Dự thảo Luật thi hành án hình sự sửa đổi và văn bản dưới luật quy định phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy trại giam 02 lần trở lên đã bị xử lý kỷ luật hoặc đưa ra giáo dục nhiều lần,
Trang 1TRẦN THỊ THANH NHÀN
QUẢN LÝ, GIAM GIỮ PHẠM NHÂN THEO LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2QUẢN LÝ, GIAM GIỮ PHẠM NHÂN THEO LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Quản lý, giam giữ phạm nhân theo
Luật thi hành án hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do bản
thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Huỳnh Tấn Duy Những thông
tin, tài liệu trong luận văn được thu thập một cách khách quan, trung thực, số liệu minh chứng có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Bình Thuận, ngày 13 tháng 3 năm 2019
Tác giả
Trần Thị Thanh Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ PHẠM NHÂN 7
1.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ quản lý phạm nhân 7
1.2 Thực tiễn thực hiện chế độ quản lý phạm nhân 11
1.2.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân
11
1.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân và nguyên nhân 14
1.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ quản lý phạm nhân 26
1.3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ quản lý phạm nhân 26
1.3.2 Các giải pháp về tổ chức thực hiện chế độ quản lý phạm nhân 27
Kết luận Chương 1 28
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN 29
2.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ giam giữ phạm nhân 29
2.2 Thực tiễn thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân 32
2.2.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân 32 2.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân và nguyên nhân 35
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân 42
2.3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ giam giữ phạm nhân 42
2.3.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân 43
Trang 5Kết luận Chương 2 45 KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành án phạt tù là một trong những nội dung rất quan trọng của thi hành
án hình sự nhằm giáo dục, cải tạo phạm nhân trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo bản án được chấp hành nghiêm Trên thực tế, thi hành án phạt tù liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội và quyền con người Thi hành án phạt tù là buộc những người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân (phạm nhân) chấp hành án tại cơ sở giam giữ
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có 02 trại giam là Thủ Đức và Huy Khiêm thuộc Bộ Công an quản lý, có số phạm nhân khoảng 9.000 người Phần lớn phạm nhân khi vào trại giam chấp hành án phạt tù đã nhận rõ tội lỗi, thật sự ăn năn hối cải, quyết tâm học tập, cải tạo tiến bộ để hưởng sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội Bên cạnh đó, cũng còn có một số phạm nhân không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có nhiều tiền án, tiền sự, trình độ văn hóa thấp hoặc có mức án cao, có tư tưởng buông xuôi không an tâm cải tạo, luôn tìm mọi cách vi phạm nội quy trại giam, thậm chí phạm tội mới trong thời gian chấp hành án; lôi kéo, móc nối phạm nhân khác cùng vi phạm; có phạm nhân tuy bên ngoài tỏ ra ngoan ngoãn phục tùng mệnh lệnh của cán bộ trại giam nhưng tư tưởng luôn tìm mọi cách chống đối, trốn trại
Công tác quản lý phạm nhân trong thực tế còn một số hạn chế như: việc điều tra, nghiên cứu nắm tình hình còn yếu, đặc biệt là diễn biến tư tưởng của phạm nhân
để kịp thời có biện pháp ngăn chặn những hành vi tiêu cực Vì vậy, đã dẫn đến tình trạng phạm nhân vi phạm nội quy trại giam, phạm tội mới trong trại giam, thậm chí giết người trong trại, nghiêm trọng hơn là bạo loạn trong trại giam Để quản lý phạm nhân có hiệu quả trong lao động, học tập và sinh hoạt, lực lượng cảnh sát trại giam phải tiến hành đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ để quản lý nghiêm ngặt, chặt chẽ và giáo dục phạm nhân đạt hiệu quả
Trong lúc nền kinh tế của nước ta còn khó khăn, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết phục vụ giam giữ phạm nhân ở trại giam chưa đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật liên quan đến việc giam giữ phạm nhân, trong đó có phạm nhân là người đồng tính, người chuyển giới hạn chế hiệu quả công tác quản lý và giáo dục phạm nhân
Trang 7Quyền tôn trọng giới tính là một trong những quyền mà Hiến pháp năm 2013
và Luật nhân quyền quốc tế rất quan tâm, cụ thể như sau: Theo quy định tại Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 có quy định: “Quyền tôn trọng giới tính”; Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền bình đẳng giới”
Dự thảo Luật thi hành án hình sự (sửa đổi) và văn bản dưới luật quy định phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy trại giam 02 lần trở lên đã bị xử lý kỷ luật hoặc đưa ra giáo dục nhiều lần, nay lại tiếp tục vi phạm thì giam giữ riêng từ 03 đến 06 tháng, nếu tiến bộ thì cho ra khỏi buồng giam riêng trước thời hạn.Tuy nhiên, trong thực tiễn giam giữ riêng số phạm nhân này vẫn còn một số bất cập, do quy định của pháp luật có chỗ chưa hoàn chỉnh hoặc còn thiếu dẫn đến có phạm nhân không sợ vi phạm nội quy trại giam và mong muốn được giam giữ riêng,…
Để giải quyết tất cả những vấn đề nêu trên, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thấu đáo, sâu sắc cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhằm kiến nghị sửa đổi,
bổ sung quy định của pháp luật, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các cơ sở giam giữ, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giam giữ phạm nhân Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài “Quản lý, giam giữ phạm nhân theo Luật thi hành án hình sự Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài quản lý, giam giữ phạm nhân đã có những công trình nghiên cứu như sau:
Thứ nhất: Hoàng Đức Mạnh “Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thi án hình sự về quản lý, giam giữ phạm nhân”, Kỷ yếu Hội thảo
quốc tế về “Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án hình sự”, do Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tổ chức ngày
7/6/2018 tại Trường Đại học Luật TP HCM, tr 75-84
Công trình nghiên cứu trên đây đã phân tích những khó khăn vướng mắc, kiến nghị bổ sung một số quy định về phạm nhân là người song tính, người chuyển giới nhưng chưa nghiên cứu chuyên sâu theo định hướng ứng dụng về chế độ quản
lý, giam giữ phạm nhân theo Luật thi hành án hình sự Việt Nam Vì thế, những kết quả nghiên cứu của công trình này là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho việc thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả; tiếp tục nghiên cứu đưa ra những giải pháp để khắc phục khó khăn, vướng mắc đối với việc giam giữ phạm nhân là người
Trang 8song tính, người chuyển giới, người đồng tính Ngoài ra, tác giả nghiên cứu khó khăn, vướng mắc trong việc giam giữ một số phạm nhân không sợ vi phạm nội quy trại giam để được giam giữ riêng
Thứ hai: Một số bài viết trong Tạp chí khoa học quản lý và giáo dục tội phạm của cơ quan thông tin lý luận chính trị, pháp luật, nghiệp vụ tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, cụ thể như sau:
+ Lê Huy Bình (2016), “Phân loại phạm nhân trong giam giữ góp phần thực
hiện tốt công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân ở các trại giam”, Tạp chí khoa
học quản lý và giáo dục tội phạm, (19), tr 52-54
+ Nguyễn Đình Giang (2016), “Một số kinh nghiệm trong công tác bảo đảm
an ninh, an toàn tại trại giam Thanh Cẩm”, Tạp chí khoa học quản lý và giáo dục tội
phạm, (22), tr 57-59
+ Nguyễn Đình Ba (2018), “Một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản
lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia tại trại
giam Gia Trung”, Tạp chí khoa học quản lý và giáo dục tội phạm, (30), tr 28-31
+ Vũ Thanh Chương (2017), “Một số kiến nghị, đề xuất về công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân của Công an thành phố Hải Phòng trong
tình hình mới”, Tạp chí khoa học quản lý và giáo dục tội phạm, (26), tr 20-22
Công trình của các tác giả nêu trên đã phát hiện một số vướng mắc, bất cập
trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật về công tác quản lý, giam giữ phạm nhân Tuy nhiên, chưa tập trung nghiên cứu sâu, có hệ thống
Tóm lại, Góp ý Dự thảo Luật thi án hình sự (sửa đổi) về quản lý, giam giữ phạm nhân; một số bài viết trong Tạp chí khoa học quản lý và giáo dục tội phạm đã nêu được một số vướng mắc về lý luận, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp tục làm rõ các kiến thức này trong việc thực hiện luận văn Ngoài ra, trong thực tiễn áp dụng có nhiều vướng mắc, trong luận văn này chúng tôi sẽ nêu lên những vấn đề đó và đưa
ra các đề xuất cụ thể để giải quyết
Như vậy, về mặt lý luận cho thấy các tác giả Hoàng Đức Mạnh, Lê Huy Bình, Nguyễn Đình Giang, Nguyễn Đình Ba và Vũ Thanh Chương chỉ nghiên cứu chung về công tác quản lý, giam giữ phạm nhân ở các trại giam do Bộ Công an quản lý và kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều luật cho phù hợp với tình hình hiện nay mà chưa nghiên cứu sâu vào thực tiễn
Trang 9Do đó, đề tài mà tôi lựa chọn để nghiên cứu là có tính mới và không trùng lặp với các công trình khoa học đã được thực hiện và công bố trước đây
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện việc quản lý, giam giữ phạm nhân để đánh giá, phân tích những vướng mắc, bất cập trong quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2010, các văn bản hướng dẫn thi hành, Dự thảo Luật thi hành án hình sự (sửa đổi) và thực tiễn công tác quản lý, giam giữ phạm nhân, để
có sự điều chỉnh phù hợp thực tiễn thi hành pháp luật Từ những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của những hạn chế đã xác định, tác giả luận văn đề xuất một
số kiến nghị hoàn thiện quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2010, Dự thảo Luật thi hành án hình sự (sửa đổi), văn bản dưới luật và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, tính khả thi khi quản lý, giam giữ phạm nhân trong thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chế độ quản lý và chế độ giam giữ phạm nhân tại trại giam
- Khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu để nghiên cứu, đánh giá chế độ quản lý
và chế độ giam giữ phạm nhân tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm thuộc Bộ Công an
- Làm rõ quy định của Luật thi hành án hình sự về quản lý, giam giữ phạm nhân; thực tiễn thực hiện chế độ quản lý, giam giữ phạm nhân, trong đó làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện chế độ quản lý, giam giữ phạm nhân
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, đánh giá quy định của Luật thi hành án hình sự năm
2010, Dự thảo Luật thi hành án hình sự (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành
về chế độ quản lý và chế độ giam giữ phạm nhân (tập trung vào một số phạm nhân đặc biệt như người đồng tính, chuyển giới, song tính và những phạm nhân thường
Trang 10xuyên vi phạm nội quy trại giam) Qua đó, chỉ ra những vướng mắc, bất cập của
luật cần được nghiên cứu hoàn thiện Những vấn đề khác, mặc dù có liên quan đến
đề tài như chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế, dạy nghề, nhưng không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: tác giả tập trung nghiên cứu, khảo sát công tác quản lý, giam giữ phạm nhân tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm
thuộc Bộ Công an trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: thực tiễn công tác quản lý, giam giữ phạm nhân trong 05 năm (từ năm 2014 đến năm 2018)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật có liên quan, rút ra những kết luận cần thiết làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp, được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn
- Phương pháp thống kê: được sử dụng trong việc phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, được sử dụng ở Chương 1 và Chương 2 nhằm thống kê số phạm nhân đang quản lý, giam giữ ở các trại giam và đặc biệt là số phạm nhân là người đồng tính, chuyển giới và số phạm nhân vi phạm kỷ luật, phạm tội mới, chống phá trại giam trong sinh hoạt, học tập, lao động nhằm đánh giá chất lượng quản lý, giam giữ phạm nhân
- Phương pháp nghiên cứu những vụ việc cụ thể liên quan đến các trường hợp phạm nhân giết người, gây bạo loạn trong trại giam; những khó khăn trong giam giữ phạm nhân, đặc biệt phạm nhân là người đồng tính, chuyển giới và phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy trại giam
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm kiến thức về lý luận và thực tiễn của công tác quản lý, giam giữ phạm nhân Kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ việc giảng dạy, đào tạo luật Luận văn
Trang 11là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những người trực tiếp thực hiện việc quản lý, giam giữ phạm nhân ở nước ta hiện nay; thay đổi nhận thức, hành động của
họ, qua đó nâng cao hiệu quả công việc
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, lời cam đoan, nội dung của luận văn được thiết kế như sau:
Chương 1 Chế độ quản lý phạm nhân
Chương 2 Chế độ giam giữ phạm nhân
Trang 12CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ PHẠM NHÂN 1.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ quản lý phạm nhân
Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.1Việc bảo đảm chế độ quản lý phạm nhân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt từ khi phạm nhân nhập trại giam cho đến khi chấp hành xong án phạt tù Ngoài ra, phạm nhân là những người vi phạm pháp luật hình sự, thành phần rất phức tạp và nguy hiểm Bên cạnh những phạm nhân ăn năn hối cải, tích cực lao động cải tạo tiến bộ thì cũng không ít phạm nhân khác không chấp hành nội quy trại giam, ngấm ngầm hoặc chống đối công khai; luôn tìm mọi sơ hở trong công tác quản lý của cán bộ trại giam để chống phá, gây bạo loạn hoặc bỏ trốn Chính vì vậy, lực lượng Cảnh sát bảo vệ, cơ động trại giam luôn quản lý chặt chẽ phạm nhân, phòng ngừa sự việc xảy ra, phải trong tư thế sẵn sàng để giải quyết những trường hợp vi phạm của phạm nhân, đảm bảo an toàn trại giam
Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trên, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo phạm nhân, pháp luật thi hành án hình sự đã quy định chế độ giam giữ và chế độ quản lý phạm nhân Trong đó chế độ quản lý phạm nhân được hiểu là là việc chia phạm nhân thành các tổ, đội để lao động, học tập, sinh hoạt.2 Căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành
án, Giám thị trại giam quyết định việc phân loại, chuyển khu giam giữ đối với phạm nhân, tổ chức quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt Có thể nói chế độ quản lý phạm nhân rộng hơn so với chế độ giam giữ Bởi lẽ, quản lý phạm nhân là quản lý trong lao động, học tập, sinh hoạt, y tế, còn chế độ giam giữ phạm nhân chủ yếu tập trung vào việc phân loại, tổ chức giam giữ phạm nhân tại buồng giam
Quản lý phạm nhân là một trong số các chế độ được ghi nhận bởi Luật thi hành án hình sự năm 2010 cùng với các chế độ khác như: ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế, học nghề, Đây là một hoạt động nghiệp vụ quan trọng của trại giam, là một trong những vấn đề lớn có liên quan đến chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội, tính mạng, sức
Trang 13khỏe, danh dự, nhân phẩm của phạm nhân Mặt khác, trong tình hình mới hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang lợi dụng vấn đề quản lý phạm nhân trong trại giam để tố cáo trại giam vi phạm nhân quyền Vì vậy, trại giam cần làm tốt công tác chuyên môn về quản lý phạm nhân trong lao động, học tập và sinh hoạt
Ý nghĩa của công tác quản lý phạm nhân trong lao động, học tập và sinh hoạt là nhằm giúp phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, qua đó có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá Ngoài ra, còn giúp hạn chế việc phạm nhân trốn, phạm tội mới, chống phá, cướp vũ khí, công cụ hỗ trợ; đồng thời ngăn chặn, trấn áp và xử lý kịp thời các hành động gây rối, móc nối trao đổi đồ vật cấm của những đối tượng bên ngoài với phạm nhân và những hành vi nguy hiểm khác bảo đảm an toàn trại giam Mặt khác, đảm bảo việc quản lý chặt chẽ phạm nhân tại nơi lao động, chuyển phạm nhân đến phân trại khác để giam giữ, đi khám chữa bệnh, thăm gặp, học tập, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao,…
Quản lý phạm nhân còn mang ý nghĩa sâu sắc phù hợp với yêu cầu Chỉ thị số 17/CT-BCA-C81 của Bộ Công an ngày 26/12/2014 về tăng cường công tác quản lý giam, giữ người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân trong tình hình mới, nhằm chủ động nắm tình hình, quản lý phạm nhân nghiêm ngặt chặt chẽ, nắm chắc đối tượng phạm nhân, đặc biệt là các đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự, tư tưởng buông xuôi, kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm phạm nhân tiêu cực, chống đối, vi phạm nội quy, hạn chế thấp nhất các vụ việc gây rối trật tự trong trại giam, sử dụng vật cấm, ma túy, điện thoại móc nối với các phạm nhân, gây áp lực, đòi yêu sách, gây rối làm mất an ninh trật tự trong trại giam hoặc nhằm chống phá trại giam
Luật thi hành án hình sự năm 2010 không ghi nhận điều luật nào với tên gọi
chế độ quản lý phạm nhân Mặc dù mục 1 Chương III của Luật này là “Thủ tục thi
hành án và chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân” nhưng Điều 27 chỉ là
“Giam giữ phạm nhân” Trong khi đó nội dung khoản 4 của Điều 27 lại quy định
về chế độ quản lý phạm nhân, cụ thể đó là: “Phạm nhân được chia thành các đội, tổ
để lao động, học tập và sinh hoạt” Sự thiếu sót này đã được khắc phục bởi Dự thảo
Luật thi hành án hình sự (sửa đổi).3 Theo đó, tên gọi của Điều 27 được bổ sung
thành: “Quản lý, giam giữ phạm nhân”
3 Theo tờ trình của Bộ Công an ngày 22/8/2018 thì Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án hình sự được Chính phủ đề nghị đổi tên thành Dự án Luật thi hành án hình sự (sửa đổi)
Trang 14Luật thi hành án hình sự năm 2010 không quy định cụ thể việc quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt Tuy nhiên, Điều 14 Thông tư số 37/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 03/6/2011 quy định về phân loại và giam giữ phạm nhân theo loại (gọi tắt là Thông tư số 37/2011/TT-BCA), có quy định về quản lý phạm nhân, lao động, học nghề như sau:
+ Mỗi đội phạm nhân phải có cán bộ quản giáo và có ít nhất 02 cảnh sát bảo vệ dẫn giải, giám sát
+ Phạm nhân loại AĐB, BĐB, CĐB bố trí lao động trong trại hoặc trong nhà xưởng gần trại, có rào vây vọng gác và hàng rào ngăn cách khu vực lao động, học nghề của các đội
+ Phân loại A1, A2, A3, B1 bố trí lao động, học nghề ở khu vực gần trại giam + Hết giờ lao động phạm nhân phải được quản lý, giam giữ trong nhà giam, buồng giam
+ Dụng cụ lao động của phạm nhân do cán bộ quản giáo quản lý, chặt chẽ, kho dụng cụ phải bố trí bên ngoài khu vực giam giữ
Điều luật trên chủ yếu quy định về chế độ quản lý phạm nhân trong quá trình lao động và học nghề tương ứng với từng loại phạm nhân.4 Mặc dù chế độ học tập bao gồm cả học văn hóa và học nghề, nhưng Thông tư số 37/2011/TT-BCA lại không quy định quản lý phạm nhân trong học văn hóa cũng như trong sinh hoạt Đây là một điểm hạn chế của Thông tư số 37/2011/TT-BCA Ngược lại, Điều 15 Thông tư số 37/2011/TT-BCA có quy định việc quản lý phạm nhân khi điều trị tại bệnh viện, cơ sở y tế nhưng Luật thi hành án hình sự năm 2010 và Dự thảo Luật thi hành án hình sự (sửa đổi) hoàn toàn không quy định trường hợp này
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 10 Thông tư số 37/2011/TT-BCA quy định biên chế của đội phạm nhân như sau:
“1 Loại AĐB, BĐB mỗi đội không quá 25 phạm nhân
2 Loại A1, B1, CĐB mỗi đội không quá 30 phạm nhân”
Việc quy định biên chế của đội phạm nhân nêu trên gây khó khăn không đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ, không đảm bảo an toàn trại giam, ảnh hưởng đến công tác quản
lý phạm nhân, trong lao động, học tập, học nghề và sinh hoạt Bởi lẽ, trong một đội dù có
4
Việc phân loại phạm nhân được quy định chi tiết tại các điều 6, 7, 8 Thông tư số 37/2011/TT-BCA
Trang 15ít phạm nhân đi chăng nữa, nhưng công tác nắm tình hình không hiệu quả, không khai thác phạm nhân để xây dựng cơ sở bí mật, đặc tình trong trại giam, sẽ gây mất an toàn trại giam Tuy nhiên, việc sử dụng phạm nhân để xây dựng cơ sở bí mật trong một đội phạm nhân cũng rất khó Bởi lẽ, khi biên chế của đội phạm nhân AĐB, BĐB, CĐB là những phạm nhân có nhiều tiền án, tiền sự, chung thân, tái phạm nguy hiểm, có hành vi trốn khỏi nơi giam, không nhận tội, chống đối quyết liệt,… Một số phạm nhân loại này được trại giam sử dụng xây dựng làm cơ sở bí mật phục vụ yêu cầu nghiệp vụ cho trại giam Đồng thời, số phạm nhân này chấp hành tốt nội quy trại giam, được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù nên hạ xuống loại B1, B2 Theo quy định tại Thông tư số 37/2011/TT-BCA phải chuyển số phạm nhân B1, B2 này sang đội khác để quản lý, trong khi đó số phạm nhân này lại giúp đỡ cho cán bộ quản giáo rất tốt, nắm tình hình trong đội, từ việc ăn, ở và sinh hoạt chung, đã nắm bắt được diễn biến tư tưởng của phạm nhân
có ý định trốn, chống phá trá trại giam đòi yêu sách,… và kịp thời phản ánh cho cán bộ quản giáo Vì lẽ đó, nếu chuyển số phạm nhân được hạ xuống loại B1, B2 được trại giam
sử dụng làm cơ sở bí mật sang đội khác để quản lý thì không có số phạm nhân khác để thay thế và phục vụ cho công tác nghiệp vụ của trại giam
Ngoài ra, Thông tư số 36/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 26/5/2011 ban hành nội quy trại giam, không quy định cụ thể những đồ vật không được đem vào phòng thăm gặp riêng (hay còn gọi là phòng hạnh phúc), không quy định công tác kiểm tra đồ dùng, tư trang của thân nhân phạm nhân và phạm nhân trước khi cho gặp thân nhân Điều này đã gây khó khăn trong công tác quản lý phạm nhân về thăm nuôi, gặp mặt tại phòng hạnh phúc như gây mất vệ sinh và khó kiểm soát vật cấm, thậm chí có trường hợp dẫn đến việc giết người
Sự thiếu sót này đã được khắc phục tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 07/2018/TT-BCA của Bộ Công an ngày 12/02/2018 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân, nhận, gửi thư, nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân, có
quy định về quản lý phạm nhân khi thăm gặp thân nhân như sau: “Cán bộ làm
nhiệm vụ tổ chức thăm gặp có trách nhiệm: Tiếp nhận, kiểm tra giấy tờ của người đến thăm gặp; lập danh sách phạm nhân được thăm gặp trình Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện duyệt, ký trước khi thăm gặp Trường hợp phạm nhân gặp thân nhân được kéo dài thời gian thăm gặp, gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 (hai bốn) giờ phải đề xuất bằng văn bản có ý kiến của cán bộ Quản giáo đội phạm nhân, cán bộ
Trang 16Trinh sát, cán bộ Giáo dục trình Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định; tiếp nhận, kiểm tra tiền, đồ vật do thân nhân đưa đến gửi cho phạm nhân; kiểm tra đồ vật đối với thân nhân gặp phạm nhân tại nhà thăm gặp và phòng gặp riêng, trường hợp phát hiện hành vi đưa vật cấm vào đến mức phải xử lý hình sự thì phải thu giữ, bảo quản và xử lý theo quy định; chịu trách nhiệm quản lý, giám sát phạm nhân từ khi nhận đến khi kết thúc thăm gặp bàn giao cho cán bộ trực trại và ký vào Sổ xuất nhập phạm nhân; cập nhật đầy đủ thông tin về quá trình tổ chức thăm gặp và quản
lý, lưu trữ tài liệu theo đúng chế độ quản lý hồ sơ của Bộ Công an”
Tuy nhiên, Điều luật trên có quy định kiểm tra đồ vật đối với thân nhân gặp phạm nhân tại nhà thăm gặp và phòng gặp riêng, nhưng lại không quy định kiểm tra
đồ vật đối với phạm nhân khi gặp thân nhân tại nhà thăm gặp và phòng gặp riêng; không quy định cụ thể những đồ vật không được đem vào phòng gặp riêng
1.2 Thực tiễn thực hiện chế độ quản lý phạm nhân
Qua thực tiễn kiểm sát 02 Trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm từ năm 2014 đến năm 2018 cho thấy rõ thực trạng quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt như sau:
1.2.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân
Trại giam Thủ Đức đóng trên địa bàn xã Tân Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, giáp với nhà dân và đường quốc lộ, có diện tích trên 15.000 ha, giáp ranh 02 tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu Hiện có quy mô giam giữ 07 phân trại
và 01 khu sản xuất trung tâm Trại giam Huy Khiêm đóng trên địa bàn thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, giáp với nhà dân và đường quốc lộ có diện tích trên 395 ha Hiện có quy mô giam giữ 02 phân trại
Số lượng phạm nhân đang quản lý của 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm trong 05 năm (2014 - 2018) là 45.839 phạm nhân (39.113 phạm nhân nam; 6.726 phạm nhân nữ) Trong đó, có 754 phạm nhân quốc tịch nước ngoài; 12 phạm nhân không rõ quốc tịch; có 93 phạm nhân theo mẹ vào trại; 14.424 phạm nhân tái phạm
và tái phạm nguy hiểm; 646 phạm nhân mắc bệnh lao; 2.475 phạm nhân HIV và
Trang 17Quản lý phạm nhân ở trại giam trong lao động, học tập, sinh hoạt là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của quá trình tổ chức thi hành án phạt tù, đồng thời công tác quản lý phạm nhân cũng là mục tiêu quan trọng, nhằm giáo dục phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo các quy định của pháp luật và các quy tắc trong cuộc sống hàng ngày, nhằm ngăn ngừa họ tái phạm
Vì vậy, 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm đã áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nghiệp vụ, pháp luật để quản lý phạm nhân nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và đấu tranh có hiệu quả đối với các hoạt động phạm tội, chống phá, gây rối, giết người, trốn trại, vi phạm nội quy trại giam, đảm bảo an ninh an toàn, trại giam Qua đó đã thu được những kết quả nhất định, đã phát hiện, đồng thời ngăn chặn và xử lý nhiều vụ chống đối cán bộ, đảm bảo an toàn cho trại giam Thông qua công tác quản lý phạm nhân giúp phạm nhân cải tạo tốt sớm trở về gia đình tái hòa nhập cộng động, đã trả về cho xã hội hàng chục nghìn lượt phạm nhân
Hai trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm đã quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt đạt những kết quả nhất định, đã quản lý phạm nhân về lý lịch, tội trạng, hoàn cảnh gia đình, tính chất mức độ phạm tội… nắm diễn biến tư tưởng, thái
độ tiếp thu và những âm mưu chống phá trại giam, nắm tình hình phạm nhân có tài liệu phản ánh về hành vi có liên quan đến nội quy trại giam; phát hiện điều tra, thu thập thông tin tài liệu về diễn biến tư tưởng, ý đồ hoạt động của những phạm nhân
có âm mưu chống phá, trốn trại giam; đặc biệt quan tâm đến công tác khai thác phạm nhân Hai trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm đã xây dựng các kế hoạch, giao chỉ tiêu cho các bộ phận, cán bộ thực hiện nhiệm vụ trong việc mở các lớp khai thác phạm nhân, trong đó chú trọng phương pháp, động viên, giáo dục, thuyết phục phạm nhân cung cấp thông tin, làm tốt công tác quản lý đấu tranh với tối tượng trọng điểm cần trinh sát, đồng thời tiến hành rà soát thường xuyên, khi đủ yếu tố thì đưa đối tượng vào diện, phân loại đối tượng, nắm chắc thông tin, tình hình diễn biến, tư tưởng của đối tượng về tâm lý, điều kiện và hoàn cảnh gia đình của phạm nhân để có biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả, không áp dụng máy móc, cứng nhắc, rập khuôn Bên cạnh đó, công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ các công trình giam giữ, khu tổ chức lao động sản xuất, nơi học tập sinh hoạt của phạm nhân luôn được triển khai thực hiện đúng quy định của pháp luật, nhằm phục vụ cho công tác quản lý phạm nhân trong lao động, học tập và sinh hoạt
Trang 18Việc quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt đảm bảo an toàn, đúng quy định; các cán bộ chiến sỹ lực lượng cảnh sát quản lý trại giam đã nhận thức tốt về quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt, không ngừng nâng cao năng lực nghiệp vụ đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu cải cách tư pháp theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần hạn chế phạm nhân phạm tội mới trong trại giam, cán bộ trại giam, đặc biệt là cán bộ giáo dục, quản giáo, trinh sát, y tế nhận thức được tầm quan trọng trong quản lý phạm nhân góp phần thực hiện tốt quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt
Lãnh đạo trại giam đã nhận thức đúng, đầy đủ, vị trí, vai trò, tính chất và tầm quan trọng của việc quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt, kịp thời quán triệt đến cán bộ chiến sỹ và những người làm công tác quản lý phạm nhân trong lao động, học tập và sinh hoạt thực hiện nghiêm túc các chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân.Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong việc quản lý phạm nhân
Chủ động trong công tác nắm tình hình, rà soát phân loại, nâng cao hiệu quả công tác sử dụng mạng lưới cộng tác viên bí mật theo Thông tư số 22/2013/TT-BCA-C41 của Bộ Công an ngày 01/4/2013 quy định về công tác xây dựng, sử dụng cộng tác viên bí mật của lực lượng cảnh sát nhân dân, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát quản lý phạm nhân Bởi lẽ, phòng ngừa nghiệp vụ là một hoạt động chuyên biệt, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an, do lực lượng cảnh sát làm công tác quản lý phạm nhân tác động đến các phạm nhân nhằm ngăn ngừa phạm nhân phạm tội mới Công tác đặc tình, cơ sở bí mật là hoạt động nghiệp vụ trinh sát rất quan trọng, giúp cán
bộ trại giam nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng của phạm nhân Thời gian qua
02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm đã thực hiện biện pháp trinh sát đặc tình đạt được những kết quả nhất định, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những âm mưu phạm tội của phạm nhân Qua đó, Ban Giám thị trại giam đã phân công cụ thể cho từng cán bộ trinh sát, nắm chắc địa bàn, khu vực buồng giam, khu giam, tổ, đội phạm nhân, giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộ, trinh sát, cán bộ quản giáo phụ trách tổ, đội về việc xây dựng cơ sở bí mật, đặc tình trại giam
Trang 19Thông qua công tác kiểm tra trong quản lý phạm nhân tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm đã thu giữ nhiều vật cấm như: thuốc tân dược; đồ vật cấm các loại; điện thoại di động; ma túy…Trên cơ sở đó, Giám thị trại giam đã ra quyết định
xử lý kỷ luật 1.324 lượt phạm nhân (34 lượt khiển trách; 69 Lượt cảnh cáo; 1.221 lượt cùm 01 chân tại buồng kỷ luật; nhằm xử lý nghiêm các trường hợp phạm nhân
vi phạm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý phạm nhân.6
1.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân và nguyên nhân
1.2.2.1 Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân
Đối tượng phạm nhân đang quản lý tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm rất đa dạng, phức tạp, tính chất nguy hiểm và manh động cao Trong đó, đơn vị trại giam Huy Khiêm là một huyện miền núi, có khí hậu tương đối khắc nghiệt, một năm 02 mùa; mùa khô kéo dài trên 06 tháng, những năm gần đây nắng nóng, khô hạn gay gắt ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý phạm nhân
Tổng số lượt phạm nhân tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm vi phạm nội quy trại giam trong thời gian 05 năm (2014-2018) là 1.195 lượt, hành vi vi phạm cụ thể như sau: 385 lượt phạm nhân đánh nhau gây thương tích cho phạm nhân khác; 32 lượt phạm nhân gây mất trật tự buồng giam; 51 lượt phạm nhân vay mượn tiền; 123 lượt phạm nhân cờ bạc trá hình; 45 lượt phạm nhân mang điện thoại
di động vào buồng giam; 216 lượt phạm nhân mang vật cấm vào buồng giam; 343 lượt phạm nhân vi phạm khác Đặc biệt có 23 lượt phạm nhân phạm tội mới, cụ thể:
06 lượt phạm nhân gây thương tích; 02 lượt phạm nhân giết người; 01 lượt phạm nhân tàng trữ trái phép chất ma túy; 09 lượt phạm nhân chống phá trại giam; 05 lượt phạm nhân trốn trại.7 Trong đó có nhiều phạm nhân chống đối, vi phạm nội quy trại giam ở các trại giam khác chuyển đến trại giam Thủ Đức để chấp hành án cũng gây không ít khó khăn cho công tác quản lý phạm nhân
Từ năm 2014 trở lại đây, tình hình tội phạm có diễn biến phức tạp, số lượng phạm nhân vào chấp hành án tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm trên địa bàn tỉnh Bình Thuận mặc dù có giảm về số lượng, nhưng tính chất, mức độ tội phạm
ngày càng nguy hiểm, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý phạm nhân Qua
Trang 20thực tiễn quản lý phạm nhân tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm cho thấy còn
có những tồn tại sau:
- Nhiều trường hợp phạm nhân vi phạm kỷ luật như sử dụng vật cấm, gây
thương tích cho phạm nhân khác, cờ bạc trá hình, mua bán trái phép chất ma túy trong trại giam Thực trạng này được phản ánh qua các vụ việc sau đây:
Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 09/7/2014, trong lúc Võ Văn Bảo, sinh
năm 1985 đang nằm tại buồng II.2 - khu 2 - phân trại 1 - trại giam Thủ Đức thì Tô Văn Sỹ, sinh năm 1980 phơi quần áo làm chắn tầm nhìn của Bảo nên bị Bảo chửi dẫn đến 02 người thách đố ngày mai ra công trường lao động “tính chuyện” với nhau Khoảng 08 giờ ngày 10/7/2014, trong khi đang lao động tại công trình sửa chữa nhà chờ thăm nuôi phân trại 1, thì Bảo nghe Sỹ đang phân bua với một số phạm nhân khác về chuyện xảy ra tối hôm qua giữa Sỹ và Bảo, nhưng theo hướng không tốt cho Bảo Do vậy, Bảo bực tức liền đến khu vực gần đấy lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 22cm có cán nhựa màu vàng, lưỡi thép trắng, mũi nhọn giấu trong người, rồi đi đến gây sự với Sỹ, sau đó bất ngờ rút dao ra đâm 01 nhát trúng vào cánh tay phải của Sỹ, Sỹ dùng chân đạp lại một cái vào người Bảo làm Bảo ngã xuống đất Ngay lập tức Bảo vùng đứng dậy nhào tới đâm tiếp 01 nhát nữa trúng vào vùng ngực trái của Sỹ, lúc này các phạm nhân và cán bộ quản giáo đang có mặt tại đây nhào đến bắt giữ Bảo, đồng thời tước dao Bảo sử dụng gây án Bảo khai con dao do Bảo nhặt được tại công trường lao động trước đó và đem giấu tại đây Sau
đó lấy làm hung khí đâm Sỹ Mặc dù, Sỹ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận, nhưng đã chết trên đường đi.8
Vụ thứ 2: Ngày 08/3/2016, tại khu vực hiện trường lao động phân trại 2 -
trại giam Huy Khiêm phạm nhân Lê Phước Thành, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú số 60, ấp Tân Đạt, xã Đồi 5, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, chấp hành án phạt tù tại đội 18 - phân trại 2 - trại giam Huy Khiêm, do có mâu thuẫn sinh hoạt hàng ngày với 02 phạm nhân Phan Văn Tấn và Nguyễn Quyết Tú ở cùng đội, nên phạm nhân Lê Phước Thành đã dùng thanh sắt nhọn tự chế tại hiện trường lao động, đâm 02 phạm nhân Tấn và Tú Hậu quả Tấn thương tích 12%; Tú thương tích 8% 9
8 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận (2014), Báo cáo phạm nhân chấp hành án phạt tù tại trại giam
Thủ Đức chết, tr 2
9 Trại giam Huy Khiêm (2019), Báo cáo kết quả khảo sát một số lĩnh vực trong việc quản lý, giam giữ phạm
nhân tại trại giam Huy Khiêm, tr 3
Trang 21Vụ thứ 3: Ngày 26/3/2018, tại khu vực hiện trường lao động phân trại 2 -
trại giam Huy Khiêm phạm nhân Huỳnh Trường Giang, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú thôn 3, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận chấp hành án phạt tù tại đội 4 - phân trại 2 - trại giam Huy Khiêm, do có mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt Huỳnh Trường Giang đã dùng thanh kim loại tự chế tại tại hiện trường lao động, đâm phạm nhân Hiếu Hậu quả Hiếu thương tích 9%.10
Nguyên nhân xảy ra 03 vụ việc trên là do ý thức chấp hành nội quy trại giam của các phạm nhân Võ Văn Bảo, Lê Phước Thành và Huỳnh Trường Giang kém, coi thường tính mạng, sức khỏe của phạm nhân khác chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt nhưng đã sử dụng dao Thái Lan, thanh sắt nhọn, thanh kim loại là những hung khí nguy hiểm tướt đoạt tính mạng và gây thương tích cho phạm nhân khác Ngoài ra, cũng phải kể đến trách nhiệm của cán bộ quản giáo chưa kịp thời nắm bắt thông tin từ Tự quản đội phạm nhân Bởi lẽ, mỗi buồng giam đều có Tự quản phạm nhân và cán bộ quản giáo chưa làm tốt công tác quản lý, giám sát nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng của các phạm nhân, khi phát hiện trong phạm nhân có mâu thuẫn cần kịp thời giáo dục, bóc tách sang đội khác để quản lý, thì sẽ không xảy ra các vụ việc giết người và gây thương tích nêu trên Việc này đã vi phạm khoản 1 Điều 3 Thông tư số 16/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 14/4/2011 quy định về công
tác cảnh sát quản giáo Cụ thể là:“Khi tiếp nhận phạm nhân…Cảnh sát quản giáo
phải nghiên cứu hồ sơ và thực hiện 4 (bốn) biết:…biết diễn biến tư tưởng (quan điểm, lối sống, thái độ đối với bản án và việc chấp hành án… của từng phạm nhân)
Vụ thứ 4: Ngày 03/6/2014, tại phân trại 3 - trại giam Thủ Đức phạm nhân
Trần Đình Long, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú thôn Tân Tiến, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, án phạt 03 năm tù, đã vi phạm nội quy trại giam do có hành vi cờ bạc biến tướng bằng cách rút thăm ngắn dài cùng với phạm nhân Nguyễn Văn An, ở cùng buồng giam để ăn tiền thông qua tiền lưu ký để mua hàng hóa ở căng tin.11
Vụ thứ 5: Ngày 03/6/2014, tại phân trại 2 - trại giam Thủ Đức phạm nhân
Trần Phú, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú ấp Tây Khánh 5, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, phạm tội ‘Cướp giật tài sản”, án phạt 7 năm
10 Trại giam Huy Khiêm (2019), tlđd (9)
11 Trại giam Thủ Đức (2019), “Danh sách thống kê phạm nhân vi phạm nội quy theo hình thức”, tr 3 kèm
theo Báo cáo về việc thi hành án phạt tù tại trại giam Thủ Đức
Trang 226 tháng tù, đã vi phạm nội quy trại giam do có hành vi cờ bạc biến tướng với phạm nhân Trần Văn Thông bằng cách cá cược: hôm nay trời nắng hay mưa và cán bộ nào vào kiểm tra buồng giam 12
Từ ngày 19/6/2014 đến ngày 25/5/2016 tại trại giam Huy Khiêm xảy ra 03 trường hợp phạm nhân có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy trong trại
giam, cụ thể như:
Vụ thứ 6: Phạm nhân Nguyễn Anh Vũ, sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú
335/5, khu phố 4, phường Tân Kiểng, tp Hồ Chí Minh, chấp hành án tại phân trại 1,
vụ việc xảy ra ngày 16/9/2014; phạm nhân Đỗ Hữu Quốc Huy, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú 130/A1, phường Lê Lợi, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh chấp hành
án tại phân trại 1, vụ việc xảy ra ngày 01/3/2015; phạm nhân Nguyễn Ngọc Ân, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận chấp hành án tại phân trại 2, vụ việc xảy ra ngày 25/5/2015.13
Nguyên nhân xảy ra vụ việc 4, 5, 6 là do ý thức chấp hành nội quy trại giam của phạm nhân kém Ngoài ra, cán bộ quản giáo chưa kịp thời quản lý phạm nhân trong lao động, học tập, sinh hoạt, còn để xảy ra trường hợp cờ bạc trá hình; hoạt động kiểm tra, lục soát tại 02 trại giam Thủ Đức và Huy Khiêm còn hạn chế, chưa kịp thời phát hiện vật cấm, dẫn đến phạm nhân đã có hành vi móc nối với người ngoài mang vật cấm là ma túy vào trại giam để tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy trong trại Điều này chứng tỏ công tác quản lý còn sơ hở, một số cán bộ tiến hành kiểm tra, lục soát phạm nhân nhập trại hàng ngày tại cổng trại giam khi phạm nhân ra lao động đôi khi còn qua loa, đại khái, làm cho có, chưa chú trọng việc phát hiện vật cấm
Như vậy, công tác quản lý, tổ chức canh gác, bảo vệ, kiểm tra lục soát chống đưa vật cấm vào trại giam chưa được tổ chức thực hiện đúng theo quy định tại Thông tư số 58/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 09/8/2011 về đồ vật cấm đưa
vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm
- Trường hợp phạm nhân giết người trong trại giam
Thực trạng này được minh chứng qua vụ án phạm nhân Nhữ Văn Đực giết
vợ là Nguyễn Thị Hiền tại phân trại 2 - trại giam Thủ Đức Cụ thể như sau:
Trang 23Phạm nhân Nhữ Văn Đực, sinh năm 1969, hộ khẩu thường trú 176/20/8 Nguyễn Thị Thập, khu phố 4A, phường Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, phạm tội “Giết người”, bị bắt ngày 04/10/2013, án phạt 17 năm tù, nhập trại ngày 21/10/2014, chấp hành án tại đội xây dựng phân trại số 1 - trại giam Thủ Đức, đang lao động xây dựng tại phân trại số 2
Từ khi nhập trại đến ngày xảy ra vụ án Nhữ Văn Đực luôn chấp hành tốt nội quy trại giam, có kỹ thuật xây dựng tốt, nhiệt tình, tích cực, sáng tạo trong công việc Từ năm 2014 đến ngày xảy ra sự việc giết người phạm nhân Đực được xếp loại cải tạo khá, cán bộ quản giáo đội xây dựng phân trại số 2 đang đề xuất phạm nhân Đực làm Tự quản đội phạm nhận
Ngày 31/7/2017, chị Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1976 là vợ và 02 con là Nhữ Thị Thanh Diệu, sinh năm 1996 và Nhữ Văn Đạt, sinh năm 2001, đến phân trại
2, trại giam Thủ Đức thăm gặp Nhữ Văn Đực Phạm nhân Đực có đơn xin thăm gặp
vợ 12 giờ để an ủi động viên gia đình và bản thân cố gắng học tập và cải tạo tốt hơn
và cam kết nghiêm chỉnh chấp hành nội quy trại giam và quy chế nhà thăm gặp
Xét quá trình chấp hành án của phạm nhân Đực luôn được xếp loại khá, cán
bộ quản giáo đề nghị lãnh đạo bộ phận chuyên môn xem xét giải quyết cho phạm nhân Đực thăm gặp 12 giờ Tuy nhiên, cán bộ giáo dục, cán bộ quản giáo, Trưởng phân trại 2 và Phó giám thị phụ trách phân trại 2 chỉ giải quyết cho phạm nhân Đực thăm gặp 03 giờ tại phòng riêng
Phạm nhân Nhữ Văn Đực cùng vợ và hai con vào trong phòng ăn sáng thức
ăn do chị Hiền đem đến; khoảng 20 phút thì Đực bảo hai con đi ra ngoài mua nước đem về phòng uống, khoảng 05 phút sau (lúc này khoảng 08 giờ 20 phút) hai con của phạm nhân Đực và cán bộ trại giam nghe trong phòng có tiếng kêu la nên yêu cầu bên trong mở cửa, nhưng không ai mở cửa, cán bộ phá cửa vào thì thấy chị Nguyễn Thị Hiền nằm dưới sàn nhà sát chân tường phía bên trái đối diện cửa ra vào, phạm nhân Đực đang ngồi trên ghế 02 tay cầm 02 dao Thái Lan Cán bộ trại giam thấy chị Hiền nằm bất động, cổ áo và vai áo có máu, phần ngực phạm nhân Đực có 01 vết rách có máu chảy Nhiều lần cán bộ thuyết phục phạm nhân Đực bỏ dao nhưng phạm nhân Đực vẫn ngoan cố Vì vậy, cán bộ phải sử dụng biện pháp nghiệp vụ khống chế phạm nhân Đực, y tế của Trại giam xác định chị Hiền đã chết Sau khi phạm nhân Đực được sơ cứu và chuyển đến Bệnh viện huyện Hàm Tân rồi
Trang 24chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận cấp cứu, chẩn đoán phạm nhân Đực
bị tràn dịch màng phổi, đã được phẩu thuật qua cơn nguy kịch.14
Qua kết quả xác minh cho thấy: Vì Nhữ Văn Đực nghi ngờ trong thời gian Đực đi chấp hành án phạt tù, chị Nguyễn Thị Hiền là vợ của Đực ở nhà có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, nên Đực có ý Định giết chị Hiền rồi tự sát Do vậy Đực đã viết thư tuyệt mệnh đề ngày 24/7/2017 giấu trong tư trang cá nhân Đực chốt cửa bên trong và dùng dao Thái Lan do chị Hiền mang theo để cắt thức ăn đâm chị Hiền 06 nhát vào vùng ngực và bụng Khi nghe chị Hiền kêu cứu, hai con của chị Hiền chạy đến mở cửa nhưng cửa đã bị khóa chốt bên trong, cán bộ quản giáo phá cửa để vào thì thấy chị Hiền đã bị đâm nằm bất tỉnh trên nền nhà Lúc này Nhữ Văn Đực dùng dao tự đâm vào bụng và cổ của Đực 03 nhát để tự sát, cùng lúc đó cán bộ quản giáo xông vào tước lấy 02 con dao trên tay của Đực Hậu quả chị Nguyễn Thị Hiền đã chết tại chỗ Vụ án đã được xét xử Nhữ Văn Đực với mức án tử hình
Qua vụ việc nêu trên cho thấy, công tác nắm bắt diễn biến tư tưởng phạm nhân của cảnh sát quản giáo chưa thường xuyên và kịp thời, dẫn đến việc giết người nêu trên Trước đó phạm nhân Đực đã viết thư tuyệt mệnh và một số phạm nhân chung buồng cũng khai rằng mỗi ngày thấy phạm nhân Đực viết gì đó Điều này đã
vi phạm 1 khoản Điều 3 Thông tư số 16/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 14/4/2011 quy định về công tác cảnh sát quản giáo
Như vậy, công tác nắm bắt diễn biến tư tưởng của phạm nhân còn hạn chế nên không phát hiện được trước đó phạm nhân đã có ý định gây án Cán bộ tổ chức thăm gặp mặc dù có hướng dẫn gia đình phạm nhân là vợ và 02 con của phạm nhân Nhữ Văn Đực bỏ các vật cấm vào tủ của đơn vị, nhưng mẹ con chị Hiền chỉ gửi 02 chiếc điện thoại di động vào tủ Mặc dù, cán bộ tổ chức thăm gặp nhìn thấy chị Hiền xách theo 01 túi cá nhân và 01 bịch đồ ăn, nhưng đã không cương quyết kiểm tra, không phát hiện ra 02 con dao Thái Lan để ngăn chặn phòng ngừa tội phạm xảy ra
Từ những nội dung nêu trên cho thấy công tác quản lý phạm nhân có lúc chưa chặt chẽ còn thiếu sót, sơ hở, vì vậy khi xảy ra vụ án phạm nhân Nhữ Văn Đực giết vợ, ca trực không thường xuyên tuần tra canh gác bên ngoài các buồng giam hạnh phúc, nên khi phạm nhân Nhữ Văn Đực giết vợ đã không được phát hiện kịp
14 Kết luận (2017), “Kiểm sát đột xuất việc tuân theo pháp luật trong công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại trại giam Thủ Đức - Bộ Công an”, (864), tr.5
Trang 25thời để có biện pháp ngăn chặn là chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 15/12/2011 quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân (nay là Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BCA của Bộ Công an ngày 16/12/2015) quy định như sau: “Trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt và an toàn, có lực lượng vũ trang bảo vệ, tuần tra canh gác 24/24 giờ”
Ngoài ra, việc bố trí cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp không đúng quy định Cụ thể như sau: Theo quyết định số 1986/QĐ-TGTĐ ngày 26/11/2014 của Giám thị trại giam Thủ Đức, thì đồng chí Bùi Văn Đại làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp tính đến ngày 31/7/2017 (ngày xảy ra, vụ việc giết người nêu trên) là hơn 02 năm
08 tháng, là vi phạm khoản 1 Điều 7 Thông tư số 46/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 30/6/2011 quy định về việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền,
đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân (Nay là Thông tư số 07/2018/TT-BCA của
Bộ Công an ngày 12/02/2018) quy định: “Việc bố trí cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức
thăm gặp theo chế độ luân phiên, mọi người làm công tác này không quá 02 năm”
Tuy nhiên, đồng chí Đại đã làm việc khâu công tác này đã quá thời gian quy định
- Trường hợp phạm nhân chống đối, đốt phá hội trường, căng tin và nhà bếp
Trường hợp này đã xảy ra tại phân trại 2 - trại giam Huy Khiêm Cụ thể như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/02/2015 (tức ngày mùng 02 Tết nguyên đán
Ất Mùi, khoảng 1.000 phạm nhân phân trại 2 - trại giam Huy Khiêm được phát đồ
ăn chiều, nhưng tất cả không nhận thức ăn và không vào buồng giam, họ thắc mắc
“ngày tết mà chỉ có ăn cá biển với cơm, phải có thịt để ăn” Cán bộ trại giam có giải thích, nhưng đến khoảng 17 giờ cùng ngày phạm nhân la lối kéo tràn ra sân, do quản giáo ít nên phải rút lui ra cổng chính để canh giữ
Một số phạm nhân quá khích đã đập phá 05 cửa phòng giam trong đó có 15 phạm nhân đang bị kỷ luật, số phạm nhân này đã kéo lên Hội trường phạm nhân, một số phạm nhân dùng lửa đốt cháy khoảng 900 ghế nhựa, 02 cái bàn, 1.000 chiếc chiếu và quần áo của phạm nhân mới nhập về để ở 02 phòng trong Hội trường, lửa cháy đã làm toàn bộ la phông bằng tôn bị nám đen và bị cháy: 20 bóng đèn hình chữ
U, 10 quạt trần, 01 cây đàn hiệu Yamaha, một số vách tường bị nứt và bị hỏng dàn trống, loa thùng, một số phạm nhân kéo lên căng tin, xông vào đập phá cửa lấy mỳ tôm, nước uống và đập phá 08 chậu cây kiểng
Trang 26Mặc dù, đã được cán bộ giáo dục, thuyết phục nhưng một số phạm nhân không chấp mệnh lệnh của cán bộ đã dùng gạch bể ném về phía cán bộ Vì vậy, cảnh sát cơ động phải dùng quả nổ trấn áp, dồn phạm nhân vào các buồng giam Trong quá trình xử lý có 04 phạm nhân bị thương, trong đó có 02 phạm nhân là Vòng Thím Diện,Vũ Văn Tùng bị phạm nhân khác đánh, phạm nhân Vũ Gia Dương
tự hủy hoại thân thể, Phạm nhân Hà Văn Tiếp chui vào nhà bếp trốn bị ngạt thở phải đưa đi bệnh viện huyện Tánh Linh cấp cứu, sau khi sức khỏe ổn định đã đưa về lại trại giam Huy Khiêm để quản lý Theo kết luận định giá tài sản bị thiệt hại là 291.206.696 đồng (Trong đó tài sản bị hủy hoại là 196.681.830 đồng; tài sản bị hư hỏng là: 94.524.866 đồng)
Ngày 06/4/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tánh Linh đã ra
Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 23 về tội Cố ý gây thương tích; Hủy hoại và cố
ý làm hư hỏng tài sản; Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điều 104, 143 và
245 Bộ luật hình sự năm 2003; Quyết định khởi tố bị can số 33, 34, 35, 36, 37, 38,
39, 40, 41, 42 cùng ngày 06/4/2015 đối với các phạm nhân: Nguyễn Hữu Tín, Vũ Ngọc Long, Huỳnh Văn Toàn, Nguyễn Chí Cường, Nguyễn Ngọc Văn, Nguyễn Dương Linh, Nguyễn Thanh Nhật Hiền, Nguyễn Văn Phương, Trịnh Văn Ân, về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự năm 2003 Đến nay
28 để bàn chuyện xuống nhà giam riêng phá cửa đưa số phạm nhân phạm riêng để nhằm mục đích kích động gây rối
Công tác quản lý phạm nhân có lúc còn nhiều lỏng lẻo, sơ hở, ngày xảy ra vụ việc phạm nhân vụ đập phá, gây rối nêu trên ca trực không thường xuyên tuần tra, canh gác các buồng giam phạm nhân, nên khi phạm nhân Nguyễn Hữu Tín vượt
Trang 27khu giam để gặp phạm nhân Nguyễn Khánh Hiệp, chủ mưu cầm đầu cùng các phạm nhân Trịnh Văn Ân, Dương Ngọc Lạc và Huỳnh Văn Toàn xuống phá cửa nhà giam riêng giải thoát cho 15 phạm nhân ra ngoài chống đối, đập phá, nhưng không được phát hiện kịp thời để ngăn chặn là chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 15/12/2011 quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân (nay là Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BCA của Bộ Công an ngày 16/12/2015) quy định: “Trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt và an toàn, có lực lượng vũ trang bảo vệ, tuần tra canh gác 24/24 giờ”
Mặt khác, cũng phải nêu lên chế độ ăn ngày Tết của phạm nhân không được đảm bảo, nên phạm nhân đã bức xúc, lấy cớ để chống phá trại giam Cụ thể như sau:
Do ngày Tết không có cá đồng tươi, cán bộ hậu cần không báo cáo Giám thị trại giam để chỉ đạo lấy nguồn thực phẩm khác để thay thế, nên đã dùng cá biển (cá nục) đông lạnh thay thế cá tươi, khi nấu cá bị rã nát, từ đó phạm nhân cho rằng chế
độ ăn ngày Tết không được đảm bảo và không được tôn trọng, chế độ ăn giống như những ngày thường Vì lẽ đó, phạm nhân đã kiếm cớ chống đối, đòi yêu sách, như không nhận khẩu phần ăn, la hét, chống đối, đập phá và đốt phá tài sản Qua công tác kiểm sát, đoàn kiểm tra Viện kiểm sát tỉnh Bình Thuận đã kiểm tra sổ sách hậu cần nhận thấy thực tế số tiền chi ăn cho phạm nhân trong 04 ngày tết (từ ngày 30 Tết đến ngày mùng 3 Tết), so với chế độ ăn còn thiếu 215.541.300 đồng, trong đó phân trại 1 còn thiếu 115.755.752 đồng và phân trại 2 còn thiếu 99.785.548 đồng.15
Lý do trại giam Huy Khiêm chi sai chế độ ăn của phạm nhân đã lấy tiền ăn theo chế
độ ăn ngày Tết của phạm nhân để mua hạt dưa, bánh ngọt, trà, cà phê, nước ngọt cho phạm nhân sử dụng Trong khi đó, có những phạm nhân không ăn được hạt dưa, không uống được nước ngọt … Lẽ ra, số tiền này phải được chi từ quỹ bồi dưỡng ăn thêm, quỹ khen thưởng của phạm nhân Ngược lại trại giam Huy Khiêm lại chi từ tiền ăn theo chế độ ngày Tết của phạm nhân Ngoài ra, chế độ ăn của phạm nhân không quy định bánh ngọt, trà, cà phê, nước ngọt và hạt dưa
Việc hoán đổi chế độ ăn của phạm nhân như nêu trên, đã vi phạm Điều 8 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 15/12/2011 quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm
15 Kết luận (2015), “ Kiểm sát đột xuất việc tuân theo pháp luật trong công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại trại giam Huy Khiêm - Bộ Công an”, (199), tr 3
Trang 28nhân (Nay là Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BCA của Bộ Công an ngày 16/12/2015 quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt,
chăm sóc y tế đối với phạm nhân), có quy định như sau: “Phạm nhân được Nhà
nước đảm bảo tiêu chuẩn định lượng mỗi tháng: 17 kg gạo tẻ thường; 0,7 kg thịt; 0,8 kg cá; 0,5 kg đường loại trung bình; 01 kg muối; 15 kg rau xanh; 0,75 lít nước mắm; 0,1 kg bột ngọt; chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than Ngày Tết nguyên đán (bao gồm 01 ngày cuối năm và 03 ngày đầu năm âm lịch)… phạm nhân được ăn gắp 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường…”
Ngoài ra, công tác kiểm tra, lục soát, thu giữ vật cấm chưa triệt để, đã tạo điều kiện để phạm nhân liên lạc móc nối chống phá trại giam Huy Khiêm Ngay sau khi vụ việc xảy ra: “Lực lượng cảnh sát cơ động tổng kiểm tra, lục soát toàn phân trại 2, đã thu giữ một số vật cấm là: 04 điện thoại di động; 02 sim điện thoại; 1.131 viên thuốc tây các loại, ngoài ra còn thu tại nhà xưởng sản xuất 89 dao tự chế và 10 kéo kim loại, đối với dao tự chế và kéo kim loại, Giám thị trại giam báo cáo là để cho phạm nhân sử dụng làm dụng cụ lao động”.16
Qua sự việc trên cho thấy, công tác quản lý và giáo dục phạm nhân còn nhiều hạn chế Trong đó, công tác quản lý, tổ chức canh gác, bảo vệ, kiểm tra lục soát chống đưa vật cấm vào trại giam chưa được tổ chức thực hiện đúng theo quy định tại Thông tư số 58/2011/TT-BCA ngày 09/8/2011 của Bộ Công an về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm
- Trường hợp phạm nhân chết do tự tử, trốn khỏi bệnh viện khi đang điều trị
Trường hợp này được phản ánh qua một số vụ việc cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 31/12/2014, tại phân trại 5 - trại giam Thủ Đức, phạm
nhân Bùi Tấn Cường, sinh năm 1985, trú tại số 195, ấp 3, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, bắt ngày 08/5/2014, án phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được phạm nhân Phan Tấn Đạt, trực sinh buồng giam phát hiện phạm nhân Bùi Tấn Cường treo cổ tự tử trong nhà vệ sinh của phân trại 5 bằng 01 sợi dây vải mùng màu xanh, cuộn tròn, dài khoảng 1m 40, một đầu dây được buộc vào song sắt thông gió của nhà vệ sinh, một đầu dây còn lại treo vào cổ phạm nhân Cường.17
16 Kết luận (2015), tlđd (15), tr 5
17 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận (2015), Báo cáo sơ kết công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi
hành án hình sự, tr 5
Trang 29Vụ thứ 2: Ngày 31/3/2015, tại Bệnh viện lao và phổi tỉnh Bình Thuận, phạm
nhân Lê Sơn Hoàng, sinh năm 1960, trú tại số 5/19B Trường Lưu, xã Trường Đông, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị bắt ngày 09/5/2014, án phạt 09 năm tù về tội Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, chấp hành án phạt tù tại phân trại 2 trại giam Thủ Đức Trong quá trình điều trị bệnh lao, lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý, phạm nhân Hoàng tháo còng tay trốn khỏi Bệnh viện và đón taxi về hướng thành phố Hồ Chí Minh, sau đó bị cán bộ trại giam Thủ Đức truy bắt, đến khoảng 24 giờ cùng ngày thì bắt được phạm nhân Hoàng tại nhà nghỉ Thanh Thủy thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, lý do Hoàng trốn do bệnh nặng, sợ chết.18
Nguyên nhân xảy ra 02 vụ việc trên là do phạm nhân chưa an tâm cải tạo để được giảm án, hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước, công tác giáo dục phạm nhân còn hạn chế, cán bộ được giao nhiệm vụ chưa kịp thời nắm bắt diễn biến, tư tưởng và hành động của 02 phạm nhân Cường và Hoàng nên đã xảy ra vụ việc nêu trên Ngoài ra, do thiếu cán bộ nên khi trích xuất phạm nhân Hoàng đến điều trị dài ngày tại Bệnh viện lao và phổi tỉnh Bình Thuận, chỉ có 02 cán bộ thay phiên nhau nên có lúc còn sơ hở trong việc quản lý phạm nhân dẫn đến phạm nhân Hoàng lợi dụng trốn khỏi bệnh viện
1.2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện chế độ quản lý phạm nhân
Nguyên nhân khách quan
Phạm nhân có nhiều tiền án, tiền sự, mức án cao, trình độ học vấn thấp, nhận thức về pháp luật và nội quy trại giam còn nhiều hạn chế,… Các phạm nhân được sinh hoạt ở môi trường thu nhỏ là buồng giam tập thể với nhau dễ nảy sinh những thói hư, tật xấu như cờ bạc trá hình cụ thể như sau: hôm nay trời nắng hay trời mưa; cán bộ vào kiểm tra buồng giam là cán bộ nào,… nếu thắng cược được nhận tiền bằng cách quy đổi thành hàng hóa thông qua phiếu mua hàng căng tin tại trại giam Điều này gây khó khăn trong việc quản lý phạm nhân Trong học tập trình độ phạm nhân không tương đồng có phạm nhân là tiến sỹ, thạc sỹ và những người không biết chữ,… Ngoài ra, do phong tục tập quán của mỗi phạm nhân ở những vùng, miền khác nhau, có phạm nhân phạm tội lần đầu, mức án thấp thì thường học tập tốt, riêng những phạm nhân có mức án cao, nhiều tiền án, tiền sự họ thường bi quan trong cuộc
18
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận (2015), tlđd (17), tr 7