Khi nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, các nhà nghiên cứu chủ yếu chú trọng vào các mệnh đề “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí” theo tư tưởng Nho giáo mà chưa chú
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ĐẮC TƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG THIỀN LÃO TRONG
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
TP Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ĐẮC TƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG THIỀN LÃO TRONG
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận văn học
1 PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn
2 PGS.TS Nguyễn Viết Ngoạn Phản biện:
1 PGS.TS Nguyễn Công Lý
2 PGS.TS Nguyễn Phong Nam
3 PGS.TS Nguyễn Kinm Châu
TP Hồ Chí Minh, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ hết sức quý báu của các tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Giang -
người Thầy đã tận tâm hướng dẫn khoa học trong quá trình học tập, nghiên cứu
và triển khai luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Phòng Sau Đại học thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum; Trường THPT Duy Tân tỉnh Kon Tum đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Xin được biết ơn gia đình, những người thân, bạn bè đồng nghiệp đã luôn là điểm tựa vững chắc để tôi hoàn thành công trình này
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2017
Tác giả luận án
Lê Đắc Tường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận án
Lê Đắc Tường
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VÀ NHÓM TỪ VIẾT TẮT
1 ĐHSP TPHCM: Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2 ĐHQG TPHCM: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3 ĐH & THCN: Đại học và Trung học chuyên nghiệp
4 KHXH&NV: Khoa học Xã hội và Nhân văn
5 KHXH&NV TPHCM: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh
6 KHXH&NV - ĐHQG TPHCM: Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
7 Nxb: Nhà xuất bản
8 TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các từ và nhóm từ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận án 7
6 Cấu trúc nội dung của luận án 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHUYNH HƯỚNG TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão 8
1.1.2 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 21
1.1.3 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 30
1.2 Các khuynh hướng trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 54
1.2.1 Khuynh hướng đề cao đạo đức trong sáng tác văn học 54
1.2.2 Khuynh hướng đề cao chủ nghĩa yêu nước trong sáng tác văn học 59
1.2.3 Khuynh hướng đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh trong sáng tác văn học 64
1.2.4 Khuynh hướng đề cao con người cá nhân và nghệ thuật tài tử trong sáng tác văn học 65
* Tiểu kết 69
Chương 2: PHẠM TRÙ TỰ NHIÊN TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 71
2.1 Tự nhiên trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 71
Trang 72.2.1 Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lý - Trần 81
2.2.2 Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lê - Nguyễn 94
* Tiểu kết 105
Chương 3: PHẠM TRÙ HƯ TĨNH VÀ VÔ NGÔN TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 107
3.1 Hư tĩnh 107
3.1.1 Hư tĩnh trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 107
3.1.2 Hư tĩnh trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 116
3.1.2.1 Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lý - Trần 116
3.1.2.2 Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lê - Nguyễn 124
3.2 Vô ngôn 136
3.2.1 Quan niệm Vô ngôn trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 136
3.2.2 Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 142
3.2.2.1 Quan niệm Vô ngôn của các tác giả thời Lý - Trần 142
3.2.2.2 Quan niệm Vô ngôn của các tác giả thời Lê - Nguyễn 147
* Tiểu kết 152
Chương 4: PHẠM TRÙ TIÊU DAO VÀ BÌNH ĐẠM TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 153
4.1 Tiêu dao 153
4.1.1 Tiêu dao trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 153
4.1.2 Tiêu dao trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 160
4.1.2.1 Quan niệm Tiêu dao 160
4.1.2.2 Phong cách nghệ thuật Tiêu dao 170
4.2 Bình đạm 174
4.2.1 Bình đạm trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc 174
4.2.2 Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam 180
4.2.2.1 Quan niệm Bình đạm 180
4.2.2.2 Phong cách nghệ thuật Bình đạm 185
* Tiểu kết 194
KẾT LUẬN 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 200
TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
Trang 8là quan niệm, ý thức, tư tưởng văn học của người xưa Nếu hiểu được tư tưởng văn học của họ, chúng ta sẽ có được công cụ hữu hiệu để giải mã tối ưu văn học cổ điển Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng, lý luận văn học của người xưa là việc làm hết sức cần thiết, hữu dụng Đây cũng là nỗ lực của luận án nhằm góp phần định vị
và xây dựng hệ thống quan niệm văn học cổ điển Việt Nam mà các nhà nghiên cứu
đã dày công sưu tầm, khám phá, tái hiện trong nhiều thập kỷ vừa qua
1.2 Trước đây, khi nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam, một số học giả
đã “ngậm ngùi” vì sự “nhỏ hẹp” và “còn thiếu” của mảng lý luận, phê bình Khi công tác khảo cứu, sưu tầm văn học cổ điển được chú trọng, trên thực tế, tuy còn khiêm tốn so với thực tiễn sáng tác đồ sộ, nhưng ông cha ta đã để lại những suy nghĩ, quan niệm về văn học hết sức tinh túy và vô cùng quý báu cho hậu thế Tuy việc nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể, nhưng so với bề dày lịch sử gần mười thế kỷ, tầm giá trị và sự đa dạng, phức tạp của
nó thì việc nghiên cứu đó vẫn đang còn rất khiêm tốn và cần được tiếp tục
1.3 Khi nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, các nhà
nghiên cứu chủ yếu chú trọng vào các mệnh đề “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”
theo tư tưởng Nho giáo mà chưa chú tâm đến tư tưởng Lão Trang và Thiền tông Đến nay, tư tưởng Lão Trang và Thiền tông trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và hệ thống Việc chọn
và thực hiện đề tài này sẽ làm hiểu rõ hơn tư tưởng Lão Trang và Thiền tông trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, qua đó góp phần hoàn thiện hệ thống các khuynh hướng trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
1.4 Trong các chương trình dạy học Ngữ văn, Văn học, Lý luận văn học, Văn
Trang 9hóa học,… văn học cổ điển Việt Nam chiếm vị trí khá quan trọng Nhưng việc dạy học văn học cổ điển Việt Nam một cách có hiệu quả là điều không dễ dàng Nếu như được trang bị một số kiến thức về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam và các khuynh hướng tư tưởng, trong đó có khuynh hướng Lão Trang và Thiền tông thì chắc chắn cả người dạy, người học sẽ khắc phục được phần nào khó khăn trên Vì vậy, công trình nghiên cứu về “Ảnh hưởng của tư tưởng Thiền Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam” sẽ cung cấp thêm tư liệu, tài liệu trong việc dạy học
các chương trình có sự hiện diện của văn học cổ điển Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, trên cơ sở tổng quan về công tác sưu tập và các bài viết, các công
trình nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, luận án tìm hiểu các
khuynh hướng trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Thứ hai, từ sự tương đồng của tư tưởng Lão Trang và Thiền tông, luận án trừu
xuất và nghiên cứu các phạm trù: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm Mỗi phạm trù đều được nghiên cứu nguồn gốc hình thành, phát triển trong mối tương
quan với lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc
Thứ ba, từ các phạm trù trên, luận án khảo sát, phân tích những ý kiến, quan
niệm về văn học của các tác giả thời Lý - Trần và thời Lê - Nguyễn, để tường minh
sự ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang và Thiền tông trong lý luận cũng như trong sáng tác văn học cổ điển Việt Nam Đây là mục đích quan trọng, cơ bản của luận án
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu nguồn gốc hình thành, phát triển các phạm trù của tư tưởng Lão Trang và Thiền tông như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc
- Đối với lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, luận án tập trung nghiên cứu các bài tựa, bình, bạt, thư,… các công trình có tính lý luận của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Miên Trinh và trong một số tác phẩm văn học mang khuynh hướng Lão Trang và Thiền tông
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đối với lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu các tác giả có khuynh hướng Lão Trang và Thiền tông từ thời Tiên Tần đến thời Minh, Thanh
- Đối với lý luận, phê bình văn học Việt Nam, luận án chỉ nghiên cứu giới hạn trong văn học cổ điển từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, qua các tác giả mang dấu ấn Lão Trang và Thiền tông
Để làm rõ hơn đối tượng, phạm vi nghiên cứu, luận án giới thuyết một số khái
niệm sau:
3.2.1 Thiền Lão
Thiền Lão (禅 老) là một khái niệm mà nội hàm bao gồm cả tư tưởng Thiền tông và Lão Trang xét trên bình diện những điểm tương đồng vi diệu của hai tư tưởng về mặt bản thể luận, nhận thức luận và giải thoát luận Từ đó tạo thành những phạm trù mỹ học độc đáo như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm,…
Để thể hiện sự gắn kết, hòa hợp của hai tư tưởng, từ đây, luận án sẽ sử dụng khái
niệm Thiền-Lão (giữa Thiền và Lão có dấu gạch ngang dính liền)
3.2.2 Văn học cổ Trung Quốc
Ở Trung Quốc, văn học từ đời Thanh trở về trước có lịch sử khoảng trên 2000 năm và với một không gian rộng lớn, phát triển không đồng đều, vì vậy việc phân kỳ khá phức tạp Nhìn chung, các nhà nghiên cứu chủ yếu chia theo triều đại và thời kỳ
Chia theo triều đại, văn học Trung Quốc từ thời Xuân Thu chiến quốc đến giữa thế kỷ XIX, được chia thành bảy giai đoạn gắn với các triều đại, cụ thể: giai đoạn Tiên Tần, Tần, Hán; giai đoạn Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều; giai đoạn Đường, Ngũ đại; giai đoạn Tống, Liêu, Kim; giai đoạn Nguyên; giai đoạn Minh và giai đoạn
Thanh (Trung Hoa văn học thông sử, 1997) [174]
Chia theo thời kỳ, văn học Trung Quốc được phân thành ba thời kỳ: Thượng
cổ kỳ (từ đầu đến hết thế kỷ II); Trung cổ kỳ (cuối thế kỷ II đến giữa thế kỷ X); Cận
cổ kỳ (từ giữa thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX) (Lịch sử phê bình văn học Trung Quốc,
1999) [172]
Từ hai cách phân kỳ phổ biến trên, luận án xác định tên gọi văn học cổ Trung
Quốc là nền văn học từ Tiên Tần đến đời Thanh Trên phương diện lý luận, phê bình
Trang 11văn học, luận án nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc theo kiểu tác giả mang dấu ấn Thiền-Lão Vì vậy, lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc được chia theo triều
đại, cụ thể gồm: Tiên Tần; Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều; Đường; Tống; Minh; Thanh
3.2.3 Văn học cổ điển Việt Nam
- Về tên gọi:
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế XIX được các nhà nghiên cứu gọi
với các tên: văn học cổ Việt Nam, văn học cổ điển Việt Nam, văn học truyền thống,
văn học cổ cận đại và văn học trung đại Việt Nam Trong đó, văn học cổ điển Việt Nam và văn học trung đại Việt Nam là hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến Như
vậy, việc gọi tên này chỉ có tính tương đối, tùy thuộc vào đối tượng, nội dung nghiên cứu Luận án sử dụng khái niệm văn học cổ điển Việt Nam vì:
Nếu gọi văn học từ thế kỷ X đến cuối thế XIX là văn học trung đại thì phải chăng vô hình trung chúng ta đã đem một thuật ngữ châu Âu vốn mang hàm nghĩa rất hẹp, cũng là một thời kỳ thiếu vắng những giá trị văn học đích thực, áp đặt lên cả một chặng đường gần 10 thế kỷ với nhiều thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam Mặt khác, riêng ở Việt Nam khái niệm văn học trung đại vẫn đem đến một cảm giác
về sự độc tôn, chủ đạo của tư tưởng Nho giáo Trên thực tế, trong 10 thế kỷ văn học Việt Nam, đâu phải chỉ có Nho giáo mà các hệ tư tưởng như Phật, Lão Trang, các tôn giáo tín ngưỡng bản địa, vẫn tồn tại, lan tỏa Hơn nữa, nếu gọi là trung đại thì trước
đó phải có cổ đại, Việt Nam chưa xác định được đầy đủ diện mạo văn học cổ đại Vì vậy, khái niệm văn học trung đại Việt Nam chưa thật sự chính xác, chưa bao hàm hết nội dung, ý nghĩa của thời kỳ văn học từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX
Từ cổ điển có rất nhiều nghĩa, trong đó có các nghĩa như: cổ điển được hiểu như cái vĩ đại, cái hạng nhất; cổ điển được hiểu như cái được học trong nhà trường;
cổ điển chỉ những tác phẩm chuẩn mực hay giai đoạn phát triển nổi trội của văn học;
cổ điển được hiểu như một thời kỳ, một giai đoạn nhất định trong lịch sử văn học Với các nghĩa như vậy, việc gọi văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX
là văn học cổ điển sẽ bao hàm được tầm giá trị, sự trường tồn và là khái niệm phù hợp, thỏa đáng với đối tượng, nội dung nghiên cứu của luận án
- Về phân kỳ văn học cổ điển Việt Nam:
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế XIX được các nhà nghiên cứu chủ yếu chia theo hai tiêu chí là thời kỳ và thế kỷ Cụ thể:
Trang 12Chia theo thời kỳ, tiêu biểu có hai cách chia:
+ Chia thành hai thời kỳ, gồm: Thượng kỳ trung đại và Hạ kỳ trung đại (Đặc
trưng văn học trung đại Việt Nam, 1996) [152]
+ Chia thành ba thời kỳ, gồm: Sơ kỳ trung đại, Trung kỳ trung đại và Hậu kỳ
trung đại (Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam, 2001) [36]
Phân kỳ theo mốc thế kỷ, tiêu biểu có các cách chia sau:
+ Chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn đầu từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII;
Giai đoạn sau từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX (Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
hết thế kỷ XIX, 2012) [134]
+ Chia thành năm giai đoạn: Văn học thế kỷ X đến thế kỷ XIV; Văn học thế
kỷ XV; Văn học thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII; Văn học giữa thế kỷ XVIII đến
giữa thế kỷ XIX và Văn học nửa cuối thế kỷ XIX (Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa
đầu thế kỷ XVIII) [65] và Lịch sử văn học Việt Nam) [97]
+ Chia thành sáu giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên (thế kỷ X - đầu thế kỷ XV); Giai đoạn thứ hai (thế kỷ XV); Giai đoạn thứ ba (thế kỷ XVI - thế kỷ XVII); Giai đoạn thứ tư (thế kỷ XVIII); Giai đoạn thứ năm (nửa đầu thế kỷ XIX) và Giai đoạn thứ sáu (nửa sau thế kỷ XIX) (“Một vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nhìn từ điểm
đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Văn học, California, số 184/2001) [17]
Kế thừa các cách phân kỳ như đã nói ở trên, căn cứ vào nội dung nghiên cứu, luận án xác định cách phân kỳ văn học cổ điển Việt Nam Theo đó, luận án chia thành hai giai đoạn văn học: Văn học thời Lý - Trần; Văn học thời Lê - Nguyễn Hai khái niệm này được dùng để định danh cho một giai đoạn lịch sử Cụ thể:
Văn học thời Lý - Trần là giai đoạn có lịch sử gần 500 năm, bao gồm các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và Hậu Trần
Văn học thời Lê - Nguyễn là giai đoạn văn học có lịch sử gần 500 năm, bao gồm các triều đại Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn (chỉ tính đến cuối thế kỷ XIX)
Cách phân kỳ này là phù hợp với đối tượng, nội dung nghiên cứu Bởi vì, văn học thời Lý - Trần, lý luận, phê bình ở giai đoạn khởi phát, hình thành, chủ yếu biểu hiện qua tác phẩm và gắn với thiền sư; đến văn học thời Lê - Nguyễn, lý luận, phê bình đã khẳng định vị trí vững chắc, phát triển ở mức độ điển hình, chủ yếu biểu hiện qua các bài bạt, tựa, bình hay một số tác phẩm mang tính lý luận và gắn với nhà nho
Trang 133.2.4 Lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam là tên gọi có tính tương đối, có điều kiện để chỉ quan niệm, ý thức văn học của các tác giả cổ điển Sở dĩ nói là tên gọi có tính tương đối, có điều kiện là bởi vì:
- Văn học cổ điển Việt Nam không có những nhà tư tưởng, nhà lý luận như kiểu Platon, Aristotle,… của phương Tây, Bharta, Dandin, Kuntaka,…của Ấn Độ, hay Lưu Hiệp, Chung Vinh,… của Trung Quốc, vì vậy, không thể có nền lý luận, phê bình theo cách hiểu hiện đại Tức là một bộ môn chuyên biệt với tư duy logic với hệ thống khái niệm chuyên biệt, chủ yếu diễn đạt bằng văn nghị luận với ngôn ngữ mang tính khách quan,…
- Quan niệm, ý thức văn học ít được người xưa trình bày bằng những công trình, chuyên luận hoàn chỉnh mà chủ yếu được thể hiện tản mạn qua các bài bạt, bài
tựa, bài bình, thư,… và ngay chính trong tác phẩm văn học
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu và thao tác nghiên cứu, gồm:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đây là phương pháp nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp các môn học, ngành học Nói cách khác, đây là phương pháp vận dụng các thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan để khám phá một đối tượng Đối với tư tưởng Thiền-Lão, chúng tôi vận dụng các thành tựu của các bộ môn như văn hóa học, lịch sử tư tưởng, triết học,… để tiếp cận và giải
mã Đối với lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, chúng tôi vận dụng thành tựu của văn học sử, lịch sử, văn hóa học, xã hội học,… để nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: Phương pháp này dùng để nghiên cứu, khảo sát nguồn gốc hình thành, vận động của các phạm trù Thiền-Lão gắn với các tác giả văn học cổ Trung Quốc Đồng thời nghiên cứu các phạm trù đó trong quan niệm của các tác giả thời Lý - Trần và thời Lê - Nguyễn
- Phương pháp hệ thống: Đây là phương pháp đặt các đối tượng nghiên cứu trong chỉnh thể, trong cấu trúc toàn thể để tìm ra các quy luật cấu thành và phát triển của chúng Trong luận án, chúng tôi đặt lý luận, phê bình văn học cổ điển trong hệ thống các vấn đề, các phạm trù, lý thuyết, trong các hệ quy chiếu khác nhau để tìm
Trang 14hiểu nguồn gốc hình thành, vận động theo thời gian
- Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu trong từng giai đoạn và trong cả thời kỳ văn học cổ điển Việt Nam; so sánh, đối chiếu với nền lý luận, phê bình văn
học cổ Trung Quốc
- Thao tác nghiên cứu: Thống kê, phân tích, tổng hợp
5 Đóng góp mới của luận án
Từ sự tương đồng giữa tư tưởng Lão Trang và Thiền tông, luận án nghiên cứu, trừu xuất các phạm trù cơ bản như Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc
ngôn, Tiêu dao, Bình đạm trong lý luận, phê bình cũng như trong thực tiễn sáng tác văn học cổ điển Việt Nam qua hai giai đoạn văn học Lý - Trần và Lê - Nguyễn Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, khuynh hướng sùng thượng Tự nhiên, Hư tĩnh; đề cao Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm đã trở thành một trong những khuynh hướng chủ đạo, xuyên suốt, tạo nên sự uyên áo và trường tồn đối với văn học
cổ điển Việt Nam
Luận án có thể được xem là công trình đầu tiên, tương đối có hệ thống nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam Từ đó, luận án góp phần làm rõ hơn về di sản lý luận, phê bình văn học, giúp hiểu sâu hơn tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam và là tài liệu tham khảo hữu
ích cho việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam
6 Cấu trúc nội dung của luận án
Ngoài những phần quy định chung như: mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận án được triển khai trong bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các khuynh hướng trong lý
luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Chương 2: Phạm trù Tự nhiên trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt
Nam
Chương 3: Phạm trù Hư tĩnh và Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ
điển Việt Nam
Chương 4: Phạm trù Tiêu dao và Bình đạm trong lý luận, phê bình văn học cổ
điển Việt Nam
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHUYNH HƯỚNG TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong phạm vi tư liệu bao quát được, chúng tôi tiến hành phân thành ba mảng nội dung chính, gồm: (1) Nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão; (2) Nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc; (3) Nghiên cứu tư tưởng
Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
1.1.1 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão
Từ khi ra đời, tư tưởng Lão Trang và Thiền tông đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong giới hạn đề tài này và cũng để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin khái quát một số công trình nghiên cứu quan trọng của các học giả mà trong đó đã bàn đến Lão Trang trong mối quan hệ với Thiền tông, đặc biệt là
sự tương đồng của hai tư tưởng
1.1.1.1 Các học giả quốc tế
* Trung Quốc triết học sử của Phùng Hữu Lan
Công trình này được Phùng Hữu Lan hoàn thành, Thương Vụ Ấn Thư Quán
ấn hành vào năm 1934 Lê Anh Minh dịch ra Việt ngữ và Nxb Khoa học xã hội xuất bản vào năm 2005
Đây là công trình đã hệ thống toàn bộ những nét tinh hoa của triết học Trung Quốc qua hai thời kỳ Tử học và Kinh học, với khởi điểm là Khổng Tử, kết thúc là Khang Hữu Vi và Liêu Bình Chính vì thế, lịch sử triết học Trung Quốc thời trung
cổ, qua nghiên cứu của Phùng Hữu Lan rất sâu sắc, đầy đủ, hệ thống và khoa học
Trung Quốc triết học sử của Phùng Hữu Lan có tổng cộng 32 chương chia
thành 2 quyển Quyển 1 bàn về thời đại Tử học, trong đó có 2 chương đề cập trực tiếp đến Lão Tử và Trang Tử Quyển 2 nói về thời đại Kinh học, Lão Tử và Trang Tử được tiếp tục luận bàn qua các kiến giải của các triết gia sau thời đại Tử học Ở thời đại Kinh học, Phật giáo là nhân tố mới, tuy nhiên do được kiến giải bằng tinh thần của người Trung Quốc, nên Phật giáo vẫn được xem là Kinh học Theo đó, ở thời đại
Trang 16Kinh học, Phật giáo được bàn trực tiếp ở chương 7, chương 8 và chương 9 Trong công trình nghiên cứu của mình, Phùng Hữu Lan đã nghiên cứu khá sâu, toàn diện về Lão Trang và Thiền tông, đặc biệt là vấn đề tương đồng giữa hai tư tưởng
Ngay trong chương mở đầu của thời đại Kinh học, tác giả ví Phật giáo là
“bình cũ”, chứa “rượu mới” là những kiến giải của người Trung Hoa về Phật học Từ
đó ông nêu ví dụ: ““Thiền tông là một phát triển có tính chất hết sức cách mạng và
hết sức Trung Quốc trong Phật học, nhưng nó cũng phải mượn thuyết “giáo ngoại biệt truyền” mà nói về chân ý của Phật”” [70; 8] Qua cách so sánh này, cùng với
việc khẳng định Phật học là Kinh học, chúng ta thấy rằng khi Phật học vào Trung Quốc, tuy vẫn mang những nét riêng của nhà Phật nhưng phần lớn đã được dung hợp với tinh thần triết học Trung Quốc, trong đó sự tương đồng, hòa hợp giữa Phật giáo
và Lão Trang là tiêu biểu Đây là điều mà Phùng Hữu Lan đã đề cập đến trong các chương tiếp theo
Khi bàn về Phật học thời Nam Bắc triều, Phùng Hữu Lan đề cập đến sự gặp
gỡ, tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo ở các phương diện Thứ nhất, trong thời Nam Bắc triều, khi mà Đạo gia cực thịnh, Phật giáo trở thành một thế lực mới, khi kẻ
sĩ bàn luận về Đạo gia thì “Phần lớn nhận thấy Lão Trang và Phật học chẳng có gì
khác biệt… học giả của Phật giáo và học giả của Đạo giáo cũng thường được mọi người xem là các nhân vật cùng một tư tưởng” [70; 287] Thứ hai, thuật ngữ của Phật
giáo Trung Quốc có sự hòa quyện giữa Phật giáo và Đạo giáo, đặc biệt là vấn đề hữu,
vô, không Hữu và vô là vấn đề được chú trọng khi giảng về Lão Trang, không và hữu là vấn đề được chú trọng khi giảng về Phật học Thứ ba, Lão Trang và Phật giáo
có sự tương đồng nên người Trung Quốc dùng Đạo học để giải thích Phật học:
“Trong kinh điển Trung Quốc được dùng để phụ giảng nghĩa lý trong kinh Phật thì
Lão Tử và Trang Tử là thích hợp nhất” [70; 291] Từ đó, Phùng Hữu Lan khẳng
định: “Tóm lại, cái gọi là hữu và vô, không và hữu, đều là vấn đề cùng có trong cái
học của Lão Trang và Phật học” [70; 292]
Khoảng hai mươi năm sau, Phùng Hữu Lan cho ra mắt cuốn Trung Quốc triết
học giản sử Nguyễn Văn Dương dịch ra Việt ngữ vào năm 1965 và Ban Tu thư Viện
Đại học Huế ấn hành vào năm 1968 Đây là công trình có kế thừa những nghiên cứu
Trang 17triết học của Phùng Hữu Lan trước đó, những kiến giải của công trình này chín chắn hơn, tổng hợp hơn, trong đó có kiến giải về Lão Trang và Thiền tông Bàn về Đạo gia, Phùng Hữu Lan cho rằng Đạo gia phát triển qua bốn giai đoạn Giai đoạn thứ nhất của Đạo gia gắn với Dương Chu, giai đoạn thứ hai gắn với Lão Tử, giai đoạn ba gắn với Trang Tử và giai đoạn phục sinh gắn với Phật giáo Về sự phục sinh của Đạo gia, tác giả cho rằng có nguyên nhân từ sự kết hợp giữa Đạo gia và Phật học, Đạo gia xem Phật học là đồng minh và có sự tương đồng về mặt triết học Tác giả chứng
minh: “Cho nên Đạo của Đạo gia được coi là bất khả danh và chân như hay là thực
thể tối chung của Phật gia, cũng được định nghĩa như là điều không thể nói được”
[68; 215] Tác giả cho rằng, chính sự tương đồng đó đã sản sinh ra Thiền học: “Thiền
là một ngành của Phật học Trung Quốc; thật ra nó biểu thị sự dung hợp những phương diện tinh vi nhất và tế nhị nhất vừa của Phật gia vừa của Đạo gia” [68;
216] Khi bàn về Phật học ở Trung Quốc, tác giả phân biệt hai loại, một là Phật học tại Trung Quốc, hai là Phật học Trung Quốc Thiền tông là tiêu biểu của loại thứ hai,
tức là Phật học, đồng thời có tính chất Trung Hoa
* Lịch sử văn minh Trung Quốc của Will Durant
Công trình này soạn xong năm 1935, Nguyễn Hiến Lê dịch và xuất bản năm
1972, ĐHSP TPHCM tái bản năm 1990
Will Durant - nhà sử học, nhà bác học Mỹ gốc Pháp, cùng với vợ, đã hầu như
suốt đời nghiên cứu về nền văn minh nhân loại qua bộ Lịch sử văn minh (The
History of Civilisation) Trong bộ sách vĩ đại này, phần đầu là nói về nền văn minh
phương Đông trong đó có Trung Quốc Khi nghiên cứu văn minh Trung Quốc, ông
đã có những nhận định khách quan, sâu sắc về ba bậc hiền triết lớn nhất Trung Quốc
đó là Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử Nói về tinh hoa của tư tưởng Lão Trang, Will Durant cũng đã đề cập đến sự gặp nhau giữa Lão Trang và Phật giáo Luận về quan niệm bậc hiền minh của Lão Tử, Will Durant cho rằng quan niệm của Lão Tử về bậc
hiền giả tương đồng với quan niệm của Phật giáo: “Bậc hiền giả không màng phú
quý, quyền thế, tiết dục tối đa, gần như đạo Phật” [26; 52] Về Trang Tử, Will
Durant cho rằng Trang Tử vừa là một triết gia vừa là một văn hào và là nhà duy tâm
Trọng tâm tư tưởng của Trang Tử theo Will Durant là “Một ảo tưởng huyền bí về
Trang 18một cái vô ngã, rất gần với đạo Phật và các Upanishad” [26; 105] Bàn về tôn giáo,
Will Durant khẳng định ở Trung Quốc có sự bao dung tôn giáo Chính vì vậy,
“Khổng, Lão, Phật vui vẻ sống chung với nhau chẳng những trong nước mà cả trong
tâm hồn tín đồ nữa” [26; 247] Trong đó, sự hòa hợp giữa Đạo giáo và Phật giáo là
nổi bật: “Đạo giáo mở vòng tay đón tôn giáo mới và lần lần hòa hợp chặt chẽ với
đạo Phật trong tâm hồn người Trung Hoa” [26; 246]
* Đạo của Vật lý, Một sự khám phá mới về sự tương đồng giữa Vật lý hiện đại
và Đạo học phương Đông của Frijof Capra
Cuốn sách này được hoàn thành vào năm 1974 với tên The Tao of Physics,
được Nxb Flamingo in lần thứ ba vào năm 1982 Đến năm 1998, Nguyễn Tường Bách dịch sang Việt ngữ và Nxb Trẻ xuất bản năm 1999
Tuy là một nhà Vật lý học phương Tây, nhưng Frijof Capra đã có những nhận định về Đạo học phương Đông rất đáng suy ngẫm Trong công trình này, Frijof Capra chủ yếu nói về sự trùng hợp về nhận thức luận của nền Vật lý hiện đại với Đạo học phương Đông, nhất là Phật giáo và Lão giáo
Công trình của Frijof Capra với ba nội dung cơ bản: Con đường của Vật lý học, con đường Đạo học phương Đông và các tương đồng Mục đích chính của công trình là qua việc nghiên cứu Vật lý học hiện đại, Đạo học phương Đông cổ đại để tìm thấy sự tương đồng giữa hai con đường tưởng như không liên quan gì với nhau Bằng
sự am hiểu sâu sắc hai nền học thuật và sự so sánh độc đáo, Frijof Capra đã đạt được mục đích, tức là tìm thấy sự tương đồng giữa Vật lý hiện đại và Đạo học phương Đông một cách thuyết phục và khoa học Trong quá trình đi chứng minh vấn đề trên, Frijof Capra cũng đã không ít lần đề cập đến sự tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo Thiền tông
Bàn về tư duy trực giác, suy luận trong Vật lý hiện đại và Đạo học phương Đông, Frijof Capra cho rằng, giữa Lão giáo và Thiền tông có quan hệ, ảnh hưởng
nhau: ““Lão giáo rất nghi ngờ khả năng suy luận Thiền tông, xuất phát từ Phật giáo
nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của Lão giáo, cũng tự nhận là “không văn tự, không lý giải, không giáo pháp, không tri thức”” [4; 44) Bốn “không” này là đặc trưng cơ bản
trong quan niệm của Thiền tông và Lão Trang, vì vậy, cả hai phải “Thông qua nghịch
Trang 19lý mà truyền đạt kinh nghiệm tâm linh” [4; 62] Bàn về Lão giáo, ông cho rằng:
“Cũng như Ấn Độ giáo và Phật giáo, Lão giáo quan tâm hơn đến tri thức phát kiến
bằng trực giác hơn tri thức do suy luận mà có” [4; 136] Bàn về Thiền tông, ông lập
luận: “Hơn bất cứ tông phái phương Đông nào, Thiền tông chủ trương ngôn từ
không bao giờ nói lên được thực tại cuối cùng Thiền phải thừa hưởng sự quả quyết
đó của Lão giáo, cũng có một thái độ không biết nhân nhượng đó” [4; 144]
Hai học giả phương Tây nói trên có chung một điểm, đó là cả hai đều nghiên cứu rất khách quan, khoa học và sâu sắc về phương Đông Ở đó, Frijof Capra đã chỉ
ra những điểm tương đồng giữa Lão Trang và Thiền tông trên phương diện tư tưởng,
còn Will Durant lại nói về sự tương đồng đó chủ yếu dưới góc độ tôn giáo
* Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki
Đây là công trình được xem như làm tái sinh Thiền tông và đưa Thiền tông đến với phương Tây Công trình này xuất bản vào những năm 1950 tại châu Âu, được dịch giả Trúc Thiên dịch quyển thượng, Nxb An Tiêm, Sài Gòn ấn hành năm
1970, sau đó được Tuệ Sỹ dịch quyển trung và quyển hạ, Nxb An Tiêm, Sài Gòn ấn
hành năm 1971
Thiền luận của D.T Suzuki bao gồm ba quyển Quyển thượng chủ yếu bàn về
Thiền và Thiền tông Trung Hoa, quyển trung chủ yếu nói về thực hành công án Thiền, quyển hạ chủ yếu nói về mối liên hệ giữa Thiền và hai bộ kinh quan trọng bật
nhất là Hoa Nghiêm và Bát Nhã
Trong quyển thượng, ở luận 2, “Thiền: Đạo giác ngộ qua kiến giải của người
Trung Hoa”, D.T Suzuki khẳng định: “Thiền là hình thái duy nhất tạo cơ duyên cho
tinh thần Trung Hoa thích nghi, tán thưởng và hòa đồng với giáo lý Giác Ngộ của Phật giáo” [109; 127] Ở luận 4, “Lịch sử Thiền tông từ Đạt Ma đến Huệ Năng”,
D.T Suzuki tiếp tục cho rằng: “Thiền, dưới hình thức hiện có, không thể chín muồi ở
đâu khác ngoài đất Trung Hoa” [109; 203] Tinh thần Trung Hoa mà Suzuki nói đến
chủ yếu là tư tưởng Lão Trang D.T Suzuki đã nhìn thấy giữa Phật giáo Thiền tông
và Lão Trang “có nhiều điểm cộng thông”, “cộng đồng tư tưởng” [109; 128] Chính
vì thế “Phật giáo mượn nhiều chất liệu của Lão giáo để dễ có cảm thông hơn với tâm
hồn Trung Hoa Lão giáo, đại khái, lại nhờ rất nhiều ở Phật giáo trong việc tổ chức,
Trang 20lễ nghi, văn hóa và triết học” [109;128] Vấn đề tương đồng giữa Lão Trang và Phật
giáo, còn được D.T Suzuki bàn ở quyển hạ
Trong quyển hạ, mối liên hệ giữa Thiền và kinh Hoa Nghiêm, kinh Bát Nhã
đã được D.T Suzuki nghiên cứu sâu sắc và đặt trong tương quan với các tư tưởng của người Trung Hoa Sự hòa hợp giữa Lão Trang và Phật giáo Thiền tông được D.T Suzuki đề cập khi ông luận bàn về các thiền sư Ông cho rằng khi Đạo Tín giải
nghĩa về “vô tâm” trong kinh Hoa Nghiêm thì “ít nhiều pha màu tư tưởng Đạo giáo”
[111; 23] Ở một lý giải khác, cũng từ khái niệm “vô niệm” của Huệ Năng, D.T
Suzuki có vẻ chưa chắc chắn khi cho rằng: “Thuyết vô vi của Lão Tử có thể coi là
đang sống trong cái vô niệm của Huệ Năng” Tuy nhiên về tổng thể, ông đã đi đến
khẳng định: “Điều chắc chắn rằng Đạo giáo có góp công trong việc thiết lập Phật
giáo Thiền tông” [111; 27] Khi nghiên cứu về Lâm Tế - một Thiền phái rất tự do,
phá lệ - D.T Suzuki cho rằng từ tâm hồn, tâm lý Trung Hoa vốn thực tiễn, không
thích bị kìm hãm bởi nhiều ước lệ “đã tạo ra Lão Tử và Trang Tử và lại được tái xác
nhận bởi Thiền, nhất là trong phương pháp trao Thiền của Lâm Tế” [111; 42] Luận
về quan niệm Thiền của các thiền sư Đạo Tín, Huệ Năng, Lâm Tế, D.T Suzuki không chỉ bàn về những điều cốt tử của Thiền tông Trung Hoa, mà qua đó, ông đã đề cập đến sự tương thông, gặp gỡ giữa Lão Trang và Phật giáo Từ đó chúng ta thấy rằng, Thiền tông Trung Hoa là sản phẩm của sự giao hòa kỳ diệu giữa Lão Trang và Phật giáo Điều này lại được khẳng định bởi Frijof Capra (như đã bàn ở trên) và
Osho trong công trình sau đây
* Thiền, Lịch sử về giai thoại và ảnh hưởng của Thiền đối với nhân sinh của
Osho (Nxb Đồng Nai, 2011)
Cùng với quan điểm của D.T Suzuki, Osho cho rằng, Thiền tông có hạt mầm
từ Ấn Độ Hạt mầm đó chỉ có thể gieo và phát triển thành cây trên đất Trung Quốc Thiền tông chỉ có thể nảy mầm, phát triển ở đất Trung Quốc chủ yếu xuất phát từ nền tảng tư tưởng Trung Quốc, mà đặc biệt là Lão Trang
Osho quả quyết rằng: “Thiền phát sinh ở Ấn Độ, phát triển ở Trung Quốc, và
thăng hoa ở Nhật Bản” [101; 7] Đối với sự phát triển Thiền ở Trung Quốc, Osho
cho rằng, Thiền là sản phẩm của cuộc hôn nhân giữa Phật và Lão: “Thiền là sự lai
Trang 21tạo giữa tư tưởng của Phật và tư tưởng của Lão Tử Đó là sự kết hợp tuyệt vời, tuyệt vời nhất từng xảy ra Đó là lý do vì sao Thiền đẹp đẽ hơn tư tưởng của Phật và đẹp
đẽ hơn tư tưởng của Lão” [101; 53] Cuộc hôn nhân kỳ diệu đó đã sản sinh ra Thiền
tông - một đứa con kế thừa những gì tốt đẹp nhất của bố mẹ và hơn thế nữa Osho phân tích:
“Thiền đã vượt qua cả Phật và Lão Tử Nó là đỉnh cao tột bậc, siêu việt
của cả hai thiên tài Ấn Độ và Trung Quốc Thiên tài Ấn Độ đạt đỉnh cao nhất với Đức Phật Cồ Đàm, còn thiên tài Trung Quốc đạt đỉnh cao nhất với Lão
Tử Sự gặp gỡ giữa hai tinh hoa tư tưởng của Phật và Lão Tử hợp lại thành dòng chảy sâu lắng đến mức đến nay không còn có thể tách rời Ngay cả việc phân biệt cái gì thuộc về Phật và cái gì thuộc về Lão Tử cũng không thể, sự liên kết quá toàn bích Không chỉ là sự tổng hợp, mà còn là hòa hợp Thiền đã sinh ra từ sự gặp gỡ này Thiền không phải là Phật, cũng không phải là Lão,
mà là cả hai” [101; 54]
Như vậy, theo Osho giữa Lão Trang và Thiền tông không có khoảng cách, là
sự tương đồng, sự hòa hợp kỳ diệu nhất đã từng xảy ra
1.1.1.2 Các học giả Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về Lão Trang và Thiền tông đã được nhiều học
giả quan tâm Tiêu biểu: Lão Tử của Ngô Tất Tố và Nguyễn Đức Tịnh (Nxb Mai Lĩnh, 1942), Lão Tử, Đạo đức kinh và Trang Tử, Nam hoa kinh của Nhượng Tống (Nxb Tân Việt, 1962), Lão Tử Đạo đức kinh quyển 1 và 2 của Nghiêm Toản (Nxb Khai Trí, 1970), Lão Tử Đạo đức kinh và Trang Tử Nam hoa kinh của Nguyễn Hiến
Lê (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1994), Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (Nxb Lá Bối, Paris, 1973),…
Trong giới hạn đề tài này, chúng tôi chỉ xin nói về nghiên cứu của ba tác giả, gồm Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục và Nguyễn Duy Hinh
* Nguyễn Duy Cần là một học giả nổi tiếng của Việt Nam ở thế kỷ XX Các
công trình của ông nổi bật không chỉ về số lượng tác phẩm đồ sộ mà còn ở độ sâu của học thuật và sức ảnh hưởng về mặt tư tưởng đến độc giả Trước tác của ông về Lão Trang và Phật giáo Thiền tông cũng đã trên 10 tác phẩm Tất cả đều là những
Trang 22công trình mang tính học thuật uyên bác, rất tiêu biểu trong việc nghiên cứu Lão Trang và Thiền tông của Việt Nam Về lĩnh vực này, đọc Nguyễn Duy Cần giúp chúng ta những hiểu biết chính xác hơn, sâu sắc hơn về tinh hoa tư tưởng Lão Tử, Trang Tử, Phật giáo Thiền tông, Đạo học phương Đông Hơn thế nữa, ông còn chỉ ra những nét tương đồng giữa các tư tưởng đó
Trong Tinh hoa Đạo học Đông phương (Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1971), ở
phần mở đầu, Nguyễn Duy Cần đã cùng với quan niệm của D.T Suzuki và Osho, khi cho rằng Thiền tông là sản phẩm của sự giao hòa giữa Lão Trang và Phật giáo Ông khẳng định: “nói đến Đạo học phương Đông không thể không nói đến Thiền học
Trung Hoa, vì nó là tinh hoa của Phật giáo Đại thừa và Trang Lão” [6; 10] Theo
Nguyễn Duy Cần, quan niệm căn bản trong tinh hoa Đạo học phương Đông là hư vô
Nắm được hư vô mới hiểu được tư tưởng tam huyền Dịch, Lão và Trang Dùng tam huyền để giải thích hư vô, Nguyễn Duy Cần tiếp tục nói đến sự gặp gỡ của Lão Trang và Thiền tông Khi bàn về hư vô, Nguyễn Duy Cần minh họa bằng ba sơ đồ,
sơ đồ 1 là cây cung theo đường ngang, sơ đồ 2 là cây cung theo hướng đường dọc, sơ
đồ 3 là hình một cái đong đưa (quả lắc) Cả ba sơ đồ đều thể hiện hư vô, tức là khi dây cung và cái đong đưa đang ở trạng thái tịnh, không xê dịch, nghĩa là bao gồm cả
âm dương, thiện ác (bất nhị) Nguyễn Duy Cần gọi đó là “tâm hư” của Lão học, đồng nghĩa với nhà Phật gọi là “Bản lai diện mục” hay “Chân như Phật tánh” Hư vô theo
giải thích của Nguyễn Duy Cần, đó chính là Đạo theo nhà Lão; gọi là Thái cực theo cách của nhà Dịch; là Pháp môn bất nhị theo quan niệm của nhà Thiền Như vậy, điều cốt lõi của Đạo học phương Đông chính là hư vô, hư vô cũng là điểm gặp nhau
giữa Lão Trang và Thiền tông Chính từ hư vô mới có “văn nghệ thượng thừa
phương Đông”, đó là phép dùng nghệ thuật “biểu diễn cái không lời” Đây cũng là
điểm gặp nhau của Lão Trang và Phật giáo khi Nguyễn Duy Cần cho rằng: ““Ngày
xưa Như Lai sau bốn mươi chín năm thuyết pháp đã long trọng tuyên bố: “chưa từng nói một lời nào” Đó là phép “thính hồ vô thinh” của Trang Tử,“ngôn vô ngôn” của Lão Tử”” [6; 40] Theo Nguyễn Duy Cần “để thực hiện tâm hư” phải có tâm trạng vô
niệm, phải “dụng tâm nhược kính”, tức là phải bỏ được cả sự yêu ghét thành kiến, dư luận, để “nhìn tất cả với cặp mắt bình đẳng của nhà Phật, với cặp mắt huyền đồng và
Trang 23tề vật của Lão Trang” Đây cũng là một sự tương đồng nữa giữa Lão Trang và Phật
giáo trong Tinh hoa Đạo học phương Đông của Nguyễn Duy Cần
Trong Phật học tinh hoa (Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1971), Nguyễn Duy Cần,
nhìn thấy sự đồng điệu giữa Phật giáo và Lão Trang ở hai điểm Thứ nhất: Khi bàn
về tinh thần “vô trước” trong đạo Phật, theo ông, người học Phật không nên để mình
bị vướng, bị ràng buộc vào đâu cả, kể cả chân lý Giáo lý nhà Phật cũng chỉ như ngón tay chỉ trăng, khi thấy trăng rồi thì hãy quên ngón tay đi Nguyễn Duy Cần
khẳng định: ““Đây cũng là chỗ Trang Tử nói: “Đặng cá, hãy quên nơm; đặng thỏ,
hãy quên dò; đặng ý, hãy quên lời”” [7; 58] Thứ hai, Nguyễn Duy Cần cho rằng:
““quan niệm “trụ vô trụ” của Phật học lại gặp với cái chủ trương “sự vô sự” của
Lão Trang”” [7; 199]
Nguyễn Duy Cần dịch, bình chú Lão Tử Đạo đức kinh (Nxb Khai Trí, Sài
Gòn, 1971) rất sâu sắc, cụ thể Ở đó, ông cũng đã nhiều lần nói về sự gặp gỡ tương
đồng giữa Phật học và Lão Trang Trong câu “Hư kỳ tâm, thực kỳ phúc” ở chương 3, Nguyễn Duy Cần bình chú: “Hư lòng là lòng không không, là lòng không tham dục
vì không bận mắc trong thị phi, thiện ác, vinh nhục nữa” Ông cho rằng chữ “hư” của
Lão Tử ““đồng với chữ “không” của nhà Phật, tức là Tâm chân không”” [8; 52] Bình chú chữ “trung” trong câu “Đa ngôn sổ cùng, bất như thổ trung” (chương 5),
Nguyễn Duy Cần cho rằng, chữ “trung” theo Lão Tử là chỉ luật quân bình và điều
hòa của Đạo Vì vậy, ““chữ trung cũng có nghĩa là “hư không”, đồng nghĩa với chữ
“Đạo” hay chữ “chân không” của nhà Phật”” [8; 60] Ở chương 19, khi bình chú về
chữ “tố” và “bão phác” trong câu “Kiến tố bão phác”, Nguyễn Duy Cần cho rằng, chữ “tố” chỉ sự giản dị, đơn thuần, tự nhiên, “nhà Phật gọi là tánh hay Phật tánh, mà
nhà Đạo gọi là thiên chân” Chữ “bão phác” có nghĩa là gìn giữ “cái đức trong trắng ban đầu, nhà Phật gọi là bản lai diện mục” [8; 112] Giải thích chữ “vô” trong câu:
“Thiên hạ vạn vật sanh ư hữu, hữu sanh ư vô” (chương 40), Nguyễn Duy Cần đã đồng nhất “vô” với “không” trong quan niệm của Phật giáo Về câu “Bất ngôn chi
giáo” (chương 43), Nguyễn Duy Cần giải thích, đó cũng là một trong nhiều nghĩa
của “vô vi” theo quan niệm của Lão Tử Hơn nữa Đạo học là tâm truyền tâm, không dùng lời nói mà miêu tả, truyền đạt được Đây là điểm tương đồng giữa Lão Tử và
Trang 24Thiền tông, khi Nguyễn Duy Cần so sánh quan niệm “Bất ngôn chi giáo” với 4 câu
kệ được xem là yếu chỉ của Thiền tông “Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực
chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật” Vấn đề này, trong Lão Tử tinh hoa, Nguyễn
Duy Cần tiếp tục khẳng định: ““Phái Thiền học của Phật giáo Đại thừa lại còn đi xa
hơn nữa trong vấn đề “Bất ngôn chi giáo” do Lão Tử đề xướng”” [9; 152]
Quan niệm về thánh nhân, Lão Tử cho rằng “Thánh nhơn vô thường tâm”, tức
là cái tâm không thay đổi, huyền đồng, không chấp thiện ác, thị phi Về điểm này,
Nguyễn Duy Cần cho rằng Lão Tử ““cùng đồng chủ trương “đại đồng bình đẳng”
của nhà Phật”” Trong Lão Tử tinh hoa, Nguyễn Duy Cần còn so sánh: “Huyền đồng của Lão Tử, tức là tề vật của Trang Châu, là Bát nhã bình đẳng của Phật giáo Đại thừa” [9; 172]
Như vậy, trong giải nghĩa và bình chú Lão Tử Đạo đức kinh, Nguyễn Duy
Cần thường so sánh quan niệm của Lão Tử với quan niệm Phật giáo Sự so sánh đó
đã cho thấy nhiều sự tương đồng về mặt chủ trương, mục đích, tư tưởng của Lão Tử
và Phật giáo Thiền tông Hơn thế, trong Lão Tử tinh hoa, một lần nữa, Nguyễn Duy
Cần đã thống nhất với D.T Suzuki và Osho, khi ông cho rằng Lão Trang là nền móng
cho sự hình thành và phát triển của Phật giáo Thiền tông Ông nói: “Trong những
khoảng đầu Tây lịch kỷ nguyên, học thuyết Lão Tử dọn đường cho Phật giáo Đại thừa du nhập vào Trung Hoa, và đã xây đắp nền móng cho sự hoàn thành hai hệ thống tư tưởng lớn nhất ở cõi Á Đông, là Đạo giáo và giáo phái Thiền tông” [9;
208] Cuối sách, ông còn khẳng định: “Giáo phái Thiền tông do Lão học và Phật học
đúc thành” [9; 212]
Tất cả những điều trên sẽ được Nguyễn Duy Cần tiếp tục thể hiện trong Trang
Tử Nam hoa kinh (Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1971)
Cũng với phương pháp giống như nghiên cứu Lão Tử, Nguyễn Duy Cần đã có
những luận bàn sâu sắc, cụ thể về Trang Tử Nam hoa kinh Ở đó, ông cũng đã chỉ ra
những chỗ tương đồng giữa Trang Tử và Phật giáo Thiền tông
Bàn về học thuyết của Trang Tử, ở phần đầu, trong Trang Tử Nam hoa kinh,
Nguyễn Duy Cần đã có hai lần nói về sự tương thông giữa Trang Tử và Phật giáo Thiền tông Khi đề cập đến hạnh phúc, Trang Tử cho rằng để có được hạnh phúc
Trang 25phải sống theo tánh tự nhiên, phải “phản kỳ chân” Nguyễn Duy Cần quan niệm:
““Trở về cái Chân của mình hay phục kỳ bổn tức là Đạo giải thoát, trở về bản tánh
hay nhà Phật khuyên ta “minh tâm kiến tánh vậy”” [11; 64] Để có hạnh phúc tuyệt
đối, con người phải đạt đến trạng thái “vô ngã”, “vô vi”, biết quên thị phi, tức là phải dứt bỏ cái biết bằng sự phân biệt, để đi đến một nhận thức siêu đẳng khác mà các nhà
Đạo học gọi là “Tri bất tri, thượng” hay “Đại tri” Nguyễn Duy Cần cho rằng quan niệm này giống như quan niệm “Hiện lượng”, hay “Trí huệ Bát nhã” của Phật giáo
Trong “Tổng bình” về thiên Tiêu dao du, Nguyễn Duy Cần khẳng định, giữa
Lão Tử, Trang Tử có cùng quan niệm về Đạo, Đức và quan niệm này nó rất gần với quan niệm của Phật giáo Ông cho rằng, Đức theo quan niệm của Trang Tử ám chỉ
“cái tánh tự nhiên của mỗi vật”, tức là chỗ Lão Tử gọi là “kiến tố” và nhà Phật gọi
là “kiến tánh” [11; 129] Để được Tiêu dao, theo Trang Tử phải đạt đến trạng thái
huyền đồng, tức là “thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục
khí mà lại qua trong cõi vô cùng” Nguyễn Duy Cần quan niệm “cái chánh” của
Trang Tử là “tánh tự nhiên”, tức là Đạo, đồng nghĩa với “tánh” của Phật giáo và “tố”
của Lão Tử
Lời bình về chương Trí Bắc du, Nguyễn Duy Cần cho rằng đây là chương giảng rộng hơn về thuyết “Bất ngôn chi giáo” của Lão Trang Từ đó ông khẳng định, quan niệm “Bất ngôn chi giáo” của Lão Trang có liên hệ mật thiết với Thiền tông:
“Học thuyết Lão Trang là một học thuyết không có học thuyết, một giáo lý không có
giáo lý… Nhân đó về sau, phái Thiền tông của Phật giáo Đại thừa mới chủ trương:“Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” [12; 674) Quan niệm này còn được
Nguyễn Duy Cần khẳng định trong lời bình ở chương Vong ngôn: ““Câu chuyện
Hoàn Công đọc sách ở thiên Thiên đạo là một bài ngụ ngôn ý vị để chứng minh cái thuyết “bất ngôn chi giáo” của Lão Trang và “bất lập văn tự” của Thiền tông”” [12;
84] Sự gặp gỡ giữa Trang Tử và Phật giáo cũng là một nhận định sâu sắc nữa của
Nguyễn Duy Cần khi ông bình về chương Tâm trai Ông khẳng định: “Chương này
đồng một ý với nhà Phật trong câu: Tự giác nhi giác tha” [12; 138]
Qua những công trình đã đề cập ở trên, Nguyễn Duy Cần đều đã bàn đến sự gặp gỡ, tương đồng giữa Lão Trang và Thiền tông Ông cho rằng, Lão Trang là mảnh
Trang 26đất màu mỡ để Thiền tông ươm mầm và phát triển Chính vì vậy, giữa hai tư tưởng này có những điểm chung, tương đồng về mặt nhận thức luận, về triết lý sống, về
quan niệm bình đẳng đại đồng
* Nguyễn Đăng Thục là nhà nghiên cứu triết học uyên bác, riêng về Lịch sử
triết học phương Đông đã bao gồm 5 cuốn, Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 6 cuốn,
ngoài ra còn nhiều công trình khác Xin đề cập đến hai công trình:
Lịch sử Triết học phương Đông (tập 4) do Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn
xuất bản năm 1963 Công trình này nghiên cứu triết học của Trung Quốc từ năm 241 trước kỷ nguyên đến 907 sau kỷ nguyên, nhưng chủ yếu là triết học Phật giáo Trong công trình này, tác giả đã bàn khá kỹ về Lão Trang với Phật giáo và Thiền tông
Về sự tương đồng giữa Lão Trang và Phật học, tác giả khẳng định: “Và nếu về
phương diện tôn giáo có sự cạnh tranh giữa Phật giáo, Đạo giáo hay Khổng giáo, thì về phương diện triết học lại thấy có sự đồng minh thân mật Lão học ít đề cập đến giải thoát hơn Phật học, tuy nhiên giữa hai nền siêu hình học, người ta thấy có nhiều điểm đại đồng tiểu dị” [132; 295] Theo tác giả sự “đại đồng” giữa Lão Trang và
Phật học không chỉ ở hình thức nông cạn mà còn chủ yếu là ở nội dung tinh thần
Nếu Nguyễn Duy Cần chú ý nhiều hơn đến sự tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo, thì Nguyễn Đăng Thục rất tâm đắc với sự tương đồng Nho - Lão - Phật
ngay trong chính tư tưởng của Việt Nam Trong lời tựa của công trình Lịch sử tư
tưởng Việt Nam (Bộ Văn hóa, Sài Gòn, 1967), Nguyễn Đăng Thục đã khẳng định
rằng, ngay từ thời Sỹ Nhiếp (137 - 226), ở Việt Nam đã hình thành tam giáo Nho - Đạo - Thích và cho rằng Sỹ Nhiếp là ông tổ thực hành ý thức hệ chính trị tam giáo khai phóng Khổng, Lão, Phật Sự kiện này, theo Nguyễn Đăng Thục là “tập đại thành thứ nhất” trong tư tưởng Việt Nam Tập đại thành thứ hai, thứ ba là hệ quả giao hòa giữa tam giáo với truyền thống dân tộc thời Lý - Trần, từ đó hình thành Thiền tông Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử, mà tác giả gọi đó là “Thiền tam giáo” Kết luận
phần Tư tưởng bình dân Việt Nam, tác giả nhận định: “Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo
Phật, khác nhau về quan điểm, nhưng cùng nhằm vào mục đích chung, bởi thế mà chúng có thể bổ túc cho nhau thành một thế giới quan đầy đủ về ba phương diện đòi hỏi của con người: ý chí, tình cảm và lý trí, tức là Chân, Mỹ, Thiện” [132; 355]
Trang 27* Nguyễn Duy Hinh, trong Triết học Phật giáo Việt Nam (Nxb Văn hóa Thông tin, 2006), cũng đã nhiều lần đề cập đến sự tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo Thiền tông Khi bàn về “vô vi” trong Lý hoặc luận của Mâu Tử, Nguyễn Duy Hinh ban đầu cho rằng: ““Duy chỉ về “vô vi” thì không hiểu rõ Mâu Tử nói theo
ngôn ngữ Đạo giáo hay theo ngôn ngữ Phật giáo vay mượn của Đạo giáo để dịch Asamskrta (tồn tại tuyệt đối không sinh diệt, đồng nghĩa Niết bàn)”” [49; 272]
Nhưng sau đó ông đã khẳng định “Mâu Tử là tổ sư tư tưởng Tam giáo nhất trí” [49;
276] Bàn về tư tưởng triết học của thiền sư Hiện Quang, Nguyễn Duy Hinh nhận
định rằng: “Tư tưởng triết học của Hiện Quang chủ yếu nhận thức tất cả đều huyễn
ảo của Đại thừa, đồng thời nhuốm màu Nho giáo (ẩn sĩ) và Đạo giáo (tiêu dao tự tại,
vô vi)” [49; 413] Bàn về tư tưởng triết học của Tuệ Trung, Nguyễn Duy Hinh cũng
cho rằng tư tưởng triết học bản thể luận của Tuệ Trung là thuận tòng tự nhiên của
Lão Tử, từ đó tác giả khẳng định: “Tuệ Trung đồng nhất Vô vi với Tâm, với Không
nên đậm màu sắc Đạo giáo hơn Thiền tông Trung Hoa” [49; 477] Cũng với tinh
thần như thế, khi bàn về tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Tuệ Đăng, Nguyễn Duy Hinh đều đề cập đến sự hòa hợp của tam giáo, đặc biệt là Lão Trang và Phật giáo Thiền tông Trước đó, điều này, ông cũng đã đề cập đến trong
chương về Phật giáo Đại Việt trong công trình Văn minh Đại Việt (Nxb Văn hóa
Thông tin, 2005)
Ngoài ra, một số học giả Việt Nam, khi nghiên cứu về tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão Trang và văn hóa Việt Nam cũng đã đề cập đến sự tương đồng giữa
Lão Trang và Thiền tông Tiêu biểu: Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử
yếu, Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương, Nguyễn Tài Thư trong Lịch sử
tư tưởng Việt Nam,…
Từ những công trình nghiên cứu của các học giả như đã đề cập ở trên, có thể khẳng định: Giữa Lão Trang và Phật giáo có sự tương hợp sâu sắc, kết quả là đã tạo nên cuộc “hôn nhân” độc đáo có một không hai trong lịch sử tư tưởng phương Đông Sản phẩm từ cuộc “hôn nhân” lịch sử đó là Thiền tông Chính vì vậy, giữa Lão Trang
và Thiền tông có những điểm chung rất khó phân biệt rạch ròi đâu là của Lão Trang, đâu là Thiền tông Có thể gọi đấy là vùng giao thoa uyên áo nhất của triết luận Trung
Trang 28Quốc cổ đại Từ giao thoa về tư tưởng chắc chắn sẽ có sự tương đồng về mỹ học của hai tư tưởng Đó là cơ sở tiền đề để nghiên cứu, hình thành khái niệm Thiền-Lão (禅老) Đây là khái niệm với nội hàm ẩn chứa cả tư tưởng Thiền tông và Lão Trang xét trên những điểm tương đồng kì diệu của hai tư tưởng, từ đó hình thành các phạm
trù tư tưởng Thiền-Lão như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm,
1.1.2 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học
cổ Trung Quốc
1.1.2.1 Tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc
Lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc có tầm vóc đồ sộ, có lịch sử trên
2000 năm Khởi thủy của nền lý luận này là tư tưởng của thời kỳ “trăm nhà đua tiếng” thời Tiên Tần Trên cơ sở đó, hình thành nên các tư tưởng mỹ học có ý nghĩa đặt nền móng cho nền văn học Trung Quốc, tiêu biểu là Nho giáo với Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử; Đạo giáo với Lão Tử, Trang Tử; mỹ học Mặc gia gắn với Mặc Tử; mỹ học Pháp gia với Hàn Phi Tử, Tư tưởng Đạo giáo sau này (khoảng từ sau năm 520), kết hợp với Thiền tông đã hình thành nên tư tưởng Thiền-Lão Có thể nói rằng, cùng với tư tưởng Nho giáo, tư tưởng Thiền-Lão là hai nguồn tư tưởng mỹ học chủ đạo, xuyên suốt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Trung Quốc và các nước trong khu vực
Tư tưởng Thiền-Lão có cội nguồn từ Lão Trang Đằng sau những ngôn từ trác
tuyệt của Đạo đức kinh và Nam hoa kinh là những quan niệm mỹ học sâu sắc của
Lão Trang Đó là tư tưởng sùng thượng Tự nhiên, đề cao Hư tĩnh, Vô ngôn, coi trọng cái đẹp giản, phác Tư tưởng này còn được tiếp tục bổ sung, phát triển trong các giai đoạn tiếp theo, nhất là khi kết hợp với Thiền tông
Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, bên cạnh quan niệm Nho giáo, thời kỳ này còn hình thành tư tưởng Thiền-Lão Lục Cơ, Lưu Hiệp, Chung Vinh là ba nhà lý luận nổi tiếng, là những viên gạch xây dựng nên tòa lâu đài lý luận đồ sộ với tầm giá trị vượt thời gian của văn học cổ Trung Quốc Các tác phẩm của ba vị này đều ít nhiều
chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão
Văn phú của Lục Cơ (261 - 303) là tác phẩm hoàn chỉnh, hệ thống đầu tiên
của lý luận, phê bình văn học Trung Quốc Trong tác phẩm này, khi bàn về quá trình
Trang 29và phong cách sáng tác, Lục Cơ đều quan tâm đề cập đến các phạm trù của tư tưởng Lão Trang như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao,… Điều này đã được Lưu
Hiệp bàn sâu hơn trong kỳ thư Văn tâm điêu long
Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (466 - 532) bàn về 4 vấn đề chính gồm: Bản
thể luận, văn thể, sáng tác luận và phê bình Trừ phần phê bình, các phần còn lại đều
có dấu ấn của tư tưởng Thiền-Lão, thể hiện ở các phạm trù thẩm mỹ như: Tự nhiên,
Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm Những phạm trù này thể hiện rõ nhất ở các
thiên: Nguyên Đạo, Minh Thi, Tạp Văn, Chư Tử, Luận Thuyết, Thần Tứ, Thể Tính,
Định Thế, Tình Thái, Lệ Từ, Khoa Sức, Sự Loại, Ẩn Tú, Chỉ Hà, Dưỡng Khí, Vật sắc, Tài Lược
Thi phẩm của Chung Vinh (468 - 518) là chuyên luận bàn về thơ cổ nhất của
Trung Quốc Thi phẩm bàn về thơ ngũ ngôn từ thời Hán, Ngụy đến Nam triều, Tề,
Lương một cách hệ thống với nhiều kiến giải thấu đáo và có ảnh hưởng lớn đến thi luận về sau Khi bàn về thơ, Chung Vinh cũng đã đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh, yêu chuộng Bình đạm, Vô ngôn,… mang khuynh hướng Thiền-Lão
Đến đời Đường, tư tưởng Thiền-Lão đã phát triển hoàn thiện gắn với sự phát triển của thơ Đường, tiêu biểu là Lý Bạch, Lý Thương Ẩn, Thích Hạo Nhiên, Tư Không Đồ,… Ở họ, dấu ấn Thiền-Lão không chỉ trong thơ mang mà cả trong tư duy
lý luận, phê bình văn học Với Lý Bạch, ông ít để lại những ý kiến luận bàn về thơ, nhưng qua thơ ông, tư tưởng Thiền-Lão hiển lộ rõ ở sự coi trọng Tự nhiên, thanh chân, đề cao phong cách Tiêu dao trong thơ Cũng như Lý Bạch, Vương Duy và Lý Thương Ẩn cũng ít có luận thi, nhưng trong thơ của hai vị đều mang dấu ấn của tư tưởng Thiền-Lão như: chuộng Tự nhiên, đề cao Hư tĩnh Khác với Lý Bạch, Vương Duy và Lý Thương Ẩn, Thích Hạo Nhiên, Tư Không Đồ vừa thể hiện tư tưởng Thiền-Lão không chỉ qua tác phẩm thơ mà còn thể hiện rõ qua luận thi Thích Hạo
Nhiên, trong Thi thức rất đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh trong thơ, đồng thời ông còn coi trọng tính Vô ngôn, phong cách Tiêu dao trong thơ Tư Không Đồ trong Nhị thập tứ
thi phẩm cũng đề cao Hư tĩnh, Bình đạm, Vô ngôn trong thơ
Đời Tống, các nhà lý luận: Mai Nghiêu Thần, Tô Thức, Âu Dương Tu,
Nghiêm Vũ,… cũng rất đề cao tư tưởng Thiền-Lão Mai Nghiêu Thần, trong Y vận
Trang 30họa Yến tướng công và Độc Thiệu bất nghi học sĩ thi màu sắc Thiền-Lão thể hiện ở
quan niệm Bình đạm Trong sáng tác và luận thi, Tô Thức chịu ảnh hưởng của
Thiền-Lão rất rõ Trong Thi tụng, Tống Tham Liêu sư thi, Dữ Triều Bồ chi tàng Dữ
Khả học trúc thi,… hầu như các phạm trù Thiền-Lão đều được ông chú trọng như là:
Tự nhiên, Hư tĩnh, Bình đạm, Tiêu dao,… Âu Dương Tu trong Lục Nhất thi thoại và Nghiêm Vũ trong Thương Lang thi thoại, cũng thể hiện rõ quan niệm văn học gắn
với tư tưởng Thiền-Lão
Đến đời Minh, Thanh, tư tưởng Thiền-Lão tiếp tục được đề cao với các nhà lý luận Lý Chất, Viên Mai, Lưu Đại Khôi, Vương Sỹ Chân,…
Lý Chất nhà lý luận đời Minh, ông đề xuất Đồng tâm thuyết nhằm phê phán
sự lòe loẹt giả tạo của loại văn học do nền Đạo học tạo thành và yêu cầu người sáng
tác phải có tấm lòng trẻ thơ Trong Độc luật phu thuyết, ông đề cao Tự nhiên, phải
coi Tự nhiên là đẹp Lý luận văn nghệ của Lý Chất rõ ràng có sự ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão
Viên Mai vừa là nhà thơ vừa là nhà lý luận nổi tiếng đời Thanh Tùy Viên thi
thoại là công trình sưu tập thơ, kèm theo lời bình và những câu chuyện liên quan
Đây là công trình rất có giá trị về lý luận thơ ca Trong công trình này, Viên Mai cũng đã đề cao Tự nhiên, yêu chuộng phong cách Tiêu dao theo khuynh hướng Thiền-Lão
Vương Sỹ Chân nhà lý luận nổi tiếng với thuyết Thần vận Ông nối tiếp tư tưởng của Tư Không Đồ, Nghiêm Vũ, yêu thích vẻ đẹp Thanh, Trừng, Đạm, Viễn,
mang màu sắc Thiền-Lão Hương Tổ bút ký, Tàm Vĩ tục văn là hai tác phẩm thể hiện
rõ quan niệm văn học mang dấu ấn Thiền-Lão của ông
Luận văn ngẫu ký của Lưu Đại Khôi là tập lý luận văn nghệ có tính bút ký,
gồm khoản 31 điều tập trung vào chủ trương sáng tác tản văn Trong tác phẩm này, Lưu Đại Khôi quan niệm “văn quý giản”, tức là phải Tự nhiên, chân thực, Bình đạm, thâm viễn,… mang vị Thiền-Lão
Như vậy, từ khi ra đời cho đến kết thúc, lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc luôn có dấu ấn của tư tưởng Thiền-Lão Khuynh hướng này được các tác giả quan tâm không chỉ trong sáng tác mà cả trong tư duy lý luận Có thể thấy rằng,
Trang 31trong suốt gần 2000 năm, thời nào cũng có những công trình lý luận nổi tiếng gắn
với tư tưởng Thiền-Lão
1.1.2.2 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học
cổ Trung Quốc của các tác giả Việt Nam
Di sản lý luận, phê bình văn học Trung Quốc nói chung, khuynh hướng Thiền-Lão nói riêng quả thật rất đồ sộ và trong suốt thời kỳ cổ điển, các tác giả của Việt Nam đã chịu nhiều ảnh hưởng từ di sản đó Nhưng trong thực tế, gần mười thế
kỷ, cha ông ta đã gần như không để tâm nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ
Trung Quốc, có chăng chỉ vài công trình giới thiệu sơ lược như Vân đài loại ngữ của
Lê Quý Đôn, hay Thương Sơn thi thoại của Miên Thẩm, Sang thế kỷ XX, do hoàn
cảnh lịch sử, xã hội, chiến tranh, Nho học thất thế, Tây học lên ngôi và sự ảnh hưởng toàn diện của mỹ học Mác-xít, nên ít có công trình nào tiếp nhận và nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc Phải đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, công tác dịch thuật, nghiên cứu di sản lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc mới được
chú trọng
- Về dịch thuật
So với di sản đồ sộ của lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, công tác dịch thuật các tác phẩm kinh điển và các công trình nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học của Trung Quốc còn khiêm tốn Ở đây, luận án liệt kê các công tác dịch thuật và các công trình nghiên cứu có liên quan đến khuynh hướng Thiền-Lão
Dịch các tác phẩm kinh điển về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc:
Năm 1972, nhà Hán học lão thành Nguyễn Đức Vân đã dịch Tùy Viên thi
thoại của Viên Mai, nhưng phải đến năm 1999 mới được nhà xuất bản Giáo dục ấn
hành (chỉ một phần) Cũng tác phẩm này, Trương Đình Chi đã dịch năm 1990 và được nhà xuất bản Văn nghệ TPHCM xuất bản
Năm 1996, Phan Ngọc dịch Văn tâm điêu long, lúc đầu công bố trên Tạp chí
Văn học nước ngoài (số 3/1996), sau đó được Nxb Văn học ấn hành vào năm 1997
Bản dịch này đã dịch 34 trong 50 thiên, 16 thiên không dịch Công việc này chỉ được
hoàn thành vào năm 2006, khi Trần Thanh Đạm và Phạm Thị Hảo dịch Văn tâm điêu
long và Nxb Văn học ấn hành vào năm 2007
Trang 32Năm 2006, Lê Giang đã dịch Thi biện và Thi pháp trong Thương Lang thi
thoại của Nghiêm Vũ và công bố tại Hội thảo “Cái nhìn mới về lý luận văn học cổ
Trung Quốc” do trường Đại học KHXH& NV tổ chức
Năm 2007, Nguyễn Đình Phức, Lê Quang Trường dịch Thi phẩm của Chung Vinh và tuyển dịch các lời bình về Thi phẩm trong công trình Thi phẩm tập bình,
Nxb Văn nghệ ấn hành năm 2007 Đến năm 2012, Nguyễn Văn Thiệu một lần nữa
dịch Thi phẩm, Nxb Hồng Đức ấn hành vào năm 2014
Dịch các công trình nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc:
Năm 1993, Trần Đình Sử dịch Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa của I.S
Lisevich, Nxb ĐHSP TPHCM xuất bản năm 1993
Năm 1994, Mai Xuân Hải dịch Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung
Quốc của Khâu Chấn Thanh, Nxb Giáo dục ấn hành năm 1994
Năm 2000, Trần Đình Sử và Lê Tẩm dịch Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường
của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân, Nxb Văn học ấn hành
Năm 2006, trong Hội thảo “Cái nhìn mới về lý luận văn học cổ Trung Quốc”, Khoa Ngữ văn và Báo chí, trường Đại học KHXH&NV TPHCM đã công bố nhiều bài dịch về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc và có những bài liên quan đến khuynh hướng Thiền-Lão như: “Những đặc điểm của tư tưởng văn nghệ Lão Trang” của Du Hạo Mẫn do Lê Quang Trường dịch; “Hư, Vô, Không, Đạm, Viễn” của Hoàng Hà Đào do Thu Nguyệt dịch; “Thích Hiệu Nhiên” của Cố Dịch Sinh do Nguyễn Đông Triều dịch; “Văn luận và Thi luận của Âu Dương Tu” của Cố Dịch Sinh, do Vũ Thanh Trâm dịch; “Tô Thức” của Cố Dịch Sinh do Đoàn Ánh Loan
dịch,
- Các công trình nghiên cứu
Đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc Vấn đề này chỉ được đề cập như một bộ phận hợp thành trong các công trình nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc Cụ thể:
* Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc của Phương Lựu (Nxb Giáo
dục, 1989)
Trang 33Công trình này gồm có 8 chương, hai chương đầu nghiên cứu về cấu trúc, lịch
sử và quan niệm văn học, mỹ học của các trường phái, sáu chương còn lại đề cập đến các tác giả lý luận văn học, quan niệm văn học tiêu biểu cho các thời kỳ Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Kim Thánh Thán, Lý Ngư, Viên Mai
Khi nghiên cứu về cấu trúc của lý luận văn học Trung Quốc, Phương Lựu đã
đề cập đến tư tưởng Phật, Lão, bên cạnh quan niệm Nho gia và quan niệm hiện thực
và nhân dân Về vị trí, vai trò của quan niệm Phật, Lão trong lý luận văn học cổ Trung Hoa, tác giả khẳng định:
“Cũng như tư tưởng Lão Trang nói chung, tuy không làm bá chủ trong
xã hội phong kiến, nhưng vẫn gây ảnh hưởng không nhỏ trong học thuật Trung Hoa, nhất là khi nó kết hợp với tư tưởng Phật giáo, tư tưởng văn nghệ Lão Trang mang tính chất siêu thoát nói trên, với nhiều hình thức, mức độ và trong những tương quan chằng chịt khác nhau, quả là có sự tiếp diễn trong các thời đại về sau” [85; 33]
Để chứng minh vấn đề này, Phương Lựu đã đề cập khái quát một số tác giả tiêu biểu cho quan niệm văn học Phật Lão qua các thời đại như: Tư Không Đồ đời Đường, Nghiêm Vũ đời Tống, Vương Dương Minh đời Minh, Vương Sĩ Trinh đời Thanh Bên cạnh đó, tác giả cũng đã bàn đến quan niệm văn học của Đạo gia và đề cập đến các tác giả có ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão như Lưu Hiệp, Viên Mai Điều đó cho thấy, trong lý luận văn học cổ Trung Quốc, tư tưởng Thiền-Lão chiếm vị trí khá quan trọng
Nếu như Phương Lựu chỉ nói về “tinh hoa” thì công trình sau đây của Lê Giang đã nghiên cứu khá đầy đủ kho tàng lý luận văn học cổ Trung Hoa
* Tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc - Lịch sử và tư liệu (2005), đề tài
NCKH cấp trường, Trường KHXH&NV - ĐHQG TPHCM của Lê Giang
Đề tài khoa học này đã khái quát toàn bộ nền lý luận văn học cổ Trung Quốc
từ thời Tiên Tần đến thời Minh, Thanh Trong lời tựa “Những nguồn mạch chính và
khả năng ứng dụng mới của lý luận văn học cổ điển Trung Quốc”, tác giả cho rằng
có ba khuynh hướng chính trong lý luận, phê bình văn học Trung Quốc Khuynh hướng đề cao đạo đức, chính trị, xã hội gắn với tư tưởng Nho giáo; khuynh hướng đề
Trang 34““Nó tạo ra cái đẹp “Âm nhu” (mềm mại, nữ tính) của mỹ học Trung
Quốc Đó là phong cách “Thanh Trừng Đạm Viễn” (Trong Lặng Mờ Xa) trong thơ Đào Uyên Minh và nhất là Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, là nguyên tắc “Bình đạm” trong hội họa và thơ sơn thủy, là nguyên tắc “nhập thần” trong thi luận của Nghiêm Vũ, Tô Đông Pha”” [38; 9]
Trong năm chương của công trình, tác giả lần lượt nghiên cứu lý luận văn học Trung Quốc qua năm thời kỳ (Tiên Tần; Hán và Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều; Tùy, Đường, Ngũ đại; Tống, Nguyên; Minh, Thanh) Trong mỗi thời kỳ, tác giả đề cập đến tổng quan chung, sau đó bàn cụ thể các tác giả Cả năm thời kỳ, lý luận văn học Trung Quốc đều có sự hiện diện của tư tưởng Thiền-Lão thông qua các tác giả như: Lão Tử, Trang Tử thời Tiên Tần; Lưu Hiệp, Chung Vinh thời Hán và Ngụy - Tấn, Nam Bắc triều; Thích Hạo Nhiên, Tư Không Đồ, Lý Bạch thời Tùy - Đường - Ngũ đại; Âu Dương Tu, Tô Đông Pha, Nghiêm Vũ thời Tống - Nguyên; Viên Mai, Vương
Sĩ Trinh thời Minh - Thanh
Trước đó vào năm 2000, Lê Giang đã có bài viết “Thần trong tư tưởng nghệ thuật cổ Trung Quốc và Việt Nam” (Tạp chí Văn học số 3) Tác giả cho rằng, trong
tư tưởng văn học trung đại, Thần trở thành một phạm trù quan trọng với nghĩa khá phức tạp Từ đó, tác giả làm rõ quan niệm Thần của Trang Tử, Lưu Hiệp, Tô Đông Pha, Nghiêm Vũ, Vương Sĩ Chân, Viên Mai là những tác giả chịu ảnh hưởng của tư
tưởng Thiền-Lão trong quan niệm văn học của mình Tác giả kết luận: “Thần là
phạm trù rất tinh tế, rất độc đáo và rất sâu sắc trong tư tưởng nghệ thuật Trung Quốc và Việt Nam thời cổ” [37; 69]
* Khái niệm và Thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc của Phạm Thị Hảo
Công trình được biên soạn xong vào năm 2005 và được Nxb Văn học ấn hành
Trang 35vào năm 2008 Ngoài lời tựa của Mai Quốc Liên, lời nói đầu của tác giả, công trình
có 6 nội dung chính Bao gồm: Một số khái niệm bao quát; Thuật ngữ và Khái niệm
thường dùng; Các thể loại; Thủ pháp nghệ thuật; Một số lưu phái tiêu biểu; Trước tác lý luận tiêu biểu Đây là công trình được tác giả biên soạn dựa vào phần “Văn học lý luận, phê bình” của Vương Vận Hy trong bộ Trung Quốc văn học đại từ điển
do nhiều học giả Trung Quốc chủ biên
Trong 6 phần chính của công trình có 4 phần tác giả biên soạn liên quan đến
tư tưởng Thiền-Lão Phần Một số khái niệm bao quát, tác giả đã đề cập đến 89 khái
niệm, trong đó có các khái niệm có màu sắc Thiền-Lão như: Ý cảnh, Ý tượng, Thần vận, Tính linh, Thần tứ, Linh cảm, Trong 59 thuật ngữ và khái niệm thường dùng
đã có 9 thuật ngữ và khái niệm có quan hệ với Thiền-Lão, gồm: Đại âm hy thanh, Đắc ý vong ngôn, Ngôn bất tận ý, Tùy vật phú hình, Ẩn tú, Bình đạm, Thanh không,
Hư tĩnh, Thần dữ vật du Trong các lưu phái tiêu biểu có các lưu phái như Sơn thủy điền viên, Thần vận, Tính linh có ảnh hưởng của Thiền-Lão Các trước tác tiêu biểu
mà tác giả tuyển chọn, hầu hết đều mang sác thái Thiền-Lão như: Văn phú (Lục Cơ),
Bão phác tử (Cát Hồng), Văn tâm điêu long (Lưu Hiệp), Thi phẩm (Chung Vinh), Thương Lang thi thoại (Nghiêm Vũ) và Tùy Viên thi thoại (Viên Mai)
Trong công trình, tác giả đã tinh chọn các khái niệm, thuật ngữ, học phái và tác phẩm tiêu biểu của lý luận văn học Trung Quốc rất gần gũi với văn học Việt Nam Từ đó tác giả đã giải thích ngắn gọn, có dẫn chứng từng khái niệm, thuật ngữ, học phái Điều này hết sức bổ ích cho những người nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Trung Quốc và Việt Nam
* Thi học cổ điển Trung Hoa - Học phái, Phạm trù, Mệnh đề do Phương Lựu
chủ biên (Nxb ĐHSP Hà Nội, 2016)
Công trình này là mới nhất trong các công trình nghiên cứu về lý luận, phê
bình văn học cổ Trung Quốc So với Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, công trình Thi học cổ điển Trung Hoa - Học phái, Phạm trù, Mệnh đề đã được mở rộng về tầm vóc, độ sâu về học thuật Công trình gồm ba phần, phần một: Các học
phái chính yếu trong thi học cổ điển Trung Hoa; phần hai: Các hệ thống khái niệm
cơ bản; phần ba: Hệ thống một số mệnh đề thiết yếu Cả ba phần đều được nghiên
Trang 36cứu trong mối quan hệ với các tư tưởng chủ đạo là Nho gia, Đạo gia, Thiền gia
Phần một của công trình gồm sáu chương, trong đó bốn chương có đề cập đến
tư tưởng Thiền-Lão trong thi học Trung Quốc Trong chương 1, tác giả đã bàn đến
mỹ học và thi học của các học phái Chu Dịch, Khổng Tử, Lão Tử, Mặc gia, Pháp gia
Về mỹ học Lão Tử, tác giả cho rằng cái đẹp theo quan niệm của Lão Tử là cái đẹp “vô vi” gắn với tự nhiên, gắn với cái “thường là không”, với hư ảo và người sáng tạo văn chương phải có “du tâm”, tự do, tự tại, đặc biệt là “hư tâm” Phương Lựu cho rằng Lão Tử là thủy tổ của mỹ học Đạo gia, người kế tục là Trang Tử và trong quá trình phát triển Đạo gia còn có sự kết hợp với tín ngưỡng dân gian hình thành Đạo giáo - Huyền học, kết hợp với Phật giáo hình thành Thiền học Về mỹ học và thi học, Phương Lựu cho rằng Trang Tử đã kế thừa Lão Tử khi đề cao cái đẹp tự nhiên, không những thế còn đề ra các phạm trù nghệ thuật then chốt như Hư tĩnh, Vật hóa
và quan niệm “Đắc ý vong ngôn” của văn chương
Điểm mới của Thi học cổ điển Trung Hoa - Học phái, Phạm trù, Mệnh đề so với các công trình trước của Phương Lựu chính là đã xác lập học phái thi học Thiền
gia Ông cho rằng, thi học Thiền gia được hình thành trên cơ sở là sự kết hợp giữa thi học Phật giáo và Đạo gia và một phần của Huyền học Sự kết hợp này đã hình thành
thi học Thiền gia: “manh nha từ Thích Hiệu Nhiên dần dần hình thành với Tư Không
Đồ và phát triển lên đỉnh cao với Nghiêm Vũ đời Tống” [88; 69]
Phần hai của công trình, Phương Lựu nói về các hệ thống khái niệm cơ bản Trong phần này, các khái niệm như Cảm vật, Thần tứ, Hư thực, Hình thần trong tư duy nghệ thuật; Ý tượng, Ý cảnh, Văn từ trong tác phẩm thơ và Vị trong tiếp nhận văn thơ đều có dấu ấn của tư tưởng Thiền-Lão
Phần ba của công trình bàn về một số mệnh đề thiết yếu Rất nhiều mệnh đề
trong phần này đều có liên quan đến tư tưởng Thiền-Lão, như: “Thiên hạ chi chí văn,
vị hữu bất xuất vu đồng tâm yên giả dã”, “Văn chi vi vật, tất hữu đối dã” (Mệnh đề
chung); “Ngụ ý vu vật, lưu ý vu vật”, “Phù dung xuất thủy, Thố tài lậu kim” (Mệnh
đề về tư duy nghệ thuật); “Thi quý thiên chân”, “Kính hoa thủy nguyệt” (Mệnh đề về thể loại); “Thi vô đạt hỗ”, “Thi chi cực chí hữu nhất, viết nhập thần” (Mệnh đề về
phê bình, thưởng thức) Tên của công trình là “thi học” nhưng thực chất là một công
Trang 37trình nghiên cứu khá toàn diện về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, rất có
giá trị cho việc nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc và văn học cổ điển Việt Nam
1.1.3 Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn học
cổ điển Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Phần này luận án đề cập đến hai nội dung: công tác khảo cứu, sưu tập và các
công trình nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
- Công tác sưu tập về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Không kể những khảo cứu, sưu tập quan niệm văn học thể hiện trong các bài
bạt, tựa, bình,… của các tác giả cổ điển trong Văn nghệ chí (Lê Quý Đôn), Văn tịch
chí (Phan Huy Chú),… Sau đó, công tác này được tiếp tục từ những năm 60 của thế
kỷ XX
Thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nhà Hán học lão thành Nguyễn Đức Vân đã sưu tầm và nghiên cứu “Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam” Tuy chỉ là
một bài viết trên Tạp chí Văn học (số 6/1963), nhưng ông đã công bố ý kiến về thơ
văn của nhiều tác giả thế kỷ XVIII và XIX như: Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Địch Cát, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nhữ Bá Sĩ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu,…
Đến năm 1968, cũng trên Tạp chí Văn học (số 9/1968), ông tiếp tục công bố thêm ý
kiến của của một số tác giả trước thế kỷ XVIII, như: Lý Tử Tấn, Hoàng Đức Lương,
Lê Hữu Kiều, Lê Quý Đôn,…
Thập kỷ 70 và 80 nhiều học giả đã nghiên cứu, sưu tầm và dịch tư liệu lý luận
văn học cổ đăng trên Tạp chí Văn học Cụ thể:
Đỗ Văn Hỷ sưu tầm và dịch: “Thư viết cho Trần Đức Anh của Nguyễn Văn
Siêu” (số 4/1976), “Duyệt thi của Ngô Thì Nhậm” (số 4/1978), “Viết ở cuối tập thơ rừng chuối của Cao Bá Quát” (số 5/1978), “Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức
Đạt” (số 1/1979), “Đề ở tập thơ đánh lại người xưa của Hoàng Phác” (số 1/1980),
“Tựa Hoàng Phác chiến cổ thi tập” (số 1/1980), “Bài tựa tập thơ Nỗi nhớ đằng
đẵng” của Nguyễn Kỳ Trai” (số 1/1981), “Đề tựa tập Tây Hồ mạn hứng” của Ninh
Hy Chí” (số 5/1981)
Trang 38Phạm Thị Tú sưu tầm và dịch: “Thư gửi người bạn học thân thiết là Ngô Hy
Phan ở Bái Dương của Nguyễn Văn Siêu” (số 6/1976), “Luận thi của Ngô Thì Sĩ” (số 6/1978), “Bình bài phú Mộng Thiên Thai của Ngô Thì Chí” (số 1/1981)
Hoàng Lê sưu tầm và dịch “Ngẫu hứng của Ninh Tốn” (số 6/1976)
Hồ Sĩ Hiệp sưu tầm và dịch “Tựa Tĩnh Phố thi tập của Miên Trinh” (số
5/1979)
Chương Thâu dịch “Tựa Phượng Trì Đông dương tiên sinh thi tập và Việt sử
tam bách vịnh tập của Cao Xuân Dục” (số 3/1979)
Văn Giang sưu tầm, dịch “Tự đề tựa tập Kỳ Xuyên thi sao của Nguyễn Thông”
(số 5/1984)
Cũng trong thời gian này, liên tiếp các số 55, 56 năm 1975 và số 57, 58 năm
1976, trên Tạp chí Tác phẩm mới, với tiêu đề “Cha ông ta bàn về văn thơ”, Hoàng
Trung Thông đã trích dẫn và giới thiệu lại ý kiến bàn về văn học của một số tác giả
cổ điển như đã nói ở trên và bổ sung một số tác giả mới
Thập kỷ 70 còn là dấu mốc quan trọng trong công tác khảo cứu, sưu tầm văn học Lý - Trần nói chung và các bài bạt, tựa, bình,… nói riêng Được thành lập vào những năm cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, hai nhóm biên soạn thơ văn Lý - Trần
do Nguyễn Huệ Chi và Trần Nghĩa làm nhóm trưởng đã tiến hành khảo đính văn
bản, phiên dịch để hoàn thành công trình Thơ văn Lý - Trần vào năm 1974 và xuất bản ba năm sau đó Thơ văn Lý - Trần là một công trình sưu tầm, khảo cứu công phu,
toàn diện về văn học thời Lý - Trần Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được 914 tác phẩm từ khi Ngô Quyền (938) dựng nước cho đến khi Lê Lợi chuẩn bị kháng quân
Minh (1418), trong đó có sáu bài tựa rất có giá trị về mặt lý luận Cụ thể: Tân san
Việt âm thi tập tự, Tân tuyển Việt âm thi tập tự, Trích diễm thi tập tự, Toàn Việt thi lục lệ ngôn, Nam Ông mộng lục tự, Nam Ông mộng lục hậu tự Ngoài ra còn có
nhiều tác phẩm hàm ẩn tính lý luận mà chúng tôi sẽ phân tích ở các phần sau
Đến đầu thập kỷ 80, nhóm biên soạn do Nguyễn Minh Tấn chủ biên đã cho ra
đời công trình Từ trong di sản Công trình này tập hợp những ý kiến bàn về văn học
từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX của 65 tác giả (kể cả tác giả khuyết danh) Từ trong di
sản không chỉ là chuyên luận đầu tiên về công tác sưu tầm lý luận, phê bình văn học
Trang 39cổ điển Việt Nam mà qua đó Nguyễn Minh Tấn còn tổng kết được “Mấy điều thu hoạch” rất có giá trị về di sản lý luận, phê bình của ông cha ta Trước hết, qua công tác sưu tập, Nguyễn Minh Tấn phản bác ý kiến cho rằng trong ngót mười thế kỷ, ông
cha ta không để lại được “một giọt lý luận nào” Từ đó ông khẳng định về sự tồn tại
“một di sản tư tưởng lý luận văn nghệ” trong nền văn học cổ điển Việt Nam Di sản
đó là “một bộ phận tạo thành nền văn học ấy, như là sự tự ý thức của nền văn học
ấy” Nhận định về di sản tư tưởng lý luận văn nghệ của ông cha ta, Nguyễn Minh
Tấn cho rằng di sản đó chứa đựng ý thức độc lập, tự chủ về văn hóa, văn học, bên
cạnh sự tiếp biến, giao lưu, ảnh hưởng yếu tố Trung Hoa: “Văn học cổ đại Việt Nam
đã huy động một khối lượng lớn kiến thức của nền văn hóa cổ điển Trung Hoa với những điển cố văn học, chính trị, những truyền thuyết, những biểu tượng, tôn giáo, tín ngưỡng, v.v… để làm cho lời văn thêm súc tích, thêm nhiều hình tượng phong phú” [119; 221] Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam có quan niệm
“Văn dĩ tải đạo” và “Thi dĩ ngôn chí”, nhưng mang bản sắc Việt Nam Dẫn quan
niệm của Lê Quý Đôn và Nguyễn Văn Siêu về khái niệm “Đạo” và quan niệm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về khái niệm “Chí”, Nguyễn Minh Tấn bình luận:
“Từ một quan niệm rộng rãi và đúng đắn về văn chương, các cụ đã để lại trong kho
tàng văn học Việt Nam xưa những trang thơ văn chân thật, trữ tình, hùng tráng đi thẳng vào lòng người mà giàu phong cách tâm hồn Việt Nam” [119; 242] Trong
quan niệm văn học cổ điển, Nguyễn Minh Tấn cho rằng, các tác giả cổ điển vừa rất
đề cao vai trò chức năng của văn học, vừa yêu cầu cao về nghệ thuật của văn
chương: “Các cụ rất chú ý nội dung của văn học, nhưng văn học phải có đầy đủ tính
nghệ thuật” [119; 245] Phần “Mấy điều thu hoạch”, tác giả đã đề cập đến công tác
phê bình của người xưa Ông cho rằng, công tác phê bình của các người xưa đó
chính là các thư từ, những lời tựa, lời bạt, những cuộc xướng họa, bình văn,… Di sản
phê bình của ông cha ta xưa có “những cây bút phê bình sắc sảo, thực sự tài năng”, như: Nguyễn Văn Siêu “tế nhị mà rất thẳng thắn chân tình”, Nhữ Bá Sĩ “rành mạch,
khúc chiết cả về nội dung lẫn hình thức loại thể và câu văn”, Lê Quý Đôn và Phan
Huy Chú “sắc sảo, uyên bác”, Ngô Thì Sĩ “hồn nhiên, cởi mở”, Ngô Thì Nhậm “đĩnh
đạc và trang trọng”, Cao Bá Quát “trữ tình rất mực tài hoa” Từ đó Nguyễn Minh
Trang 40Tấn khẳng định: Công tác phê bình đã “giữ vai trò thúc đẩy văn học” và “đã giúp
cho chúng ta hiểu được những vấn đề nội dung chủ yếu trong giai đoạn lịch sử phát
triển văn học” [119; 249]
Đến đầu thập kỷ 90, Đỗ Văn Hỷ đã cho ra đời công trình Người xưa bàn về
văn chương Đây là công trình sưu tập, biên dịch rất đáng trân trọng và có ý nghĩa
liên quan đến việc tìm hiểu quan niệm văn học của ông cha ta Cùng với các công
trình như đã nêu ở trên, Người xưa bàn về văn chương đã góp phần làm sáng rõ,
phong phú thêm nguồn tư liệu, giúp việc nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam mang tính khoa học, khách quan, bởi tác giả ý thức:
““Để người đọc hiểu rõ những quan niệm cụ thể được viết ra trong
những hoàn cảnh cụ thể, các bài văn sẽ được dịch trọn vẹn Riêng những bài bàn về quan điểm thơ lại viết bằng thơ, để tránh hiện tượng “bào mòn” hay
“xuyên tạc” trong lúc dịch và nó lại ràng buộc bởi vần luật và số chữ trong câu thơ, nên các bài thơ được dịch theo thể văn xuôi”” [62; 6]
Bên cạnh những học giả, nhà văn tiêu biểu, công trình còn trích dẫn ý kiến của nhiều tác giả ít tiếng tăm như: Đỗ Tuấn Đại, Vũ Trọng Đại, Trần Cao Đệ, Ngô Cương Mạnh Đoan, Trần Bá Kiên, và một số văn bản khuyết danh, những ý kiến
của họ thường “phi chính thống”, “hồn toàn hàm súc” Người xưa bàn về văn chương
thật sự là những gợi mở hữu ích trong việc xác lập hệ thống và nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Hiện nay, công tác khảo cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam vẫn đang được tiếp tục Tuy nhiên, đến thời điểm này, công tác này có lẽ đã tạm hoàn
thành trách nhiệm với công trình Mười thế kỷ bàn luận về văn chương Bởi đây là
công trình giới thiệu đầy đủ thành tựu lý luận, phê bình văn học Việt Nam suốt mười thế kỷ từ thế kỷ X đến năm 1945 Phần bàn luận về văn chương thời kì trung đại (từ
TK X đến cuối TK XIX), bao gồm 90 tác giả, tăng 25 tác giả so với Từ trong di sản
Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn đã sưu tầm, tuyển chọn
và biên soạn công trình Mười thế kỷ bàn luận về văn chương khá công phu, đồng
thời đã có những lời bình nhằm làm rõ thêm những quan niệm văn học của ông cha
ta Đây chính là điểm khác với Nguyễn Minh Tấn trong công trình Từ trong di sản