Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước đang phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũng ngay lập t
Trang 1VILAYVONG SONEPHET
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3Các số liệu và tư liệu trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VILAYVONG SONEPHET
Trang 4Được sự phân công của khoa Sau Đại học - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS Phan Anh Tuấn tôi
đã thực hiện đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật hình sự nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Phan Anh Tuấn đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo Tòa án Nhân dân Tối cao nước CHDCND Lào, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Savannakhet, Tòa án nhân dân tỉnh Savannakhet cùng bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song thiếu sót là điều không thể tránh khỏi Rất mong nhân được sự đóng góp của quý Thầy, Cô và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
VILAYVONG SONEPHET
Trang 6Bảng 2.1: Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giai đoạn 2015 – 2019 trong tình hình tội phạm chung ở CHDCND Lào 34
Bảng 2.2: Hệ số tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh SaVanNaKhet 35
Bảng 2.3: Tình hình truy tố và xét xử các vụ án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh SaVanNakhet từ năm 2015 - 2019 35
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 9 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9
1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9 1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 11 1.1.3 Hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 18
1.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Lào với một số tội phạm khác 18
1.2.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 19 1.2.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sản 20 1.2.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng quyền lực chiếm đoạt tài sản 21
1.3 Quy định của pháp luật hình sự Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các Bộ luật hình sự 23
1.3.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự Lào năm 1990
23
1.3.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 2005 25 1.3.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 2017 27
Trang 8Kết luận Chương 1 33 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 34 2.1 Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2015 - 2019 34 2.2 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 36 2.3 Thực tiễn định khung hình phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 40 2.4 Thực tiễn quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp xử lý hình
sự khác đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 45 2.5 Những vướng mắc, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Lào 47 Kết luận Chương 2 51 CHƯƠNG 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 52 3.1 Các yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 52 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 55
3.2.1 Biện pháp về pháp luật hình sự 56 3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình
sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 61
Kết luận Chương 3 68 KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Tài sản và quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền quan trọng luôn được pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng bảo vệ và tránh sự xâm hại của các hành vi phạm tội Trong các hình thái xã hội khác nhau, Nhà nước đều sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của con người và hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của con người đều bị áp dụng những hình thức trách nhiệm pháp lý nhất định như: Trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm hoàn trả vật, tài sản trong pháp luật dân sự hay điều tra, truy tố, xét
xử một người khi họ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu ở mức độ nghiêm trọng Thời gian qua các tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước, tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu diễn biến theo chiều hướng gia tăng, đây là loại tội phạm xảy
ra thường xuyên, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước đang phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũng ngay lập tức phù hợp với thực trạng nền kinh tế, do đó tình hình tội phạm có nhiều biến đổi, đặc biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, chiếm đoạt tài sản có giá trị rất lớn, có những vụ án chiếm đoạt hàng chục tỷ kíp của nhà nước, có nhiều trường hợp lợi dụng việc giao kết hợp đồng đầu tư, hợp đồng vay vốn hoặc sử dụng công nghệ khoa học tiên tiến
về vi tính, tin học để làm thẻ tín dụng giả, tìm kiếm mật mã số tài khoản của người khác… nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Bộ luật hình sự do Nhà nước ban hành quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định các chế tài tương ứng nhằm trừng trị và giáo dục đối với người phạm tội cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với toàn xã hội nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của mọi tổ chức và lợi ích của công dân, góp phần duy trì trật tự trị an xã hội Tuy nhiên trong từng điều luật cụ thể các nhà làm luật chỉ có thể quy định các dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất của một cấu thành tội phạm, trong khi trên thực tế tội phạm xảy ra với muôn hình muôn
Trang 10vẻ, vô cùng đa dạng và phức tạp, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng vậy, chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự bởi những dấu hiệu đặc trưng nhất Mặt khác, về phương diện lập pháp, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự CHDCND Lào cũng đã qua nhiều lần sửa đổi, gần đây nhất được quy định thống nhất tại Điều 233 Bộ luật hình sự năm 2017, quy định về các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa
và lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Do
đó việc nghiên cứu làm sáng rõ nội dung pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 233 Bộ luật hình sự năm 2017, thực trạng và các biện pháp đấu tranh phòng ngừa thích hợp là điều rất quan trọng, nhằm góp phần áp dụng pháp luật một cách đúng đắn khi xử lý người phạm tội, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi
và tiến tới loại bỏ tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng trong xã hội hiện nay
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào " để làm luận
văn cao học luật
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
* Về các tài liệu liên quan đến đề tài ở Việt Nam có thể kể đến như:
- Nhóm thứ nhất: Các Giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo như:
Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam-
Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật
TP.HCM (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM; Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam-Phần Các tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học
Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (Chủ biên)
(2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội
Những giáo trình nêu trên có nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo tài sản Đây là tài liệu quan trọng cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Trang 11- Nhóm thứ hai, các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có liên quan đến đề
tài như:
Phạm Quang Phúc (2008), “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân
trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Luận án Tiến sỹ luật
học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
Nguyễn Giang Nam (2005), “Điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
thông qua hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh của lực lượng cảnh sát nhân dân và một số giải pháp nâng cao hiệu quả”, Luận văn
Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân;
Trương Thị Đông (2015), Định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội;
Trần Thị Phương Hiên (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Trường Đại
học quốc gia Hà Nội;
Dương Thị Ngọc Thủy (2008), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật
Tp Hồ Chí Minh
Các luận án, luận văn này, nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới các góc độ khác nhau và ở các địa phương khác nhau ở Việt Nam là tài liệu quan trọng cho tác giả tham khảo xây dựng phần lý luận cũng như cách thức thực hiện nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
- Nhóm thứ ba, các bài báo có liên quan đến đề tài có thể kể đến như: (1) Lê Đăng Doanh (2004), “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến lĩnh vực hoàn
thuế giá trị gia tăng”, Tòa án nhân dân, Số 22, tr.27-29; (2) Lê Đăng Doanh
(2004), “Tội lừa dối khách hàng (điều 162) trong mối quan hệ với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản (điều 139 BLHS)”, Tòa án nhân dân, Số 22, tr.11-14; (3) Lê
Đăng Doanh (2005), “Phân biệt tội trốn thuế (Đ 161) (trong lĩnh vực thuế giá trị
gia tăng) với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Đ139 BLHS)”, Tòa án nhân dân, Số
16, tr.28-31; (4) Lê Đăng Doanh (2005), “Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản( Đ139 BLHS ) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều
Trang 12140 BLHS)”, Tòa án nhân dân, Số 24, tr.06-10; (5) Phạm Dương Thu, Dương
Tuyết Miên (2005), “Hành vi mua và bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng phạm tội
gì”, Tòa án nhân dân, Số 13, tr.23-28; (6) Trần Công Phàn (2006), “Phân biệt tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong các
trường hợp có liên quan đến vi phạm hợp đồng”, Kiểm sát, Số 20, tr 3 – 8; (7) Mai Bộ (2007), “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Tòa án nhân dân, 6/2007, Số 12,
Tr.6-12; (8) Phan Văn Lãng (2009), “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt
động ngân hàng”, Ngân hàng, Số 20, tr.30-36; (9) Lê Quang Thành (2015), “Hoàn
thiện pháp luật trong phòng ngừa đấu tranh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật, Số 7 (327),
tr 53-58; (10) Phạm Thị Hồng Đào (2015), “Nguyễn Văn V chỉ phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 139 BLHS”, Tòa án nhân dân, Số 16, tr.40-43; (11) Võ Hải Phương (2015), “Một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến nhóm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội " lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản" trên địa bàn tỉnh Tiền Giang”, Kiểm sát, Số 19, tr 14-18; (12) Lê Quang
Thắng (2018), “Bình luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 174
Bộ luật hình sự năm 2015”, Kiểm sát, Số 11, tr 47 – 51 v.v…
Các bài viết trên các tạp chí đã nêu lên nội dung là dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự Việt Nam về tội này Các tài liệu này có ý nghĩa tham khảo
cho luận văn để làm rõ hơn những vấn đề lý luận và pháp lý của Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự nước CHDCND Lào
* Các tại liêu liên quan đến đề tài tại nước CHDCND Lào có thể kể đến như:
- Trường Cao đẳng Luật khu vực miền Trung (2005), Giáo trình Luật hình
sự Lào-phần các tội phạm, NXB Bộ Tư pháp, Viêng Chăn Tài liệu này phân
tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan giúp cho tác giả hiểu một cách khái quát về dấu hiệu pháp lý tội này để làm nền tảng cho việc nghiên cứu Luận văn
- Một số công trình nghiên cứu, bài viết khoa học, trong các tập Bình luận khoa học về luật hình sự, các Luận văn Thạc sĩ của nhiều tác giả như: PS ViengVi Lay Thiêng Chan Xay, SutTaChom MaNiChan
Trang 13- Kham May PhimMaSane (2016), Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản công dân trên địa bàn tỉnh Champasak, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung, các tác giả đã đề cập khá sâu sắc và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS của CHDCND Lào
Những kết quả nghiên cứu trên đây đã gợi mở, cung cấp thông tin tham khảo phong phú, hỗ trợ học viên trong quá thực thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
đề tài của luận văn Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự của nước CHDCND Lào còn rất hạn chế
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề nêu trên, luận văn sẽ xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất, kiến nghị các quan điểm
và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở CHDCND Lào trong thời gian tới, bảo vệ tốt hơn tài sản của nhân dân và xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự của CHDCND Lào, đánh giá thực trạng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lào trong thời gian qua, từ đó đề ra một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Lào nhằm đấu tranh, phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích và làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 233 Bộ luật hình sự năm 2017 của nước CHDCND Lào; đồng thời phân tích và so sánh các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan như: tội trộm cắp tài sản, tội lợi dụng quyền
Trang 14hạn chiếm đoạt tài sản, tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản…để làm rõ
thêm cách nhận biết các dấu hiệu pháp lý của tội phạm
- Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của Lào từ năm 1990 đến nay, qua
đó để có một cách nhìn khái quát về quá trình phát triển của quy định này, phục
vụ cho các đề xuất sửa đổi, bổ sung tội phạm này và các tội phạm khác có liên
- Đánh giá áp dụng pháp luật hình sự tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng Làm rõ những thiếu sót, vướng mắc trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là nguyên nhân và điều kiện phạm tội
nói trên
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, qua đó góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn đối với loại hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống loại tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của công dân và của mọi tổ chức xã
hội, xây dựng một xã hội an toàn, lành mạnh mang tính nhân văn cao
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của Bộ luật hình sự Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở CHDCND Lào
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy
định, áp dụng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Lào dưới góc
độ luật hình sự
- Phạm vi về thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng quy định về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản từ năm 2015 đến năm 2019
- Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu thông qua các bản án đã
xét xử tại các tòa án của nước CHDCND Lào
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về tội phạm, hình phạt, về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu Luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như:
- Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát triển của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Lào từ năm 1990 đến nay
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng để làm rõ tình hình xử lý hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để làm rõ những vấn đề chung và những hạn chế, vướng mắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Phương pháp so sánh: được tác giả sử dụng để làm rõ những điểm giống
và khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác có liên quan và đối chiếu quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Lào với luật hình sự của Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị
cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc hoàn thiện hơn quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này tại tỉnh SaVanNaKhet
Trang 16Những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lực lượng tham gia phòng, chống loại tội phạm này không những ở CHDCND Lào nói chung mà còn có thể áp dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố có
điều kiện tương tự nói riêng
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo và cho những người quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đế lý luận và pháp luật hình sự về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản theo Luật hình sự nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bộ luật hình sự Lào năm 2017 quy định 17 điều tại Chương V về các tội xâm phạm sở hữu Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các
tội xâm phạm sở hữu như sau: "Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân" 1
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội phạm này, vì vậy khái niệm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa mãn các dấu hiệu đặc thù riêng Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản người khác bằng thủ đoạn gian dối Tuy nhiên khái niệm trên mới chỉ để cập đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở khía cạnh khái quát nhất
Theo quy định tại Điều 233 Bộ Luật Hình sự Lào năm 2017 thì tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:
“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì
bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm và bị phạt tiền từ 5.000.000 kíp đến 20.000.000 kíp
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: vi phạm nhiều lần, có tổ chức hay gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 03 năm đến 08 năm và bị phạt tiền từ 10.00.000 kíp đến 50.000.000 kíp
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự” 2
Chúng ta thấy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội
Bộ Tư pháp, Viêng Chăn, tr.128
Trang 18phải sử dụng thủ đoạn gian dối, làm cho người bị hại tưởng giả là thật, tự nguyện đưa tài sản cho kẻ phạm tội
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm
sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể lời bằng nói hoặc hành động khiến người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trong giữ tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tự nguyện giao tài sải cho người phạm tội
Điều 11 BLHS Cộng hòa Dân chủ nhân Lào quy định về khái niệm tội phạm như sau:
“Mọi hành động hoặc không hành động gây nguy hiểm cho chế độ chính trị, kinh tế hoặc xã hội CHDCND Lào; cho sở hữu của nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân, tính mạng, sức khỏe, danh dự, quyền, tự do công dân, sự bình yên của đất nước hoặc trật tự an toàn xã hội được quy định trong luật hình sự hoặc các luật khác của CHDCND Lào mà được quy định hình phạt được coi là tội phạm” 3
Từ qui định tại Điều 233 và Điều 6 Bộ luật hình sự Lào, có thể hiểu khái
niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội bằng thủ
đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của người khác
Từ khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản này, có thể nhận thấy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự CHDCND Lào có một số đặc điểm chung của tội phạm như sau:
- Thứ nhất, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quan hệ sở hữu của người khác
- Thứ hai, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong luật hình sự CHDCND Lào
- Thứ ba, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý
- Thứ tư, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị có thể bị áp dụng hình phạt Tuy nhiên khái niệm trên chỉ khái quát về tội phạm, muốn hiểu cặn kẽ về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải xem xét qua các dấu hiệu pháp lý đặc trưng
Trang 19bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình
sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tội phạm là một hiện tượng xã hội – pháp lý Xét về bản chất pháp lý, tội phạm là một loại vi phạm pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự coi là tội phạm Để có thể nhận thức được sự tồn tại của tội phạm và những ảnh hưởng của nó đối với xã hội, hay nói cách khác là để đánh giá diễn biến của tình hình tội phạm, cũng như để phân biệt và xác định ranh giới giữa hành vi phạm tội và hành vi không phạm tội, chúng ta cần dựa vào các quy định chuẩn mực của pháp luật hình sự về tội phạm Như vậy, cơ sở đầu tiên để xác định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là các quy định pháp luật hình sự Lào
về ở phần các tội phạm, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là các quyền sở hữu về tài sản không phân biệt tài sản đó thuộc hình thức sở hữu nào Đây là quan điểm mới trong Bộ luật hình sự năm 2017 thể hiện quan điểm của nhà nước sẽ bảo vệ công bằng đối với các hình thức sở hữu khác nhau Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các hình thức sở hữu gồm: (1) Sở hữu nhà nước; (2) Sở hữu tập thể; (3) Sở hữu
tư nhân; (4) Sở hữu chung; (5) Sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội; (6) Sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
Trang 20Các quyền sở hữu mà tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản
Với hành vi phạm tội của mình, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
đã làm cho người có trách nhiệm quản lý đối với tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được những quyến đó đối với tài sản Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu, còn trong trường hợp người phạm tội lừa đảo gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo hành
vi tương ứng đó
Như vậy pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Nhưng hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp của người khác vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sở hữu có đối tượng tác động cụ thể đó là tài sản Tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, vì những gì không thuộc về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Vì thế, không phải mọi trường hợp của quyền tài sản đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, xuất phát từ tính năng, công dụng đặc biệt của tài sản mà một số tài sản không thể được coi là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của hành vi phạm tội khác: Ví dụ: tài nguyên rừng, công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các chất ma túy, các loại vũ khí quân dụng
* Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm, không
có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm, do vậy cũng không có tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của
Trang 21tội phạm, trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất, các biểu hiện khác như hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện… cũng chỉ thể hiện khi có hành vi khách quan Vì vậy việc nghiên cứu những yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài của tội phạm, trong
đó hành vi khách quan là dấu hiệu luôn bắt buộc phải có trong mọi tội phạm Các biểu hiện khác như hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện… cũng chỉ thể hiện khi có hành vi khách quan
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Hành vi khách quan
Hành vi khách quan tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối (biểu hiện cụ thể dưới hình thức hành vi lừa dối)
+ Thủ đoạn gian dối là (hành vi) cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố: Thứ nhất, đó là hành vi đưa ra những thông tin gian dối Hành vi này thể hiện là hành động có chủ đích của người phạm tội Hành vi này có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động hoặc những biểu hiện khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc như nói có thành không, ít thành nhiều, xấu thành tốt, giả thành thật Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạm tội Khi giao tài sản, chủ tài sản không biết mình bị lừa dối Họ
có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt vẫn dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn xử lý về tội này
Trong trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối nhưng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tài sản, mà người phạm tội phải dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà sẽ cấu thành tội chiếm đoạt có hành vi tương ứng Nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm
Trang 22lẫn, không tự nguyện trao tài sản và người phạm tội cũng không có hành động chiếm đoạt nào khác thì có thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
Xét về mặt khách quan thủ đoạn gian dối là (hành vi) đưa ra những thông tin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật Thủ đoạn để thực hiện rất đa dạng có thể qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả, hoặc qua những việc làm cụ thể…
+ Hành vi chiếm đoạt tài sản
Hành vi chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đó là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm
Hành vi chiếm đoạt tài sản có các đặc điểm sau: (1) Chiếm đoạt tài sản là hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đồng thời làm cho người chiếm đoạt có được các quyền này; (2) Tài sản là đối tượng tác động của các hành vi chiếm đoạt phải còn nằm trong sự quản ý của chủ sở hữu; (3) Hành vi chiếm đoạt được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp
- Hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ
xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trong cấu thành tội phạm có phản ánh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội Trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc tội phạm chưa đạt, hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân chưa xảy ra vẫn có thể xử lý hình sự về tội này
Hậu quả của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 23Điều 233 BLHS năm 2017 của CHDCND Lào không quy định hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại bao nhiêu Tuy nhiên, dựa vào quy định tại khoản 2 Điều 11 BLHS quy định về khái niệm tội phạm:
“Mọi hành động hoặc không hành động mà có đủ dấu hiệu của một tội phạm nhưng gây thiệt hại dưới một triệu kíp sẽ không bị coi là tội phạm trừ trường hợp tái phạm hoặc mang tính chuyên nghiệp” 4
Vì vậy, có thể suy ra trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì giá trị tài sản bị thiệt hại ở mức 1 triệu kíp là mức nguy hiểm đáng kể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Cụ thể nếu tài sản bị thiệt hại có giá trị từ 1 triệu kíp trở lên luôn cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị thiệt hại có giá trị dưới 1 triệu kíp thì phải kèm dấu hiệu tái phạm hoặc phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp
Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân có ý nghĩa rất quan trọng việc xác định trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc quyết định hình phạt
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ phải xác định hậu quả
là giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn đòi hỏi làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hậu quả đó Bởi vì, con người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của mình gây ra
Mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và hậu quả tội phạm có đặc điểm như sau: (1) Hành vi chiếm đoạt phải diễn ra trước hậu quả; (2) Hành vi chiếm đoạt với thủ đoạn gian dối là cơ sở chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành tội phạm vật chất Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được được tài sản, tức là và thời điểm chủ sở hữu hay người quản lý tài sản đã giao tài sản và người phạm tội đã nhận được tài sản và có khả năng thực tế chiếm giữ, sử dụng hoặc định đoạt tài sản đó
Trang 24Theo qui định tại Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2017 thì độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 18 tuổi trở lên (không phân biệt loại tội phạm)
Do đó, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn độ tuổi là từ đủ
18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Người dưới 18 tuổi dù có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì chưa đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên có thể phải chịu những biện pháp khác ngoài các chế tài hình sự để giáo dục
Do chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không
có sự ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ nước CHDCND Lào Trừ một số người được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao
Khi nghiên cứu về chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần phải chú ý đến đặc điểm nhân thân của người phạm tội như: nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa, đời sống kinh tế, ý thức pháp luật, tiền án, tiền sự… Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như các biện pháp xử lý hình sự phù hợp với nhân thân người phạm tội
* Mặt chủ quan
Tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan Nếu mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
Trang 25Điều 233 BLHS năm 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội, tuy nhiên xét theo bản chất và tính chất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp
Trong luật hình sự nước CHDCND Lào, nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Theo nguyên tắc này, luật hình sự nước Lào không chấp nhận việc “quy tội khách quan”, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ
Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện:
- Về lý trí:
Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác, nhận thức rõ những thủ đoạn đưa ra là hoàn toàn không có thật, nhằm làm người khác tin đó là sự thật Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa dối
đã có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác5
- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối đưa đến kết quả là chiếm đoạt được tài sản của người khác
Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội:
Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong muốn chiếm đoạt được tài sản Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi phạm tội Có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, người phạm tội có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
có thể có nhiều động cơ khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, có thể để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân, do tham lam… và đó là động cơ tư lợi
5 Trường Đại học CSND (1990), Giáo trình luật hình sự Lào phần chung, Nxb Bộ Tư pháp, Viêng Chăn, tr 29
Trang 26Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội không có ý nghĩa đối với việc định tội danh do không được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản, chúng chỉ có ý nghĩa trong quyết định hình phạt.
1.1.3 Hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
- Khung cơ bản: được quy định ở khoản 1 Điều 233 Luật hình sự: người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị áp dụng phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm và bị phạt tiền từ 5.000.000 kíp đến 20.000.000 kíp
- Khung tăng nặng: được quy định ở khoản 2 Điều 233 Luật hình sự, quy
định chế tài lựa chọn từ 3 năm đến 8 năm và bị phạt tiền từ 10.00.000 kíp đến 50.000.000 kíp khi có một trong các tình tiết định khung tăng nặng: vi phạm nhiều lần, có tổ chức; gây hậu quả nghiêm trọng
1.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Lào với một số tội phạm khác
Mỗi tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự thông thường có dấu hiệu pháp lý khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế có những tội phạm xảy ra có dấu hiệu pháp lý rất khó phân biệt Chính điều này đã gây nhầm lẫn cho các co quan tiến hành tố tụng khi nhận biết, đánh giá trong quá trình điều tra, xét xử
Khi quyết định khởi tố một vụ án, khởi tố một bị can đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi chiếm đoạt cần được làm rõ và cần có sự phân biệt với các hành vi có dấu hiệu tương tự Để việc áp dụng thống nhất và việc định tội tại điều luật này được chính xác, tránh hình sự làm oan người vô tội, cần thiết phải làm rõ: thế nào là hành vi chiếm đoạt (biểu hiện); cách chứng minh ý thức chiếm đoạt Nếu việc đánh giá của các cơ quan tố tụng về tính chất pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật trong các giao dịch kinh tế thiếu chính xác, nhận thức sai bản chất của hành vi chiếm đoạt, thì có thể truy tố người đó về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, làm oan người vô tội Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội rất quan trọng, vì đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của tội danh này Dấu hiệu chủ quan này phải được đánh giá thông qua những hành vi khách quan Khi không có cái nhìn toàn diện
về những biểu hiện của hành vi khách quan, các cơ quan tiến hành tố tụng rất dễ đánh giá sai bản chất pháp lý của hành vi phạm tội
Trang 271.2.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trong BLHS năm 2017 thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 234 như sau:
“Người nào lợi dụng lòng tin để biển thủ, cắt xén hoặc tráo đổi tài sản được giao giữ hoặc với mục đích nào khác thì sẽ bị phạt tù tù từ 3 tháng đến 3 năm và sẽ bị phạt 5.000.000 kíp đến 20.000.000 kíp
Phạm tội có tổ chức thì bị sẽ bị kết án từ ba đến tám năm tù và sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 kíp đến 50.000.000 kíp
Phạm tội chưa đạt cũng bị xử phạt” 6
Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố về khách thể, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm cơ bản giống nhau Tuy nhiên giữa hai tội có sự khác nhau về thời điểm thực hiện hành
vi lừa dối, cụ thể:
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được người phạm tội thực hiện trước thời điểm thực hiện sự giao kết, thỏa thuận Việc thực hiện sự giao kết, thỏa thuận trong trường hợp này là sau khi người phạm tội đã chiếm được lòng tin của người bị hại Như vậy hành vi lừa dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt, là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra, không có hành vi lừa dối thì không thể chiếm đoạt được tài sản
Ví dụ: PaMy nói với Kan là do mẹ bị bệnh nặng và vay Kan số tiền 5 triệu kíp để đưa mẹ đi cấp cứu, do Kan tin tưởng nên cho PaMy vay số tiền trên Sau khi nhận được tiền PaMy đã sử dụng số tiền đó để đánh bạc và bị thua, không có khả năng trả nợ cho Kan Qua vụ án trên ta có thể thấy rằng PaMy có hành vi lừa dối Kan làm cho Kan tin tưởng, sau đó Kan mới giao tài sản cho PaMy Như vậy, hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trước hành vi giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội Hành vi lừa dối là điều kiện
để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc giao nhận tài sản
là ngay thẳng thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như hợp đồng vay mượn,
Trang 28cho thuê, nhờ giữ hộ… do đó sau khi có được tài sản thông qua các hợp đồng, giao kết thì hành vi lừa dối mới xảy ra nhằm giữ lại tài sản đáng lẽ phải trả cho chủ tài sản Sau khi hết thời hạn vay mượn, cho thuê … nhưng người phạm tội
cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm phải chi trả tài sản, do đó hành
vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thực hiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội
Ví dụ: BounHan là bạn của Keo, ngày 10/11/2019 BounHan hỏi mượn chiếc xe mô tô của Keo để đi lại và hẹn 5 ngày sau sẽ trả, Keo đồng ý và giao xe cho BounHan Sau khi nhận được xe, BounHan đã sử dụng xe để tham gia đánh bạc và bị thua, do không có tiền trả nợ nên BounHan đã mang xe của Keo đi cầm
cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài, sau đó không có khả năng chuộc xe về trả cho Keo, sau 06 ngày BounHan nói với Keo là xe bị mất trộm Như vậy hành vi lừa dối của BounHan có sau hành vi BounHan nhận tài sản từ Keo, mục đích nói dối của BounHan là nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình (do BounHan đã mang xe đi cầm cố và không có khả năng chuộc xe về trả cho Keo)
Như vậy giữa tội lạm dụng tín dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau về thời điểm và mục đích của hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản Vì vậy để xác định người phạm tội thực hiện hành
vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải xem xét thời điểm giao nhận tài sản có hay không mục đích chiếm đoạt Nếu người phạm tội có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu tại thời điểm giao nhận tài sản người phạm tội chưa có hành vi gian dối, mà việc giao nhận được thực hiện một cách ngay thẳng nhưng sau khi có được tài sản thì người phạm tội mới
có hành vi gian dối nhằm che dấu việc chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 231 Bộ luật Hình sự Lào có nội dung như sau:
Trang 29“Người nào trộm cắp tài sản của người khác thành của mình thì bị phạt tù
từ 3 tháng đến 3 năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ và bị phạt tiền từ 1.000.000 kíp đến 5.000.000 kíp;
Trong trường hợp người phạm tội tài sản bằng cách khoét ngạch, phá hủy hàng rào, cửa, rương, tủ,… thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm và bị phạt tiền từ 3.000.000 kíp đến 10.000.000 kíp
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 8 năm và bị phạt tiền từ 5.000.000 kíp đến 15.000.000 kíp
a) Vi phạm nhiều lần;
b) Thực hiện có tổ chức
c) Gây hậu quả nghiêm trọng.” 7
Dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là thủ đoạn lén lút của người phạm tội, lợi dụng sơ hở của người bị hại để chiếm đoạt tài sản của họ Trộm cắp tài sản là một trong những tội xảy ra phổ biến trong nhóm tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu Đặc trưng là người phạm tội luôn có ý thức che giấu hành vi của mình khi thực hiện, cố gắng thực hiện hành vi bằng cách thức mà người bị hại không phát hiện ra Trong khi đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Như vậy, giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản khác nhau chủ yếu ở hành vi chiếm đoạt, còn các dấu hiệu khác như khách thể, mặt
khách quan, chủ thể, mặt chủ quan là giống nhau
1.2.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng quyền lực chiếm đoạt tài sản
Điều 359 (Chương X) BLHS năm 2017 của nước CHDCND Lào quy định:
“Cán bộ nào nếu dựa vào quyền lực, chức vụ, nhiệm vụ của mình để chiếm đoạt tài sản của nhà nước, tổ chức hoặc của cá nhân, thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm và bị phạt tiền từ 300.000 kíp đến 3.000.000 kíp
Trong trường hợp gây ra thiệt hại nghiêm trọng thì sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm và bị phạt tiền từ 1.000.000 kíp đến 5.000.000 kíp” 8
Trang 30
Hành vi khách quan của tội này là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thi hành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện ở các thủ đoạn sau: Lạm dụng quyền lực uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng quyền lực lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng quyền lực để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Như vậy, giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng quyền lực chiếm đoạt tài sản có những điểm khác nhau:
- Thứ nhất, về khách thể: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm sở hữu của người khác còn tội lạm dụng quyền lực chiếm đoạt tài sản thuộc Chương X (Các tội tham nhũng) của BLHS Lào năm 2017 – xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
- Thứ hai, về sử dụng quyền lực: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không có
sử dụng quyền lực nhà nước còn chủ thể của tội lạm dụng quyền lực chiếm đoạt tài sản sử dụng quyền lực nhà nước để chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
Việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thực chất là việc phân biệt trường hợp lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác
Cả hai trường hợp phạm tội trên đều được thực hiện bằng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, chỉ khác nhau ở cách thức thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau: Ở trường hợp lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc sử dụng chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có trong khi thi hành công vụ để lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác Đây là một trong số các tội phạm về chức vụ nên hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ
Ví dụ: Ông Kay là Trưởng bản, tuy không có thẩm quyền giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng TaNoi đã nói với TaNoi là mình có
Trang 31thẩm quyền và nhận của TaNoi số tiền 25.000.000 kíp để ký quyết định giao đất
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định
Ở trường hợp lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành
vi gian dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụ quyền hạn mà người phạm tội có để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của
họ Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng chức vụ quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn và dựa trên chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội
Ví dụ: ATy là điều tra viên huyện A, biết được vụ án KhamHung vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn do Công an tỉnh B đang thụ lý giải quyết ATy biết My là người nhà của KhamHung nên đã gọi điện thoại cho
My nói là mình được phân công giải quyết vụ án và có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho KhamHung với điều kiện My phải giao cho ATy số tiền 35.000.000 kíp, My đã tin tưởng và giao cho ATy số tiền 35.000.000 kíp
Trong tình huống trên ATy phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”
1.3 Quy định của pháp luật hình sự Lào về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các Bộ luật hình sự
1.3.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự Lào năm 1990
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự Lào năm 1990
được quy định với hai tội danh cụ thể tương ứng với hai hình thức sở hữu được quy định lúc đó là sở hữu nhà nước hoặc của chung và sở hữu tài sản công dân
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1990 thì tội xâm phạm sở hữu có kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đó Do đề cao sở hữu nhà nước và tập thể, chưa thật sự coi trọng đến sở hữu tư nhân nên trong giai đoạn này hành
vi xâm phạm tài sản Nhà nước luôn được coi là nghiêm trọng hơn xâm hại sở hữu tư nhân nên được các nhà lập pháp lúc bấy giờ quy định ở hai chương khác nhau Cụ thể: Chương IV là các tội xâm phạm sở hữu nhà nước hoặc của chung
và chương V là các tội xâm phạm sở hữu công dân Có sự quy định như vậy là vì
Trang 32Bộ luật hình sự 1990 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế của Lào lúc đó chỉ có hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Được quản lý và điều hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thống nhất từ trung ương đến cơ
sở Hai tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước hoặc của chung" và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân" cụ thể như sau:
Điều 100: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước hoặc của chung: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản nhà nước thì bị phạt
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự9
Còn ở chương V, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân chỉ quy định tôi phạm một cách chung chung: "kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm
đoạt tài sản riêng của công dân…" mà chưa có khung phạt tiền
Điều 111: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân
Kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm
a) Vi phạm nhiều lần;
b) Thực hiện có tổ chức
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự10
Trang 33
Về cơ bản hai tội trên đều có hành vi giống nhau đó là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý Thủ đoạn gian dối có thể bằng cách dùng mọi mánh khóe, bịp bợm, bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giả danh cán
bộ, giả mạo tổ chức, Làm cho người quản lý tài sản tin mà giao nhầm tài sản
đó cho người phạm tội Với những hành vi có cùng tính chất nhưng lại tác động lên đối tượng là hai loại tài sản khác nhau đó là tài sản nhà nước hoặc của chung
và tài sản của công dân nên được quy định thành hai tội khác nhau Tuy nhiên, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước hoặc của chung coi lừa đảo là một số hành vi gian dối cụ thể của những người trong khi giao dịch, mua bán với cơ quan nhà nước hay hợp tác xã đã cố ý dùng mánh khóe gian lận thông thường
như cân, đo, đong, đếm, tính sai hoặc bằng cách khác để chiếm đoạt tài sản
1.3.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 2005
Đây là giai đoạn CHDCND Lào đang trong quá trình đổi mới, hội nhập và đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội Nhằm giải phóng sức lao động, sáng tạo của các tầng lớp trong xã hội và phù hợp với giai đoạn đất nước chuyển mình, gia nhập vào đời sống kinh tế quốc tế đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và cần có quan điểm bình đẳng giữa sở hữu chung và sở hữu riêng Nhưng theo quy định của Bộ luật hình sự Lào năm 2005, các nhà lập pháp chưa nhập hai khách thể riêng được quy định tại Chương IV và Chương V của Bộ luật hình sự năm 1990 Việc phân định hai hình thức sở hữu để quy định thành hai khách thể bảo vệ độc lập là tài sản thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu của công dân dẫn đến việc định tội danh là rất khó và không chính xác, không đảm bảo quyền bình đẳng về sở hữu đối với các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường So với quy định của BLHS Lào năm 1990 thì các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã bổ sung thêm hình phạt tiền ở các khung hình phạt Cụ thể là:
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước bổ sung thêm phạt tiền trong khung cơ bản là từ 200.000 kíp đến 7.000.000 kíp và khung hình phạt bổ sung từ 5.000.000 kíp đến 15.000.000 kíp
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân bổ sung thêm phạt tiền trong khung cơ bản là từ 200.000 kíp đến 5.000.000 kíp và khung hình phạt bổ sung từ 500.000 kíp đến 10.000.000 kíp
Trang 34Như vậy mặc dù chưa nhập tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân vào một chương nhưng các khung hình phạt
đã bổ sung đã có sự thay đổi và phạt nặng hơn
Điều 100 (Chương IV): Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước hoặc của chung
Người nào bằng thủ đoạn gian dối để người chịu trách nhiệm tài sản của nhà nước hoặc của chung; hoặc người khác đưa tài sản cho mình thì bị phạt tù
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự 11
Điều 120 ( Chương V) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân
Kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm và bị phạt tiền từ 200.000 kíp đến 5.000.000 kíp;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm và bị phạt tiền từ 500.000 kíp đến 10.000.000 kíp
a) Vi phạm nhiều lần;
b) Thực hiện có tổ chức
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự 12
Các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS Lào năm 2005, sau hơn 10 năm thi hành đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy
Trang 35
nhiên còn bộc lộ bất cập, trong đó điểm đáng lưu ý là Bộ luật hình sự 2005 chưa thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp Trong khi sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải là công cụ pháp lý nhằm thúc đẩy và bảo vệ cho các nền kinh tế phát triển Mặt khác, bên cạnh xu hướng chung hội nhập quốc tế, có lẽ đã đến lúc cần nghiên cứu lại chính sách hình sự đối với một số loại tội phạm cụ thể, nhất là khi chúng ta đã áp dụng một thời gian khá dài chính sách hình sự khá nghiêm khắc (hình phạt tử hình) nhưng tình hình tội phạm không hề giảm mà người lại, loại tội phạm này còn có tính chất gia tăng và quy mô ngày càng nghiêm trọng Điều này cho phép chúng ta nhận thấy rằng: dường như biện pháp trừng trị hà khắc không phải là liều thuốc hữu hiệu để có thể làm giảm loại tội phạm này mà cần hướng đến một biện pháp khác làm triệt tiêu động lực và điều kiện phạm tội Bộ luật hình
sự 2005 đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với những yếu kém trong quản lý kinh tế của nhà nước là cơ hội để tội phạm lừa đảo phát triển Đây là những hồi chuông cảnh tỉnh cho các cơ quan Nhà nước trong việc kịp thời hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế để nhằm ngăn chặn các hành vi nguy hiểm này Theo đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được sửa đổi hai nội dung cơ bản: một là, sửa đổi mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này là tăng mức từ không bị phạt tiền theo quy định của
Bộ luật hình sự năm 1990 lên mức từ 200.000 kíp đến 7.000.000 kíp đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước ; từ 200.000 kíp đến 5.000.000 kíp đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân Sự thay đổi này cho chúng ta thấy chính sách hình sự của Nhà nước về loại tội phạm này một lần nữa lại có sự thay đổi cho phù hợp với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, thể hiện rõ quan điểm giảm nhẹ hình phạt có tính hà khắc đối với người phạm tội
1.3.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự Lào năm 2017
BLHS năm 2017 ra đời, trên cơ sở chuyển hóa các quy định của Hiến pháp năm 2015 về bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước và của công dân, kế thừa những quy định của Bộ luật hình sự năm 2005 Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương V gồm 17 tội Việc quy
Trang 36định hình phạt xây dựng theo bảo đảm đối xử bình đẳng giữa chính sách xử lý hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước với hành vi xâm phạm tài sản của cá nhân theo tinh thần của Hiến pháp; tăng mức phạt tiền bổ sung đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu Do chính sách của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào trong thời kỳ đổi mới là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu khác nhau, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Để làm được điều này, Nhà nước chủ trường, thông qua hệ thống pháp luật bảo đảm là các thành phần kinh tế được đối xử và bảo vệ ngang bằng trước pháp luật Do đó, việc chia hai nhóm tội xâm hại quan hệ sở hữu tỏ ra không còn phù hợp vì điều này không phù hợp với bản chất của kinh tế thị trường - đòi hỏi một sự đối sử bình đẳng của các thành phần kinh tế cùng tham gia vào quá trình kinh tế Trước tình hình đó,
Bộ luật hình sự 2005 đã qua sửa đổi, bổ sung vẫn duy trì hai chương về các tội xâm phạm sở hữu nhà nước và các tội xâm phạm tài sản của công dân Mặt khác,
sự quy định hai nhóm tội xâm phạm đến hai loại quan hệ sở hữu khác nhau đã nảy sinh ra những bất cập Trong nhiều trường hợp, người phạm tội chỉ quan tâm đến tài sản và giá trị tài sản mà không quan tâm đến nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu nào, nên gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi xác định tội danh cho đối với người phạm tội Quan niệm về định tội danh theo ý thức chủ quan của người phạm tội, tuy giải quyết được một phần các vấn đề trước mắt là đáp ứng yêu cầu coi trọng bảo vệ sở hữu nhà nước, nhưng rõ ràng không đảm bảo tính khoa học, nhất là trong trường hợp không xác định được rõ ý thức chủ quan của người phạm tội hoặc trong trường hợp người phạm tội có sự lẫn lộn giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu riêng của công dân (cùng một hành vi xâm hại đến hai loại tài sản thuộc hai nhóm quan hệ sở hữu khác nhau) Để phù hợp với chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, Bộ luật hình sự 2017 đã ra đời và đã nhập hai chương của Bộ luật hình sự 2005 thành một chương với tên gọi "Các tội xâm phạm sở hữu”
Điều 233 ( Chương V) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm và bị phạt tiền từ 5.000.000 kíp đến 20.000.000 kíp;
Trang 37Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 8 năm và bị phạt tiền từ 10.00.000 kíp đến 50.000.000 kíp
a) Vi phạm nhiều lần;
b) Thực hiện có tổ chức
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự 13
Việc nhập hai tội: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước hoặc tài sản chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân thành một tội: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là điểm mới căn bản quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và nó cũng thể hiện tinh thần bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo Hiến pháp Lào năm 2015
Qua nghiên cứu lịch sử phát triển quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước CHDCND Lào cho thấy: các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn thay đổi cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong từng giai đoạn lịch sử và ngày càng hoàn thiện hơn, đảm bảo hơn các yêu cầu của các nguyên tắc của luật hình sự
1.4 So sánh quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Lào với Bộ luật hình sự của Việt Nam
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Nhìn một cách tổng quát, BLHS năm 2015 có nhiều nội dung đổi mới, bao quát cả phần những quy định chung lẫn phần các tội phạm cụ thể, trong đó có những nội dung mang tính đột phá trên tinh thần đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về chính sách hình sự, về vấn đề tội phạm và hình phạt Bộ luật đã phản ánh được những yêu cầu, đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước và cũng là mong đợi của đông đảo quần chúng nhân dân
BLHS Việt Nam năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển ở mức cao hơn những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta
Trang 38từ năm 1945 đến nay, nhất là của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bộ luật tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, phòng ngừa BLHS
năm 2015 gồm 26 chương, 426 điều (tăng 02 chương và 72 điều so với BLHS
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn
vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
Trang 393 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản 14
Bộ luật Hình sự Lào năm 2017 đã có sự sửa đổi bổ sung các Bộ luật trước cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, các tội các tội xâm phạm sở
hữu nhà nước hoặc của chung ở chương IV và các tội xâm phạm sở hữu công
dân ở chương V đã được nhập vào một chương là chương V- các tội xâm phạm quyền sở hữu BLHS Lào năm 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Điều 233 ( Chương V) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm và bị phạt tiền từ 5.000.000 kíp đến 20.000.000 kíp;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 8 năm và bị phạt tiền từ 10.00.000 kíp đến 50.000.000 kíp
a) Vi phạm nhiều lần;
b) Thực hiện có tổ chức
c) Gây hậu quả nghiêm trọng
Phạm tội chưa đạt cũng phải chịu trách nhiệm hình sự 15
Trang 40
Như vậy, giữa Điều 174 BLHS Việt Nam và Điều 233 BLHS Lào quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có những điểm giống nhau và khác nhau như sau:
- Thứ nhất, Bộ luật Hình sự Lào năm 2017 và Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 đã có sự tương đồng trong việc quy định các tội về xâm phạm quyền
sở hữu: không phân biệt các tội xâm phạm sở hữu của nhà nước, của chung với
sở sữu của cá nhân
- Thứ hai, nhưng các khung hình phạt tăng nặng trong Bộ luật hình sự Việt Nam cụ thể ở từng mức độ hơn so với Bộ luật hình sự Lào Cụ thể: Điều 233 BLHS Lào quy định 2 khung hình phạt (1 khung cơ bản, 1 khung tăng nặng); trong khi đó Điều 174 BLHS Việt Nam quy định 4 khung hình phạt (1 khung cơ bản và 3 khung tăng nặng) với các tình tiết định khung mà Điều 233 BLHS Lào không có như: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức”;“Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”, “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 BLHS Việt Nam quy định chi tiết hơn và phân hóa hơn so với quy định tại Điều 233 BLHS Lào Đây cũng là một trong những căn cứ tham khảo để hoàn thiện quy định tại Điều 233 BLHS Lào năm 2017
- Thứ ba, Điều 233 BLHS Lào quy định: “Phạm tội chưa đạt cũng phải
chịu trách nhiệm hình sự” còn Điều 174 BLHS Việt Nam không quy định
trường hợp này có nghĩa là mặc nhiên hiểu rằng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung về phạm tội chưa
đạt tại Điều 15 BLHS Việt Nam năm 2015
Những điểm giống và khác nhau về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS Lào và BLHS Việt Nam sẽ giúp gợi ý ra những đề xuất để hoàn thiện quy định của BLHS Lào về quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản