1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam

108 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 20,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để định tội danh chính xác đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì không chỉ dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự mà còn phải dựa vào vào các văn bản khác c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN QUẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Luật học: “Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt

tài sản theo luật hình sự Việt Nam” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với

các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn

đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phan Anh Tuấn

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Quản

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI LỢI DỤNG, CHỨC VỤ QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM TỘI VỀ CHỨC VỤ

2.2 Những vướng mắc từ thực tiễn định tội danh khi áp dụng dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu 32

2.3 Giải pháp nhằm định tội danh đúng khi áp dụng dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” trong các tội xâm phạm sở hữu 36

Kết luận Chương 2 38 KẾT LUẬN 39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật thường xuyên của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Toà án để cụ thể hoá các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế Định tội danh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm cũng như góp phần thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước Định tội danh đúng là cơ sở để quyết định hình phạt đối với người phạm tội, đồng thời nó cũng là cơ sở để áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; áp dụng các quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự như trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trong những năm gần đây, các tội phạm về tham nhũng nói chung cũng như các hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản diễn ra khá phổ biến, không chỉ tăng về số lượng mà quy mô, tính chất, độ phức tạp cũng gia tăng Do sự phát triển của kinh tế thị trường và sự phát triển bùng nổ về khoa học công nghệ, nên đã nảy sinh nhiều dạng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản phi truyền thống, làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng khó nhận diện, lúng túng trong việc định tội danh Quan điểm, nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng không thống nhất làm cho vụ án bị kéo dài như phải nhiều lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Ngay trong cùng hệ thống cơ quan thì giữa cấp trên với cấp dưới cũng còn nhiều trường hợp nhận thức không thống nhất nên án bị hủy, sửa nhiều lần; cá biệt cũng có trường hợp bỏ lọt tội phạm do không định được tội danh cụ thể nên các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất không xử lý hình sự

Để định tội danh chính xác đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì không chỉ dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự mà còn phải dựa vào vào các văn bản khác có liên quan để xác định nhiệm vụ, quyền hạn

cụ thể của người có chức vụ quyền hạn; các quy định về tài sản là đối tượng tác động của nhóm hành vi này Tuy nhiên các quy định này hiện cũng chưa đồng bộ và thống nhất nên trên thực tiễn đã gặp nhiều vướng mắc trong định tội danh giữa các tội có ranh giới khó phân biệt, tranh chấp về tội danh như giữa các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (có tình tiết định khung tăng nặng là lợi dụng chức vụ quyền hạn) với tội tham ô hay tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt

Trang 7

tài sản; giữa các tội có yếu tố lợi dụng chức vụ quyền hạn cộng với hành vi chiếm đoạt tài sản với các tội cũng có yếu tố lợi dụng chức vụ quyền hạn nhưng không có hành vi chiếm đoạt tài sản như giữa tội tham ô với tội lập quỹ trái phép, tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội sử dụng trái phép tài sản (tình tiết định khung tăng nặng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn)

Trong Bộ luật hình sự 2015, khái niệm người có chức vụ, quyền hạn đã thay đổi so với Bộ luật hình sự 1999, theo hướng mở rộng đối tượng là người có chức

vụ, quyền hạn trong cả lĩnh kinh tế tư nhân, do vậy, cũng cần phải có sự nhận thức mới để áp dụng pháp luật cho đúng

Xuất phát từ thực tiễn và các quy định mới của pháp luật như trên, nên học

viên đã lựa chọn đề tài “Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền

hạn chiếm đoạt tài sản theo Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sỹ

Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài "Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền

hạn chiếm đoạt tài sản theo Luật hình sự Việt Nam" có nhiều công trình nghiên cứu,

có thể kể đến:

- Nhóm thứ nhất, các giáo trình luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật như:

(1) Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM; (2)

Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các

tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (3) Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội; (4) Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các

tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội; Các giáo trình này cung những kiến thức lý luận và quy định về các tội phạm có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản -làm cơ sở tham khảo cho luận văn nghiên cứu định tội danh giữa các tội này

- Nhóm thứ hai, các sách chuyên khảo liên quan đến đề tài như: (1) Võ

Khánh Vinh (2013) Lý luận chung về định tội danh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; (2) Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và quyết định hình phạt, NXB Công

an nhân dân, Hà Nội; (3)

Trang 8

Phạm Tuấn Bình (2003), Tìm hiểu các tội phạm về chức vụ, NXB Lao động,

Hà Nội; (4) Đinh Văn Quế (2004), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội

phạm- Các tội phạm về chức vụ, Tập 5, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố

Hồ Chí Minh; (6) Đinh Văn Quế (2019), Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015

Phần thứ hai, Các tội phạm Chương XV: Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; Chương XXII: Các tội phạm về chức vụ,

NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Các sách chuyên khảo này giúp cho việc nghiên cứu lý luận về định tội danh và quy định về các tội phạm có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đầy đủ và chính xác hơn

- Nhóm thứ ba, các Luận văn Thạc sỹ liên quan đến đề tài có thể kể đến như:

(1) Nguyễn Văn Sơn (2004), Vấn đề lợi dụng chức vụ quyền hạn phạm tội trong

luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí

Minh; (2) Tôn Trung Tuấn (2014), Định tội danh tham ô tài sản theo luật hình sự

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; (3)

Nguyễn Thị Thúy (2019), Tội tham ô tài sản theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Các luận văn này là tài liệu quan trọng cho tác giả tham khảo để có cách tiếp vận vấn đề định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng như gợi ý một số hướng nghiên cứu của luận văn

- Nhóm thứ tư, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về luật có liên quan đến đề tài như: (1) Trần Văn Độ (1993), “Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để phạm tội, Nhà nước và Pháp luật, Số 83, tr.28-31; (2) Võ Khánh Vinh (1996), “ Khái niệm người có chức vụ quyền hạn trong luật hình sự Việt Nam”, Nhà nước và

Pháp luật, Số 98, tr.36-43; (3) Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Yếu tố chức vụ, quyền

hạn trong các tội xâm phạm sở hữu”, Nhà nước và Pháp luật, Số 115, tr.22-28; (4)

Nguyễn Duy Giảng (2006), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội lợi dụng chức

vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, Kiểm sát, Số 22, tr.51-54; (5) Trương Bá Hùng (2006), Bàn về việc định tội tham ô tài sản trong giai đoạn hiện nay, Kiểm

sát, Số 22, tr.38-43; (6) Ngô Minh Hưng (2007), “Đồng phạm trong tội tham ô tài

sản, cũng phải là người có chức vụ, quyền hạn”, Tòa án nhân dân, Số 9, tr.42-44;

(7) Đỗ Đức Hồng Hà (2017), “Bình luận về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây

ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi”, Kiểm sát, Số 22, tr 42 – 49; (8) Lò Thị

Việt Hà (2017), “Về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy

Trang 9

định tại Điều 356 Bộ luật hình sự năm 2015”, Tòa án nhân dân, Số 22, tr 09 - 14,

48; (9) Nguyễn Xuân Yêm (2017), “Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật; Tội quy phạm quy định về giam giữ

trong Bộ luật hình sự năm 2015”, Kiểm sát, Số 23, tr 17 – 22; (10) Lò Thị Việt Hà

(2018), “Bình luận Điều 365 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng chức vụ,

quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, Tòa án nhân dân, Số 5, tr 1 – 2; Các bài viết nêu

trên nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ở nhiều khía cạnh khác nhau giúp gợi

ý cho tác giả những vấn đề còn vướng mắc về lý luận và thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu trong luận văn

Tuy có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề có liên quan đến định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhưng các công trình này phần lớn mang tính chất lý luận, chưa cập nhật các vướng mắc từ thực tiễn để giải quyết các vướng mắc này, do các công trình nghiên cứu này đã viết

từ các năm trước đây nên chưa phản ánh được các thay đổi quy định về các tội phạm của Bộ luật hình sự 2015 so với các Bộ luật hình sự trước đây những Đặc biệt là, chưa đưa ra các tiêu chí rõ ràng để phân biệt trong các trường hợp có tranh

chấp về định tội danh theo quy định của BLHS năm 2015 Do vậy, đề tài “Định tội

danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” còn nhiều

vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và có ý nghĩa thực tiễn ở thời điểm hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu quy định về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm của BLHS năm 2015, cũng như phân tích, đánh giá các vụ án thực tiễn để làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi đó, luận văn đưa ra một số giải pháp để định tội danh đúng đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích các quy định của pháp luật về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Trang 10

- Phân tích, đánh thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, qua đó chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc định tội danh đối với hành vi này và nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế đó

- Từ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng nên trên, đưa ra các giải pháp góp phần định tội danh đúng đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức

vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản chủ yếu ở các Chương các tội xâm phạm sở hữu và các tội phạm về chức vụ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

Đề tài này không nghiên cứu đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt một số tài sản có tính năng đặc biệt như các chất ma túy, tàu bay, tàu thủy

+ Về không gian: đề tài luận văn nghiên cứu định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước

+ Về thời gian: nghiên cứu thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các vụ án từ năm 2015 đến năm 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong Luận văn nhằm làm

rõ những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam

Trang 11

- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa các vụ án có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhưng có tranh chấp về tội danh

- Phương pháp bình luận án được sử dụng để bình luận các bản án trong thực tiễn xét xử vào nội dung đề tài nghiên cứu

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của Luận văn phải chỉ ra được những vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu và chức vụ theo luật hình sự Việt Nam, từ đó, đưa ra các kiến nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết các vướng mắc đó

Vì vậy, kết quả nghiên cứu trước hết giúp bản thân tác giả là Thẩm phán có được một sự nhìn nhận toàn diện, tư duy logic, khoa học trong thực tiễn định tội danh đối với nhóm hành vi này, đồng thời kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng để các cơ quan và người tiến hành tố tụng tham khảo, vận dụng trong thực tiễn cũng như để đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật

Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các học viên khác và cho những người có quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung của đề tài được kết cấu thành 02 chương như sau:

Chương 1 Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong

nhóm tội phạm về chức vụ

Chương 2 Định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong

các tội xâm phạm sở hữu

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI LỢI DỤNG, CHỨC VỤ QUYỀN HẠN

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM TỘI VỀ CHỨC VỤ

1.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ

Điều 352 Bộ luật hình sự đã đưa ra các khái niệm các tội phạm về chức vụ và người có chức vụ

Khoản 1: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động

đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”

Khái niệm trên đã chỉ ra khách thể bị các tội phạm này xâm hại là những quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức, cụ thể là các quan hệ bảo đảm tính liêm chính, tính vô tư và công minh trong hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức Mặc dù Luật không chỉ rõ các cơ quan tổ chức trong bộ máy nhà nước hay cả khu vực tư nhân nhưng bằng việc bổ sung đối tượng tác động của tội phạm chức vụ là hoạt động thực hiện “nhiệm vụ” bên cạnh hoạt động thực hiện “công vụ” đã khẳng định việc mở rộng phạm vi của tội phạm về chức vụ sang khu vực tư nên các cơ quan, tổ chức theo quy định nêu trên bao gồm cả tổ chức trong hay ngoài nhà nước như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang, tổ chức phi chính phủ….Đồng thời, quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, của tổ ngoài nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng có thể trở thành khách thể của các tội phạm về chức vụ

Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định trong phần giải thích từ ngữ:

Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước (sau đây gọi là cơ quan, tổ chức,

đơn vị) bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội (Khoản 9 Điều 2)

Trang 13

Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức

không thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này (Khoản 10 Điều 2)

Khái niệm người có chức vụ được quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự

“Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”

Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn cũng chính là quy định về chủ thể của tội phạm Việc làm rõ khái niệm người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của luật hình sự rất quan trọng trong khoa học luật hình sự, nhất là trong việc định tội danh, bởi trong nhiều trường hợp cùng có những biểu hiện ở mặt khách quan và chủ quan như nhau nhưng có trường hợp do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện,

có trường hợp không phải do người có chức vụ quyền hạn thực hiện, nên các hành

vi phạm tội cũng xâm phạm tới những khách thể khác nhau, dẫn đến các kết luận khác nhau về tội danh Như vậy, việc xác định chính xác người có chức vụ, quyền hạn giúp cho các cơ quan áp dụng pháp luật vận dụng đúng các quy phạm pháp luật hình sự vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Khái niệm người có chức quyền hạn được quy định tại Điều 352 Bộ luật hình

sự Khái niệm trên mới chỉ mức độ khái quát nhất, chưa quy định một cách cụ thể,

vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật gặp không ít khó khăn trong việc xác định thế nào là người có chức vụ quyền hạn

Ngoài việc quy định trong Bộ luật hình sự, thì “người có chức vụ, quyền hạn” còn được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng 2018

Khoản 2 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2018 ngoài việc đưa ra khái niệm “người có chức vụ, quyền hạn” như Bộ luật hình sự, còn quy định cụ thể người có chức vụ quyền hạn bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ

Trang 14

quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;

đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó

Thực tiễn xét xử thì người có chức vụ quyền hạn có thể là công chức, viên chức nhà nước hay không phải là công chức, viên chức nhà nước được giao một công vụ, nhiệm vụ nhất định, không phụ thuộc vào hình thức được giao Họ có thể

là người được bổ nhiệm, tuyển dụng, do hợp đồng, do dân cử hay do bất kỳ một hình thức nào khác, miễn là việc giao công vụ, nhiệm vụ này được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, những người được giao công vụ, nhiệm vụ đó có thể được hưởng lương hoặc không hưởng lương, có quyền năng nhất định khi thực hiện công

vụ, nhiệm vụ; có thể được giao công vụ, nhiệm vụ một cách thường xuyên hay theo thời vụ hay chỉ trong một thời gian ngắn như trường hợp thủ trưởng ủy quyền cho cấp dưới thực hiện công vụ của mình khi vắng mặt

Trong thực tiễn điều tra truy tố xét xử tội phạm về tham nhũng thì người có chức vụ, quyền hạn thường là:

Người đại diện chính quyền: Những người này khi thực hiện công vụ được giao không phải nhân danh cá nhân mình mà nhân danh nhà nước, đại diện và thực thi quyền lực nhà nước có quyền ra những quyết định mang tính cưỡng chế pháp lý đối với người khác

Người có chức vụ thực hiện chức năng tổ chức quản lý hành chính: Những người này giữ vai trò lãnh đạo, điều hành hoạt động của cơ quan, tổ chức, có quyền

ra những quyết định xử lý kỷ luật hay khen thưởng đối với nhân viên thuộc quyền,

có quyền điều hành hoạt động của cơ quan, tổ chức mình, đề ra những biện pháp để thực hiện các kế hoạch được giao, phân công nhiệm vụ cho nhân viên thuộc quyền,

có quyền tuyển dụng, bổ nhiệm vào cơ quan, tổ chức của mình, những người này còn có chức năng quản lý về mặt nhân sự, kiểm tra hoạt động của người khác như giám đốc đốc nhân viên, những người đứng đầu trong các tổ chức bí thư đoàn thanh niên, hội trưởng hội phụ nữ

Trang 15

Những người thực hiện chức năng hành chính, kinh tế những người này có vai trò tổ chức điều hành việc sản xuất kinh doanh có liên quan đến việc quản lý bảo vệ và phân phối tài sản như kế toán, thủ kho, thủ quỹ những người này thường

là không có nhân viên thuộc quyền

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Người phạm tội đã làm trái chức vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của mình như trong tội tham ô tài sản, người có chức

vụ cũng có thể làm trái công vụ, thực hiện những hành vi vượt quá thẩm quyền, công vụ, nhiệm vụ của mình như trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Chiếm đoạt tài sản: Trong Bộ luật hình sự không đưa ra khái niệm chiếm đoạt hay chiếm đoạt tài sản Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xét xử thì chiếm đoạt tài sản được hiểu là việc cố ý dịch chuyển một cách bất hợp pháp tài sản đang trong sự quản lý của người khác thành tài sản của mình

* Tài sản là đối tượng chiếm đoạt:

Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản:

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Khái niệm tài sản trong nhóm tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản không đồng nhất với khái niệm tài sản trong Bộ luật dân sự mà nó có nội hàm hẹp hơn nhiều

Đó là: Tài sản phải là vật có thực, hiện hữu (không phải tài sản hình thành trong tương lai), có thể cầm nắm, định đoạt được; tiền; giấy tờ có giá (có hai loại giấy tờ

có giá vô danh và giấy tờ có giá ghi danh, trong đó chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản) Các quyền tài sản (như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả…), bất động sản cũng không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản

Tài sản là đối tượng của hành vi chiếm đoạt phải hội đủ các điều kiện sau đây: Chủ sở hữu tài sản chưa từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản; tài sản phải là sản phẩm, kết quả lao động của con người, những sản có sẵn trong thiên nhiên, chưa có

sự đầu tư, tác động của con người thì cũng không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản

Trang 16

Trong giới hạn của chương các tội phạm về chức vụ, thì tài sản ngoài các đặc điểm nêu trên, còn phải là tài tài không có tính năng, công dụng đặc biệt (ma túy, vũ khí, tài nguyên…) những tài sản này nhà nước có chế độ quản lý riêng nên việc chiếm đoạt các tài sản này không phạm tội thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ, mà

có thể phạm các tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự

Trên cơ sở các khái niệm về chức vụ quyền hạn, lợi dụng chức vụ quyền hạn, chiếm đoạt tài sản, có thể hiểu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản như sau:

Lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ

là hành vi do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ đã sử dụng chức vụ, quyền hạn trong phạm vi hoặc vượt quá thẩm quyền của mình cố ý dịch chuyển một cách bất hợp pháp tài sản đang trong sự quản lý của người khác thành tài sản của mình qua đó xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

Đối chiếu với các dấu hiệu như đã phân tích trên với các quy định của Bộ luật hình sự 2015, thì trong nhóm các tội phạm về chức vụ có hai tội thoả mãn tất các các dấu hiệu trên (lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản) đó là tội tham ô tài sản (Điều 353) và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355)

Điều 353 Tội tham ô tài sản

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

truyền thống pháp lý hình sự từ trước đến nay: Người có chức vụ, quyền hạn trong

các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này

Trang 17

Điểm khác biệt lớn nhất và là đặc trưng của của tội tham ô tài sản để phân biệt với các tội phạm trong nhóm các tội phạm về chức vụ là chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, trách nhiệm này phát sinh do họ giữ một chức vụ hay được giao một công vụ, nhiệm vụ nhất định, có thể là quản lý tài sản về mặt thực tế như thủ kho, thủ quỹ hay là người quản lý trên giấy tờ, sổ sách như kế toán, có thể

là người quản lý chung, tức là người có quyền định đoạt tài sản như thủ trưởng cơ quan, đơn vị Những người tuy không có trách nhiệm chính trong việc quản lý tài sản nhưng do công việc được giao có tính chất độc lập nên nên cũng coi là có quan

hệ đến việc quản lý, ví dụ như lái xe được đơn vị giao cho việc vận chuyển hàng hóa mà không có người áp tải thì trong thời gian vận chuyển đó được xem là có trách nhiệm quản lý tài sản

Cần phân biệt trách nhiệm quản lý tài sản với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của những người làm công tác bảo vệ, họ chỉ có nghĩa vụ bảo vệ tài sản chứ không

có nghĩa vụ quản lý Tuy nhiên, cũng có trường hợp do đặc điểm của tài sản được bảo vệ mà họ có khả năng tiếp cận trực tiếp với tài sản thì họ được xem như người quản lý tạm thời đối với tài sản đó khi người quản lý vắng mặt

Người có chức vụ quyền hạn trong việc quản lý tài sản nhưng lại chiếm đoạt tài sản không do mình quản lý thì cũng không được coi là hành vi khách quan của tội tham ô tài sản Người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản nhưng việc chiếm đoạt tài sản không bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì cũng không phạm tội tham ô tài sản Ví dụ: kế toán lợi dụng sơ sở của thủ quỹ đã lén lút mở két lấy tiền

Điều 355 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1 Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến

Trang 18

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là trường hợp người có chức vụ quyền hạn thực hiện những hành vi rõ ràng vượt ra ngoài phạm vi thẩm quyền được giao nhưng có liên quan đến cương vị công tác hoặc là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã dựa vào uy quyền, uy thế do chức vụ mà có để đe dọa người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản Trong thực tế, hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thường được biểu hiện dưới các hình thức sau:

Người có chức vụ, quyền hạn đã dựa vào uy quyền, uy thế của mình đe dọa người khác nhằm chiếm đoạt tài sản người bị chiếm Người bị chiếm đoạt do sợ uy quyền của người có chức vụ, quyền hạn nên không dám chống lại Xét về mặt hình thức, tội này tương tự như tội cưỡng đoạt tài sản, điểm khác nhau cơ bản với tội cưỡng đoạt của tài sản là ở chỗ người phạm tội đã dựa vào uy quyền của mình để uy hiếp tinh thần người khác và người này bị uy hiếp tinh thần là do sợ uy quyền của người phạm tội

Người phạm tội đã sử dụng chức vụ quyền hạn của mình làm phương tiện để thực hiện hành vi gian dối, chủ tài sản do tin vào chức vụ, quyền hạn của người phạm tội nên mới dễ bị mắc lừa Người phạm tội chỉ có thể lừa dối và chiếm đoạt được tài sản khi có chức vụ, quyền hạn Ví dụ: Cán bộ xã tự đặt ra các khoản mà nhân dân phải đóng góp, nhân dân không hiểu biết lại tin vào cán bộ nên đã giao tài sản cho cán bộ và cán bộ này chiếm đoạt số tiền đó Như vậy, xét về thực chất, tội này có thể

có hình thức chiếm đoạt là lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Còn khái niệm định tội danh thì : “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận

về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể

đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy

1

Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9-10

Trang 19

- Vụ án thứ nhất:

Bản án số 07/2017/HSST ngày 24/02/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm tại Bản án số 477/2017/HSPT ngày 11/9/2017 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh)

* Nội dung vụ án:

Công ty Công trình giao thông Đồng Tháp là doanh nghiệp Nhà nước Năm

2003, Công ty phân công Nguyễn Thành Long làm chỉ huy trưởng công trình tuyến dân cư Để có đất san lấp công trình, Nguyễn Thành Long quan hệ các hộ dân gần công trình để mua đất san lấp, khi thỏa thuận với các hộ dân, Long đưa giá mua đất mặt 9.000đ/m2, nếu chuyển quyền sử dụng đất (bán đứt) thì mua với giá 14.000đ/m2 Sau khi thỏa thuận, các hộ dân không đồng ý bán đất mặt mà đồng ý bán với hình thức chuyển quyền sử dụng đất (bán đứt) giá từ 14.000đ/m2 - 15.000đ/m2 Tại thời điểm này, Long biết rõ công ty quy định chỉ mua đất mặt, khai thác xong trả đất (ao) lại cho bên bán nên để chiếm đoạt được diện tích đất ao mà không tốn tiền mua, Long đã thực hiện hành vi gian dối trong việc báo cáo nâng giá với Ban giám đốc công ty là giá mua đất mặt của các hộ dân với giá từ 14.000đ/m2

- 15.000đ/m2 Công ty thống nhất cho Long tiến hành mua đất mặt để san lấp với giá từ l4.000đ/m2 - 15.000đ/m2 Đồng thời, Công ty ký các Hợp đồng mua đất mặt với các hộ dân Trong nội dung hợp đồng đều thể hiện sau khi khai thác lớp đất mặt xong trả đất ao lại cho dân

Sau khi khai thác lớp đất mặt để san lấp công trình, Nguyễn Thành Long đã lập hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất ao mà công ty đã mua sang tên mình Những người bán đất do đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận nên đều đồng ý ký tên vào hồ sơ chuyển nhượng do Long lập sẵn Ngày 04/06/2003, Long được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối trong việc nâng giá mua đất mặt, Nguyễn Thành L đã chiếm đoạt diện tích 30.759m2 đất ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty

Ngày 13/8/2012 Nguyễn Thành L đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất chiếm đoạt với tổng diện tích 30.759m2 cho người khác

Tổng giá trị tài sản (đất ao diện tích 30.759m2, sau khi lấy đất mặt): là 184.554.000đ

Trang 20

Ngày 13/8/2012 Nguyễn Thành L đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất chiếm đoạt với tổng diện tích 30.759m2 cho ông Võ Văn Đ3 - Bí thư xã T9, huyện T giá

40.000đ/m2, tổng thành tiền 1.230.360.000 đồng

* Phần quyết định của bản án:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tham ô tài sản”

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 278; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46;

Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm tù

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:

Trong vụ án này, Tòa án nhận định: “Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối trong

việc nâng giá mua đất mặt, Nguyễn Thành L đã chiếm đoạt diện tích 30.759m2 đất

ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty.”, đã làm phát sinh một số vướng

mắc là: (1) Đối tượng của hành vi chiếm đoạt (nếu có) trong vụ án này là “diện tích

30.759m2 đất ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty; thành tiền là 184.554.000đ” hay là số tiền chênh lệch giữa giá mua đất mặt với giá mua đứt Nếu

là diện tích đất ao thì quyền sử dụng đất ao đó có là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội tham ô hay không? và Nguyễn Thành Long có hành vi chiếm

đoạt hay không? Công ty có bị thiệt hại hay không;?

- Vụ án thứ hai

Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2018 của

Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

* Nội dung vụ án:

Lê Vinh Chi là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Trong năm 2015, lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, ông Lê Vinh Chi cùng với ông Nguyễn Thanh Liêm (là công chức Địa chính-Xây dựng của xã Hàm Minh) đã bàn bạc và nhờ ông Trần Phi Hùng và ông Trương Văn Dự đứng tên giùm để làm hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) trên 02 thửa đất chưa sử dụng do UBND xã Hàm Minh quản lý

Cụ thể như sau:

Để thực hiện tiêu chí giảm nghèo (một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới), ông Lê Vinh Chi đề xuất phương án lấy quỹ đất của xã tại khu kinh tế Mũi Né thuộc thôn Minh Thành để cấp cho số hộ nghèo thiếu đất sản xuất của xã

Trang 21

Sau khi cho người phát dọn đất, Chi bàn bạc với Liêm nhờ lập khống hồ sơ để nhờ người khác đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Để làm thủ tục

đề nghị cấp giấy CNQSDĐ theo quy định, sau khi được ông Dự, ông Hùng cho mượn giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, Liêm bằng nghiệp vụ đã vẽ file số hình thể, diện tích và dùng máy định vị bấm toạ độ 02 thửa đất đề nghị cấp giấy CNQSDĐ rồi ông Liêm đến chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Hàm Thuận Nam chuyển các dữ liệu này cho ông Trần Hữu Thạnh, là Tổ trưởng Tổ đo đạc chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện và nhờ ông Thạnh lập giúp bản đồ trích đo địa chính 02 thửa đất Ông Thạnh không đi kiểm tra thực địa mà chỉ căn cứ vào các dữ liệu do ông Liêm cung cấp và đối chiếu với bản đồ tổng thể của xã Hàm Minh rồi biên tập bản đồ mảnh trích đo địa chính 02 khu đất gồm: khu đất đứng tên Trần Phi Hùng gồm diện tích 47.708m2 và khu đất đứng tên Trương Văn Dự gồm diện tích 41.594m2 Sau khi đã có bản đồ trích đo 02 thửa đất, Liêm tự làm, tự giả chữ ký của ông Hùng và ông Dự ký vào 02 đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất và 02 tờ khai lệ phí trước bạ nhà đất đứng tên Trần Phi Hùng và Trương Văn Dự; ngày 26/4/2015, ông Liêm tự lập phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của 02 thửa đất đề nghị cấp giấy CNQSDĐ; tiếp theo, ông Liêm tiến hành và lập biên bản việc công khai, kết thúc công khai các trường hợp đủ điều kiện cấp giấy CNQSDĐ theo đúng quy định rồi trình cho ông Chi ký xác nhận với tư cách là Chủ tịch UBND xã Hàm Minh vào tất cả các loại giấy tờ nêu trên để có cơ sở pháp lý trình đề nghị Chủ tịch UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ Sau đó, ông Liêm chuyển toàn bộ 02 hồ sơ đề nghị cấp giấy CNQSDĐ đứng tên Trần Phi Hùng và Trương Văn Dự cho bộ phận một cửa của xã để chuyển cho chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hàm Thuận Nam theo đúng trình

tự, thủ tục quy định

Ngày 03/8/2015, UBND huyện Hàm Thuận Nam có 02 giấy CNQSDĐ số CA.067416 cấp diện tích đất 47.708m2 đứng tên Trần Phi Hùng; giấy CNQSDĐ số

CA 067411 cấp diện tích 41.594m2 đứng tên Trương Văn Dự

Ông Liêm là người trực tiếp nhận 02 giấy CNQSDĐ trên rồi điện thoại báo cho ông Chi biết và mang về giao cho ông Trần Văn Quế cất giữ, không báo cho ông Hùng và ông Dự biết theo yêu cầu của ông Chi, do đó, ông Hùng và ông Dự hoàn toàn không biết gì về 02 giấy CNQSDĐ nói trên, không biết diện tích đất này

nằm ở đâu và cũng không tác động gì đến đất

Trang 22

Trong thời gian này, ông Chi xây nhà ở và ông Đặng Hữu Lợi là người nhận thầu (ông Lợi là bạn thân của ông Chi) Do không có tiền để trả tiền công và mua vật liệu cho ông Lợi nên ông Chi thống nhất cho ông Lợi lấy giấy CNQSDĐ (số CA067416) đứng tên Trần Phi Hùng chuyển nhượng cho ông Lợi để ông Lợi thế chấp vay ngân hàng lấy tiền chi trả các khoản chi phí trên Ngày 31/8/2015, theo yêu cầu của ông Lợi, ông Liêm đã nhờ ông Trần Phi Hùng cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh Linh đến Văn phòng công chứng huyện Hàm Thuận Nam ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho ông Đặng Hữu Lợi nhưng không nhận

khoản tiền nào của ông Lợi từ việc chuyển nhượng này

Sau một thời gian, chi phí xây nhà cho ông Chi lại tiếp tục thiếu, ông Lợi có báo với ông Chi thì ông Chi thống nhất giao giấy CNQSD đất (số CA067411) đứng tên Trương Văn Dự chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền xây nhà nên ông Lợi

đã nói với bạn của ông Lợi là bà Võ Bảo Giang thì bà Giang đồng ý nhận chuyển nhượng Ngày 27/11/2015, theo yêu cầu của ông Lợi, ông Liêm nhờ vợ chồng ông Trương Văn Dự đến Văn phòng công chứng huyện Hàm Thuận Nam ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho bà Võ Bảo Giang nhưng không nhận

khoản tiền nào của bà Giang từ việc chuyển nhượng này

Ngày 16/11/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Nam đã tiến hành định giá và kết luận: trị giá thửa đất cấp theo giấy CNQSDĐ số CA067416 là 954.160.000 đồng; trị giá thửa đất cấp theo giấy CNQSDĐ số CA067411 là 831.880.000 đồng Như vậy, tổng giá trị tài sản của 02 thửa đất nói trên là: 1.786.040.000 (một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu không trăm

bốn mươi ngàn) đồng

* Phần quyết định của bản án:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Vinh Chi phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong

khi thi hành công vụ”

Áp dụng: Khoản 3 Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999 (khoản 3 Điều 356

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)

Điểm b, v, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật

hình sự năm 2015

Xử phạt: Bị cáo Lê Vinh Chi 7 (Bảy) năm tù và bị cáo Nguyễn Thanh Liêm

04 năm tù

Trang 23

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án thứ nhất và thứ hai:

Trong vụ án thứ hai này có một số tình tiết lưu ý trong vụ án: (1) Lê Vĩnh Chi (chủ tịch xã) và Nguyễn Thanh Liêm (cán bộ địa chính xã) đều là người có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về đất đai (có trách nhiệm quản lý tài sản); (2) Các bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, lập khống hồ sơ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (3) Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo

đã chuyển nhượng cho người khác lấy tiền tiêu xài

Trong vụ án thứ nhất và thứ hai nêu trên, mặc dù có nhiều tình tiết không giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm tương đồng, đó là: Các bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất (cấp cho mình như ở vụ án thứ nhất, hoặc cấp đứng tên người khác như

ở vụ án thứ hai và người cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là người đứng tên giùm, không được lợi gì về tài sản do hành vi trái pháp luật của bị cáo), sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các bị cáo đã chuyển nhượng lại cho

người khác lấy tiền tiêu xài

Tuy có nhiều điểm tương đồng như vậy, nhưng việc định tội danh ở các Tòa

án lại khác nhau, có Tòa án định tội tham ô tài sản (Tòa án tỉnh Đồng Tháp), có Tòa

án lại định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Tòa án Hàm

Thuận Nam)

Điểm khác nhau cơ bản giữa hai tội phạm này là trong tội tham ô tài sản có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, trong tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản mà chỉ có dấu hiệu gây thiệt hại về tài sản, tức là hành vi của bị cáo gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, tổ chức nhưng bị

cáo không được hưởng lợi trực tiếp từ tài sản bị thiệt hại đó

Trong cả hai vụ án nêu trên, các bị cáo đều được hưởng lợi về tài sản sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất Như vậy, các bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản không, nếu có chiếm đoạt thì đối tượng chiếm đoạt là quyền sử dụng đất hay là tiền (tiền chênh lệch giữa giá mua đất mặt với giá chuyển quyền sử dụng đất hay là

số tiền định giá đối với quyền sử dụng đất ao trong vụ án thứ nhất hay giá trị quyền

sử dụng đất trong vụ án thứ hai)

Chúng tôi cho rằng, trong các tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, tài sản là tiền khi các bị cáo chiếm đoạt một số tiền nhất định (tức là có thể kiểm đếm được

Trang 24

mà không tiến hành định giá tài sản), nếu đối tượng tác động của tội phạm là vật thì tài sản phải chính là vật đó chứ không phải là tiền và để định tội danh cho chính xác

và giải quyết vấn đề dân sự thì phải tiến hành định giá vật thành tiền Trong hai vụ

án trên, đối tượng tác động của tội phạm là quyền sử dụng đất chứ không phải là tiền Do vậy, trong hai vụ án trên không thể kết luận các bị cáo đã chiếm đoạt tiền Vậy các bị cáo có chiếm đoạt quyền sử dụng đất không hay nói cách khác quyền sử

dụng đất có phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt hay không?

Như đã phân tích tại Mục 1.1 nêu trên, thì quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản (bởi việc công nhận ai là người có quyền

sử dụng đất chỉ là thủ tục hành chính, quyền sử dụng đất có thể từ người này chuyển sang người khác nhưng nó sẽ không tự sinh ra và không tự mất đi, chỉ có thể định đoạt về mặt pháp lý đối với quyền sử dụng đất) Và như vậy, trong hai vụ

án trên, các bị cáo không có hành vi chiếm đoạt tiền và cũng không thể xác định các

bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt quyền sử dụng đất thì chắc chắn không thể định tội danh trong các nhóm tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản là tham ô tài sản hay lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể định tội danh là lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356

Bộ luật hình sự) và coi giá trị quyền sử dụng đất mà bị cáo được hưởng lợi là thiệt hại cho nhà nước hoặc định tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo quy

định tại Điều 229 Bộ luật hình sự (khi không có động cơ vụ lợi)

- Vụ án thứ ba:

Bản án số: 92/2018/HSST ngày: 23/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã La

Gi, tỉnh Bình Thuận

* Nội dung vụ án:

Trần Văn Tuân là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã Tân Tiến, có nhiệm

vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng và Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến về việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở cơ sở; đăng ký quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự và dân quân tự vệ tại địa phương Đồng thời, Tuân còn được Ban chỉ huy quân sự thị xã La Gi phân công nhiệm vụ nhận tiền trợ cấp để giao cho lực lượng dân quân thường trực xã Tân Tiến và báo cáo kết quả chi trả về Ban chỉ huy quân sự thị xã La Gi

Theo Quyết định số 343/QĐ-CHT ngày 01/6/2009 của Chỉ huy trưởng quân

sự thị xã La Gi, về việc xây dựng tổ Dân quân thường trực sẵn sàng chiến đấu tại

Trang 25

địa bàn trọng điểm về chính trị, kinh tế, xã hội thì tại xã Tân Tiến, lực lượng dân quân thường trực, gồm 03 người: Lê Thu Nhân, Trương Hoàng Đông và Lê Trung Phương (ngoài ra danh sách lực lượng dân quân thường trực có sự thay đổi do một

số dân quân nghỉ, thực hiện nghĩa vụ quân sự nên phải bổ sung, thay thế), các dân quân nêu trên được hưởng trợ cấp hàng tháng

Thực hiện nhiệm vụ được giao, từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2016, Trần Văn Tuân đã nhiều lần nhận tiền chế độ của 03 dân quân thường trực xã Tân Tiến từ bộ phận tài vụ Ban chỉ huy quân sự thị xã La Gi, với tổng số tiền là 600.690.900 đồng Sau khi nhận tiền về, Tuân đã không công khai các văn bản về chế độ chính sách,

về trợ cấp ngày công cho lực lượng dân quân thường trực biết, cũng như số tiền lực lượng dân quân thường trực được nhận, mà Tuân tự ý chi cho lực lượng dân quân thường trực xã Tân Tiến (Trong đó, theo quy định chỉ được chi cho 03 người, nhưng có thời điểm Tuân đã chi cho 04, 06 hoặc 07 người), với tổng số tiền là 299.600.000 đồng

Ngoài ra, Tuân chi mua sắm các vật dụng sinh hoạt trong trụ sở Ban chỉ huy quân sự xã Tân Tiến với tổng số tiền là 31.070.000 đồng Vào các ngày lễ, trực cao điểm, thì Tuân chi tiền ăn uống cho lực lượng dân quân thường trực 200.000 đồng/ ngày, với số tiền là 10.400.000 đồng; Còn các ngày trực thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, Tuân chi 100.000 đồng/ ngày cho việc nấu ăn, với tổng số tiền là 39.200.000 đồng

Trong thời gian này, Tuân còn tự ý chi cho mình với số tiền 59.400.000

đồng; chi cho ông Đặng Thành Quốc Anh số tiền 26.700.000 đồng và chi cho ông

Dương Hoài Trung số tiền 16.500.000 đồng Khi chi tiền cho ông Trung và ông Anh, thì Tuân không nói đây là tiền lấy từ tiền trợ cấp của lực lượng dân quân thường trực, mà Tuân chỉ nói là tiền trợ cấp xăng xe

Như vậy, từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2016, Trần Văn Tuân đã chiếm đoạt số tiền của lực lượng dân quân thường trực xã Tân Tiến (15 người) là 220.420.900 đồng,

*Bản án nhận định:

Số tiền mà bị cáo Trần Văn Tuân chiếm đoạt của lực lượng dân quân thường

trực xã Tân Tiến (15 người) là 220.420.900 đồng, thuộc trường hợp "Gây hậu quả

nghiêm trọng" Ðây là tình tiết định khung hình phạt của tội: "Lợi dụng chức vụ,

Trang 26

quyền hạn trong khi thi hành công vụ", được quy định tại Ðiểm c Khoản 2 Ðiều 281

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

* Một số tình tiết đáng lưu ý trong vụ án:

(1) Trần Văn Tuân là chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã Tân Tiến được Ban Chỉ huy quân sự thị xã La Gi giao cho Tuân nhận một số tiền để chi theo chế

độ cho những người thuộc lực lượng dân quân không thường trực xã Tân Tiến

(2) Sau khi nhận tiền từ Ban Tài chính Bộ chỉ huy quân sự xã Tân Tiến, Tuân

đã không chi đúng chế độ theo quy định: Chi số tiền ít hơn chế độ mà họ được hưởng Số tiền chênh lệch, Tuân chi trái quy định như dùng để mua sắm vật dụng cho Ban, chi tiền cho người khác không đúng đối tượng và trực tiếp chiếm đoạt số

Trong đợt huấn luyện dân quân cơ động trong thời gian 12 ngày, thực tế số dân quân cơ động đi tham gia huấn luyện là 24 người, nhưng Hồ Duy Thanh đã lập

Trang 27

hồ sơ đề nghị thanh toán các khoản tiền ăn và tiền công lao động cho 27 người Đối với đợt huấn luyện dân quân binh chủng, số thực tế đi tham gia huấn luyện là 11 người, nhưng Thanh đã lập hồ sơ đề nghị thanh toán các khoản tiền ăn và tiền công lao động cho 12 người Như vậy, thông qua hai đợt huấn luyện Thanh đã lập danh sách khống 4 người, chiếm đoạt số tiền 5.107.200đ

Ngoài ra trong các đợt huấn luyện, có một số dân quân tham gia không đầy

đủ số ngày ngày huấn luyện, trong đợt huấn luyện dân quân cơ động có 13 dân quân tham gia không đầy đủ, tổng cộng là 47 ngày và trong đợt huấn luyện dân quân binh chủng có 3 dân quân tham gia không đầy đủ tổng cộng là 04 ngày nhưng Thanh vẫn lập hồ sơ thanh toán đầy đủ 12 ngày huấn luyện cho mỗi dân quân, khi chi trả tiền ngày công lao động cho mỗi dân quân thì Thanh chỉ trả đúng số ngày thực tế dân quân đi huấn luyện, Thanh chiếm đoạt số tiền chênh lệch là 3.386.400đ

Sau khi kết thúc 02 đợt tập huấn trên, Hồ Duy Thanh đã lập khống số ngày công tham gia huấn luyện để chiếm đoạt tổng số tiền 8.493.000đ của ngân sách xã Hàm kiệm

Tại bản Cáo trạng số 73/QĐKSĐT/VKS-HS ngày 20/10/2014 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện hàm Thuận Nam truy tố Hồ Duy Thanh về tội Tham ô tài sản

theo quy định tại khoản 1 Điều 278 Bộ luật hình sự 1999

* Phần nhận định của bản án:

Bản thân bị cáo nhận thức được việc lợi dụng chức vụ chỉ huy trưởng quân

sự xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam, lập khống danh sách dân quân đi huấn luyện và kê khống ngày công tham gia huấn luyện của dân quân để thanh toán,

chiếm đoạt của ngân sách xã Hàm Kiệm với tổng số tiền 8.493.000đ là phạm tội

Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Trang 28

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án thứ ba và vụ án thứ tư:

Vụ án thứ tư có một số tình tiết đáng lưu ý là: (1) Hồ Duy Thanh là người có chức vụ quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao làm trái công vụ; (2)

Hồ Duy Thanh đã chiếm đoạt tài sản của nhà nước

Như vậy, trong hai vụ án trên đều có điểm chung là: Các bị cáo đều có hành

vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chiếm đoạt tài sản nhưng đều bị Tòa án kết tội Lợi

dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Điều 356 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Như vậy, trong cấu thành của tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thì trong mặt khách quan của tội phạm không có hành vi chiếm đoạt tài sản Do đó, theo chúng tôi nếu trong các vụ án có dấu hiệu lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì chắc chắn rằng việc định tội danh là tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là không chính xác, mà tùy từng trường hợp cụ thể mà định tội danh thuộc các tội có yếu tố chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm như tội Tham ô tài sản hay tội lạm

dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Chúng tôi đã khảo sát ý kiến của một số người áp dụng pháp luật theo hướng định tội danh là tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì được trả lời rằng do trong cấu thành các tội này có yếu tố vụ lợi “người nào vì vụ lợi hoặc động

cơ cá nhân khác…” Đối chiếu với vụ án thứ hai và thứ ba nêu trên thì rõ ràng các

bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công vụ là do vụ lợi

Như vậy, yếu tố “vì vụ lợi” và yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tham ô, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản khác nhau như thế nào, vấn đề này cần có hướng dẫn của các

cơ quan bảo vệ pháp luật trung ương để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật

Trong vụ án thứ ba, giữa quan điểm của Tòa án và Viện kiểm sát là khác nhau Viện kiểm sát truy tố tội tham ô tài sản và Tòa án xử tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Trang 29

trong khi thi hành công vụ Về việc xét xử của Tòa án thì chúng tôi đã phân tích ở

phần trên Vậy Viện kiểm sát truy tố tội Tham ô tài sản có căn cứ không?

Điểm khác biệt lớn nhất giữa tội tham ô tài sản với các tội phạm khác có yếu

tố lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu “chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý” Đối chiếu với vụ án thứ tư nêu trên thì thấy rằng bị cáo Hồ Duy Thanh không có trách nhiệm quản lý tài sản, vì tài sản chiếm đoạt thuộc ngân sách xã Hàm Kiệm, bị cáo là chỉ huy trưởng quân sự xã nên không có trách nhiệm và thẩm quyền quản lý ngân sách của xã và như vậy là định tội danh là

tội tham ô tài sản cũng là chưa có căn cứ

Chúng tôi đã khảo sát ý kiến của Viện kiểm sát về việc truy tố tội tham ô tài sản thì họ nêu quan điểm: Trong vụ án này, Hồ Duy Thanh chỉ lợi lợi dụng chức vụ quyền hạn chứ không lạm dụng chức vụ quyền hạn, bị cáo làm trái công vụ nhưng

rõ ràng là trong phạm vi thẩm quyền của bị cáo nên không truy tố tội Lạm dụng

chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà truy tố tội tham ô tài sản

Vậy, vướng mắc từ thực tiễn ở đây là bị cáo lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản không do mình có trách nhiệm quản lý có phạm tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay không hay phạm tội khác Việc phân biệt yếu tố lợi dụng và lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa như thế nào trong việc định tội danh Vấn đề này cũng cần phải có hướng dẫn của các cơ

quan tư pháp trung ương để đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật

1.3 Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi lợi dụng chức

vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ

Từ các vụ án được nêu trong 4 ví dụ nêu trên, thấy rằng có 03 vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn có vướng mắc, quan điểm của các Tòa án hay giữa Tòa án với Viện kiểm sát chưa thống nhất dẫn đến việc định tội danh không thống nhất trong các vụ án có cùng một số dấu hiệu đặc trưng mà các vấn đề này chưa được các cơ quan tư pháp trung ương hướng dẫn Các vướng mắc cụ thể đó là:

- Vướng mắc thứ nhất: Quyền sử dụng đất có phải là đối tượng của hành vi

chiếm đoạt không, nếu không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt thì những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình (hoặc cho người khác mà mình nhờ đứng tên giùm) sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã

Trang 30

chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác và bị cáo đã chiếm hưởng số tiền chuyển nhượng này thì định tội danh như thế nào?

Vướng mắc thứ nhất này có 02 vấn đề cần phải giải quyết:

Một là, quyền sử dụng đất có phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản hay không:

Chúng tôi cho rằng quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản bởi vì mặc dù quyền sử dụng đất cũng là một tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự, nhưng đây là tài sản đặc biệt Nó đặc biệt ở chỗ về mặt pháp lý, theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, không có sở hữu tư nhân về đất đai, nhà nước chỉ trao cho người sử dụng đất một số quyền như: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn… mà trong các tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản đều xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo

vệ là quan hệ sở hữu tài sản; và trên thực tế đất đai không tự sinh ra, mất đi, không thể cầm nắm, dịch chuyển, định đoạt Các bị cáo có thể dùng mọi thủ đoạn để được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền

sử dụng đất có thể chuyển nhượng từ chủ thể này sang chủ thể khác nhưng đây chỉ

là thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, mặc cho ai được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì đối tượng là mảnh đất đó vẫn đang tồn tại, Nhà nước hoặc chủ sử dụng đất hợp pháp chỉ mất quyền quản lý, quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định và hậu quả của tội phạm sẽ được khắc phục bằng bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không mất luôn quyền sử dụng đất

Hai là, định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, vì vụ lợi,

làm trái công vụ được giao để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cho mình hoặc nhờ người khác đứng tên), sau đó chuyển nhượng đất cho người khác và hưởng số tiền chuyển nhượng này: Như đã phân tích ở trên, trong các trường hợp này, đối tượng tác động của tội phạm là quyền sử dụng đất chứ không phải là giá trị quyền sử dụng đất, mà quyền sử dụng đất thì không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, những người

có hành vi nêu trên không phạm tội tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay các tội khác có hành vi chiếm đoạt tài sản mà phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Trang 31

- Vướng mắc thứ hai, phân biệt giữa vụ lợi, gây thiệt hại về tài sản và chiếm

đoạt tài sản

Trong luật hình sự không giải thích thuật ngữ vụ lợi Luật Phòng, chống

tham nhũng 2018 quy định: Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi

dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng

Từ khái niệm trên thấy rằng giữa vụ lợi và chiếm đoạt tài sản khác nhau về nhiều mặt Chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm, còn

vụ lợi là động cơ thúc đẩy người có chức vụ quyền hạn thực hiện tội phạm và đây là yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm Khi người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản thì đương nhiên họ cũng vì vụ lợi và họ cũng gây ra thiệt hại nhưng vì vụ lợi không bao hàm cả hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, người có chức vụ quyền hạn

vì vụ lợi, làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản mà không có hành vi chiếm đoạt tài sản thì có dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; nếu người có chức vụ quyền hạn có hành vi chiếm đoạt tài sản (thì cũng bao hàm là do vụ lợi và gây thiệt hại về tài sản) thì không phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà có dấu hiệu của các tội tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay các tội khác trong mặt khách quan

có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản

- Vướng mắc thứ ba: Phân biệt giữa lạm dụng và lợi dụng chức vụ quyền hạn

Lợi dụng chức vụ quyền hạn được hiểu là người có chức vụ quyền hạn đã sử dụng chức vụ quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện hành vi trái pháp luật Lạm dụng chức vụ, quyền hạn được hiểu là người có chức vụ quyền hạn đã thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền của mình, tức là đã làm những việc không thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao Trên thực tế có rất nhiều trường hợp việc phân định giữa lạm dụng và lợi dụng chức vụ quyền hạn cũng gặp không ít khó khăn do không chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự mà phải căn cứ vào các văn bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người có chức vụ quyền hạn Trường hợp một người lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản không do mình quản

lý thì xử lý như thế nào?

* Nguyên nhân của các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành

vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ xuất phát từ các lý do sau:

Trang 32

- Thứ nhất, do tính chất phức tạp của các dấu hiệu trong các tội phạm về chức

vụ như: vụ lợi, chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, lạm dụng chức vụ ; và hiện nay các dấu hiệu này chưa có văn bản hướng của các cơ quan tố tụng trung ương,

do đó, trên thực tế dễ nhầm lẫn khi định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ

- Thứ hai, do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau về các dấu hiệu định tội của các tội phạm về chức vụ nên định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ ở một số vụ án không thống nhất

Trên cơ sở nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, tác giả kiến nghị Tòa

án nhân dân tối cao ra nghị quyết hướng việc định tội trong nhóm các tội phạm về chức vụ trong một số trường cụ thể như sau:

1 Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, pháp luật không quy định quyền sở hữu tư nhân về đất đai nên quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản Trường hợp người có chức vụ quyền hạn đã làm trái công vụ để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật, sau đó đã chuyển nhượng cho người khác và chiếm hưởng số tiền chuyển nhượng thì không xử lý hình sự về Tội tham ô tài sản (Điều

353 BLHS) hay Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS) mà tùy từng trường hợp cụ thể xử lý hình sự về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356 BLHS) hoặc Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357 BLHS)

2.Trường hợp người có chức vụ quyền hạn vì vụ lợi, làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản thì phải xác định rõ người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản hay không để xác định tội danh cho chính xác Hành vi chiếm đoạt tài là dấu hiệu bắt buộc trong các Tội tham ô tài sản, Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, dấu hiệu vì vụ lợi gây thiệt hại về tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Do đó cần phân biệt:

- Nếu người phạm tội không có hành vi chiếm đoạt tài sản thì sẽ xem xét định tội danh là lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Trang 33

- Nếu người có chức vụ quyền hạn có hành vi chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà tùy từng trường hợp mà xác định tội danh là tham ô tài sản hay lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

3 Đối với Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 Bộ luật hình sự)

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là sử dụng chức vụ quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của mình, còn lạm dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng chức vụ quyền hạn vượt quá thẩm quyền của mình để thực hiện hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, khi người phạm tội có hành vi lạm dụng hay lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công

vụ chiếm đoạt tài sản không do mình có trách nhiệm quản lý thì đều bị xem xét xử lý

về Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS)

Cơ sở của các kiến nghị này đã được tác giả phân tích và lý giải ở các lập luận phía trên

Trang 34

vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Điều 355 BLHS)

2 Chương 1 của Luận ăn đã chỉ ra vướng mắc trong thực tiễn định tội danh khi đối với dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, phân biệt các trường hợp chiếm đoạt tài sản và gây thiệt hại về tài sản Đồng thời Luận văn cũng chỉ ra nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên

3 Chương 1 của Luận văn đã đưa ra kiến nghị TAND Tối cao hướng dẫn định tội danh trong một số trường hợp khi có cùng dấu hiệu lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản và phân biệt các tội có hành vi chiếm đoạt tài sản với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI LỢI DỤNG, CHỨC VỤ QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 2.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu

Trong các tội xâm phạm sở hữu có yếu tố chiếm đoạt tài sản, dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn” được quy định là tình tiết định khung tăng nặng của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điểm đ khoản Điều 174 Bộ luật hình sự)2 và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự)3

Như vậy trong BLHS năm 2015, dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn” có thể là dấu hiệu định tội (như trong các tội phạm về chức vụ); có thể là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng quy định tại các Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều

174 BLHS), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175), hoặc cũng có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 1 Điều 52 BLHS)4 cho các loại tội phạm nói chung

Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự thì dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn” đã là yếu tố định tội trong nhóm các tội phạm về chức vụ nên

sẽ không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Khi áp dụng tình tiết định khung là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” theo điểm d khoản 2 các Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) thì cũng không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

* Phân biệt lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ và các tội xâm phạm sở hữu

2 Điều 174 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

3 Điều 175 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

4 Điều 52 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1 Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

Trang 36

Trong các tội phạm về chức vụ có yếu tố chiếm đoạt tài sản, thì ngoài khách thể là quan hệ xã hội đảm bảo cho sự hoạt đúng đúng đắn của các cơ quan, tổ chức thì các tội phạm này đồng thời xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản Do cùng xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản nên việc xác định các dấu hiệu như chiếm đoạt tài sản, tài sản là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, lợi dụng chức vụ, quyền hạn… như phân tích ở Chương 1 trong các tội phạm về chức vụ cũng giống như trong các tội xâm phạm sở hữu

Như vậy, dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản có thể là dấu hiệu định tội cho Chương các tội phạm về chức vụ hoặc là dấu hiệu định khung hình phạt cho Chương các tội xâm phạm sở hữu Vậy vấn đề đặt ra là khi nào định tội danh là các tội phạm về chức vụ, khi nào định tội danh là các tội xâm phạm sở hữu với tình tiết định khung hình phạt tăng nặng là lợi dụng chức vụ quyền hạn khi nó cùng chung các dấu hiệu về chủ thể, hành vi khách quan, hậu quả và mặt chủ quan

Phần các tội phạm trong Bộ luật hình sự sắp xếp các chương theo khách thể loại, tức là các tội phạm trong cùng một chương sẽ cùng xâm phạm tới một loại khách thể Các tội xâm phạm sở hữu thuộc Chương XVI Bộ luật hình sự, còn các tội phạm về chức vụ thuộc Chương XXIII Bộ luật hình sự Do ở hai chương khác nhau nên khách thể loại của hai nhóm tội phạm này cũng khác nhau

Định tội danh theo khách thể của tội phạm là dựa vào các yếu tố khách thể của tội phạm để xác định chính xác tội danh cho hành vi đã thực hiện trên thực tế

-Khách thể loại của nhóm tội xâm phạm sở hữu: là quan hệ sở hữu

-Khách thể loại trong nhóm các tội phạm về chức vụ có yếu tố chiếm đoạt tài sản: là quan hệ xã hội xã hội đảm bảo cho sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Đồng thời, thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản, các tội phạm này còn đồng thời xâm phạm đến quan hệ sở hữu

Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất khi giữa hai nhóm tội trên chính là khách thể Nếu hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà xâm phạm tới quan hệ xã hội đảm bảo cho sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức thì sẽ định tội danh thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ, và ngược lại nếu hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhưng lại không xâm phạm đến quan hệ xã hội đảm bảo cho sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức thì định tội danh theo

Trang 37

nhóm các tội phạm về chức vụ với tình tiết tăng nặng định khung là lợi dụng chức

vụ, quyền hạn

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, có vấn đề đặt ra là có trường hợp nào người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội nhưng lại không xâm phạm đến quan hệ xã hội đảm bảo cho sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức hay không? Chúng tôi sẽ đưa ra một số ví dụ minh họa ở phần sau

2.2 Những vướng mắc từ thực tiễn định tội danh khi áp dụng dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu

Thực tiễn định tội danh khi áp dụng dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” trong các tội xâm phạm sở hữu có một số vướng mắc được thể hiện trong nội dung các bản án sau:

vi gian dối để vay 400.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Hạnh Trang và ông Lâm A Xội nhưng không thực hiện trả nợ như đã thỏa thuận nên ngày 07/8/2015, ông Lâm

A Xội làm đơn tố cáo bà Thiền đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc thụ lý đơn của ông Xội và ra quyết định phân công bị cáo Nguyễn Thế H (với chức danh thời điểm đó là Điều tra viên) tiến hành thụ lý, giải quyết tố giác của ông Xội Trong quá trình giải quyết, vào ngày 10/8/2015 và ngày 29/9/2015 bà Thiền đã trả 400.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi cho vợ chồng ông Xội Ngày 29/9/2915, ông Xội và bà Trang làm đơn bãi nại cho bà Thiền

Sau khi bà Thiền đã trả tiền cho ông Xội, bà Trang xong bị cáo nhiều lần liên lạc bằng điện thoại với bà Thiền yêu cầu bà Thiền đến trụ sở Công an thành phố Châu Đốc để làm việc Đến khoảng tháng 11/2015, bà Thiền có nhờ bị cáo giúp đỡ

để không bị xử lý hình sự và hứa cho bị cáo 10.000.000 đồng Bị cáo đồng ý nên bà Thiền đã chuyển tiền cho bị cáo

Sau khi nhận số tiền 10.000.000 đồng của bà Thiền, bị cáo không làm gì để

giúp đỡ bà Thiền Đồng thời bị cáo đã nhiều lần gửi giấy mời và liên lạc qua điện

Trang 38

thoại yêu cầu bà Thiền đến trụ sở Công an thành phố Châu Đốc để làm việc Do bị cáo không giúp gì mà vẫn tiếp tục yêu cầu bà Thiền đến làm việc nên khi bị cáo gọi điện thoại, bà Thiền nghĩ bị cáo đòi thêm tiền nên nói “Thôi, giờ em sẽ đưa cho anh 10.000.000 đồng nữa, nhưng ba tháng nữa em mới đưa cho anh được” Bị cáo không nói gì tắt máy Ngày 30/6/2016, bà Thiền gọi điện thoại cho bị cáo hẹn gặp tại nhà hàng VICTORYA ở phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc vào chiều ngày 01/7/2016, H đồng ý Khoảng 17 giờ ngày 01/7/2016, bị cáo đến nơi hẹn gặp bà Thiền, ông Phạm Phú Khánh, bạn của bà Thiền Khi gặp nhau bà Thiền nói với bị cáo “Hôm trước em có hứa đưa cho anh 10.000.000 đồng nữa nay em gửi anh”, vừa nói Thiền vừa đưa cho bị cáo một phong bì thư do Bưu điện phát hành, trong

đó đựng 10.000.000 đồng Bị cáo không nhận và nói “Hồ sơ đã chuyển cho người

khác làm rồi nên không giúp được gì nữa” và lấy trong cặp ra 10.000.000 đồng,

là số tiền mà trước đó bà Thiền đã chuyển cho bị cáo, trả lại cho bà Thiền Do bà

Thiền không nhận nên bị cáo cất lại vào cặp rồi đi về Sau nhiều lần tìm cách trả tiền lại cho bà Thiền nhưng không thành, ngày 06/7/2016, bị cáo đến nhà bà Thiền đưa 10.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Hằng (mẹ của bà Thiền) nhờ bà Hằng đưa lại cho bà Thiền Số tiền này hiện nay do bà Thiền đang cất giữ

* Phần nhận định của bản án:

“Bị cáo đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi không thuộc thẩm quyền của mình hứa sẽ giúp không xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi của người bị hại - bà Trần Ngọc Thiền để chiếm đoạt tài sản của bà Thiền, số tiền chiếm đoạt được của người bị hại là 10.000.000 đồng Hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, Với tư cách là một Điều tra viên, bị cáo nắm rõ được nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình không có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra mà chỉ có quyền xác minh tin báo tố giác tội phạm để đề xuất cho người có thẩm quyền quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án, khởi tố bị can; nhưng bị cáo vẫn cố ý hứa với người bị hại sẽ giúp không xử lý hình sự đối với người bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng của người bị hại Hành vi của bị cáo đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, gây mất lòng tin của người dân vào cơ quan Nhà nước mà trực tiếp là Cơ quan điều tra, bên cạnh đó hành

vi của bị cáo còn xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ

Trang 39

* Phần Quyết định của bản án:

Áp dụng các khoản 1 Điều 280, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều

47, Điều 33, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Xử phạt: Nguyễn Thế H 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn, chiếm đoạt tài sản” Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo chấp hành án

* Một số tình tiết lưu ý trong vụ án:

-Bị cáo là điều tra viên, được phân công giải quyết vụ án nên bị cáo là người

Hà Thái với tổng mức đầu tư là 2,2 tỷ đồng, Tuyên yêu cầu anh Minh phải đưa cho Tuyên số tiền 100 triệu đồng để được nhận thầu thi công công trình nhà văn hóa xã

Hà Thái vì đây là thông lệ, ngoài ra Tuyên còn đưa ra các thông tin không đúng sự thật là các công trình nhà văn hóa của một số UBND xã trên địa bàn, các công ty xây dựng khác cũng đã đưa tiền cho Tuyên để được nhận thi công công trình, số tiền trên để đi “cảm ơn” một số cá nhân trên tỉnh Tuyên còn nhắn tin cho anh Minh với nội dung: “Anh thống nhất sớm không tôi để cho người khác làm anh nhé” Sau nhiều lần gọi điện qua lại đến ngày 05/6/2018, anh Minh đưa cho Hoàng Văn Lợi là nhân viên của công ty 100 triệu đồng được chia làm hai buộc, loại tiền mệnh giá 500.000 đồng mang đến phòng làm việc đưa cho Tuyên Sau khi đưa tiền

Trang 40

cho Tuyên anh Lợi có nói Tuyên gọi điện lại cho anh Minh để xác nhận, Tuyên đã điện thoại lại cho anh Minh thông báo đã nhận đủ số tiền

Sau khi nhận được số tiền 100 triệu đồng của anh Minh, Tuyên không có gặp

gỡ ai hay có tác động gì để giúp công ty cổ phần thương mại Mạnh Phú trúng thầu xây dựng công trình nhà văn hóa xã Hà Thái Số tiền 100 triệu đồng hiện tại Tuyên đang giữ và cam kết sẽ khắc phục trả lại cho anh Minh

* Phần nhận định của bản án:

Thực tế Tuyên không phải là người xin được số vốn trên và cũng không có quyền chỉ định thầu, Tuyên cũng không có gặp gỡ ai hay có tác động gì để giúp công ty cổ phần thương mại Mạnh Phú trúng thầu xây dựng công trình nhà văn hóa

xã Hà Thái Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội

“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, đ khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

* Phần quyết định của Bản án:

Căn cứ điểm c, đ khoản 2, Điều 174; Điều 38; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015

1 Về tội danh: Bị cáo Lê Văn Tuyên phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn Tuyên 30 (Ba mươi) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án thứ năm và thứ sáu:

Trong hai vụ án thứ năm và thứ sáu nêu trên có rất nhiều điểm giống nhau,

đó là: Bị cáo là người có chức vụ quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản Sau khi nhận tiền của bị hại các bị cáo đều không thực hiện hành

vi gì để giúp đỡ bị hại như thỏa thuận ban đầu nhưng mỗi Tòa án lại định tội khác nhau Ở vụ án thứ năm, Tòa án định tội danh là lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, ở vụ án thứ sáu định tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” Vậy hành vi hứa giúp đỡ và nhận tiền nhưng không thực hiện hành vi cụ thể nào trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là lợi dụng hay lạm dụng chức vụ quyền hạn, có xâm phạm tới sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức hay không Cùng là lợi dụng (hay lạm dụng) chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản khi nào định tội danh thuộc nhóm tội phạm

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w