KH - CN, ngày 09/6/2000 Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học và công nghệ
Sự ra đời của Luật KH - CN không những thể hiện quan điểm nhất quán của
Đảng coi “Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước” [57;tr.3]; mà còn thể hiện tinh thần
đổi mới về tổ chức và quản lý các hoạt động KH - CN, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời đại mới
Để thực thi tốt Luật KH - CN, ngày 17/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 81/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và
công nghệ Bộ Chính trị cũng tăng cường chỉ đạo về công tác KH - CN theo luật mới
qua các chỉ thị như Chỉ thị 45-CT/TW về tăng cường hoạt động của Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Chỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, Chỉ thị 63-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH -
CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn,…
Qua 6 năm thực hiện Nghị quyết trung ương 2 (khóa VIII), hoạt động KH - CN
đã có những đóng góp thiết thực cho việc phát triển KT - XH của đất nước, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như: Hoạt động KH - CN chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển KT - XH; Đầu tư ngân sách và đầu tư của xã hội cho phát triển KH - CN còn thấp; Trình độ công nghệ, cơ sở vật chất và kỹ thuật của nước ta hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực; Đội ngũ cán bộ KH - CN còn thiếu; Công tác quản lý KH
- CN còn mang tính hành chính, thị trường KH - CN chưa phát triển,… Chính vì vậy,
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng ta chủ trương: “Phát triển
khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[41;tr.228] Nghị quyết Đại hội còn nhấn mạnh: Muốn rút ngắn quá trình CNH, HĐH, phải nắm bắt, khai thác, sử dụng các thành tựu KH - CN hiện đại và những yếu tố của
Trang 25nền kinh tế tri thức Tập trung xây dựng và phát triển tiềm lực KH - CN của đất nước, tăng năng lực tiếp thu, làm chủ, thích nghi, cải tiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho KH - CN, huy động sức dân trong phát triển KH - CN,…[44;tr.230]
Tháng 7/2002, tại Hội nghị lần thứ 6 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương đã kiểm điểm, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng về phát triển giáo dục - đào tạo, KH - CN từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010 Hội nghị đã vạch ra phương hướng đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đổi mới và nâng cao trình độ
KH - CN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân; xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao, nhất là CNTT và CNSH; đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý, trong đó cần quan tâm hơn nữa đến chính sách đối với trí thức KH - CN [40;tr.137-138]
Trên tinh thần Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX), ngày 31/12/2002,
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
hành động thực hiện Kết luận Hội nghị TW6 (Khóa IX) về khoa học - công nghệ, phân
công các Bộ, ngành phụ trách thực hiện Chương trình hành động gồm 21 đề án và bốn nhóm nhiệm vụ lớn, gồm: đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động KH - CN; tạo lập và phát triển thị trường KH - CN; phát triển tiềm lực KH - CN; tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
272/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam
đến năm 2010 Chiến lược chỉ rõ: “Để Khoa học - công nghệ nhanh chóng phát huy được vai trò là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước cần có chính sách quan tâm đặc biệt đến phát triển khoa học - công nghệ, coi đầu tư cho khoa học - công nghệ là đầu tư phát triển; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực; tạo động lực vật chất và tinh thần mạnh mẽ cho cá nhân hoạt động khoa học - công nghệ, trọng dụng và tôn vinh nhân tài” [72;tr.9]
Trang 26Kế thừa quan điểm, chủ trương về phát triển KH - CN trước đó, vị trí “quốc
sách hàng đầu, nền tảng, động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[42;tr.95], đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã ghi nhận những tiến bộ của hoạt động KH - CN khi đã tập trung hơn vào nghiên cứu ứng dụng, phục vụ các yêu cầu phát triển KT - XH Tuy nhiên, Đảng cũng chỉ ra những yếu kém, hạn chế tồn tại
từ lâu trong hoạt động KH - CN mà đến nay vẫn chưa giải quyết được là cơ chế quản lý
KH - CN (kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) chậm đổi mới, thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu KH - CN với đào tạo nhân lực, thị trường KH - CN chậm được hình thành, hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học còn thấp,…[44;tr.420]
Chính vì vậy, định hướng phát triển KH - CN trong những năm tới là “phát triển mạnh,
kết hợp chặt giữa hoạt động KH - CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức” Đồng thời, tiếp tục thực hiện những biện pháp đã đề ra từ các đại
hội trước là đổi mới cơ bản cơ chế quản lý KH - CN, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động KH - CN; Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài; đẩy mạnh hợp tác quốc tế [44;tr.448-449]
Năm 2011, tại Đại hội XI, Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó, Cương lĩnh tiếp tục khẳng định: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [45;tr.78] Kế thừa quan điểm, chủ
trương của Đảng, ngày 11/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số
418/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển KH - CN giai đoạn 2011-2020
Trên tinh thần quán triệt quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội XI, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
(ngày 01/12/2012) đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW về “Phát triển khoa học và công
nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
Trang 27trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Nghị quyết tiếp tục khẳng
định vị trí quốc sách hàng đầu của KH - CN nhưng nhấn mạnh KH - CN “cần được ưu
tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp […] Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học và công nghệ”
[2;tr.2] Mục tiêu tổng quát cho hoạt động KH - CN thời gian tới là “Phát triển mạnh
mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI” [2;tr.3]
Để đạt được mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể cho những mốc quan trọng như năm 2020 (hoạt động KH - CN đóng góp khoảng 35% tăng trưởng kinh tế), 2030 (một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới) và hệ thống giải pháp cụ thể
Ngày 18/6/2013, Quốc hội ban hành Luật số 29/2013/QH13 - Luật Khoa học và công nghệ mới, có nhiều điều chỉnh so với Luật KH - CN năm 2000 Luật KH - CN ban hành năm 2013 nhấn mạnh hơn đến những chính sách đầu tư cho KH - CN, đặc
biệt là đối với nguồn nhân lực của KH - CN Cụ thể: “Ưu tiên tập trung mọi nguồn lực
quốc gia cho phát triển KH - CN; áp dụng đồng bộ cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi nhằm phát huy vai trò then chốt và động lực của KH - CN trong phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân […], Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, chú trọng lĩnh vực KH - CN ưu tiên, trọng điểm quốc gia; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để phát triển, đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực KH - CN” [58;tr.3-4]
Trên tinh thần triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW (2012), Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để thúc đẩy nền KH - CN nước ta như: Nghị quyết 46/NQ-CP
ngày 29/3/2013 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
Trang 28số 20-NQ/TW về phát triển KH - CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020
Như vậy, những chính sách phát triển KH - CN của nước ta hiện nay vẫn được định hướng bởi tinh thần của Nghị quyết số 20- NQ/TW (2012), cho thấy ý nghĩa và vai trò quan trọng của Nghị quyết Với Nghị quyết số 20-NQ/TW, toàn Đảng, toàn dân
ta đã có sự định hướng rõ ràng hơn để đẩy mạnh hoạt động KH - CN, góp phần hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH, thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Đến năm 2013, nước ta đã trải qua 27 năm đổi mới, trong đó có 17 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Nghị quyết 20/NQ-TW cùng những chủ trương, đường lối của Đảng về KH - CN đang đi vào thực tiễn, KH - CN nước ta đã có những bước tiến đáng kể, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Chính phủ cũng đã ban hành khá đồng bộ các cơ chế, chính sách thông qua việc xây dựng và phê duyệt các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án phát triển KH - CN Hệ thống pháp luật, chính sách về KH - CN ngày càng được hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động KH - CN, cụ thể: nhiều đạo luật chuyên ngành và hệ thống các văn bản hướng dẫn, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực của KH - CN ra đời như: Luật Bảo vệ môi trường (1993), Luật KH - CN (2000 và sửa đổi, bổ sung năm 2013), Luật sở hữu trí tuệ (2005), Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Chất lượng hàng hóa (2007), Luật Công nghệ cao (2008), Luật Đo lường (2011), Điều lệ sáng kiến (2012),… Chính nhờ vậy, hành lang pháp lý về KH - CN ngày càng rõ ràng, thông thoáng để phục vụ cho sự phát triển KH - CN đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế
Do nhận thức được tầm quan trọng của KH - CN đối với sự phát triển KT - XH của đất nước qua các thời kỳ, nhất là từ khi nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,
Trang 29HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước đã vạch rõ đường lối, chính sách để phát triển KH -
CN, ứng dụng KH - CN vào đời sống, biến KH - CN thành “đòn bẩy” để thúc đẩy KT -
XH phát triển Những đường lối, chính sách đó cũng là cơ sở, định hướng để Đảng bộ các tỉnh, thành trong cả nước nói chung, Bình Dương nói riêng trong việc đề ra chủ trương phát triển KH - CN tại địa phương
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tiềm năng khoa học - công nghệ
- Tiềm năng tự nhiên
Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên là 2.695,54 km2, chiếm 0,83% diện tích cả nước, có tọa độ địa lý từ 10o 52’00” đến
11o30’00” vĩ độ Bắc và 106o20’00” đến 106o57’00” kinh độ Đông Phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía tây giáp tỉnh Tây Ninh [4;tr.16]
Tại vị trí địa lý trên, Bình Dương nắm giữ nhiều huyết mạch giao thông hết sức quan trọng, điển hình như Quốc lộ 1A; đường sắt Bắc - Nam; Quốc lộ 13 nối liền Thành phố Hồ Chí Minh với Bình Phước, chạy suốt chiều dài tỉnh từ Nam lên Bắc nối với biên giới Campuchia; Quốc lộ 14 đi các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, Hệ thống giao thông đường thủy của Bình Dương cũng rất thuận lợi khi có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Các huyết mạch giao thông “như những sợi dây” kết nối vững chắc Bình Dương trong khối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như các tỉnh thành khu vực Tây Nguyên, Trung bộ và Tây nam bộ Đặc biệt, tỉnh nằm trong vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hóa, công nghệ, lao động kỹ thuật,…
Về địa hình: nằm trong bối cảnh chung của quá trình biến động địa chất của lãnh
thổ miền Nam Việt Nam và là vùng đất nằm ở đới tiếp xúc của đới nâng bóc mòn Đà
Trang 30Lạt và đới sụt võng tích tụ đồng bằng sông Cửu Long, trên diện tích của tỉnh Bình Dương có nhiều yếu tố địa hình của miền trung du, đặc trưng cho hai đới trên Đó là địa hình đồng bằng đồi núi thấp bóc mòn rìa miền nâng chiếm khoảng 40% diện tích và địa hình đồng bằng tích tụ và tích tụ bóc mòn rìa miền võng chiếm khoảng 60% diện tích [4;tr.19] Bề mặt địa chất chủ yếu là đồng bằng (chiếm đến 55%) và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn và theo hướng thoải, thấp dần
từ bắc xuống nam Các đồi núi có độ cao không vượt quá 300 mét, phân bố trên 3 khu vực bao quanh lấy đồng bằng rộng lớn ở trung tâm Về phía đông, đó là những dải đồi thoải kéo dài dọc theo hữu ngạn sông Đồng Nai gồm: núi Giồng Xoài, núi Kỳ Lân, núi
Bà Cẩm, núi Lồ Ô; phía nam có núi Châu Thới; phía tây bắc có dải núi Tha La, núi Chùa, núi Đất Và hầu hết các dạng địa hình trong tỉnh đều phân bố trên các thành tạo địa chất ổn định
Về khí hậu: cũng như các tỉnh khác thuộc Nam Bộ, Bình Dương là tỉnh nằm
trong vùng cận xích đạo, nên khí hậu mang đầy đủ sắc thái của vùng đới khí hậu cận xích đạo Đặc trưng của đới khí hậu này là nền nhiệt độ cao, quanh năm nóng và ẩm Hơn nữa, Bình Dương cũng là tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa chế độ khí hậu thành hai mùa tương phản nhau rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô Tuy nhiên, nền nhiệt độ ở Bình Dương hầu như không có nhiều thay đổi trong năm Nhiệt độ trung bình năm đạt từ 26o
C-27oC, chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 4oC-5oC, số giờ nắng trong năm nhiều Độ ẩm không khí của Bình Dương ở mức khá cao: 82% [4;tr.88], lượng mưa hàng năm đạt khoảng 1.550-1.950 mm [4;tr.92] và đặc biệt là ít bị ảnh hưởng của bão Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như hoạt động sống và hoạt động của các ngành KT - XH khác
Về sông ngòi: Không chỉ có hệ thống đồi núi bao quanh khu vực đồng bằng
trung tâm, tỉnh Bình Dương còn có hệ thống sông ngòi chằng chịt Phía đông có sông Đồng Nai, phía tây được bao bọc bởi sông Sài Gòn, còn phần trung tâm bị phân cắt bởi
Trang 31con sông Thị Tính và sông Bé Ngoài giá trị khai thác tài nguyên thuộc nhóm vật liệu xây dựng và cung cấp đất phù sa, các sông lớn trong tỉnh (trừ sông Bé) còn là con đường giao thông thuận tiện do hầu như không có thác ghềnh, có dòng chảy hiền hòa,
ổn định, thuận lợi cho tàu bè đi lại
Về đất đai: do vị trí địa lý nằm ở phần trung gian giữa vùng đồi núi nam Trường
Sơn và vùng đồng bằng châu thổ lưu vực sông Đồng Nai, với đặc điểm địa hình dạng bán bình nguyên, gồm những dải đồi gò có thế đất cao, những bình nguyên phẳng rộng xen lẫn những đầm lầy và thung lũng thấp nên đất đai Bình Dương bao gồm nhiều nhóm đất và loại đất Các nhóm đất này khá phổ biến và phân bố rộng khắp toàn tỉnh Đất ở Bình Dương bao gồm 6 nhóm chính: đất xám, đất đỏ vàng, đất phù sa, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất phèn và đất sông hồ Trong đó, nhóm đất có diện tích lớn nhất và có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ở Bình Dương là nhóm đất xám với diện tích 142.444 ha (chiếm 54,8% diện tích đất đai toàn tỉnh), kế đến là nhóm đất đỏ vàng (chiếm 25,12%) và nhóm đất phù sa (chiếm 6,05%) [4;tr.101-103]
Đất đai của Bình Dương tương đối bằng phẳng với độ nghiêng nhỏ nên thuận lợi cho việc cơ giới hóa, mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất Tuy Bình Dương không có những đồng ruộng cò bay thẳng cánh để phát triển cây lúa nước, nhưng lại rất thuận lợi cho canh tác các loại cây công nghiệp và cây ăn trái, hình thành những vùng chuyên canh cây trồng và phát triển kinh tế trang trại quy mô lớn Những vùng đất xám trên phù sa cổ đã hình thành nên những cánh rừng cao su bạt ngàn ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Phú Giáo, Tân Uyên Ngoài cao su, vùng đất này còn rất phù hợp với nhiều loại cây trồng khác như: điều, hồ tiêu, đậu phộng, mía,… Các vùng đất phù sa trẻ ven các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Tính là vùng đất trù phú với các loại cây ăn trái nổi tiếng
ở Lái Thiêu như sầu riêng, măng cụt, mít tố nữ, hay ở Tân Uyên nổi tiếng với trái bưởi Vùng đất đồi gò thấp trên vỏ phong hóa các đá cổ thuận lợi cho trồng cây lâu năm, cây lấy gỗ
Trang 32Đất đai Bình Dương với kết cấu chặt chẽ, ít bị sụt lún, rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, nhà máy, xí nghiệp, xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tập trung
Về tài nguyên, khoáng sản: khoáng sản tỉnh Bình Dương khá đơn điệu về chủng
loại Có thể kể đến như than bùn, cao lanh, cát, cuội sỏi, đá xây dựng,…Trong đó, than bùn có quy mô nhỏ, trữ lượng từ vài chục đến vài trăm nghìn tấn Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất phân bón vi sinh và chất kích thích tăng trưởng cây trồng, đáp ứng nhu cầu của ngành nông nghiệp nhưng cũng chưa đủ để tạo nên thế mạnh phát triển công nghiệp của tỉnh Các khoáng sản nhóm kim loại hầu như vắng mặt, quy mô nhỏ và diện phân bố rất hạn chế, chỉ có một vài biểu hiện khoáng hóa vàng - bạc, nhìn chung là không có triển vọng khai thác công nghiệp Nhưng bù lại, thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Dương một tiềm năng khá dồi dào về khoáng sản phi kim loại, trong đó đáng quan tâm nhất là cao lanh (đất sét trắng) và vật liệu xây dựng có trữ lượng lớn, chất lượng tốt và phân bố rộng rãi Trữ lượng của cao lanh là từ vài trăm nghìn tấn đến
5 triệu tấn Đây là thế mạnh của tỉnh để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến đồ gốm sứ truyền thống nổi tiếng xưa nay và ngày càng phát triển với làng gốm Lái Thiêu - Thủ Dầu Một, là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở vùng đất Nam
Bộ Và nguồn vật liệu xây dựng thông thường như cát, cuội sỏi, đá xây dựng, laterit rải đường, sét gạch ngói, với trữ lượng dồi dào cũng là một hướng phát triển khá triển vọng cho tỉnh Bình Dương
Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai,
giáng hương, Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa
bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm
- Tiềm năng xã hội
+ Dân số và dân cư
Trang 33Ngày 6/11/1996, theo Quyết nghị của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Bình Dương được tách ra từ tỉnh Sông Bé Lúc này, Bình Dương
có diện tích tự nhiên là 2.716 km2, dân số là 699.656 người (trong đó, người Hoa có 14.225 người, chiếm 2,13% dân số toàn tỉnh [4;tr.167]), mật độ dân số là 257,6 người/km2
[4;tr.164] Đặc biệt, nhóm cư dân nằm trong độ tuổi lao động có 459.752 người, chiếm 64,15% tổng số dân toàn tỉnh năm 1997, cao hơn so với cả nước (62,98%) [4;tr.179] Sau 10 năm (2007), dân số của tỉnh là 1.075.457 người, mật độ dân số là 399 người/km2 trong đó số người trong độ tuổi lao động là 731.872 người, chiếm 68,05% tổng dân số [23;tr.17],[23;tr.21] Đến năm 2013, dân số toàn tỉnh là 1.802.476 người, mật độ dân số đạt 669 người/km2 [29;tr.25], số lao động từ 15 tuổi trở lên là 1.132.405 người, chiếm 62,82% [29;tr.32] Đây chính là nguồn lực hết sức quan trọng cho hoạt động KH - CN nói riêng và sự phát triển KT - XH của tỉnh nói chung
Về kết cấu dân thành thị và nông thôn, tỉnh Bình Dương cho thấy cư dân đô thị chiếm tỷ lệ khá cao với số dân thành thị là 187.911 người (chiếm tỷ lệ 27,67% dân số toàn tỉnh), số dân nông thôn là 491.133 người (chiếm tỷ lệ 72,33%) khi cư dân đô thị
cả nước đến năm 1989 cũng chỉ đạt 19,36% [4;tr.179-180]
Cùng với sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số, mặt bằng dân trí của người dân cũng được nâng lên rõ rệt Tỷ trọng nhóm người có trình độ học vấn ngày càng tăng (số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông từ 56.138 người năm 2007 tăng lên 123.439 người năm 2013) [29;tr.347]
Nguồn nhân lực có trình độ trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng đại học
Trang 34là mục tiêu hàng đầu, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, coi mục tiêu nâng cao dân trí trở thành nhiệm vụ hàng đầu
Trong tiến trình hình thành và phát triển, có thể do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi nên tỉnh Bình Dương là nơi mà nhiều thành phần dân cư chọn làm nơi
tụ cư Hiện nay (2013), trên toàn tỉnh có 15 dân tộc đang sinh sống, bao gồm: Việt, Hoa, Khơme, Chăm, Tày - Nùng, Stiêng, Chơro, Mường, Thái, Sán Dìu, Sán Chỉ, Ê
Đê, Ấn Độ, Thái Lan Thành phần dân tộc Việt và Hoa là đông nhất, riêng các dân tộc khác toàn tỉnh chỉ có 6.796 người Tuy thuộc về các dân tộc khác nhau, với nhiều sự khác biệt về văn hóa nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều gắn bó, chung lưng đấu cật để khai phá, xây dựng, bảo vệ và
Trang 35phát triển Bình Dương thành một vùng đất trù phú, giàu mạnh đồng thời làm nên những đặc điểm riêng về văn hóa, kết cấu dân cư, dân tộc ở Bình Dương
+ Truyền thống học tập, lao động sáng tạo của cư dân
Tinh thần ham học và sáng tạo trong lao động là một truyền thống quý báu của
cư dân Bình Dương Truyền thống này được hình thành song song với quá trình tụ cư
và khai phá đất hoang của cư dân Bình Dương
Phiêu tán từ nhiều tỉnh thành khác nhau, xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau và rời bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng những cư dân đến với Bình Dương thuở ban đầu đều chung một mục đích: tìm miền đất hứa Và bằng
sự cần cù, sáng tạo của mình, họ đã khai phá và xây dựng nên một vùng đất nhộn nhịp
và trù phú Ban đầu là sự tìm tòi, sáng tạo trong cải tạo giống lúa, cải tiến công cụ phục
vụ sản xuất nông nghiệp Sau đó là khám phá và sáng tạo để xây dựng những làng nghề thủ công như sơn mài, điêu khắc và gốm sứ với những công trình nổi tiếng từ thời xa xưa như đình Bà Lụa, chùa cổ Bình Dương, nhà cổ,…Từ những bức tranh sơn mài đầu tiên với cảnh đất nước, rặng tre làng, hàng cau, đình làng, với tính ham học học, ưa tìm tòi, sáng tạo và tiếp thu kiến thức mỹ thuật châu Âu hiện đại, cư dân Bình Dương đã phát triển thành những làng tranh sơn mài nổi tiếng Tranh sơn mài Bình Dương đạt đến đỉnh cao thành công với sự đa dạng về đề tài (tứ thời, tứ hữu, liên áp, cúc điệp, mai điểu, chân dung,…), chất liệu độc đáo (vẽ tranh cẩn vỏ trứng, cẩn vỏ ốc,…) thể hiện óc sáng tạo tuyệt vời
Bằng sự sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, cư dân Bình Dương đã biết tận dụng lợi thế về trữ lượng cao - lanh của địa phương để làm gốm Từ những sản phẩm còn đơn giản của những lò gốm nhỏ thời kỳ cuối thế kỷ XIX như lu, vại, nồi đất, tô, chén,
ấm trà, những người thợ gốm Bình Dương đã tạo nên những sản phẩm gốm sứ với hàng chục ngàn mẫu mã, hoa văn, họa tiết đặc sắc Chính truyền thống sáng tạo của cư dân Bình Dương đã tạo nên thương hiệu gốm sứ, sơn mài, điêu khắc nổi tiếng như gốm
Trang 36Lái Thiêu - Thuận An, gốm Tân Phước Khánh - Huyện Tân Uyên, gốm Chánh Nghĩa - Thị xã Thủ Dầu Một, chạm Phú Thọ, tranh sơn mài Tương Bình Hiệp,…
Có thể nói sự cần cù, sáng tạo trong học tập và lao động đã trở thành truyền thống và cốt cách của con người Bình Dương Đây chính là một nền tảng vững chắc để hoạt động NCKH và PTCN có điều kiện hình thành và phát triển mạnh mẽ
Như vậy, với những lợi thế so sách về mặt địa lý, cùng với tài nguyên tự nghiên, tiềm năng dân số, dân cư và truyền thống lao động sáng tạo của cư dân, Bình Dương có những tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển KH - CN, làm động lực thúc đẩy
KT - XH địa phương phát triển
1.2.2 Hoạt động khoa học - công nghệ ở tỉnh Bình Dương trước năm 1997
Sau ngày miền Nam được giải phóng, tỉnh Bình Thủ được thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh: Bình Phước và Thủ Dầu Một Thực hiện chỉ đạo của Khu ủy miền Đông, Ủy ban quân quản các tỉnh, thành, thị xã, các huyện được thành lập Ngày 5/5/1975, Ủy ban quân quản được thành lập ở tỉnh Bình Thủ Ủy ban quân quản đã xây dựng được bộ máy hành chính các cấp, triển khai các chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm ổn định đời sống kinh tế, từng bước thiết lập lại trật tự xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ thành quả cách mạng và cuộc sống mới của nhân dân Tham gia vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng kinh tế, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp quan trọng và ngày càng trưởng thành Cùng với đó, các tổ chức khoa học kỹ thuật được thành lập, tạo tiền đề cho hoạt động KH - CN đạt được những thành công bước đầu
Bước ra khỏi chiến tranh, Bình Dương phải đối mặt với vô vàn khó khăn trên tất
cả các lĩnh vực KT - XH: ngân khố trống rỗng, cơ sở vật chất của các công sở, nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, bệnh viện, trường học gần như con số không Tất cả lực lượng công chức, viên chức chế độ cũ, nhất là ở các ngành kinh tế, y tế, giáo dục,… cần được cải tạo, học tập để phù hợp với chế độ mới Không chỉ vậy, những hủ tục lạc
Trang 37hậu, những tàn dư văn hóa, xã hội của chủ nghĩa thực dân kiểu mới và hậu quả chiến tranh để lại,… tất cả không thể xóa sạch ngay trong một sớm, một chiều Vì vậy, ưu tiên hàng đầu lúc này là tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật của chính quyền Sài Gòn để lại, ổn định nguồn nhân lực để duy trì hoạt động của các cơ quan, đơn vị, bệnh viện, trường học,…
Ngày 30/4/1975, ngành y tế tiếp quản các bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện Phú Cường, bệnh viện 4 dã chiến tại Gò Đậu, bệnh viện K23 (tỉnh đội) và hệ thống các chi
y tế huyện Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo, Phú Hòa Hưởng ứng lời kêu gọi của Nhà nước và với sự tâm huyết với nghề, toàn thể cán bộ, nhân viên của ngành y tế tại các bệnh viện, cơ sở y tế tuyến quận huyện và xã, phường đều ở lại phục vụ Cán bộ y tế tập kết từ miền Bắc về và đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế chế độ
cũ đã phối hợp cùng làm viêc Nhờ vậy, ngành y tế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần tích cực vào việc chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh
Trong công tác giáo dục - đào tạo, vượt qua những khó khăn về cơ sở vật chất nghèo nàn và xuống cấp nghiêm trọng, lực lượng tiếp quản và đội ngũ giáo viên thiếu
về số lượng và hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn,… đội ngũ cán bộ, công nhân ngành giáo dục cũng khẩn trương bắt tay vào công cuộc cải tạo nền giáo dục cũ và xây dựng nền giáo dục cách mạng Ngành giáo dục tỉnh đã tiến hành điều chỉnh, tu sửa hệ thống cơ sở vật chất, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp và tổ chức bộ máy giáo dục các cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ khung để hình thành các phòng giáo dục Với sự nỗ lực của cán bộ, công nhân viên ngành giáo dục, năm học đầu tiên sau ngày giải phóng (1975 – 1976) đã diễn ra theo đúng kế hoạch, mang lại sự phấn khởi trong nhân dân
Đối với công tác văn hóa - thông tin còn rất mới mẻ, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa - thông tin đã không quản ngại khó khăn với tinh thần vừa làm việc vừa học hỏi, rút kinh nghiệm Thực hiện nhiệm vụ Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao phó, Ban Văn hóa - thông tin đã xây dựng lại mạng lưới văn hóa - thông tin từ tỉnh đến các xã, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Trang 38Nhà nước, những thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và của nhân dân, vận động mọi người cùng chung tay lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa mới với tương lai tươi sáng phía trước Đường dây liên lạc, kênh điện thoại liên tỉnh qua bưu điện thành phố Sài Gòn cũng như mạng lưới điện thoại nội hạt thị xã Thủ Dầu Một được tổ chức lại kịp thời, đảm bảo giữ vững thông tin liên lạc giữa cấp tỉnh và các cấp địa phương
Ở các cơ sở sản xuất, dịch vụ khai thác như nhà máy, xí nghiệp, xây dựng, thuế
vụ, tín dụng ngân hàng, giao thông vận tải,… Cán bộ, công nhân, viên chức và lao động cũng đều ra sức thi đua làm tốt công tác của mình, cùng góp sức vào công cuộc khôi phục sản xuất, ổn định đời sống
Song song với đó, hoạt động đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh cũng được chú trọng Trong hai năm 1976-1977, các ngành trong tỉnh đã chú ý mở các lớp đào tạo tay nghề, các lớp đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ kỹ thuật,… với thời hạn từ 3 đến 6 tháng Tổng số cán bộ, nhân viên được đào tạo đến năm 1977 là 4.500 người gồm các ngành tài chính, thống kê, lâm nghiệp, thủy lợi, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, thông tin văn hóa, thiết kế,… Công tác đào tạo công nhân
kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ kỹ thuật được tiếp tục đến năm 1979 Kết quả sau 3 năm (1976-1979), đã tuyển sinh đào tạo dài hạn 3.700 người, đào tạo các trường lớp ngắn hạn trên 9.400 người, trong đó cho phong trào hợp tác xã là 4.900 người Cộng với sự chi viện của các ngành Trung ương đưa về đã nâng tổng số cán bộ công nhân viên trong biên chế nhà nước do tỉnh quản lý cuối năm 1979 lên 25.000 người so với năm 1976 tăng 13.200 người, trong đó khu vực sản xuất vật chất có 14.000 người, khu vực không sản xuất vật chất có 11.000 người, riêng khu vực quản lý Nhà nước có 2.590 người
Đội ngũ cán bộ KHKT cũng dần phát triển, tính đến cuối năm 1979 toàn Tỉnh
có 1.694 cán bộ đại học, 3.339 cán bộ trung học, số còn lại là cán bộ sơ cấp và công
Trang 39nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ Nhờ đó mà bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý sản xuất kinh doanh bước đầu đã đi vào nề nếp có hiệu lực [38;tr.20]
Tuy nhiên, cho đến năm 1983, cũng như nhiều tỉnh thành khác trên cả nước, một vấn đề lớn vẫn tồn tại ở tỉnh Sông Bé là tình trạng thiếu cán bộ quản lý giỏi, số cán bộ, đảng viên có năng lực quá ít lại mới từ chiến tranh bước vào lĩnh vực quản lý nên trình
độ quản lý về kinh tế, văn hóa,… còn rất hạn chế Với thực tế đó, UBND tỉnh đã giải quyết tình hình khó khăn bằng cách tuyển chọn cán bộ quản lý từ nguồn cán bộ kháng chiến tại địa phương, đồng thời yêu cầu Trung ương chi viện từ miền Bắc vào Riêng các ngành như điện lực, bưu điện, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải,… Tỉnh chủ trương lưu dụng một số công chức nghiệp vụ của chế độ cũ [5;tr.274]
Cùng với đó, công tác tuyển sinh đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp
vụ cũng được tiếp tục Trong năm 1984, tỉnh tổ chức đào tạo 4.860 công nhân kỹ thuật
và cán bộ nghiệp vụ, tăng 41% so với năm 1983 Trong đó, đào tạo công nhân kỹ thuật nông lâm nghiệp và kỹ thuật công nghệ: 440 người, cán bộ hợp tác xã công nghiệp, tập đoàn sản xuất, hợp tác xã mua bán: 480 người Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ các ngành văn hóa thông tin: 150 người, tài chính thương nghiệp: 600 người, cán bộ tư pháp: 400 người [4;tr.254]
Một đặc điểm lớn của tỉnh Sông Bé là lao động trẻ chiếm tỷ lệ rất đông nhưng trình độ nhìn chung còn thấp Nhóm lao động có trình độ học vấn và chuyên môn cao chiếm tỷ lệ dưới 1% [4;tr.256] Thậm chí, đến năm 1997, khi tỉnh Sông Bé được tách làm hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước, số lượng lao động ở trình độ công nhân kỹ thuật, trung học, cao đẳng và đại học chỉ chiếm 0,5% số lao động [4;tr.264]
Như vậy, từ những năm đầu sau giải phóng đến trước khi tỉnh Bình Dương được tái thành lập, đội ngũ trí thức đã cùng nhân dân trong tỉnh vượt qua những khó khăn, từng bước ổn định cuộc sống, xây dựng KT - XH Thông qua nhiều chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương, đội ngũ trí thức Bình Dương không
Trang 40ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, tạo nguồn lực cho hoạt động KH - CN của địa phương
Triển khai Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV với nội dung tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng KHKT là then chốt, ở Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh Sông Bé lần hai, lần đầu tiên công tác KHKT được đề cập như
một nội dung chính, quan trọng Trong đó, nhấn mạnh: “Các ngành kinh tế văn hóa
cần chú ý đúng mức đến việc áp dụng một cách rộng rãi những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất Thành lập Ban Khoa học kỹ thuật Tỉnh để xúc tiến công tác điều tra
cơ bản, nghiên cứu các phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có kết luận chính xác, phổ biến kinh nghiệm và phổ biến áp dụng nhằm nâng cao năng suất cây trồng, chăn nuôi chú trọng cơ cấu giống có năng suất cao ” [38;tr.32] Đồng thời, “trang bị một bước cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nông nghiệp và các ngành kinh tế khác” [1;tr.75]
Thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, giữa bao bộn bề, lo toan hàn gắn vết thương sau chiến tranh, ổn định cuộc sống, củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ trong những năm đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 20/8/1980, UBND tỉnh Sông Bé ban hành quyết định thành lập Ban Khoa học - kỹ thuật tỉnh Nhiệm vụ của Ban KHKT tỉnh Sông Bé lúc này là quản lý công tác KHKT, hướng dẫn chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển KHKT, phục vụ phát triển sản xuất và đời sống
Bắt đầu với con số không, Ban KHKT khi mới được thành lập phải đối mặt với
vô vàn khó khăn, thách thức Khó khăn trước nhất là cơ sở KHKT còn nhiều thiếu thốn, lực lượng cán bộ KHKT còn rất ít Tuy nhiên, có một thuận lợi cơ bản là Nhà nước đã xác định cách mạng KHKT là một trong 3 cuộc cách mạng, và là cuộc cách mạng then chốt của đất nước ta thời bấy giờ, do vậy, đã tạo động lực cho các tỉnh chú trọng phát triển KHKT
Trước hết, Ban KHKT tập trung vào hai mảng công tác có tính bức xúc đối với sản xuất và đời sống là kiểm định phương tiện đo lường chất lượng sản phẩm hàng hóa