Với tiềm năng to lớn để phát triển ngành, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định du lịch là một ngành kinh tế quan trọng và phấn đấu đến năm 2020 đưa du lịch Thành phố cơ bản trở thàn
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học
TS NGÔ QUANG ĐỊNH
Tp Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân thành và sâu sắc đến TS Ngô Quang Định – người đã nhận lời hướng dẫn và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
đề tài nghiên cứu của mình
Cảm ơn các thầy, cô giáo giảng dạy tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Cảm ơn sự giúp đỡ của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân thành cảm ơn !
Lê Thị Hà
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và nội dung luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Người cam đoan
Lê Thị Hà
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 ASEM: Diễn đàn hợp tác Á – Âu
3 ACMECS: Tổ chức hợp tác các nước tiểu vùng sông Mê Kông
4 BVHTTDL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
5 BOT: Hợp đồng xây dựng, vận hành, chuyển giao
6 BT: Hợp đồng xây dựng, chuyển giao
7 BTO: Hợp đồng xây dựng, chuyển giao, kinh doanh
8 BOO: Hợp đồng xây dựng, sở hữu kinh doanh
9 COOKINGSHOW: Chương trình ẩm thực
10 Du lịch MICE: Du lịch hội nghị, hội thảo
11 G20: Nhóm 20 nước phát triển
12 ITE HCMC: Hội chợ du lịch Tp Hồ Chí Minh
13 MITT: Hội chợ du lịch quốc tế tại Nga
14 UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
15 EU: Liên minh Châu Âu
16 EUROCHAM: Phòng thương mại Châu Âu
17 PATA: Hiệp hội du lịch Châu Á Thái Bình Dương
18 ROAD SHOW: Hội chợ triển lãm
19 TNXP: Thanh niên xung phong
20 TPO: Tổ chức xúc tiến du lịch các thành phố châu Á Thái Bình Dương
21 SWOT: Phân tích chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
22 VHTTDL: Văn hóa, thể thao, du lịch
23 WTO: Tổ chức thương mại thế giới
24 WTTC: Hội đồng Lữ hành du lịch quốc tế
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH TRƯỚC NĂM 2005 8
1.1 Vai trò của kinh tế du lịch và quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 8
1.1.1 Vai trò của kinh tế du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội 8
1.1.2 Quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 14
1.2 Tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2005 20
1.2.1 Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh và tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế du lịch của Tp Hồ Chí Minh 21
1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2005 34
CHƯƠNG 2:QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN (2005 – 2015) 38
2.1 Quan điểm, chủ trương và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2015 38
2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 38
2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu 46
Trang 92.2 Quá trình tổ chức thực hiện phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành
phố Hồ Chí Minh và kết quả đạt được trong giai đoạn (2005 – 2015) 53
2.2.1 Quá trình tổ chức thực hiện phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (2005 – 2015) 53
2.2.2 Kết quả phát triển kinh tế du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn (2005 – 2015) 75
CHƯƠNG 3:NHẬN XÉT CHUNG, KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 88
3.1 Nhận xét chung về quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn (2005 – 2015) 88
3.1.1 Về ưu điểm 88
3.1.2 Về hạn chế: 93
3.2 Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2015 97
3.3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 105
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 134
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận là hoạt động gắn liền với sở thích và nhu cầu nghỉ ngơi của con người, ngày nay khi xã hội ngày một phát triển du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người Về mặt kinh tế du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng và
có đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của nhiều quốc gia Có nước coi du lịch
là nguồn thu chủ yếu góp phần điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, có nước coi du lịch như là một ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp lớn vào sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế - xã hội Về phương diện lý thuyết, du lịch là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và cũng là ngành dịch vụ phát triển nhanh nhất và quy mô lớn nhất trên thế giới Ở Việt Nam ngay từ những năm 1960, Đảng, Nhà nước đã bước đầu nhận thức giá trị ngành du lịch và đưa
ra những định hướng cơ bản nhằm phát triển ngành Trong thời kì đổi mới ngành du lịch được Đảng ta đặc biệt quan tâm Đại hội VII khẳng định: “Du lịch phải trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và phải phát triển mạnh mẽ” [23, tr.79] Như vậy, có thể thấy du lịch đã được nhận thức đúng hơn với vai trò là nghành kinh tế quan trọng của đất nước Trong các văn bản chỉ đạo của Nhà nước cũng khẳng định việc phát triển du lịch không chỉ mang lại giá trị kinh tế
mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy và gắn kết các ngành, các vùng kinh tế, tạo việc làm nâng cao đời sống nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế du lịch Đây là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật,
du lịch lớn của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm tiếp nhận, trung chuyển khách lớn nhất nước, có lợi thế về cảng biển, sân bay, đường bộ kết nối thuận lợi với các tỉnh thành trong cả nước, với các nước trong khu vực và toàn cầu Thành phố là nơi tập trung của nhiều thành phần tộc người cư trú, với sự đa dạng về văn hóa như: phong tục tập quán, lễ hội và lối
Trang 11sống; là nơi hội tụ nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử, các yếu tố văn hóa dân gian Với tiềm năng to lớn để phát triển ngành, Đảng bộ Thành phố
Hồ Chí Minh đã xác định du lịch là một ngành kinh tế quan trọng và phấn đấu đến năm 2020 đưa du lịch Thành phố cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và việc tổ chức thực hiện của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, du lịch Thành phố những năm gần đây đã thu hút bình quân 60% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, doanh thu du lịch
Thành phố chiếm 47% doanh thu du lịch của cả nước (phát biểu của Chủ tịch
UBND Thành phố Hồ Chí Minh - Lê Hoàng Quân tại lễ ra mắt Sở Du lịch thành phố vào ngày 23 tháng 10 năm 2014) Mặc dù du lịch Thành phố đã đạt được những thành tựu nổi bật nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa khai thác hết tiềm năng vốn có của mình Hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố đối với ngành kinh tế quan trọng này Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế
du lịch nhằm rút ra những kinh nghiệm lịch sử là việc làm cần thiết Với
những lý do trên tôi chọn đề tài “Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2005 đến năm 2015” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển của ngành kinh tế du lịch trong thời gian qua đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên nhiều khía cạnh, từ chính sách phát triển, tiềm năng phát triển đến đánh giá thực trạng phát triển ngành…
Một là, các công trình, bài viết về du lịch Việt Nam:
“Du lịch và kinh doanh du lịch” (1996) của Trần Nhạn, Nxb Văn hoá
thông tin, Hà Nội Tác giả trình bày những lý luận chung về du lịch và những hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch.“Một số vấn đề về du lịch Việt
Nam” (2004) của Đinh Trung Kiên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách
tìm hiểu những chặng đường du lịch, đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch, tài
Trang 12nguyên du lịch trường hợp cụ thể ở Hà Nam Ninh “Nhập môn du lịch” (2005)
của tác giả Trần Đức Thanh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm trình bày
tổng quan về những vấn đề chung của du lịch.“Quy hoạch du lịch” (2008) của
tác giả Bùi Thị Hải Yến, NXB giáo dục Tác phẩm khái quát những vấn đề lý
luận và thực tiễn quy hoạch du lịch ở Việt Nam và trên thế giới “Du lịch ba
miền” (2009) của tác giả Bửu Ngôn, NXB Thanh niên Tác phẩm gồm ba tập
giới thiệu các điểm du lịch, các tuyến du lịch thú vị và có hướng dẫn thực tế
“Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam” (2005) của Trần Đức Thanh, tạp chí du lịch Việt Nam, số 2, tr20-21 Tác
giả đã khái quát chủ trương phát triển du lịch của Đảng và những thành tựu mà
du lịch nước ta đạt được trong thời kỳ đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng
Hai là các công trình, bài viết liên quan đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh:
- Các tác phẩm, bài viết:
“Hướng dẫn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh” của
tập thể tác giả: Trần Du Lịch, Nguyễn Tấn Thắng, Lê Nguyễn Hải Đăng, Nxb Trẻ, 2002 Tác phẩm trình bày tổng quan về lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước Đông Nam Á Định hướng sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong tổng thể sự phát triển kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010, trong đó có đề cập tới ngành
du lịch của Thành phố
“Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Huỳnh Quốc Thắng, Nxb Trẻ, 2007 Tác phẩm
phân tích tiềm năng, giải pháp nhằm khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần
phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
“Chương trình phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2010” của tác giả Nguyễn Văn Quang – Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2006 Bài viết đánh giá thực trạng phát triển du lịch Thành phố giai
Trang 13đoạn 2001 – 2005, phân tích những yếu tố tác động tới ngành du lịch trong thời gian tới, xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp phát triển du lịch trong giai đoạn 2006 – 2010
“Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh nguồn lực và thực trạng phát triển”(2013) của Nguyễn Lan Hương, tạp chí khoa học xã hội số 5, tr.22 Bài
viết phân tích các nguồn lực tạo nên sự phát triển, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch Thành phố
“An ninh du lịch tại Tp Hồ Chí Minh: hồi còi cảnh báo” (2015) của tác
giả Bùi Thị Hồng Loan, kỉ yếu hội thảo Quốc tế, NXB Thông tin và Truyền thông, tr.636 Bài viết xuất phát từ thực trạng du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
và những đặc điểm trong hoạt động đảm bảo an ninh du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã rút ra những tồn tại và hạn chế trong hoạt động quản lý của Nhà nước và công tác đảm bảo an ninh trật tự về du lịch
- Các luận văn, luận án:
“Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010” (luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đoàn Liêng Diễm năm
2003) Luận án đã phân tích tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và tiềm năng phát triển, giải pháp và phác họa mô hình phát triển du lịch bền vững ở Thành phố
“Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”, Luận án tiến sĩ của Đỗ Quốc Thông năm 2004
Trang 14Tác giả phân tích tiềm năng phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt khả năng khai tác tiềm năng các vùng phụ cận cho sự phát triển, đề xuất các giải pháp đối với Đảng bộ, chính quyền Thành phố trong việc khai thác tiềm năng vùng phụ cận để phát triển du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Thành phố
Hồ Chí Minh đến năm 2020”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Cao Trí năm 2011,
luận án đi phân tích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch đến năm 2020
“Phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn
thạc sĩ của tác giả Châu Văn Bình năm 2015 Tác giả phân tích tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch đường sông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đưa ra một
Trang 15triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Quan điểm, chủ trương và giải pháp của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát triển kinh tế du lịch từ năm 2005 đến năm 2015
- Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh và những kết quả đạt được trong giai đoạn 2005 –
2015
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: nghiên cứu những quan điểm, chủ trương, các giải pháp chủ yếu và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn Thành phố
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2015
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Nguồn tài liệu luận văn sử dụng bao gồm:
- Các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước có liên quan
- Các văn kiện của Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Thành ủy và các văn bản chỉ đạo, điều hành của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, các báo cáo, các công trình nghiên cứu, tổng kết có liên quan đến hoạt động du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2015
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ
Trang 16trương của Đảng về phát triển kinh tế du lịch
- Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2005 đến năm 2015 Qua
đó, tổng kết thực trạng phát triển kinh tế du lịch, những thành tựu đạt được cũng như hạn chế tồn tại, rút ra những kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở đó đưa ra một
số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố trong lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch
- Ý nghĩa thực tiễn: luận văn là tài liệu tham khảo đối với Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo ngành kinh tế du lịch Ngoài ra nó còn là tài liệu cần thiết cho những ai quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực kinh tế
du lịch
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm
có 3 chương, 7 tiết
Chương 1 Quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2005
Chương 2 Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2015
Chương 3 Nhận xét chung, kinh nghiệm rút ra và một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Trang 17CHƯƠNG 1:
QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI
MINH TRƯỚC NĂM 2005 1.1 Vai trò của kinh tế du lịch và quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế
du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
1.1.1 Vai trò của kinh tế du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch là một ngành kinh tế phát triển từ sớm trong lịch sử nhân loại, cho tới ngày nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa về du lịch thể hiện nhận thức về
du lịch dưới nhiều chiều cạnh khác nhau Luật Du lịch Việt Nam xác định: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [45, tr.9]
Xét dưới góc độ kinh tế, kinh doanh du lịch, khoa Du lịch khách sạn trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lưu trú, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách
du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [16, tr.20] Với tư cách là một ngành kinh tế, du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương làm du lịch Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, của đất nước
Có những quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm địa chính trị của nước mình,
đã thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và công cụ cứu cánh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác phát triển Chính
Trang 18vì ý nghĩa to lớn như vậy, các quốc gia này, ở phạm vi và mức độ khác nhau, đã tập trung đầu tư mọi nguồn lực cũng như ban hành các thể chế, chính sách liên quan nhằm nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành du lịch phát triển Mặc
dù vậy, xuất phát từ sự đặc thù của ngành du lịch mang đậm tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, cũng gặp không ít những khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển Một trong những hạn chế có tác động rõ rệt và mang tính quyết định đó là sự thừa nhận về vị trí, vai trò của
du lịch và khả năng nhận hỗ trợ từ các ngành kinh tế khác, các chủ thể kinh tế,
xã hội và đặc biệt từ các cấp quản lý, lãnh đạo trung ương cũng như địa phương chưa thực sự mãnh mẽ và rõ rệt
Khi nhìn dưới góc độ kinh tế - xã hội, du lịch luôn là một ngành có tính lâu dài và bền vững cao so với các ngành kinh tế khác Nguyên do vì, các nguồn tài nguyên du lịch dưới dạng vật thể và phi vật thể theo quy luật chung luôn được coi là hữu hạn, thì bên cạnh đó còn một số hợp phần khác cũng cần phải được tính đến Chúng được khéo léo ẩn và tích tụ trong các “chuỗi dịch vụ” để hình thành nên các sản phẩm du lịch và thậm chí tồn tại trong cả những đối tượng sử dụng dịch vụ - đó là những “người khách du lịch” Những yếu tố này
là tác nhân không thể thiếu được để tạo ra cầu cho hoạt động du lịch, hay có thể xem là “nguồn tài nguyên du lịch” vô cùng to lớn Bởi lẽ, trong thế giới ngày càng phát triển với tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc, giao thông thuận tiện, phương tiện truyền thông tiện ích, và mặc dù có thể bị tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như thiên tai, chính biến, chiến tranh, khủng bố, nhưng nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, đầu tư, thương mại, giữa các quốc gia, vùng miền không những không dừng lại mà vẫn tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Điều này kéo theo các nhu cầu dịch vụ, sản phẩm du lịch cũng gia tăng Trong khi, các nguồn tài nguyên khác như tự nhiên, nhân tạo, tái tạo phục vụ cho các ngành kinh tế khác ngày càng suy giảm và có thể đứng trước nguy cơ cạn kiệt bởi nhu cầu khai thác, sản xuất, chế biến và tiêu thụ của con người và toàn xã hội ngày càng phát triển
Trang 19Du lịch đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và vùng lãnh thổ:
Theo công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 vừa diễn ra ngày 16 tháng 5 năm 2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất Năm 2011, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không tốt, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du lịch tăng 3,8% Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8
tỷ lượt năm 2030 Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế Năm 2011, xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế bao gồm cả vận chuyển hành khách đạt 1,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% xuất khẩu toàn thế giới
Với những phân tích trên, có thể thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của ngành du lịch không thể phủ nhận được Ngành du lịch đóng góp không nhỏ vào tổng giá trị GDP của mỗi quốc gia trong đó: Đóng góp trực tiếp (1) + Đóng góp gián tiếp (2) + Đóng góp phát sinh (3)
(1) Đóng góp trực tiếp: Tổng chi tiêu (trên phạm vi quốc gia) của khách
du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa (cả mục đích kinh doanh và nghỉ dưỡng), chi tiêu của Chính phủ đầu tư cho các điểm tham quan như công trình văn hóa (bảo tàng) hoặc các khu vui chơi giải trí (công viên quốc gia); thu nhập của các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, cơ sở lưu trú, vận chuyển (đường bộ, đường không, đường thủy, ), cầu cảng, sân bay, dịch vụ vui chơi giải trí, các điểm tham quan du lịch, các cửa hàng bán lẻ, các khu dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí Trừ phần chi phí mà các cơ sở cung cấp dịch vụ này mua các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho khách du lịch
(2) Đóng góp gián tiếp:
+ Chi tiêu đầu tư vật chất cho du lịch: Ví dụ như đầu tư mua máy bay mới, xây dựng khách sạn mới;
Trang 20+ Chi tiêu công của chính phủ: ví dụ như đầu tư kinh phí xúc tiến, quảng
bá, hàng không, chi phí cho công tác quản lý nhà nước chung, chi phí cho phục
vụ an toàn an ninh, vệ sinh môi trường
+ Chi phí do các đơn vị, cơ sở cung cấp dịch vụ mua sắm trong nước đối với hàng hóa, dịch vụ để phục vụ khách du lịch Ví dụ: chi phí mua sắm thực phẩm, dịch vụ giặt là trong khách sạn, chi phí mua xăng dầu, dịch vụ cho hàng không, dịch vụ tin học, kết nối mạng trong các hãng lữ hành
(3) Đóng góp phát sinh: Đây là khoản chi tiêu cá nhân của tổng đội ngũ, lực lượng lao động tham gia cả trực tiếp và gián tiếp vào ngành du lịch trên toàn quốc, gồm cả các cấp quản lý nhà nước và cơ sở cung cấp dịch vụ, hãng lữ hành, khách sạn
Theo tính toán của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Hội đồng Lữ hành Du lịch Thế giới (WTTC) tiếp cận theo tài khoản vệ tinh du lịch thì năm
2012 tổng thể ngành du lịch Việt Nam đóng góp vào nền kinh tế 13 tỷ USD chiếm khoảng 9,4% GDP gồm: đóng góp trực tiếp, đóng góp gián tiếp và đóng góp phát sinh (bao gồm cả đầu tư và chi tiêu của Chính phủ cho du lịch; khấu trừ nhập khẩu và du lịch ra nước ngoài) Hoạt động kinh tế du lịch trực tiếp được tính đến qua việc cung cấp dịch vụ ăn, ở, đi lại, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trực tiếp phục vụ khách du lịch Các hoạt động kinh tế gián tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ phục vụ khách du lịch cũng được tính toán trong đóng góp của du lịch trong nền kinh tế Ở khía cạnh này, ngành du lịch liên quan và có hiệu ứng lan tỏa đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội và đóng góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân
Xét về cơ cấu doanh thu ngoại tệ trong xuất khẩu dịch vụ, doanh thu của ngành du lịch chiếm trên 50% trong xuất khẩu dịch vụ của cả nước, đứng đầu về doanh thu ngoại tệ trong các loại hoạt động dịch vụ “xuất khẩu”, đồng thời có doanh thu ngoại tệ lớn nhất, trên cả các ngành vận tải, bưu chính viễn thông và dịch vụ tài chính So sánh với xuất khẩu hàng hoá, doanh thu ngoại tệ từ xuất khẩu dịch vụ du lịch chỉ đứng sau 4 ngành xuất khẩu hàng hoá là xuất khẩu dầu
Trang 21thô, dệt may, giầy dép và thuỷ sản Thêm nữa, với tư cách là hoạt động “xuất khẩu tại chỗ”, du lịch lại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và tạo ra nhiều việc làm có thu nhập cho xã hội mà hiện nay chưa tính toán hết được Kim ngạch xuất khẩu du lịch đạt 5.620 triệu USD năm 2011 tăng trưởng 26,3% so với 2010
và gấp 3 lần ngành tài chính Du lịch là một trong những ngành tạo ra nhiều việc
làm ở tất cả các địa bàn từ các vùng đô thị, nông thôn và đặc biệt là ở cả vùng
xâu, vùng xa Năm 2012 với trên 1,8 triệu việc làm (trong đó 570.000 việc làm trực tiếp), quy mô lao động ngành du lịch chiếm 3,6% tổng lao động toàn quốc Theo cách tính của WTTC thì hiệu quả việc làm do du lịch và lữ hành tạo ra là trên 3 triệu lao động chiếm 8,1% tổng số lao động toàn quốc (WTTC 2013) Cách tính này bao quát được cả số lao động liên quan và lao động không chính thức, lao động gia đình trong du lịch cộng đồng, du lịch tại nhà dân, lực lượng dịch vụ đường phố, khu du lịch (xe ôm, bán bưu thiếp, hàng lưu niệm, hàng rong )
Du lịch góp phần vào xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn Các hoạt động du lịch phát triển ở các vùng nông thôn tạo ra nhiều cơ hội cho cộng đồng địa phương Các hoạt động gắn với du lịch cộng đồng tạo thu nhập trực tiếp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ và phát triển bền vững Thông qua du lịch, văn hóa địa phương, các vùng miền được tôn trọng, bảo vệ và khai thác phát huy giá trị và được giới thiệu, quảng bá rộng rãi Du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ ràng trong quá trình “hiện đại
Trang 22hóa” nông thôn thông qua việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm, gìn giữ và phát huy các làng nghề truyền thống, bảo vệ các giá trị cộng đồng
Du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển hạ tầng đô thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu việc làm theo hướng hiện đại
Tại các địa phương là trọng điểm phát triển du lịch, đô thị được chỉnh trang, cơ sở hạ tầng và các điều kiện dịch vụ công cộng được quan tâm phát triển Để thúc đẩy sự phát triển du lịch nhiều công trình hạ tầng giao thông có quy mô được đầu tư, các khu đô thị, khu du lịch hình thành với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại được đầu tư tạo nên diện mạo mới cho nhiều địa phương Du lịch tại các vùng miền làm thay đổi mức sống của người dân địa phương, thay đổi nhận thức và từng bước thu hẹp sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn về chất lượng cuộc sống, giảm bớt sức ép về di dân tự do từ các vùng nông thôn tới đô thị, góp phần ổn định trật tự xã hội Với tính chất là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng cao, hoạt động du lịch phát triển đã kéo theo sự phát triển của các ngành, lĩnh vực liên quan như vận chuyển, thương mại, dịch
vụ, truyền thông, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, y tế… điều này có thể nhìn nhận thấy rõ rệt ở các địa phương có hoạt động du lịch phát triển cũng như các địa phương mới phát triển du lịch Du lịch là ngành xuất khẩu tại chỗ, thu ngoại tệ trực tiếp, đóng góp to lớn vào nền kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh
tế khác phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, đảm bảo
an sinh xã hội, bảo tồn và thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường bảo vệ môi trường Du lịch cũng giúp khôi phục, bảo tồn và tiêu thụ các sản phẩm thủ công của các làng nghề truyền thống, giúp phục hồi các hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống và và đẩy mạnh các hoạt động văn hóa nghệ thuật đương đại.Thông qua sự phát triển du lịch, hình ảnh quốc gia và các điểm đến được quảng bá rộng rãi trong và ngoài nước, tạo sự nhìn nhận tích cực về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, tạo dựng uy tín trên trường quốc tế Những tiềm năng to lớn về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học đến các giá trị văn hóa lịch sử, văn hóa bản địa của các dân tộc anh em, tập tục và lối sống…đến các giá trị văn hóa ẩm
Trang 23thực phong phú của các vùng miền trên cả nước đều được giới thiệu và quảng bá thông qua hoạt động du lịch
1.1.2 Quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Việt Nam là quốc gia giàu tiềm năng phát triển kinh tế du lịch, những năm trước đổi mới vì nhiều lý khác nhau kinh tế du lịch chưa có điều kiện phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước mở ra quá trình giải phóng mọi năng lực sản xuất kinh doanh, khai thác tiềm năng của đất nước cho quá trình phát triển Cũng từ những năm đổi mới, ngành kinh tế du lịch bước đầu được Đảng quan tâm lãnh đạo phát triển
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) trên cơ sở đánh giá tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI đã chỉ ra những kêt quả bước đầu trong việc ổn định nền kinh tế, đồng thời Đại hội cũng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội VII đã xác định: “phát triển du lịch, vận tải hàng không…” [23, tr.74] là một trong những lĩnh vực quan trọng trong cơ cầu tổng thể nền kinh tế Nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, phát huy mọi tiềm năng thế mạnh nhằm thực hiện thành công chiến lược ổn định kinh tế, Đại hội xác định
“Phải nhanh chóng khai thác các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang
du lịch Phát triển du lịch trở thành hướng chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta Du lịch phải trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và phải phát triển mạnh mẽ.” [23, tr.79]
Cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế du lịch được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII nêu ra, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 45 – CP ngày 22/6/1993 Về đổi mới phát triển ngành du lịch, trong đó khẳng định du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh
tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa và xã hội giữa các vùng trong nước và giữa nước ta với nước ngoài, tạo điều kiện tăng cường tình hữu
Trang 24nghị, hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Đồng thời khẳng định tiêu chí phát triển của ngành du lịch ở nước ta là: “Phát triển ngành du lịch phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu chính Đồng thời, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, bản sắc dân tộc và nhân phẩm của con người Việt Nam” [7, tr.1 – 2]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (7/ 1996), trên cơ sở những kết quả đạt được trong phát triển ngành du lịch, trong bối cảnh mới khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng đã xác định:
“Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông…” đồng thời xác định rõ mục tiêu: “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [24, tr.89] Đại hội đồng thời xác định phương hướng phát triển du lịch trong 5 năm (1996 – 2000):
“Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái và môi trường Xây dựng các chương trình, các điểm du lịch hấp dẫn… Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung” [24, tr.93]
Như vậy chủ trương phát triển du lịch đã được Đảng xác định với những phương hướng cụ thể nhằm phát huy tốt tiềm năng phát triển ngành góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Năm 1997 – 1998 diễn ra sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở khu vực châu
Á đã tác động lớn đến nhiều quốc gia, du lịch trở thành một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng và thiệt hại lớn từ tác động cuộc khủng hoảng này Trong bối cảnh
ấy, nhằm đưa du lịch vượt qua khó khăn cũng như tăng cường thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng, năm 1999 Pháp lệnh Du lịch ra đời Việc
ra đời Pháp lệnh Du lịch góp phần khẳng định trong thực tế vị trí, vai trò của ngành
Du lịch đối với sự phát triển của đất nước, tạo hành lang pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh du lịch đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về du lịch
Trang 25Hiện thực hóa chủ trương phát triển du lịch của Đảng, Chính phủ, các bộ ngành đã quan tâm chỉ đạo phát triển ngành du lịch đạt kết quả quan trọng, chỉ tính riêng năm 2000 lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng 20% so với năm 1999 đạt 2,13 triệu lượt khách, du lịch nội địa đạt 11,2 triệu lượt khách tổng doanh thu ngành
du lịch đạt 20.000 tỷ đồng, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đạt những thành tựu quan trọng tạo tiền đề cho chúng ta tiến vào thế kỷ XXI Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, Đảng đã đưa ra chủ trương phát triển kinh tế - xã hội hướng tới mục tiêu thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành công Đối với ngành kinh tế du lịch, trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh và điều kiện quốc tế thuận lợi, Đảng chủ trương: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình
độ phát triển du lịch của khu vực” [25, tr.178]
Nhận thức của Đảng về phát triển ngành kinh tế du lịch đã được nâng cao
một bước, trong đó ngành kinh tế du lịch được xác định là một trong những mũi nhọn kinh tế đồng thời cũng là ngành kinh tế đi tiên phong trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới
Để du lịch đạt được mục tiêu đề ra, Đảng đưa ra định hướng cơ bản nhằm phát triển ngành: “Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm… Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước trong hoạt động du lịch” [25, tr.287].Những định hướng đúng trên đã góp phần quan trọng trong lãnh đạo ngành kinh tế du lịch Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI từng bước hội nhập và phát triển
Trang 26Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000 với tiêu đề “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã được triển khai trong 2 năm 2000 – 2001 thu hút đông đảo sự quan tâm của du khách trong nước và quốc tế Nhằm định hướng phát triển lâu dài cho ngành du lịch, Chính phủ đã ra Quyết định số 97/2002/QĐ – TTg ngày 22/07/2002 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 Trong đó khẳng định
“Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành
du lịch phát triển trong khu vực” [82, tr.1]
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc xây Việt Nam thành trung tâm du lịch của khu vực góp phần to lớn vào công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam đặt ra yêu cầu cần thiết phải có một bộ luật đầy đủ, đồng bộ nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước trên lĩnh vực du lịch, năm 2005 trên cơ sở kế thừa những giá trị của Pháp lệnh du lịch năm 1999, đồng thời để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngày 14/06/2005, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Du lịch Luật Du lịch năm 2005 gồm 11 chương, 88 điều bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thực hiện điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở tầm cao hơn, khẳng định một lần nữa vị thế của ngành du lịch không chỉ ở chủ trương, chính sách mà còn được thể chế hóa một cách cụ thể bằng luật Không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở trong nước, luật du lịch năm 2005 còn là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm mở rộng giao lưu, hợp tác giữa du lịch Việt Nam và du lịch quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm cho việc thực hiện chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và có hoạt động liên quan đến
Trang 27du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần phát triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã tổng kết, đánh giá thành tựu phát triển của ngành du lịch với những kết quả ấn tượng “ngành du lịch phát triển khá cả về lượng khách, loại hình và sản phẩm du lịch” [26, tr.144] Những kết quả trên góp phần minh chứng cho sự đúng đắn trong chủ trương phát triển kinh tế du lịch trong thời kỳ đổi mới Nhằm tiếp tục nâng cao sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế du lịch, Đảng chủ trương: “Khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm
và các loại hình du lịch” [26, tr 202]
Trong bối cảnh sự cạnh tranh trong khu vực về du lịch ngày một mạnh
mẽ, các nước trong khu vực như Thái Lan, Xingapo… ngày một khẳng định được thế mạnh về du lịch thì việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch là một trong những yêu cầu mang tính sống còn của du lịch Việt Nam
Đáp ứng yêu cầu chỉ đạo phát triển ngành kinh tế du lịch trong tình hình mới, ngày 29/05/2006, Chính phủ ra quyết định số: 121/2006/TTg – CP Về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 – 2010, với mục tiêu tổng quát: "Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn
2006 - 2010 góp phần thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam, phấn đấu từ năm
2010 Việt Nam trở thành một trong các quốc gia có ngành du lịch phát triển
trong khu vực"[83, tr.1]
Chương trình hành động quốc gia về du lịch là cơ sở để ngành du lịch các địa phương định hướng cho chính sách phát triển của mình, có biện pháp hưởng ứng chương trình phát triển du lịch theo hướng trọng tâm mà chương trình đã vạch ra Từ năm 2006, Luật du lịch chính thức có hiệu lực đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lý chặt chẽ hơn trong việc phát triển ngành du lịch của cả nước Với chủ trương tổ chức triển khai văn bản hướng dẫn Luật Du lịch tới các địa phương và các doanh nghiệp du lịch, ngày 01/06/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2007/NĐ – CP Quy định chi tiết thi hành
Trang 28một số điều của Luật Du lịch
Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách đều hành kinh tế của Chính phủ, ngày 21/09/2007, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số: 564/QĐ-BVHTTDL Ban hành Chương trình hành động của ngành Du lịch, nhằm Thực hiện chương trình hành động của chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giai đoạn 2007 – 2012 Với mục tiêu: "Về đón khách quốc tế: phấn đấu đến năm 2010, Du lịch Việt Nam sẽ đón được 5,5-6,0 triệu lượt khách quốc tế với nhịp độ tăng trưởng trung bình đạt 11,4%, 25 triệu lượt khách du lịch nội địa Phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực" [3,
số 3146/QĐ – BVHTTDL Về việc phê duyệt nội dung Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030”, nhằm định hướng chiến lược phát triển một cách dài hơi cho ngành du lịch Việt Nam Đồng thời, Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch cũng hoàn thiện bản đề cương “Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020” nhằm xây dựng nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng yêu cầu của nhiệm
vụ mới Đề án đưa ra những định hướng chung cho sự phát triển ngành du lịch Việt Nam nói chung trong tương lai, từ đó tạo cơ sở cho các địa phương có tài nguyên du lịch hoạch định chính sách phát triển ngành kinh tế du lịch phù hợp
Trang 29Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (01/2011) diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Trong bối cảnh đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 của Đảng xác định: “Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ
có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế Hình thành một số trung tâm dịch
vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế Mở rộng thị trường nội địa, phát triển mạnh thương mại trong nước; đa dạng hoá thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu cả quy mô và tỉ trọng, phấn đấu cân bằng xuất nhập khẩu Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế” [27, tr.3] Đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch và đưa ra chỉ đạo thực tiễn đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Ngày 08 tháng 12 năm 2014, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 92/NQ-CP Về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới Nghị quyết số 92
đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đề ra các giải pháp cấp bách nhằm chỉ đạo, điều hành ngành du lịch Việt Nam
Có thể thấy, chủ trương của Đảng về du lịch đã ngày càng hoàn thiện theo thời gian thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò, vị trí, giá trị
mà ngành kinh tế du lịch mang lại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Từ chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển du lịch, Chính phủ đã đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể hóa chủ trương ấy nhằm phát triển mạnh
kinh tế du lịch, đóng góp vào sự phát triển của cả nước
1.2 Tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế du lịch của Thành phố
Hồ Chí Minh trước năm 2005
Trang 301.2.1 Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh và tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế du lịch của Tp Hồ Chí Minh
* Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh
Vị trí địa lý:
Lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10°22’33"- 11°22’17"
vĩ độ bắc và 106°01’25" - 107°01’10" kinh độ đông với điểm cực bắc ở xã Phú
Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực tây ở xã Thái Mỹ (Củ Chi) và điểm cực đông ở
xã Tân An (huyện Cần Giờ) Chiều dài của Thành phố theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là 150 km, còn chiều Tây - Đông là 75 km Trung tâm Thành phố cách bờ biển Đông 59 km đường chim bay Thành phố có 12 km bờ biển, cách thủ đô Hà Nội 1.730 km (đường bộ) về phía Nam Diện tích toàn Thành phố là 2.056,5 km2 Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động khoảng 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km
Khí hậu:
Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh mang tính chất cận xích đạo nên nhiệt
độ cao và khá ổn định trong năm Số giờ nắng trung bình tháng đạt từ 160 đến
270 giờ Độ ẩm không khí trung bình 79,5% Nhiệt độ trung bình năm là 27,55°C Thành phố Hồ Chí Minh có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm là 1.979 mm Nhìn chung khí hậu Thành phố dễ chịu, nắng không nóng quá và mưa không kéo dài nên mùa nào cũng là mùa du lịch
Trang 31đầm lầy mới hình thành ven biển Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt trong đó có du lịch
Dân số:
Năm 2005 , dân số Thành phố Hồ Chí Minh là 6.239.000 người, năm
2007, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 6.650.942 người và là thành phố đông dân nhất Việt Nam, theo số liệu của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân
số thành phố vào giữa năm 2010 là 7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km2, năm 2015 dân số Thành phố Hồ Chí Minh là 7.981.900 người
Về cơ cấu dân số, 85,24% dân cư sống trong khu vực thành thị và 20% dân số là dân nhập cư từ các tỉnh khác Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer,… Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Thành phố
Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên đất
Tiềm năng đất đai trên phạm vi địa bàn thành phố có nhiều hạn chế về diện tích và phẩm chất Ngoại trừ phần nội thành, phần ngoại thành có thể chia thành các nhóm đất chính sau đây: nhóm đất phèn trung bình và phèn nhiều (chiếm 27,5% tổng số diện tích - loại đất phèn trung bình đang phát triển cây lúa, còn loại phèn nhiều hay phèn mặn tuỳ theo mức độ cải tạo đang phát triển các loại cây mía, thơm, lác); nhóm đất phù sa không hoặc ít bị nhiễm phèn (chiếm 12,6% - đây là nhóm đất thuận lợi cho phát triển cây lúa, trong đó loại đất phù sa ngọt có 5.200 ha cho năng suất lúa rất cao); nhóm đất xám phát triển trên phù sa
cổ (chiếm khoảng 19,3% - nhóm đất này thích hợp cho phát triển cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày và rau đậu ); nhóm đất mặn (chiếm 12,2% phân bố ở Cần Giờ, chủ yếu dùng cho việc trồng rừng, đặc biệt là cây đước) Ngoài ra còn có các nhóm đất khác như đất đỏ vàng chiếm 1,5% phân
Trang 32bố trên vùng đồi gò ở Củ Chi và Thủ Đức dùng cho xây dựng cơ bản, nhóm đất cồn cát, đất cát biển chiếm 3,2% và các loại đất khác, sông suối chiếm 23,7%
Tài nguyên rừng
Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 3 hệ sinh thái rừng: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Ðông Nam Bộ, Hệ sinh thái rừng úng phèn, Hệ sinh thái rừng ngập mặn.Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Ðông Nam Bộ vốn có ở
Củ Chi và Thủ Ðức Những năm qua, cùng với việc khoanh nuôi bảo vệ những mảnh rừng thứ sinh còn sót lại, chủ yếu là rừng chồi quanh các khu địa đạo Bến Dược, Bến Ðình, Hố Bò ở Củ Chi… Hệ sinh thái rừng là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị của thành phố
Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn thành phố chủ yếu là vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát, sạn, sỏi; nguyên liệu cho gốm sứ và chất trợ dụng; các nguyên liệu khác như than bùn…
Tài nguyên nước:
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sông nữa của thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp thành phố
Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu và giàu tiềm năng du lịch đường sông
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành phố bước vào thực hiện kế hoạch 2006 – 2010 trong bối cảnh khá thuận lợi của giai đoạn tăng trưởng và phát triển ổn định từ những năm 2001 –
Trang 332005, kinh tế Thành phố tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong 2 năm 2006 – 2007 nhưng đến cuối năm 2007 kéo dài đến năm 2009 đã bị ảnh hưởng mạnh của tình hình lạm phát cao, tiếp đến là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố, đặc biệt là các lĩnh vực xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và du lịch…
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn Thành phố 5 năm 2006 – 2010 ước tăng trưởng bình quân 11%/năm, tương đương với mức tăng bình quân giai đoạn 2001 – 2005 trong điều kiện rất khó khăn Quy mô kinh tế Thành phố năm
2010 gấp 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD, gấp 1,68 lần so với năm 2005 (1.660 USD) Năm 2011, tổng GDP thành phố đạt 503.227 tỷ đồng (theo giá thực tế), tăng 10,3% so với năm 2010 GDP bình quân đầu người là 3000 USD Năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 5.538 USD tăng 73% so với năm 2010
Giai đoạn 2011- 2015, trước những khó khăn chung của nền kinh tế, thành phố cũng đã phấn đấu giữ vững tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng khá cao, bình quân 9,6%/năm, gấp 1,66 lần mức tăng bình quân cả nước
Phát triển hạ tầng giao thông: Tp Hồ Chí Minh là địa phương có hệ thống
giao thông được đầu tư phát triển đồng bộ bao gồm cả đường bộ, đường hàng không, đường thủy Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố được tập trung đầu tư xây dựng mới một số tuyến đường trục xuyên tâm quan trọng, các cầu lớn trên tuyến và sửa chữa nâng cấp, mở rộng cầu và đường trên toàn thành phố với Trong giai đoạn 2005 – 2015, hàng loạt các công trình giao thông quan trọng đã được đưa vào sử dụng như hệ thống đường vành đai, đại lộ Võ Văn Kiệt, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh… góp phần tăng khả năng kết nối giữa Tp Hồ Chí Minh với khu vực lân cận Hệ thống hầm, cầu được triễn khai như: hầm Thủ Thiêm, cầu Thủ Thiêm, Phú Mỹ, hệ thống cầu vượt dầm sắt… đã giải quyết đáng kể nhu cầu giao thông và giảm kẹt xe cho Thành phố Hệ thống đường không với cảnh hàng không quốc tế Tân Sơn nhất,
Trang 34đường sắt với ga Sài Gòn và hệ thống giao thông đường thủy nội địa, cảng biển tạo ra sự liên kết khu vực và quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong đó có kinh tế du lịch
Với vị trí là trung tâm kinh tế - văn hóa xã hội của cả nước, Tp Hồ Chí Minh có nền tảng xã hội phát triển cao so với trung bình của cả nước Hệ thống giáo dục tương đối phát triển với hàng loạt các trường chất lượng cao, hệ thống các trường đại học, cao đẳng và trung cấp đào tạo nhiều ngành nghề khác nhau
Hệ thống y tế phát triển với những bệnh viện tuyến trên có uy tín, chất lượng như Chợ Rẫy, Y Dược, Bình Dân, Từ Dũ… tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển loại hình du lịch kết hợp chữa bệnh, học tập
Với điều kiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển góp phần quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong đó có ngành kinh
tế du lịch
* Tiềm năng du lịch
(1) Về du lịch văn hóa - lịch sử:
Chợ Lớn - Sài Gòn: Chợ Lớn là cả một khu vực rất rộng, bao gồm quận 5,
quận 10, một phần quận 11 và quận 6
Đặc điểm: Khi nhắc đến Chợ Lớn là mọi người nghĩ ngay đến một Chợ Lớn - phố Tàu (China Town) trong lòng thành phố Hồ Chí Minh Chợ Lớn đã trở thành một địa danh nổi tiếng không thể thiếu trong các chương trình du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh Khi nghe đến tên Chợ Lớn mọi người sẽ nghĩ tới hình ảnh của các xưởng sản xuất thủ công nghiệp nhộn nhịp, tới nơi san sát các hàng quán, tiệm ăn mang phong vị Trung Hoa Đây là nơi tập trung nhiều người Hoa nhất, họ sinh sống chủ yếu ở quận 5 - nơi còn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa, kiến trúc và tôn giáo của hàng trăm năm trước
Chợ Bến Thành: Nằm ở trung tâm thành phố, chợ Bến Thành ngày nay có
hình chữ nhật, trổ bốn cửa ra quảng trường Quách Thị Trang và các con đường: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Lê Thánh Tôn thuộc quận 1, thành phố Hồ
Chí Minh Trước khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn năm 1859, có một chợ nhỏ nằm ở
Trang 35khu đất đồng lầy kề bên bờ sông Bến Nghé và sát thành Sài Gòn Từ xuất xứ ấy
mà chợ đã mang tên ghép là Bến Thành Chợ được xây bằng gạch, khung gỗ, lợp tranh Năm 1870, chợ bị cháy một phần Năm 1911, chợ cũ bị phá đi, chợ mới
được xây khang trang rộng rãi hơn và hoàn thành vào tháng 3/1914
Hình ảnh chợ Bến Thành với tháp đồng hồ thường được dùng làm biểu tượng cho thành phố Giờ đây chợ Bến Thành là một trung tâm buôn bán lớn
không chỉ của thành phố Hồ Chí Minh mà còn của các tỉnh phía Nam
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dinh Ðộc Lập là trụ
sở của Uỷ ban quân quản thành phố Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước
đã họp ở đây vào tháng 12/1975 và dinh Ðộc Lập đã được đổi tên thành Hội trường Thống Nhất Ngày nay, hội trường Thống Nhất đã trở thành khu di tích lịch sử văn hoá được đông đảo khách trong nước và nước ngoài đến tham quan
Ðịa đạo Củ Chi: Vị trí: Ðịa đạo Củ Chi là một di tích lịch sử cách mạng
nổi tiếng, thuộc xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, cách trung tâm Thành phố Hồ
Chí Minh 70 km về phía Tây Bắc
Ðịa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250 km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ki xúc đất Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8 m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo Giếng sâu 15m, trong vắt Hệ thống
Trang 36địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn
ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ
Rừng Sác – Cần Giờ:
Chiến khu Rừng Sác - địa danh gắn liền với các chiến sỹ đặc công Đoàn
10 anh hùng 40 năm sau chiến tranh, những chiến tích anh hùng, sự chiến đấu,
hy sinh anh dũng của họ vẫn còn vang mãi Chiến khu Rừng Sác - địa danh gắn liền với các chiến sỹ đặc công Đoàn 10 anh hùng 40 năm sau chiến tranh, những chiến tích anh hùng, sự chiến đấu, hy sinh anh dũng của họ vẫn còn vang mãi Rừng Sác (huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh) được xem là căn cứ nổi, sát nách Sài Gòn – Gia Định về hướng đông nam, nơi có con sông Lòng Tàu là “cổ họng” vận chuyển, tiếp tế hậu cần cho bộ máy chiến tranh khổng lồ với hàng triệu quân
Mỹ và chính quyền Sài Gòn Trung đoàn 10 Bộ đội Đặc công Rừng Sác (thành lập 15/4/1966) có nhiệm vụ thọc sâu áp sát, bám trụ bằng mọi giá chiếm giữ khu Rừng Sác để tiến công liên tục vào kho tàng, bến cảng, cơ quan đầu não, sào huyệt bộ máy chiến tranh Mỹ-chính quyền Sài Gòn
Mười tám Thôn vườn trầu
Mười tám Thôn vườn trầu thuộc xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, ngoại vi
Tp Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km, đây là khu vực bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra Do vậy mà vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu Thời
ấy Mười tám Thôn vườn trầu lắm thú dữ, cảnh trí hoang sơn, cỏ cây rậm rạp Nhắc tới địa danh này, nhiều cụ cao niên cho biết ngày xưa ở đây nhiều hổ lắm,
"ông ba mươi" đi trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, bởi vậy mới có câu truyền miệng "dữ như hổ Mười tám Thôn vườn trầu" Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm
ra Do vậy mà, vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của
Trang 37cây trầu Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi cũng là một trong những nghề nổi tiếng ở đây Buổi đầu Pháp xâm chiếm Nam Bộ, giữa tết năm Ất Dậu (1885), nhân dân Mười tám Thôn vườn trầu đã nổi dậy, khởi nghĩa giết đốc phủ Ca, một tên tay sai gian ác, rồi kéo quân vào Sài Gòn Năm 1930 khi Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ra đời thì Mười tám Thôn vườn trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo của Ðảng, nơi cất dấu tài liệu bí mật của Ðảng Tại đây, những người con ưu tú của dân tộc, những cán bộ xuất sắc của Ðảng: Nguyễn văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai đã ngã xuống Ngày nay Hóc Môn vẫn còn những di tích lịch sử ghi dấu những giai đoạn lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhân dân Nam Bộ đấu tranh anh dũng kiên cường với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ dành độc lập Như: "Bia
căm thù" ở Cầu Xáng, khu di tích
Bảo tàng Hồ Chí Minh: Vị trí: Số 1 Nguyễn Tất Thành, Quận 1, Thành
phố Hồ Chí Minh Bến Nhà Rồng hay khu lưu niệm Bác Hồ nằm bên ngã ba
sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành Nơi đây ngày 5/6/1911, ngưởi thanh niên Nguyễn Tất Thành mà sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuống tàu
"Ðô đốc Latouche Tréville" ra đi tìm đường cứu nước
Bảo tàng lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh: Vị trí: 2 Nguyễn
Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Bảo tàng lịch
sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng năm 1929, tiền thân của
nó là Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse Từ 1929 đến 1956 trưng bày chủ yếu về mỹ thuật cổ của một số nước châu Á Từ 1956 đến 1975 là Viện Bảo tàng Quốc gia Sài Gòn Sau năm 1975 Bảo tàng mở rộng thêm diện tích và trở thành
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay
Bảo tàng Chứng tích chiến tranh: Vị trí: 28 Võ Văn Tần, Quận 3, Thành
phố Hồ Chí Minh Bảo tàng được thành lập tháng 9-1975, tiền thân là nhà trưng
bày tội ác chiến tranh Mỹ - Ngụy Bảo tàng trưng bày một số hiện vật, hình ảnh tội ác của Mỹ - Ngụy trong chiến tranh với các chủ đề: lính Mỹ tàn sát nhân dân, rải chất độc hóa học, tra tấn, tù đày, chiến tranh phá hoại miền Bắc Các hiện vật
Trang 38như máy bay, đại bác, xe tăng, máy chém và hai ngăn "chuồng cọp" được xây dựng đúng kích thước như ở nhà tù Côn Ðảo Hơn 20 năm qua đã có gần 6 triệu lượt người xem, trong đó có gần 1 triệu lượt khách nước ngoài, đông nhất vẫn là
các du khách người Mỹ
Bảo tàng Cách mạng Thành phố: Vị trí: Số 65 Lý Tự Trọng, quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh Toà nhà được xây dựng từ năm 1885 hoàn thành năm
1890, theo đồ án của kiến trúc sư người Pháp là Alfred Foulhoux, để làm nhà trưng bày sản phẩm Nam Kỳ nhưng xây xong Thống đốc Nam Kỳ lấy làm tư
dinh Ngày 12/8/1978, ngôi nhà này được sử dụng làm nhà Bảo tàng Cách mạng
Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà thờ Đức Bà: Vị trí: Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Nhà thờ Đức
Bà hay còn gọi là Nhà thờ Lớn là một công trình kiến trúc bề thế có hai tháp chuông cao, tại quảng trường mang tên "Công xã Paris" nơi trung tâm thành phố
Chùa Phụng Sơn (Chùa Gò): Vị trí, Chùa Phụng Sơn thường được gọi là
chùa Gò, toạ lạc ở số 1408 đường 3 tháng 2 quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Chùa được Thiền sư Liễu Thông tạo lập vào đầu thế kỷ 19 Chùa đã được
Bộ Văn hoá công nhận là di tích lịch sử - văn hoá quốc gia
Đền thờ Trần Hưng Đạo: Vị trí: Tọa lạc tại 36 Võ Thị Sáu, phường 4,
quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Trong số nhiều ngôi đền thờ vị anh hùng dân
tộc Trần Hưng Đạo thì đây là ngôi đền to nhất ở phía Nam Đền nằm trong một khuôn viên rộng, vốn xưa kia là đất của chùa Vạn An Năm 1932 đền thờ Trần
Hưng Đạo được lập ngay trong chùa Vạn An cũ
Chùa Bà Thiên Hậu: Vị trí, chùa toạ lạc tại 710 đường Nguyễn Trãi, quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh Chùa có tên gọi khác là miếu Bà Thiên Hậu, Tuệ Thành Hội Quán, thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, một vị thần biển của người Hoa
Nam chuyên cứu giúp người dân Trung Quốc bị nạn trên biển Chùa được cộng
đồng người Hoa gốc Tuệ Thanh (Trung Quốc) ở Chợ Lớn xây dựng năm 1760,
kiến trúc theo lối Trung Hoa cổ
Trang 39Chùa Ngọc Hoàng: Chùa toạ lạc tại 73 đường Mai Thị Lưu, quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh Chùa có tên chữ là Ngọc Hoàng Điện, người Pháp gọi
là chùa Đa Kao, từ năm 1984 đổi tên là “Phước Hải tự” Chùa là nơi thờ tự của đạo Minh Sư do Lưu Minh (người Quảng Đông) sống ở Sài Gòn khởi dựng từ
năm 1892 đến 1900
Chùa Giác Lâm: Vị trí: 118 Lạc Long Quân, quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh Chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất thành
phố, chùa còn có tên là Cẩm Sơn hoặc Cẩm Điện Chùa được xây vào năm 1744 Kiến trúc của chùa khá đặc sắc, đặc biệt là những cột chùa to lớn, màu nâu đậm, trên đó chạm những câu đối mạ vàng (có 143 cặp câu đối) Có 113 pho tượng Phật bằng đồng và gỗ quý, đặt thờ tại đây được khoảng 200 năm Chùa được
công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia
Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê (Nhà thờ Cha Tam): 25 Học Lạc, phường
14, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một nhà thờ duy nhất ở thành phố
có trang trí những hoành phi, liễn đối giống như đền miếu người Hoa
Ngày 3/12/1900, lễ thánh Phanxicô Xaviê, Đức cha Mossard, giám mục Sài Gòn, đã đến làm phép đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường dành cho người Hoa tức nhà thờ Phanxicô Xaviê ngày nay Ngày 10/1/1902, lễ cung hiến (khánh thành) trọng thể ngôi thánh đường đã được tiến hành Sau khi xây dựng nhà thờ, cha sở Tam Asson (Đàm Á Tô) còn xây được một trường học, nhà nuôi trẻ, một nhà nội trú, một số nhà ở cho thuê Năm 1934, Cha Tam qua đời, mai táng ngay tại khu vực tường cửa vào nhà thờ Do đó, dân gian thường gọi là nhà thờ Cha Tam
Chùa Linh Sơn: Vị trí 149 Cô Giang, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Khoảng hai trăm năm trước, nơi đây là ngôi miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu Đến cuối thế kỷ 19, các phật tử và nhân dân địa phương đã xây dựng nơi đây thành ngôi chùa nhỏ Năm 1929, chùa đã được trùng tu trở thành ngôi thiền viện khang trang Ngày 26/8/1931, Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học ra đời, đặt trụ sở ở chùa Hội ra tạp chí Từ Bi Âm từ ngày 1/1/1932; lập Pháp bảo phường, thỉnh
Trang 40Tam Tạng kinh từ Trung Quốc về làm tài liệu nghiên cứu, phiên dịch những phần cốt yếu trong kinh ra chữ quốc ngữ, mở Thích học đường đào tạo tăng, ni
để phát triển đạo Phật tại miền Nam Kiến trúc chùa ngày nay do Hoà thượng
Thích Nhật Minh trùng tu vào năm 1968 và hoàn thành vào năm 1971 Chùa
thường xuyên đón tiếp nhiều du khách, phật tử đến tham quan, chiêm bái
(2) Về du lịch sinh thái:
Khu du lịch Suối Tiên: Vị trí: Xa lộ Hà Nội, phường Tân Phú, quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên nằm ở cửa ngõ Ðông
Bắc Sài Gòn, được xây dựng cải tạo với mục đích kết hợp du lịch với giáo dục văn hoá lịch sử, nguồn cội dân tộc Là một vùng đất đồi hình chữ S, rộng 200.000 m2, chính giữa có dòng suối với nhiều mạch nước ngầm uốn lượn chảy
xuyên qua suốt chiều dài 2.000 m
Suối Tiên gồm 12 khu vực chính, vốn đầu tư 50 tỷ đồng Hàng năm Suối Tiên đón từ 1,5 - 2 triệu lượt khách đến tham quan Nét độc đáo của Suối Tiên là tính chất lịch sử, huyền thoại, các cụm mô hình ở đây được lấy ý tưởng từ các truyền thuyết, huyền tích của dân tộc và tư tưởng đạo học phương Ðông Vẻ đẹp nên thơ kết hợp hài hòa, khéo léo giữa thiên nhiên và nhân tạo, giữa kiến trúc cổ
và kiến trúc hiện đại, không khí trong lành nơi đây đã khiến cho Suối Tiên thực
sự trở thành khu nghỉ ngơi, giải trí hấp dẩn của người dân thành phố cũng như
của du khách từ xa đến
Khu Du lịch sinh thái Vàm Sát: Vị trí: Xã Lý Nhơn huyện Cần Giờ,
Thành phố Hồ Chí Minh, nằm giữa dòng chảy của hai con sông Vàm Sát, Lòng
Tàu, Khu Du Lịch Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vàm Sát mang trong mình những khoảng rừng đẹp nhất của khu dự trữ sinh quyển thế giới rừng ngập mặn Cần
Giờ, thuộc huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2003, Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đã công nhận Khu Du Lịch Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vàm Sát là một trong 2 khu du lịch sinh thái phát triển bền của thế giới tại Việt Nam
Làng du lịch Bình Quới: