1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự việt nam

87 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa người bị tạm giữ và người bị tạm giữ trong một số trường hợp đặc biệt Định nghĩa người bị tạm giữ Theo Từ điển Luật học, khái niệm người bị tạm giữ NBTG là người bị bắt tron

Trang 1

TRƯƠNG VĂN HÒA

NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 2

TRƯƠNG VĂN HÒA

NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Trương Văn Hòa, sinh năm 1968 là học viên lớp Cao học luật

khóa I - Long An, chuyên ngành: Luật hình sự Mã số: 60.38.40, niên khóa

2010 – 2013

Tôi được trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh phân công thực

hiện Luận văn thạc sỹ với đề tài “Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam”

Nay tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi cùng giáo viên hướng dẫn Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi thắc mắc, khiếu nại sau này

Tác giả luận văn

Trương Văn Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6

1.1 Khái niệm chung về người bị tạm giữ 6

1.1.1 Định nghĩa người bị tạm giữ và người bị tạm giữ trong một số trường hợp đặc biệt 6

1.1.2 Vai trò và đặc điểm của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 8

1.2 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với cơ quan và người tiến hành tố tụng 16

1.2.1 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với Cơ quan điều tra và người được Bộ luật tố tụng hình sự giao một số hoạt động tố tụng 16

1.2.2 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với Viện kiểm sát 18

1.3 Sơ lược về người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam 19

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 19

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 26

2.1 Pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng về quyền của người bị tạm giữ 26

2.1.1 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền được biết lý do mình bị tạm giữ 26

2.1.2 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền được nghe giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ; có quyền trình bày lời khai 29

2.1.3 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền của người bị tạm giữ có quyền tự mình bào chữa hoặc có quyền nhờ người khác bào chữa; quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 32

Trang 6

2.1.4 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền khiếu nại việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng 36

2.1.5 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền của người bị tạm giữ đối với một số quyền khác 41

2.2 Pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng về nghĩa vụ của người bị tạm giữ 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 52

3.1 Cải cách tư pháp và nhu cầu nâng cao việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 52

3.2 Đánh giá chung về việc áp dụng quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 55

3.2.1 Những thành tựu và hạn chế trong xây dựng pháp luật 55

3.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong việc áp dụng pháp luật 61

3.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ 66

3.3 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 68

3.3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật 68

3.3.2 Nhóm giải pháp khác 71

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Thông thường người bị tạm giữ ở giai đoạn khởi tố sẽ trở thành bị can ở giai đoạn điều tra và trở thành bị cáo ở giai đoạn xét xử Do đó, người tiến hành tố tụng thường hay có định kiến xem những người bị tạm giữ là tội phạm và oan sai sẽ xảy ra nếu như cơ quan và người tiến hành tố tụng không thực hiện đúng những chế định về người bị tạm giữ được Bộ luật tố tụng hình

sự qui định Chế định người bị tạm giữ được qui định trong các điều luật của

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 nhưng trọng tâm và quan trọng nhất là Điều 48 Tính có căn cứ và hợp pháp của việc bắt, tạm giữ đã hình thành nên địa vị pháp lý của người bị tạm giữ Xuất phát từ địa vị pháp lý của người bị tạm giữ nêu trên nên nguy cơ người bị tạm giữ dễ bị xâm phạm các quyền cơ bản của

họ như: Quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, chính trị, dân sự… bởi người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Ngoài ra, người

bị tạm giữ còn được hiểu là người đang bị tình nghi thực hiện tội phạm, do vậy Bộ luật Tố tụng hình sự qui định tương đối đầy đủ về các chế định về vấn

đề này Phải khẳng định rằng đây là cơ sở pháp lý quan trọng để ràng buộc cơ quan, người tố tụng hình sự, tôn trọng, bảo vệ cũng như đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn một số điểm qui định bất cập, chưa rõ ràng, thiếu tính chặt chẽ, chưa đảm bảo cho người bị tạm giữ thực hiện đầy đủ quyền tố tụng của họ, nhất là quyền yêu cầu, quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Thậm chí có những quyền qui định còn mang tính hình thức… Trong thực tế quyền cơ bản của người bị tạm giữ được Bộ luật Tố tụng hình sự qui định đó là có quyền yêu cầu người bào chữa cho mình ngay thời điểm bị bắt nhưng trong thực tế thường thì quyền này bị người tiến hành tố tụng lấy nhiều

lý do để từ chối hoặc có trường hợp do pháp luật chưa qui định, qui định chưa

Trang 8

đầy đủ dẫn đến hệ quả bất lợi cho người bị tạm giữ Vì thế, việc ép cung, mớm cung, dùng nhục hình bắt nhận tội vẫn còn xảy ra

Do đó, việc nghiên cứu chế định người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam để tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chế định này

từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng và bản thân người bị tạm giữ cũng như để tìm ra một số giải pháp kiến nghị hoàn thiện chế định người bị tạm giữ trong Bộ luật tố tụng hình sự là một điều hết sức cần thiết mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Vấn đề này còn được xem là một cách thức bảo vệ, bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam

Vì lý do vừa trình bày trên, tác giả chọn đề tài: Người bị tạm giữ trong

tố tụng hình sự Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp khóa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu liên quan đến chế định người bị tạm giữ trong tố tụng hình

sự Việt Nam thời gian qua đã có một số công trình như:

- Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự do Viện

kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân quyền Australia phối hợp tổ chức vào tháng 3 năm 2010 tại thành phố Hồ Chí Minh Tài liệu này đề cập đến việc hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người

bào chữa theo yêu cầu cải cách tư pháp Sách viết về Đảm bảo quyền con

người trong tư pháp hình sự Việt Nam – nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành

phố Hồ Chí Minh – năm 2010 của tiến sĩ Võ Thị Kim Oanh chủ biên Đây là tài liệu có nhiều bài viết của các tác giả đi sâu về việc đảm bảo quyền của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự và các chủ thể tiến hành tố tụng Trong hai

tài liệu nêu trên có bài viết của PGS TS Trần Văn Độ “Hoàn thiện quyền và

nghĩa vụ tố tụng của người bị tam giữ, bị can, bị cáo theo yêu cầu cải cách tư pháp”.Tuy nhiên, vể tổng thể người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự chưa

được tài liệu đề cập đến một cách toàn diện

- Đề tài luận văn thạc sĩ Các biện pháp ngăn chặn bắt, giữ, tạm giam

trong tố tụng hình sự Việt Nam của thạc sĩ Lê Đông Phong Luận văn đi sâu

nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự trong đó có một số biện pháp ngăn chặn là cơ sở hình thành địa vị tố tụng của người bị tạm giữ

Trang 9

như biện pháp bắt người khẩn cấp, biện pháp bắt người phạm tội quả tang, đầu thú, tự thú, biện pháp tạm giữ

- Đề tài luận văn thạc sĩ Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam của thạc sĩ Nguyễn Tiến Đạt Đề tài chủ

yếu nghiên cứu về việc bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng hình sự trong đó có người bị tạm giữ Tuy nhiên, đề tài nêu trên chưa đi sâu về người

bị tạm giữ với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định

- Đề tài luận văn thạc sĩ Bị can trong tố tụng hình sự Việt Nam của thạc

sĩ Nguyễn Thanh Sơn Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể về bị can trong tố tụng hình sự Tài liệu này giúp cho việc hình thành cách nghiên cứu đối với chủ thể tham gia tố tụng hình sự - người bị tạm giữ

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu vừa nêu các tác giả tập trung làm rõ về quyền của người bị tạm giữ theo yêu cầu cải cách tư pháp hoặc chỉ tập trung nghiên cứu một khía cạnh cụ thể đối với người bị tạm giữ, chưa quan tâm đầy đủ, phân tích đánh giá một cách tổng thể những qui định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ với tư cách là một chủ thể trong quan hệ tố tụng hình sự Như vậy, với việc nghiên cứu chế định người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam một cách toàn diện có thể xem đây là bước nghiên cứu tiếp theo về vấn

đề còn bỏ ngỏ, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu những qui định trong tố tụng lịch sử

Việt Nam – chủ yếu là Bộ luật TTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ người

bị tạm giữ, tác giả làm rõ những vấn đề cơ bản trong bức tranh toàn cảnh về

người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam Qua đó, tác giả làm rõ thực trạng của

chế định này những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót của các cơ quan và người tiến

hành tố tụng trong việc thực thi chế định này, những bất cập của luật, để kiến

nghị một số giải pháp nâng cao chất lượng thực thi chế định người bị tạm giữ

và đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện qui định Bộ luật tố tụng hình

sự về chế định người bị tạm giữ

Trang 10

Nhiệm vụ: Thu thập tài liệu, phân tích những qui định của Bộ luật Tố

tụng hình sự làm rõ những vấn đề cơ bản qui định về người bị tạm giữ và thực tiễn thực hiện chế định này, với mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến nay Từ cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người bị tạm giữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu

Những qui định của pháp luật về người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam - chủ yếu là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ người bị tạm giữ - từ bản thân

người bị tạm giữ, từ phía các cơ quan và người tiến hành tố tụng

Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ các qui định của pháp luật - chủ yếu là Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2003 về người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự dưới góc độ là chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình sự

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu dựa trên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, về việc bảo vệ quyền con người nói chung, chế định người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng;

Mac-Cùng với việc nghiên cứu các công trình đã có và Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2003 qui định về quyền và nghĩa vụ người bị tạm giữ làm nguồn tài liệu tham khảo nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu gồm: Các văn bản pháp luật của Việt Nam có liên quan đến chế định người bị tạm giữ, tạp chí Luật học, tạp chí Khoa học Pháp lý, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Dân chủ và Pháp luật…;

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích tổng hợp, so sánh, chuyên gia

6 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài

Lời cam kết của tác giả khẳng định luận văn là công trình khoa học của

riêng tác giả, không trùng với công trình nghiên cứu nào khác Trong quá trình làm luận văn tác giả nghiên cứu tổng thể các qui định của pháp luật về

Trang 11

chế định người tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu đó, tác giả tìm ra những hạn chế, thiếu sót cần phải khắc phục trong việc thực hiện các chế định người tạm giữ trong qui định của Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2003 Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chế định này và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình

sự về vấn đề này

Giá trị ứng dụng của đề tài: Sau khi được nghiệm thu, đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện qui định của

Bộ luật Tố tụng hình sự về người bị tạm giữ

7 Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu Tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu của đề tài,

mục đích đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, những đóng góp và kết cấu của đề tài

Phần nội dung : Gồm 03 chương

Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về người tạm giữ trong tố tụng hình sự ;

Chương 2 Pháp luật thực định về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm chung về người bị tạm giữ

1.1.1 Định nghĩa người bị tạm giữ và người bị tạm giữ trong một số trường hợp đặc biệt

Định nghĩa người bị tạm giữ

Theo Từ điển Luật học, khái niệm người bị tạm giữ (NBTG) là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có giai đoạn bị tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố1

Như vậy theo khái niệm trên, NBTG

là người bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tước đoạt sự tự do của họ trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm giúp cơ quan có thẩm quyền thu thập thêm chứng cứ để đi đến quyết định khởi tố hay không khởi tố đối với hành vi vi phạm pháp luật của họ.Người bị tạm giữ luôn gắn liền với các biện pháp bắt như: Bắt khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người phạm tội đang bị truy nã và đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tố tụng là tạm giữ Theo Cuốn sách “3450 Thuật ngữ pháp lý phổ thông”2

thì: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố Mặc dù chưa bị khởi tố nhưng NBTG vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan điều tra trong khi bị tạm giữ, như bị hạn chế quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra… Chính vì lẽ đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng Họ có quyền và nghĩa vụ nhất định

Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Bộ luật TTHS) “Người bị

tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người

bị bắt theo quyết định truy truy nã, hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” Luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã mở rộng

hơn đối tượng bị tạm giữ Theo đó, NBTG là người không những bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bắt theo quyết định truy nã như khái niệm vừa nêu mà NBTG còn bị bắt trong trường hợp người phạm tội tự thú và

1 Nguyễn Hữu Quỳnh -Nguyễn Hữu Đắc (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 339

2 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nxb Giao thông Vận tải, Tp Hồ Chí Minh,

tr 119

Trang 13

đầu thú Một người được coi là NBTG, khi người đó bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ Như vậy, NBTG được hình thành trên cơ sở năm trường hợp bắt, giữ người theo quy định của Bộ luật TTHS và trên cơ sở

cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt Kể từ thời điểm người bị bắt trong năm trường hợp nêu trên nhận quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền thì họ trở thành NBTG Bộ luật Tố tụng hình

sự 2003 đã bổ sung qui định người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú cũng là các đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ

Do đó NBTG có thể là người chưa bị khởi tố (người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú), cũng có thể là người đã bị khởi tố (người bị bắt theo quyết định truy nã)3

Người bị tạm giữ trong một số trường hợp đặc biệt

Người bị tạm giữ là Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân

Ngoài tính có căn cứ và tính hợp pháp nêu trên đối với NBTG, khi Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trở thành NBTG thì việc bắt, tạm giữ đối với họ phải có thêm những điều kiện pháp lý nhất định Điều 99 Hiến pháp 1992 qui định: “Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội thì không được bắt…” Nếu phạm tội quả tang mà Đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định Điều 51 Luật Tổ chức Quốc hội cũng đã đề cập vấn đề này tương tự như Hiến pháp 1992 đã quy định Tuy nhiên, theo Luật Tổ chức Quốc hội thì việc bắt tạm giữ Đại biểu Quốc hội, khám xét nơi ở, nơi làm việc của Đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKS) tối cao

3 Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2003), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tư

pháp, tr 89, 90

Trang 14

Đối với Đại biểu Hội đồng nhân dân theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thì trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của chủ tọa kỳ họp thì không được bắt, tạm giữ Đại biểu Hội đồng nhân dân Trường hợp bắt Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội quả tang hoặc bắt khẩn cấp thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo ngay với chủ tọa kỳ họp Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan, người có thẩm quyền bắt giữ Đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải báo ngay cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp - Điều 38 Luật

Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Người bị tạm giữ là người chưa thành niên

Ngoài những căn cứ và tính hợp pháp của các căn cứ hình thành NBTG thì người chưa thành niên trở thành NBTG phải có thêm điều kiện pháp lý nhất định Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Người chưa thành niên trong pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự là chủ thể của tội phạm

và được pháp luật chia ra thành hai độ tuổi: Độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi và

độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và phải đáp ứng điều kiện về loại tội, về lỗi tương ứng

1.1.2 Vai trò và đặc điểm của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 1.1.2.1 Người bị tạm giữ là chủ thể đặc biệt cùng với bị can, bị cáo giữ vai trò trung tâm trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, NBTG cùng với bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong qúa trình giải quyết vụ án Họ là người bị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nghi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó được BLHS qui định là tội phạm Trên cơ sở xác định bản chất tố tụng mà NBTG tham gia để xác định quyền của NBTG nhằm giúp họ có điều kiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Đồng thời cũng cần xác định nghĩa vụ của NBTG để buộc họ phải thực hiện những hành vi nhất định nhằm góp phần đảm bảo cho các hoạt động TTHS được tiến hành đúng pháp luật

Trong tố tụng hình sự (TTHS) có nhiều chủ thể như: Cơ quan tiến hành

tố tụng (THTT), người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, các cơ quan

và chủ thể được giao một số hoạt động tố tụng cụ thể quy định trong Bộ luật

Trang 15

TTHS Người bị tạm giữ là một trong những chủ thể tham gia tố tụng có vị trí đặc biệt, bởi lẽ: Người bị tạm giữ được Bộ luật TTHS qui định quyền và nghĩa vụ cụ thể khi tham gia vào quan hệ TTHS Địa vị pháp lý của NBTG được qui định xuất phát từ bản chất của việc bị tạm giữ, đó là việc NBTG bị cách ly với xã hội một thời gian nhất định do họ bị tình nghi đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội được Luật hình sự quy định là tội phạm Khi việc tạm giữ người được thực hiện thì đồng thời phát sinh quyền của NBTG

và quyền này được quy định thông qua tính có căn cứ pháp lý của việc tạm giữ (các biện pháp bắt người bị tình nghi như: Bắt khẩn cấp, bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bắt người có lệnh truy nã và tạm giữ người phạm tội đầu thú, tự thú) Sau khi NBTG bị bắt tạm giữ họ chưa bị xem là người đã

có tội vì họ chưa bị cơ quan THTT truy cứu TNHS, bởi lẽ: Tại thời điểm bắt giữ người, Cơ quan điều tra và người có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng là tạm giữ nhằm vào mục đích ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội mới và để cơ quan và người có thẩm quyền có điều kiện xác minh tìm ra sự thật của hành vi bị nghi ngờ là tội phạm, chứ bản thân của quyết định tạm giữ người không phải có tính chất quyết định buộc tội NBTG Thế nhưng, xét về bản chất thì NBTG sau khi đã bị cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi bị tình nghi là tội phạm của họ được xem là tội phạm thì NBTG lại là tiền đề, là chủ thể để phát sinh ra các chủ thể tham gia tố tụng khác, chẳng hạn như là bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng sau đó Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy hầu hết các chủ thể là bị can, bị cáo đều có xuất phát điểm là chủ thể NBTG Trong TTHS của nước ta hiện nay thì bị can, bị cáo luôn được xác định là người tham gia tố tụng giữ vai trò trung tâm của suốt quá trình tố tụng Vì vậy, NBTG cần phải được xác định là người tham gia tố tụng có vị trí đặc biệt trong TTHS Việt Nam

Người bị tạm giữ cùng với bị can, bị cáo đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình tố tụng thể hiện ở chỗ: Hầu hết các hoạt động ban đầu của các

cơ quan THTT đều hướng vào việc xác định tội phạm từ chủ thể NBTG Mọi hoạt động tố tụng phát sinh đối với bị can hầu hết đều bắt nguồn từ việc xử lý NBTG Tuy nhiên, một NBTG lại không đồng nghĩa với việc người đó sẽ bị buộc tội nhưng nếu qua phân loại cơ quan và người có thẩm quyền THTT xác định NBTG đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó cấu

Trang 16

thành tội phạm thì NBTG đó sẽ bị khởi tố bị can Điều này cho thấy, đa số các trường hợp nếu không có NBTG thì hầu như không làm phát sinh các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và cũng không làm phát sinh các quan hệ khác trong TTHS giữa NBTG với người THTT, người tham gia tố tụng khác NBTG luôn gắn liền với một số biện pháp bắt Một số hoạt động điều tra vẫn được áp dụng đối với NBTG như: Hoạt động xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 152); hoạt động thực nghiệm điều tra (Điều 153); hoạt động trưng cầu giám định (Điều 155) và hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản (chương XII)

Trường hợp NBTG tham gia tích cực các hoạt động tố tụng, hợp tác với

Cơ quan điều tra thì sẽ có ý nghĩa rất lớn vì nó giúp cho việc chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và nó là tiền đề cơ bản chuyển hóa NBTG thành bị can, bị cáo Nhiều vụ án oan, sai, vi phạm tố tụng phần lớn là do Cơ quan điều tra và những cơ quan được pháp luật giao thực hiện một số hoạt động điều tra đã không làm tốt nhiệm vụ chứng minh tội phạm của NBTG cộng với việc NBTG có kinh nghiệm trong việc đối phó với Cơ quan điều tra, họ thụ động khai báo và cố tình né tránh trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ dẫn đến hệ quả là việc chứng minh tội phạm để làm căn cứ khởi tố bị can của các cơ quan điều tra gặp khó khăn, thậm chí có trường hợp phải trả tự do cho NBTG do chưa đủ căn cứ để khởi

tố bị can Trong khi đó NBTG là người hiểu rõ nhất họ đã làm gì, có thực hiện hành vi phạm tội hay không… Nếu NBTG chính là người thực hiện hành vi phạm tội thì họ là người biết chính xác, đầy đủ về những tình tiết của vụ án cũng như nguyên nhân, động cơ để họ thực hiện hành vi phạm tội Do đó, để tạo điều kiện cho NBTG hợp tác tốt với Cơ quan Điều tra thì chính Cơ quan Điều tra và người có thẩm quyền trong giai đoạn này cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để NBTG được hưởng hết các quyền của NBTG mà pháp luật

đã quy định, đồng thời cũng phải có biện pháp thích hợp, cứng rắn để buộc NBTG thực thi nghĩa vụ của họ là việc làm rất cần thiết Làm được như vậy

sẽ góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác và khách quan

1.1.2.2 Người bị tạm giữ là chủ thể thực hiện quyền bào chữa

Trong số các quyền năng tố tụng của NBTG thì quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là quyền quan trọng Quyền bào chữa là một trong

Trang 17

những vấn đề phức tạp được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn trong tố tụng hình sự Đối với người bị tạm giữ quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa được thể hiện ở Điều

11, Điều 48 BLTTHS Khi qui định về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự đã ghi nhận NBTG là một trong những người có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực 01/7/2004, người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi có sự kiện pháp lý một người bị tạm giữ Quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là một điểm mới thể hiện tính dân chủ của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Quyền năng tố tụng này của người bị tạm giữ được pháp luật ghi nhận và đảm bảo cho phép NBTG thực hiện các hành

vi và quyền tố tụng của họ nhằm bác bỏ sự buộc tội trái pháp luật hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình

Tự bào chữa là một trong những hình thức thể hiện quyền bào chữa của NBTG Nó là nội dung quan trọng của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Pháp luật cho phép NBTG được tự mình thực hiện các hành vi tố tụng như dùng lời lẽ, đưa ra lập luận chứng cứ và những yêu cầu có lợi cho mình khi tham gia tố tụng mà không nhất thiết có sự tham gia của người bào chữa Khi NBTG nhờ người khác bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa Điều đó có nghĩa là quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa là hai nội dung trong một chỉnh thể thống nhất của quyền bào chữa Nó có tác dụng bổ sung cho nhau, chứ không triệt tiêu nhau, nó có thể cùng song song tồn tại Người

bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa thông qua nghĩa vụ tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên như nghĩa vụ giải thích cho họ biết về quyền và nghĩa

vụ khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự

Với khả năng luật định, NBTG được trình bày lời khai, đưa ra tài liệu,

đồ vật, yêu cầu; có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; có quyền khiếu nại

về việc tạm giữ, quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT, được tham gia vào một hoạt động điều tra, được thông báo nội dung kết luận giám định

Với tư cách là chủ thể thực hiện quyền bào chữa, NBTG cũng có thể nhờ người khác bào chữa cho họ Nhờ người khác bào chữa như nhờ luật sư,

theo Điều 2 luật Luật sư 2006 thì “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều

Trang 18

kiện hành nghề theo qui định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”; hoặc nhờ bào chữa viên nhân dân Hoạt

động của bào chữa viên nhân dân không phải là chuyên nghiệp mà chỉ có tính chất nghiệp dư, hoặc người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ tham gia

tố tụng với tư cách là người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

họ Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ theo qui định tại điều 141

Bộ luật Dân sự năm 2005 là cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám

hộ đối với người được giám hộ, người được Tòa án chỉ định đối với người bị tạm giam thiếu năng lực hành vi dân sự hoặc những người khác theo qui định của pháp luật

Người bị tạm giữ thực hiện quyền bào chữa của mình thông qua quyền

tố tụng của người bào chữa Khi bào chữa cho người bị tạm giữ, người bào chữa có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, theo đó NBTG đã ủy thác cho người bào chữa quyền sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ (người bị tạm giữ) của mình Người bào chữa có quyền sử dụng quyền tố tụng của mình khi tham gia tố tụng như quyền được cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong thời hạn 24 giờ để thực hiện việc bào chữa; được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ; quyền được có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ; có quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình; có quyền đề nghị thay đổi người THTT; có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho người bị tạm giữ; có quyền được gặp người bị tạm giữ; có quyền khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của cơ quan người có thẩm quyền THTT Nếu được điều tra viên đồng ý, người bào chữa

có quyền hỏi người bị tạm giữ về những tình tiết có lợi cho NBTG mà Điều tra viên chưa đề cập đến hoặc đã đề cập nhưng chưa làm rõ Người bào chữa

có quyền yêu cầu cơ quan điều tra xem xét những chứng cứ có lợi cho NBTG, không làm xấu đi tình trạng của NBTG như các chứng cứ chứng minh sự vô tội của NBTG, chứng cứ chứng minh hành vi của NBTG không đến mức độ nguy hiểm như hồ sơ của cơ quan điều tra thu thập, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của NBTG trong hồ sơ chưa có hoặc có nhưng chưa đầy

đủ Ngoài ra người bào chữa có quyền yêu cầu cơ quan THTT khắc phục

Trang 19

những thiếu sót trong hoạt động điều tra như đề nghị trưng cầu giám định, triệu tập thêm người làm chứng…

Ngoài việc người bào chữa trực tiếp làm việc để thực thi quyền tố tụng tại cơ quan điều tra thì người bào chữa có thể đưa ra những chứng cứ không được cơ quan điều tra chấp nhận hoặc đã chấp nhận nhưng chưa được xem xét

sử dụng hoặc các chứng cứ, yêu cầu mới cho Viện kiểm sát cùng cấp Việc cung cấp thông tin bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG từ phía người bào chữa giúp cho Viện kiểm sát xem xét đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện hơn khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Việc gặp NBTG giúp cho người bào chữa nắm vững thêm chứng cứ gỡ tội, nếu NBTG không bị phạm tội hoặc oan sai trong quá trình bắt, tạm giữ Trong trường hợp hành vi phạm tội của người bị tạm giữ đã quá rõ ràng (người bị tạm giữ bị bắt trong trường hợp quả tang, bắt theo lệnh truy nã) nhưng NBTG vẫn cố tình chối tội thì người bào chữa gặp NBTG để giải thích pháp luật giúp NBTG có điều kiện thành khẩn khai báo nhận được sự khoan hồng của pháp luật

Bào chữa là một chức năng quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của NBTG Thực tiễn trong giai đoạn tiền khởi tố bị can, vì nhiều lý do khác nhau nên không phải NBTG nào cũng thực thi được quyền tự bào chữa của họ một cách

có hiệu quả Vì vậy pháp luật đã qui định quyền bào chữa của NBTG bằng việc nhờ người khác bào chữa Hình thức thực hiện quyền bào chữa thông qua người bào chữa góp phần nâng chất việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam, giúp cơ quan THTT giải quyết các vụ việc có dấu hiệu tội phạm được khách quan

1.1.2.3 Đặc điểm của người bị tạm giữ

Xuất phát từ vai trò của NBTG trong TTHS như đã nêu trên cho chúng

ta thấy được đặc điểm của NBTG, đó là:

Người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng

Người tham gia tố tụng là người phải được pháp luật qui định quyền và nghĩa vụ tố tụng đối với họ Địa vị pháp lý của NBTG được qui định xuất phát từ bản chất của việc tạm giữ cách ly người bị tình nghi thực hiện tội

Trang 20

phạm một cách cấp thiết trong một thời gian ngắn Quyền của NBTG liên quan đến tính có căn cứ của việc tạm giữ và tính hợp pháp của thủ tục tạm giữ Chính vì vậy, NBTG phải được qui định các quyền để bảo vệ họ khỏi việc tạm giữ thiếu căn cứ Người bị tạm giữ phải được biết lý do họ bị tạm giữ Tạm giữ là hậu quả tố tụng của việc bắt khẩn cấp, quả tang, truy nã, đầu thú, tự thú Do đó, họ có quyền được biết tại sao họ bị bắt trong các trường hợp nêu trên Ngoài ra, NBTG có quyền thực hiện các hành vi tố tụng mà pháp luật qui định như quyền khai báo, quyền đưa ra tài liệu đồ vật, yêu cầu xác minh, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bác bỏ căn cứ tạm giữ mà người có thẩm quyền tạm giữ đã xác định làm căn cứ đề ra quyết định tạm giữ đối với họ Việc tạm giữ đối với NBTG không những có căn cứ

mà cần phải được thực hiện đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền Chính vì vậy, NBTG phải có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, khiếu nại quyết định tạm giữ, khiếu nại hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng có liên quan đến việc đảm bảo thực hiện các quyền tố tụng của NBTG phát sinh khách quan và được BLTTHS qui định như đã nêu trên

Người tham gia tố tụng có nghĩa vụ pháp lý là người bắt buộc phải tham gia tố tụng theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng Họ có trách nhiệm cùng với cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án Nếu họ không thực hiện đúng các yêu cầu đặt ra thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định Chính vì vậy, NBTG có nghĩa vụ thực hiện các qui định về tạm giữ theo qui định của pháp luật

Xuất phát từ địa vị pháp lý của NBTG như trên thì họ phải là người tham gia tố tụng hình sự

Người bị tạm giữ là đối tượng bị buộc tội

- Người bị tạm giữ là một cá nhân cụ thể bị cơ quan điều tra, người có thẩm quyền có căn cứ xác định người đó đã thực hiện một hành vi mà hành vi

có dấu hiệu tội phạm cụ thể được qui định trong Bộ luật Hình sự Cơ quan điều tra, người có thẩm quyền đã áp dụng các biện pháp bắt luật định để

“khống chế” họ và ra quyết định tạm giữ theo các căn cứ đã xác định Giải quyết vụ án theo trình tự tố tụng được thực hiện trên cơ sở vận hành của ba chức năng buộc tội, gỡ tội (bào chữa) và xét xử Trong đó buộc tội là tiền đề

Trang 21

của việc bào chữa và xét xử Tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật TTHS qui định quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho NBTG Điều đó đã xác định có chức năng bào chữa trong chế định NBTG Chức năng bào chữa xuất hiện đã gián tiếp xác định chức năng buộc tội đã tồn tại đối với NBTG theo qui định của Bộ luật TTHS

- Người bị tạm giữ bị buộc tội phải là người ở một độ tuổi nhất định và phải tương ứng với hành vi tội phạm và lỗi mà NBTG đã gây ra Cụ thể là, trong trường hợp người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị tạm giữ trong trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc là phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Trường hợp người phạm tội có độ tuổi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có thể bị tạm giữ khi người đó phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Đối với trường hợp người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên thì có thể bị tạm giữ với mọi loại tội phạm

Người bị tạm giữ là người đã có quyết định tạm giữ

- Khi một người thực hiện hành vi được xem là phạm tội và người đó được coi là NBTG thì người này luôn luôn phải được gắn liền với một số biện pháp ngăn chặn tố tụng cụ thể như: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã, đầu thú,

tự thú

- Người bị bắt trong những trường hợp nêu trên chỉ có thể trở thành NBTG khi họ bị cơ quan, người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra các cấp; chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập từ cấp Trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn Biên phòng ở hải đảo, biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phương tiện này đã rời sân bay, bến cảng ra quyết định tạm giữ

Người bị tạm giữ là chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có quyền và nghĩa vụ nhất định

Người bị tạm giữ là một trong những người tham gia tố tụng được pháp luật quy định tại Điều 48 Bộ luật TTHS Họ được pháp luật trao cho sáu quyền, gồm: Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; quyền được giải thích

về quyền và nghĩa vụ; quyền được trình bày lời khai; quyền tự bào chữa hoặc

Trang 22

nhờ người khác bào chữa; quyền đưa ra tài liệu yêu cầu; quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng NBTG có nghĩa vụ thực hiện các qui định về tạm giữ theo qui định của pháp luật

1.2 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với cơ quan và người tiến hành tố tụng

1.2.1 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với Cơ quan điều tra và người được Bộ luật tố tụng hình sự giao một số hoạt động tố tụng

Người bị tạm giữ là người mới chỉ bị nghi ngờ đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó được pháp luật về hình sự qui định là tội phạm Đối với hành vi này Cơ quan điều tra và người có thẩm quyền khác áp dụng biện pháp bắt tạm giữ nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành

vi phạm tội hay phạm tội mới hoặc việc bỏ trốn Việc tạm giữ còn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan và người tiến hành tố tụng (THTT) xác minh, làm

rõ hành vi phạm tội của NBTG Do vậy, mối quan hệ giữa NBTG với Cơ quan điều tra và người có thẩm quyền được giao thực hiện một số hoạt động

tố tụng khác là quan hệ giữa một bên là cá nhân bị nghi ngờ đã thực hiện hành

vi phạm tội, thông qua các biện pháp bắt người của cơ quan THTT và người

có thẩm quyền với một bên là Cơ quan Điều tra và người được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng để thực hiện chức năng bắt, giữ, xử lý ban đầu đối với hành vi vi phạm pháp luật của người bị tạm giữ được xem là tội phạm

Cơ quan Điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các hành vi được coi là tội phạm và được phép áp dụng tất cả các biện pháp nghiệp vụ do Bộ luật TTHS qui định để nhằm xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi tội phạm đó, lập hồ sơ tội phạm, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và đề nghị truy tố và yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm xảy ra4

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm và lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, có chứng cứ và

4

Điều 3, Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự 2004

Trang 23

nhân thân người phạm tội rõ ràng Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì các cơ quan vừa nêu trên chỉ tiến hành khởi

tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền

Đối với cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân nhân có thẩm quyền khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan Điều tra có thẩm quyền5

Người có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp6

:

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra các cấp;

- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp Trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn Biên phòng ở hải đảo và biên giới;

- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi bến cảng

Khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, NBTG được thực hiện sáu quyền do Bộ luật TTHS qui định Cơ quan điều tra và cơ quan được giao một

số hoạt động điều tra, thông qua hoạt động của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng

Cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác, Điều tra viên có quyền triệu tập người bị tình nghi đến để lấy lời khai, làm rõ các vấn đề có liên quan đến tội phạm hoặc trực tiếp đấu tranh với NBTG để lấy lời khai, làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến NBTG như: Xác định hành vi trái pháp luật của NBTG, yếu tố lỗi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân NBTG, xác định đánh giá tổng quan động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội Đồng thời Cơ quan điều tra, các cơ quan và người có thẩm quyền tố tụng khác phải có trách nhiệm đảm bảo cho các quyền của NBTG được thực hiện Ngược lại, NBTG cũng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đúng theo các qui định của Bộ luật TTHS như: Phải thực hiện các quyết định về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng (bắt, tạm giữ, gia hạn tạm giữ), chấp hành các quy định về điều tra ban đầu như khám xét dấu vết trên thân thể để tìm dấu vết tội phạm, khai báo trung thực sự việc, cung cấp thông tin tài liệu

có liên quan cho người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại của mình và đồng

5 Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003

6

Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003

Trang 24

thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với khiếu nại, thông tin, tài liệu

mà mình đã cung cấp NBTG phải chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng khi có việc khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan và người THTT

Như vậy, mối quan hệ giữa NBTG với cơ quan và người THTT có thể khái quát là: Cơ quan điều tra và các cơ quan, người có thẩm quyền khác thực hiện quyền tố tụng thì NBTG phải có nghĩa vụ chấp hành theo quy định của pháp luật và ngược lại NBTG cũng được thực hiện các quyền của họ thì cơ quan điều tra và các cơ quan có thẩm quyền tố tụng phải có trách nhiệm nghĩa

vụ đảm bảo cho quyền của họ được thực thi

1.2.2 Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với Viện kiểm sát

Mối quan hệ giữa NBTG với Viện kiểm sát cũng là mối quan hệ giữa người tham gia tố tụng (cá nhân) với một cơ quan THTT Hoạt động của Viện kiểm sát biểu hiện thông qua hoạt động tố tụng của Viện trưởng, Phó viện trưởng và Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc tuận theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật TTHS của Cơ quan điều tra

và người có thẩm quyền khác được giao một số hoạt động tố tụng hình sự Thông qua công tác này Viện kiểm sát kiểm tra giám sát việc tạm giữ, đảm bảo về mặt thời hạn tạm giữ cho NBTG khi họ bị bắt khẩn cấp, quả tang, bắt theo lệnh truy nã, đầu thú, tự thú Ngoài ra, Viện kiểm sát còn kiểm sát căn cứ pháp lý của việc bắt tạm giữ, trình tự thủ tục bắt, việc tạm giữ… của các cơ quan có thẩm quyền nêu trên Trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, nếu xét thấy việc tạm giữ là không có căn cứ và không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do cho NBTG Ngoài ra, Viện kiểm sát còn tiến hành kiểm sát việc xử lý của Cơ quan điều tra và các cơ quan, người có thẩm quyền khác Nếu xét thấy không đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với NBTG thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho NBTG Mặt khác, thông qua hoạt động tố tụng của Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên còn có thể hỏi NBTG về những vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội của NBTG trước khi phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp; Kiểm tra hồ sơ, chứng cứ về việc bắt người trong trường hợp thấy cần thiết phải xem lại tính có căn cứ của việc bắt, tạm giữ Kiểm tra việc áp dụng các quyền cũng như nghĩa vụ của NBTG theo quy định của pháp luật Khi

Trang 25

NBTG thực hiện các quyền của mình trong giai đoạn đang bị tình nghi phạm tội thì Viện kiểm sát trong phạm vi, trách nhiệm của mình phải đảm bảo cho các quyền của NBTG được áp dụng Kiểm sát cơ quan điều tra và các cơ quan

có thẩm quyền tố tụng khác trong việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ Ngược lại, khi Viện kiểm sát thực hiện các quyền tố tụng là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bắt, tạm giữ thì NBTG phải có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát

Quan hệ giữa NBTG và cơ quan THTT, người có thẩm quyền được giao một số nhiệm vụ tố tụng là quan hệ theo quy định của pháp luật TTHS Trong

đó, một bên được phép chủ động sử dụng các biện pháp do luật định để tác động đến quyền của NBTG như: Quyền tự do dân chủ (nhóm khám xét người); quyền tự do đi lại (nhóm áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng: bắt, tạm giữ)…còn NBTG thì đa số tìm cách chối tội và cản trở việc thực hiện các quyết định tố tụng, việc ghi lời khai…của cơ quan, người có thẩm quyền

tố tụng khác Sự “bình đẳng” theo pháp luật của mối quan hệ tố tụng này ở chỗ khi NBTG thực hiện quyền thì cơ quan THTT và người có thẩm quyền khác phải thực hiện nghĩa vụ Ngược lại, cơ quan THTT và người có thẩm quyền khác thi hành trách nhiệm, quyền hạn theo luật định, thì người bị tạm giữ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật

1.3 Sơ lược về người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Từ năm 1945 đến năm 1954, đây là thời kỳ sau 80 năm đấu tranh gian khổ chống lại chủ nghĩa thực dân, phong kiến cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã đánh dấu thành quả của mình bằng thắng lợi Cách mạng tháng Tám Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một trang sử mới có tính chất chính trị, pháp lý cho dân tộc Việt Nam và nó được pháp điển hóa bằng bản Hiến pháp năm 1946 Đây là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ đầu tiên tại Đông Nam Á, ghi nhận và bảo hộ các giá trị về quyền của con người Điều

11, Chương 2, Mục B Hiến pháp 1946 qui định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật”(7)

7

Điều 11, Hiến pháp 1946

Trang 26

Mặc dù, pháp luật thời điểm này chưa có khái niệm người bị tạm giữ, chưa phân định NBTG trong TTHS, chưa xác định tư cách NBTG trong văn bản pháp luật TTHS, chưa xác định được căn cứ, biện pháp tạm giữ…nhưng với những quy định chung như vừa nêu thì có thể hiểu NBTG phải là người bị bắt hợp pháp và phải do người có thẩm quyền quyết định

Từ 1954 đến 1975, đây là thời kỳ nhân dân ta phải tiến hành hai cuộc

cách mạng Cuộc cách mạng chống Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cuộc cách mạng xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Với đặc điểm tình hình đất nước như vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã được ra đời Hiến pháp 1959 đã khẳng định rõ hơn việc bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của người bị bắt, bị tạm giữ nói riêng Điều 27, Hiến pháp 1959 quy định: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đảm bảo Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”8

Qui định vừa nêu xét trên phương diện bảo vệ quyền con người là có tiến bộ, tuy nhiên qui định này lại có điểm hở là vì nó không loại trừ trường hợp bắt giữ người phạm tội quả tang Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân lần đầu tiên chế định NBTG được đề cập tại Điều 5 Luật số 103 ngày 20/5/1957 của Chủ tịch nước về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân

Người phạm tội bị bắt phải được giải đến cơ quan Tư pháp hoặc cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên trong thời hạn 24 giờ kể từ khi người đó bị bắt Cơ quan Tư pháp huyện hoặc Công an huyện được tạm giữ can phạm trong ba ngày kể từ lúc nhận can phạm 9

Như vậy, về đặc điểm của NBTG là luôn luôn gắn liền với biện pháp bắt

và tạm giữ, Công an huyện, Tư pháp huyện được phép tạm giữ người bị bắt, điều này cho thấy chế định NBTG đã xuất hiện trong TTHS Việt Nam Trong thời hạn ba ngày bị tạm giữ, Công an huyện hoặc Tư pháp huyện tiến hành

8 Điều 27 Hiến pháp 1959

9

Điều 5 Luật số 103, 1957

Trang 27

hỏi cung NBTG, sau đó nếu thấy không có tội thì ra quyết định tha hẳn Nếu

có tội thì giải lên Tòa án nhân dân hoặc cơ quan Công an cấp trên10

Thời điểm này, pháp luật TTHS cũng đã qui định địa vị pháp lý tố tụng của NBTG Tại điểm 4, Nghị định 301/TTg ngày 10/7/1957 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Sắc luật 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã quy định:

Lệnh tạm giữ người phạm pháp phải ghi rõ lý do, ngày hết hạn tạm giữ và phải đọc cho can phạm nghe Trong thời hạn 24 giờ kể từ lúc tạm giữ can phạm, Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện, châu, Công an huyện, châu hoặc Đồn công an trở lên, cán bộ quân đội có trách nhiệm điều tra vụ phạm pháp có trách nhiệm hỏi cung can phạm 11

Mặc dù là chỉ quy định mang tính nguyên tắc nhưng tại thời điểm này địa vị pháp lý của NBTG cũng đã được đề cập trong các qui định của pháp luật Cụ thể, tại Điều 1, Luật số 103-L-005 ngày 20/5/1957 quy định: “Quyền

tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và đảm bảo Không ai được xâm phạm quyền ấy” và Điều 14 quy định: “ Đối với người bị bắt, tạm giữ, tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng bất cứ nhục hình nào” Bên cạnh đó pháp luật TTHS còn quy định tính hợp pháp của việc bắt giữ người theo những qui định của Sắc luật 103-L-005 ngày 20/5/1957 và Sắc luật 002-SLT ngày 18/6/1957 của Chủ tịch nước quy định những trường hợp phạm pháp quả tang và khẩn cấp

Điều 1 Sắc luật 002 qui định căn cứ, thủ tục và thẩm quyền bắt người để tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang là: Người công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến Ủy ban hành chính, Tòa án nhân dân và Đồn công

an gần nhất trong các trường hợp sau đây:

- Đang làm việc phạm pháp hoặc sau khi phạm pháp thì bị phát hiện

- Đang bị đuổi bắt sau khi phạm pháp

- Đang có lệnh truy nã

10 Tòa án nhân dân tối cao (1976), Hệ thống luật lệ về TTHS, Hà Nội, tr 85

11 Tòa án nhân dân tối cao (1976), Hệ thống luật lệ về TTHS, Hà Nội, tr 89

Trang 28

Điều 2 Sắc luật 002 cũng đã đưa ra căn cứ để hình thành địa vị pháp lý của NBTG trong trường hợp khẩn cấp là: Cơ quan Công an có thể bắt giữ trước khi có lệnh viết của cơ quan Tư pháp từ cấp tỉnh, thành phố trở lên hoặc của Tòa án binh trong các trường hợp khẩn cấp sau:

- Căn cước, lai lịch của người bị tình nghi không rõ ràng

Như vậy, NBTG ở thời điểm này là người bị bắt trong bốn trường hợp quả tang và sáu trường hợp khẩn cấp nêu trên Đây là một bước tiến mới, quan trọng trong việc pháp lý hóa địa vị pháp lý của NBTG Tuy nhiên, khái niệm NBTG, quyền, nghĩa vụ, thủ tục bắt, tạm giữ… chưa được pháp luật TTHS trong giai đoạn này đề cập cụ thể Ngoài ra, đối với đối tượng NBTG là đối tượng đặc biệt như họ là Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hiến pháp 1959 quy định việc bắt họ phải có điều kiện đặc biệt khác như Điều 60 Hiến pháp 1959 quy định: “Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp nếu không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố Đại biểu Quốc hội”12

Từ năm 1975 đến năm 1988, đây là thời kỳ đất nước hoàn toàn thống nhất, nhiệm vụ chính của cách mạng nước ta là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm 1980 ra đời để đáp ứng yêu cầu này của đất nước Trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người Điều 69 Hiến pháp 1980 quy định việc bảo vệ quyền con người như: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Việc bắt, giam giữ người phải đúng pháp luật, nghiêm cấm mọi hình thức truy

12

Điều 60, Hiến pháp 1959

Trang 29

bức, nhục hình13 Như vậy, với quy định này của Hiến pháp thì bản thân NBTG cũng như các công dân bình thường khác đều có các quyền được Nhà nước bảo hộ như: Có quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản…; không ai được vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp pháp luật cho phép; việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật; bí mật thư tín, điện tín được đảm bảo (Điều 70); có quyền khiếu nại, tố cáo về những việc làm trái pháp luật của cơ quan cá nhân có thẩm quyền xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của công dân Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được sửa chữa và xử lý (Điều 73)

Như vậy, về cơ bản địa vị pháp lý của NBTG, những căn cứ hình thành nên địa vị pháp lý của NBTG trong giai đoạn này chủ yếu được xây dựng dựa trên nền tảng của các Hiến pháp, Sắc luật 003, Sắc luật 002 và các quy định của pháp luật TTHS có liên quan ở giai đoạn trước đó

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

Đây là giai đoạn đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới một cách toàn diện, Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Năm 2002 bản Hiến pháp này đã được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng một cách sâu rộng và thiết thực hơn nữa công cuộc đổi mới của đất nước và trước yêu cầu, nhiệm

vụ cấp bách trong tình hình mới, năm 2013 một lần nữa Hiến pháp 1992 sẽ được sửa đổi, bổ sung Về đảm bảo quyền con người nói chung, Hiến pháp

1992 tiếp tục kế thừa khẳng định những quyền cơ bản của con người mà các Hiến pháp trước đó đã khẳng định và bảo hộ Đồng thời Hiến pháp 1992 đã

có một số bổ sung và qui định mới những chế định pháp lý tiến bộ trong việc đảm bảo quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, đặc biệt là đối với người bị bắt, tạm giữ, tạm giam Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: Công dân

có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam giữ người phải đúng pháp

13

Điều 69, Hiến pháp năm 1980

Trang 30

luật14 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992 pháp luật TTHS Việt Nam đã có

sự kế thừa và phát huy những thành tựu pháp luật tiến bộ của những giai đoạn trước Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa VIII đã biểu quyết thông qua Bộ luật TTHS Bộ luật TTHS năm 1988 ra đời là văn bản pháp lý có tính cao nhất quy định tính có căn cứ, tính hợp pháp của việc bắt, tạm giữ hình thành nên địa vị pháp lý của NBTG trong TTHS Việt Nam Mặc dù Bộ luật TTHS năm

1988 không đưa ra được định nghĩa mang tính pháp lý của khái niệm tạm giữ, khái niệm người bị tạm giữ nhưng tại Điều 68 và Điều 69 của Bộ luật TTHS năm 1988 cũng đã đề cập đến NBTG là các đối tượng nào, trường hợp nào và qui định rõ chủ thể áp dụng các quy định pháp luật để tạo nên địa vị pháp lý của NBTG và qui định về thủ tục, thời hạn tạm giữ đối với NBTG Tuy khái niệm về NBTG chưa được hình thành nhưng qua liệt kê các trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn tại Điều 63 - quy định các trường hợp bắt khẩn cấp, Điều 64 - quy định các trường hợp bắt quả tang, truy nã và qui định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền bắt, tạm giữ (Điều 65, 66, 67, 68, 69) thì cũng đã gián tiếp xác định một số quyền cơ bản NBTG như: Quyền được đảm bảo có căn cứ khi bị bắt, nghĩa là khi bắt một người nào đó phải đảm bảo tính có căn

cứ và tính hợp pháp theo qui định của Bộ luật TTHS Quyền được thông báo cho gia đình biết khi bị bắt (Điều 67), qui định điều kiện đặc biệt khi bắt, tạm giữ người chưa thành niên như: Khi tiến hành tố tụng đối với người bị bắt, tạm giữ là người chưa thành niên thì Điều tra viên, Kiểm sát viên là người phải có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục để xác định tuổi, trình độ phát triển về thể chất, tinh thần, điều kiện sống, giáo dục và nguyên nhân điều kiện phạm tội…(Điều 271) Việc bắt tạm giữ người chưa thành niên được quy định chặt chẽ, phải hết sức hạn chế và chỉ thực hiện khi thấy thật sự cần thiết (Điều 273) Tuy Bộ luật TTHS năm 1988 quy định nhiều vấn đề liên quan đến chế định NBTG nhưng cũng không đưa ra được khái niệm về NBTG là gì, quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng ra sao? Chính vì vậy, đã có một thời gian khá dài quyền và nghĩa vụ của NBTG

đã bị bỏ ngỏ không được pháp luật THHS điều chỉnh

Như vậy, việc Bộ luật TTHS năm 1988 ra đời được xem là một bước pháp điển hóa TTHS quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam vì nó đã

14

Điều 71, Hiến pháp 1992

Trang 31

xây dựng nên chế định NBTG một cách khá rõ ràng, cụ thể hơn so với trước đây Điều này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền, nghĩa vụ của NBTG nói riêng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã cố gắng phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về người bị tạm giữ như: Định nghĩa người bị tạm giữ; người bị tạm giữ trong một số trường hợp đặc biệt; vai trò của người bị tạm

giữ trong tố tụng hình sự, như: Người bị tạm giữ là chủ thể đặc biệt cùng với

bị can, bị cáo giữ vai trò trung tâm trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, Người bị tạm giữ là chủ thể thực hiện quyền bào chữ; Đặc điểm của người bị

tạm giữ; Mối quan hệ giữa người bị tạm giữ với cơ quan và người tiến hành

tố tụng Ngoài ra, Luận văn còn làm rõ quá trình phát triển chế định về người

bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam qua các giai đoạn: Từ năm 1945 đến năm 1988 và từ năm 1988 đến trước năm 2003 Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp khiêm tốn bổ sung vào lý luận về chế định người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA

NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng về quyền của người bị tạm giữ

Người bị tạm giữ là một trong những người tham gia tố tụng được pháp luật qui định tại Điều 48 Bộ luật TTHS Họ được pháp luật trao cho sáu quyền, gồm: Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; quyền được giải thích

về quyền và nghĩa vụ; quyền được trình bày lời khai; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; quyền đưa ra tài liệu yêu cầu; quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền

đó là tư cách NBTG Để thực hiện sự minh bạch của pháp luật trong hoạt động bắt, tạm giữ người, đảm bảo cho NBTG thực hiện các quyền và nghĩa

vụ tố tụng của họ thì NBTG có quyền được biết lý do mà họ bị bắt, tạm giữ, việc cơ quan và người có thẩm quyền bắt tạm giữ họ có đúng pháp luật hay không Điều này không những đảm bảo quyền của người bị tình nghi mà còn giúp cơ quan và người có thẩm quyền phải thận trọng trong việc áp dụng các căn cứ về nội dung bắt, tính hợp pháp của các thủ tục bắt, tạm giữ để ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt một cách chính xác, tránh việc lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm dụng biện pháp cưỡng chế tạm giữ, tránh hậu quả do việc tùy tiện, thiếu khách quan trong việc bắt, tạm giữ người bị tình nghi phạm tội

Trang 33

- Đối với trường hợp NBTG phát sinh do họ bị bắt khẩn cấp

Trường hợp này thì NBTG phải được biết việc bắt khẩn cấp của cơ quan và người có thẩm quyền có được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp hay không (Khoản 4, Điều 81 Bộ luật TTHS năm 2003) Nếu như có sự giám sát, phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp sẽ là một kênh pháp lý quan trọng để NBTG yên tâm trong việc xem xét tính có căn cứ của việc bắt khẩn cấp đối với họ Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giữ người của cơ quan, người có thẩm quyền gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để đề nghị phê chuẩn việc bắt khẩn cấp thì Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định từ chối phê chuẩn Trong trường hợp Viện kiểm sát từ chối phê chuẩn thì người bị bắt nhận thức được

là họ sẽ được trả tự do ngay

Người bị tạm giữ có quyền được biết cơ quan hoặc người có thẩm quyền bắt họ có phải là họ đang chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay không? NBTG có quyền được biết cơ quan và người có thẩm quyền có căn cứ vào chứng cứ nào để khẳng định là họ đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, nghĩa là phải có căn cứ xác định

họ đang có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm

Người bị tạm giữ có quyền được biết có hay không có người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là

họ đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc họ bỏ trốn Trường hợp NBTG có nơi cư trú rõ ràng, nơi cư trú gần với trụ sở của cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, họ là công dân bình thường nhất thời phạm tội, tội phạm ít nghiêm trọng, họ không phải là đối tượng lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, họ có sự ràng buộc vào các mối quan hệ xã hội, gia đình một cách chặt chẽ… nhưng cơ quan và người có thẩm quyền bắt, tạm giữ vẫn cho rằng họ sẽ bỏ trốn để tiến hành bắt rồi sau đó áp dụng biện pháp tạm giữ

là vi phạm các quy định của pháp luật TTHS NBTG có quyền biết những quy định này của pháp luật để khiếu nại khi cơ quan, người có thẩm quyền bắt, tạm giữ không thực hiện những quy định vừa nêu của pháp luật TTHS

Trang 34

Người bị tạm giữ có quyền được biết cơ quan và người có thẩm quyền căn cứ vào đâu để xác định trên người họ hoặc chỗ ở của họ có dấu vết của tội phạm NBTG còn có quyền được biết căn cứ vào đâu cơ quan, người có thẩm quyền xác định được họ sẽ bỏ trốn (các dấu hiệu bỏ trốn như đã nêu trên) hoặc họ sẽ tiêu hủy chứng cứ Ngoài ra, NBTG còn có quyền được biết các thông tin của trường hợp bắt khẩn cấp như: Họ phải được biết cơ quan và người có thẩm quyền tìm thấy dấu vết gì của tội phạm, dấu vết được tìm thấy

đó được thu thập hợp pháp hay không và nó có liên quan như thế nào đến tội phạm…

Thực tiễn áp dụng quyền được biết lý do mình bị bắt người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ họ có một số vướng mắc vì tại điểm a, khoản 1, Điều

81 Bộ luật TTHS quy định: “ Khi có căn cứ để cho rằng…một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm…” như vậy với phần giả định của điều luật cho phép chúng ta đặt câu hỏi “căn cứ” là căn cứ gì? Một điều luật được xây dựng như vậy còn khá chung chung và hết sức trừu tượng Đây sẽ là nguyên nhân khiến cho điều luật được áp dụng không chặt chẽ, thiếu khả thi và rất dễ bị cơ quan, người có thẩm quyền THTT lợi dụng để bắt khẩn cấp Như vậy, trong trường hợp này NBTG rất khó thực hiện “quyền được biết lý do mình bị tạm giữ” (điểm a, khoản 2, Điều 48 Bộ luật TTHS) Theo chúng tôi đây là một hạn chế của Bộ luật TTHS trong việc đảm bảo quyền công dân Tính từ ngày 01/7/2004 đến 31/12/2007 theo số liệu VKSND 2 cấp tỉnh Tiền Giang đã có

18 trường hợp từ chối phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp (tỉnh 10, cấp huyện 8) với

lý do chưa rõ căn cứ xác định chuẩn bị thực hiện tội phạm để bắt khẩn cấp

- Đối với trường hợp NBTG phát sinh từ việc họ bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Trong trường hợp này NBTG có quyền được biết hành vi mà họ đã thực hiện bị phát hiện và bị bắt, tạm giữ có phải là hành vi được xem là tội phạm được mô tả trong một cấu thành tội phạm cụ thể hay không hay chỉ là hành vi vi phạm hành chính NBTG có quyền được biết họ bị bắt ở thời điểm nào, có phải là thời điểm họ vừa có hành vi phạm pháp hay là sau đó một thời gian nhất định cơ quan và người có thẩm quyền mới bắt, tạm giữ họ NBTG có quyền được biết họ bị bắt theo lệnh truy nã thì có lệnh truy nã hay không và bị truy nã về tội gì…

Trang 35

Thông qua hoạt động của mình, VKS tiến hành kiểm sát tính có căn cứ của của việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Kiểm sát tính

có căn cứ, hợp pháp của các biện pháp ngăn chặn hình thành địa vị pháp lý của NBTG là biện pháp đảm bảo quyền con người của NBTG, hạn chế những hậu quả trái pháp luật đối với họ Người bị tạm giữ đều biết lý do họ bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

2.1.2 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền được nghe giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ; có quyền trình bày lời khai

Quyền được nghe giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ là quyền được nghe, được biết về việc giải thích quyền và nghĩa vụ, tư cách tố tụng của NBTG Khi cơ quan và người có thẩm quyền bắt đã ra quyết định tạm giữ thì người được giao thi hành quyết định tạm giữ phải thực hiện trách nhiệm giải thích về quyền, nghĩa vụ của NBTG cho bản thân người bị bắt, tạm giữ biết, đồng thời cũng phải giải thích cho người bị bắt, tạm giữ biết sáu quyền cũng như nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 48 Bộ luật TTHS nhằm giúp cho NBTG hiểu được các quyền cũng như nghĩa vụ của họ vào thời điểm đó để họ thực hiện quyền của mình và tuân thủ nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ TTHS Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho NBTG được ghi vào biên bản và có sự xác nhận của NBTG Đây là quyền giúp cho NBTG biết được các quyền tố tụng của mình để bảo vệ cho quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của họ, chống lại sự xâm phạm trái pháp luật từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng

Người bị tạm giữ được quyền trình bày lời khai hoặc tự viết lời khai, bởi lẽ: Theo quy định tại Điều 64, Điều 71 Bộ luật TTHS thì lời khai của NBTG

là một trong những nguồn chứng cứ của vụ án Trình bày, lời khai là quyền của NBTG nên họ có thể trình bày hoặc không trình bày NBTG không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình Nghĩa vụ chứng minh tội phạm để giải quyết vụ án thuộc về cơ quan và người THTT Điều 10 và Điều 63 Bộ luật TTHS xác định chứng minh tội phạm thuộc về trách nhiệm của cơ quan THTT Bị can, bị cáo cũng có quyền này nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội Nguyên tắc này thể hiện thái độ của Nhà nước ta trong việc tôn trọng quyền của công dân khi tham gia TTHS Tuy nhiên, nguyên tắc trên được quy định tại Điều 10 Bộ luật TTHS không đặt ra đối với người bị bắt,

Trang 36

tạm giữ trong khi đây là giai đoạn Cơ quan điều tra khai thác, tận dụng tối đa thời hạn chín ngày tạm giữ để củng cố chứng cứ, chứng minh cho việc ra quyết định khởi tố bị can là có căn cứ để đề xuất Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Bộ luật TTHS chưa có quy định chính thức nào đối với quyền được im lặng đối với NBTG cũng như bị can Có thể cho rằng, đây là một hạn chế của pháp luật TTHS của Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, NBTG và sau này họ bị khởi

tố trở thành bị can nếu họ khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình thì

họ sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ (Khoản 1, Điều 46 BLHS) Ngược lại, nếu họ khai báo không thành khẩn (bao gồm có sự im lặng) thì họ sẽ không được hưởng những tình tiết giảm nhẹ mà Bộ luật TTHS quy định Tuy nhiên, trong trường hợp nếu họ im lặng không khai báo vì nhiều lý do, có thể

do họ suy luận cho rằng hành vi của họ không phạm tội hoặc do đặc điểm cá nhân nên họ không muốn khai báo cho ai biết hoặc do họ muốn che dấu đồng phạm hay che dấu tội phạm cho chính họ, tâm lý muốn được xử lý nhẹ, sợ liên lụy đến người thân của họ15… thì cũng là lý do chính đáng để họ có quyền im lặng khi tham gia TTHS Lẽ ra, trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền tố tụng cần phải xác định đây là quyền của NBTG (quyền trình bày hoặc không trình bày lời khai - hay nói cách khác là quyền được im lặng), thế nhưng cơ quan THTT lại buộc cho họ là “khai báo không thành khẩn”,

“quanh co chối tội”, “ngoan cố”, “chống đối pháp luật”… để từ đó làm căn cứ

áp dụng triệt để các biện pháp tố tụng nghiêm khắc như: Đưa vào trường hợp cần thiết để gia hạn tạm giữ lần thứ nhất hoặc đưa vào trường hợp đặc biệt để gia hạn tạm giữ lần thứ hai, áp dụng đủ chín ngày tạm giữ…điều này được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bức cung, nhục hình, xâm phạm những quyền cơ bản của NBTG Bộ luật TTHS không quy định hành vi “khai báo không thành khẩn”, “quanh co chối tội”, “ngoan cố”,

“chống đối pháp luật”… là tình tiết tăng nặng TNHS, điểm này được xem là một bước tiến quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người của pháp luật hình sự Việt Nam Những hạn chế nêu trên tập trung nhiều nhất trong các vụ

án oan sai Việc xác định căn cứ để áp dụng trong các trường hợp bắt, tạm giữ hình sự cũng như xác định hành vi phạm tội của người vi phạm, để có quyết

15 Võ Thị Kim Oanh - Nguyễn Ngọc Kiên (2010), Đảm bảo quyền con người trong tư pháp hình sự Việt

Nam, Nxb Đại học Quốc Gia TP HCM, Tp Hồ Chí Minh, tr 80

Trang 37

định áp dụng biện pháp ngăn chặn của cơ quan điều tra trong thời gian qua còn những trường hợp bắt không chính xác Do đó số người bị bắt, tạm giữ hình sự, khởi tố để xử lý hình sự đạt tỉ lệ thấp, phải chuyển xử lý hành chính hoặc trả tự do, thậm chí đã xảy ra trường hợp oan

Qua khảo sát một số hồ sơ vụ án có khiếu nại oan sai cho thấy đa số các biên bản bắt người để tạm giữ đã không đề cập đến ý kiến của NBTG và cũng không ghi các khiếu nại, thắc mắc của họ vào biên bản (Điều 84 Bộ luật TTHS) Pháp luật quy định thành phần chứng kiến việc bắt giữ người bao gồm: Đại diện chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt

cư trú, làm việc; người láng giềng của người bị bắt Đây là một quy định tiến

bộ của pháp luật TTHS Việt Nam trong việc đảm bảo tính khách quan khi bắt giữ người Tuy nhiên, trên thực tế khi tiến hành bắt giữ khẩn cấp có nhiều trường hợp trong biên bản bắt không có đủ những thành phần như vừa nêu Nguyên nhân được lý giải là do người bị bắt khẩn cấp có nhiều chỗ ở khác nhau, việc xác định nơi ở của người bị bắt khẩn cấp thường là do trinh sát hình sự thực hiện…Sau khi bắt giữ người, việc thông báo bắt giữ người được thực hiện chậm trễ thiếu kịp thời (Điều 85 Bộ luật TTHS) dẫn đến tình trạng thân nhân của người bị bắt hoang mang, lo sợ… Ngoài ra, có một số trường hợp người thực thi lệnh bắt đã dùng vũ lực thái quá đối với người bị bắt hoặc khi bắt xong mới thực hiện hợp thức hóa các thủ tục bắt, giữ theo quy định

của pháp luật Người bị tạm giữ chưa đựợc đảm bảo quyền được nghe giải

thích về quyền và nghĩa vụ của họ, quyền trình bày lời khai…Những việc làm trên phần nào đã làm ảnh hưởng, thậm chí là xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của NBTG, các vi phạm trên tập trung nhiều vào các vụ án oan như16

16 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang (2011), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bắt,

tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và công tác kiểm sát trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ năm 2000 –

2010, Tiền Giang, Tr 6, 7, 8

Trang 38

theo tội danh đã khởi tố Cơ quan tố tụng tỉnh Tiền Giang phải bồi thường cho ông Dương Liêm Khiết với số tiền là 53.781.906 đồng vào năm 2007

2 Trường hợp ông Huỳnh Tấn Tài, sinh năm 1983, ngụ ấp Hòa Bình, xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, bị khởi tố về tội “ Hiếp dâm trẻ em”, bị tạm giam từ ngày 19/12/2002 đến ngày 28/10/2003 VKSND tỉnh Tiền Giang hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 23/10/2003 Cơ quan công an đình chỉ điều tra vì không đủ chứng cứ kết tội Cơ quan tố tụng tỉnh Tiền Giang phải bồi thường cho ông Huỳnh Tấn Tài số tiền 57.004.685 đồng vào năm 2008.17

Như vậy, NBTG không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền trình bày lời khai của mình trước cơ quan và người có thẩm quyền tố tụng thì không thể đánh giá như một sự kiện làm phát sinh hậu quả pháp lý không có lợi cho NBTG NBTG không phải chịu trách nhiệm về lời khai gian dối hoặc việc họ không khai báo Bộ luật TTHS hiện hành không quy định tình tiết này

là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Trường hợp người có thẩm quyền

ép NBTG phải khai báo thì ngoài việc người có thẩm quyền sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội bức cung (Điều 299 BLHS) thì NBTG còn có quyền thực hiện việc khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền THTT (điểm e, khoản 2, Điều 48 Bộ luật TTHS)

2.1.3 Pháp luật thực định và thực tiễn về quyền của người bị tạm giữ có quyền tự mình bào chữa hoặc có quyền nhờ người khác bào chữa; quyền đưa

ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

- Đối với quyền tự mình bào chữa hoặc có quyền nhờ người khác bào chữa

Người bị tạm giữ có thể thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng các hình thức khác nhau như: Họ có thể tự mình bảo vệ các quyền do pháp luật qui định hoặc là nhờ người khác bảo vệ cho mình Khi NBTG thấy có khả năng tự bào chữa thì họ sử dụng những hiểu biết pháp luật

và sử dụng quyền năng tố tụng luật định để thực hiện việc bào chữa Trường

17 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang (2011), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bắt,

tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và công tác kiểm sát trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ năm 2000 –

2010, Tiền Giang, tr.7

Trang 39

hợp NBTG có khả năng nhờ người khác bào chữa và để việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tốt hơn thì NBTG có thể nhờ người bào chữa (luật

sư, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân) bào chữa cho mình Việc đảm bảo quyền bào chữa cho NBTG trong quá trình điều tra ban đầu (giai đoạn tiền khởi tố) là một đảm bảo chắc chắn cho quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, đồng thời nó còn đảm bảo cho việc bắt, tạm giữ, việc xem xét căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố bị can một cách khách quan, đúng pháp luật

Khi bàn về quyền này của NBTG (quyền tự mình bào chữa hoặc có

quyền nhờ người khác bào chữa), theo quan điểm của Phó giáo sư - Tiến sĩ

Trần Văn Độ18

thì NBTG chưa phát sinh quyền bào chữa trong TTHS vì NBTG mới chỉ là người bị nghi ngờ thực hiện tội phạm (Điều 71 Bộ luật TTHS) Cơ quan Điều tra và người có thẩm quyền trong tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng tạm giữ để ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội hoặc phạm tội mới, NBTG tại thời điểm này chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự TTHS là hoạt động giải quyết được vận hành trên cơ sở ba chức năng cơ bản là: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử Trong đó chức năng buộc tội là tiền đề cho chức năng bào chữa và xét xử Nếu như chưa có sự buộc tội thì sẽ không thể tồn tại việc bào chữa cũng như xét xử Do đó, NBTG chỉ được coi là người bị tình nghi do cơ quan hoặc người có thẩm quyền bắt, tạm giữ NBTG chưa bị ràng buộc bởi một quyết định pháp lý tố tụng nào của cơ quan hoặc người có thẩm quyền buộc tội họ Hay nói cách khác là NBTG chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS)

Về vấn đề này, theo quan điểm của Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thái Phúc trong bài viết về Nguyên tắc suy đoán vô tội19

thì bị can mới chỉ là người bị ràng buộc về việc thực hiện những hành vi có dấu hiệu tội phạm, là người đang bị truy cứu TNHS Truy cứu TNHS một cá nhân là quá trình chứng minh các điều kiện TNHS của cá nhân đó Khởi tố bị can là thời điểm bắt đầu quá trình này TNHS được bắt đầu khi bản án kết tội bị cáo có hiệu lực pháp luật chứ không phải nó có từ thời điểm quyết định khởi tố bị can Với luận cứ

18 Trần Văn Độ (2010), Đảm bảo quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia

TP HCM, Tp Hồ Chí Minh, tr 105, 106, 107

19 Nguyễn Thái Phúc (2006), Tài liệu hội thảo đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2006 đảm bảo quyền

con người trong TTHS Việt Nam, tr.40

Trang 40

như vừa nêu cho thấy NBTG chưa bị truy cứu TNHS mà TNHS chỉ phát sinh khi NBTG bị khởi tố bị can Điều này cho thấy NBTG chưa bị cơ quan hoặc người có thẩm quyền buộc tội nên NBTG chưa thể có chức năng bào chữa theo cơ chế TTHS Như vậy, quyền tự bào chữa của NBTG cũng như nhờ người khác bào chữa cho mình của NBTG cần phải được hiểu là các quyền này được bảo đảm thực hiện như những quyền cơ bản khác của công dân bình thường Vì vậy có thể cho rằng đó chưa phải là quyền bào chữa dưới góc độ TTHS Tuy nhiên, NBTG được hình thành từ các biện pháp bắt người, trong

đó bắt người theo lệnh truy nã đã có trường hợp khởi tố bị can, đã bị xét xử, thi hành án Những người này đã bị khởi tố, truy tố, xét xử và như thế họ đã

bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội Do vậy, trong các trường hợp NBTG thì cũng có trường hợp đã phát sinh sự kiện buộc tội Từ đó, quyền bào chữa vẫn phát sinh đối với NBTG trong trường hợp này Theo chúng tôi NBTG vẫn có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa trong trường hợp họ bị bắt theo lệnh truy nã, còn các trường tạm giữ còn lại như quan điểm của PGS -

TS Trần Văn Độ nêu trên

NBTG có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình là một quyền mới lần đầu tiên được pháp điển hóa trong Bộ luật TTHS năm

2003 Tuy nhiên, qua một thời gian vận dụng quy định này ngoài việc bộc lộ những bất cập về mặt lý luận như đã nêu trên Ngoài ra, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của NBTG được quy định tại Điều 58 Bộ luật TTHS, khi thực hiện việc này thì người bào chữa có mặt trong thời điểm cơ quan THTT lấy lời khai NBTG và người bào chữa được quyền hỏi NBTG, thu thập thêm thông tin, chứng cứ từ NBTG… đã thể hiện sự không hiệu quả khi thực thi các quyền trên Đây là hệ quả tất yếu của sự bất cập của điểm g, khoản 2, Điều 58 Bộ luật TTHS Bởi lẽ, điểm g, khoản 2, Điều 58 Bộ luật TTHS quy định người bào chữa chỉ được phép đọc, ghi chép và sao chụp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi đã kết thúc điều tra Quy định như thế là một rào cản lớn làm hạn chế quyền bảo vệ thân chủ của người bào chữa tại thời điểm tạm giữ

Mặc dù về phương diện lý luận quyền bào chữa cho NBTG nói chung còn có những khiếm khuyết như vừa nêu trên nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận một điều là việc Bộ luật TTHS đảm bảo quyền bào chữa cho NBTG

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:37

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w