Điển hình là nhiều yêu cầu giải quyết tranh chấp của người dân chưa được đảm bảo thực hiện vì gặp khó khăn trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ; đơn khởi kiện bị trả lại với lý do khôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ
VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ
VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hướng nghiên cứu
Mã số CN: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải An
Họ tên học viên: Nguyễn Thị Thu Sương Lớp: Cao học Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Khóa 30
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Ts Nguyễn Hải An Những luận điểm, ý tưởng, nhận xét đánh giá của các tác giả, cơ quan tổ chức khác sử dụng trong Luận văn đều
đã được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được nghiên cứu dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 7 năm
2020
Tác giả Luận văn
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng dân sự : BLTTDS
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
: GCN
Tòa án nhân dân cấp cao : TANDCC
Viện kiểm sát nhân dân : VKSND
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 10 1.1 Khái quát về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 10 1.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh với các nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự 19 1.3 Nội dung của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN
SỰ 37 2.1 Về đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện khi giao nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện 37 2.2 Về đảm bảo trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền 51 2.3 Về đảm bảo trách nhiệm của Tòa án trong việc hỗ trợ đương sự thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ 58 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68 KẾT LUẬN CHUNG 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC SỐ 01 DANH MỤC BẢN ÁN
PHỤ LỤC SỐ 02 TÀI LIỆU KHÁC
PHỤ LỤC SỐ 03 BẢNG THỐNG KÊ
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng, Nhà nước ta luôn hướng đến việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể Theo đó, khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ Việc khởi kiện này được thực hiện thông qua phương tiện là “trình tự, thủ tục, tố tụng dân sự” Và “để xây dựng một thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, gần dân, thân thiện với dân thì ngay từ khi chắp bút soạn thảo pháp luật, nhà lập pháp đã phải ý thức được sứ mệnh cao cả
và bổn phận thiêng liêng của mình với xã hội Pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng không phải là những định lệ phiền toái như dân gian quan niệm mà phải là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Cho nên nhà lập pháp khi xây dựng nên những định lệ này phải đứng từ góc nhìn nhân bản để ngăn chặn hay loại bỏ những nhân tố tiêu cực có thể nảy sinh từ phía người tiến hành tố tụng hoặc các tụng nhân”1 Để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng này đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yếu tố khác nhau, song một trong những yếu tố quan trọng là yêu cầu các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó có nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh Đây được xem như là nguyên tắc cơ bản mang tính chất nền tảng và có tính chỉ đạo xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án dân sự, yêu cầu mọi chủ thể trong xã hội tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành
Nghiên cứu quy định trong pháp luật tố tụng dân sự ở một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy rằng dù hoạt động xét xử của Tòa án được vận hành theo mô hình
tố tụng xét hỏi (thẩm vấn) (tố tụng xét hỏi là mô hình tố tụng ở những quốc gia theo truyền thống luật dân sự, như Pháp, Đức…Trong mô hình này, Thẩm phán, công tố viên có vị trí trung tâm trong việc chứng minh vụ án, luật sư chỉ đóng vai trò thứ yếu2) hay theo mô hình tố tụng tranh tụng (tố tụng tranh tụng là mô hình tố tụng ở những quốc gia theo truyền thống thông luật, như: Anh, Mỹ, Úc… Mô hình này dựa
Trang 7https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nhin-ra-nuoc-ngoai/to-trên nguyên tắc “các bên trình bày”3) thì pháp luật các nước cũng đều đề cao vai trò của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
Trải qua quá trình tồn tại, phát triển cùng với từng thời kỳ của đất nước, pháp luật tố tụng dân sự nói chung và quy định về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh nói riêng đã có những điều chỉnh theo hướng ngày càng tiến bộ và gắn liền với thực tiễn hơn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 được xem như là
“bước chuyển mình” quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự nước nhà Xét ở góc
độ bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan tổ chức, có thể thấy rằng trải qua hơn 05 năm được đưa vào thực tiễn, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những đóng góp quan trọng, đơn cử như: trình tự, thủ tục tố tụng đã theo hướng công khai, đơn giản hóa hơn những quy định cũ, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự đã được đề cao,
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự nói chung và chế định về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói riêng cũng còn nhiều tồn tại, vướng mắc Điển hình là nhiều yêu cầu giải quyết tranh chấp của người dân chưa được đảm bảo thực hiện vì gặp khó khăn trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ; đơn khởi kiện bị trả lại với lý do không đầy đủ tài liệu, chứng cứ trong khi người dân đã thực hiện hầu như tất cả các biện pháp để thu thập chứng cứ; thậm chí khi vụ việc đã được thụ lý, giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì quyền lợi của đương sự cũng không được đảm bảo thực thi khi các vụ án bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm nhiều lần, thậm chí có nhiều vụ việc thời gian giải quyết đã hơn 10 năm nhưng vẫn “chưa có hồi kết”, gây tốn kém về thời gian, chi phí cho đương sự, Nhà nước mà lý do liên quan đến việc không tuân thủ nguyên tắc cung cấp chứng
cứ, chứng minh là không thể không nhắc đến
Những hạn chế, bất cập nêu trên có nguyên nhân xuất phát từ việc pháp luật tố tụng dân sự còn nhiều hạn chế, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh dù đã hoàn thiện hơn so với quy định cũ và được ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản tuy nhiên hiện nay chưa có một văn bản hướng dẫn hoàn chỉnh để chi tiết hóa nguyên
3
Ngô Cưòng, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi”, tung-tranh-tung-va-to-tung-xet-hoi, truy cập ngày 11/7/2020
Trang 8https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nhin-ra-nuoc-ngoai/to-tắc này Cụ thể là các quy định tại Chương VII của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành còn chưa rõ ràng, thậm chí thiếu cơ chế để áp dụng
Do đó nhằm tạo điều kiện cho việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về chứng cứ và chứng minh, việc nghiên cứu làm rõ một số quy định là cần thiết Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng quy định về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự hiện nay kết hợp liên hệ, đối sánh với pháp luật một số quốc gia là cơ sở quan trọng để tác giả đưa ra những đánh giá, kiến nghị, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Vì những lý do trên mà tác giả đã chọn vấn đề “Nguyên tắc cung cấp chứng
cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung và nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói riêng là mảng đề tài
đã được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm, nghiên cứu theo nhiều góc độ và hình thức khác nhau từ khái quát đến cụ thể Tác giả xin liệt kê một số công trình như sau:
Dưới hình thức sách chuyên khảo, có các công trình nghiên cứu sau:
- Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động
Tại công trình nghiên cứu này, nhóm tác giả Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp đã có những phân tích, đánh giá, bình luận dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử liên quan đến việc áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, qua đó nhằm làm rõ vai trò tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
mà các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hướng đến, trong đó có chế định chứng cứ và chứng minh
- Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam
Công trình nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Trong đó có bình luận điểm mới về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh cũng như những quy định khác về chứng cứ và chứng minh
Trang 9- Nguyễn Ngọc Điệp (2019), Phương pháp kỹ năng nghiên cứu và đánh giá
chứng cứ trong tố tụng dân sự và 26 án lệ của Hội đồng thẩm phán, Nxb Hồng
Đức, Hội Luật gia Việt Nam
Công trình nghiên cứu đã làm rõ vai trò, ý nghĩa cũng như có những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tính thiết thực của hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng
cứ trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nói chung và những người tiến hành tố tụng nói riêng trong điều kiện hiện nay
Dưới hình thức Luận văn Thạc sĩ Luật học, có các công trình nghiên cứu sau:
- Hồ Quyết Tiến (2015), Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ
- Trương Việt Hồng (2015), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ
thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Hiểu (2015), Hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tại 02 công trình này, các tác giả đã nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ do Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện trong giải quyết vụ án dân sự Qua đó đã làm rõ và đưa ra các kiến nghị về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án như Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa thống nhất như thế nào là trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ; trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án chưa rõ ràng; Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ, dẫn đến nhiều trường hợp vụ án bị xem xét một cách phiến diện, bản án được tuyên không chính xác, chưa đảm bảo công bằng xã hội, bị cấp phúc thẩm hay giám đốc thẩm hủy án để xét xử lại; Về thời hạn thu thập chứng cứ; Vấn đề thu thập chứng cứ thông qua xem xét, thẩm định tại chỗ; yêu cầu tổ chức, cá nhân giao nộp chứng cứ
Trang 10cho Tòa án Ngoài ra, các luận văn đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật tố tụng dân sự, nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự một số quốc gia để tham khảo, hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này
- Nguyễn Quang Anh (2015), Chứng cứ trong tố tụng theo pháp luật Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội
Trong công trình này, tác giả Nguyễn Quang Anh đã phân tích khá sâu về chế định chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đưa ra những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện các quy định của
Bộ luật này về chứng cứ Qua đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chứng cứ
- Nguyễn Hữu Lâm (2018), Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn đã giải thích và chỉ rõ những hạn chế, bất cập của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự, qua đó đưa ra những kiến nghị về những vấn đề chưa cụ thể, chưa phù hợp
Dưới hình thức bài báo khoa học, bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành, có thể kể đến các bài viết như:
- Nguyễn Thị Thu Hà (2018), “Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ
và chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp, số 10 (362)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một số nội dung trong quy định về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, qua đó khẳng định ý nghĩa của hoạt động chứng minh và cung cấp chứng
cứ trong tố tụng dân sự (có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ việc dân sự và tạo điều kiện cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình)
- Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015), “Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng”, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 07 (287); Phan Thị Thu Hà (2015), “Những khó khăn,
vướng mắc khi thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng
cứ, chứng minh và một số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân Tối cao;
Trang 11Đinh Tuấn Anh (2016), “Quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về
chứng cứ và chứng minh”, Tạp chí Kiểm sát, số 18; Đặng Thanh Hoa (2017), “Bàn
về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân
sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân Tối cao, số 10; Hà Thái Thơ (2013), “Một số ý kiến
về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghề
Luật, Học viện Tư pháp, số 05
Các công trình nêu trên đã phân tích những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ và chứng minh, qua đó đưa ra một số kiến nghị liên quan đến các vấn đề như: Thời gian giao nộp, gửi tài liệu chứng cứ; quyền xác minh, thu thập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Biện pháp thu thập chứng cứ; Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải
- Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Một số bất cập về chứng cứ trong Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Đặng Quang Dũng, Nguyễn
Thị Minh (2016), “Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ tại cấp sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân
dân Tối cao, số 14
Các công trình đã đánh giá những quy định về chế định chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và xác định
Bộ luật mới vẫn tồn tại một số quy định hạn chế như: giao nộp chứng cứ, giám định chứng cứ, yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, bảo vệ chứng cứ Qua đó các tác giả đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện
Từ những nội dung đã trình bày, viện dẫn nêu trên, đánh giá một cách tổng quát thì mảng đề tài chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự đã được rất nhiều tác giả tập trung nghiên cứu dưới nhiều góc độ, hình thức khác nhau, từ các bài báo khoa học trên các Tạp chí chuyên ngành đến Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ và sách chuyên khảo Sau khi liệt kê những nội dung các công trình nghiên cứu đã đề cập nêu trên, tác giả nhận thấy một vài điểm như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu nêu trên tập trung khai thác chủ yếu các nội
dung như: Hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, đánh giá chứng cứ, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án qua các giai đoạn, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, chế định chứng minh trong
tố tụng dân sự,…
Trang 12Hai là, đối với các bài viết về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
trong tố tụng dân sự thì chỉ có một số bài báo khoa học đăng trên Tạp chí chuyên ngành và bài Bình luận điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có nhắc đến nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, ngoài ra chưa có bài viết nào khai thác vấn đề về nguyên tắc cung cấp chứng cứ chứng minh
ở các cấp độ cao hơn như Luận văn Thạc sĩ, Luật án Tiến sĩ hay sách chuyên khảo Như vậy, chế định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung và nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nói riêng đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và mỗi tác giả lại chọn cho mình một hướng tiếp cận riêng Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có chiều sâu về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh song những kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu nêu trên đều
ít nhiều mang những giá trị khoa học nhất định Tạo điều kiện cho tác giả có sự hình dung rõ ràng hơn về vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm phân tích, đánh giá, luận giải để làm rõ về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, cụ thể:
Thứ nhất, phân tích một cách khái quát những vấn đề chung về nguyên tắc
cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, mối liên hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh và một số nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự;
Thứ hai, nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, kết hợp so sánh với pháp luật nước ngoài về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự để rút ra những nhận xét, đánh giá, những bài học tham khảo;
Thứ ba, phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thực tiễn áp dụng của Tòa án liên quan đến việc tuân theo và áp dụng nguyên tắc cung cấp cung cấp chứng cứ, chứng minh trong thực tiễn xét xử Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật quốc gia
Trang 134 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu 4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một vấn đề lớn, có nhiều hướng tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, nhằm đi sâu phân tích, làm rõ hơn các khía cạnh của đề tài ở góc độ “nguyên tắc” Trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ Luật học, tác giả chỉ giới hạn ở phạm vi nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với các nội dung cụ thể như sau: những vấn đề cơ bản về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy định pháp luật một số quốc gia; làm rõ việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn, rút ra những hạn chế, bất cập Qua đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành và việc áp dụng luật của cơ quan xét xử
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là các phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, bình luận nhằm làm rõ đối tượng được nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị cụ thể Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp logic, phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp liệt kê,…
Những phương pháp này được vận dụng một cách phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu của luận văn, được thể hiện cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn giải, phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn, cụ thể: Tại mục 1.1, 1.2, 1.3 của Chương 1 thì các phương pháp này được sử dụng để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và một số quốc gia Ngoài ra, phương pháp này cũng đã phát huy hiệu quả trong việc trình bày thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện
- Phương pháp bình luận được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 qua việc phân tích, đánh giá đường lối xử lý của Tòa án thông qua quá trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết vụ việc qua các cấp xét xử khác nhau Từ đó, liên hệ với quy định của
Trang 14pháp luật hiện hành để rút ra những điểm còn hạn chế, bất cập, thiếu khả thi Là cơ
sở để tác giả đưa ra các đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện một số quy định
hiện hành
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở mục 1.2 của Chương 1 nhằm làm rõ
điểm khác biệt và mối liên hệ chặt chẽ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng
minh với các nguyên tắc khác trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Phương pháp này cũng được sử dụng tại mục 1.3 của Chương 1 để làm sáng tỏ một số điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần nội dung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục Luận văn có kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP
CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái quát về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Thuật ngữ nguyên tắc (principium) được sử dụng lần đầu dưới thời La Mã có nghĩa là cơ sở, cốt lõi, nền tảng4
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nguyên tắc” dùng
để chỉ những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc5 Theo Từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm6
Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu rằng nguyên tắc là những điều cơ bản, cốt lõi đã được định ra hoặc được quy định, mang tính bắt buộc phải tuân theo đối với các chủ thể khi thực hiện một hoạt động cụ thể Do vậy, trong thực tiễn, khi thực hiện bất kỳ hoạt động có mục đích nào đòi hỏi các chủ thể phải xác định được các nguyên tắc thông qua việc đặt ra những tiêu chuẩn, quy định đồng thời phải tuân thủ, chấp hành triệt để
Tương ứng với mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những nguyên tắc khác nhau điều chỉnh, nó trở thành kim chỉ nam với những yêu cầu mang tính chỉ đạo, định hướng chung trong việc xây dựng và thực hiện lĩnh vực mà nó điều chỉnh Điều này cũng không được xem là ngoại lệ trong lĩnh vực pháp luật nói chung và hoạt động
tố tụng dân sự (Sau đây gọi là TTDS) nói riêng Trên thực tế “các tư tưởng pháp lý chỉ có giá trị bắt buộc nếu được thể hiện dưới hình thức quy phạm pháp luật Do vậy, các nguyên tắc của một ngành luật thường được quy định trong các văn bản pháp luật về ngành luật đó làm cơ sở cho việc thực hiện và được quy định dưới dạng quy phạm chung”7 Luật TTDS cũng là một ngành luật cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam cho nên cũng mang những đặc điểm chung này
4
Đinh Quốc Trí (2012), Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr 3
Trang 16Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội ghi nhận “nguyên tắc pháp luật” được hiểu là “những chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, hành
vi pháp luật, ý thức pháp luật”8 Theo Giáo trình Luật TTDS của Trường Đại học Luật Hà Nội thì nguyên tắc của một ngành luật được hiểu là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện các quy định của nó9 Theo Giáo trình Luật TTDS của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây gọi là TP HCM) thì các nguyên tắc của Luật TTDS Việt Nam biểu hiện những quan điểm pháp lý của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với nhiệm vụ và phương pháp hoạt động của Tòa án nhân dân (Sau đây gọi là TAND) trong việc giải quyết, xét xử, các vụ việc dân sự10
Từ các nội dung đã phân tích về nguyên tắc pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng, tuy mỗi cơ sở đào tạo, mỗi công trình nghiên cứu khoa học đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm nguyên tắc của một ngành luật nói chung và nguyên tắc của ngành luật TTDS nói riêng, nhưng tựu chung lại có thể đưa ra một cách hiểu chung thống nhất về nguyên tắc trong TTDS Theo đó, nguyên tắc của ngành luật TTDS Việt Nam là những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng cho việc xây dựng, thực hiện, áp dụng pháp luật TTDS và được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, đó là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sau đây gọi là BLTTDS 2015)
Hiện nay, khoản 1 Điều 6, khoản 5 Điều 70 BLTTDS 2015 và khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán về hướng dẫn thi hành một số quy định về chứng minh và chứng cứ của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLTTDS (Sau đây gọi là Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP) quy định cung cấp chứng cứ và chứng minh là một dạng hoạt động tố tụng của chủ thể tham gia tố tụng (chủ yếu là đương sự), bao gồm quá trình thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ và đưa ra những lý lẽ, lập luận logic dựa trên những chứng cứ cung cấp cho Tòa án để
8
Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2017), Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội, tr 276
Trang 17chứng minh cho tính hợp pháp và có căn cứ đối với những yêu cầu mà mình đã đưa
ra hoặc phản đối yêu cầu của những chủ thể khác Như vậy, theo các quy định này, cung cấp chứng cứ và chứng minh được ghi nhận dưới góc độ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự cũng như của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Bàn về nội dung này, tác giả nhận thấy pháp luật TTDS Pháp cũng theo hướng xác định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là một trong những quy tắc cơ bản của TTDS Trong BLTTDS Pháp, chế định cung cấp chứng
cứ và chứng minh được quy định tại Mục 4, Chương I, Thiên I, Quyển thứ nhất với nội dung là những quy tắc chỉ đạo hoạt động TTDS Theo đó, chương này quy định những nguyên tắc định hướng, làm cơ sở nền tảng mà chủ thể tiến hành tố tụng cũng như chủ thể tham gia tố tụng bắt buộc phải tuân thủ Như vậy, nghiên cứu quy định này, ta thấy có điểm giao nhau giữa pháp luật TTDS Pháp và pháp luật TTDS Việt Nam Điểm giao này thể hiện ở việc, BLTTDS Pháp ghi nhận nghĩa vụ cung cấp chứng cứ (viện dẫn các tình tiết) và chứng minh thành nguyên tắc cơ bản, mang tính bắt buộc áp dụng chung cho tất cả các Tòa án
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng có thể nhận diện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là nguyên tắc cơ bản của BLTTDS, mang tính chỉ đạo xuyên suốt, định hướng cho việc xây dựng, chi tiết hóa các quy định khác của BLTTDS và có giá trị bắt buộc tuân thủ đối với chủ thể tham gia tố tụng
và chủ thể tiến hành tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án Theo đó, người khởi kiện, đương sự đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của các đương sự khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tòa án chỉ có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp luật định
1.1.2 Đặc điểm của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Từ nội dung phân tích tại tiểu mục 1.1.1 về khái niệm “Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS”, có thể rút ra một số điểm đặc trưng của nguyên tắc này như sau:
Thứ nhất, tương tự như các nguyên tắc cơ bản khác được quy định trong từng
ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và ngành luật TTDS nói
Trang 18riêng, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh được xây dựng dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này là tư tưởng pháp lý cơ bản mang tính nền tảng yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền phải chấp hành trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy phạm pháp luật cụ thể cũng như bắt buộc các chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng và các chủ thể khác tuân thủ triệt để trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc dân sự
Thứ hai, nội hàm chính của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
chính là đảm bảo quyền tham gia tố tụng của đương sự thông qua hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh - một dạng hoạt động tố tụng diễn ra xuyên suốt vụ án dân sự Khởi đầu bằng việc người khởi kiện sử dụng quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng việc nộp đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu, chứng cứ liên quan và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý Tiếp đến là hoạt động cung cấp chứng cứ của nguyên đơn để chứng minh cho tính hợp pháp và có căn cứ đối với yêu cầu mà mình đưa ra; hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của bị đơn để bác yêu cầu mà nguyên đơn đưa ra đối với mình hay chứng minh cho tính có căn cứ và hợp pháp đối với yêu cầu phản tố của họ (nếu có) hay hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi đưa ra ý kiến đối với yêu cầu mà nguyên đơn, bị đơn đưa ra hoặc củng
cố cho yêu cầu độc lập của mình (nếu có) Và kết thúc khi Tòa án áp dụng các biện pháp pháp lý theo trình tự thủ tục luật định để chứng minh cho phán quyết của mình thông qua một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có giá trị bắt buộc thi hành
Thứ ba, cung cấp chứng cứ và chứng minh là hai hoạt động có mối liên hệ mật
thiết với nhau, được xem như là hai mặt không thể tách rời trong một chỉnh thể Nói cách khác, mục đích của việc thu thập, cung cấp chứng cứ nhằm tạo tiền đề cơ sở vật chất quan trọng cho việc chứng minh tính hợp pháp và có căn cứ đối với yêu cầu
mà mình đưa ra Và ngược lại, nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động chứng minh là việc tái hiện lại “bức tranh sự thật khách quan” của vụ án bằng những lý lẽ, luận cứ, lập luận logic dựa trên các chứng cứ
Có ý kiến cho rằng: Hai yếu tố cấu thành vụ án dân sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu tố khách quan (bao gồm đối tượng – mục đích khởi kiện và nguyên nhân – cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước Tòa án) Hoạt động chứng minh được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án Điều này có
Trang 19nghĩa là yếu tố cấu thành vụ án đã vốn có, vốn đã tồn tại, nay chỉ đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất11 và dùng chứng cứ để chứng minh không chỉ là nguyên tắc tố tụng mà còn thể hiện sự văn minh, tính logic và khoa học mà con người đã đạt được trong lĩnh vực khoa học pháp lý nói chung, khoa học xét xử nói riêng12 Thiết nghĩ những ý kiến này đã phản ánh khá rõ nét về mối liên hệ giữa việc cung cấp chứng cứ và chứng minh của chủ thể trung tâm là đương sự Do vậy,
có thể khẳng định rằng, nếu việc cung cấp chứng cứ chỉ dừng lại ở khía cạnh đơn thuần là một hoạt động tố tụng độc lập mà không sử dụng để chứng minh cho quan điểm, lý lẽ đã đưa ra hay việc chứng minh không dựa trên chứng cứ, thậm chí tách biệt hoàn toàn so với chứng cứ cung cấp cho Tòa án thì vô hình trung đã đi ngược hoàn toàn với nguyên tắc quy định tại Điều 6 BLTTDS 2015, khi đó đương sự phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc không đảm bảo quyền và nghĩa vụ này Đồng thời, Tòa án cũng không có cơ sở để tìm ra sự thật của vụ án
Thứ tư, chủ thể của hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh rất đa dạng
Đây chính là điểm khác biệt cơ bản đặc thù giữa pháp luật tố tụng hình sự (Sau đây gọi là TTHS) và pháp luật TTDS
Trong TTHS, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây gọi là VKSND) và Tòa án Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội13
Như vậy, nếu như trong TTHS, vai trò và trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; để làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người
bị buộc tội thì trong pháp luật TTDS, đó chính là sự đa dạng về chủ thể có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Theo đó, BLTTDS quy định nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án hoặc VKSND Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ cho
11
Quách Mạnh Quyết, “Đương sự – chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất của hoạt động chứng minh trong
TTDS”, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/09/04/3741/, truy cập ngày 29/02/2020
12
Trịnh Thị Oanh (2017), Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS từ thực tiễn xét xử của TAND
quận Tân Bình, TP HCM, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr 9
13
Điều 15, Điều 85 Bộ luật TTHS năm 2015
Trang 20đương sự trong việc thu thập một số chứng cứ hoặc tiến hành một số hoạt động để thu thập chứng cứ
1.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Việc quy định nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh thể hiện tính chất đặc thù của ngành luật TTDS, là cơ sở để xây dựng, giải thích, hướng dẫn các quy phạm pháp luật phù hợp, đặc biệt là các quy định liên quan đến chứng cứ, chứng minh nhằm tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất trong từng quy phạm pháp luật cụ thể hoặc giữa các văn bản quy phạm pháp luật với nhau Bên cạnh đó, việc tuân thủ các nguyên tắc của BLTTDS nói chung và nguyên tắc cung cấp chứng
cứ và chứng minh trong TTDS nói riêng sẽ tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra được bản chất, sự thật của vụ án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể Ngoài ý nghĩa là nguyên tắc cơ bản, mang tính định hướng trong việc xây dựng, thực hiện, áp dụng pháp luật TTDS như đã phân tích thì nguyên tắc này còn mang những ý nghĩa đặc thù sau đây:
Thứ nhất, đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Đương sự mà đặc biệt chủ thể khởi kiện chính là người khởi phát, “châm ngòi” cho một quá trình tố tụng Cho nên bản thân họ biết rất rõ các thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu mà mình đưa ra cũng như những đòi hỏi vô lý
từ các chủ thể khác Do vậy, để có cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, đương sự phải có trách nhiệm hàng đầu trong việc chủ động thu thập, cung
cấp và giao nộp chứng cứ
Trải qua từng giai đoạn khác nhau trong tiến trình lịch sử lập pháp, pháp luật TTDS nói chung và chế định chứng cứ, chứng minh nói riêng đã đánh dấu những bước tiến quan trọng, điển hình là sự ra đời của BLTTDS 2004 Văn bản này đã góp phần khắc phục những “lỗ hổng” trong các quy định trước đây Lần đầu tiên nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh được ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản trong pháp luật TTDS song hành với đó, các quy định về chứng cứ, chứng minh đã được
cụ thể hóa trong một chương riêng
Điểm nổi bật và khác biệt lớn nhất trong tư duy của những nhà lập pháp khi quy định về chế định chứng cứ và chứng minh trong giai đoạn này nằm ở việc đã giải phóng vai trò chủ yếu của Tòa án, đó là trách nhiệm thu thập chứng cứ, điều tra
vụ án Đây là “bước chuyển mình” quan trọng trong tư duy của nhà làm luật, trong
Trang 21triết lý của pháp luật TTDS Việt Nam và ngày càng xích lại gần hơn với pháp luật TTDS quốc tế
Hiện nay, trên cơ sở kế thừa và phát huy các quy định cũ, đặc biệt là BLTTDS
2004, BLTTDS 2015 đã quy định quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thành nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc này đề cao vai trò chủ động của đương
sự, theo đó “quyền chủ động thu thập chứng cứ của đương sự có nghĩa là đương sự
có thể thu thập chứng cứ ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc, phù hợp với kế hoạch và điều kiện chủ quan của mình, không bị ràng buộc, thúc ép hay phải tuân theo một chỉ đạo hoặc điều khiển của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Đương sự chỉ có một sức
ép duy nhất đó là nếu không thu thập được các chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan thì có thể sẽ không chứng minh được yêu cầu của mình đã đề ra”14
Thứ hai, đảm bảo vai trò của Tòa án và hoạt động xét xử trong TTDS
Tòa án với vai trò của một cơ quan tư pháp, mang sứ mệnh “cầm cân nảy mực”, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người Cho nên không thể đưa ra phán quyết hay chấp bút cho một bản án, quyết định bằng những luận điệu chủ quan, duy
ý chí của cá nhân thẩm phán hay hội đồng xét xử (Sau đây gọi là HĐXX) mà phải dựa trên hoạt động xem xét, đánh giá chứng cứ từ nhiều nguồn khác nhau để tìm ra
sự thật của vụ án
Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm áp dụng đầy đủ các biện pháp pháp lý cần thiết để đánh giá, xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ trong vụ việc dân sự “Tòa án phải đánh giá nhiều chứng cứ phức tạp, phải đối chiếu, xem xét thận trọng từng chứng cứ một, đối chiếu với các chứng cứ khác của vụ việc dân sự”15 và “Việc đánh giá chứng cứ không chỉ khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác mà còn phải đánh giá tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ”16 Bởi lẽ thế giới vật chất khách quan luôn tồn tại các sự vật, hiện tượng với nhiều mối liên hệ phức tạp đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá Hơn nữa, tự thân mỗi sự vật, hiện tượng lại tồn tại những đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan nhưng cũng tồn tại không ít những đặc tính không thể nhận biết ngay
Trang 22mà phải trải qua một quá trình tư duy logic, giải thích, đánh giá, móc nối, liên kết các sự kiện để đi đến kết luận và việc đầu tiên là phải đưa ra những giả thuyết để định hướng cho hoạt động tư duy Quá trình giải quyết từng giả thuyết bằng cách tư duy, móc nối các sự kiện để tìm ra được kết luận đó chính là chứng minh Hay có một liên tưởng khá thú vị mà nhóm tác giả Williams và Cr Sill đã nêu ra trong một bài báo khoa học của họ liên quan đến mục đích của một phiên Tòa, đó chính là tái cấu trúc lại sự thật của một sự kiện đã diễn ra trong quá khứ mà qua đó Tòa án có thể áp dụng luật để giải quyết cho những sự kiện đó17 Và đương nhiên, hoạt động chứng minh dựa trên việc đánh giá chứng cứ sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu tạo điều kiện cho Tòa án có nhiều hơn các thông tin, dữ kiện để xem xét, nhận định, đánh giá qua đó từng bước tìm ra bản chất, “tái cấu trúc lại” một sự thật đã diễn ra trong quá khứ Trên cơ sở đó để ban hành bản án, quyết định khách quan, đúng pháp luật
Thứ ba, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là cơ sở để quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Nội dung này cũng chính là tinh thần của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định tại Điều 7 BLTTDS 2015 và được điều chỉnh cụ thể bởi quy định tại Điều 106 BLTTDS 2015 Theo đó, bên cạnh quyền, nghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ và chứng minh của đương sự, trách nhiệm của hỗ trợ của Tòa án thì nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh còn quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa
án, Viểm kiểm sát các tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do Đây là quy định hợp lý và một khi được ghi nhận thành nguyên tắc sẽ có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm và hậu quả pháp lý đối với các chủ thể đang quản lý, lưu giữ chứng cứ Bởi lẽ, trong thực tiễn, đương sự gặp rất nhiều khó khăn khi yêu cầu chủ thể đang lưu giữ chứng cứ cung cấp và mặc dù đã áp dụng rất nhiều biện pháp cần thiết nhưng đều bị từ chối theo nhiều cách khác nhau, hình thức từ chối chủ yếu là bằng lời nói, cử chỉ với những lý do có phần rất vô lý mà không thông qua bất cứ một văn bản nào Điều này vô hình trung đã gây ra những bất lợi không nhỏ cho đương
17
Williams, Cr Sill (2003), “Burdens and Standards in Civil Litigation”, Sydney Law Review, tr 1
Trang 23sự, khiến họ phải “khóc ròng” vì không thu thập, cung cấp chứng cứ để bảo vệ cho
quyền lợi chính đáng của mình
Thứ tư, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là cơ sở để quy định các chế tài pháp lý đối với đương sự cũng như việc không tuân thủ quy định về cung cấp chứng cứ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đang quản lý, lưu giữ tài liệu chứng cứ
Đối với đương sự, hậu quả pháp lý phải chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 91 và khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 Theo đó, đương sự sẽ không đảm bảo được quyền lợi của họ khi đặc thù của việc xem xét, đánh giá chứng cứ trong TTDS nằm ở việc Tòa án sẽ xem xét, đánh giá dựa trên những chứng cứ mà đương sự cung cấp Do vậy, một khi không cung cấp đầy đủ chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi bị xâm phạm thì đương sự không có cơ sở nào để đòi hỏi Tòa án phải chấp nhận yêu cầu mà họ đã đưa ra
Bên cạnh đó, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh còn có ý nghĩa là căn cứ để áp dụng các chế tài đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ nhưng không cung cấp, cung cấp không đầy đủ,
vi phạm thời hạn cung cấp mà không có lý do chính đáng Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ, hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Đồng thời, việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Hành vi vi phạm cụ thể và chế tài được quy định tại Điều 489 BLTTDS 2015 và các quy định khác có liên quan Nội dung này sẽ được phân tích rõ hơn tại tiểu mục 1.3 Luận văn này
Thứ năm, nguyên tắc này là cơ sở để xác định các hành vi vi phạm tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng, mà điển hình là Tòa án
Các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS 2015 nói chung và nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh nói riêng là những nguyên tắc pháp lý đặc thù của ngành luật TTDS Do đó, việc vi phạm các nguyên tắc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tố tụng, làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật Tuy rằng, pháp luật TTDS hiện hành không quy định cụ thể hành vi nào được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng – là căn cứ để Tòa
Trang 24án cấp phúc thẩm tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ bản án của Tòa cấp sơ thẩm để giải quyết lại18, đồng thời cũng là căn cứ để yêu cầu chủ thể có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm (Sau đây gọi là GĐT)19 Nhưng nghiên cứu dưới góc độ lý luận và pháp lý, tác giả cho rằng việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định tại Điều 6 và các quy định liên quan cũng được xem xét là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Do đó, trong trường hợp này, đương sự hoàn toàn có quyền kháng cáo (đối với Bản án sơ thẩm) hoặc đề nghị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT để đảm bảo
quyền lợi cho họ
1.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh với các nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự
Khi bàn về “mối liên hệ” giữa các sự vật, hiện tượng thì dưới góc độ triết học, các nhà duy vật biện chứng cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi sự vật hiện tượng đều có mối liên hệ, sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau20 Điều này có ý nghĩa là trong thế giới vật chất khách quan, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Các sự vật, hiện tượng dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa thì ít nhiều đều có mối liên hệ với nhau, mối liên hệ đó không chỉ tồn tại giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác mà còn tồn tại trong tự thân mỗi sự vật, hiện tượng
Đối chiếu với các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật TTDS, ta thấy rằng, mỗi nguyên tắc điều chỉnh những vấn đề khác nhau song chúng không tồn tại biệt lập, tách rời mà cùng tạo thành hệ thống nguyên tắc cơ bản của BLTTDS, đảm bảo cho pháp luật TTDS phát huy được vị trí, vai trò của một ngành luật và điều chỉnh hoạt động tố tụng được thống nhất Mỗi nguyên tắc đều được xây dựng dựa trên những nền tảng nhất định, hướng đến những mục đích nhất định và đều có mối quan hệ hữu
cơ với nhau Do vậy, để có thể hiểu một cách sâu sắc nguyên tắc cung cấp chứng cứ
và chứng minh thì việc xem xét, đánh giá dựa trên mối liên hệ với các nguyên tắc khác là nội dung rất cần thiết Nghiên cứu các quy định tại Chương 2 BLTTDS 2015,
Trang 25có thể thấy rằng, nguyên tắc này có mối liên hệ với tất cả các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS, tuy nhiên trong phạm vi Luận văn, tác giả xin phép được phân tích giới hạn một số nguyên tắc mà tác giả cho rằng có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại trực tiếp với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, bao gồm: nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong TTDS (Điều 3), nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp (Điều 4), nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự (Điều 5), nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS (Điều 8) và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 24)
1.2.1 Mối liên hệ với nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự
Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, có tác dụng đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước được vận hành một cách nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy hiệu lực của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội21 Hoạt động TTDS nói chung và hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh nói riêng cũng là một hoạt động pháp luật nhằm đảm bảo chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý trong TTDS, do vậy, việc các chủ thể phải tuân thủ nguyên tắc này là điều kiện bắt buộc
Theo đó, nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong TTDS là một trong những nguyên tắc rất quan trọng và cơ bản của pháp luật TTDS Nguyên tắc này hướng đến 02 (hai) nội dung quan trọng Thứ nhất, “đề cập đến phạm vi mọi hoạt động TTDS nhất thiết phải được vận hành trên cơ sở đúng pháp luật, tuân thủ pháp luật TTDS, cụ thể là phải tuân theo các quy định của Bộ luật này Bất kỳ hoạt động TTDS nào không tuân thủ pháp luật TTDS đều là vi phạm pháp luật”22 Thứ hai, nguyên tắc này đặt ra trách nhiệm của tất cả các chủ thể khi tiến hành hoặc tham gia quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đó là tôn trọng, chấp hành, tuân thủ các quy định trong BLTTDS Hoạt động cung cấp chứng cứ chứng minh của các chủ thể cũng phải tuân theo những trình tự thủ tục, yêu cầu mà BLTTDS quy định Mọi hành vi trái với quy định của BLTTDS
2015 về việc thu thập, giao nộp, cung cấp chứng cứ, chứng minh, xem xét, đánh giá chứng cứ,… đều là trái với quy định của BLTTDS nói riêng và trái với nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong TTDS nói riêng Do vậy, tuân thủ các quy định về cung cấp chứng cứ chứng minh là một bộ phận không thể tách rời của việc tuân theo pháp luật trong TTDS
Trang 261.2.2 Mối liên hệ với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc đặc thù của quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ pháp luật TTDS nói riêng, thể hiện bản chất khác nhau giữa TTDS và TTHS
Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự – là quan hệ mang tính chất “tư”, trong đó việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ dân sự dựa trên cơ sở thiện chí, tự do thỏa thuận của các chủ thể Trong BLTTDS 2015, nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 5 Điều luật này quy định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc dân sự Tương ứng với quyền này là trách nhiệm giải quyết yêu cầu của Tòa án, theo đó Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó
Thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền thay
đổi, bổ sung, chấm dứt yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Như vậy, chỉ bản thân đương sự chứ không phải chủ thể nào khác có quyền quyết định và tự định đoạt về “số phận pháp lý” của vụ việc dân sự Pháp luật TTDS hiện hành đã trao cho đương sự quyền quyết định và tự định đoạt qua các quyền năng cụ thể như: quyền khởi kiện, quyền cung cấp, bổ sung chứng cứ và chứng minh, quyền thay đổi,
bổ sung yêu cầu và rút đơn khởi kiện,…
Xem xét trong mối liên hệ biện chứng với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, tác giả cho rằng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự bao gồm cả quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh Và cũng có thể khẳng định rằng việc cung cấp chứng cứ và chứng minh là thành tố không thể thiếu của quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Hai quyền này được quy định thành nguyên tắc
cơ bản trong BLTTDS và có mối liên hệ mật thiết với nhau Cụ thể, đương sự chỉ có thể thực hiện hiệu quả quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh khi được đảm bảo quyền tự quyết định, tự định đoạt và ngược lại, quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thể hiện rõ nét nhất khả năng tự quyết định và tự định đoạt của đương sự
Ngoài ra, các quyền và nghĩa vụ của đương sự được quyết định bởi chính hành
vi tố tụng của họ Nghĩa là, khi đương sự đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của
Trang 27chủ thể khác mà thực hiện đầy đủ, chính xác quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của mình thì các quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được đảm bảo bằng phán quyết của Tòa án Ngược lại, khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì họ phải chịu một hậu quả pháp lý bất lợi
1.2.3 Mối liên hệ với nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của pháp luật dân sự Việt Nam Và TAND chính là cơ quan giữ cán cân công lý để giúp đương sự thực hiện quyền này Tòa án được coi là “thành trì cuối cùng” trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người Khi bất công xảy đến, người dân thường cầu viện đến Tòa án như là một “cứu cánh cuối cùng” Biểu hiện của công lý chính là sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người Tòa án là nơi
để người yếu thế, thiệt thòi tin tưởng tìm thấy chân lý và lẽ phải23
Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định:
“1 TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp
TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Theo đó, khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc chủ thể khác bị xâm phạm thì pháp luật ghi nhận một trong những cơ chế để các chủ thể yêu cầu giải quyết là thông qua con đường Tòa án Có ý kiến cho rằng: quyền con người không tự thân nó có thể vận hành trong thực tiễn nếu không có sự tác động từ phía chủ thể công quyền với vai trò là người điều khiển sự vận động các quy tắc hướng xã hội có trật tự Bất kỳ một quyền con người, quyền công dân cụ thể nào nếu không được quy định thêm vào đó các yếu tố bảo trợ cần thiết về mặt thủ tục thực hiện cũng như các thiết chế bảo đảm thực hiện sẽ không thể nào có sức sống trên thực tế24
Xét thấy, quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự cũng không phải
là ngoại lệ và Tòa án là cơ quan đại diện cho công quyền điều khiển sự vận hành quá trình tố tụng và có vai trò đảm bảo quyền tố tụng cho đương sự Vì vậy, việc cung
23
““Độc lập tư pháp” là điều kiện tiên quyết để TAND thực hiện nhiệm vụ “bảo vệ công lý””, http://ttpc.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=c1b0aa3a-38a2-4856-82fd-5fd554f8c7c6, truy cập ngày 10/4/2020
24
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS, Luận án Tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 30
Trang 28cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự có được đảm bảo và thực hiện hiệu quả trên thực tế hay không phụ thuộc rất nhiều vào hành vi tố tụng của Tòa án, đặc biệt là trách nhiệm hỗ trợ đương sự mà khoản 3 Điều 6 BLTTDS 2015 đã quy định
Chính vì lẽ đó, nguyên tắc đương sự có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật TTDS Nguyên tắc này có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên tắc cung cấp chứng cứ
và chứng minh, là cơ sở để đương sự đảm bảo quyền của mình khi đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể tự mình thu thập chứng cứ thì có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong những trường hợp pháp luật quy định
1.2.4 Mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử
Mục đích của tranh tụng là nhằm bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia TTDS, bên cạnh đó nhờ có hệ thống những quy định
về tranh tụng hết sức chặt chẽ mà các chủ thể có thể tự mình hoặc thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trình bày ý kiến, đưa ra những chứng
cứ, tài liệu, lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Trên cơ sở của tranh tụng sẽ giúp cho HĐXX giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và chính xác25
Điều 24 BLTTDS 2015 quy định “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” là một nguyên tắc cơ bản Khi giải quyết vụ án dân sự buộc các chủ thể tham gia tố tụng và các chủ thể tiến hành tố tụng phải tuân thủ Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ
án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; được trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai (trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS) Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định
25
“Một số ý kiến về tranh tụng tại phiên tòa trong BLTTDS 2015”, http://vksquangninh.gov.vn /component/content/article/270-cac-d-o-lu-t-tu-phap-m-i/2220-m-t-s-y-ki-n-v-tranh-t-ng-t-i-phien-toa-trong- b-lu-t-t-t-ng-dan-s-nam-2015 , truy cập ngày 19/12/2019
Trang 29Tác giả đồng ý với quan điểm của một số nhà nghiên cứu, tác giả khác khi đánh giá về vai trò, mục đích, bản chất của việc tranh tụng trong mối liên hệ với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, cụ thể có một số quan điểm sau:
Một là, điểm mấu chốt của tranh luận tại phiên tòa là việc thu thập, xuất trình,
sử dụng và đánh giá chứng cứ Các bên có quyền bình đẳng với nhau trong tranh luận cũng có nghĩa là bình đẳng trong việc thu thập, xuất trình, sử dụng và đánh giá chứng cứ Một chứng cứ có quan trọng đến đâu nếu không được sử dụng tại phiên Tòa thông qua tranh luận để làm sáng tỏ nội dung vụ việc thì cũng không có giá trị Nên nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là nội dung còn nguyên tắc tranh luận trong tố tụng là hình thức để các bên đương sự và HĐXX sử dụng để làm rõ các tình tiết, xác định sự thật của vụ án26
Hai là, thực chất của tranh tụng là việc các bên đi tìm và so sánh chứng cứ để
chứng minh cho yêu cầu của mình là xác thực hơn Như vậy, việc tranh tụng chỉ có thể có hiệu quả khi nguyên tắc cung cấp chứng cứ chứng minh được bảo đảm27
Từ các phân tích nêu trên, tác giả cho rằng nguyên tắc tranh tụng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Nếu như nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự có vai trò quyết định đến kết quả của bản án, quyết định của Tòa án thì nguyên tắc tranh tụng góp phần xác định sự thật khách quan, bản chất của vụ án Nguyên tắc tranh tụng là nền tảng để đương sự chứng minh cho tính có căn cứ đối với các yêu cầu của mình bằng các lý lẽ, luận giải, lập luận dựa trên các chứng cứ họ đã thu thập và cung cấp cho Tòa án Trên cơ sở của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh thì đương sự biết được các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cùng các tài liệu, chứng cứ có liên quan
để qua đó đưa ra những lý lẽ, lập luận chứng minh cho yêu cầu mà mình đã đưa ra hoặc phản bác yêu cầu của chủ thể khác thông qua việc tranh luận với đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khác
1.2.5 Mối liên hệ với nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Trong TTDS, mọi đương sự đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng Và Tòa án là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình
26
Đinh Quốc Trí, tlđd (4), tr 27-28
27
Trịnh Văn Chung (2016), Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr 17
Trang 30đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong TTDS Trước đây, vấn đề bình đẳng trong TTDS đã được ghi nhận trong Công ước
quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1996, cụ thể: “Mọi người đều bình đẳng
trước các Tòa án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền độc lập, không được thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về việc buộc tội người đó trong các
vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự”
Trong BLTTDS 2015, nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 8 Nguyên tắc này đã cụ thể hóa quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013, khẳng định vị trí của
“mọi người, mọi cơ quan, tổ chức trong TTDS là như nhau, không ai, không cơ quan, tổ chức nào có quyền đứng trên pháp luật để được hưởng những ưu tiên, ưu đãi cũng như không ai bị phân biệt đối xử vì dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ, nghề nghiệp, địa vị xã hội của mình”28
Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh thể hiện ở việc khi một bên đưa ra yêu cầu thì họ
có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, bên còn lại phản đối và/hoặc đưa ra yêu cầu khác thì cũng phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho tính hợp pháp và có căn cứ trong những yêu cầu mà họ đưa ra
Như vậy, có thể thấy rằng nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS là tiền đề quan trọng để đương sự đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh Hai nguyên tắc này có mối liên hệ hữu cơ với nhau Nói cách khác, nguyên tắc cung cấp chứng
cứ và chứng minh là nội hàm, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS là nguyên tắc bao hàm cả nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh và các nguyên tắc khác trong TTDS
Trên cơ sở phân tích mối liên hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ chứng minh với một số nguyên tắc cơ bản khác được quy định trong BLTTDS 2015 Tác giả cho rằng, mặc dù mỗi nguyên tắc hướng đến những mục đích khác nhau, có phạm vi áp dụng, đối tượng điều chỉnh không tương đồng, thậm chí mang những nét đặc thù, vai trò riêng biệt Song không thể phủ nhận về mối liên hệ hữu cơ, bổ sung qua lại giữa chúng Nói cách khác, để có thể hiểu một cách đầy đủ, toàn diện,
28
Trần Anh Tuấn, tlđd (14), tr 23
Trang 31sâu sắc về các đặc tính của một nguyên tắc nào đó, ta phải đặt chúng trên cùng một
hệ quy chiếu, trong mối liên hệ với nhau để phân tích, đối chiếu, đánh giá
1.3 Nội dung của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS được quy định một cách minh thị tại Điều 6 của BLTTDS 2015 Căn cứ vào các nội dung được quy định tại điều này, tác giả cho rằng, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS hướng đến 04 (bốn) nội dung chính, bao gồm (i) Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; (ii) Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; (iii) Trách nhiệm của Tòa
án trong việc hỗ trợ đương sự thu thập, cung cấp chứng cứ và (iv) Hậu quả của việc đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi không cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án Trong phạm vi phần này của Luận văn, tác giả cũng sẽ triển khai nội dung của nguyên tắc này theo 04 (bốn) nội dung đã đề cập
1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy các quan hệ giao lưu dân sự ngày càng gia tăng với sự đa dạng về số lượng và phức tạp về tính chất Bởi lẽ, giao dịch dân sự là một trong những công cụ hữu hiệu để mỗi chủ thể xác lập các thỏa thuận và dựa trên cơ sở đó thực hiện các quyền, nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của mình Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đặt ra những mâu thuẫn Theo đó, trong quan hệ dân sự mỗi cá nhân, thể nhân giữ một vai trò, địa vị pháp lý khác nhau Trên thực tế, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ thể đều mong muốn đạt được lợi ích cao nhất Do vậy, trong nhiều trường hợp, quyền tự do của người này sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác, lợi ích của một bên có thể ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại, thậm chí khi đã thỏa mãn nhu cầu của mình thì không đồng nghĩa với mọi giao dịch dân sự đều diễn ra tốt đẹp, hiệu quả như mong muốn của các bên tại thời điểm trước và/hoặc khi xác lập giao dịch dân sự Khi đó, như một lẽ tất yếu, sẽ xảy ra tranh chấp Việc giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn này có thể được thực hiện qua nhiều con đường khác nhau như cùng thương lượng, thống nhất; yêu cầu bên thứ ba tham gia hòa giải hay yêu cầu cơ quan công quyền đứng ra phân tranh bằng phương tiện quan
Trang 32trọng là pháp luật Tác giả cho rằng, một trong những phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu mang tính cưỡng chế mạnh mẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước
và được xem như là “cứu cánh cuối cùng” đó chính là khởi kiện yêu cầu TAND có thẩm quyền giải quyết Và đương nhiên, song hành cùng quyền được khởi kiện của các chủ thể đó chính là nghĩa vụ đã được định hình thành nguyên tắc trong BLTTDS
2015 – nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh mà được cụ thể hóa thành quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ
và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Trên tinh thần của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh thì nội dung đầu tiên liên quan đến quyền yêu cầu khởi kiện của các chủ thể khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm đã được quy định tại các Điều luật cụ thể một cách khá đầy đủ, chi tiết Qua đó, đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể có cơ sở được vận hành hiệu quả Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, tác giả cho rằng yêu cầu khởi kiện chỉ được xem là hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
(i) Chủ thể khởi kiện phải đáp ứng điều kiện về tư cách pháp lý Nghĩa là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật;
(ii) Yêu cầu khởi kiện phải được thể hiện dưới hình thức đơn khởi kiện Đơn này phải thể hiện đầy đủ các nội dung được liệt kê tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS; (iii) Cùng với đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng
cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và
(iv) Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đính kèm phải được nộp cho Tòa án
có thẩm quyền giải quyết Căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án tương ứng với từng loại tranh chấp khác nhau được điều chỉnh cụ thể tại Chương III BLTTDS 2015
Xét thấy đây chính là giai đoạn đầu tiên khởi động cho quá trình tố tụng, do vậy trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng cứ cũng là yêu cầu bắt buộc, là một trong những điều kiện để Tòa án có thẩm quyền ra thông báo thụ lý vụ án
Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, đương sự đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự khác phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho tính hợp pháp và có căn cứ với những nội dung mà họ đưa ra Trước hết nguyên đơn là chủ thể đầu tiên đưa ra yêu cầu nên phải có nghĩa vụ cung cấp chứng
Trang 33cứ và chứng minh Bị đơn sau khi nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ
án thì có nghĩa vụ làm bản tự khai trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và/ hoặc đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cùng với quyền và nghĩa vụ này, bị đơn có nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những ý kiến, yêu cầu mà mình đưa ra Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan sau khi nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ
lý vụ án có nghĩa vụ làm bản tự khai, có quyền đưa ra yêu cầu độc lập Và đương nhiên, hoạt động cung cấp chứng cứ để củng cố cho những yêu cầu mà họ đưa ra cũng là nghĩa vụ bắt buộc
Tại cấp phúc thẩm, nếu đương sự kháng cáo thì họ phải có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ kèm theo yêu cầu kháng cáo Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ, đó có thể là tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu nhưng đương sự không thể cung cấp được
mà có lý do chính đáng hoặc cũng có thể là tài liệu, chứng cứ mà tại cấp sơ thẩm Tòa án không yêu cầu hoặc đương sự không biết được trong giai đoạn sơ thẩm Khi vụ án được giải quyết, xem xét theo thủ tục GĐT, việc bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn này được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 330 BLTTDS 2015 Theo đó, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người
có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án Tương tự như vậy, trong giai đoạn tái thẩm, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều 357 BLTTDS 2015 (quy định thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục GĐT)
Thông qua những nội dung đã phân tích, tác giả cho rằng trong TTDS đương
sự có quyền, nghĩa vụ giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ ngay từ thời điểm nộp đơn khởi kiện cho đến thời điểm kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chỉ chấp nhận tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp nếu thuộc các trường hợp BLTTDS 2015 quy định như trên
Thiết nghĩ, những nội dung của nguyên tắc này phù hợp với các quy định trong
hệ thống pháp luật TTDS của các quốc gia áp dụng mô hình tố tụng xét hỏi (hay còn
Trang 34gọi là thẩm vấn), điển hình là Trung Quốc, Liên Bang Nga và Pháp Điều 64 Luật
TTDS Trung Quốc quy định: “Một bên có trách nhiệm cung cấp chứng cứ chứng
minh cho các yêu cầu của mình” Điều 125 Luật TTDS Trung Quốc quy định: trong
quá trình giải quyết vụ việc, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp một bên hoặc người đại diện tham gia tố tụng của họ không thể thu thập chứng cứ vì một số lý do khách quan hoặc TAND cho rằng chứng cứ đó có ý nghĩa, cần thiết trong việc giải quyết vụ án, Tòa
án sẽ điều tra và thu thập chứng cứ29
TAND sẽ điều tra kỹ lưỡng, khách quan và xác minh bằng chứng theo thủ tục pháp lý
Tương tự như vậy, Điều 56 BLTTDS Liên Bang Nga quy định: “Mỗi bên có
nghĩa vụ chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối yêu cầu của bên kia, nếu luật liên bang không có quy định khác”30 Theo
đó, khi đương sự đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của bên kia thì phải có nghĩa vụ chứng minh dựa trên những tình tiết Những tình tiết nào phải chứng minh
và đương sự nào phải có nghĩa vụ chứng minh sẽ do Tòa án quyết định31 Đây là điểm có phần khác biệt so với quy định của pháp luật TTDS Việt Nam, bởi lẽ nghĩa
vụ chứng minh thuộc về đương sự nào và nội dung nào phải chứng minh, nội dung nào không phải chứng minh sẽ do Tòa án quyết định Tuy nhiên, đánh giá một cách chung nhất thì quy định này cũng đặt nghĩa vụ phải chứng minh lên vai của chủ thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
Liên quan đến việc xuất trình và cung cấp chứng cứ, BLTTDS Liên Bang Nga quy định chứng cứ sẽ do các bên đương sự hoặc do người tham gia tố tụng xuất trình thêm Xét thấy, pháp luật TTDS nước này không xác định rõ việc cung cấp chứng cứ và chứng minh là nghĩa vụ của đương sự Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ
kỹ thuật xây dựng các điều khoản tại chương Chứng cứ và chứng minh của
29
Nguyên văn của Điều luật:
“Article 64 A party shall be responsible for providing evidence in support of his or her allegations
Where a party and his or her agent ad litem are unable to collect evidence on their own for reasons beyond their control, or where the people's court deems that the evidence is necessary for the trial of the case, the people's court shall investigate and collect the evidence
The people's court shall thoroughly and objectively investigate and verify evidence in accordance with legal procedures”
Trang 35BLTTDS Liên Bang Nga, có thể thấy rằng, mặc dù không ghi nhận thành một nguyên tắc cơ bản của BLTTDS cũng như không xác định rõ việc cung cấp chứng
cứ và chứng minh là quyền, là nghĩa vụ hay vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự Nhưng qua các quy định này, tác giả cho rằng không phải ai khác mà chính đương sự mới là chủ thể giữ vai trò trọng tâm trong hoạt động tố tụng, họ phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
Khi bàn về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, tác giả xin phép được phân tích thêm quy định của một quốc gia có những ảnh hưởng rất lớn về tư duy lập pháp, về triết lý xây dựng và hoàn thiện các chế định về pháp luật dân sự nói chung và pháp luật TTDS nói riêng đối với Việt Nam, đó chính là Pháp Có ý kiến cho rằng chế định chứng cứ trong pháp luật dân sự Pháp có sự giao thoa giữa luật tố tụng và luật nội dung Là một phần của luật tố tụng, nó bị chi phối bởi các nguyên tắc chung được đặt ra bởi BLTTDS (Tiếng Pháp là Code de Procédure Civile), điển hình như nguyên tắc mâu thuẫn, nguyên tắc xét xử công khai hoặc nguyên tắc tự do định đoạt, Mặt khác, các nguyên tắc thực chất hơn sẽ được tìm thấy trong Bộ luật Dân sự Các nguyên tắc này mang bản chất là sự pha trộn của hai
hệ thống, hệ thống quy phạm đạo đức (preuve morale) được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể, hệ thống thứ hai là nguyên tắc pháp lý, chiếm ưu thế rõ ràng trong TTDS32 Do vậy, việc xây dựng các quy định về chứng cứ chứng minh trong TTDS Pháp xuất phát từ tính chất của quan hệ dân sự cũng như quyền quyết định và
tự định đoạt của đương sự
Điều 6, Điều 9 BLTTDS Pháp quy định:
“Các bên đương sự có nghĩa vụ viện dẫn các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” 33
“Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” 34
Các quy định nêu trên đã ghi nhận rõ ràng rằng hoạt động thu thập, cung cấp, viện dẫn các chứng cứ, tình tiết cụ thể và chứng minh cho tính có căn cứ, hợp pháp đối với các tình tiết, chứng cứ đã viện dẫn theo trình tự thủ tục pháp luật quy định là
32
Martin Oudin (2015), “Evidence in Civil Law – France”, Institute for Local Self - Government and Public
Procurement Maribor Grajska ulica 7, 2000 Maribor, Slovenia, tr 6
Trang 36nghĩa vụ của đương sự Thẩm phán chỉ căn cứ vào những tình tiết mà đương sự đã cung cấp để đưa ra quyết định khi giải quyết vụ án, nói cách khác, thẩm phán không thể ra quyết định căn cứ vào những tình tiết không được viện dẫn khi tranh luận Bên cạnh đó, tác giả cho rằng mặc dù ở góc độ văn bản, hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự không được quy định thành một nguyên tắc
cơ bản giữ vai trò chủ đạo, chi phối đến các quy định khác về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong pháp luật TTDS một số quốc gia song không thể phủ nhận một thực tế rằng, tinh thần mà từng quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ được đề cập trong pháp luật một số nước nêu trên đã phản ánh và xác định quyền, nghĩa vụ chủ động cung cấp chứng
cứ và chứng minh cho tính có căn cứ và hợp pháp đối với yêu cầu của mình là nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS
1.3.2 Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền
Bên cạnh các quy định về quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ và chứng minh của đương sự, Điều 6, Điều 7 BLTTDS hiện hành quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý khi
có yêu cầu của đương sự, Tòa án, VKSND và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về việc cung cấp các tài liệu, chứng cứ đó Trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Nội dung này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 106 BLTTDS 2015
So sánh trong tương quan với quy định của BLTTDS 2004 về nội dung trên, tác giả cho rằng đây là điểm tiến bộ của BLTTDS 2015 Trước đây, tại Điều 94 BLTTDS 2004 không có quy định về quyền của đương sự trong việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ cung cấp Điều này vô hình trung gây ra rất nhiều khó khăn, bất lợi cho đương sự Do vậy, việc BLTTDS 2015 ghi nhận tại Điều 106 về quyền cũng như phương thức yêu cầu cung cấp chứng cứ đồng thời đặt ra nghĩa vụ đối ứng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ (trách nhiệm pháp lý, thời hạn phải tuân thủ) được xem là “bước tiến đáng kể” trong quá trình cụ thể hóa và bảo đảm giá trị của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh Thiết nghĩ đây là quy định hợp lý, vừa đảm bảo quyền của đương sự, vừa nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đồng thời
Trang 37cũng là cơ sở quan trọng để mỗi đương sự chứng minh cho Tòa án về việc họ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng vẫn không tự mình thu thập được, qua đó có căn cứ yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp pháp
lý hỗ trợ họ thu thập tài liệu, chứng cứ
Nghiên cứu quy định của pháp luật TTDS Pháp về vấn đề này, tác giả nhận thấy, Pháp cũng có những quy định xác định nghĩa vụ của các chủ thể lưu giữ chứng cứ Theo đó, các bên đương sự có nghĩa vụ giúp thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc
từ chối giúp đỡ Nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng
cứ, thì theo yêu cầu của bên kia, thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt
tiền để cưỡng chế Ngoài ra, theo đề nghị của một trong các bên đương sự, thẩm
phán có thể yêu cầu hoặc buộc người thứ ba đang nắm giữ những tài liệu liên quan phải xuất trình tất cả các tài liệu, nếu không có trở ngại chính đáng Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế như đối với trường hợp trên35 Mặt khác, BLTTDS Pháp cũng có những quy định về chế tài đối với việc các bên không thực hiện nghĩa vụ giúp đỡ Tòa án thu thập chứng cứ Điều 11,
Mục 4, Chương 1, Thiên I, Quyển thứ nhất quy định “các bên đương sự có nghĩa vụ
giúp đỡ Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ”
Tương tự như pháp luật TTDS Pháp, cùng với việc quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của chủ thể đang lưu giữ thì pháp luật TTDS Việt Nam cũng đặt ra chế tài tương ứng nếu các chủ thể này vi phạm Điều 495 BLTTDS
2015 quy định về việc xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ Đối chiếu với các quy định tại Điều 498 BLTTDS, các Điều 21, 48 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012,
có thể thấy rằng, hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ thì hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi này là cảnh cáo, phạt tiền và thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt thuộc về Chánh
án Về chế tài hình sự, Điều 383 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 có quy định về tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu Theo đó xác định người giám định, người định giá tài
35
BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp, tlđd (33), tr 9
Trang 38sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì chế tài phải chịu có thể là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm
Tác giả cho rằng các chế tài như BLTTDS, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 hay Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định còn khá chung chung, thiếu tính khả thi trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt là không đảm bảo tinh thần của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh Đây cũng chính là điểm khác biệt so với quy định của BLTTDS Pháp như đã phân tích và BLTTDS Liên Bang Nga Theo đó, khoản 3 Điều 57 BLTTDS Liên Bang Nga quy định trong trường hợp đương sự không thông báo cho Tòa án hoặc không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì những người có chức vụ bị phạt tiền đến mức 10 lần mức lương tối thiểu, công dân bị phạt tiền đến mức 5 lần mức lương tối thiểu, nếu họ không phải là những người tham gia tố tụng Như vậy,
có thể thấy rằng, pháp luật TTDS Liên Bang Nga đã đặt ra chế tài và mức phạt khá nặng đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án của các cá nhân, tổ chức đang nắm giữ Thiết nghĩ đây là quy định rất tiến bộ, được quy định rõ ràng và chi tiết trong luật mà chúng ta cần nhìn nhận một cách nghiêm túc
để tham khảo, hoàn thiện pháp luật TTDS quốc gia
1.3.3 Hậu quả của việc đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
Về nguyên tắc, khi quy định về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự thì pháp luật đồng thời cũng phải có những quy định về hậu quả pháp lý phải chịu khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền, nghĩa vụ này Đây là cơ chế quan trọng nhằm đảm bảo nghĩa vụ của mỗi đương sự được thực hiện trên thực tế Nội dung này được quy định cụ thể tại khoản
4 Điều 91 và khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015
Theo đó, hậu quả đầu tiên là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự cũng như của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Bởi lẽ đặc thù của việc xem xét, đánh giá chứng cứ trong TTDS nằm ở việc Tòa án xem xét,
đánh giá dựa trên những chứng cứ mà đương sự cung cấp Nghĩa vụ chứng minh
của đương sự có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 39họ Trường hợp đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ “Hậu quả ở đây được hiểu là kết quả giải quyết vụ việc dân sự bất lợi cho đương sự không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ”36
là, Toà án không chỉ xem xét, giải quyết vụ án trong phạm vi giới hạn những tài liệu, chứng cứ đã được đương sự xuất trình mà còn có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, quy định này vô hình trung dẫn đến tình trạng Toà án lạm dụng quyền lực, thiên vị cho một bên hoặc
“làm thay” cho các bên đương sự khi giải quyết vụ việc và hệ quả là nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong TTDS chỉ còn mang tính hình thức, thủ tục Do đó, nhằm khắc phục một phần những khiếm khuyết trong các Pháp lệnh đồng thời mở rộng nguyên tắc quyền quyết định và
tự định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong TTDS, Điều 6 BLTTDS 2015 đã quy định quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trở thành nguyên tắc cơ bản
Theo quan điểm của một số tác giả, BLTTDS hiện hành quy định theo hướng Tòa án xét xử theo phương châm “chứng cứ tới đâu, xét xử tới đó”, bất luận là
36
Lê Thị Thanh Tâm (2017), Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự theo BLTTDS
2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr 42
Trang 40chứng cứ ấy có đầy đủ hay không37 Tác giả cho rằng, quan điểm này tuy không hoàn toàn chính xác nhưng có phần hợp lý Bởi lẽ, các quy định của pháp luật TTDS hiện hành đã quy định rõ ràng rằng Tòa án không thể tự mình thu thập chứng
cứ mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ đương sự trong một số trường hợp Trách nhiệm hỗ trợ này không là trách nhiệm đương nhiên mà chỉ có giá trị bắt buộc trong những trường hợp luật định (Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 101, Điều 102 BLTTDS) Nghiên cứu pháp luật TTDS một số quốc gia trên thế giới, tác giả nhận thấy, các quốc gia được phân tích cũng quy định vai trò của Tòa án chỉ dừng lại ở khía cạnh hỗ trợ đương sự Điều 65 Luật TTTDS Trung Quốc quy định đương sự phải có trách nhiệm cung cấp chứng cứ đúng thời hạn luật định Tòa án sẽ dựa trên yêu cầu của các bên tham gia vụ án và hoàn cảnh xét xử vụ án để xác định chứng cứ mà một bên bắt buộc phải cung cấp cũng như thời hạn tương ứng Trường hợp một bên gặp khó khăn trong việc cung cấp bằng chứng trong thời hạn mà pháp luật quy định thì bên đó có thể nộp đơn để xin gia hạn TAND sẽ xem xét và quyết định chấp thuận hay không Trong trường hợp một bên không cung cấp bằng chứng cần thiết trong thời hạn đã định, TAND sẽ yêu cầu bên đó đưa ra lý do, nếu bên được yêu cầu từ chối hoặc lý do được cung cấp là không chính đáng thì TAND sẽ xem xét, đánh giá dựa trên các tài liệu, chứng cứ đương sự đã cung cấp
Pháp luật TTDS Liên Bang Nga cũng có những quy định liên quan đến trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án Cụ thể, khi người tham gia tố tụng gặp khó khăn trong việc xuất trình chứng cứ thì theo yêu cầu của họ, Tòa án có thể giúp đỡ chủ thể này
thu thập, yêu cầu cung cấp chứng cứ Khoản 1 Điều 57 BLTTDS quy định: “Tòa án
có quyền yêu cầu những người tham gia tố tụng xuất trình thêm chứng cứ” Như
vậy, theo quy định này, Tòa án cũng có quyền thu thập chứng cứ, tuy nhiên cũng chỉ hỗ trợ đương sự trong những trường hợp mà đương sự không thể tự mình thu thập hoặc Tòa án xét thấy cần thiết Đây là quy định khá tương đồng so với BLTTDS 2015, song khác biệt nằm ở chỗ, BLTTDS Liên Bang Nga trao cho Tòa
án quyền áp dụng nhiều biện pháp pháp lý đa dạng để thu thập chứng cứ, chẳng hạn: xem xét và đánh giá chứng cứ tại chỗ (Điều 58), ủy thác thu thập chứng cứ (Điều 62), trưng cầu giám định, bao gồm giám định tổng hợp và giám định tập thể (Điều 79, Điều 82 và Điều 83),…
37
Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015), “Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 07
(287), tr 30