Với những lý do vừa nêu, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và xác định Đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật so sánh với tiếng Việt làm tư liệu tham khảo cho bản thân và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM MINH TÚ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT
( SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM MINH TÚ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƯ TÍN THƯƠNG MẠITIẾNG NHẬT ( SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Thị Ngọc Hân
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3TTTMTN: Thư tín thương mại tiếng Nhật
TTTMTV: Thư tín thương mại tiếng Việt
Tp HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn là do tôi viết dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Ngọc Hân Các cứ liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, khách quan Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 02 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tú
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Thị Ngọc Hân - người đã dành nhiều thời gian để đọc và nhận xét bản thảo giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên
và tiếp thêm nghị lực cho tôi trong những lúc khó khăn nhất để tôi thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những góp ý quý báu từ quý Thẩy Cô và bạn đồng nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 02 năm 2017
Phạm Minh Tú
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Nguồn ngữ liệu 7
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
8 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 10
1.1 Phong cách học và các phong cách chức năng ngôn ngữ 10
1.1.1 Khái niệm phong cách học 10
1.1.2 Phân loại phong cách và đặc điểm riêng của từng loại phong cách 10
1.2 Lý thuyết hội thoại 12
1.2.1 Nguyên lý cộng tác 12
1.2.2 Nguyên lý lịch sự 13
1.3 Kính ngữ trong tiếng Nhật 14
1.3.1 Tôn kính ngữ 15
1.3.2 Khiêm nhường ngữ 17
1.4 Từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ 19
1.4.1 Từ ngữ xưng hô trong tiếng Nhật 19
1.4.2 Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 21
1.5 Thư tín thương mại 22
1.5.1 Khái niệm thư tín thương mại 22
1.5.2 Đặc điểm của thư tín thương mại 22
Trang 71.6.2 Câu trong tiếng Nhật 28
1.6.3 Câu trong tiếng Việt 30
1.7 Tiểu kết 32
CHƯƠNG 2 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT – TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN TỪ NGỮ 33
2.1 Về thuật ngữ chuyên ngành 33
2.1.1 Thuật ngữ chuyên ngành trong thư tín thương mại tiếng Nhật 33
2.1.2 Thuật ngữ chuyên ngành trong thư tín thương mại tiếng Việt 37
2.1.3 Tương đồng và khác biệt về thuật ngữ giữa tiếng Nhật – tiếng Việt 39 2.2 Về tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ 41
2.2.1 Tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong thư tín thương mại
tiếng Nhật 42
2.2.2 Tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong thư tín thương mại
tiếng Việt 53
2.2.3 Tương đồng và khác biệt về tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ ở tiếng Nhật – tiếng Việt 54
2.3 Về từ xưng hô 56
2.3.1 Từ xưng hô trong phần mở đầu của thư tín thương mại tiếng Nhật 57
2.3.2 Từ xưng hô trong nội dung thư tín thương mại tiếng Nhật 58
2.3.3 Từ xưng hô trong phần kết thư tín thương mại tiếng Nhật 60
2.3.4 Tương đồng và khác biệt về từ xưng hô giữa tiếng Nhật – tiếng Việt 60
2.4 Tiểu kết 64
CHƯƠNG 3 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT – TIẾNG VIÊT TRÊN BÌNH DIỆN CÚ PHÁP 65
3.1 Các kiểu câu và vai trò các kiểu câu trong thư tín thương mại tiếng Nhật 65
3.1.1 Các kiểu câu trong thư tín thương mại tiếng Nhật 65
Trang 83.2.1 Các kiểu câu trong thư tín thương mại tiếng Việt 82
3.2.2 Vai trò các kiểu câu trong thư tín thương mại tiếng Việt 84
3.3 Tương đồng và khác biệt trê bình diện cú pháp 92
3.3.1 Điểm tương đồng 92
3.3.2 Điểm khác biệt 93
3.4 Tiểu kết 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 1: Thư tín thương mại tiếng Nhật 107
PHỤ LỤC 2: Thư tín thương mại tiếng Việt 166
PHỤ LỤC 3: Hình thức trình bày văn bản hành chính Nhật Bản 207
PHỤ LỤC 4: Một số thuật ngữ chuyên ngành dùng trong TTTM tiếng Nhật 208
PHỤ LỤC 5: Thống kê hình thức kính ngữ trong TTTM tiếng Nhật 213
PHỤ LỤC 6: Quy tắc soạn thảo văn bản hành chính Nhật Bản 217
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản đang phát triển nhanh chóng và ngày càng sâu rộng Các công ty Nhật Bản đã đầu tư, liên kết với các công ty Việt Nam ngày một nhiều, cả về số lượng lẫn chất lượng Tuy nhiên, trong quá trình trao đổi đã nảy sinh một vấn đề có liên quan đến lĩnh vực ngôn ngữ học là giao tiếp bằng thư tín Vấn đề này, đặt ra nhu cầu viết thế nào để vừa truyền tải được nội dung công việc vừa thể hiện được sự trang trọng, lịch sự, đúng quy cách của thư tín thương mại Mặt khác, sự thông hiểu ngôn ngữ lẫn nhau còn là nhân tố quan trọng góp phần thắt chặt mối quan hệ hai nước và là chìa khóa giúp mở rộng mối quan hệ hợp tác trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội
Mặc dù tiếng Nhật được giảng dạy rộng rãi tại Việt Nam ở các trung tâm Nhật ngữ, từ bậc trung học, cao đẳng đến đại học; các tài liệu học tập tiếng Nhật như một ngoại ngữ do người Việt biên soạn cũng khá nhiều nhưng theo chúng tôi, nguồn ngữ liệu đó vẫn chưa đủ so với nhu cầu sử dụng của người dùng tiếng Nhật
Lý do là vì chỉ mới cung cấp cho người học những mẫu câu và những bài học đơn giản, chưa chuyên sâu vào cách diễn đạt từ ngữ, cú pháp để người học hiểu và vận dụng trong công việc soạn thảo thư tín thương mại bằng tiếng Nhật có hiệu quả hơn
Theo góp ý từ các công ty Nhật Bản tại Việt Nam, nơi sinh viên trường Đại học Mở Tp HCM đã thực tập và cũng là nơi đang công tác của người viết luận văn; các doanh nghiệp cho rằng sinh viên ra trường thực sự có khả năng viết và hiểu về phong cách thư từ giao dịch bằng tiếng Nhật rất hạn chế
Phía sinh viên đã tốt nghiệp cũng cho rằng, khó khăn lớn nhất khi làm việc trong thực tế không phải là biên, phiên dịch Nhật - Việt mà là quy tắc soạn thảo thư thương mại tiếng Nhật, chọn lựa các phương tiện ngôn ngữ sao cho có sức thuyết phục
Với những lý do vừa nêu, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và xác định
Đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật (so sánh với tiếng Việt) làm tư
liệu tham khảo cho bản thân và những người có quan tâm đến tiếng Nhật nói chung hay tiếng Nhật trong lĩnh vực thương mại nói riêng
Trang 102 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Nghiên cứu thư tín thương mại ở các nước trên thế giới
Trong giao dịch thương mại, thư tín là một trong những phương tiện không thể thiếu Thư tín giữ một phần thiết yếu trong việc thiết lập, mở rộng kinh doanh, lưu trữ thông tin như một chứng từ quan trọng làm cơ sở đánh giá sự việc Tuy nhiên, để soạn thảo được một bức thư thương mại mang tính hiệu quả, người viết cần phải hiểu rõ đặc điểm văn phong ngôn ngữ của mỗi quốc gia Do vậy, để mối quan hệ được duy trì, tương tác với nhau, mỗi quốc gia ít nhiều đều có những công trình nghiên cứu về thư tín thương mại
Có thể nói, phổ biến và được biết nhiều nhất là các tài liệu thương mại tiếng Anh Các tác giả Anh, Mỹ đã xây dựng khá nhiều giáo trình thư tín thương mại chuẩn mực và hữu ích cho chiến lược viết thư trong kinh doanh Tiêu biểu có những
công trình như: Venolia, Jan (1982), Better Letters: “A Handbook of Business &
Personal Correspondence” [69], Bovee (2003), “Business Communication Today”
[67], A Ashley, (2003), “A handbook of commercial correspondence” [66] …
Về thư tín thương mại được nghiên cứu tại Trung Quốc, tiêu biểu có “Cẩm
nang thư tín Anh – Hoa – Việt” do Hàn Ngọc Lan biên tập [31] Công trình gồm 4
phần Phần một đưa ra những gợi ý cụ thể về cách viết thư và báo cáo sao cho có hiệu quả Phần hai trình bày các mẫu thư liên quan đến mọi lĩnh vực giao tiếp Phần
ba giới thiệu phương tiện giao tiếp thư tín thịnh hành nhất là email và giới thiệu vài email mẫu tham khảo Phần bốn là phụ lục Ngoài ra còn có nhiều bài viết vể cách
viết TTTM đăng trên tạp chí khoa học, tiêu biểu như: Trần Trân (2012), “Vấn đề
thường gặp trong viết thư tín thương mại tiếng Nhật và một vài đề xuất tham khảo”
[47], tác giả nêu ra những lỗi thường gặp khi viết thư như lỗi đánh máy, cách thức trình bày, sử dụng ngôn ngữ không đúng chuẩn, lối viết dài dòng, không sử dụng kính ngữ Từ đó đưa ra những lưu ý về việc cần biểu đạt ý nghĩa rõ ràng, ngôn ngữ
cô đọng, sử dụng kính ngữ một cách chính xác Tác giả cũng cho rằng lời chào hỏi hoặc kết thư cần phải có cách viết nhất quán, nên có những từ ngữ thể hiện ý chúc mừng hoặc cảm tạ
Trang 11Riêng vể thể loại thư tín thương mại tiếng Việt cũng có bài viết “Đặc điểm
ngôn ngữ và kỹ xảo phiên dịch thư tín thương mại tiếng Việt” [22], Bàng Mẫn Gia
đã bàn về việc phân loại thư thương mại tiếng Việt, đặc điểm thư thương mại tiếng Việt, kỹ thuật phiên dịch thư thương mại tiếng Việt
Về phong cách viết thư tín của người Nhật có “A Study of Japanese and
American perceptions of politeness in requests” [69] Trong tác phẩm này, Kitao,
Kenji đề cập đến quan niệm của người Nhật và người Mỹ về tính lịch sự khi đưa ra yêu cầu, đề nghị trong loại thư tín thương mại
Liên quan đến thể thức, nội dung thư thương mại tiếng Nhật có thể kể đến các tác giả như KataYama Satoshi, Kawada Meiko, Yamazaki Masashi Với công
trình “Mini mini tegami no kakikata jiten”(Từ điển bỏ túi cách viết thư tiếng Nhật)
[57] Kata Yama Satoshi nêu rõ thư dù thuộc kiểu nào cũng vẫn phải tuân theo trình
tự các bước: lời chào mở đầu (zenbun) - nội dung thư (shubun) - lời chào kết thư (matsubun) – nội dung đính kèm (fukibun)
Công trình “Bijinesu bunsho to nihongo hyougen” (Thư thương mại và biểu
hiện tiếng Nhật) [58] của Kawada Meiko đã điểm qua nội dung cơ bản về hình thức
trình bày, cách phân biệt và sử dụng kính ngữ trong thư tín thương mại, đề xuất các bước cơ bản cần biết để viết thư thương mại dạng email có hiệu quả
Yamazaki Masashi đã mô tả mô hình và hướng dẫn cách trình bày thư, cách ghi thông tin trên bì thư; cung cấp những thư mẫu dùng trong công ty và ngoài công
ty theo từng chủ đề trong công trình“Bijinesu bunsho no kakikata to
manaa”(Cách viết thư thương mại) [64] Yamazaki Masashi cũng cho rằng điều
quan trọng nhất để tạo ra một thư thương mại có sức thuyết phục là chú trọng đến cách dùng kính ngữ
Gần đây nhất là “Bijinesu bunsho no kakikata” ”(Cách viết thư thương mại)
của Abe Hirohisa [52], công trình cũng miêu tả bố cục, cách trình bày các phần trong thư tín thương mại, kèm theo là những câu văn, thư mẫu được phân chia theo chủ đề để người sử dụng có thể tham khảo
Trang 12Qua những công trình nghiên cứu thư tín thương mại ở Nhật vừa nêu, chúng tôi nhận thấy các công trình đã được nghiên cứu đều thiên về hướng trình bày thể thức, qui tắc viết thư cả về việc sử dụng từ ngữ lẫn câu văn nhằm giúp người soạn thư có được kỹ năng soạn thảo thư mang tính chuẩn mực, khuôn mẫu về mặt hình thức
2.2 Nghiên cứu thư tín thương mại tại Việt Nam
Nguyễn Trọng Đàn, trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Phân tích diễn ngôn thư
tín thương mại (trên ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)”[17] đã phân tích đối chiếu
một số đặc điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt Ngoài ra ông còn
có công trình nghiên cứu như “Thư tín trong thương mại quốc tế” [19] nhằm cung
cấp kiến thức, hướng dẫn cho sinh viên, những người đang hoạt động trong các lĩnh vực thư tín thương mại về cách dùng từ ngữ, cách hành văn, cách trình bày nội dung
của các bức thư thương mại, email, fax… Hay công trình “Ngôn ngữ thư tín thương
mại bằng tiếng Anh” [20] cung cấp hơn 500 mẫu câu, các mẫu thư từ, điện tín được
sử dụng phổ biến trong kinh doanh quốc tế
Công trình “Cách viết thư trong tiếng Nhật” (Nhật-Anh-Việt) của Trần Việt
Thanh [41] tuy không đi sâu vào nghiên cứu, phân tích về mặt ngôn ngữ nhưng cũng nhắc đến một số điểm quan trọng cần chú ý khi tiến hành viết thư thương mại như: câu văn và từ ngữ được sử dụng theo mùa hoặc năm tháng, xác định loại thư, quan hệ giữa người nhận thư và người gửi, những thành ngữ cần dùng trong thư
Tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, năm
2015, Võ Đinh Thụy Mân đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài “Văn
phong thư tín thương mại tiếng Việt” [33] Luận văn chủ yếu phân tích cách thức bố
trí các thành phần thể thức văn bản, bố cục nội dung, đặc điểm từ vựng, ngữ pháp giúp người tham khảo định hình phong cách riêng biệt của thư tín thương mại tiếng Việt Đó là một trong những cơ sở để chúng tôi tham khảo
Trong bài “Viết trong lĩnh vực thương mại” [1] Ngô Tùng Anh đã phân
tích một số văn bản trong lĩnh vực thương mại của người Anh, Mỹ, Pháp và Nhật Qua đó, nêu lên một số nét riêng biệt về văn phong trong lĩnh vực thương mại
Trang 13Người viết bài cũng nhận định rằng sự thành công của doanh nghiệp cũng một phần
là nhờ vào nghệ thuật viết thư có tính thuyết phục với phong cách viết, cấu trúc thư, cách trình bày, tính súc tích, ngắn gọn, lịch sự…
Với bài viết “Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại tiếng Việt” đăng trong
tạp chí Khoa học xã hội [42], Vương Kim Thanh phân tích những đặc điểm cơ bản trong diễn ngôn của thư thương mại như: tính pháp lý trong ngôn ngữ giao dịch, tính lịch sự trong ngôn ngữ giao tiếp liên cá nhân, những ảnh hưởng do tiếp xúc ngôn ngữ thư tín thương mại Anh-Việt
Bùi Quang Xuân cũng có bài viết “Thư tín - Nghệ thuật giao thiệp thành
công” [51] đã phân tích loại thư tín dùng để trao đổi thông tin giữa các cá nhân, tổ
chức Dù là thư viết theo cách nào thì cũng cần tuân thủ những quy tắc sau: đi thẳng vào vấn đề, rõ ràng, đầy đủ, chính xác, nhất quán, thận trọng
Điểm qua các công trình nghiên cứu về thư tín thương mại, chúng tôi nhận thấy đề tài nghiên cứu có liên quan đến thư tín thương mại và cách viết thư tiếng Nhật ở Việt Nam cũng đã được khai thác Tuy nhiên, cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật Đồng thời cũng chưa có công trình đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật với tiếng Việt Do vậy những vấn đề chưa được chú trọng sẽ được nghiên cứu trong luận văn này
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặc biệt quan tâm đến cách diễn đạt, lựa chọn ngôn từ mà người Nhật
sử dụng trong TTTM tiếng Nhật Đó cũng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của bức thư
So sánh để tìm ra đặc điểm riêng của ngôn ngữ TTTM tiếng Nhật Từ đó làm rõ
sự tương đồng, khác biệt về đặc trưng từ vựng, cú pháp giữa TTTM tiếng Nhật và TTTM tiếng Việt
Luận văn sẽ đóng góp một phần nguồn tư liệu vào việc ứng dụng giảng dạy, giúp ích cho người học tiếng Nhật tại Việt Nam muốn tìm hiểu về thư tín thương mại
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát và thống kê các thuật ngữ, từ xưng hô, kiểu câu được sử dụng trong TTTM tiếng Nhật
So sánh, đối chiếu và mô tả cả sự tương đồng lẫn sự khác biệt giữa thư tín thương mại tiếng Nhật và tiếng Việt thể hiện trên bình diện từ vựng, cú pháp nhằm phân định đặc điểm về văn phong thư tín trên hai ngôn ngữ
Luận văn chứng minh rằng phong cách TTTM tiếng Nhật trên bình diện từ ngữ và cú pháp sẽ góp phần quan trọng cho việc soạn thảo văn bản thành công
Đề tài nghiên cứu này góp phần làm cho quá trình giao tiếp của người sử dụng văn bản thư tín tiếng Nhật – tiếng Việt, tiếng Việt – tiếng Nhật trở nên phong phú hơn
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ TTTM tiếng Nhật trên cơ sở phân tích cấu trúc câu, cách sử dụng từ ngữ trong nội dung các văn bản TTTM tiếng Nhật mà các công ty Nhật-Việt đã sử dụng trong hoạt động thương mại
Chúng tôi cũng thực hiện khảo sát trên cả văn bản TTTM tiếng Việt để có thêm cơ sở phục vụ cho việc đối chiếu tìm ra điểm tương đồng và khác biệt ở hai ngôn ngữ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng 177 mẫu TTTM tiếng Nhật và 172 mẫu TTTM tiếng Việt Những văn bản thư tín này đã được soạn thảo và sử dụng tại các công ty Việt Nam, công ty Nhật Bản đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
Thư tín thương mại có chức năng và được viết ra với nhiều mục đích khác nhau Dựa vào mục đích của từng thể loại, Budly và các tác giả khác [68, tr.224] phân chia thư tín làm bốn tiểu thể loại là: thuyết phục, thông tin, thông tin xấu và thiện chí Tiếp thu cách phân chia này, chúng tôi giới hạn lại phạm vi nghiên cứu ở thể
Trang 15loại thuyết phục, thông báo và thiện chí Nội dung cụ thể ở mỗi tiểu thể loại thư sẽ được trình bày cụ thể ở chương 1,( mục 1.5.2.3)
Bên cạnh đó, chúng tôi đã “khuôn” các văn bản lại ở những nội dung cơ bản như: cách chọn lọc sử dụng từ ngữ và ngữ pháp được dùng cho mỗi nhóm thư của hai loại ngôn ngữ là tiếng Nhật và tiếng Việt Trên cơ sở đó, sẽ thực hiện đối chiếu
để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về văn phong ở hai ngôn ngữ được sử dụng trong TTTM
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết được những nhiệm vụ đề ra, luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê và phương pháp so sánh-đối chiếu
Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê các yếu tố ngôn ngữ được
sử dụng trong thư như: từ vựng (thuật ngữ, từ xưng hô, kính ngữ…), kiểu câu, cấu trúc câu để xác định đặc điểm về từ vựng, cú pháp của từng loại thư
Phương pháp so sánh-đối chiếu được sử dụng để so sánh các yếu tố ngôn
ngữ nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa văn phong TTTM tiếng Nhật và TTTM tiếng Việt
Tổng số thư thực hiện khảo sát cho luận văn là 177 thư thương mại tiếng Nhật và 172 thư thương mại tiếng Việt Số lượng cụ thể cho mỗi loại như sau:
Thể loại Tiếng Nhật Tiếng Việt
Thể loại thuyết phục 70 51
Thể loại thông báo 59 69
Trang 16Thể loại thiện chí 48 52
7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
7.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra một số kết luận hữu ích cho vấn đề nghiên cứu
về đặc trưng ngôn ngữ trong TTTM tiếng Nhật (so với TTTM tiếng Việt), là nguồn
dữ liệu giúp người có quan tâm đến TTTM tiếng Nhật - tiếng Việt, dễ tiếp cận hơn với loại thư tín đặc biệt này
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn mang đến cho sinh viên đang học tiếng Nhật thương mại, người đang làm việc có liên quan đến giao dịch thương mại nguồn tham khảo nhằm góp phần nâng cao năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp qua thư từ để trao đổi thông tin với đối tác người Nhật đạt được thuận lợi và có hiệu quả
8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1 là cơ sở lý thuyết để triển khai chương hai và chương ba Chương 2 và chương 3 so sánh các bình diện ngôn ngữ khác nhau của văn bản thư tín Trong đó, chương 2 phân tích và so sánh đặc điểm ngôn ngữ TTTM trên bình diện từ ngữ, chương 3 phân tích và so sánh đặc điểm ngôn ngữ TTTM trên bình diện cú pháp
Trang 17Phân tích đặc trưng từ ngữ TTTM tiếng Nhật, như: cách sử dụng thuật ngữ, tôn kính ngữ và khiêm nhường, ngôi xưng hô… trên cơ sở so sánh với tiếng Việt nhằm nêu
ra sự khác biệt và tương đồng trong việc sử dụng từ ngữ ở hai loại thư tín
Chương 3: So sánh đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật – tiếng Việt trên bình diện cú pháp
Trong chương này chúng tôi phân tích các kiểu câu được phân chia theo mục đích phát ngôn của TTTM tiếng Nhật Trên cơ sở so sánh với tiếng Việt, luận văn sẽ tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai loại TTTM tiếng Nhật và tiếng Việt trên bình diện cú pháp
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Thư tín thương mại là một dạng thư được sử dụng trong tất cả các loại ngôn ngữ, mang tính chất cố định, mang ý nghĩa nhất định Khi xem xét một bức thư nói
về thương mại, chúng ta cần xét từ góc độ phong cách của thư, đặc biệt là trong TTTM tiếng Nhật cần xem xét ở góc độ kính ngữ và cách xưng hô, những từ ngữ và những mẫu câu thường xuất hiện trong thư tín thương mại
1.1 Phong cách học và các phong cách chức năng ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm phong cách học
Ở Việt Nam, Cù Đình Tú cho rằng phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định [49, tr 21]
Ở Nhật Bản, theo định nghĩa trong từ điển Koujien (Shinmura Izuru chủ biên) [61, tr.1535], phong cách học là bộ môn nghiên cứu những đặc trưng về mặt
biểu hiện ngôn ngữ như: hình thức trình bày, từ ngữ sử dụng, dạng thức câu văn,
ngữ pháp, ngữ âm… của một ngôn ngữ nhất định
1.1.2 Phân loại phong cách và đặc điểm riêng của từng loại phong cách
Tiếp thu sự nghiên cứu về phong cách và đặc điểm riêng ở từng loại phong cách của Cù Đình Tú [49], chúng tôi hiểu như sau:
1.1.2.1 Phong cách khẩu ngữ tự nhiên
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên hay còn gọi là phong cách sinh hoạt hàng ngày, là lớp phát ngôn dùng trong sinh hoạt đời thường, không mang tính chính thức xã hội
Về từ ngữ sử dụng: không có sự trau chuốt, mang tính chất bình dân, giàu chất biểu cảm, dùng nhiều ngữ khí từ, cảm thán từ, từ láy
Về cú pháp: phong cách khẩu ngữ tự nhiên thiên về việc sử dụng câu hỏi, câu cảm thán, câu nói trực tiếp khi giao tiếp
1.1.2.2 Phong cách ngôn ngữ gọt giũa
Trang 19Phong cách ngôn ngữ gọt giũa là phong cách ngôn ngữ được dùng trong sách báo, công văn, dùng trong tập thể lớn có tổ chức của xã hội như trường học, cơ quan…, mang tính chính thức xã hội
Về sử dụng các phương tiện từ ngữ: những từ ngữ trừu tượng, trung hòa về sắc thái biểu cảm được xem là công cụ diễn đạt cơ bản của phong cách gọt giũa
Đặc điểm sử dụng các phương tiện cú pháp: dùng những câu có kết cấu hoàn chỉnh không thừa, không thiếu thành phần
Đặc điểm diễn đạt của phong cách ngôn ngữ gọt giũa: ngắn gọn, chính xác
và giản dị
Ngắn gọn: để giao tiếp xã hội thu được kết quả nhiều nhất Yêu cầu ngắn
gọn này vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
Chính xác: trong việc dùng từ, đặt câu thế nào để phù hợp với chuẩn mực;
chính xác trong cách cấu tạo toàn bộ nội dung diễn đạt
Giản dị: viết giản dị để người đọc dễ tiếp nhận, giản dị trong diễn đạt cũng
thể hiện được năng lực sử dụng ngôn ngữ
Dựa trên cơ sở thực hiện chức năng giao tiếp của xã hội, có thể chia phong
cách ngôn ngữ gọt giũa thành các phong cách ngôn ngữ gọt giũa bộ phận như sau:
phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính, phong cách
ngôn ngữ văn chương
- Phong cách khoa học: dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến
khoa học Các công trình nghiên cứu, luận án khoa học…viết theo phong cách này
- Phong cách chính luận: sử dụng trong lĩnh vực chính trị xã hội Các văn
bản sau được viết theo phong cách chính luận: tin tức đưa trên báo chí, điều tra phóng sự…
- Phong cách hành chính: được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành
chính Đấy là giao tiếp giữa nhà nước với nhân dân, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này với nước khác Phong cách hành chính tồn tại chủ yếu dưới dạng các văn bản viết
Phong cách hành chính có những đặc điểm riêng sau:
Trang 20+ Đặc điểm về phương tiện chữ viết: trình bày theo những mẫu thống nhất + Đặc điểm về phương tiện từ ngữ: lựa chọn từ ngữ chính xác về mặt nội dung, những từ ngữ trang trọng hoặc những từ ngữ trung hòa về mặt sắc thái biểu cảm Trong đó từ có gốc Hán chiếm tỉ lệ khá lớn
+ Đặc điểm về phương tiện cú pháp: dùng câu tường thuật là chủ yếu, các
kiểu câu cảm thán, nghi vấn không thích hợp với yêu cầu thông tin của phong cách này Cú pháp của bất kỳ một quyết định hành chính nào cũng chỉ được trình bày giới hạn trong một câu
+ Đặc điểm về phương tiện diễn đạt: phải thể hiện được tính xác định của
nội dung, tính đơn nghĩa để cho mọi người cùng hiểu, thống nhất thực hiện
- Phong cách ngôn ngữ văn chương: Phong cách ngôn ngữ văn chương thực
hiện đồng thời ba chức năng: thông báo, tác động, thẩm mĩ theo con đường gián tiếp, qua trung gian là hình tượng văn chương
1.2 Lý thuyết hội thoại
Nguyên lý cộng tác hay nguyên lý hợp tác hội thoại và nguyên lý lịch sự là hai nguyên lý chi phối quá trình giao tiếp, nó tác động trực tiếp tới quá trình giao tiếp và hiệu quả giao tiếp Vấn đề này được nhiều nhà ngôn ngữ đề cập tới trong các công trình của mình Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến quan điểm của một số tác giả: H.P Grice, R Lakoff, G.Leech, Brown và Levinson dẫn theo Đỗ Hữu Châu [10]
Trang 21+ Phương châm về cách thức: tránh lối nói tối nghĩa, lối nói có thể hiểu theo nhiều nghĩa Tránh dài dòng và hãy nói có trật tự [10, tr.230]
1.2.2 Nguyên lý lịch sự
a Quan điểm về phép lịch sự của R.Lakoff
Theo tác giả, lịch sự là tôn trọng lẫn nhau R.Lakoff nêu ba qui tắc lịch sự sau:
+ Quy tắc không áp đặt: người nói sẽ tránh hoặc giảm nhẹ khi yêu cầu một việc gì đó mà người nghe không muốn làm
+ Quy tắc dành cho người nghe sự lựa chọn: quy tắc này hoạt động khi những người hội thoại bình đẳng với nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội Dành cho người nghe sự lựa chọn có nghĩa là nói làm sao cho quan điểm hay yêu cầu của mình được biết đến mà không bị từ chối
+ Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè: những đề tài cấm kỵ, riêng tư không nên đem ra làm đề tài nói [10, tr.257,258,259]
b Quan điểm về phép lịch sự của G.Leech:
G.Leech dựa trên khái niệm tổn thất và lợi ích, bao gồm một số phương châm
+ Phương châm khéo léo: đó là biện pháp giảm thiểu những điều bất lợi tăng tối đa điều có lợi cho người nghe
+ Phương châm rộng rãi: giảm thiểu lợi ích của mình, tăng tối đa tổn thất cho mình (trong những phát ngôn cầu khiến hay cam kết)
+ Phương châm tán thưởng: nhằm giảm bớt sự chê bai, đồng thời tăng tối đa
sự khen ngợi người nghe
+ Phương châm khiêm tốn: giảm thiểu tự khen mình, tăng tối đa chê bai mình
+ Phương châm tán đồng: giảm thiểu sự bất đồng, tăng tối đa sự tán đồng giữa mình với người khác
+ Phương châm thiện cảm: giảm thiểu ác cảm, tăng tối đa thiện cảm giữa mình với người khác [10, tr.261,262]
Trang 22c Quan điểm về phép lịch sự của Brown và Levinson
Brown & S Levinson cho rằng lịch sự là tôn trọng thể diện, có hai phương diện của thể diện: thể diện dương tính (thể diện tích cực) và thể diện âm tính (thể diện tiêu cực)
+ Thể diện dương tính là những điều mà mình mong muốn được người khác tôn trọng và đề cao
+ Thể diện âm tính là những điều riêng tư mà mình không muốn người khác động chạm hay xâm phạm tới [10, tr.263, 264]
Với người Nhật, lịch sự là một trong những chuẩn tắc quan trọng nhất của cuộc sống thường ngày Tính lịch sự, lễ phép là điều cơ bản trong tính cách dân tộc Nhật Bất kỳ lời nói, cử chỉ, hành vi nào của người Nhật, kể cả sự thúc giục, cũng đều mang dấu ấn lịch sự Kaneko Hiroyuki cho rằng lịch sự là không làm phiền, tôn trọng hình ảnh của người khác không chỉ bằng hành động và cần thể hiện cả trong lời nói Tính lịch sự của người nói được thể hiện qua cách sử dụng
từ kính ngữ [56, tr.3]
1.3 Kính ngữ trong tiếng Nhật
Về vấn đề kính ngữ (ngôn từ biểu thị sự trân trọng) trong tiếng Nhật, Nguyễn
Thị Việt Thanh nhận định: “ở mọi ngôn ngữ đều có cách thức biểu thị sự kính trọng
của người nói (người viết) đối với người nghe (người đọc), nhưng ở tiếng Nhật kính ngữ và khiêm nhường ngữ tồn tại như một phương thức riêng biệt, đối lập với các dạng thức trung hòa, lễ phép hay thân mật” [40, tr.368]
Kính ngữ là cách gọi chung dùng để chỉ các biểu hiện hay các dạng thức ngôn ngữ mà người nói lựa chọn tùy theo tình huống giao tiếp hay đối tượng giao tiếp
Ví dụ: cùng biểu thị một hành vi cầu khiến “đợi tôi”, nhưng nếu ngôi thứ nhất và
ngôi thứ hai có vị trí ngang hàng là bạn bè, đồng nghiệp thì sẽ có những cách dùng:
ちょっと待って (chotto matte), 待って (matte) hoặc 待ってください (matte kudasai) mang nghĩa “đợi một chút” Nhưng nếu ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai xếp
trong mối quan hệ nhân viên cửa hàng - khách hàng, nhân viên công ty – cấp trên
Trang 23thì lúc này phải dùng những dạng thức biểu hiện như 少々お待ちください
(shoushou omachi kudasai) hay お待ちいただけませんでしょうか (omachi
itadakemasen deshouka) Cả hai đều mang nghĩa “xin vui lòng đợi một chút”,
nhưng ở “お待ちいただけませんでしょうか” (omachi itadakemasen deshouka)
thể hiện sự nhã nhặn, lịch sự, dịu dàng trong lời nói, tạo cho người tiếp nhận
cảm giác dễ chịu, dễ chấp nhận lời đề nghị Đây là yếu tố rất cần thiết trong viết thư giao dịch vì mục đích cần đạt đến trong thư giao dịch là lời nói phải thuyết phục, phải hướng đối tượng giao tiếp, đến hành vi thực hiện hoặc chấp nhận lời đề nghị giao dịch
Kính ngữ trong tiếng Nhật gồm có: 尊敬語 (sonkeigo: tôn kính ngữ) và 謙
譲語 (kenjougo: khiêm nhường ngữ)
Trong luận văn này, kính ngữ chỉ là một phần thuộc đề tài nên chúng tôi chỉ nêu tổng thể những loại kính ngữ thường gặp trong tiếng Nhật, lấy đó làm cơ sở phân tích kính ngữ trong thư thương mại
- Đề cao bản thân nhân vật (người nghe) bằng cách gắn thêm chức vụ hoặc sử
dụng tiếp vĩ ngữ “様: sama” sau tên nhân vật
Trang 24- Nếu đối tượng được nhắc đến là tổ chức, đoàn thể sẽ được sử dụng bằng
những từ ngữ trang trọng thể hiện sự tôn kính như: “貴社: ki-sha” (quý công ty),
“貴会: ki-kai” (quý hiệp hội), “貴店: ki-ten” (quý cửa hàng), “貴校:ki-kou” (quý trường), “御社: on-sha” (quý công ty), “皆様: mina sama” (quý vị)
- Khi bày tỏ sự tôn kính của bản thân người nói (người viết) về hành động của
người nghe (người đọc), người Nhật sẽ diễn đạt bằng những hình thức dưới đây: + お/ご…になる [O (GO) + … + ni naru]
Chẳng hạn, trong cuộc hội thoại giữa hai đối tác Yamada (người Nhật) và Stephen (người Mỹ) Sau khi bàn bạc công việc xong, Stephen đã hỏi Yamada nơi mua quà truyền thống của Nhật để tặng bạn Yamada đã trả lời như sau:
(1.3) 日本 の伝統 的 なもの が お 買 い に な り たかった ら、 浅草に いらっしゃったらいかがですか。
Nếu ông muốn mua quà truyền thống của Nhật thì nên đến Asakusa
Mặc dù nội dung nói chuyện không liên quan đến công việc thương mại
nhưng vì Stephen là đối tác nên Yamada phải dùng kính ngữ trong hành động mua
“お買いになり” của Stephen để thể hiện sự tôn trọng với đối tác
Trang 25Vợ chồng Hoàng thái tử sẽ viếng thăm chính thức Hoa Kỳ vào tháng 10 theo lời mời của tổng thống Reagan
+ Ngoài những hình thức vừa nêu trên còn có một số động từ kính ngữ dạng đặc biệt như: いらっしゃる: đến, ご覧になる: xem, おっしゃる: nói,… (xem phụ lục 5)
Ví dụ:
(1.10) 会長は来月アメリカへおいでになる予定です。
Ông hội trưởng dự định đi Mỹ vào tháng tới
- Tôn kính những vật sở hữu, trạng thái, sự việc có liên quan đến người nghe bằng cách thêm tiếp đầu ngữ “お:O” hoặc “ご: GO” vào danh từ, tính từ
Trang 26mình và tất cả những gì có liên quan đến bản thân mình Có thể nói một cách dễ
hiểu hơn là: “cách nói khiêm tốn” Khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật có những
Tôi sẽ đợi ở văn phòng
+ お(ご)…申し上げる [O (GO) … moushi ageru]
Trang 27Nhận được thư của ông đã lâu nhưng không kịp hồi âm, tôi thật là thất lễ
+ Hạ thấp hành động của bản thân bằng những động từ khiêm nhường đặc biệt như :
拝見する:xem, 拝読する: đọc, 拝聴する:nghe, … (xem phụ lục 5)
- Hạ thấp bản thân khi muốn, yêu cầu, nhờ vả
+ お(ご)…願う[O (GO) … negau]
Ví dụ:
(1.22) 明朝午前七時から午前十時まで電気工事のため停電しますか
ら、ご注意お願います。
Từ 7 giờ đến 10 giờ sáng ngày mai sẽ cúp điện vì sửa điện, xin mọi người chú ý
+ お(ご)…申し上げる [O (GO) … moushi ageru]
Ví dụ:
(1.23) 営業の田村でぎざいますが。よろしくお願い申し上げます。
Tôi là Tamura ở phòng doanh nghiệp Xin ngài hãy chiếu cố cho
+ お(ご)… いただく[O (GO) …itadaku]
Ví dụ:
(1.24) ちょっとお待ちいただければ、すぐお直しいたします。
Nếu được, xin anh chờ một chút, tôi sẽ sửa ngay
1.4 Từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ
1.4.1 Từ ngữ xưng hô trong tiếng Nhật
Trên cơ sở phân biệt ngôi thứ nhất (người nói), ngôi thứ hai (người nghe), ngôi thứ ba (người được nói đến) phân biệt số ít và số nhiều của từng ngôi, từ xưng
hô trong tiếng Nhật gồm một số từ sau:
+ Dùng cho nam và nữ ngôi thứ nhất (số ít) có các từ như: わたし (watashi), わたくし(watakushi), わたくしども(watakushidomo), ぼく(boku) chỉ dùng cho nam…; với ngôi thứ nhất (số nhiều) có từ: わたしたち(watashi tachi)
Trang 28+ Dùng cho ngôi thứ hai (số ít) gồm: あなた(anata), きみ(kimi), おまえ(omae)…; số nhiều cho ngôi thứ hai: あ な た が た (anatagata), あ な た た ち(anatatachi), きみたち (kimitachi),おまえたち (omaetachi)
+ Dùng cho ngôi thứ ba (số ít) gồm có: かれ(kare): ông ấy, anh ấy, かのじょ(kanojo): cô ấy, chị ấy và số nhiều cho ngôi thứ ba sẽ là: かれら(karera), かのじょたち (kanojotachi)
Ở các từ ngôi thứ hai số ít, あなた(anata) được coi là từ đại diện nhưng trong thực tế người Nhật lại hạn chế sử dụng Nó không hoàn toàn tương ứng về phương diện hoạt động so với “anh”, “chị”, “bạn” trong tiếng Việt hay “you” như trong tiếng Anh Người Nhật chỉ dùng khi muốn trỏ đối tượng thuộc bậc dưới, đối tượng là người xa lạ hoặc khi người nói và người nghe đang có quan hệ căng thẳng
Trong văn hóa giao tiếp, người Nhật thường không tự xưng về mình và cũng không cần thiết phải hô gọi đối tượng giao tiếp nên trong tiếng Nhật để tìm thấy những từ xưng hô kiểu: tôi, cháu, tao cho (ngôi 1) là rất ít, chỉ khi cần phải xác định rõ đối tượng giao tiếp thì các từ xưng hô mới được lựa chọn để sử dụng
Ví dụ:
(1.25) A: なにをしているの? (Đang làm gì thế ?)
B: 本を読んでる。 (Đang đọc sách.)
Cách xưng hô trong tiếng Nhật thường thấy khi chỉ ngôi thứ hai là: họ (tên)
gắn với “さん” (san) Khi họ (tên) + “さん” (san) mang nghĩa là ông, bà, anh, chị,
cô, bác Ví dụ: Lan さん có thể gọi sang tiếng Việt là chị Lan, cô Lan hay em
Lan hay tương tự Minh さん có thể gọi là anh Minh, ông Minh hay chú Minh
Mô hình này vẫn thể hiện tính lịch sự, tôn trọng đối tượng giao tiếp nhưng không mang tính trang trọng chỉ dùng cho giao tiếp thông thường
Trong trường hợp giao tiếp thương mại hoặc trong công ty, người Nhật sẽ
thay “さん” bằng từ tương ứng về ý nghĩa nhưng mang tính chất trạng trọng hơn là
“様” (sama) và gọi theo mô hình:
- Người đối thoại là cấp trên trong công ty sẽ gọi họ + chức danh
Trang 29Ngài giám đốc Kuroda
1.4.2 Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Khi giao tiếp, để tự xưng (ngôi 1) người Việt dùng nhiều phương tiện: đại từ nhân xưng như: tôi, tao, ta, chúng tôi, chúng ta, tên riêng, danh từ chỉ quan hệ thân tộc danh từ chỉ chức danh Để “hô gọi” người Việt dùng đại từ xưng hô bạn, em, mày, chúng mày, bay, chúng bay (ngôi 2), nó, chúng nó, gã, hắn, y…(ngôi 3) Trong cách hô gọi này, người Việt cũng dùng tên riêng (1.29), danh từ chỉ quan hệ thân tộc (1.30), danh từ chỉ chức danh (1.31)
(1.30) Hồng, lại đây cậu bảo
(1.31) Cháu là con nhà ai?
(1.32) May quá thầy giáo ạ Mưa bất ngờ làm chúng tôi không kịp trở tay
Ngoài ra, người Việt còn sử dụng các từ chỉ chức vụ của cá nhân để hô gọi Chẳng hạn như: chào bác sĩ, thưa bác sĩ
Cách xưng hô đối với người giao tiếp sẽ thay đổi tùy vào mối quan hệ Nếu
là quan hệ xã hội, cách xưng hô sẽ theo kiểu trên – dưới, là quan hệ gia đình sẽ theo kiểu thân – sơ và kèm theo đó là quan hệ đánh giá tình cảm (trọng – khinh) Chính những mối quan hệ gia đình, xã hội, tình cảm này đan chéo vào nhau, là nguyên nhân tạo nên những mô hình xưng hô giữa ngôi 1 và ngôi 2 ứng với một quan hệ thân-sơ và một quan hệ trọng – khinh nhất định
Trang 301.5 Thư tín thương mại
1.5.1 Khái niệm thư tín thương mại
Thư tín thương mại là những thư được viết để sử dụng trong công việc giao dịch thương mại Đó không chỉ là những thư được viết tay, đã được in ra (thư dạng giấy) mà bao gồm cả thư điện tử chẳng hạn như: email, file dưới dạng trình bày kỹ thuật số…[68]1
Theo Vương Thị Kim Thanh [42] “thư tín thương mại (business letter) là
một phương tiện thông tin liên lạc mà tổ chức kinh tế sử dụng để gửi cho đối tác và khách hàng của mình”
1.5.2 Đặc điểm của thư tín thương mại
Thông tin được truyền tải một cách xác thực Ngoài ra, thông tin có thể lưu trữ lại, xem như đó là những thông tin đúng, được ghi chép đúng qui cách
Ngôn ngữ trong thư thương mại là ngôn ngữ giao dịch trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ nên yêu cầu rõ ràng, chính xác là yếu tố hàng đầu, điều này thể hiện
qua đặc điểm: rõ ràng, chính xác về ngữ pháp, về nội dung của văn bản Từ ngữ
đúng chính tả và có tính đơn nghĩa
Thư thương mại phải ngắn gọn, dễ hiểu Do vậy, người viết cần phải biết rõ mục đích viết: viết như thế nào, viết cho ai, viết để làm gì…từ đó mới xác định được văn phong, cách thức trình bày, lựa chọn từ ngữ, phương tiện diễn đạt cho phù hợp Chúng tôi cho rằng để viết một thư tín thương mại hiệu quả, bước đầu tiên quan trọng nhất là cần xác định được loại phong cách mà TTTM được xếp vào
Theo “公用文の書き方” (Qui tắc soạn thảo văn bản) do chính phủ Nhật Bản ban hành vào năm bình thành 18, qui định như sau: các loại văn bản được chia thành hai loại chính là: “公文書: Kou bunsho” (công văn) và “私文書: Shi bunsho” (thư
cá nhân)
1 ビジネス文書とは、ビジネスのために仕事の中で作成される様々な文書のことをいう。手書きや印刷された書類(紙の文 書)だけでなく、電子メールやデジタル・プレゼンテーションのファイルなどの電子文書も含まれる (theo website “商用作 文: hướng dẫn viết thư thương mại”, http:// web.ydu.edu.tw/ truy cập ngày 18/11/2016)
Trang 31“公文書: Kou bunsho” là hình thức văn bản hành chính do Nhà nước hoặc các đoàn thể chính quyền địa phương có thẩm quyền soạn thảo, ban hành, sử dụng văn bản để thực hiện các hoạt động thông tin, thực hiện nhiệm vụ và chức năng của mình
Ngoài ra, các văn bản được các cơ quan, xí nghiệp soạn thảo nhằm thực hiện những vấn đề về giao dịch trong kinh doanh, thương mại cũng được xem là văn bản hành chính, thuộc nhóm “公文書: Kou bunsho” Những văn bản thuộc nhóm này về hình thức trình bày cần theo mẫu chung của nhà nước nhưng ngôn ngữ diễn đạt không mang tính bắt buộc
“私文書: Shi bunsho” (thư cá nhân) là những văn bản không thuộc những văn bản vừa nêu trên [67, tr.2]
Tham khảo luận văn [33, tr.20] chúng tôi hiểu thêm rằng những văn bản được dùng trong giao dịch thương mại như các đơn từ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công đều được công nhận là văn bản hành chính
Đối chiếu giữa các nguồn tham khảo và căn cứ vào những đặc trưng của phong cách ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy đề tài nghiên cứu với nội dung là thư tín
ở lĩnh vực thương mại, một loại văn bản hành chính dùng trong hoàn cảnh giao tiếp chính thức xã hội nên sẽ mang đầy đủ đặc trưng của phong cách ngôn ngữ gọt giũa
và gần gũi hơn với dạng phong cách ngôn ngữ gọt giũa bộ phận là phong cách hành chính
Ngoài những đặc điểm nêu trên, bố cục trình bày của thư tín thương mại cũng cần tuân thủ theo những qui cách mang tính cơ bản
1.5.2.1 Hình thức trình bày thư tín
Văn bản hành chính tiếng Nhật được soạn thảo trên khổ giấy A4 có kích thước 297mm x 210mm Số chữ và số dòng được qui định là 36 chữ x 39 dòng cho văn bản trình bày theo chiều dài khổ giấy Cỡ chữ là 10.5 đến 12 Kiểu chữ sử dụng là MS Mincho, MS Gothic Những phần này có thể điều chỉnh cho phù hợp khi soạn thảo văn bản
Trang 32Các thành phần tạo thành văn bản hành chính Nhật Bản cần phải có gồm: số văn bản, ngày tháng soạn văn bản, nơi nhận văn bản, nơi gửi văn bản, tên văn bản, nội dung chính và phần đính kèm (nếu có)
Thư tín thương mại được xếp vào văn bản hành chính nên hình thức trình bày của TTTM tiếng Nhật cũng được trình bày đúng với qui định chung của nước
Nhật (xem phụ lục 3)
1.5.2.2 Cấu trúc văn bản thư tín
Đối chiếu cách phân chia bố cục thư tín của Yamazaki Masashi [65, tr.25] và Abe Hirohisa [52, tr.18], chúng tôi nhận thấy cách phân chia của Yamazaki Masashi
dễ hiểu hơn Cụ thể như sau:
Phần 1: Thông tin đầu thư Gồm số hiệu thư, ngày tháng năm văn bản được soạn
thảo, thông tin người viết và thông tin người nhận, tên văn bản (title)
Phần 2: Nội dung chính của thư Gồm ba phần:
- Phần mở viết theo trình tự: lời chào mở đầu, lời chào theo mùa, lời chúc mừng hoặc cảm ơn
- Phần nội dung chính: nội dung chính của thư được trình bày ngay sau phần mở và lùi vào một ký tự
- Phần kết: lời chào kết thư
Phần 3: Nội dung đính kèm (nếu có) Nội dung cho phần này là những thông tin
chi tiết gửi kèm theo hoặc địa chỉ liên lạc khi cần
CẤU TRÚC VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT
Trang 33Phần 1: Thông tin đầu thư (từ A đến C)
A: số hiệu thư và ngày tháng năm văn bản được soạn thảo
B: thông tin người viết
C: thông tin người nhận
Phần 2: Nội dung thư (từ D đến G)
D: tiêu đề (tên văn bản)
E: lời chào đầu thư, lời chào theo mùa, thăm hỏi hoặc cảm ơn
F: nội dung chính cần đề cập (thuyết phục, yêu cầu, xin lỗi, nhờ báo giá…) G: lời chào cuối thư
Phần 3: Nội dung đính kèm (nếu có)
H: thông tin chi tiết gửi kèm theo hoặc địa chỉ liên lạc khi cần
Trang 341.5.2.3 Phân loại thư tín thương mại
Theo [52], [64], [65], dựa vào mục đích, chức năng văn bản, TTTM tiếng Nhật được phân thành hai loại: thư dùng trong công ty (社内文書: shanai bunsho)
và thư dùng ngoài công ty ( 社外文書: shagai bunsho)
Thư dùng trong công ty sẽ có những tiểu loại như: chỉ thị, ra lệnh; thông báo; thư liên lạc hoặc điều chỉnh thông tin
Loại thư dùng ngoài công ty gồm: thư mang tính chất xã giao, thăm hỏi và thư để giao dịch, mua bán
Budly và các tác giả khác [68, tr.224] đã phân chia thư tín làm bốn tiểu thể loại cụ thể như sau:
- Thể loại thuyết phục gồm: thư yêu cầu, thương lượng, chào hàng
- Thể loại thông báo gồm: thông báo, đặt hàng, hỏi hàng …
- Những thư với nội dung khiếu nại, phàn nàn hoặc từ chối đề nghị cũng được xếp vào thể loại thông báo Nhóm thư này còn được gọi là thể loại thông tin xấu
- Thể loại thiện chí gồm: thư cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng…
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nhóm thành 3 nhóm Nhóm 1: thể loại thuyết phục, nhóm 2: thể loại thông báo và thể loại thông tin xấu, nhóm 3: thể loại thư thiện chí Thư tín thương mại mà luận văn nghiên cứu là loại thư dùng ngoài công ty với mục đích giao dịch, mua bán
1.5.2.4 Thuật ngữ trong thư tín thương mại
Theo định nghĩa trong Từ điển Reikai Shinkokugo [54], thuật ngữ là những
từ ngữ chuyên môn, chuyên dùng trong một ngành nào đó Ví dụ: thuật ngữ toán
học gồm: hàm số, số hạng, lũy thừa…
Như vậy, trong thư tín thương mại sẽ xuất hiện nhiều thuật ngữ chuyên về
thương mại Có thể kể ra những từ ngữ tiêu biểu như: xuất hàng, nhập hàng, tồn
kho, cước phí, ký kết hợp đồng, vi phạm hợp đồng, bảng kê khai hàng hóa, hợp đồng tương hỗ, vận đơn liên hiệp … số từ ngữ này thường không xuất hiện trong
những bức thư bình thường Bên cạnh đó, thư tín thương mại cũng trực tiếp đề cập
Trang 35đến những vấn đề liên quan đến sự giao hàng, chuyển tiền nên những từ ngữ chuyên ngành dùng trong ngân hàng, hải quan, vận chuyển…cũng được sử dụng trong văn bản thư tín thương mại
1.6 Câu trong ngôn ngữ
1.6.1 Một vài khái niệm về câu và phân loại câu
1.6.1.1 Một vài khái niệm về câu
Diệp Quang Ban định nghĩa “Câu là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong
tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị ngữ (vị tố), và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) [2, tr.7]
Theo [60, tr.2], câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất nhằm truyền đạt những suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của người nói Câu truyền đi một nội dung thông tin nhất định và hoàn chỉnh về cấu trúc Câu được biểu hiện bằng dấu chấm cuối câu 2
Như vậy, có thể hiểu câu là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo, thể
hiện được thái độ, tình cảm của người nói (người viết) đến người nghe ( người đọc)
1.6.1.2 Phân loại câu
Để phân loại câu các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đi trước đã dựa vào 3 căn cứ sau: phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp, phân loại câu theo mục đích phát ngôn, phân loại câu căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực
Câu được phân loại theo cấu trúc ngữ pháp gồm các kiểu câu: câu đơn, câu ghép, câu phức và câu đặc biệt
Câu được phân loại câu theo mục đích phát ngôn gồm các kiểu câu: câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến), câu cảm thán (câu cảm)
Câu được phân loại căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực gồm câu khẳng định và câu phủ định
2 我々は言語を用いて相互の意志を伝達するわけであるが、言語表現の最も基本的な単位は「文」である。「文」は、ある まとまった内容を持ち、形の上で完結した(標記において「句点」が与えられる)単位である。
Trang 361.6.2 Câu trong tiếng Nhật
1.6.2.1 Sơ lược về đặc điểm câu trong tiếng Nhật
Trong câu tiếng Nhật, thành phần vị tố cuối câu giữ vai trò chủ đạo Hình thức của câu được quyết định bởi nội dung của vị tố Cấu trúc câu cơ bản trong tiếng Nhật là S - O - V (chủ ngữ - bổ ngữ - vị ngữ)
từ Những vị ngữ này bao giờ cũng đứng ở cuối câu và là thành phần quan trọng nhất trong câu Các bộ phận bổ nghĩa cho động từ vị ngữ thường ở vị trí giữa chủ ngữ và vị ngữ Đây cũng là một nét khác biệt với trật tự cấu trúc câu của tiếng Việt
là S - V - O
Cũng do đặc điểm cấu trúc câu như thế nên trong tiếng Nhật nếu như chưa nghe hay chưa đọc hết phần cuối thì người nghe (người đọc) không thể hiểu được ý chính của đề tài Câu trong tiếng Nhật cũng được sử dụng nhiều trợ từ chẳng hạn như trợ từ xác định chủ ngữ, trợ từ xác định bổ ngữ…
1.6.2.2 Phân loại câu trong tiếng Nhật
a Câu được phân loại theo cấu trúc ngữ pháp
- Câu đơn: là câu chỉ có một vị ngữ
(1.34) 田中さんは日本人です。
Anh Tanaka là người Nhật Bản
- Câu ghép: câu ghép là câu có liên kết hai tiểu cú trở lên
(1.35) 兄は医者で、弟は新聞記者です。
Anh trai tôi là bác sĩ, còn em trai là phóng viên
b Câu được phân loại theo mục đích phát ngôn
Trang 37- Câu tường thuật: là câu có mục đích kể về hoạt động, trạng thái, tính chất
của đối tượng Đây là loại câu được dùng rộng rãi và phổ biến nhất
(1.36) 彼女は家族と旅行に行きました。
Cô ta đã đi du lịch với gia đình
- Câu nghi vấn: là câu nêu lên điều mình chưa biết của người nói, mong
muốn và yêu cầu người được hỏi phải trả lời hay giải thích cho sự hoài nghi đó Phương tiện hình thức thường thấy ở câu nghi vấn là trợ từ “か” ở cuối câu
(1.37) あの人はだれですか。
Người kia là ai vậy ?
- Câu mệnh lệnh: câu mệnh lệnh hay còn gọi là câu cầu khiến Đây là câu
biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh cấm đoán, đề nghị, mời chào để thúc đẩy người nghe thực hiện hành động theo yêu cầu của người nói Hình thức câu mệnh lênh được chia thành 2 kiểu: câu mệnh lệnh mang tính tường minh và câu mệnh lệnh bán tường minh [58, tr.118]
+ Câu mệnh lệnh tường minh: là câu mang hình thức chuyên dùng của dạng câu mệnh lệnh Chẳng hạn như để chỉ thị hành động “hãy đến sớm” sẽ được biểu hiện qua những dạng sau: thể mệnh lệnh (1.38), [động từ thể liên dụng + なさい
(nasai)] (1.39), [động từ thể TE +ください(kudasai)] (1.40) hoặc chỉ dùng thể TE
Bốn ví dụ trên đều mang nghĩa chung là “hãy đến sớm” Trong đó (1.38),
(1.39), (1.41) dùng trong văn nói, (1.40) được dùng trong cả văn nói lẫn văn viết
+ Câu mệnh lệnh bán tường minh: nội dung của câu vẫn mang ý mệnh lệnh nhưng câu sẽ có dạng thức [động từ dạng nguyên thể + ように (you ni)] hoặc [động từ dạng nguyên thể + よう(you)/ こと(koto)]
Trang 38Ví dụ:
(1.42) 下記の学生は3時までに事務室に来ること。
Những học sinh có tên bên dưới phải đến văn phòng trước 3 giờ
(1.43) 午前中に必要書類を提出するように。
Xin (hãy) nộp những giấy tờ cần thiết nội trong buổi sáng
- Câu cảm thán: là câu biểu thị trực tiếp tình cảm, trạng thái tinh thần của cá
nhân người nói như mừng rỡ, sợ hãi, hối tiếc, bất mãn…đồng thời có cả hy vọng mong nhận được sự chú ý, đồng cảm của người nghe Loại câu cảm thán này thường được biểu thị bằng các cảm thán từ cuối câu như: よ(yo),ね (ne), なあ(naa)
(1.44) ダメだよ。
Không được đâu đấy
c Phân loại câu căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực
- Câu khẳng định: là câu xác nhận đặc trưng biểu hiện bằng trợ động từ
“だ”(da), “です” (desu) khi vị ngữ là danh từ, tính từ Vị ngữ là động từ sẽ ở dạng
Bưu điện làm việc tới 6 giờ
- Câu phủ định: là câu phủ nhận những đặc trưng của đối tượng Câu phủ
định trong tiếng Nhật cũng được nhận diện qua vị ngữ Chẳng hạn, với vị ngữ là động từ: động từ ở dạng “ない: nai”, “ません: masen” (ở thì hiện tại), “なかった: nakatta”, “ませんでした: masen deshita” (ở thì quá khứ)
(1.47) この辺には花屋がありません。
Ở vùng này không có tiệm hoa
1.6.3 Câu trong tiếng Việt
a Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp:
Trang 39- Câu đơn: là câu chỉ có một cụm chủ - vị
(1.48) Bé hát
- Câu ghép: là câu có từ hai cụm chủ - vị trở lên ghép lại với nhau
(1.49) Ông đọc báo, bà xem ti vi
b Phân loại câu theo mục đích phát ngôn:
- Câu tường thuật: là kiểu câu dùng để kể, xác nhận, mô tả sự vật với các đặc
trưng (hoạt động, trạng thái tính chất, quan hệ) của nó, hoặc để thể hiện một nhận định, đánh giá của người nói về một sự vật, hiện tượng nào đó
(1.50) Đêm nay, gió mát, trăng tròn và sáng hơn đêm qua
- Câu nghi vấn: là kiểu câu dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi
và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó Về mặt hình thức, câu nghi vấn thường được kết thúc bằng dấu hỏi (?)
(1.51) Anh đi đâu đấy?
- Câu mệnh lệnh: câu mệnh lệnh hay còn gọi là câu cầu khiến, được dùng để
bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu Khi viết câu mệnh lệnh được kết thúc bằng dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm (.)
(1.52) Đóng cửa lại !
- Câu cảm thán: dùng để bộc lộ những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người
nói, người viết đối với sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu Khi viết câu cảm thán kết thúc bằng dấu chấm than (!) hoặc trong câu sẽ có những thán từ
“ôi, ô hay…”
(1.53) Ôi, đẹp quá !
c Phân loại câu căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực
- Câu khẳng định: xác nhận sự có mặt của sự vật, sự kiện…hay đặc
trưng của chúng
- Câu phủ định: xác nhận sự vắng mặt của sự vật, sự kiện…hay đặc
trưng của chúng
Trang 401.7 Tiểu kết
Chương 1 trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc phân tích sâu hơn ở hai chương tiếp theo Cụ thể, trong chương 1 nêu lên khái niệm phong cách học, phân loại và đặc điểm riêng của từng loại phong cách Chương 1 cũng xác định
rõ văn phong trong văn bản TTTM tiếng Nhật thuộc phong cách hành chính, nêu rõ đặc điểm của TTTM tiếng Nhật, cụ thể là về hình thức trình bày, cấu trúc văn bản
và cách phân loại thư tín thương mại theo quy tắc soạn thảo văn bản hành chính của
Ủy ban phát triển hướng dẫn xuất bản và soạn thảo văn bản cho người dân thành phố tại Nhật Bản
Trong chương này, chúng tôi cũng nêu ra cơ sở lý thuyết về thuật ngữ, nguyên lý hội thoại, các hình thức sử dụng kính ngữ, từ ngữ xưng hô trong hai ngôn ngữ để so sánh, đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Nhật – tiếng Việt trên bình diện từ ngữ ở chương 2
Để so sánh đặc điểm ngôn ngữ trên bình diện cú pháp, chương 1 đã trình bày các kiểu câu, xác định những đặc điểm cơ bản và cách phân chia kiểu câu trong tiếng Nhật, tiếng Việt khác nhau như thế nào để có thể tiến hành khảo sát và phân tích kỹ hơn ở chương 3