Việc tiến hành tuyên bố một DN – HTX phá sản tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thủ tục phù hợp chứ không nhất thiết phải trải qua cả bốn thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
TRỊNH THỊ NHUNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC NỘP ĐƠN YÊU CẦU VÀ MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
THEO LUẬT PHÁ SẢN 2004
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành: Luật Thương Mại
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC NỘP ĐƠN YÊU CẦU VÀ MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
THEO LUẬT PHÁ SẢN 2004
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRỊNH THỊ NHUNG Khóa: 33
MSSV: 0855010148 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS BÙI THỊ THANH THẢO
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, nếu đã từng được công bố trong các công trình khác thì đều được trích dẫn nguồn cụ thể Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính xác thực này
Tác giả
Trịnh Thị Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin cảm ơn các thầy cô, các bạn đã giúp tác giả trong quá trình thực hiện khóa luận này Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Bùi Thị Thanh Thảo, cám ơn cô đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo để em hoàn thành tốt khóa luận của mình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC NỘP ĐƠN YÊU CẦU VÀ MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN 4
1.1 Khái quát chung về phá sản và thủ tục phá sản 4
1.1.1 Khái niệm phá sản và vai trò của phá sản trong nền kinh tế 4
1.1.1.1 Khái niệm phá sản 4
1.1.1.2 Vai trò của pháp luật phá sản 7
1.1.2 Khái quát về thủ tục phá sản theo Luật phá sản 2004 10
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục phá sản 10
1.1.2.2 Trình tự thủ tục giải quyết phá sản theo Luật phá sản 2004 14
1.2 Khái quát chung về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 16
1.2.1 Vị trí, ý nghĩa của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 16
1.2.2 Trình tự, thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 19
1.2.3 Các chủ thể tham gia thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 24
1.2.3.1 Vai trò và nhiệm vụ của Tòa án 24
1.2.3.2 Vai trò và nhiệm vụ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 25
1.2.3.3 Sự tham gia thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục của các chủ nợ, người lao động, DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản 25
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁ SẢN 2004 VỀ THỦ TỤC NỘP ĐƠN YÊU CẦU VÀ MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 27
2.1 Những vấn đề pháp lý về thủ tục thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 27
2.1.1 Đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 27
2.1.1.1 Đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 27
Trang 62.1.1.2 Đối tượng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 32
2.1.2 Căn cứ và hệ quả pháp lý của quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 34
2.2 Những vấn đề pháp lý về việc mở thủ tục phá sản 37
2.2.1 Căn cứ và hậu quả pháp lý của quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản 37
2.2.1.1 Căn cứ ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản 37
2.2.1.2 Hậu quả của quyết định mở thủ tục phá sản 39
2.2.2 Các biện pháp bảo toàn tài sản của DN - HTX sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản 41
2.2.2.1 Mục đích và ý nghĩa của các biện pháp bảo toàn tài sản 41
2.2.2.2 Những biện pháp bảo toàn tài sản được áp dụng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản 42
2.3 Hội nghị chủ nợ - thủ tục thương lượng giữa chủ nợ và DN - HTX mắc
nợ 46
2.3.1 Ý nghĩa của Hội nghị chủ nợ 46
2.3.2 Chủ thể có quyền và nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ 47
2.3.3 Điều kiện họp hợp lệ và thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ 48
2.3.3.1 Về điều kiện họp hợp lệ của Hội nghị chủ nợ 48
2.3.3.2 Về điều kiện thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ 50
2.4 Một số kiến nghị hoàn thiện 51
KẾT LUẬN CHUNG 56
Trang 7Luật phá sản 2004 có những quy định về trình tự thủ tục phá sản hợp lý hơn, linh hoạt hơn Việc tiến hành tuyên bố một DN – HTX phá sản tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thủ tục phù hợp chứ không nhất thiết phải trải qua cả bốn thủ tục (nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản, phục hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý
tài sản các khoản nợ, tuyên bố DN – HTX bị phá sản, khoản 1 Điều 5 Luật phá sản
2004) Theo quy định của Luật phá sản 2004, sau khi có quyết định mở thủ tục phá
sản, căn cứ vào các quy định cụ thể của Luật, Thẩm phán xem xét và ra quyết định
áp dụng một trong hai thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thanh lý tài sản, Thẩm phán cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố DN – HTX bị phá sản Như vậy, thủ tục phá sản theo Luật phá sản 2004 không nhất thiết áp dụng tất
cả và lần lượt các thủ tục được quy định tại khoản 1, Điều 5 Tuy nhiên, trong các
thủ tục được quy định, thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản là thủ tục pháp lý đầu tiên và quan trọng để khởi động quá trình giải quyết phá sản đối với
một DN – HTX Trừ trường hợp quy định tại Điều 87 Luật phá sản về việc quyết
định tuyên bố DN – HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt khi chưa thụ lý đơn
và sau khi thụ lý đơn thì việc giải quyết một vụ việc phá sản bắt buộc phải trải qua thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Các quy định về nộp đơn yêu cầu và
mở thủ tục phá sản có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần giúp các DN – HTX đang trong tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sớm được áp dụng thủ tục phá sản, hạn chế tình trạng thất thoát tài sản, nhanh chóng tiến hành các giải pháp tổ chức lại DN, bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ và DN – HTX lâm vào tình
Trang 82
trạng phá sản Qua tám năm thực hiện Luật phá sản 2004, các quy định về thủ tục nộp đơn yêu cầu, mở thủ tục phá sản đã dần bộc lộ những ưu và nhược điểm nhất định Đặc biệt những hạn chế trong các quy định về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản đã có tác động không nhỏ đến hiệu quả giải quyết vụ việc phá sản, tác động không nhỏ đến sự lựa chọn của các chủ thể khi họ tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của mình khi tình trạng phá sản DN – HTX xảy ra, cũng từ
đó mà ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Như vậy, nghiên cứu để hiểu rõ những tiến bộ và hạn chế của thủ tục này từ đó góp phần hoàn thiện Luật phá sản của Việt Nam, để Luật phá sản thực sự trở thành công cụ pháp lý hữu ích trong việc giải quyết phá sản, giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay là điều hết sức cần thiết Do vậy, tác giả
đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về thủ tục nộp đơn yêu cầu và
mở thủ tục phá sản theo Luật phá sản 2004” để thực hiện khóa luận của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả nhận thấy trước và sau khi Luật phá sản 2004 ra đời đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản Có thể
kể tên một số công trình nghiên cứu mà tác giả đã tìm hiểu như: Ở góc độ chung
nhất có đề tài luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp” của tác giả Bùi Xuân Hải, luận văn thạc sỹ “Luật phá sản Việt Nam dưới góc độ
so sánh” của tác giả Lê Hữu Trí, luận văn thạc sỹ “Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp” của tác giả Hồ Lâm Phương Dung…Ở góc
độ viết cụ thể hơn có đề tài luận văn thạc sỹ “Thủ tục thanh lý tài sản theo Luật phá sản 2004” của tác giả Lê Thị Kim Ánh, luận văn cử nhân “Thủ tục phục hồi kinh doanh – thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện” của tác giả Lê Thị Hoàng Minh, luận văn cử nhân “Thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã theo Luật phá sản 2004” của tác giả Hi Hoàng Khánh Linh…ngoài ra còn một số đề tài khác như luận văn thạc sỹ “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ” của tác giả Lê Thị Đào, luận văn cử nhân “Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ theo Luật phá sản hiện hành” của tác giả Lữ Thị
Ngọc Diệp,…
Như vậy, pháp luật phá sản đã được các tác giả nghiên cứu rất nhiều, từ phạm
vi chung nhất đến phạm vi cụ thể trong từng thủ tục của phá sản Tuy nhiên, qua tham khảo, tác giả nhận thấy chưa có một đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Vì vậy tác giả đã thực hiện khóa luận này theo hướng đi riêng của mình phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Trang 93
3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Nghiên cứu đề tài, mục tiêu đầu tiên của khóa luận là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật phá sản về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản từ đó
đề xuất những phương hướng hoàn thiện thủ tục này nói chung, Luật phá sản nói riêng, để Luật phá sản ngày càng đi vào cuộc sống, phù hợp với thực tiễn
4 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những quy định về việc nộp đơn yêu cầu
và mở thủ tục phá sản, làm rõ vấn đề lý luận và phân tích các quy định của pháp luật về thủ tục này, trên cơ sở có so sánh với Luật phá sản thời kỳ trước và Luật phá sản một số quốc gia cụ thể
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Khóa luận này được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản và Nhà nước ta về xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp trong quá trình lý giải các vấn đề đặt ra
6 Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận là công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo trong quá trình thực hiện công tác pháp luật Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên luật cũng như các chủ thể khác quan tâm về vấn đề này Những kiến nghị được nêu trong khóa luận có ý nghĩa nhất định trong việc góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản nói riêng, cũng như góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của Luật phá sản nói chung trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước
7 Bố cục của khóa luận
Trang 104
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC NỘP ĐƠN
YÊU CẦU VÀ MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
1.1 Khái quát chung về phá sản và thủ tục phá sản
1.1.1 Khái niệm phá sản và vai trò của phá sản trong nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm phá sản
Hiện nay, không có một khái niệm chung về phá sản, tiếp cận khái niệm phá sản là tiếp cận ở hai góc độ: (i) ở góc độ tài chính là dấu hiệu DN “lâm vào tình trạng phá sản” và (ii) ở góc độ pháp lý là “thủ tục thanh toán nợ đặc biệt” Như vậy
có thể hiểu một cách khái quát: phá sản là một thủ tục thanh toán nợ đặc biệt áp dụng đối với những chủ thể bị lâm vào tình trạng phá sản Để hiểu rõ khái niệm phá sản, chúng ta cần làm rõ ở cả hai góc độ vừa nêu trên đây, tuy nhiên, trong phần này tác giả chỉ đi vào phân tích khái niệm phá sản dưới góc độ tài chính với các dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản Khái niệm phá sản hiểu dưới góc độ là một thủ tục thanh toán nợ đặc biệt sẽ được tác giả trình bày trong các phần tiếp theo của khóa luận
Phá sản là một hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên phá sản không phải là một hiện tượng riêng có của nền kinh tế thị trường Ở Châu Âu,
khi nói tới phá sản DN người ta thường dùng thuật ngữ “Bankcrupcy” hoặc
“Banqueroute” Hai danh từ này bắt nguồn từ thuật ngữ “Banca Rotta” của La Mã
– có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” Bởi từ thời La Mã cổ đại, các thương gia của một
thành phố thường họp nhau lại gọi là đại hội thương gia, và trong quan hệ giao lưu thương mại giữa các thương gia với nhau, người nào không trả được nợ thường bị mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và đồng thời chiếc ghế ngồi của người
đó cũng bị đem ra khỏi hội trường, nhiều người mắc nợ không trả được nợ thì bỏ trốn, gây mất ổn định trật tự xã hội1 Ở nước ta thời kì Pháp thuộc và chế độ Việt Nam Cộng hòa thường sử dụng các thuật ngữ như “vỡ nợ”, “khánh tận”, “phá sản”
để chỉ hiện tượng mất khả năng thanh toán của các thương gia và để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của họ Thuật ngữ “phá sản” trong pháp luật của Việt Nam Cộng hòa thường được sử dụng gắn liền với Luật hình sự và tội phạm2
Như vậy, quan niệm cũ luôn bảo vệ chủ nợ bằng cách trừng phạt thật nặng
“con nợ” Với các quy định đó, các nhà làm luật hi vọng sẽ răn đe và ngăn chặn được tình trạng phá sản Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh ngay cả những hình phạt nghiêm khắc nhất cũng không thể ngăn chặn được những vụ phá sản mới Bởi nguyên nhân dẫn đến phá sản là sự hội tụ của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
1 toaan.gov.vn/portal/pls/portal/docs/2201255, 16/6/2012
2 Trích theo Đại học luật TP Hồ Chí Minh, Tập bài giảng pháp luật về phá sản DN - HTX, tr9
Trang 115
không thể dự tính hết được Hơn nữa trước tình trạng đó, “con nợ” sợ phải chịu những trách nhiệm khắt khe nên dù đã lâm vào tình trạng phá sản vẫn bất chấp mọi rủi ro để kinh doanh nhằm thoát khỏi tình trạng phá sản của mình
Trong thời kỳ hiện đại, nhìn chung pháp luật các nước trên thế giới đều nhìn nhận về phá sản một cách nhân đạo hơn, con nợ không bị coi như những tội phạm
và cũng không còn bị áp dụng hình phạt
Về thuật ngữ “phá sản” hiện nay đa số các nước đều sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một DN Cụ thể:
Ở Nga, khái niệm phá sản tại Điều 2, Luật vỡ nợ Liên bang Nga quy định:
“Vỡ nợ (phá sản) được hiểu là sự công nhận của Tòa án, trọng tài về việc con nợ không có khả năng thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của chủ nợ đối với nghĩa vụ trả tiền hoặc nghĩa vụ thanh toán khác”3 Tại Điều 127 Luật phá sản Nhật Bản quy định
cơ sở của việc phá sản công ty là: “Một công ty có thể bị tuyên bố phá sản nếu công
ty đó không thể trả đầy đủ các khoản nợ của mình bằng tài sản của mình”4
Nhìn chung cho đến nay, Luật phá sản các nước vẫn chưa định nghĩa trực tiếp thế nào là phá sản mà chỉ đưa ra những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản Lý do để các cơ quan ra quyết định này thường là DN bị mất khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn Tùy vào quan điểm lập pháp, tùy vào tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ mà quốc gia đó đưa ra các căn cứ khác nhau để xác định
tình trạng phá sản, bởi vậy, khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản” cũng được hiểu
theo những cách khác nhau
Trên cơ sở phân tích các đặc điểm kinh tế, xã hội của Việt Nam và có tham khảo cách xác định của các quốc gia trên thế giới, các nhà làm luật nước ta đã xây dựng khái niệm DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản theo tiêu chí riêng của mình
Cụ thể, khái niệm đó được quy định ngắn gọn và đơn giản tại Điều 3 Luật phá sản 2004: “DN - HTX không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ
có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị
Quyết 03/2005/NQ-HĐTP, một DN - HTX được coi là lâm vào tình trạng phá sản khi hội tụ đủ các điều kiện sau:
Có các khoản nợ đến hạn Các khoản nợ này phải là các khoản nợ
không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) Các khoản nợ này phải đã được các bên xác định rõ ràng, có đủ tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp
Chủ nợ đã yêu cầu thanh toán nhưng DN không có khả năng thanh toán Chủ nợ yêu cầu phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng
3 Lê Thị Kim Ánh (2010), Thủ tục thanh lý tài sản theo Luật phá sản 2004, Luận văn thạc sĩ luật học, tr7
4 Lê Thị Kim Ánh, tldd, tr 9
Trang 126
không được DN – HTX thanh toán (căn cứ chứng minh có thể là văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của DN – HTX mắc nợ…)
Như vậy, với cách quy định mới này, DN – HTX bị coi là lâm vào tình trạng
phá sản khi: (i) có các khoản nợ đến hạn, (ii) chủ nợ đã có yêu cầu, (iii) DN – HTX
mắc nợ không có khả năng thanh toán Các chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản không còn phải chứng minh lý do DN – HTX không có khả năng thanh toán, họ chỉ cần phải chứng minh là DN – HTX có khoản nợ đến hạn đối với mình,
đã có yêu cầu nhưng DN – HTX không thực hiện việc thanh toán
Nhìn chung, cách xác định khái niệm DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản của các nhà lập pháp Việt Nam phù hợp với xu hướng chung của pháp luật phá sản thế giới Có thể nói cách quy định này là sự rút gọn và có sự thay đổi hợp lý hơn so với Luật phá sản 1993 Nếu như Luật phá sản 1993 định nghĩa DN lâm vào tình
trạng phá sản phải hội đủ ba yếu tố là DN gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh (i), đến mức không thanh toán được các khoản nợ đến hạn (ii), sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không thoát ra khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán (iii), thì ở khái niệm tại Luật phá sản 2004
chỉ còn tiêu chí “không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu
cầu” Khái niệm của Luật phá sản 2004 đã phản ánh đúng bản chất của hiện tượng,
thể hiện một bước tiến trong nhận thức của các nhà làm luật về pháp luật phá sản5 Bởi thực tế cho thấy, có nhiều lý do có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của DN – HTX, có thể là do thua lỗ trong kinh doanh, quản lý kinh doanh kém hiệu quả, cũng có thể do các nguyên nhân khách quan như thiên tai dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, biến động đột ngột của các quy định pháp luật,…Có thể thấy khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh chỉ là một trong nhiều nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh toán, do đó Luật phá sản không cần quy định lý do dẫn đến việc DN – HTX mất khả năng thanh toán như một tiêu chí để xác định dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản
Việc không quy định các dấu hiệu cụ thể để xác định DN – HTX mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như Luật phá sản 2004 đã tạo điều kiện cho việc mở thủ tục phá sản sớm, để DN - HTX vẫn còn có khả năng phục hồi, đem lại nhiều lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ phá sản nói riêng và cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung
Tóm lại, tìm hiểu và nắm được khái quát về khái niệm DN - HTX lâm vào tình trạng phá sản là tiền đề vững chắc để tiến hành nghiên cứu các chế định khác của pháp luật phá sản Hiểu như thế nào là “lâm vào tình trạng phá sản” cũng như các dấu hiệu cụ thể có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu các quy định
về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản, bởi đây là dấu hiệu rất cần thiết
5 Tô Nguyễn Cẩm Anh (2005), “Một số suy nghĩ về Luật phá sản”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (205), tr
33
Trang 137
để xác định căn cứ nộp đơn yêu cầu, căn cứ thụ lý của Tòa án cũng như căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với một DN – HTX
1.1.1.2 Vai trò của pháp luật phá sản
Phá sản là hiện tượng bình thường và tất yếu của nền kinh tế thị trường Việc phá sản một DN – HTX gây tác động không nhỏ đến nhiều chủ thể tham gia quan
hệ phá sản đó, ngoài ra cũng gây tác động không nhỏ đến việc vận hành bình thường của nền kinh tế Bởi vậy, sự tham gia điều chỉnh của Nhà nước bằng các quy phạm pháp luật phá sản là rất cần thiết Sự ra đời của Luật phá sản 2004 có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ, người lao động cũng như bảo vệ chính DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản, ổn định phát triển kinh tế và trật tự xã hội Vai trò của Luật phá sản 2004 thể hiện cụ thể ở các nội dung sau:
Luật phá sản là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, người lao động
Khi một DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản, chủ thể mà quyền lợi ích bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm trực tiếp nhất là các chủ nợ và người lao động
DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản có khả năng không thanh toán được các khoản nợ đến hạn, không trả được lương cho người lao động Do vậy, pháp luật phá sản ra đời với mục tiêu trước hết là phải bảo vệ được những lợi ích chính đáng của các chủ thể này
Đối với việc bảo vệ lợi ích của chủ nợ, sự quan tâm của Nhà nước thể hiện rất
rõ trong pháp luật phá sản Việt Nam Khi đến hạn trả nợ mà DN – HTX mắc nợ không trả được nợ, chủ nợ có quyền đòi nợ bằng nhiều biện pháp khác nhau Chủ
nợ có thể đòi nợ bằng con đường khởi kiện theo vụ án dân sự, kinh tế Chủ nợ cũng
có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX đó Đòi nợ theo thủ tục phá sản mang lại nhiều ưu điểm, bởi việc đòi nợ được đảm bảo bằng việc Tòa
án có thể tuyên bố sự chấm dứt hoạt động của DN – HTX, thanh lý toàn bộ tài sản
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN – HTX lâm vào tình trạng phá
sản (Điều 68)… Quan trọng hơn với tư cách là chủ nợ của DN – HTX lâm vào tình
trạng phá sản, quyền lợi ích của chủ nợ được bảo vệ tối ưu trong việc quy định cho các chủ nợ quyền quyết định có áp dụng thủ tục phục hồi với DN – HTX đó hay
không (Điều 68), có thông qua phương án phục hồi kinh doanh được lập ra hay không (Điều 71)
Trang 148
Đối với người lao động, có thể nói người lao động là chủ thể chịu thiệt thòi
nhất từ việc tuyên phá sản một DN – HTX Tham gia vào quan hệ lao động, người lao động không chỉ hướng tới số tiền lương từng tháng được trả mà còn hướng đến
“quyền lao động” để ổn định cuộc sống sau này Tuyên phá sản một DN – HTX,
ngoài nguy cơ không được trả hoặc không được trả đủ số tiền lương đang bị nợ mà còn có nguy cơ lớn hơn đối với người lao động đó là mất việc làm Như chúng ta đã biết, trên thị trường hiện nay luôn xảy ra tình trạng dư lao động thiếu việc làm, bởi vậy, việc giải quyết việc làm cho tất cả người lao động khi tuyên bố phá sản một
DN – HTX không phải là chuyện đơn giản
Do vậy, cơ chế phục hồi DN – HTX được Luật phá sản 2004 đề ra chính là cơ chế tốt nhất hướng tới bảo vệ lợi ích cho người lao động Bởi phục hồi để DN – HTX thoát khỏi tình trạng phá sản cũng chính là cứu được người lao động khỏi nguy cơ thất nghiệp Ngoài ra, để thực hiện mục tiêu bảo vệ người lao động, Luật phá sản đã quy định cho người lao động một số quyền lợi cụ thể sau: quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 14), khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản người lao động không cần nộp tạm ứng phí phá sản (Điều 21), quyền được ưu tiên
thanh toán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác trước các khoản nợ thông
thường của DN – HTX (Điều 37),…
Luật phá sản là công cụ hữu hiệu bảo đảm trật tự an toàn xã hội, lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
Cần phải nói rằng, phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực Xét trên phạm vi toàn cục của nền kinh tế thì việc phá sản và giải quyết phá sản cũng mang lại nhiều ý nghĩa tích cực6
Một DN – HTX phá sản, tài sản bị thanh lý, không trả đủ nợ cho các chủ nợ cũng như lương cho người lao động tất nhiên đó là một hiện tượng tiêu cực Tuy nhiên, sự can thiệp của Luật phá sản giúp đưa DN - HTX vào thủ tục phục hồi, vực dậy hoạt động kinh doanh của DN - HTX hoặc thanh lý tài sản của DN - HTX, thanh toán các chi phí cho chủ nợ, người lao động một cách hợp lý là điều cần thiết
và mang lại nhiều ý nghĩa tích cực
Với các quy phạm của mình, Luật phá sản là công cụ răn đe các nhà kinh doanh, buộc họ phải luôn năng động sáng tạo, nhưng cũng phải thận trọng khi tiến hành hoạt động kinh doanh đó Việc kinh doanh hiệu quả, thận trọng của mỗi DN đương nhiên sẽ kéo theo việc kinh doanh có hiệu quả của cả nền kinh tế
Các chế định Luật phá sản có tác động tích cực trong việc hạn chế các hành vi tẩu tán tài sản của chủ sở hữu DN – HTX bằng các biện pháp bảo toàn tài sản hợp
lý, đồng thời can thiệp vào quá trình thanh toán nợ giữa DN – HTX với chủ nợ và
6 Dương Đăng Huệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhà xuất bản tư pháp, tr23
Trang 15Quy trình thanh toán nợ tập thể được quy định trong Luật phá sản cũng góp phần giúp tiến trình đòi nợ của các chủ nợ diễn ra một cách có nguyên tắc hơn và việc thanh lý các tài sản, nghĩa vụ diễn ra một cách công bằng hơn, hợp lý hơn
Luật phá sản bảo vệ lợi ích của DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản, tạo cơ hội thuận lợi để DN – HTX đó rút khỏi thị trường một cách có trật tự
Tham gia kinh doanh trên thị trường, tất cả các chủ thể đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, phát triển hoạt động kinh doanh Không một DN nào muốn lâm vào tình trạng khánh kiệt, làm ăn thua lỗ Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh là hoạt động luôn bao hàm nhiều rủi ro, việc tham gia kinh doanh chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan Bởi vậy, việc thất bại trong hoạt động kinh doanh dẫn đến “lâm vào tình trạng phá sản” cần được nhìn nhận một cách tích cực hơn
“Điều đó giải thích tại sao pháp luật đa số các nước đều quy định nhiều hình thức phục hồi khác nhau để DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản lựa chọn áp dụng”7 Luật phá sản 2004 bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ và người lao động đã có những quy định rất hợp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho
xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh (Điều 61, 68) Cũng như được
7 Dương Đăng Huệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhà xuất bản tư pháp, tr17
Trang 16
10
thể hiện qua các quy định về những biện pháp bảo toàn tài sản của DN – HTX
(Điều 43, 45, 48) Ngoài ra, Luật phá sản hiện hành còn quy định cho DN – HTX
lâm vào tình trạng phá sản một số quyền rất thiết thực như quyền tham gia trong thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản; quyền khiếu nại danh sách chủ nợ, khiếu nại về quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản…
Như vậy, qua tìm hiểu chúng ta đã thấy rõ vai trò của Luật phá sản trong sự phát triển hài hòa và bền vững của kinh tế - xã hội Luật phá sản hiện hành bảo vệ tối đa quyền lợi của chủ nợ và người lao động trong việc kết hợp hài hòa với lợi ích chính đáng của DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
1.1.2 Khái quát về thủ tục phá sản theo Luật phá sản 2004
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục phá sản
Khi tiến hành nghiên cứu Luật phá sản, chúng ta tiếp cận khá nhiều các khái niệm Và việc phân biệt những khái niệm đó có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả
nghiên cứu Luật phá sản Cụ thể, chúng ta thường gặp các khái niệm như “lâm vào
tình trạng phá sản”, “phá sản”, “thủ tục phá sản” Nếu như khái niệm DN – HTX
“lâm vào tình trạng phá sản” được định nghĩa cụ thể tại Điều 3 Luật phá sản là khi
“không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”, thì khái niệm phá sản và khái niệm thủ tục phá sản lại không được chính thức
quy định tại một điều luật nào trong Luật phá sản hiện hành Về mặt lý luận, DN – HTX chỉ chính thức phá sản khi có quyết định tuyên bố DN - HTX đó bị phá sản có hiệu lực của Tòa án có thẩm quyền Còn đối với khái niệm thủ tục phá sản, nếu đi
từ lý luận chung, khi nói đến thủ tục là nói đến các bước, trình tự hay quá trình thì
có thể hiểu thủ tục phá sản một cách khái quát là: Các bước, trình tự giải quyết tình
trạng phá sản của DN – HTX theo yêu cầu của tổ chức cá nhân theo quy định của pháp luật phá sản 8
So với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự (tố tụng dân sự), thủ tục giải
quyết phá sản được coi là một loại tố tụng tƣ pháp đặc biệt 9 Được coi là một thủ
tục tư pháp đặc biệt bởi bản chất của thủ tục này là một thủ tục đòi nợ nhưng lại do
cơ quan tư pháp thực hiện và với các trình tự, thủ tục riêng biệt Giải quyết tình trạng phá sản của một DN – HTX không đơn giản là giải quyết một quan hệ riêng biệt, mà đồng thời phải giải quyết nhiều loại quan hệ đan xen nhau Đó là quan hệ lao động giữa DN – HTX với người lao động, quan hệ dân sự về vay – mượn tài sản
và còn là quan hệ kinh tế xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN –
HTX đó
8 Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tlđd, tr22
9 Dương Đăng Huệ, tlđd, tr11
Trang 17Nếu một chủ thể lựa chọn con đường tố tụng dân sự, đặc điểm cơ bản của thủ tục này là việc các chủ nợ tiến hành thực hiện quyền đòi nợ của mình một cách riêng rẽ, độc lập Một DN – HTX có thể có nhiều chủ nợ, tuy nhiên với thủ tục tố tụng dân sự, chủ thể nào nộp đơn yêu cầu đến Tòa án thì chủ thể đó được Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi Việc thanh toán nợ cũng được tiến hành riêng lẻ đối với chủ thể nào có yêu cầu mà thôi Đối với thủ tục phá sản, với đặc thù riêng là một thủ tục đòi nợ tập thể thì việc đòi nợ và thanh toán nợ cũng diễn ra một cách tập thể Trong quá trình giải quyết phá sản, các chủ nợ không thể tách riêng khoản nợ của mình để yêu cầu “con nợ” thanh toán như cách đòi nợ thông thường khác Trong thủ tục phá sản, nếu là chủ nợ của DN – HTX thì dù không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với DN – HTX đó thì vẫn được tham gia vào thủ tục phá sản và khi có quyết định thanh lý vẫn được thanh toán theo quy định của pháp luật Bởi trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm thanh lý cũng được xử lý như các khoản nợ đến hạn, tuy nhiên không tính lãi với thời hạn chưa đến hạn10 Về nguyên tắc, khi đã có chủ thể yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX, nếu được Tòa án thụ lý giải quyết thì việc giải quyết vụ án đòi DN – HTX đó thực hiện nghĩa vụ về tài sản đều phải được tạm đình chỉ11, nếu như Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản thì mọi vụ án liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà DN – HTX đó là một bên đương sự đều phải được đình chỉ12 Đến khi áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn bộ tài sản của “con nợ” đều được sử dụng để trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên định sẵn, nếu tài sản của “con
10 Xem Điều 34 Luật phá sản 2004
11 Xem Điều 27 Luật phá sản 2004
12 Xem Điều 57 Luật phá sản 2004
Trang 1812
nợ” không đủ để thanh toán tất cả các khoản nợ thì các chủ nợ được thanh toán theo
tỷ lệ giữa khoản nợ mà DN - HTX còn thiếu với tổng tài sản hiện còn của DN - HTX13 Khi thực hiện thanh toán nợ theo thủ tục phá sản, tất cả các chủ nợ của cùng một loại đều bình đẳng với nhau
Thứ hai, thủ tục phá sản không đơn thuần là một thủ tục đòi nợ mà quan trọng hơn đây là một thủ tục có khả năng giúp “con nợ” phục hồi
Khi một DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản thì mục tiêu hướng đến đầu tiên của chủ nợ, người lao động và của chính DN – HTX đó không phải là việc thu hồi, thanh lý tài sản để giải quyết thực hiện các nghĩa vụ mà là tiến hành phục hồi hoạt động kinh doanh của DN – HTX Bởi với tình trạng của mình, “con nợ” sẽ có nhiều khả năng không thể thanh toán toàn bộ hoặc một phần các nghĩa vụ đó Giải pháp tối ưu hơn cả là tiến hành phục hồi hoạt động của DN – HTX, để DN – HTX
đó tiếp tục kinh doanh tạo ra lợi nhuận Như vậy, sẽ mang lại nhiều hi vọng thu hồi toàn bộ vốn đầu tư của các chủ nợ, cũng như giải quyết vấn đề lương và việc làm cho người lao động Cũng chính từ nguyên nhân đó, hiện nay, các Luật phá sản được coi là hiện đại trên thế giới đều rất coi trọng việc cứu vãn hoạt động kinh doanh của DN – HTX mắc nợ Toà án chỉ tuyên bố phá sản DN – HTX mắc nợ trong những trường hợp bất đắc dĩ, khi các biện pháp khôi phục hoạt động kinh doanh và khả năng thanh toán của DN – HTX mắc nợ không thành công, vì việc phục hồi hoạt động kinh doanh của “con nợ” không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân
“con nợ” mà còn có ý nghĩa lớn đối với các chủ nợ, người lao động, các đối tác, đặc biệt là đối với sự ổn định của nền kinh tế
Để tạo điều kiện cho việc phục hồi, pháp luật phá sản Việt Nam cho phép DN – HTX mắc nợ được chủ động xây dựng phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh Kế hoạch này sẽ được trình lên Hội nghị chủ nợ để thông qua, nếu được thông qua thì coi như “con nợ” được khôi phục lại vị trí ban đầu, tiếp tục sản xuất kinh doanh theo như kế hoạch đã được thông qua Được thông qua và thực hiện phương án phục hồi đem lại hi vọng mới cho sự tồn tại và phát triển của DN - HTX cũng như cơ hội thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ của DN - HTX đó
Thứ ba, trong thủ tục phá sản quyền được thanh toán của các chủ nợ dựa trên
số tài sản hiện còn của DN – HTX mắc nợ
Trong trường hợp Tòa án ra quyết định thanh lý tài sản, thanh toán các khoản
nợ của DN – HTX thì việc thanh lý đó sẽ được thực hiện trên tổng số tài sản hiện còn của DN – HTX đó Trước hết, số tài sản còn lại sẽ được ưu tiên thanh toán cho
các khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều 35 “Trường hợp Thẩm phán ra
quyết định mở thủ tục thanh lý đối với DN – HTX đó thì các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn
13 Xem Điều 35, 36, 37 Luật phá sản 2004
Trang 1913
yêu cầu được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó” Ngoài ra, đối với những DN đã
được Nhà nước áp dụng các biện pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh
mà vẫn không thể phục hồi và phải tiến hành thanh lý tài sản, các khoản nợ thì phải hoàn trả tài sản giá trị tài sản đã được Nhà nước hỗ trợ Sau khi thực hiện các nghĩa
vụ vừa nêu, số tài sản còn lại của DN – HTX sẽ được phân chia cho các nghĩa vụ
quy định tại Điều 37 Luật phá sản theo thứ tự, cụ thể thứ tự ưu tiên của các nghĩa vụ
lần lượt là: phí phá sản, các khoản nợ lương và khoản nợ khác cho người lao động, các khoản nợ không có bảo đảm Các khoản nợ không có bảo đảm sẽ được phân chia theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán cho các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ
lệ tương ứng
Với nguyên tắc phân chia tài sản này, chúng ta càng thấy rõ hơn vai trò của các biện pháp bảo toàn tài sản được Tòa án áp dụng đối với DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản, việc áp dụng các biện pháp bảo toàn có đúng lúc và hiệu quả hay không ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng được thực hiện nghĩa vụ các chủ thể có quyền trong quan hệ phá sản, đồng thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của chính DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản đó vì trong trường hợp tiến hành thanh
lý tài sản với DN – HTX, nếu giá trị tài sản của DN – HTX sau khi thanh toán các nghĩa vụ mà vẫn còn thì phần còn lại này sẽ thuộc về DN – HTX đó14
Thứ tư, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ qua trung gian
Khác với việc thực hiện đòi nợ trực tiếp hay thủ tục đòi nợ trong tố tụng dân
sự, việc đòi nợ thông qua chế định của Luật phá sản là một thủ tục đòi nợ qua trung gian Cơ quan trung gian này chính là Tòa án; Tổ quản lý, thanh lý tài sản Các chủ
nợ, người lao động một khi đã lựa chọn thủ tục phá sản sẽ thông qua Tòa án để thực hiện tất cả công đoạn đòi nợ của mình Tòa án chính là chủ thể trung gian có vai trò quan trọng trong việc giải quyết quan hệ nghĩa vụ của các bên trong quan hệ Luật phá sản Tòa án chính là chủ thể nhận và xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
để ra quyết định có mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX đang bị yêu cầu hay không Tòa án cũng trực tiếp can thiệp vào hoạt động của DN – HTX bằng việc giám sát hoạt động kinh doanh cũng như cấm hoặc hạn chế DN – HTX đó thực hiện một số hành vi nhất định Tòa án cũng sẽ xem xét và áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn khối tài sản của DN – HTX nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho các chủ thể có quyền Khi ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với DN – HTX
đó, Tòa án và Tổ quản lý, thanh lý tài sản cũng chính là chủ thể thực hiện việc phân chia giá trị tài sản còn lại cho các chủ thể theo các nguyên tắc luật định Như vậy, việc đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ qua trung gian, khác với
14 Xem khoản 2, Điều 37 Luật phá sản 2004
Trang 2014
việc đòi nợ thông thường khi các chủ nợ tự mình và liên hệ với “con nợ” một cách trực tiếp, khác với thủ tục đòi nợ qua tố tụng dân sự khi Tòa án chỉ là người ra phán quyết để xác định bên có nghĩa vụ, còn việc thực hiện nghĩa vụ như thế nào vẫn do các bên tự quyết định hoặc nhờ sự can thiệp của cơ quan thi hành án
Ngoài ra, nét đặc biệt của thủ tục phá sản còn được thể hiện qua một số điểm
cụ thể như: thủ tục phá sản chỉ được áp dụng đối với các DN – HTX mắc nợ không
có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Khi đã áp dụng thủ tục phá sản,
nhiều khả năng sẽ dẫn đến sự chấm dứt hoạt động của DN – HTX nếu như các biện pháp phục hồi đã áp dụng mà không có hiệu quả, trong khi đối với thủ tục tố tụng dân sự sau khi trả nợ xong “con nợ” vẫn tồn tại và hoạt động kinh doanh bình thường Hơn nữa, không như các thủ tục thông thường khác, thủ tục phá sản giải quyết nhiều quan hệ, công việc có tính chất rất phức tạp Tòa án không chỉ giải quyết các vấn đề về xác định DN - HTX có mất khả năng thanh toán hay không, DN
- HTX đó nợ bao nhiêu, nợ những ai mà đồng thời còn phải quản lý tài sản của DN – HTX mắc nợ, thành lập và điều hành thiết chế thanh lý và quản lý tài sản, triệu tập
và chủ trì Hội nghị chủ nợ, tiến hành thủ tục phục hồi,…
Như vậy, qua phân tích chúng ta thấy rõ việc giải quyết một vụ việc phá sản
DN – HTX là vô cùng phức tạp, phải giải quyết cùng lúc nhiều mối quan hệ khác nhau Chính vì vậy, thủ tục giải quyết phá sản cũng vô cùng đặc biệt và được quy định chặt chẽ với các quy định pháp luật riêng biệt Đây không đơn thuần là một thủ tục đòi nợ bình thường mà là một thủ tục tư pháp đặc biệt
1.1.2.2 Trình tự thủ tục giải quyết phá sản theo Luật phá sản 2004
Trên thế giới, pháp luật phá sản có hai xu hướng khác nhau Xu hướng thứ nhất có mục tiêu là “hướng vào con nợ” nhằm tập trung giải cứu các “con nợ” thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, bảo đảm việc làm cho người lao động, tránh bất ổn kinh tế thông qua việc tổ chức lại “con nợ” Xu hướng thứ hai có mục tiêu
“hướng vào chủ nợ” bằng cách tạo điều kiện cho các chủ nợ cùng nhau xử lý đối với phần sản nghiệp còn lại của con nợ15
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội khác nhau cũng như quan điểm của các nhà lập pháp từng quốc gia mà quy định về trình tự thủ tục phá sản ở mỗi quốc gia khác nhau thì khác nhau Tuy nhiên, đa số các quốc gia trên thế giới sau khi xác định tình trạng tài chính, khả năng thanh toán nợ đến hạn của DN - HTX Tòa án sẽ xác định áp dụng hoặc thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thủ tục thanh lý tài sản Việc lựa chọn áp dụng biện pháp cụ thể nào còn phụ thuộc vào tình trạng tài chính thực tế của DN – HTX đó
15 http://tks.edu.vn/portal/print/5439_77_0 , ngày 11/5/2012
Trang 2115
Ở Việt Nam, Luật phá sản DN đầu tiên ra đời năm 1993, pháp luật được thiết
kế một trình tự duy nhất áp dụng cho các DN lâm vào tình trạng phá sản Cụ thể:
i Giai đoạn Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản
DN
ii Giai đoạn điều tra đánh giá khả năng thanh toán nợ của DN để ra quyết
định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN
iii Giai đoạn xem xét, áp dụng thủ tục phục hồi DN thông qua thiết chế Hội
nghị chủ nợ
iiii Giai đoạn tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản của DN
Theo quy định của Luật phá sản 1993, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản luôn phải tuân theo trình tự đã định sẵn như trên đã không tạo điều kiện để Tòa
án linh hoạt trong quá trình giả quyết yêu cầu Trong thủ tục được đề ra, cơ chế hòa giải và tái tổ chức lại hoạt động kinh doanh luôn được coi là một bước bắt buộc Tòa
án và các bên liên quan phải thực hiện Việc ra quyết định tuyên bố phá sản ngay đối với DN không còn tiền và tài sản để thanh toán phí phá sản được coi là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt Việc quy định như vậy dẫn tới hậu quả là, một DN với tình hình tài chính kiệt quệ, hoạt động sản xuất kinh doanh đình đốn và biết chắc chắn là DN đó không thể phục hồi thì Tòa án cũng không thể linh hoạt tuyên bố phá sản để thanh lý tài sản của DN đó ngay Như vậy, việc hòa giải và phục hồi hoạt động kinh doanh của DN theo quy định của Luật phá sản 1993 trong nhiều trường hợp không những trái ý muốn của các bên tham gia quan hệ mà còn không mang lại hiệu quả như mong đợi
Nhận thức được những bất cập này, các nhà lập pháp khi soạn thảo Luật phá sản 2004 đã quy định trình tự thủ tục giải quyết phá sản linh hoạt hơn và hợp lý hơn Theo đó, trình tự thủ tục phá sản áp dụng đối với DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản 2004 bao gồm:
i Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
ii Phục hồi hoạt động kinh doanh;
iii Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
iiii Tuyên bố DN – HTX bị phá sản 16
Trong Luật phá sản 2004, mối quan hệ giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá sản được quy định uyển chuyển, linh động hơn Tùy vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể vận dụng thủ tục phù hợp chứ không phải bất kỳ trường hợp nào khi giải quyết một yêu cầu tuyên bố phá sản đều phải trải qua tất cả các bước nêu trên Nghĩa là giữa các thủ tục có sự độc lập tương đối, thực hiện thủ tục trước không còn là tiền đề cần thiết để thực hiện các thủ tục tiếp theo như quy định tại Luật phá sản 1993 Cụ thể như, khi có quyết định mở thủ tục phá sản, tùy vào tình
16 Xem khoản 1, Điều 5 Luật phá sản 2004
Trang 2216
hình cụ thể mà Tòa án quyết định áp dụng một trong hai thủ tục phục hồi kinh doanh và thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố DN - HTX bị phá sản17 Tòa án cũng có thể tuyên bố phá sản với “con nợ” ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc tuyên bố phá sản sau khi thụ
lý đơn yêu cầu18 Thủ tục phục hồi không những đã không còn là một bước bắt buộc trước khi chuyển qua thủ tục thanh lý mà ngay khi thủ tục này không thể thực hiện thành công, Tòa án cũng có thể ra quyết định chuyển đổi qua thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ19
Nhìn chung, việc quy định trình tự giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản như Luật phá sản 2004 mang nhiều điểm tiến bộ và phù hợp với xu hướng chung của thế giới Với quy định như vậy, một mặt tạo điều kiện để Tòa án vận dụng linh hoạt các quy định của Luật khi áp dụng thủ tục phá sản với từng trường hợp cụ thể, mặt khác tạo thuận lợi để tuyên bố phá sản đối với những DN – HTX không có khả năng phục hồi, tiết kiệm nhiều thời gian và tài sản Đồng thời, việc quy định như vậy cũng tạo điều kiện tốt hơn để bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ và người lao động
1.2 Khái quát chung về thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
1.2.1 Vị trí, ý nghĩa của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Vị trí của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Có thể nói, thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản là thủ tục pháp lý đầu tiên để khởi động quá trình giải quyết phá sản đối với DN – HTX Như đã phân tích ở mục trước, khi giải quyết yêu cầu tuyên phá sản một DN – HTX thì trình tự
các bước được quy định tại Điều 5 Luật phá sản hiện hành không nhất thiết phải
tiến hành tuần tự, cũng không nhất thiết khi giải quyết phá sản phải tiến hành đầy
đủ tất cả các bước đã được liệt kê Giải quyết phá sản một DN - HTX có thể không trải qua giai đoạn phục hồi nếu như không có hi vọng vào khả năng tài chính của
DN - HTX Giải quyết yêu cầu tuyên phá sản một DN - HTX cũng có thể không trải qua thủ tục thanh lý để rồi ra quyết định tuyên bố DN – HTX đó phá sản nếu như sau khi thụ lý đơn Tòa án thấy không đủ căn cứ để mở thủ tục phá sản hoặc quá trình phục hồi DN - HTX thành công và Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi
Tuy nhiên, có thể nói rằng việc tiến hành thủ tục phá sản không thể không có bước nộp đơn yêu cầu, đây luôn là thủ tục đầu tiên và cần thiết để khởi động tiến trình giải quyết vụ việc phá sản Bởi nếu theo quy định của Luật phá sản hiện hành, nếu không có việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án sẽ không có căn cứ
17 Xem khoản 2, Điều 5 Luật phá sản 2004
18 Xem Điều 87 Luật phá sản 2004
19 Xem Điều 79, 80 Luật phá sản 2004
Trang 2317
để can thiệp vào điều chỉnh quan hệ phá sản Đối với vị trí của quyết định mở thủ tục phá sản, ngoại trừ trường hợp Tòa án ra quyết định tuyên bố DN – HTX bị phá sản khi DN – HTX không còn hoặc không đủ tiền, tài sản để nộp phí phá sản mà không cần thiết mở thủ tục phá sản20, thì quyết định mở thủ tục phá sản luôn là quyết định quan trọng để mở đầu tố tụng phá sản, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án mới có đầy đủ các căn cứ cần thiết để khẳng định DN – HTX đã thực sự lâm vào tình trạng phá sản và đưa DN – HTX đó vào kiểm tra giám sát, đồng thời, hàng loạt các hoạt động giải quyết phá sản mới bắt đầu được tiến hành công khai
Ý nghĩa của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Việc nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết phá sản, góp phần tạo điều kiện để sớm áp dụng thủ tục phá sản đối với các DN – HTX có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, hạn chế thất thoát tài sản của DN – HTX, mang lại hiệu quả phục hồi cao hơn Từ đó bảo vệ tốt hơn cho quyền và lợi ích của các chủ nợ, người lao động cũng như chính DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản Cụ thể như sau:
Về ý nghĩa của việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, những quy định về
vấn đề nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết phá sản Đây không chỉ là căn cứ quan trọng để các chủ thể như chủ nợ, người lao động tự bảo vệ quyền lợi của mình mà còn là cơ sở để cơ quan nhà nước can thiệp, điều chỉnh các quan hệ phức tạp của quan hệ phá sản, góp phần ổn định
kinh tế, ổn định xã hội
Nhìn lướt qua một số thủ tục tố tụng của nước ta hiện nay, nếu như trong tố tụng hình sự, khi một hành vi phạm tội xảy ra, đa số các trường hợp đều không cần đơn yêu cầu của đương sự mà cơ quan nhà nước vẫn có thể tự mình can thiệp đánh giá mức độ nguy hiểm và đưa ra xét xử Trong khi đó, đối với thủ tục phá sản lại có nhiều điểm khác biệt đáng kể Trong thủ tục phá sản, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến Tòa án là căn cứ đầu tiên và là cơ sở quan trọng để Tòa án có thể can thiệp vào giải quyết vụ việc phá sản Luật phá sản hiện hành không quy định cho phép Tòa án tự mình can thiệp vào để giải quyết phá sản một DN – HTX Theo quy định cụ thể, nếu như Tòa án, Viện kiển sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý vốn…nếu phát hiện DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản thì cũng chỉ có quyền thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn để họ xem xét nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản mà thôi (Điều 20 Luật phá sản) Bởi vậy, có thể nói,
nếu như không có việc nộp đơn yêu cầu sẽ không có việc giải quyết phá sản trên thực tế, từ đó những tác động tích cực của việc giải quyết phá sản DN - HTX như
20 Xem Điều 87 Luật phá sản 2004
Trang 24cơ quan có thẩm quyền can thiệp để bảo vệ quyền và lợi ích Như đã phân tích, việc tuyên phá sản một DN - HTX hoặc thậm chí không tuyên bố phá sản nhưng việc làm ăn kinh doanh của DN - HTX đó trì trệ không hiệu quả thì quyền lợi của chủ
nợ, người lao động thậm chí là những thành viên tham gia, quản lý DN - HTX đó tất yếu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chính là việc yêu cầu Tòa án can thiệp vào giải quyết các vấn đề phát sinh, cân nhắc
áp dụng các biện pháp cần thiết để đưa ra giải pháp hữu hiệu nhất, bảo vệ tối đa cho các chủ thể tham gia vào quan hệ phá sản
Về ý nghĩa của việc mở thủ tục phá sản, quyết định của Tòa án có thẩm quyền
về việc mở hay không mở thủ tục phá sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chủ
Tòa án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có những căn cứ chứng minh
DN - HTX đã lâm vào tình trạng phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản có ý nghĩa quan trọng không những đối với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản mà còn có ý nghĩa đối với chính DN – HTX bị xác định lâm vào tình trạng phá sản
Trước hết, với các DN – HTX mắc nợ, quyết định này khẳng định DN – HTX
đã thực sự lâm vào tình trạng phá sản và đưa DN – HTX mắc nợ vào sự kiểm tra giám sát của Tòa án Từ đây, Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý hoạt động kinh doanh của DN – HTX, cũng như các biện pháp bảo toàn tài sản của
DN – HTX và quan trọng hơn là cùng với các chủ nợ tiến hành thủ tục phục hồi với
DN – HTX đó Đối với các chủ nợ, đây cũng chính là thời điểm phát sinh quyền đòi
nợ của họ theo thủ tục phá sản
Trang 2519
Như vậy, kể từ thời điểm quyết định mở thủ tục phá sản có giá trị thi hành trên thực tế, các hoạt động giải quyết được tiến hành công khai Ý nghĩa quan trọng nhất của quyết định mở thủ tục phá sản chính là việc sau đó Tòa án có thể triệu tập Hội nghị chủ nợ, mở ra phương hướng phục hồi hoạt động kinh doanh cho DN – HTX Như chúng ta đã biết, mở và tuyên một DN – HTX phá sản không có ý nghĩa bằng việc mở thủ tục phá sản và phục hồi thành công DN – HTX đó Phục hồi hoạt động của DN - HTX không chỉ mang lại cơ hội chi trả đầy đủ các khoản nợ cho người lao động, các chủ nợ mà còn mang lại hi vọng mới cho một DN - HTX trước đó đã lâm vào tình trạng tài chính sa sút, để DN - HTX đó tiếp tục kinh doanh thu lợi cho nền kinh tế
Qua phân tích, chúng ta đã phần nào hiểu rõ vị trí cũng như ý nghĩa quan trọng của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Đây không chỉ là cơ sở để Tòa án có thể can thiệp vào giải quyết quan hệ phá sản đang phát sinh Đây còn là thủ tục pháp lý đầu tiên để khởi động tiến trình phá sản và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các chủ thể liên quan như các chủ nợ, người lao động, chính DN – HTX, đồng thời thủ tục này cũng trao cơ hội cho các chủ thể nêu trên tự bảo vệ quyền lợi của chính mình Thủ tục này cũng chính là bước đệm để Tòa án tiến hành công khai các hoạt động giải quyết phá sản, là cơ sở để triệu tập Hội nghị chủ nợ
và tiến hành các biện pháp cần thiết phục hồi hoạt động của DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản
1.2.2 Trình tự, thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Để hiểu rõ hơn về các bước trình tự trong thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản, trong phần này tác giả xin trình bày khái quát về vấn đề: Căn cứ để nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các chủ thể phải nộp đơn yêu cầu tới đâu cũng như các công việc mà Tòa án phải tiến hành kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu cho đến khi ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, và một số công việc được tiến hành sau khi có quyết định này
Tác giả xin được khái quát trình tự, thủ tục nộp đơn yêu cầu mở và mở thủ tục phá sản bằng sơ đồ sau:
Trang 26Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến Tòa án có thẩm quyền
Đây chính là xuất phát điểm đầu tiên của thủ tục phá sản Có thể nói, về mặt bản chất, Luật phá sản giải quyết mối quan hệ về thanh toán nợ nên chỉ những chủ thể liên quan đến việc thanh toán này mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với DN – HTX Đi từ bản chất đó, Luật phá sản 2004 quy định chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản gồm: chủ nợ, người lao động, chủ sở hữu
DN nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Ngoài ra, Luật còn quy định nghĩa vụ nộp đơn của chính DN – HTX lâm vào
Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Quyết định không mở thủ tục phá sản
Ra quyết định tuyên
DN – HTX bị phá sản
Áp dụng thủ tục thanh lý
Áp dụng thủ tục phục hồi
Tổ chức Hội nghị chủ nợ
Ra quyết định mở thủ tục thanh lý
Đình chỉ tiến hành
thủ tục phá sản
Trang 27cầu mở thủ tục phá sản Căn cứ đó là: Khi nhận thấy DN – HTX lâm vào tình trạng
phá sản Để áp dụng thống nhất quy định này, Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP đã
quy định rõ một DN – HTX bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ những điều kiện sau: Đó là có các khoản nợ đến hạn Đây phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã
rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ chứng cứ chứng minh và không có tranh chấp Ngoài ra, riêng đối với người lao động, để nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản họ phải căn cứ vào dấu hiệu: DN – HTX không trả được lương, các khoản nợ
khác cho người lao động
Nhìn chung, quy định về việc xác định DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản hiện hành đã khắc phục hạn chế của Luật phá sản DN năm 1993
là quy định tiêu chí xác định DN lâm vào tình trạng phá sản khi đã quá muộn Việc xác định sớm hơn tình trạng phá sản của DN – HTX có ý nghĩa rất quan trọng, vì sẽ
có nhiều thời gian hơn để các DN – HTX, các chủ nợ tính toán và đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh hay thủ tục thanh lý tài sản,
các khoản nợ theo Điều 5 của Luật phá sản21
Để thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ của mình, các chủ thể phải nộp đơn yêu cầu cùng giấy tờ chứng minh đến Tòa án có thẩm quyền Thẩm quyền giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX được Luật phá sản 2004 quy định mở rộng hơn so với Luật năm 1993 Theo đó, không chỉ Tòa án cấp tỉnh mới
có quyền thụ lý giải quyết yêu cầu mà cả Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện đều
có quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX
Bước 2: Xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Tòa án sẽ xem xét và có thể đưa ra
một trong ba quyết định sau:
(i)Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án sẽ ra quyết định thụ lý đơn
yêu cầu nếu hồ sơ, tài liệu chứng minh của các chủ thể cung cấp đã rõ ràng, cụ thể, không thuộc các trường hợp trả lại đơn yêu cầu Tòa án thụ lý đơn yêu cầu kể từ thời điểm người nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản Trường hợp người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án nhận được đơn yêu cầu22 Nếu như thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thủ tục đầu tiên để làm phát sinh việc giải quyết phá sản đối với một DN
Trang 2822
– HTX thì quyết định thụ lý đơn của Tòa án là cơ sở pháp lý để chính thức khởi động tiến trình giải quyết phá sản, chỉ sau khi có quyết định thụ lý đơn Tòa án mới
có thể can thiệp vào điều chỉnh quan hệ phá sản
(ii) Trả lại đơn yêu cầu Nếu việc nộp đơn yêu cầu rơi vào trường hợp cụ thể
luật định như người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản, người nộp đơn không có quyền nộp đơn, việc nộp đơn là không khách quan hay DN – HTX đã chứng minh được mình không lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án sẽ ra quyết định trả lại đơn yêu cầu đó23
(iii) Ra quyết định tuyên bố phá sản
Trong trường hợp thông thường, sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét để đưa ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu hay trả lại đơn yêu cầu Tuy nhiên, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí phá sản mà chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN – HTX nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản để nộp tiền tạm ứng án phí phá sản thì Tòa án ra quyết định tuyên bố DN – HTX bị phá sản24 Quyết định tuyên bố phá sản trong trường hợp đặc biệt này đã bỏ qua các bước thủ tục khác như phục
hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, các khoản nợ được quy định tại Điều 5
Luật phá sản
Trong trường hợp Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu hoặc quyết định tuyên bố DN – HTX phá sản, thủ tục phá sản coi như kết thúc Nếu như Tòa án ra quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quá trình giải quyết sẽ tiến tới bước ba sau đây
Bước 3: Ra quyết định mở, quyết định không mở thủ tục phá sản hoặc ra quyết định tuyên DN – HTX bị phá sản
Việc ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản có tác động rất lớn đến
tiến trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Nếu Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với DN – HTX bị yêu cầu nghĩa là xác nhận DN – HTX chưa lâm vào tình trạng phá sản, DN – HTX sẽ tiếp tục hoạt động bình thường và các quyền cũng như nghĩa vụ của các chủ thể liên quan cũng không tiếp tục phát sinh Tiến trình giải quyết phá sản cũng sẽ chấm dứt khi quyết định này có hiệu lực Tòa
án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có căn cứ chứng minh DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản được gửi cho DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp Quyết định này cũng được thông báo đến các chủ nợ, những người mắc nợ của DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản đem lại nhiều hệ quả pháp lý đối với DN – HTX đó, những hệ quả pháp lý
23 Xem Điều 24 Luật phá sản 2004
24
Xem khoản 1, Điều 87 Luật phá sản 2004
Trang 2923
đó là gì sẽ được tác giả phân tích trong các phần tiếp theo của khóa luận Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt, sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các bên có liên quan gửi đến, nếu DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản thì Tòa án cũng ra quyết định tuyên bố phá sản đối với DN - HTX này25
Nếu Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản hoặc tuyên DN – HTX bị phá sản thì thủ tục giải quyết phá sản sẽ không tiếp tục diễn ra, trong trường hợp Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì tiến trình giải quyết sẽ chuyển sang bước tiếp theo đây
Bước 4: Tổ chức Hội nghị chủ nợ hoặc tuyên bố DN – HTX bị phá sản
Nếu DN thuộc trường hợp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của DN mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét áp dụng thủ tục phục hồi26
Nếu không thuộc trường hợp nêu trên, Thẩm phán sẽ tiến hành tổ chức Hội nghị chủ nợ, thông qua việc tổ chức Hội nghị chủ nợ, căn cứ vào điều kiện cụ thể và
ý chí của các chủ nợ, Thẩm phán quyết định áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc thủ tục thanh lý tài sản Việc lựa chọn áp dụng thủ tục nào phụ thuộc vào
tình hình tài chính của DN cũng như ý chí của các chủ nợ và chính DN – HTX đó
Có thể nói, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, công việc quan trọng nhất cần phải tiến hành đó là Hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ có vai trò như một cuộc hòa giải giữa các chủ nợ và “con nợ”, tại đây DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản đề xuất phương án, giải pháp phục hồi hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn trả
nợ Nếu được Hội nghị chủ nợ biểu quyết thông qua sẽ mở ra cơ hội lớn cho DN – HTX tổ chức lại hoạt động kinh doanh, thoát khỏi tình trạng phá sản, phục hồi hoạt động bình thường Nếu việc tổ chức Hội nghị chủ nợ không thành công trong một
số trường hợp cụ thể quy định tại Điều 79, hay sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất
thông qua Nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu DN – HTX xây dựng phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh mà xảy ra các trường hợp quy định tại Điều 80 thì
Thẩm phán sẽ ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với DN – HTX đó Tòa án cũng
có thể ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản trong trường hợp có người
tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt theo quy định tại Điều 67 Luật phá sản hiện
hành
Qua quá trình phân tích, chúng ta đã hiểu một cách khái quát nhất tiến trình
từ khi chủ thể nộp đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền cho đến khi Tòa án ra
25 Xem khoản 2, Điều 87 Luật phá sản 2004
26 Xem Điều 78 Luật phá sản 2004
Trang 3024
quyết định tổ chức Hội nghị chủ nợ hay tuyên bố DN – HTX bị phá sản Kiến thức nền tảng này sẽ giúp chúng ta nghiên cứu cụ thể hơn các quy định của thủ tục này trong các phần tiếp theo của khóa luận
1.2.3 Các chủ thể tham gia thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Thủ tục phá sản nói chung và thủ tục nộp đơn yêu cầu, mở thủ tục phá sản nói riêng theo quy định của Luật phá sản 2004 có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Các chủ thể này được chia thành hai nhóm: nhóm chủ thể tiến hành và nhóm chủ thể tham gia Nhóm chủ thể tiến hành thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản gồm: Tòa án và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Nhóm chủ thể tham gia thủ tục này bao gồm: chủ nợ, DN – HTX mắc nợ, người lao động và các chủ thể có liên quan khác Nhìn chung các chủ thể này đều có vai trò, nhiệm vụ cụ thể trong thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
1.2.3.1 Vai trò và nhiệm vụ của Tòa án
Ở Việt Nam, Tòa án có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định trong tiến trình giải quyết phá sản Vai trò cũng như quyền hạn của Tòa án thể hiện rõ nét và quan trọng trong thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Tòa án là chủ thể trung tâm giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong giai đoạn này Từ việc nhận đơn yêu cầu, xử lý đơn yêu cầu để ra quyết định thụ lý hay trả lại đơn cho đến việc xem xét hồ sơ giấy tờ cùng những căn cứ khác để ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản đối với DN - HTX Trong việc tổ chức Hội nghị chủ nợ, Tòa án cũng có vai trò quan trọng trong việc triệu tập và chủ trì Hội nghị
Tòa án là cơ quan duy nhất tiếp nhận và giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản Theo quy định tại Điều 7 Luật phá sản 2004, thẩm quyền giải quyết phá sản
được chia theo cấp và lãnh thổ, trong đó, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó; Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với DN – HTX đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó; trong trường hợp cần thiết Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền lấy lên
để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Tòa án là chủ thể xem xét và đưa ra các quyết định quan trọng như thụ lý đơn yêu cầu, mở hay không mở thủ tục phá sản, quyết định thanh lý tài sản, các khoản
nợ cũng như quyết định tuyên bố phá sản đối với DN – HTX Tòa án cũng là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và chủ trì Hội nghị chủ nợ, giám sát hoạt động kinh doanh, bảo toàn tài sản của DN – HTX Trong thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản, vai trò lớn nhất của Tòa án là việc áp dụng các biện pháp bảo toàn đối với khối tài sản còn lại của DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản Có
Trang 3125
thể nói, số tài sản còn lại này của DN – HTX là tiền đề để tiến hành phục hồi đối với DN – HTX đó, nếu không thể bước vào thủ tục phục hồi thì khối tài sản còn lại này chính là hi vọng được thanh toán đầy đủ nghĩa vụ của các chủ nợ cũng như thanh toán các khoản lương cho người lao động Việc áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản hiệu quả đồng nghĩa với việc bảo vệ hài hòa lợi ích của tất cả chủ thể tham gia quan hệ phá sản
1.2.3.2 Vai trò và nhiệm vụ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Theo Luật phá sản 2004, Tổ quản lý thanh lý tài sản là chủ thể có vai trò hỗ trợ Tòa án trong tiến trình giải quyết phá sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản được thành lập đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản Thành phần của Tổ gồm có: một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; một cán
bộ của Tòa án; một đại diện của chủ nợ; đại diện hợp pháp của DN – HTX bị mở thủ tục phá sản; trong trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia tùy theo quyết định của Thẩm phán27
Hoạt động chính của Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản là bảo quản tài sản của DN – HTX mắc nợ Cụ thể như: lập bảng kê khai toàn bộ tài sản hiện có của DN – HTX; giám sát kiểm tra việc sử dụng tài sản của DN – HTX; đề nghị Thẩm phán áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của DN – HTX trong trường hợp cần thiết; lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả cho từng chủ nợ; những người mắc nợ và số nợ phải đòi của DN – HTX28…
Với những nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong giai đoạn này, Tổ quản lý, thanh lý tài sản góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình giải quyết yêu cầu diễn ra nhanh chóng chính xác, đồng thời bảo quản hiệu quả tài sản của DN – HTX Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thanh toán cho các chủ nợ cũng như đảm bảo cho quá trình phục hồi DN – HTX sau này
1.2.3.3 Sự tham gia thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục của các chủ nợ, người lao động, DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản
Nhìn chung, trong giai đoạn này sự tham gia của các chủ nợ, người lao động chủ yếu thể hiện ở quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như một số quyền của chủ nợ như: quyền khiếu nại danh sách chủ nợ, quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44), quyền biểu quyết thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ (Điều 64)…
Đối với người lao động, họ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp DN – HTX không trả được lương, các khoản nợ khác cho mình và
27 Xem khoản 2, Điều 9 Luật phá sản 2004
28 Xem Điều 10, Luật phá sản 2004
Trang 3226
nhận thấy DN – HTX lâm vào tình trạng phá sản Sau khi nộp đơn yêu cầu, đại diện người lao động hoặc đại diện công đoàn được coi là chủ nợ Trong giai đoạn này, sự tham gia của người lao động còn thể hiện ở quyền khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu
(Điều 25), quyền khiếu nại quyết định không mở thủ tục phá sản (Điều 32), quyền
tham gia Hội nghị chủ nợ (Điều 62)…
Đối với các chủ nợ, căn cứ vào tính chất các khoản nợ, Điều 6 Luật phá sản
2004 quy định chủ nợ được chia làm ba loại: chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần Sự tham gia của mỗi loại chủ nợ trong thủ tục đầu tiên này khác nhau xuất phát từ tính chất các khoản nợ là khác nhau Pháp luật phá sản hiện hành có những quy định về quyền chỉ dành riêng cho chủ nợ không có đảm bảo hoặc chủ nợ có đảm bảo một phần, ví dụ như quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản (Điều 13), quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44), quyền biểu quyết thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ (Điều 64)…
Trong thủ tục giải quyết phá sản nói chung cũng như thủ tục nộp đơn yêu cầu
và mở thủ tục phá sản nói riêng, chúng ta không thể không xét đến sự tham gia của
DN – HTX mắc nợ, đây chính là chủ thể làm phát sinh thủ tục phá sản DN – HTX mắc nợ tham gia thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản với vai trò chính là chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy DN – HTX mình đã lâm
vào tình trạng phá sản (Điều 13), DN – HTX có quyền được thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu bản thân không nộp đơn yêu cầu (Điều 23), quyền khiếu nại danh sách chủ nợ (Điều 52), quyền khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56)…
Kết luận chương một:
Qua phân tích chúng ta đã hiểu được một cách khái quát nhất về những vấn
đề lý luận cơ bản của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Chính những tiền đề lý luận về khái niệm, vai trò của Luật phá sản trong nền kinh tế; về vị trí ý nghĩa, các bước, trình tự của thủ tục cũng như các chủ thể tiến hành và tham gia thủ tục này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn khi bước vào phân tích thực trạng các quy phạm của thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản trong chương tiếp theo Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản là thủ tục đầu tiên để khởi động tiến trình giải quyết yêu cầu phá sản, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ phá sản Tuy nhiên, hiện nay các quy phạm của thủ tục này, bên cạnh những tiến bộ vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập khiến cho quyền lợi của các chủ thể chưa được bảo đảm một cách tối ưu, khiến cho quá trình giải quyết phá sản nhiều khi không kịp thời Việc phân tích cụ thể các quy định của pháp luật trong thủ tục này sẽ được trình bày sâu hơn trong chương hai của khóa luận