1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật

47 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả Trần Ngọc Nhã Trân
Người hướng dẫn PGS. TS. Hà Thị Thanh Bình
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 686,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu Luận văn có thể dùng làm cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp có kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và cho các cơ quan

Trang 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH

DOANH THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Thị Thanh Bình Học viên: Trần Ngọc Nhã Trân

Lớp: Cao học Luật Khóa: 23

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học thực sự của

bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Thị Thanh

Bình Các vụ việc thực tiễn được phân tích trong Luận văn là có thật Tôi xin chịu

trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của bản thân trong Luận văn này

Tác giả

Trần Ngọc Nhã Trân

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Điều kiện đối với chủ thể kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật 6

1.1 Điều kiện về nhân lực của cá nhân, tổ chức kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật 7

1.1.1 Quy định của pháp luật 7

1.1.2 Một số bất cập trong quá trình thực thi 8

1.1.3 Một số kiến nghị 13

1.2 Điều kiện về cơ sở vật chất trong kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật 15

1.2.1 Quy định của pháp luật 15

1.2.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi 16

1.2.3 Một số kiến nghị 19

Chương 2 Điều kiện lưu hành thuốc bảo vệ thực vật 21

2.1 Quy định đăng ký thuốc bảo vệ thực vật 21

2.1.1 Quy định của pháp luật 21

2.1.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi 24

2.1.3 Một số kiến nghị 27

2.2 Quy định lấy mẫu thuốc bảo vệ thực vật để kiểm tra chất lượng sản phẩm 29

2.2.1 Quy định của pháp luật 29

2.2.2 Vướng mắc trong quá trình thực thi 31

2.2.3 Một số kiến nghị 33

2.3 Vấn đề cấp phép vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật 33

2.3.1 Quy định của pháp luật 33

2.3.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi 35

2.3.3 Một số kiến nghị 37

PHẦN KẾT LUẬN 38

Danh mục tài liệu tham khảo 39

Phụ lục

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo vệ thực vật là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với quốc gia nông nghiệp như Việt Nam Theo đó, thuốc bảo vệ thực vật cũng trở thành sản phẩm hàng hoá quan trọng và phổ biến ở nước ta, tác động lớn đến an ninh lương thực, đến sự phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung, tác động đến môi trường và an toàn sức khoẻ của toàn dân Vì vậy hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật không chỉ là vấn đề được người tiêu dùng quan tâm mà cần phải có sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước để các sản phẩm này luôn phát huy công dụng tốt nhất và nằm trong giới hạn cho phép về mức

độ ảnh hưởng đến môi trường sống Để thực hiện điều đó, hoạt động này cần có sự điều chỉnh của hệ thống quy định pháp luật được xây dựng chặt chẽ, đảm bảo tính bao quát và quan trọng là có khả năng thực thi cũng như được áp dụng đúng và hiệu quả trong thực tiễn

Hiện nay còn tồn tại khá nhiều vi phạm về điều kiện an toàn trong sản xuất, buôn bán thuốc, bảo quản và vận chuyển thuốc Các cơ quan quản lý đã liên tục xử

lý các hành vi vi phạm trên, tuy nhiên cần nhìn nhận các hành vi này vẫn chưa được giải quyết triệt để cũng như chưa được ngăn chặn kịp thời Song song đó, vẫn còn các quy định gây nhiều khó khăn hoặc chưa hợp lý đang được áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ hệ thống các quy định pháp luật liên quan chưa đáp ứng được mục tiêu điều chỉnh của nó cũng như công tác áp dụng pháp luật tại một số địa phương chưa thực

sự nghiêm túc và hiệu quả Hệ thống luật định còn thiếu bao quát dẫn đến các chủ thể kinh doanh tránh được sự kiểm soát, nội dung một số quy định không phù hợp với thực tiễn thậm chí có thể gây nhầm lẫn, mâu thuẫn dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng, các cơ quan quản lý thiếu căn cứ pháp lý hoặc lúng túng khi thực hiện nhiệm vụ

Vì những lẽ trên, việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và thực tiễn áp dụng những quy định đó là việc làm cần thiết nhằm nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bất cập của pháp luật và hướng khắc phục Kết quả này sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, tăng tính chặt chẽ cho hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước

và bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sống và đảm bảo quyền

Trang 7

lợi chính đáng cho các chủ thể kinh doanh nghiêm túc tuân thủ pháp luật Đó cũng

là lý do tác giả chọn đề tài “Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thuốc bảo

vệ thực vật” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua khảo sát, tác giả nhận thấy vấn đề pháp luật về kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật có khá ít công trình nghiên cứu, chỉ có một số bài viết chuyên đề, đề tài luận văn có nội dung liên quan và các bài báo, bài viết đăng tải trên các diễn đàn

Cụ thể:

Về chuyên đề nghiên cứu, có các chuyên đề, bài viết sau:

- “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật”, Tập san bồi dưỡng - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử - Ban công tác Đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc Hội1 Nội dung trình bày công tác quản lý nhà nước, các số liệu đánh giá tác động của thuốc BVTV đối với môi trường, các tồn tại của công tác quản lý cần khắc phục và một số ý kiến đối với dự thảo Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật Bài nghiên cứu này cung cấp góc nhìn tổng quan về sự cần thiết và bối cảnh ra đời của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, từ đó đánh giá mức

độ phù hợp với thực tiễn của các quy định

- “Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với vấn đề thuốc bảo vệ thực vật” ngày 18/11/2013 được đăng trên website của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử - Ban công tác Đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc Hội2 Nội dung khái quát hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán, sử dụng thuốc BVTV, ghi nhận những thành tựu, hạn chế và đề ra mục tiêu cần đạt được khi ban hành Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật Bài viết đã giúp người đọc nhìn được hiện trạng hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bảo vệ thực vật và nêu rõ định hướng thực hiện công tác xây dựng Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, từ đó dễ dàng tiếp cận và hiểu được ý đồ của cơ quan soạn thảo ban hành Luật

1 Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật”, http://ttbd.gov.vn/Modules/NCS.Module.ReferenceDocument/Upload/New%20folder%20(6)/KDTV-

final.pdf, truy cập ngày 10/11/2019

2 “Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với vấn đề thuốc bảo vệ thực vật”, http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=3327, truy cập ngày 10/11/2019

Trang 8

Các bài nghiên cứu này chủ yếu mang tính cập nhật hệ thống quy định pháp luật và làm tiền đề để phổ biến Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, chưa có nghiên cứu phân tích chuyên sâu về pháp lý

Về luận văn, tác giả tiếp cận được các đề tài sau:

- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công (năm 2017), tác giả Nguyễn Quốc Dũng, Học viện hành chính quốc gia, tên đề tài: “Quản lý nhà nước

về hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Đề tài trình bày về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, phân tích về phương thức tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thuốc BVTV tại địa phương, có đề cập đến các quy định pháp luật nhưng không đi sâu phân tích về pháp lý

- Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế (năm 2017), tác giả Hà Việt Hưng, Viện Đại Học Mở Hà Nội, tên đề tài: “Pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật” Nội dung đề tài nêu lý luận chung về hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV và hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này kèm giải pháp hoàn thiện Trong đó, tác giả nhấn mạnh phân tích hoạt động xuất nhập khẩu thuốc BVTV và các quy định về bao bì và nhãn thuốc Luận văn cung cấp thông tin khá toàn diện về hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh thuốc BVTV, tuy nhiên do dành trọn một chương để trình bày

lý luận về thuốc BVTV, đồng thời phần quy định pháp luật thì đề cập các quy phạm điều chỉnh gần như toàn bộ quá trình từ sản xuất đến buôn bán và sử dụng thuốc nên việc phân tích pháp lý chưa sâu, chủ yếu dừng ở mức liệt kê và diễn giải

Về các bài viết đăng trên diễn đàn, báo điện tử: nội dung mang tính phản ánh

hiện trạng vi phạm và một số bất cập trong các quy định pháp luật Một số ý kiến phản ánh thực tiễn, tham luận như những lát cắt nhỏ từ các góc nhìn của những cá nhân, tổ chức tư vấn pháp luật hoặc các chủ thể trực tiếp kinh doanh

Nhìn chung, các đề tài, bài viết trên chủ yếu cung cấp tổng quan về quản lý nhà nước và các quy định pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thuốc BVTV cùng một số bất cập trong thực hiện, nhưng chưa đi sâu phân tích về mặt lý luận pháp luật để làm rõ nguyên nhân và giải quyết các tồn tại đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các mục đích sau:

(1) Đánh giá tính hiệu quả của các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi các quy định về điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật;

Trang 9

(2) Tìm ra được những điểm phù hợp, chưa phù hợp trong thực tiễn áp dụng pháp luật, những vướng mắc, bất cập từ cả hai góc độ quản lý nhà nước và quyền của các chủ thể tham gia kinh doanh

(3) Đề xuất một số biện pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý của Nhà nước

4 Giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành có nội dung điều chỉnh liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và thực trạng áp dụng các quy định đó

- Về không gian: tác giả nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam,

từ đó phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

là vùng kinh doanh trọng điểm của sản phẩm thuốc BVTV

- Về thời gian: nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành,

cụ thể là từ khi Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 có hiệu lực thi hành

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để làm rõ các quy định pháp luật

và có cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa các luật có phạm vi điều chỉnh liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Phương pháp này được áp dụng để thực hiện phần trình bày nội dung các quy định pháp luật

Phương pháp đối chiếu, so sánh, đánh giá được sử dụng khi phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trong một số trường hợp cụ thể Tác giả sử dụng để trình bày phần vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật ở các chương

Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng để xây dựng các kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

Trang 10

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu

Luận văn có thể dùng làm cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp có kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và cho các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này

áp dụng trong quá trình thực hiện chức năng hoạt động của mình, đồng thời là ý kiến đóng góp để xây dựng hệ thống quy định pháp luật hoàn thiện hơn

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI CHỦ THỂ KINH DOANH THUỐC BẢO

VỆ THỰC VẬT

Bên cạnh công dụng chính là hỗ trợ việc phòng trừ sâu bệnh và tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp thì đa số thuốc BVTV là sản phẩm mang độc tính có tác động lớn đến môi trường sinh thái, tác hại cho sức khỏe con người, vì vậy pháp luật yêu cầu nghiêm ngặt về các điều kiện tối thiểu mà các chủ thể tham gia lĩnh vực này phải đạt được

Thứ nhất, về tư cách pháp lý của chủ thể, căn cứ quy định tại Điều 1 Nghị định số 123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm thì chủ thể sản xuất thuốc BVTV phải là tổ chức, như vậy trước khi thực hiện hoạt động này, chủ thể cần phải lựa chọn hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã để có tư cách pháp nhân phù hợp Đối với hoạt động buôn bán thuốc BVTV, Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 đã nêu rõ điều kiện dành cho tổ chức, cá nhân buôn bán thuốc BVTV, theo đó chủ thể tham gia hoạt động này không bị ràng buộc tư cách pháp lý mà tùy vào điều kiện, quy mô và mục đích phát triển kinh doanh của mình, có thể tham gia với tư cách cá nhân hoặc thành lập pháp nhân để buôn bán thuốc

Thứ hai, dù tham gia kinh doanh với tư cách nào thì chủ thể cũng phải đảm bảo điều kiện về bảo vệ môi trường trong giới hạn pháp luật yêu cầu Trước khi nộp

hồ sơ xin cấp chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, tổ chức/cá nhân cần tự rà soát các quy định về điều kiện cơ sở vật chất, mức độ tác động môi trường và giải pháp

xử lý để có cơ sở trình duyệt hoặc diễn giải với Đoàn kiểm tra, thẩm định cấp phép Riêng hoạt động sản xuất thuốc BVTV thì chủ thể buộc phải có cơ sở sản xuất ở khu công nghiệp, kèm theo các hồ sơ đánh giá tác động môi trường, phương án xử

lý chất thải, tiêu hủy xử lý thuốc hết hạn hoặc không đạt chuẩn tiêu thụ

Thứ ba, để đảm bảo các chủ thể biết và tuân thủ pháp luật trong quá trình kinh doanh, đủ năng lực để ngăn ngừa và xử lý các sự cố trong quá trình sản xuất, vận chuyển, lưu trữ, buôn bán thuốc BVTV, pháp luật buộc các cá nhân tham gia một số vị trí cụ thể trong chuỗi quy trình này phải có kiến thức chuyên môn nhất định về thuốc BVTV cũng như được trang bị các quy định liên quan trước khi cấp giấy chứng nhận cho chủ thể tham gia kinh doanh

Trang 12

Với một loạt các yêu cầu như trên, chủ thể kinh doanh thuốc BVTV chịu sự điều chỉnh của khá nhiều quy định pháp luật Trong đề tài này, tác giả chỉ chọn phân

tích các điều kiện mà về mặt quy định còn có tồn tại cần được điều chỉnh, bổ sung

1.1 Điều kiện về nhân lực của cá nhân, tổ chức kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật

1.1.1 Quy định của pháp luật

Pháp luật quy định chi tiết về các điều kiện nhân lực mà từng nhóm chủ thể phải đáp ứng khi kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, tùy thuộc vào việc họ tham gia ở giai đoạn nào trong quá trình từ sản xuất cho đến khi phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng Theo đó, có thể phân chia các chủ thể thành nhóm Chủ thể sản xuất thuốc BVTV và nhóm Chủ thể buôn bán thuốc BVTV

Đối với các chủ thể sản xuất thuốc BVTV bao gồm các cơ sở sản xuất

thuốc BVTV, cần đáp ứng các yêu cầu về nhân lực sau: Người trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành hóa học, bảo vệ thực vật, sinh học, nông học; và Người lao động trực tiếp sản xuất thuốc BVTV phải được huấn luyện, bồi dưỡng về chuyên môn, kiến thức về thuốc BVTV (theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 123/2018/NĐ-CP) Chương trình tập huấn trong thời gian 03 ngày, gồm các quy định quản lý thuốc, điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc, an toàn trong sản xuất, buôn bán, vận chuyển, bảo quản thuốc, các biện pháp phòng ngừa, xử lý sự cố thuốc BVTV, quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân sản xuất, buôn bán thuốc BVTV, các quy định về xử lý vi

phạm hành chính liên quan đến thuốc BVTV

Đối với các chủ thể buôn bán thuốc BVTV bao gồm các Doanh nghiệp, hộ

gia đình, cá nhân tham gia vào quá trình phân phối thuốc chủ yếu với tư cách là Đại lý phân phối hoặc là đơn vị trực thuộc các cơ sở sản xuất/nhập khẩu thuốc BVTV thực hiện chức năng phân phối sản phẩm ra thị trường Pháp luật quy định người trực tiếp quản lý, người trực tiếp bán thuốc BVTV phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành BVTV, trồng trọt, hóa học, sinh học, nông học hoặc có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV (theo Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 123/2018/NĐ-CP) Thời gian bồi dưỡng là 03 tháng, chương trình bồi dưỡng chuyên sâu và mở rộng hơn so với nội dung dành cho chủ thể sản xuất thuốc BVTV Ngoài các nội dung giống như đối tượng trên, chương trình còn bao gồm đại cương về thuốc BVTV, phân loại nguy hại, đặc tính thuốc, cách đọc nhãn thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn hiệu

Trang 13

quả, đại cương về sinh vật gây hại, kiến thức về phòng cháy, chữa cháy, thực

1.1.2 Một số bất cập trong quá trình thực thi

Pháp luật quy định cứng nhắc, không cập nhật thực tiễn ngành nghề đào tạo có thể đáp ứng năng lực kinh doanh của chủ thể

Việc quy định trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với người quản lý, trực tiếp sản xuất, trực tiếp buôn bán thuốc BVTV là cần thiết để đảm bảo tính

an toàn và hiệu quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm này Bởi lẽ, thành phần cấu tạo của phần lớn các thuốc BVTV đều chứa hoạt chất, việc thiếu kiến thức hoặc bất cẩn trong quá trình sản xuất kinh doanh đều có rủi ro cao dẫn đến nguy hại sức khỏe cho chính bản thân người trực tiếp tham gia hoạt động và những người xung quanh, tác hại đến môi trường Tuy nhiên, nội dung cũng như cách thức diễn giải chi tiết của pháp luật về vấn đề này vẫn chưa hoàn toàn hợp lý, dẫn đến các chủ thể kinh doanh bị hạn chế quyền lợi, thậm chí các cơ quan thi hành pháp luật cũng lúng túng trong triển khai

Cụ thể, về ngành nghề đào tạo mà người trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất thuốc BVTV phải có được quy định rõ là “chuyên ngành hóa học, bảo

vệ thực vật, sinh học, nông học”; với người trực tiếp quản lý, bán thuốc thì mở rộng hơn, có thêm chuyên ngành “trồng trọt” Trong khi thực tiễn ngành nghề đào tạo tại các trường Cao đẳng, Đại học thì vẫn còn những chuyên ngành tuy khác tên gọi nhưng về tính chất và chương trình đào tạo cũng mang tính tương đồng, có thể đáp ứng được việc quản lý sản xuất, mua bán thuốc BVTV, ví dụ

cử nhân Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan, cử nhân Khoa học cây trồng

Trang 14

(được đào tạo tại Khoa Nông nghiệp – Trường Đại học Cần Thơ)3 Cách thức quy định theo dạng liệt kê cụ thể này rõ ràng đã không thể bao quát hết các ngành nghề phù hợp, thiếu tính dự liệu cho các ngành đã có hoặc sẽ phát sinh trong tương lai, gây bất lợi cho các chủ thể khi muốn tham gia kinh doanh thuốc BVTV Thực tiễn là doanh nghiệp có người lao động đã được đào tạo các ngành nghề phù hợp về tính chất chuyên môn nhưng chưa được liệt kê trong quy định hoặc chính bản thân người đó, muốn tham gia vào kinh doanh thuốc BVTV thì phải đi thuê lại người khác hoặc phải đi học thêm vì không đủ điều kiện để được cấp phép kinh doanh Về phía các Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV các tỉnh, là cơ quan có chức năng thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV cũng không thống nhất cách áp dụng quy định về ngành nghề chuyên môn này khi xét duyệt hồ sơ Một số chi cục xét duyệt theo cách hiểu mở rộng, tức là ngành nghề đào tạo thuộc lĩnh vực nông học, sinh học mà chương trình học có kiến thức chuyên ngành phù hợp, có khả năng hiểu và vận dụng vào quá trình quản lý, buôn bán thuốc BVTV thì được xem là có chuyên môn hợp lệ và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc Tuy nhiên, hầu hết các chi cục chọn giải pháp an toàn, hồ sơ đăng ký phải có chuyên ngành đúng tên gọi như liệt kê trong Nghị định thì mới được cấp Giấy chứng nhận, và việc từ chối cấp chứng nhận thì chỉ thể hiện qua việc không nhận hồ sơ, trao dổi trực tiếp với người nộp chứ không ra văn bản trả lời

cụ thể nên cá nhân/tổ chức khó có cơ sở khiếu nại Vô hình chung, dẫn đến thiếu công bằng giữa các chủ thể có cùng điều kiện năng lực như nhau nhưng muốn tham gia buôn bán thuốc BVTV ở những địa phương khác nhau

Vấn đề thiếu nhất quán trong xác định ngành nghề đủ điều kiện tham gia kinh doanh thuốc BVTV còn thể hiện cả trong quá trình xây dựng pháp luật

Cụ thể là về yêu cầu chuyên ngành đào tạo đối với chủ thể buôn bán thuốc BVTV, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 quy định chuyên ngành BVTV, trồng trọt, sinh học, hóa học; Nghị định 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì quy định chủ thể buôn bán thuốc BVTV phải có chuyên ngành BVTV, trồng trọt, hóa học, lâm sinh; đến Nghị định 123/2018/NĐ-CP thì tiếp tục sửa đổi là chuyên ngành BVTV, trồng trọt, hóa học, sinh học, nông học Có thể

3 Theo danh mục ngành nghề và chương trình đào tạo của Trường Đại học Cần Thơ đăng tại website của Trường, đường dẫn: https://www.ctu.edu.vn/dao-tao/ctdt-dai-hoc.html , truy cập ngày 01/11/2019

Trang 15

thấy, chính cơ quan ban hành pháp luật cũng đang lúng túng khi liệt kê chuyên ngành dẫn đến liệt kê thiếu hoặc không phù hợp thực tế

Quy định đào tạo và cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ về thuốc bảo vệ thực vật chưa chặt chẽ và phù hợp

Việc tổ chức lớp đào tạo phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của cơ quan quản lý từng địa phương

Theo quy định tại Điều 38 Thông tư số 21/2015/BNNPTNT ngày 08/6/2015 của Bộ NN&PTNT về quản lý thuốc BVTV, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, tập huấn an toàn hóa chất về thuốc BVTV đăng ký danh sách người tham gia với Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV Chi cục tổ chức bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV, tập huấn an toàn hóa chất BVTV theo đúng nội dung, chương trình được Cục BVTV xây dựng theo quy định Sau khi có kết quả kiểm tra đạt yêu cầu thì người học sẽ được Chi cục cấp Giấy chứng nhận

Việc đăng ký học và nhận Giấy chứng nhận được pháp luật quy định ngắn gọn và đơn giản trong áp dụng Tuy nhiên, chính sự thông thoáng này dẫn đến hiện trạng các Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV tùy nghi quyết định

tổ chức khóa đào tạo mà không có sự ràng buộc nào về tần suất, thời gian mở lớp Người có nhu cầu được cấp Giấy chứng nhận có thể bị trì trệ hoặc gián đoạn quá trình tham gia hoạt động buôn bán thuốc do không có lớp học để đăng

ký Bên cạnh đó, phần lớn các Chi cục khi tổ chức lớp học cũng không có thông báo rộng rãi qua những kênh thông tin chính thức để người có nhu cầu biết và cân đối thời gian tham gia học Các chủ thể muốn có Giấy chứng nhận phải tự tìm hiểu, liên hệ thăm dò thời gian mở lớp nên rất bị động trong việc sắp xếp kế hoạch kinh doanh Một số trường hợp do không nắm được lịch và chờ quá lâu chưa có đợt mở lớp dẫn đến hết hạn Giấy chứng nhận thì phải tìm hiểu lịch đào tạo của các địa phương khác để đăng ký học, việc này gây khó khăn cho người học do khoảng cách địa lý và tăng chi phí tham dự

Bất hợp lý về quy định thời gian hiệu lực trên các Giấy chứng nhận

Sau khi hoàn thành khóa học bồi dưỡng về chuyên môn, kiến thức về thuốc BVTV, người tham gia lớp học với thời gian 03 tháng sẽ được cấp “Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV” có ghi rõ giá trị không thời hạn, người tham gia chương trình học 03 ngày sẽ được cấp “Giấy chứng

Trang 16

nhận tập huấn an toàn hóa chất BVTV” không ghi thời hạn giá trị là bao lâu4 Qua đó thể hiện pháp luật thiếu thống nhất trong cách ghi thông tin trên các Giấy chứng nhận này, việc không ghi rõ thời hạn dẫn đến người được cấp giấy không xác định được kiến thức mình đã được trang bị sẽ được công nhận đến khi nào, có cần tái đào tạo sau một thời gian nhất định hay không Đồng thời, sự không rõ ràng và thiếu đồng nhất cách ghi này có khả năng dẫn đến sự mâu thuẫn trong cách hiểu và áp dụng luật khi các cơ quan chức năng kiểm tra điều kiện kinh doanh của các chủ thể Nếu hiểu rằng giấy chỉ có giá trị trong một thời gian thì không có căn cứ quy định pháp luật, nếu chọn hướng giấy này giá trị vô thời hạn (theo suy lý do không nêu ngày hết hạn) thì sẽ dẫn tới thắc mắc

vì sao trên giấy cấp cho người học 03 tháng lại nêu rõ giá trị không thời hạn Đứng về góc độ người áp dụng pháp luật, tác giả không xác định được đây là do lỗi ban hành biểu mẫu của cơ quan soạn thảo hay là sự cố ý để mở của pháp luật, trao cho các cơ quan thanh kiểm tra quyền áp dụng tùy nghi theo quan điểm

Về mức độ hợp lý của thời hạn giá trị trên 2 loại Giấy chứng nhận đã được bồi dưỡng, tập huấn về thuốc BVTV cũng cần xem xét lại Pháp luật đang quy định “Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV” có giá trị

vô thời hạn, nhưng nếu xét về lý do khi bắt buộc chủ thể phải trải qua lớp bồi dưỡng này thì thời hạn nêu trên đã không đảm bảo cho mục đích điều chỉnh của luật Bởi lẽ, luật yêu cầu chủ thể kinh doanh tham gia lớp bồi dưỡng này để được trang bị các kiến thức cần thiết phục vụ trực tiếp cho quá trình buôn bán thuốc BVTV, từ đó nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật chuyên ngành, tuân thủ các quy định chuyên môn khi tiếp xúc, quản lý thuốc, giảm thiểu được các rủi ro mất an toàn cho chính họ và cho xã hội Nội dung đào tạo bao gồm các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ khi buôn bán thuốc, xử lý

vi phạm hành chính, cách đọc nhãn thuốc là các vấn đề hoàn toàn có thể thay đổi theo sự điều chỉnh của pháp luật liên quan Như vậy, nếu chỉ đào tạo một lần và có giá trị vĩnh viễn thì các kiến thức đó hoàn toàn có thể bị lỗi thời, chủ thể kinh doanh không có cơ hội cập nhật quy định mới, chưa kể việc trải qua thời gian quá lâu không được nhắc lại thì khả năng quên kiến thức cũng có thể

4 Quy định thời hạn thể hiện trên Biểu mẫu Giấy chứng nhận tại Phụ lục số XXII đính kèm Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT ngày 08/6/2015 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT

Trang 17

xảy ra Đối với “Giấy chứng nhận tập huấn an toàn hóa chất BVTV” do chưa xác định rõ thời hạn giá trị nên tạm thời chưa bình luận chi tiết về mức độ phù hợp này

Đối với Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc BVTV và Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV thì Điều 66 Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 quy định rõ là có giá trị trong thời hạn 05 năm Đây là quy định khá khác biệt so với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện khác, bởi lẽ hầu như các Giấy chứng nhận đủ điều kiện nhằm mục đích xác nhận chủ thể được cấp giấy đã đáp ứng đủ các yêu cầu của pháp luật để tham gia kinh doanh ngành nghề đó Việc duy trì tuân thủ điều kiện kinh doanh là trách nhiệm của chủ thể kinh doanh và sẽ chịu sự kiểm soát tuân thủ định kỳ hoặc đột xuất của các cơ quan chức năng có liên quan, nếu phát hiện không còn đáp ứng điều kiện thì sẽ phải khắc phục trong thời hạn cho phép hoặc bị thu hồi Giấy chứng nhận Ngay cả trường hợp pháp luật thay đổi điều kiện đối với ngành nghề kinh doanh, cơ quan quản lý vẫn không bắt buộc các doanh nghiệp phải làm thủ tục thay đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh mà cho phép doanh nghiệp có thời gian để hoàn thiện theo điều kiện mới và vẫn sử dụng Giấy chứng nhận đã được cấp, doanh nghiệp chỉ bị thu hồi giấy nếu sau thời gian này vẫn chưa đáp ứng điều kiện mới và bị cơ quan thanh tra phát hiện.5

Thực tiễn, các chủ thể sản xuất hay buôn bán thuốc BVTV vẫn chịu sự thanh kiểm tra của Chi cục BVTV/Chi cục TT&BVTV, Sở Tài nguyên & Môi trường trong quá trình kinh doanh và vẫn có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận

đủ điều kiện sản xuất/buôn bán thuốc BVTV khi phát hiện không còn đáp ứng các yêu cầu theo quy định Như vậy, việc quy định thời hạn của Giấy chứng nhận này hoàn toàn không thể hiện được ý nghĩa gì để phát huy hiệu quả kiểm soát tính tuân thủ điều kiện kinh doanh của các chủ thể Ngược lại, đây là quy định gây cản trở một cách không cần thiết quá trình tự do kinh doanh của họ Các chủ thể phải tốn thời gian và chi phí để thực hiện hồ sơ xin cấp lại Giấy chứng nhận khi đến hạn, tốn lệ phí cấp giấy và trường hợp không kịp thời thực

5 Khoản 1 Điều 78 Luật du lịch số 09/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 quy định chuyển tiếp:

“Doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải làm thủ tục đổi giấy phép, nhưng phải bảo đảm đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”

Trang 18

hiện thủ tục thì có nguy cơ bị xử phạt do giấy phép đã hết hạn, trong khi việc hết hạn trên giấy không hề gây nguy hiểm cho xã hội và dù giấy phép còn hạn cũng không chắc chắn được là hành vi kinh doanh của chủ thể đó đang tuân thủ 100% các quy định

Qua phân tích trên, tác giả cho rằng pháp luật đang quy định tùy tiện

về thời hạn trên các loại Giấy chứng nhận cấp cho chủ thể kinh doanh thuốc BVTV, không thể hiện được mục đích điều chỉnh của Nhà nước đối với hoạt động này nhưng lại tạo ra sự phức tạp trong các thủ tục hành chính

(hoặc cao đẳng, đại học) chuyên ngành về BVTV, hóa học, nông học, sinh học

Việc xem xét cụ thể ngành nghề có phù hợp hay không sẽ do Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV quyết định khi xét duyệt hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh, vì đây là đơn vị quản lý chuyên môn nên có thể nhận định được nội dung đào tạo có đáp ứng yêu cầu hay không và có thể cập nhật linh hoạt theo sự điều chỉnh của các cơ sở giáo dục

Bổ sung quy định điều chỉnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng nghiệp

vụ về thuốc bảo vệ thực vật

Để khắc phục tình trạng tùy nghi tại một số Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện thì pháp luật cần can thiệp nhiều hơn, ban hành khung quy định về thời gian và cách thức thông báo lịch tổ chức lớp để người có nhu cầu tham dự có thể chủ động sắp xếp kế

Trang 19

hoạch của họ Từ đó hạn chế được sự lãng phí thời gian, chi phí cũng như giảm được các tiêu cực có thể xảy ra nhằm có được Giấy chứng nhận năng lực kịp thời với nhu cầu phát sinh Cụ thể, cần có quy định khoảng thời gian tối đa sẽ có tổ chức một đợt đào tạo tại mỗi Chi cục và kế hoạch mở lớp hoặc không mở lớp (do không đạt số lượng đăng ký tối thiểu hoặc lý do chính đáng khác) cần được thông báo trước bao nhiêu ngày Bên cạnh đó, cũng cần quy định các thông tin này phải được thông báo trên các kênh thông tin đảm bảo cho người dân dễ tiếp cận, bao gồm niêm yết công khai tại Chi cục BVTV hoặc Chi cục TT&BVTV, tại các trạm BVTV (cấp huyện) và đăng trên website hành chính hoặc website của Chi cục BVTV/Chi cục TT&BVTV (nếu có) của tỉnh/thành phố Khi đó, các chủ thể kinh doanh thuốc BVTV sẽ có quyền đồng thời là nghĩa vụ chủ động nắm bắt thông tin, tự rà soát và đăng ký tham dự các lớp bồi dưỡng để đảm bảo luôn đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định

Điều chỉnh quy định về thời hạn giá trị của các Giấy chứng nhận

Trước hết, người viết cho rằng pháp luật cần bỏ quy định giới hạn thời gian hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán/sản xuất thuốc BVTV Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên thì quy định này chỉ gây ra sự lãng phí thời gian

và chi phí của cả cơ quan quản lý và chủ thể kinh doanh mà không đem lại hiệu quả thiết thực Việc duy trì đảm bảo luôn đáp ứng các điều kiện kinh doanh đã quy định tại thời điểm cấp phép và bổ sung các năng lực khác nếu có thay đổi quy định pháp luật, sẽ do mỗi chủ thể tự giác thực hiện và giao cho các cơ quan hậu kiểm trách nhiệm giám sát, nhắc nhở hoặc thu hồi giấy đối với chủ thể không tuân thủ

Về thời hạn giá trị của 2 loại Giấy chứng nhận bồi dưỡng/huấn luyện chuyên môn về thuốc BVTV, người viết cho rằng cần có giới hạn thời gian nhất định để đảm bảo chủ thể kinh doanh được cập nhật các thay đổi trong quy định pháp luật, các tiến triển về khoa học kỹ thuật trong quản lý sử dụng thuốc, nhắc nhớ lại kiến thức cơ bản để quá trình kinh doanh được hiệu quả và đảm bảo tuân thủ pháp luật Bên cạnh đó, cũng cần có quy định tham gia lớp đào tạo bổ sung đối với các chủ thể đã được miễn tham gia lớp bồi dưỡng/huấn luyện chuyên môn vì đã có trình độ chuyên ngành phù hợp Nội dung đào tạo này mục đích cập nhật các quy định mới điều chỉnh nên sẽ bắt buộc tham gia theo định kỳ, tương ứng với thời hạn giá trị của Giấy chứng nhận bồi dưỡng cho các chủ thể phải tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn thuốc BVTV, đồng thời người đã có bằng

Trang 20

cấp chuyên môn tốt nghiệp đã quá lâu, khoảng thời gian từ khi tốt nghiệp đã vượt quá thời hạn giá trị của “Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn thuốc BVTV” thì cũng cần trải qua lớp đào tạo bổ sung trước khi được cấp “Giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh thuốc BVTV”

Tính đồng nhất về cách thức thể hiện thông tin trên các biểu mẫu được điều chỉnh bởi cùng một văn bản quy phạm pháp luật là cần thiết để người áp dụng hiểu rõ mục đích điều chỉnh của quy định, thống nhất về cách lý giải và xử

lý thông tin giữa các chủ thể khi thi hành pháp luật Do vậy, cần điều chỉnh lại mẫu “Giấy chứng nhận tập huấn an toàn hóa chất BVTV”, ghi rõ thời hạn giá trị,

kể cả đây là giấy có giá trị vô thời hạn thì phải hiển thị trực tiếp thông tin này trên giấy

1.2 Điều kiện về cơ sở vật chất trong kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật

1.2.1 Quy định của pháp luật

Cũng như yêu cầu về nhân lực, pháp luật có quy định khác nhau về điều kiện cơ sở vật chất đối với nhóm chủ thể sản xuất thuốc BVTV và nhóm chủ thể buôn bán thuốc BVTV

Đối với nhóm chủ thể sản xuất thuốc BVTV, quy định tại Khoản 1 Điều 1

Nghị định 123/2018/NĐ-CP yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Nhà xưởng, kho bảo quản thuốc BVTV phải được bố trí trong khu công nghiệp và đảm bảo yêu cầu của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển

- Thiết bị, dây chuyền sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật, sản xuất thuốc thành phẩm từ thuốc kỹ thuật và đóng gói thuốc BVTV phải đáp ứng quy trình, công nghệ sản xuất và đạt yêu cầu về an toàn theo quy định tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển

- Hệ thống xử lý chất thải rắn, khí thải, nước thải phải đáp ứng quy định pháp luật và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; QCVN 19:2009/BTNMT về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 20:2009/BTNMT về khí thải công nghiệp đối với

Trang 21

một số chất hữu cơ; QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp

- Có phòng thử nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm đã được đăng ký, chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa Trường hợp không có phòng thử nghiệm thì phải có hợp đồng kiểm tra chất lượng với phòng thử nghiệm đã được đăng ký, chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với mỗi lô sản phẩm xuất xưởng

- Có hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 hoặc tương đương do các tổ chức chứng nhận đã được đăng ký theo quy định của pháp luật

về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp cấp

Đối với nhóm chủ thể buôn bán thuốc BVTV, Khoản 2 Điều 1 Nghị định

123/2018/NĐ-CP quy định phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Địa điểm cửa hàng buôn bán thuốc BVTV tách biệt với khu vực dịch

vụ ăn uống, trường học, bệnh viện; khi xây dựng phải cách nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước) tối thiểu 20 m

- Kho thuốc BVTV: Đối với cơ sở bán buôn, kho thuốc BVTV phải đảm

bảo yêu cầu của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển; đối với cơ sở bán lẻ, kho thuốc BVTV phải xây dựng cách nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước) tối thiểu 20

m và có kệ kê hàng cao tối thiểu 10 cm so với mặt sàn, cách tường tối thiểu 20 cm

Tóm lại, khi tham gia sản xuất, buôn bán thuốc BVTV thì chủ thể kinh doanh bắt buộc phải tuân thủ hàng loạt điều kiện tối thiểu về vị trí địa lý và có đủ các trang thiết bị cần thiết, sắp xếp trưng bày và vận hành theo quy định Bên cạnh hình thức liệt kê trực tiếp thì quy định còn dẫn chiếu đến hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn quốc gia, thể hiện được sự đồng nhất với các quy định pháp luật liên quan cũng như tăng tính chặt chẽ, chi tiết Vì vậy, theo tác giả thì các quy định này đã đảm bảo được yêu cầu bao quát của pháp luật, có đủ các quy phạm cần thiết để điều chỉnh các vấn đề phát sinh, tuy nhiên về kỹ thuật diễn đạt nội dung thì cần hoàn thiện hơn

1.2.2 Một số vướng mắc trong quá trình thực thi

Trang 22

Pháp luật quy định chưa rõ về khái niệm “tách biệt” với một số khu vực trọng điểm dẫn đến hạn chế hiệu quả điều chỉnh của luật

Trong khi các yêu cầu về cơ sở vật chất mà chủ thể sản xuất thuốc BVTV phải đáp ứng được pháp luật quy định khá chặt chẽ, chi tiết với các dẫn chiếu đến các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phần yêu cầu đặt ra cho chủ thể buôn bán thuốc BVTV lại khá đơn giản Tuy nhiên, chính sự ngắn gọn trong quy định dẫn đến hạn chế là nội dung chưa rõ nghĩa, việc áp dụng trong thực tế chưa

có chuẩn đồng nhất giữa các địa phương, các cá nhân/tổ chức khác nhau tham gia buôn bán thuốc Cụ thể, trong Luật kiểm dịch và BVTV năm 2013 và các nghị định hướng dẫn, sửa đổi qua các lần đều đề cập đến quy định cửa hàng buôn bán thuốc BVTV phải tách biệt với khu vực dịch vụ ăn uống, trường học, bệnh viện nhưng các văn bản này đều không có định nghĩa thế nào là “tách biệt” Do vậy,

sự nhập nhằng khi áp dụng pháp luật để xét đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV

đã xảy ra Vấn đề quy định chưa rõ ràng này của Nghị định 66/2016/NĐ-CP cũng

đã được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng nội dung còn bất cập trong văn bản gửi Vụ Pháp chế - Bộ NN&PTNT: “VCCI cho rằng, các cụm từ “cách biệt”, “nơi thường xuyên tập trung đông người”, “nhà máy thải bụi và hoá chất độc hại” là những khái niệm định tính, không rõ ràng Doanh nghiệp và cơ quan quản lý sẽ không có cơ sở khách quan để xác định các khái niệm này, từ đó dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình áp dụng pháp luật, thậm chí cả những nguy cơ tham nhũng, tiêu cực”6

Mục đích của quy định này đặt ra để bảo vệ sức khỏe cho dân cư, hạn chế tối đa sự ảnh hưởng của các yếu tố độc hại trong thuốc BVTV có thể xâm hại qua tiếp xúc trực tiếp, qua không khí, các vật trung gian Vì không có quy định khoảng cách cụ thể, nên tùy vào quan điểm của từng Chi cục BVTV, thậm chí là tùy quan điểm của các thành viên đoàn thẩm định cấp phép, mà nhận định địa điểm đặt cửa hàng buôn bán thuốc có hoặc không tách biệt với các đối tượng theo quy định Cơ quan quản lý có thể cho rằng cửa hàng cần đặt ở nơi có khoảng cách ước lượng đủ xa để sự phát tán thông thường của thuốc BVTV không tác động tới, và khoảng cách này cũng do kinh nghiệm, nhận định chủ quan của cơ

6 Thành Đạt, “VCCI chỉ ra nhiều bất cập trong nghị định về đầu tư, kinh doanh nông nghiệp”, http://thegioihoinhap.vn/nong-nghiep-4-0/doi-moi-2-0/vcci-chi-ra-nhieu-bat-cap-trong-nghi-dinh-ve-dau-tu- kinh-doanh-nong-nghiep, truy cập ngày 10/10/2019

Trang 23

quan quản lý Cũng không loại trừ phát sinh cách hiểu không giáp ranh thì có thể xem là tách biệt và thực tế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện cho các chủ thể đặt cửa hàng chỉ cách khu hàng quán thức ăn một vài căn nhà, lô kinh doanh Hoặc các cửa hàng chỉ tách biệt với các đối tượng quy định bởi 1 con đường nông thôn

có chiều ngang chưa tới 10 met, cửa hàng nằm đối diện với cơ sở bán thức ăn vẫn xem là đã tách biệt, dù mùi thuốc BVTV rò rỉ vẫn có thể nhận biết được Chính

sự không rõ ràng trong quy định này đã dẫn đến khó khăn cho cơ quan quản lý và cho cả chủ thể kinh doanh Khi quy định chưa đầy đủ và nhất quán cách hiểu thì việc xảy ra các tiêu cực trong quá trình áp dụng sẽ là điều khó tránh khỏi Ngoài

ra, nhà làm luật quy định cửa hàng tách biệt khu dịch vụ ăn uống nhưng lại chưa

dự liệu trường hợp chủ thể kinh doanh kết hợp cửa hàng đặt tại gia đình, khi đó các thành viên trong gia đình sinh hoạt, chế biến thức ăn ngay kế cận khu vực này thì mức độ ảnh hưởng rất cao Tất nhiên, bản thân chủ thể kinh doanh thông thường sẽ tự ý thức để bảo vệ sức khỏe, nhưng không loại trừ việc do mức độ nhận thức chưa cao, do tự tin mình bảo quản thuốc tốt hoặc do sự hấp dẫn của lợi nhuận mang lại mà họ sẽ không tự cách ly ở mức độ an toàn Thiết nghĩ, vai trò của pháp luật cần có tính bao quát và bảo vệ cho mọi công dân, nên đây là một điểm thiếu sót cần xem xét bổ sung

Vấn đề thay đổi quy định về diện tích khoảng cách an toàn giữa địa điểm kinh doanh với nguồn nước: thiếu quy định hướng xử lý đối với đơn vị

đã được cấp phép

Luật kiểm dịch và BVTV chỉ yêu cầu chủ thể buôn bán thuốc BVTV phải

có kho thuốc đúng quy định, còn các yêu cầu chi tiết thì được trao quyền cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành Qua quá trình áp dụng, các quy định này đã có

sự điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn, nhưng vấn đề đặt ra là sự liền mạch

và xử lý chuyển tiếp quy định chưa chặt chẽ và hợp lý

Theo Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 14/2013/TT-BNNPTNT ngày 25/02/2013 do Bộ NN&PTNT ban hành có hiệu lực từ ngày 11/4/2013 thì cửa hàng buôn bán thuốc BVTV phải có diện tích tối thiểu 5 mét vuông và cách xa nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch) ít nhất khoảng 10 mét Có rất nhiều cửa hàng

đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện và thực hiện hoạt động buôn bán khi thỏa các yêu cầu tối thiểu vừa nêu Thông tư này được áp dụng cho đến khi bị thay thế bởi Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV do Bộ NN&PTNT ban hành ngày 08/6/2015 có hiệu lực từ ngày 01/8/2015 Quy định

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Thành Đạt, “VCCI chỉ ra nhiều bất cập trong nghị định về đầu tư, kinh doanh nông nghiệp”,http://thegioihoinhap.vn/nong-nghiep-4-0/doi-moi-2-0/vcci-chi-ra-nhieu-bat-cap-trong-nghi-dinh-ve-dau-tu-kinh-doanh-nong-nghiep, truy cập ngày 10/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VCCI chỉ ra nhiều bất cập trong nghị định về đầu tư, kinh doanh nông nghiệp
15. “Quy định đăng ký thuốc bảo vệ thực vật gây bất lợi cho DN?”, http://m.vcci.com.vn/quy-dinh-dang-ky-thuoc-bao-ve-thuc-vat-gay-bat-loi-cho-dn, truy cập ngày 05/11/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định đăng ký thuốc bảo vệ thực vật gây bất lợi cho DN
16. “Kiến nghị gỡ vướng về quy định phân tích mẫu hàng hóa”, http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Kien-nghi-go-vuong-ve-quy-dinh-phan-tich-mau-hang-hoa/344981.vgp, truy cập ngày 20/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến nghị gỡ vướng về quy định phân tích mẫu hàng hóa
17. Nguyễn Dương, “Phải coi thuốc bảo vệ thực vật là hàng hóa đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ”,https://dantri.com.vn/suc-khoe/phai-coi-thuoc-bao-ve-thuc-vat-la-hang-hoa-dac-biet-kiem-soat-chat-che-20181018163929822.htm,truycậpngày20/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải coi thuốc bảo vệ thực vật là hàng hóa đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ
18. Minh Phượng, “Loại bỏ một số thuốc bảo vệ thực vật: Doanh nghiệp đối mặt nhiều rủi ro?”,https://baomoi.com/loai-bo-mot-so-thuoc-bao-ve-thuc-vat-doanh-nghiep-doi-mat-nhieu-rui-ro/c/28300927.epi, truy cập ngày 20/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại bỏ một số thuốc bảo vệ thực vật: Doanh nghiệp đối mặt nhiều rủi ro
3. Nghị định số 104/2009/NĐ-CP ngày 09/11/2009 của Chính phủ quy định danh mục hàng nguy hiểm và vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Khác
4. Nghị định số 14/2015/NĐ-CP ngày 13/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường sắt Khác
5. Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng, nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm Khác
6. Nghị định số 123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp Khác
7. Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường Khác
8. Thông tư số 14/2013/TT-BNNPTNT ngày 25/02/2013 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Khác
9. Thông tư số 21/2015/BNNPTNT ngày 08/6/2015 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quản lý thuốc bảo vệ thực vật Khác
10. Thông tư số 12/2017/TT-BKHCN ngày 28/9/2017 của Bộ Khoa học và công nghệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường Khác
11. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển do Bộ Khoa học và công nghệ ban hành ngày 04/12/2002B. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
12. Nguyễn Quốc Dũng (năm 2017), Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công, Học viện hành chính quốc gia Khác
13. Hà Việt Hưng (năm 2017), Pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, luận văn thạc sĩ Luật kinh tế, Viện Đại Học Mở Hà Nội.Tài liệu từ internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w