1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại

71 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật điều chỉnh hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại
Tác giả Trần Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Ngân Hà
Trường học Trường Đại Học Luật TP HCM
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất là làm rõ quy định pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM thông qua việc xem xét năng lực chủ thể vay vốn, kiểm tra mục đích sử dụng vốn của chủ thể vay vốn, ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Thương mại

Trang 2

TP HCM – 2012

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH HỒ SƠ VAY VỐN CỦA NGÂN

Trang 3

Người thực hiện

Trần Thị Thu Hằng

Trang 4

Bảng danh mục từ viết tắt

3

Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm

2006 về giao dịch bảo đảm đã được sửa đổi, bổ sung

bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm

12 năm 2001 của Ngân hàng Nhà nước về ban hành

quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách

hàng

QĐ NHNN

Trang 5

1627/2001/QĐ-MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT DỘNG THẨM ĐỊNH HỒ SƠ VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1 1.1 Khái quát hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 1

1.1.1 Khái niệm hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn 1 1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 3 1.1.3 Yêu cầu đặt ra khi thực hiện hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 5 1.1.4 Các yếu tố chi phối hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 7

1.2 Quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 9

1.2.1 Quy định pháp luật về thẩm định năng lực chủ thể vay vốn tại ngân hàng thương mại 11 1.2.2 Quy định pháp luật về thẩm định mục đích sử dụng vốn của chủ thể vay vốn 17 1.2.3 Quy định pháp luật về thẩm định khả năng tài chính của chủ thể vay vốn 20 1.2.4 Quy định pháp luật về thẩm định phương án sử dụng vốn của chủ thể vay vốn… 22 1.2.5 Quy định pháp luật về thẩm định tài sản bảo đảm 24

1.3 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động thẩm định hồ

sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 27

1.3.1 Xuất phát từ vai trò của hoạt động cho vay 27 1.3.2 Xuất phát từ rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn 28 1.3.3 Xuất phát từ thực trạng hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn hiện nay 29

Trang 6

1.3.4 Xuất phát từ thực trạng quy định pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ

vay vốn của ngân hàng thương mại 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH HỒ SƠ VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 31

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 31

2.1.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm định năng lực chủ thể vay vốn tại ngân hàng thương mại 31

2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm định mục đích sử dụng vốn của chủ thể vay vốn 36

2.1.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm định khả năng tài chính của chủ thể vay vốn 39

2.1.4 Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm định phương án sử dụng vốn của chủ thể vay vốn 42

2.1.5 Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm định tài sản bảo đảm 44

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 48

2.2.1 Về biện pháp bổ trợ nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 48

2.2.2 Giải pháp hoàn thiện quy phạm pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại 50

2.2.2.1 Về thẩm định năng lực chủ thể vay vốn tại ngân hàng thương mại 50

2.2.2.2 Về thẩm định mục đích sử dụng của chủ thể vay vốn 51

2.2.2.3 Về thẩm định khả năng tài chính của chủ thể vay vốn 52

2.2.2.4 Về thẩm định phương án sử dụng vốn của chủ thể vay vốn 53

2.2.2.5 Về thẩm định tài sản bảo đảm 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN CHUNG 56

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người đã có sự thay đổi rõ rệt trong những năm gần đây Một trong những sản phẩm của nền kinh tế hiện nay đó là sự xuất hiện và hoạt động của hệ thống các ngân hàng Tuy mới xuất hiện và có một quá trình phát triển còn non trẻ nhưng NHTM ở nước ta đã đánh dấu được vị trí quan trọng của mình trong xã hội Ngân hàng đóng vai trò là chủ thể trung gian, cầu nối giữa những chủ thể thừa vốn với những chủ thể cần vốn trong xã hội Với hoạt động của mình, NHTM đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, rút ngắn tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, góp phần làm cho sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không bị đứt quãng Đặc biệt, sau giai đoạn gia nhập WTO, hoạt động ngân hàng ở nước ta càng có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng đồng nghĩa với việc sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách, rủi ro hơn

Nền kinh tế càng phát triển, vai trò của NHTM càng được nâng cao Hoạt động phổ biến của ngân hàng là huy động vốn của cá nhân, tổ chức trong xã hội để rồi cung cấp vốn cho những cá nhân, tổ chức khác đang có nhu cầu về vốn Nhờ NHTM mà các doanh nghiệp muốn tăng gia sản xuất, đổi mới phương tiện, kỹ thuật, giao kết hợp đồng; các cá nhân muốn mua nhà ở, đi du lịch đều có thể được thỏa mãn Thế nhưng không phải lúc nào, các nhu cầu của người dân đều có thể được ngân hàng đáp ứng Đó có thể là do chủ thể đi vay không thỏa mãn các điều kiện vay vốn, hoặc do cán bộ thẩm định cố tình gây khó khăn cho chủ thể vay vốn

Vì vậy, thẩm định hồ sơ vay vốn là bước đầu tiên và quan trọng nhất để đảm bảo rằng khoản vay của NHTM có thể được thu hồi khi thời hạn vay đã hết, và quản lý được các rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM

Thẩm định hồ sơ vay vốn là một khâu quan trọng trong quá trình xét duyệt cho vay Các giai đoạn sau (quyết định cho vay, giải ngân, giám sát khoản vay, xử lý tài sản bảo đảm ) muốn được tiến hành thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn Thế nhưng trên thực tế, công tác thẩm định hồ sơ vay vốn của các NHTM vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều dự án đầu tư không hiệu quả, ngân hàng không thu hồi được vốn giải ngân Đó có thể là do sự thiếu trung thực trong công tác thẩm định hồ sơ vay vốn của cán bộ thẩm định, hay do thực tế quy định pháp luật về hoạt động này chưa rõ ràng

Trang 8

Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu để tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định hồ sơ vay vốn là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và đảm bảo quản lý rủi ro cho hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn nói riêng và hoạt động cho vay nói chung ở NHTM

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật

về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật

điều chỉnh hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại” làm

khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói, hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn là chủ đề pháp lý rộng lớn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả với các đề tài nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau

Qua quá trình khảo sát về tình hình nghiên cứu tại trường Đại học Luật Tp.HCM, tác giả nhận thấy có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động thẩm định

hồ sơ vay vốn Từ những đề tài mang tính khái quát chung cho hoạt động cho vay của NHTM trong các luận văn như: khoá luận cử nhân “Các biện pháp phòng tránh rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh năm 1998, luận văn thạc sĩ “Phòng ngừa rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại bằng biện pháp pháp luật” của tác giả Nguyễn Thị Thuỷ năm 2000, khoá luận cử nhân “Hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp” của tác giả Mai Ánh Nguyệt năm 2001, luận văn thạc sĩ “Pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, thực trạng và hướng hoàn thiện” của tác giả Tạ Chương Lâm năm 2009

Gần đây nhất, khoá luận cử nhân “Pháp luật điều chỉnh hoạt động thẩm định cho vay ở ngân hàng thương mại” của tác giả Võ Thu Duyên năm 2011 và luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động thẩm định cho vay của ngân hàng thương mại” của tác giả Lê Thị Ngân Hà năm 2011 là hai đề tài nghiên cứu sát nhất với đề tài mà tác giả nghiên cứu

Bên cạnh đó, đề tài cũng được phân tích trong rất nhiều sách chuyên khảo và tạp chí: Nguyễn Minh Kiều (2011), “Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng”, NXB Lao động xã hội; Nguyễn Đăng Dờn (2007), “Nghiệp vụ ngân hàng thương

Trang 9

mại”, NXB Thống Kê; bài viết “Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng – nhìn

từ góc độ đạo đức” của tác giả Lê Văn Hùng trên tạp chí Ngân hàng số 16/2007; bài viết “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Loan trên tạp chí Ngân hàng số 1+2/2012…

Nhìn chung, các công trình kể trên đều có giá trị ứng dụng và ý nghĩa thực tiễn nhất định Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, trên cơ sở các đề tài đó, tác giả tiếp tục đào sâu nghiên cứu về các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM nhằm đảm bảo an toàn, quản lý rủi ro trong hoạt động này của NHTM

3 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất là làm rõ quy định pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM thông qua việc xem xét năng lực chủ thể vay vốn, kiểm tra mục đích sử dụng vốn của chủ thể vay vốn, phân tích khả năng tài chính của chủ thể vay vốn, đánh giá tính khả thi của phương án sử dụng vốn, thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay

Thứ hai là tìm hiểu ý nghĩa và sự cần thiết của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM, những hạn chế hiện nay xuất hiện trong quá trình thực hiện hoạt động này của NHTM, từ đó giúp NHTM tìm ra cơ chế quản lý rủi ro trong hoạt

động này

Thứ ba là khảo sát, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn Đồng thời xem xét, phân tích, đối chiếu nội dung quy định về thẩm định hồ sơ vay vốn trong các văn bản pháp luật, từ đó phát hiện những vướng mắc và đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động thẩm định hồ

sơ vay vốn của NHTM

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Như tên gọi của đề tài, đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM bao gồm thẩm định năng lực pháp lý của chủ thể vay vốn, thẩm định mục đích sử dụng vốn, thẩm định khả năng tài chính của chủ thể vay vốn, thẩm định phương án sử dụng vốn, thẩm định tài sản bảo đảm

Trang 10

Trong phạm vi của khóa luận, tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề trên ở khía cạnh pháp lý không đi sâu vào phân tích, trình bày những nội dung liên quan quy trình nghiệp vụ thẩm định tín dụng Đề tài nghiên cứu hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM dựa trên cơ sở là các quy định pháp luật hiện hành trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đất đai năm 2003,

5 Ý nghĩa và giá trị ứng dụng

Khóa luận đã phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến việc đảm bảo tính khách quan, chính xác, tuân thủ pháp luật trong hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM; làm rõ sự bất cập, thiếu thống nhất của quy định pháp luật, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể là tài liệu tham khảo cho các NHTM

để xây dựng và hoàn thiện quy chế thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng mình, từ

đó tìm ra cơ chế quản lý rủi ro trong hoạt động này Đối với chủ thể vay vốn, khóa luận bổ sung những kiến thức pháp lý cần thiết cho khách hàng khi có nhu cầu vay vốn ở NHTM

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, tác giả vận dụng, kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu khác nhau Ví dụ như: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp các dữ liệu, phương pháp phân tích, đối chiếu với thực tế, phương pháp quy nạp, phương pháp so sánh… Trong đó phương pháp vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin giữ vai trò là phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong đề tài nghiên cứu của tác giả

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH HỒ SƠ VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn

Như chúng ta đã biết, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, đối tượng kinh doanh là tiền tệ và cung ứng các dịch vụ ngân hàng Đây là một trong những hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro Tất cả các rủi ro của các chủ thể kinh doanh khác trong nền kinh tế có thể chuyển tải một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng1 Trong đó, cấp tín dụng với hoạt động cho vay là một trong những hoạt động thường xuyên làm phát sinh rủi ro, gây tổn thất cho NHTM Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chủ đạo và tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho NHTM Vấn đề này được minh chứng rất rõ qua bảng số liệu dưới đây

Theo nguồn báo cáo Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, bảng biểu thể hiện tỷ trọng thu nhập từ tín dụng so tổng thu nhập tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh2: (đơn vị tính %)

STT Chi nhánh ngân hàng 2006 2007 2008 2009 2010

1 NHTM nhà nước 88.90 87.00 89.80 88.30 87.50

2 NHTM cổ phần 77.90 75.80 82.10 72.40 80.80

3 Ngân hàng liên doanh 90.40 90.70 85.20 80.20 84.90

4 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 86.50 75.80 69.20 59.90 64.80

Xuất phát từ vai trò tạo ra lợi nhuận và bản chất chứa đựng nhiều rủi ro của hoạt động cho vay đối với NHTM, nên nguyên tắc hạn chế, phân tán rủi ro rất được chú trọng trong hoạt động này Điều đó được thể hiện ở việc pháp luật điều chỉnh đến tất cả các giai đoạn trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng từ khâu đề nghị vay vốn cho tới khâu giải ngân, thu hồi nợ… Các điều kiện vay vốn tại NHTM phải

Trang 12

được các chủ thể thực hiện một cách nghiêm ngặt Giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn chính là giai đoạn khởi đầu cho quá trình cho vay, nhằm đánh giá chính xác về các điều kiện để được NHTM quyết định cấp tín dụng

Hiện nay dưới góc độ pháp lý chưa có bất kỳ định nghĩa nào về “thẩm định hồ

sơ vay vốn” mặc dù thuật ngữ này đã được sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật3 Dưới góc độ kinh tế, thuật ngữ “thẩm định hồ sơ vay vốn” có thể hiểu tương tự như thuật ngữ “thẩm định tín dụng”, “phân tích tín dụng” Theo đó, “thẩm định tín dụng” là việc sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng4 “Phân tích tín dụng” là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng5

Trong luận văn của mình, tác giả hiểu “thẩm định hồ sơ vay vốn” của NHTM

là tổng thể các bước thực hiện quy trình xem xét, phân tích các số liệu, thông tin đã thu thập trong hồ sơ vay vốn của khách hàng, nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hay dự án mà khách hàng giải trình trong hồ sơ

Từ đó làm cơ sở để NHTM ra quyết định cho vay một cách đúng đắn, phù hợp với quy định của pháp luật

Đây cũng là bước xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay Khi khách hàng có nhu cầu về vốn, thì NHTM là một trong những nơi có khả năng cung cấp nguồn vốn dồi dào nhất cho khách hàng Khi đến đây, trong quá trình tiếp xúc với khách hàng, cán bộ thẩm định sẽ hướng dẫn cho họ biết cần phải có những loại giấy tờ, thông tin, số liệu gì trong bộ hồ sơ vay vốn của mình Sau khi nhận được bộ hồ sơ vay vốn, NHTM sẽ tiến hành qui trình thẩm định hồ sơ đó Việc thẩm định nhằm mục đích xem liệu rằng bộ hồ sơ đã hợp lệ chưa, khả năng thực thi dự án và việc hoàn trả lại khoản nợ như thế nào… Mỗi bộ hồ sơ bao gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau Chẳng hạn, nếu chủ thể vay là cá nhân thì giấy tờ chứng minh năng lực chủ thể đó là Giấy chứng minh nhân dân/hộ chiếu… nhưng nếu chủ thể vay là doanh nghiệp thì giấy tờ chứng minh năng lực chủ thể là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trước đây là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) do cơ quan có thẩm quyền cấp Nếu khách hàng vay với mục đích khác nhau thì các loại giấy tờ chứng minh khả năng trả nợ, giải trình phương án sử dụng vốn cũng sẽ khác nhau Ví dụ: vay để thực hiện dự án đầu

3 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 15 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

4 Trường đại học kinh tế Tp.HCM, “Tín dụng-ngân hàng”, NXB Thống Kê, tr.104

5 Hồ Diệu (2000), “Tín dụng ngân hàng”, NXB Thống Kê, tr.43

Trang 13

tư thì cần có Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy phép xây dựng…, nếu vay để chi tiêu gia đình thì không cần các giấy tờ trên Vì vậy, việc thẩm định hồ sơ vay vốn rất quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng Nó đòi hỏi sự tỉ mỉ, kỹ lưỡng từ phía cán bộ thẩm định

Trong giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn này, các cán bộ thẩm định sẽ sử dụng tất cả các biện pháp, công cụ kỹ thuật để phân tích số liệu, thông tin sẵn có trong bộ hồ sơ, thăm dò ý kiến liên quan đến khách hàng, khảo sát thực thế… Từ

đó, hồ sơ vay vốn của khách hàng sẽ được thẩm định một cách trọn vẹn, tổng thể, tạo cơ sở cho việc ra quyết định cho vay của NHTM

Tóm lại đây là giai đoạn tiền đề trong quá trình cho vay của ngân hàng Nó tạo nền tảng vững chắc, thuận lợi cho các giai đoạn tiếp theo trong quy trình cấp tín dụng

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại

Theo như phân tích ở trên, chúng ta phần nào hiểu được vai trò của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn trong việc ra quyết định cho vay của NHTM Nó là tất cả các hành vi mang tính nghiệp vụ-pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm kiểm tra và xác định điều kiện vay vốn, trên cơ sở đó để ra quyết định cho vay hay không đối với khách hàng6 Chính vì thẩm định hồ sơ vay vốn là giai đoạn đầu tiên của hoạt động cho vay Nên nó có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với chủ thể cho vay (NHTM), mà cả chủ thể đi vay (khách hàng)

1.1.2.1 Đối với khách hàng

Một khi khách hàng đã tìm đến ngân hàng với bộ hồ sơ vay vốn trong tay thì chứng tỏ khách hàng đang rất cần vốn vì những mục đích nhất định Tâm lý của khách hàng trong trường hợp này luôn muốn bộ hồ sơ của mình được phía ngân hàng chấp thuận đồng ý cho vay Nên giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn rất quan trọng đối với khách hàng Nó quyết định xem liệu NHTM có đồng ý giải ngân hay không, nhu cầu của họ có được đáp ứng hay không

Mặt khác, đối với các khách hàng là doanh nghiệp, nhu cầu sản xuất nhiều nhưng nguồn vốn lại hạn chế Việc tạo niềm tin trong quan hệ tín dụng lần đầu với NHTM thành công rất có lợi cho các lần vay vốn tiếp theo

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007 ), “Giáo trình luật Ngân hàng”, NXB Công an nhân dân, tr.145

Trang 14

Ngoài ra, trong bộ hồ sơ vay vốn của mình, khách hàng phải có nhiều loại giấy

tờ pháp lý chứng minh cho mục đích sử dụng vốn, phương án, dự án sử dụng vốn hiệu quả… Từ đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn, NHTM sẽ chỉ ra những điểm chưa đạt được trong dự án, phương án sử dụng vốn của khách hàng Đây cũng

là cơ hội cho khách hàng xem lại những hạn chế, bất cập của mình như trong cơ cấu

tổ chức, quản lý, quá trình vận hành, sản xuất kinh doanh… hay những điểm chưa hợp lý trong phương án sử dụng vốn, từ đó giúp khách hàng vay vốn có phương hướng và biện pháp xử lý các vấn đề liên quan đến phương án sử dụng vốn một cách tốt nhất

1.1.2.2 Đối với ngân hàng thương mại

Thẩm định hồ sơ vay vốn chính là quá trình xem xét, kiểm tra mức độ, hiệu quả thực thi và tính rủi ro của một dự án/phương án mà khách hàng đã giải trình trong hồ sơ vay vốn của mình NHTM thực hiện hoạt động thẩm định nhằm những mục đích sau7

:

- Thẩm định hồ sơ vay vốn là hoạt động nhằm đánh giá một cách khách quan và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng Nó giúp NHTM xem xét được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc dự

án đầu tư mà khách hàng lập và nộp khi làm thủ tục vay vốn Đồng thời, thông qua việc thu thập thông tin trong hồ sơ vay vốn của khách hàng, NHTM có thể biết được thái độ khách hàng trong việc vay vốn cũng như trả nợ Từ đó giúp cho cán bộ thẩm định và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn cho vay, giảm được xác suất hai loại sai lầm trong quyết định cho vay: cho vay một dự án tồi và từ chối cho vay một dự án tốt

- Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay, xác định giới hạn an toàn của quan hệ tín dụng giữa ngân hàng

và khách hàng vay vốn để phòng ngừa rủi ro cho NHTM nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng khi khoản vay đó được giải ngân

- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu về vốn để kinh doanh là vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp Do đó trong cùng một thời điểm, NHTM có thể nhận thẩm định nhiều bộ hồ sơ vay vốn

7 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/khai-quat-ve-tham-dinh-tin-dung.457102.html

Trang 15

khác nhau Thẩm định chính là bước đệm quan trọng trong việc giúp NHTM đánh giá được hồ sơ vay vốn nào hiệu quả nhất, hiệu quả thứ hai, thứ ba… Trên cơ sở đó để đưa ra phương án giải ngân theo thứ tự

ưu tiên nhất định, đảm bảo không bỏ lỡ một dự án có khả năng sinh lời cao mà vẫn không để khách hàng chờ lâu, chuyển sang vay vốn ở NHTM khác

Thông qua những mục đích trên cho thấy thẩm định hồ sơ vay vốn có ý nghĩa rất quan trọng, nó được coi là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất cho toàn bộ quá trình cấp tín dụng của NHTM

1.1.3 Các yêu cầu đặt ra khi thực hiện hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn.

Thứ nhất, thẩm định hồ sơ vay vốn phải khách quan Vì hoạt động thẩm định

hồ sơ vay vốn do chính các cán bộ ngân hàng trực tiếp thực hiện Nên phần nào, kết quả của hoạt động này ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi quan điểm, ý kiến chủ quan của cán bộ thẩm định Nhưng đây là hoạt động quan trọng, tiền đề trong quá trình cho vay của NHTM Nó chi phối rất nhiều tới lợi ích của khách hàng cũng như lợi ích của NHTM Hoạt động thẩm định khách quan, đúng đắn, đưa ra kết quả chính xác sẽ giúp NHTM loại trừ được các rủi ro thường gặp trong quá trình cho vay Cán

bộ thẩm định khi thẩm định thì không được dùng tư tưởng cá nhân để áp đặt vào hồ

sơ vay vốn của khách hàng Các kết luận đưa ra phải thực sự dựa trên những số liệu, thông tin cụ thể của khách hàng, không dùng những suy đoán vô căn cứ, xa rời thông tin thực tế…

Thứ hai, thẩm định hồ sơ vay vốn phải minh bạch, rõ ràng, chính xác Vì một trong những đặc điểm của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn là phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của cán bộ thẩm định Để làm tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi cán bộ phải

có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Nhưng hiện nay do năng lực một số cán bộ còn hạn chế nên việc thẩm định xét duyệt hồ sơ vay vốn có phần không chính xác Trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn, cán bộ thẩm định sẽ phải phân tích các dữ kiện hữu hình, định lượng như: chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội, tài chính, yếu tố công nghệ kỹ thuật, môi trường Thậm chí phải phân tích cả những dữ liệu mang tính vô hình, định tính như: tư cách năng lực chủ thể đầu tư, khả năng quản lý các bên tham gia dự án … Vì thế, khi thẩm định hồ sơ vay vốn một lần nữa đòi hỏi cán bộ phải thẩm định một cách minh bạch, rõ ràng, chính xác và khoa học

Có như vậy, hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn mới đạt được kết quả mà cả người vay và ngân hàng cho vay mong muốn

Trang 16

Thứ ba, thẩm định hồ sơ vay vốn là một quy trình nghiệp vụ mà ở mỗi NHTM

là khác nhau Thậm chí quy trình này ở những đối tượng vay, mục đích vay, thời hạn vay khác nhau cũng khác nhau Nên pháp luật ngân hàng để cho các NHTM được phép tự quy định quy chế nghiệp vụ thẩm định hồ sơ vay vốn phù hợp với đặc điểm của ngân hàng mình, đối tượng vay, thời hạn vay trong đơn vị mình Thế nhưng không phải vì thế mà các NHTM có thể tuỳ ý phân bổ cán bộ, xây dựng quy chế tín dụng Mà việc xây dựng quy trình này vẫn phải đảm bảo được các nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định với quyết định cho vay8 Việc làm này là hoàn toàn hợp lý vì sẽ có những bộ hồ sơ vay vốn cần hội đồng thẩm định, có những bộ hồ sơ vay vốn chỉ cần một cán bộ thẩm định Nếu không phân định rõ trách nhiệm thì không ai muốn mình phải chịu trách nhiệm cá nhân mà luôn muốn quy trách nhiệm cho tập thể Như vậy sẽ làm cho ý thức, trách nhiệm của cán bộ thẩm định bị giảm sút, thay đổi tính chất quan trọng của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn

Thứ tư, cán bộ thẩm định khi xem xét hồ sơ vay vốn của khách hàng phải đặt trong mối tương quan giữa các thông tin, giấy tờ, tài liệu liên quan Khi kiểm tra hồ

sơ vay vốn của khách hàng, cán bộ thẩm định phải phân tích trên hai phương diện:

hồ sơ pháp lý và hồ sơ kinh tế Cán bộ phải tìm kiếm, thu thập mọi thông tin (ngoài những thông tin đã cung cấp trong bộ hồ sơ) về tư cách pháp lý, năng lực chủ thể của bên đi vay, về dự án, phương án trong hồ sơ, về năng lực tài chính… Từ những thông tin đó, NHTM mới thẩm định xem xét một cách tổng quát nhất, đưa ra kết quả chính xác nhất về dự án vay vốn Đồng thời cán bộ thẩm định cũng cần lưu ý không nên quá chú trọng vào một điều kiện mà phải bao quát hết tất cả các điều kiện Như thế, nó mới mang lại hiệu quả cao trong hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn

Thứ năm, hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật9 Mọi hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động ngân hàng nói riêng đều phải tuân thủ quy định pháp lý Điều này sẽ tạo khung pháp lý an toàn, định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế một cách toàn diện nhất Trong đó hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM, một hoạt động quan trọng trong việc quyết định cho vay, lại càng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật Pháp luật hiện nay không quy định cụ thể quy trình thẩm định của ngân hàng bao gồm những bước nào, mà để cho các NHTM tự quy định cho mình quy trình nghiệp vụ riêng phù hợp với đặc thù của hoạt động ngân hàng mình Đồng thời, NHTM khi xét duyệt cho

8 Khoản 1 điều 15 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

9 Võ Thu Duyên (2011), “Pháp luật điều chỉnh hoạt động thẩm định cho vay ở ngân hàng thương mại”, tr.8

Trang 17

vay còn phải tuân thủ pháp luật liên quan về việc đánh giá năng lực chủ thể của bên

đi vay, khả năng tài chính đảm bảo việc trả nợ, mục đích sử dụng vốn, phương án/dự án sử dụng vốn, biện pháp bảo đảm Việc tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM sẽ tạo môi trường pháp lý cho hoạt động cho vay đạt hiệu quả, hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra đối với NHTM, đảm bảo quyền lợi các bên trong hợp đồng tín dụng, đặc biệt là ngân hàng khi có tranh chấp xảy ra

Vì vậy, hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản như trên để mang lại hiệu quả cao nhất, phòng ngừa, giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra đối với NHTM

1.1.4 Các yếu tố chi phối hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng

thương mại

1.1.4.1 Yếu tố khách quan

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều phải chịu

sự điều chỉnh của quy định pháp luật Môi trường pháp lý là một trong các yếu tố khách quan luôn có sự ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay Cụ thể, trong giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn, khi quy định của pháp luật thay đổi cũng sẽ kéo theo sự thay đổi các điều kiện, nội dung thẩm định sao cho phù hợp với quy định pháp luật

Thực tế hiện nay, pháp luật quy định về điều kiện vay vốn rất chung chung Đây chính là lý do tạo sơ hở cho cán bộ thẩm định làm dụng quyền hạn của mình để thẩm định hồ sơ tuỳ tiện Vì vậy, đòi hỏi các NHTM phải linh hoạt tự đặt ra quy định cụ thể trong quy chế nghiệp vụ tín dụng của mình như: những điều kiện cụ thể đối với những loại đối tượng vay khác nhau, mục đích vay khác nhau, thời hạn vay khác nhau

Trong một số trường hợp, pháp luật không quy định cụ thể: cán bộ thẩm định khi thẩm định hồ sơ vay vốn phải là đối tượng nào, không được có mối quan hệ thân thích với khách hàng, có được giao lại cho người khác thực hiện việc thẩm định hay không Mà từng NHTM sẽ có sự sắp xếp riêng nên không tránh khỏi việc cán bộ thông đồng với khách hàng thẩm định sai hồ sơ vay vốn

Khung pháp lý là nền tảng quản lý hữu hiệu nhất đối với hoạt động thẩm định

hồ sơ vay vốn của NHTM Chính chính sách, cơ chế quản lý là yếu tố đóng vai trò điều chỉnh định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế Nên nếu pháp

Trang 18

luật không quy định hoặc nếu có nhưng lại không cụ thể cũng sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM

Bên cạnh môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế- xã hội, môi trường chính trị, yếu tố thiên nhiên … cũng có phần nào tác động chi phối tới hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn Bởi vì, trong hoạt động này cán bộ thẩm định sẽ phải thẩm định đối với tài sản bảo đảm, phương án sử dụng vốn… Khi thẩm định các yếu tố này thì xét trên góc độ kinh tế, tính chính xác của tài sản phụ thuộc rất nhiều vào giá cả, biến động của thị trường… Một tài sản tại từng thời điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau, có thể tăng giá hoặc giảm giá Nên nếu thực hiện hoạt động thẩm định

mà thị trường luôn dao động, thay đổi thì hiệu quả xác thực của hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn không đạt được Rủi ro xảy ra đối với NHTM là rất cao

1.1.4.2 Yếu tố chủ quan

Thứ nhất là từ phía khách hàng vay:

- Đối với khách hàng là cá nhân, việc tập hợp những giấy tờ cho bộ hồ sơ vay vốn còn thiếu kinh nghiệm Điều đó làm cho hoạt động thẩm định bị kéo dài Hoặc xuất phát từ nhận thức của người dân

về thủ tục hành chính rườm rà, cán bộ “tham nhũng” nên mỗi lần có nhu cầu vay vốn ngân hàng đều chuẩn bị khoản tiền hối lộ, khiến cho nhiều cán bộ thẩm định lại có thêm cơ hội để tham ô, làm cho hoạt động thẩm định không phát huy được vai trò quan trọng của nó

- Đối với khách hàng là doanh nghiệp, khi lập hồ sơ vay vốn,

họ đã báo cáo các số liệu không đúng thực tế Hơn nữa, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Nên sổ sách kế toán

mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức Vì vậy, khi cán bộ thẩm định lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp thường không chính xác

Thứ hai là từ phía ngân hàng cho vay:

Một trong những đặc điểm của khâu thẩm định là phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người (cụ thể là ý kiến chủ quan của cán bộ thẩm định) Nên nếu NHTM bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ vào vị trí công tác thẩm định tín dụng sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả thẩm định Trong đó yếu tố đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề

Trang 19

hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hoá về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì nguy hiểm khi được

bố trí trong công tác tín dụng Trong hoạt động này, cán bộ thẩm định chính là chủ thể trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định đánh giá tính tin cậy, hiệu quả của

dự án hoặc phương án được giải trình trong hồ sơ vay vốn Nói cách khác, cán bộ thẩm định chính là “chìa khoá” giúp cho khách hàng có thể thoả mãn nhu cầu về vốn của mình Nếu cán bộ tha hoá về đạo đức đứng ra gánh vác công việc này thì tất yếu sẽ dẫn tới việc khách hàng thông đồng, mua chuộc để cán bộ lập báo cáo rằng

hồ sơ vay vốn của khách hàng là đạt yêu cầu, độ tin cậy cao Hoặc chính bản thân cán bộ thẩm định với “trình độ chuyên môn của mình” cũng có thể làm những giấy

tờ giả mạo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngân hàng Như vậy, hoạt động thẩm định của NHTM sẽ không đạt được hiệu quả và mục đích như đúng bản chất của nó

Để làm được điều đó đòi hỏi các NHTM phải tích cực bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ cán bộ hơn nữa, để đáp ứng cho công việc thẩm định tín dụng

Thẩm định hồ sơ vay vốn là quá trình bao gồm tất cả các quy trình, hoạt động nhằm phân tích, tổng hợp tất cả các số liệu, thông tin đã thu thập được trong hồ sơ vay vốn của khách hàng Đồng thời còn phải đối chiếu thêm cả những thông tin bên ngoài hồ sơ, thực tế hoạt động của khách hàng, thị trường liên quan của dòng sản phẩm mà khách hàng đang tính đầu tư, kinh doanh… Cho nên hoạt động thẩm định đòi hỏi chủ thể thẩm định phải làm việc một cách thận trọng và tỉ mỉ Xuất phát từ tâm lý chung của các khách hàng khi muốn vay vốn đều có phần thổi phồng lên những số liệu thống kê trong hồ sơ Nếu cán bộ thẩm định chỉ chăm chăm vào số liệu có trong hồ sơ thôi thì có thể làm cho hoạt động thẩm định kém chất lượng, đưa

ra báo cáo sai về dự án, phương án trong hồ sơ vay vốn

Trong hồ sơ vay vốn mà khách hàng lập bao gồm rất nhiều loại giấy tờ, ví dụ như: Giấy chứng minh nhân dân/hộ chiếu, giấy tờ chứng minh mục đích vay vốn, chứng từ chứng minh thu nhập, giấy tờ sở hữu tài sản… Trong quá trình thẩm định, NHTM phải xem xét nhiều điều kiện vay vốn, và phải thoả mãn hết tất cả các điều kiện theo quy định pháp luật Thế nhưng cũng có trường hợp NHTM lại quá chú trọng vào một điều kiện mà không quan tâm đúng mức những điều kiện khác Điều

đó tạo độ “vênh” trong việc thẩm định hồ sơ vay vốn của NHTM

Bên cạnh đó, NHTM phải xây dựng quy trình, phương pháp thẩm định một cách khoa học Ngân hàng phải không ngừng đổi mới công nghệ tiến bộ, khoa học Với công nghệ tiên tiến thì ngân hàng sẽ có thể tiếp cận được với nhiều loại khách hàng, đánh giá đúng đắn hồ sơ vay vốn của bên vay Đồng thời các khách hàng khi

Trang 20

vay vốn tại NHTM sẽ không gặp phải những rào cản, thủ tục phức tạp, rườm rà Mà chính những thủ tục này cũng sẽ làm mất thời gian, công sức, chi phí cũng như cơ hội tài trợ cho khách hàng tiềm năng của NHTM

Không chỉ xây dựng quy trình, phương pháp thẩm định khoa học mà NHTM cần phải có công tác tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc Trong hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn, NHTM cần kiểm tra thường xuyên Có như vậy thì mới có thể nhanh chóng phát hiện những sai sót và có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế rủi ro xảy ra đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn nói riêng

1.2 Quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng thương mại

Hiện nay khi đề cập đến nội dung thẩm định hồ sơ vay vốn nói chung, tuỳ theo mỗi góc độ nghiên cứu, tính chất thẩm định, đối tượng thẩm định… mà nội dung thẩm định có thể khác nhau Nếu theo góc độ nghiên cứu của học giả, nội dung thẩm định có thể gồm: “thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn, khả năng tài chính, khả năng vay nợ, tài sản bảo đảm nợ vay, ước lượng và kiểm soát rủi ro”10

hoặc “năng lực vay nợ, uy tín, khả năng tạo ra lợi tức, quyền sở hữu các tích sản, các điều kiện kinh tế”11 Hay căn cứ vào tiêu chí thẩm định 5C hoặc 5P mà nội dung thẩm định có thể gồm: “tính cách người đi vay (Character), năng lực hoặc khả năng (vay và trả nợ) của khách hàng (Capacity), vốn (Capital), tài sản cầm cố, thế chấp (Collateral), điều kiện (Conditions)” hoặc “Mục đích (Purpose), thanh toán (Payment), bảo vệ (Protection), chính sách (Policy), định giá (Pricing)”12

Nội dung thẩm định hồ sơ vay vốn cũng chính là các nội dung mà NHTM đòi hỏi khách hàng đáp ứng trong bộ hồ sơ của mình khi có nhu cầu vay vốn Hồ sơ vay vốn là tổng thể các loại giấy tờ, thông tin, số liệu mà khách hàng phải lập khi có nhu cầu vay vốn Từ hồ sơ này, NHTM sẽ có công tác thẩm định, xem xét, đánh giá và quyết định có cấp vốn hay không Thông thường, một bộ hồ sơ vay vốn sẽ được đánh giá trên hai phương diện: pháp lý và kinh tế Do đó các loại giấy tờ mà khách hàng vay phải báo cáo cũng gồm hai loại: giấy tờ chứng minh tính kinh tế của dự

án, phương án… và giấy tờ chứng minh tính pháp lý Ngoài ra, hồ sơ vay vốn còn tuỳ thuộc vào đối tượng vay là cá nhân hay pháp nhân, mục đích vay là tiêu dùng hay sản xuất, kinh doanh… mà ngân hàng yêu cầu các loại giấy tờ khác nhau

10 Nguyễn Minh Kiều (2011) “Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng”, NXB Lao động xã hội, tr.189

11 Lê Văn Tề (2009), “Tín dụng ngân hàng”, NXB Giao thông vận tải, tr.112

12 Nguyễn Đăng Dờn (2007), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, NXB Thống Kê, tr.75

Trang 21

Nhưng nhìn chung thì một bộ hồ sơ thường bao gồm 5 loại giấy tờ như sau:

- Giấy tờ pháp lý chứng minh năng lực chủ thể,

- Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay,

- Giấy tờ chứng minh khả năng tài chính đảm bảo khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết,

- Giấy tờ giải trình phương án sử dụng vốn,

- Giấy tờ về tài sản bảo đảm

Như vậy, nội dung pháp lý liên quan đến hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn chính là các quy định pháp luật về thẩm định năm điều kiện vay vốn thể hiện qua các loại chứng từ nêu trên

1.2.1 Quy định pháp luật về thẩm định năng lực chủ thể vay vốn tại ngân hàng

thương mại

Yêu cầu đặt ra trước khi cho vay của NHTM là phải xem xét bên đi vay có đủ điều kiện vay vốn hay không Việc làm này nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng của NHTM, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay Một trong những điều kiện tiên quyết mà khách hàng phải thoả mãn khi đi vay là đáp ứng điều kiện về mặt năng lực chủ thể (Điều 7 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN)

1.2.1.1 Đối với chủ thể vay Việt Nam

Thứ nhất là pháp nhân Việt Nam: phải có năng lực pháp luật dân sự13 Theo quy định tại điều 84 BLDS năm 2005, pháp nhân là một tổ chức thỏa mãn đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Năng lực chủ thể của pháp nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Đối với pháp nhân khi vay vốn ở NHTM thì cán bộ thẩm định phải kiểm tra tư cách pháp nhân, để xem pháp nhân đó có đủ năng lực để tham gia vào hợp đồng tín dụng hay không Hồ sơ pháp lý mà một pháp nhân khi vay vốn thường phải đáp ứng

để chứng minh cho năng lực chủ thể, tư cách pháp nhân của mình bao gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trước đây là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh);

13 Khoản 1 Điều 7 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

Trang 22

- Giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;

- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp (nếu có);

- Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu;

- Điều lệ hoạt động (nếu có);

- Quyết định bổ nhiệm người điều hành, kế toán trưởng;

- Biên bản họp Hội đồng Quản trị (đối với Công ty cổ phần, liên doanh… ) hoặc văn bản uỷ quyền của các thành viên góp vốn (đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh… ) về việc uỷ quyền người đại diện hợp pháp thực hiện các quan hệ giao dịch với NHTM: vay nợ, cầm cố, thế chấp… (nội dung uỷ quyền phải ghi rõ ràng, cụ thể)

NHTM khi thẩm định về năng lực pháp luật của pháp nhân thường căn cứ vào các loại giấy tờ trên Bởi vì, đây là những giấy tờ thể hiện được lĩnh vực hoạt động, thời điểm hình thành, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nào của Nhà nước… Đồng thời khi xác lập hợp đồng tín dụng với NHTM thì chính người đại diện theo pháp luật của pháp nhân sẽ nhân danh pháp nhân đứng ra ký kết Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân14 Vì thế khi xem xét năng lực hành vi của pháp nhân phải căn cứ vào người đại diện Theo quy định tại điều 91 BLDS năm

2005, đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền

Để xác định ai là đại diện theo pháp luật của pháp nhân, NHTM có thể căn cứ vào Điều lệ của pháp nhân đó Nếu điều lệ không quy định thì ngân hàng dựa vào quy định pháp luật cụ thể để xác định Ví dụ, đối với công ty cổ phần, nếu điều lệ không quy định chủ tịch Hội đồng quản trị là đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật15 Hoặc theo cách khác, NHTM vẫn có thể xác định được người đại diện theo pháp luật dựa vào Quyết định thành lập của pháp nhân Vì theo quy định tại điều 26 Luật Doanh nghiệp năm

2005, khoản 2 điều 6 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp thì nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trước đây là

14 Điều 93 BLDS năm 2005

15 Điều 95 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Trang 23

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) sẽ bao gồm: họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật uỷ quyền cho người khác, thì NHTM cần thận trọng hơn trong giai đoạn xem xét năng lực hành vi của pháp nhân16 Lúc này, NHTM phải kiểm tra xem liệu hình thức uỷ quyền của các bên đã phù hợp với quy định pháp luật hay chưa Ví dụ, khoản 14 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì hình thức uỷ quyền phải bằng văn bản Tiếp theo là xem xét nội dung, phạm vi uỷ quyền

có được phép không, thời hạn uỷ quyền còn hiệu lực hay không, văn bản uỷ quyền

có đem đóng dấu xác nhận không Người được uỷ quyền cũng phải thoả mãn đầy đủ năng lực chủ thể

Xem xét kỹ các loại giấy tờ trên giúp NHTM hạn chế được các trường hợp lừa đảo, các “công ty ma” được thành lập nhằm vay vốn ngân hàng rồi bỏ trốn Thế nhưng hiện nay, các chiêu thức lừa đảo ngày càng tinh vi, có những trường hợp giấy

tờ tưởng như hợp lệ nhưng vẫn là giả mạo và NHTM sau khi cho vay thì không thể thu hồi vốn

Thứ hai là cá nhân Việt Nam: phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi

dân sự

Đối với cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ17

, ngân hàng thẩm định tư các chủ thể của chính họ mà không cần thẩm định tư cách chủ thể khác có liên quan như người đại diện Vì họ có toàn quyền tham gia vào các giao dịch dân sự độc lập Đối với cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần18 chỉ có thể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật quy định

Giấy tờ pháp lý mà cán bộ thẩm định có thể thẩm định để xác định năng lực chủ thể của cá nhân vay vốn là19

:

- Chứng minh nhân dân/hộ khẩu/KT3 của người vay/người bảo lãnh (nếu có)

- Trong trường hợp có sự nghi ngờ là người mất năng lực hành vi dân sự thì phải xem xét quyết định của Toà án về việc kết luận một người bị mất

Trang 24

năng lực hành vi dân sự, và mọi giao dịch của người này phải do người đại diện thực hiện

- Riêng đối với cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được thực hiện các giao dịch với NHTM theo quy định tại khoản 2 điều 20 BLDS năm 2005 thì phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của mình như hợp đồng tặng cho, di chúc…

Theo quy định tại điều 141 BLDS năm 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm những người sau: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ Khi thẩm định tư cách người đại diện theo pháp luật, NHTM cần chú trọng những vấn đề như: điều kiện của người đại diện theo pháp luật, giấy tờ chứng minh tư cách người đại diện theo pháp luật (ví dụ: chứng minh nhân dân, giấy khai sinh đối với cha-mẹ ruột20; giấy đăng ký kết hôn đối với bố dượng, mẹ kế; quyết định công nhận việc nuôi con nuôi của Uỷ ban nhân dân cấp

xã đối với cha-mẹ nuôi), trường hợp đã chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật21

Theo quy định của pháp luật thì mỗi một người chỉ có một chứng minh nhân dân nên việc đánh giá năng lực hành vi của cá nhân qua loại giấy tờ này là hợp lý Nhưng trên thực tế, việc NHTM đánh giá năng lực chủ thể của khách hàng là cá nhân thông qua loại giấy tờ này gần đây đang gặp rất nhiều khó khăn

Ngoài việc xem xét các giấy tờ trên, thì cán bộ thẩm định còn phải kiểm tra liệu cá nhân đi vay có rơi vào các trường hợp không được cho vay22, các trường hợp hạn chế cho vay hay không23 Việc thẩm định này giúp NHTM loại trừ được việc ký hợp đồng tín dụng với chủ thể không có thẩm quyền ký kết, hạn chế rủi ro cho NHTM

Thứ ba là đối với hộ gia đình: đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp

luật và năng lực hành vi dân sự

Theo Điều 106 BLDS năm 2005, “hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”

Giấy tờ pháp lý để kiểm tra năng lực chủ thể mà hộ gia đình phải có khi đi vay vốn tại NHTM là:

Trang 25

- Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân của chủ hộ,

- Văn bản chứng minh giao dịch vì mục đích chung của hộ gia đình24,

- Giấy phép kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp,

- Giấy tờ hợp pháp, hợp lệ từ việc được giao hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, mặt nước (đối với hộ nông, lâm, ngư nghiệp…)

- Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý, đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên tử đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý25

Dựa vào những giấy tờ trên, NHTM có thể thẩm định tư cách pháp lý của hộ gia đình khi tham gia hợp đồng tín dụng, đảm bảo không có rủi ro trong việc thu hồi

nợ Vì hộ gia đình là chủ thể đặc biệt nên khi ký hợp đồng tín dụng với chủ hộ gia đình, NHTM cần thẩm định rõ văn bản xác định mục đích giao dịch là mục đích chung của hộ gia đình Có như vậy thì khi có tranh chấp xảy ra, NHTM mới có thể quản lý được nguồn vốn đã giải ngân, hộ gia đình mới chịu trách nhiệm cho hành vi xác lập giao dịch của chủ hộ gia đình

Thứ tƣ là đối với khách hàng vay là tổ hợp tác Đại diện của tổ hợp tác phải

có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Theo Điều 111 BLDS năm 2005 “tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự” Giấy tờ pháp lý để chứng minh năng lực chủ thể của tổ hợp tác khi yêu cầu vay vốn tại NHTM là:

- Chứng minh nhân dân của tổ trưởng tổ hợp tác,

- Văn bản uỷ quyền của tổ trưởng tổ hợp tác cho các thành viên (nếu có),

- Hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn,

Trang 26

lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ hợp tác phát sinh đồng thời với việc thành lập và chấm dứt khi chấm dứt sự “tồn tại” của tổ hợp tác Bên cạnh thông tin của tổ trưởng tổ hợp tác thì NHTM phải xem xét tới thông tin của thành viên còn lại để xác định tính hợp pháp của việc uỷ quyền của tổ trưởng tổ hợp tác (nếu có) Khi xác lập hợp đồng tín dụng với người đại diện của tổ hợp tác, NHTM cần kiểm định lại

là giao dịch này có nhằm mục đích hoạt động của tổ hợp tác, có sự đồng ý của các

tổ viên hay không26

Thứ năm là đối với doanh nghiệp tƣ nhân: chủ doanh nghiệp tư nhân phải

có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Theo điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 “doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp” Có thể nói, doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, lệ thuộc rất chặt chẽ vào nhau Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp

tư nhân là người trực tiếp xác lập các giao dịch nhân danh doanh nghiệp Nếu có sự thay đổi về chủ sở hữu doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân đó coi như chấm dứt

sự “tồn tại” Nên khi thẩm định năng lực chủ thể của doanh nghiệp tư nhân, NHTM cần lưu ý các giấy tờ sau:

- Chứng minh nhân dân của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân,

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,

- Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu,

- Văn bản uỷ quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân (nếu có)…

Các giấy tờ này cho thấy khi thẩm định năng lực chủ thể của doanh nghiệp tư nhân, NHTM phải gắn với thẩm định năng lực chủ thể của chủ sở hữu doanh nghiệp

tư nhân

Thứ sáu là đối với tổ chức khác: mặc dù không mang tư cách pháp nhân

nhưng theo quy định pháp luật, nếu đáp ứng các điều kiện nhất định, các tổ chức khác vẫn có thể trở thành chủ thể tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng Các tổ chức khác ở đây có thể là: cơ quan quản lý hành chính nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội –nghề nghiệp, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự…

26 Khoản 3 điều 114 BLDS năm 2005

Trang 27

Việc thẩm định năng lực chủ thể đối với các tổ chức này cũng bao gồm thẩm định năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Năng lực pháp luật của các tổ chức được thể hiện thông qua giấy tờ chứng minh sự thành lập theo quy định của pháp luật của tổ chức đó (Giấy phép thành lập, quyết định thành lập, quyết định công nhận, văn bản chấp thuận, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động), điều lệ tổ chức, nội quy, quy chế… Năng lực hành vi của tổ chức này cũng tương tự như pháp nhân Mọi giao dịch của tổ chức phải thực hiện thông qua hành vi của người đại diện Để xác định người đại diện theo pháp luật của

tổ chức, ngân hàng sẽ kiểm tra giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đó (Quyết định bổ nhiệm, quyết định công nhận chức danh) Trường hợp tổ chức xác lập giao dịch thông qua người đại diện theo uỷ quyền thì phải có văn bản uỷ quyền Bên cạnh đó, NHTM cũng phải lưu ý tổ chức đi vay có thuộc các trường hợp cấm cho vay và hạn chế cho vay hay không27

1.2.1.2 Đối với chủ thể vay nước ngoài

Thứ nhất là cá nhân nước ngoài, phải có năng lực pháp luật và năng lực

hành vi dân sự Năng lực pháp luật của cá nhân nước ngoài được quy định tại điều

761 BLDS năm 2005 và Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006

về việc quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ có yếu tố nước ngoài Năng lực pháp luật của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch Nếu cư trú tại Việt Nam thì năng lực pháp luật xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam28

Theo điều 762 BLDS năm 2005 “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác Trong trường hợp người nước ngoài thực hiện, xác lập các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Khi thẩm định hồ sơ vay vốn của cá nhân nước ngoài, cán bộ thẩm định phải xem xét kỹ lưỡng những giấy tờ chứng minh năng lực chủ thể, giấy tờ chứng minh

cá nhân đó được phép vay vốn tại các NHTM

27 Điều 126, Khoản 1 điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

28 Khoản 1 điều 6 Nghị định 138/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ có yếu tố nước ngoài

Trang 28

Thứ hai là pháp nhân nước ngoài Theo Điều 765 BLDS năm 2005 “năng

lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân

sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Các giấy tờ mà NHTM có thể xem xét đối với hồ sơ vay vốn của pháp nhân nước ngoài là29

:

- Giấy tờ chứng minh pháp nhân thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài,

- Giấy tờ chứng minh người có thẩm quyền đại diện,

- Giấy tờ chứng minh pháp nhân đủ điều kiện được phép giao dịch với NHTM Nói chung điều kiện về năng lực chủ thể là điều kiện tiên quyết, bắt buộc NHTM phải thẩm định trước khi có quyết định cho vay Nếu làm tốt công tác thẩm định trong giai đoạn này sẽ hạn chế yếu tố làm hợp đồng tín dụng vô hiệu30

1.2.2 Quy định pháp luật về thẩm định mục đích sử dụng vốn của chủ thể vay vốn

Trong hợp đồng tín dụng, khách hàng có thể vay vốn với nhiều mục đích sử dụng vốn khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu của bản thân Tuy nhiên, dù là mục đích nào thì khách hàng đều phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích và mục đích

sử dụng phải hợp pháp theo quy định tại khoản 2 điều 7 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

Tổ chức tín dụng không được cho vay các nhu cầu vốn sau đây31

:

- Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi;

- Để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm;

- Để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm

Theo đó các giao dịch mà pháp luật cấm có thể là32: kinh doanh vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an;

Trang 29

quân trang; kinh doanh chất ma tuý các loại… Còn những mục đích còn lại mặc dù pháp luật không cấm nhưng NHTM cũng phải thận trọng Ví dụ: tình hình chính sách kinh tế Nhà nước hiện nay là giảm tỷ trọng cho vay trong lĩnh vực chứng khoán, nên đối với những khoản vay này, mặc dù pháp luật không cấm nhưng NHTM cũng phải hạn chế cấp tín dụng để phù hợp với chính sách, đường lối của Nhà nước

Trường hợp mục đích vay vốn không vi phạm các danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh theo qui định của pháp luật nhưng ngành nghề kinh doanh chưa được đăng ký/cấp phép (nếu có) thì cán bộ thẩm định phải hướng dẫn khách hàng đăng ký bổ sung hoặc xin phép kinh doanh (nếu phải cấp giấy phép) trước khi vay vốn Nếu không đáp ứng được thì không cho vay

Đối với khoản vay vốn bằng ngoại tệ, mục đích vay vốn phải đảm bảo phù hợp với quy định quản lý ngoại hối của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam33

Xét trên phương diện kinh tế, mục đích vay vốn là một trong những yếu tố đảm bảo sự tin cậy của NHTM đới với khách hàng Nếu mục đích vay vốn hợp pháp, thực hiện những gì mà pháp luật không cấm, thì NHTM có thể tin rằng khả năng người vay lừa đảo, chiếm đoạt tài sản là không có Vì thông qua các giấy tờ, cách thức giải trình mục đích vay vốn của khách hàng, cán bộ thẩm định thấy được nhu cầu vốn của người vay như thế nào, ý thức vay vốn và hoàn trả đến đâu Bên cạnh đó, việc thẩm định mục đích vay vốn ngay từ ban đầu giúp NHTM trong quá trình kiểm tra, giám sát vốn vay nếu phát hiện khách hàng sử dụng sai mục đích thì

có thể ngay lập tức thu hồi vốn34 Thực tiễn cho thấy trong hợp đồng tín dụng thường hay có điều khoản: “bên vay cam kết không sử dụng tiền vay vào mục đích trái pháp luật và trái với thoả thuận đã nêu”

Thông thường, bên vay vốn có thể cung cấp các giấy tờ sau cho cán bộ thẩm định để thẩm định cho mục đích sử dụng vốn của mình:

- Đối với vay ngắn hạn: có thể là hợp đồng kinh tế, phiếu chào hàng, hoá đơn, giấy phép xuất nhập khẩu/chỉ tiêu kế hoạch của cấp có thẩm quyền giao, đặc diểm của hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đầu tư, nhu cầu của hàng

Trang 30

hoá và dịch vụ đó trên thị trường, hàng hoá đó có được bảo hộ của Nhà nước hay không

- Đối với vay vốn dài hạn: ngoài những giấy tờ như trên thì có thể có thêm báo cáo khả thi và văn bản tổng dự toán đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy chế đầu tư và xây dựng của Chính phủ…

Theo Cẩm nang về khách hàng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, mục đích khác nhau thì giấy tờ pháp lý liên quan cũng khác nhau:

- Nếu vay để sản xuất kinh doanh trả góp: với mức vay trên 300 triệu đồng thì cần có chứng từ hoá đơn, hợp đồng kinh tế thuyết phục mục đích sử dụng vốn vay Nếu vay chưa đến 300 triệu đồng thì chỉ cần phiếu xác minh mục đích sử dụng vốn là được

- Nếu vay để mua nhà: hợp đồng mua nhà hoặc giấy đặt cọc mua nhà

- Nếu vay để xây dựng, sửa chữa nhà: giấy phép xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp

- Nếu vay để mua nhà thông qua dự án liên kết: hợp đồng mua bán nhà giữa công ty kinh koanh và khách hàng

Tuỳ vào mục đích vay vốn của khách hàng là gì mà cán bộ thẩm định linh hoạt thẩm định các loại giấy tờ khác nhau, không cứng nhắc theo một loại giấy tờ cụ thể Quy định pháp luật là vậy nhưng hiện nay không hiếm các trường hợp khách hàng khi vay vốn với một mục đích Sau đó lại sử dụng với mục đích khác mà ngân hàng không thể kiểm soát được Đồng thời, công tác thẩm định của cán bộ thẩm định đối với mục đích vay vốn của khách hàng đôi lúc còn quá sơ sài Hoặc cũng có trường hợp doanh nghiệp vay vốn vì mục đích muốn kinh doanh thêm hàng hoá mà chưa có trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Việc thay đổi đối tượng sản xuất, ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hiện nay phải đăng ký lại với cơ quan đăng ký kinh doanh35

Nhưng thực tiễn các doanh nghiệp lại không thực hiện tốt công tác này

1.2.3 Quy định pháp luật về thẩm định khả năng tài chính của chủ thể vay vốn

Theo khoản 3 điều 7 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN, khách hàng vay vốn phải đảm bảo điều kiện có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

35 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Trang 31

“Khả năng tài chính của khách hàng vay là khả năng về vốn, tài sản của khách hàng vay để bảo đảm hoạt động thường xuyên và thực hiện các nghĩa vụ thanh toán”36

NHTM cần phải thẩm định kỹ về khả năng thanh toán nợ khi đến hạn của khách hàng đi vay Vì hầu hết lợi nhuận và thu nhập của NHTM là từ sự chấp nhận rủi ro để đổi lấy một mức “giá” Nguồn vốn mà NHTM lấy để cho vay là từ nguồn vốn huy động trong công chúng: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá… Nên khi cho vay, điều quan trọng là NHTM phải thu hồi được khoản nợ, để thanh toán cho những chủ thể đã cho ngân hàng vay ban đầu Việc xem xét kỹ khả năng thanh toán

nợ của khách hàng giúp NHTM chủ động kiểm soát được nguồn vốn và khả năng chi trả của mình

Khi thẩm định về khả năng trả nợ, cán bộ thẩm định phải lưu ý tới các giấy tờ sau:

- Đối với cá nhân không thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh: (có thể dựa vào)

+ Đối với người hưởng lương, trợ cấp xã hội cần xác định rõ mức lương, phụ cấp; tính ổn định, thường xuyên của thu nhập; mức chi tiêu thường xuyên cho cá nhân, gia đình hàng tháng, hàng năm; các nguồn trả nợ khác ngoài lương

- Đối với chủ thể vay có thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, cán bộ thẩm định các loại giấy tờ như:

+ Báo cáo tài chính theo định kỳ,

+ Kết quả sản xuất kinh doanh,

+ Báo cáo kiểm tra, thanh tra (nếu có),

+ Báo cáo luân chuyển tiền mặt (nếu có)

36 Khoản 8 điều 3 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

Trang 32

Ngoài các giấy tờ trên, NHTM có thể thu thập thông tin liên quan tới doanh nghiệp để phòng ngừa rủi ro từ:

- Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng khác về tình trạng nợ xấu, quan hệ vay, trả nợ của doanh nghiệp đó trước đây có uy tín không Thậm chí có thể liên hệ thông tin với các cơ quan của Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, các Bộ chủ quản,… để biết thêm thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh, cơ chế, chính sách thị trường, đối tác cạnh tranh… liên quan tới doanh nghiệp

- Từ các đối tác khác của doanh nghiệp về quan hệ thanh toán công nợ, tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế có sòng phẳng không

- Từ thị trường để đánh giá chất lượng, giá cả và khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp

- Từ sách báo, tạp chí…

Cùng với những thông tin thu thập được, cán bộ thẩm định kết hợp với những giấy tờ pháp lý mà bên đi vay cung cấp để đưa ra những kết luận chính xác về khả năng tài chính của bên đi vay Liệu bên đi vay có đủ tiềm lực để hoàn trả cả gốc và lãi cho NHTM khi đến thời hạn thanh toán hay không Thế nhưng không phải trong tất cả các trường hợp NHTM đều thẩm định tốt được vấn đề này Dẫn tới một thực

tế là: NHTM luôn lo sợ không thể thu hồi được vốn cho vay Nên để tránh rủi ro có thể xảy ra, các NHTM phải đặt nặng vấn đề tài sản bảo đảm trong hầu hết các hợp đồng tín dụng

Ngoài ra, có những chủ thể đặc biệt tuy không đáp ứng được điều kiện về tài chính nhưng ngân hàng vẫn có thể cho vay vì theo chính sách của Chính phủ, Quốc hội hiện nay Ví dụ trường hợp cho vay với lãi suất thấp đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn Từ ngày 11 tháng 6 năm 2012, quyết định của Ngân hàng Nhà nước

về giảm lãi suất điều hành thêm 1%, quy định trần lãi suất huy động tiền đồng ngắn hạn 9%/năm và trần lãi suất cho vay với các lĩnh vực ưu tiên 13%/năm chính thức

có hiệu lực Đây là một trong những giải pháp trực diện của Ngân hàng Nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn trong giai đoạn này Lĩnh vực ưu tiên đó là: nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa

Trang 33

Theo khoản 4 điều 7 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN, bên đi vay phải có “dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, hoặc có dự án đầu

tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật”

Thứ nhất là đối với dự án, phương án sản xuất, kinh doanh:

Theo Điều 29 Luật Đầu tư năm 2005, những lĩnh vực sau cấm đầu tư:

- Các dự án gây phương hại đến quốc phòng an ninh quốc gia, lợi ích công cộng

- Dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hoá đạo đức thuần phong

Bàn về việc thẩm định dự án, phương án sử dụng vốn trên phương diện kinh

tế, cán bộ thẩm định phải chỉ ra được những điểm hợp lý, bất hợp lý trong tính toán của doanh nghiệp Trên cơ sở đó xác định chi phí bỏ ra đối với phương án đó để ra kết luận xem phương án dự án sản xuất kinh doanh có thuận lợi, khó khăn gì, lời hay lỗ, có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn vay hay không38

Khi tính toán hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự án, NHTM cần lưu ý tính đúng, chính xác các yếu tố cấu thành giá thành sản phẩm như tỷ lệ khấu hao, định mức tiêu hao nguyên liệu, giá mua đầu vào của nguyên-vật liệu, chi phí quảng cáo, tiếp thị 39

Hồ sơ pháp lý thể hiện tính khả thi, hiệu quả của phương án hoặc dự án gồm:

- Quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc giấy phép đầu tư của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,

- Luận chứng kinh tế kỹ thuật và phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,

38 Nguyễn Thị Thuỷ (2000), “Phòng ngừa rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại bằng biện pháp pháp luật”, tr.38

39 Khoản 2 điều 15 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN

Trang 34

- Thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán đã được phê duyệt, ý kiến của cơ quan quản lý ngành, cơ quan chuyên môn, chính quyền sở tại và của Chính phủ về dự án,

- Các hồ sơ liên quan khác như: quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất

để thực hiện dự án, giấy phép xây dựng, văn bản chấp thuận của Bộ Khoa học và Công nghệ về phương án xử lý chất thải và tác động môi trường của

dự án, các báo cáo về khối lượng, chất lượng của các nguồn nguyên liệu cho

dự án sẽ khai thác trong tự nhiên và giấy phép khai thác do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, hợp đồng nhập khẩu thiết bị và giấy phép của Bộ Công thương, kết quả đấu thầu hoặc chỉ định thầu về toàn bộ khối lượng xây lắp

Thứ hai là dự án, phương án nhằm mục đích tiêu dùng, phục vụ đời sống:

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình tăng mạnh, nên ngân hàng là nơi có thể cung cấp nguồn vốn cho đối tượng này phục vụ mục đích tiêu dùng Mục đích tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hiện nay rất đa dạng, có thể là nhu cầu mua, sửa chữa nhà, mua đồ dùng trang thiết bị trong gia đình, phục vụ cho chi tiêu giáo dục, y tế, du lịch… Khi thẩm định những dự án, phương án phục vụ đời sống này, cán bộ thẩm định phải xem xét liệu mục đích tiêu dùng có rơi vào các trường hợp bị cấm sử dụng, lưu thông, giao dịch hay không Có thể nói, cho vay tiêu dùng giúp cho NHTM đa dạng hoá các hình thức cho vay, tạo mối quan hệ rộng rãi giữa ngân hàng với khách hàng, tăng vốn huy động từ tiền gửi của cá nhân Việc thẩm định dự án, phương án sử dụng vốn cần phải được thực hiện một cách chính xác, cụ thể, vì nó rất quan trọng đối với việc thu hồi vốn của NHTM Không ít dự án khi thẩm định ban đầu rất khả thi, hiệu quả nhưng trong quá trình thực hiện lại không mang lại hiệu quả như mong đợi Điều này có thể do lý do khách quan mà ngân hàng không thể lường trước được Hoặc có thể do cán bộ thẩm định không kỹ lưỡng về tình hình thị trường, bối cảnh kinh tế xã hội liên quan về các dự án chưa được cho phê duyệt thực hiện Chính vì vậy, trong bối cảnh kinh tế đang khó khăn như hiện nay, NHTM lại càng phải tăng cường công tác thẩm định trước khi có quyết định cho vay nhằm phòng ngừa, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra

1.2.5 Quy định pháp luật về thẩm định tài sản bảo đảm

Trang 35

Một trong những điều kiện mà khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng là “thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”40

Hiện nay theo quy định của pháp luật, dựa vào tiêu chí tài sản đảm bảo thì có hai phương thức bảo đảm tiền vay đó là: bảo đảm tiền vay bằng tài sản và bảo đảm tiền vay không bằng tài sản

Chỉ có một số trường hợp sau pháp luật mới cho phép bảo đảm tiền vay không bằng tài sản:

- Vay tín chấp: “tín chấp là việc tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bằng

uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ”41

- Vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn42

- Chủ thể đi vay là người nghèo, đối tượng chính sách43, là học sinh, sinh viên44

Còn các trường hợp phải có tài sản đảm bảo thì tài sản đó có thể là tài sản hiện

có hoặc tài sản được hình thành trong tương lai45 NHTM khi cho vay có thể chọn hình thức cầm cố hoặc thế chấp46 Các biện pháp bảo đảm tiền vay là điều kiện của bên vay khi thực hiện vay vốn, ký kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng Đây là điều kiện dự phòng trong trường hợp kế hoạch trả nợ của bên vay không thực hiện được, chứ nó không là điều kiện tiên quyết phải có khi vay vốn ở NHTM, ngoại trừ các trường hợp bắt buộc phải có bảo đảm47 Ví dụ trong trường hợp, kiểm toán viên đang kiểm toán tại một tổ chức tín dụng muốn vay tiền ở chính tổ chức tín dụng đó thì phải có bảo đảm bằng tài sản hoặc thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng khác Chủ thể này khi vay vốn sẽ không được tổ chức tín dụng cho vay tạo điều kiện ưu đãi hơn các chủ thể bình thường khác như: lãi suất thấp, gia hạn thời hạn trả nợ… Khi thẩm định biện pháp bảo đảm bằng tài sản, cán bộ thẩm định cần chú ý:

Thứ nhất là thẩm định tính pháp lý của hồ sơ tài sản bảo đảm:

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005) Khác
2. Công văn 232/ĐKGDBĐ-NV ngày 04/10/2007 về việc giải quyết yêu cầu đăng ký thế chấp nhà chung cư chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở Khác
3. Luật Các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010) Khác
4. Luật Doanh nghiệp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 60/2005/QH11 ngày 12 tháng 12 năm 2005) Khác
5. Luật Đất đai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003) Khác
6. Luật Đầu tư nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005) Khác
7. Luật Hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 22/2000/QH10 ngày 9 tháng 6 năm 2000) Khác
8. Luật Kế toán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003) Khác
9. Luật Kiểm toán độc lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 67/2011/QH12 ngày 8 tháng 4 năm 2011) Khác
10. Luật Nhà ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 56/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005) Khác
11. Nghị định số 10/2010/NĐ-CP ngày 12/02/2010 về hoạt động thông tin tín dụng, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan Khác
12. Nghị định số 60/1994/NĐ-CP ngày 05 tháng 07 năm 1994 về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị Khác
13. Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 về chứng minh nhân dân đã được sửa đổi bởi Nghị định 170/2007/NĐ-CP Khác
14. Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp Khác
15. Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 07 năm 2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm Khác
17. Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 về cấp Giấy chứng Khác
18. Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15/07/2005 về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng Khác
19. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 Khác
20. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch Khác
21. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w