HỒ CHÍ MINH ---***--- BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT PHAN THỊ HỒNG ÂN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRONG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM – THỰC TIỄN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** - BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
PHAN THỊ HỒNG ÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRONG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Dân Sự
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** - BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
PHAN THỊ HỒNG ÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRONG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Dân Sự
Niên khóa: 2013 - 2017
Người hướng dẫn khoa học: THS NGUYỄN THANH THƯ Người thực hiện: PHAN THỊ HỒNG ÂN
MSSV: 1353801014001 Lớp: 45-AUF38
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2017
Trang 3LỜI TRI ÂN
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả được trao dồi và rèn luyện rất nhiều kiến thức và thực tiễn Luật học lẫn những giá trị đạo đức của người học Luật Tác giả xin chân thành gửi Lời tri ân đối với các Thầy, Cô – những Người đã hết lòng dìu dắt bao thế hệ sinh viên của Trường Để có thể hoàn thành được Khóa luận, tác giả xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thư – người đã quan tâm và góp ý đối với công trình này thật sự khiến cho tác giả vô cùng xúc động Một lần nữa, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Cô
Tác giả cũng xin dành Lời tri ân này đến Tiến sĩ Nguyễn Hồ Bích Hằng vì Cô đã truyền cảm hứng cho tác giả đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong quá trình học tập tại Trường
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn Cô Huỳnh Thị Thu Trang và Cô Nguyễn Thị Khánh Phương (Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học và Hợp tác Quốc tế), gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và đưa ra những lời khuyên trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Trân trọng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Mối quan hệ giữa nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lý trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thực tiễn và kiến nghị” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của
Cô Nguyễn Thanh Thư, bảo đảm tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về Lời cam đoan này
Tác giả Khóa luận
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Công ước Berne Berne Convention for the Protection of Literary and
Artistic Works, 1886 (Công ước Berne về Bảo hộ Tác phẩm văn học và Nghệ thuật ngày 09/9/1886)
Property, 1883 (Công ước Paris về Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp ngày 20/3/1833)
Project (Dự án Hỗ trợ Chính sách thương mại và Đầu
tư của Liên minh châu Âu)
(Đạo luật Chỉ dẫn địa lý Ấn Độ năm 1999)
(Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương)
Intellectual Property Rights, 1994 (Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ năm 1994)
và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp
Trang 6Nghị định số 63/CP Nghị định số 63/CP của Chính phủ ngày 24/10/1996
Quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
Quy định số 2081/92 Quy định số 2081/92 của Cộng đồng chung châu Âu
ngày 14/7/1992 về Bảo hộ chỉ dẫn địa lý và quyết định nguồn gốc của nông sản và thực phẩm
Quyđịnh số 110/2008 Quy định số 110/2008 của Nghị viện châu Âu và Hội
đồng châu Âu ngày 15/01/2008 Liên quan đến định nghĩa, mô tả, trình bày, dán nhãn và bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý cho rượu vang, rượu mạnh
Quy định số 1151/2012 Quy định số 1151/2012 của Nghị viện châu Âu và Hội
đồng châu Âu ngày 21/11/2012 về Chương trình chất lượng cao cho sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm
Thỏa ước Lisbon Lisbon Agreement for the Protection of Appellations
of Origin and their International Registration, 1958 (Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ và Đăng ký tên gọi xuất xứ ngày 30/10/1958)
Thông tư số
01/2007/TT-BKHCN
Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 14/02/2007 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
(Đạo luật Nhãn hiệu hàng hóa Ấn Độ năm 1999)
Trang 7USD Đô la Mỹ
(Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới)
Trang 8MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 7
1.1 Khái quát về nhãn hiệu 7
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu 7
1.1.2 Khái niệm nhãn hiệu 9
1.1.3 Tiêu chuẩn bảo hộ đối với nhãn hiệu 12
1.2 Khái quát về chỉ dẫn địa lý 15
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chỉ dẫn địa lý 15
1.2.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lý 18
1.2.3 Tiêu chuẩn bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý 21
Kết luận Chương 1 25
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 26
2.1 Khía cạnh pháp lý về xác lập quyền trong mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 26
2.2 Khía cạnh pháp lý về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong việc bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 28
2.3 Xung đột giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 34
2.3.1 Nguyên nhân xung đột giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 35
2.3.2 Vấn đề giải quyết xung đột trong quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và một số nước trên thế giới về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 36
2.3.2.1 Vấn đề giải quyết xung đột theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 36
2.3.2.2 Vấn đề về giải quyết xung đột theo quy định của pháp luật hữu trí tuệ của một số nước trên thế giới 39
Trang 9a Quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ 39
b Quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Pháp 41
Kết luận Chương 2 44
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM 45
3.1 Thực tiễn về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 45
3.1.1 Thuận lợi 45
3.1.2 Khó khăn 47
3.2 Một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam trong mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 57
3.2.1 Không chấp nhận bảo hộ đối với nhãn hiệu thông thường sử dụng tên địa danh 57
3.2.2 Xác định chủ sở hữu, chủ thể đăng ký và quản lý đối với chỉ dẫn địa lý 58
3.2.3 Khẳng định vai trò của hiệp hội trong việc quản lý và sử dụng dấu hiệu mang chỉ dẫn 59
3.2.4 Tiếp tục bảo hộ nhận nhãn hiệu được sử dụng một cách thiện chí hoặc nhãn hiệu nổi tiếng 60
3.2.5 Quy định trách nhiệm kiểm tra, giám sát của hiệp hội 61
Kết luận Chương 3 63
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoa học và công nghệ đang ngày càng phát triển và khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Bên cạnh đó, hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế chung Một doanh nghiệp, một nhà sản xuất muốn thành công không chỉ dựa trên việc dày công, bỏ sức để sản xuất hàng hóa mà cần phải áp dụng khoa học - kỹ thuật cũng như tạo nên thị trường cần thiết cho sản phẩm của mình Mặt khác, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng tồn tại những tiêu cực Cụ thể, khi thương mại xuyên biên giới có những bước tiến nhất định thì “hàng nhái”, hàng giả xuất hiện và lưu thông trên thị trường càng nhiều Do đó, trong bối cảnh hiện nay, “một hệ thống sở hữu trí tuệ được thực thi tốt và phương thức quản lý hiện đại là những yếu tố cơ bản để thúc
Về mặt kinh tế, những sản phẩm có uy tín, chất lượng không chỉ tạo ra giá trị đối với các doanh nghiệp, nhà sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nhằm mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia Biểu hiện bên ngoài của sản phẩm chính là vũ khí tác động đến thị hiếu của người tiêu dùng Trên thị trường, những sản phẩm thể hiện được nguồn gốc xuất xứ luôn thu hút sự chú ý của khách hàng Và các dấu hiệu liên quan đến nguồn gốc hay xuất xứ hàng hóa thường được trình bày trên bao bì, nhãn dán,… dưới dạng nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý Nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý về cơ bản có những đặc trưng riêng với cơ chế bảo hộ nhất định nhưng cũng có sự giao thoa, tiếp xúc nhau Vì thế, cần phải tìm hiểu, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Khẳng định lại rằng, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là hai đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp Điều này được cụ thể trong quy định của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (Hiệp định TRIPs), Công ước Paris về Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp năm 1833 (Công ước Paris) Đó là các Điều ước quốc tế đa phương, có giá trị ràng buộc đối với các chủ thể muốn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) bên cạnh Công ước Berne về Bảo hộ Tác phẩm văn học và Nghệ thuật năm 1886 (Công ước Berne) Với Việt Nam, quá trình gia nhập WTO đòi hỏi hệ thống pháp luật cần phải có một đạo luật
1
Shahid Alikhan (2007), Lợi ích kinh tế – xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển
(bản dịch tiếng Việt), Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tr.124
Trang 11cụ thể ghi nhận và bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 ra đời nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu trong việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng được quy định tại Hiệp định TRIPS
Pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có những quy định để điều chỉnh mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Điều này góp phần điều hòa và hạn chế phần nào xung đột trong mối quan hệ của hai đối tượng về mặt pháp lý Tuy nhiên, việc áp dụng và thực thi pháp luật trong việc giải quyết các vấn đề giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý còn nhiều khó khăn Hơn nữa, khác với các hệ thống pháp luật khác, hệ thống pháp luật Việt Nam có khá nhiều các quy định trong các văn bản hướng dẫn như Nghị định, Thông tư đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới so với
nói chung và ảnh hưởng đến việc bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và mối quan hệ giữa hai đối tượng này nói riêng Về mặt thực tiễn, nhiều chỉ dẫn địa lý của Việt Nam dù đã được bảo hộ nhưng vẫn tồn tại các trường hợp đăng ký, sử dụng chúng dưới dạng nhãn hiệu trong phạm vi quốc gia và tại nước ngoài Do đó, tác giả nhận thấy cần thiết phải tìm hiểu mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý nhằm đề xuất những kiến nghị phù hợp để bảo vệ và phát triển các chỉ dẫn đặc trưng của Việt Nam
Trước các vấn đề được đặt ra, nhận thấy rằng, cần có một công trình nghiên cứu để tìm hiểu, đánh giá một cách toàn diện đối với mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Ngoài ra, từ việc phân tích nguyên nhân xung đột và học tập kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới về mối quan hệ này, tác giả có thể đề xuất một số kiến nghị, giải pháp phù hợp Với những căn cứ nên trên, tác giả quyết định chọn đề
tài “Mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong pháp luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam – Thực tiễn và kiến nghị” cho Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu và khảo sát đối với các công trình khoa học pháp lý, tác giả nhận thấy tình hình nghiên cứu như sau:
Với tư cách là nghiên cứu về một đối tượng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, có thể kể đến: Luận án tiến sĩ Luật học của Khoa Luật
2
Nguyễn Thị Thu Trang (2017), Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định Đối tác Xuyên
Thái Bình Dương (TPP) về sở hữu trí tuệ, Nxb Công thương, tr.14
Trang 12Trường Đại học Lund (Thụy Điển) và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh được thực hiện vào năm 2011 của tác giả Phan Ngọc Tâm với đề tài “Bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng – Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh châu Âu và Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh vào năm 2001 của tác giả Nguyễn Xuân Quang với đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu
hàng hóa theo pháp luật dân sự Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học vào năm
2004 của Khoa Luật Trường Đại học Lund (Thụy Điển) và Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Lê Việt Tuấn với đề tài “Hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”; Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chính Minh vào năm 2007 của tác giả Nguyễn Duy với đề tài “Xây dựng, đăng ký
bảo hộ và phát triển chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam”,…
Bên cạnh đó còn có công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhãn hiệu với đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp, đó là tên thương mại Có thể kể đến: Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh vào năm
2013 của tác giả Bồ Xuân Tuấn với đề tài “Khía cạnh pháp lý về mối quan hệ giữa
nhãn hiệu hàng hóa và tên thương mại”
Với việc nghiên cứu nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý một cách độc lập và trong mối quan hệ với đối tượng khác, phần nào giúp tác giả có cái nhìn tổng quan nhất về bản chất của mỗi đối tượng Ngoài ra, trong mỗi công trình còn đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Cũng vì vậy mà tác giả có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu sơ lược mối quan hệ của hai đối tượng
Đối với nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý và ngược lại, trong phạm vi Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đã có Khóa luận
tốt nghiệp cử nhân Luật học của sinh viên Nguyễn Thị Kim Cương với đề tài “Một
số vấn đề về mối quan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của TRIPs, Pháp luật Liên minh châu Âu và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam” được
thực hiện vào năm 2006 Qua tìm hiểu, đây là công trình tiên phong trong việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong phạm vi Trường Công trình đã tiếp cận, khai thác mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo các góc độ khác nhau, theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, trải qua thời gian lâu dài, việc áp dụng các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa hai
Trang 13đối tượng này đã có nhiều thay đổi Bên cạnh đó, nội dung Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 để phù hợp với sự thay đổi trên thực tế Dưới góc độ là các tựa sách, những bài viết được xuất bản, được đăng trên các tạp chí khoa học, các trang thông tin điện tử (website) chuyên ngành luật về nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lý, có thể kể đến: tác giả Vũ Thị Hải Yến với các bài viết “Mối
quan hệ giữa bảo hộ chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” đăng trên Tạp chí Luật học (số 10/2007), bài viết “Bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo quy định của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 2 (334)/2016); tác giả Lê Thị
Thu Hà với bài viết “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế - Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho sản phẩm đặc sắc của địa phương” phát hành bởi Nhà xuất bản Thông Tin và Truyền Thông vào năm 2011;
tác giả Vũ Tuấn Hưng với tựa sách “Xây dựng và phát triển thương hiệu chỉ dẫn địa
lý ở Việt Nam” được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia vào năm 2015;
bài viết “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo pháp luật của Mỹ, Pháp và kinh nghiệm cho
Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Diện đăng trên Tạp chí Nghề Luật (số 02/2016),…
Ngoài ra, còn có các công trình, bài viết khác được thực hiện trong và ngoài nước Việc tìm hiểu các bài viết giúp tác giả hiểu sâu về vấn đề cũng như được nghiên cứu, nhận thức thêm về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý dưới góc độ pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ và pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam để từ đó định hướng nghiên cứu cho công trình của mình một cách phù hợp Dựa trên những tài liệu đã nghiên cứu, với Khóa luận này, tác giả không chỉ nghiên cứu những vấn đề chung về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mà còn đặt ra những vấn đề về mối quan hệ giữa hai đối tượng này về mặt pháp lý lẫn thực tiễn Khẳng định rằng, đây là đề tài không mới nhưng tác giả sẽ khai thác nội dung của mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo khía cạnh lấy pháp lý là chủ đạo, lấy kinh tế là nền tảng và tham khảo thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến mối quan hệ này nhằm đề xuất những kiến nghị phù hợp trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật
3 Ý nghĩa của đề tài
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, tác giả được tiếp cận, tìm hiểu về chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu và nhận thấy được mối quan hệ giữa hai đối tượng này Tuy nhiên, việc vận dụng, thực thi pháp luật liên quan đến mối quan hệ giữa nhãn hiệu
Trang 14và chỉ dẫn địa lý còn tồn tại một số vấn đề và việc bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý còn nhiều khó khăn Do đó, tác giả chọn đề tài này để tìm hiểu toàn diện hơn mối quan
hệ giữa hai đối tượng và trao dồi thêm kiến thức chuyên môn của mình Hơn nữa, tác giả mong muốn sản phẩm nghiên cứu của mình có thể đóng góp và là nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu sau này
4 Đối tượng nghiên cứu
Với Khóa luận này, tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam, những cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, cụ thể:
giữa hai đối tượng theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và thế giới;
và một số quốc gia trên thế giới;
mắc liên quan đến mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của Khóa luận, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
Về nội dung, đề tài xem xét các vấn đề lý luận của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý để
có cái nhìn tổng quan, định hướng nghiên cứu và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai đối tượng không chỉ về mặt pháp lý mà còn liên quan đến thực tiễn bảo hộ Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đề xuất khoa học và phù hợp nhằm giải quyết các vướng mắc trong mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Về không gian, đề tài xem xét mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
chủ yếu trong phạm vi pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tìm hiểu đối với các điều ước quốc tế về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý như Công ước Paris năm 1833, Hiệp định TRIPs năm 1994, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, và pháp luật của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp để tham chiếu, so sánh nhằm làm rõ những nội dung liên quan đến đề tài
Về thời gian, bên cạnh việc xem xét những quy định đang có hiệu lực của Luật
sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (từ thời điểm Luật có hiệu lực thi hành (năm 2006) đến nay), đề tài cũng làm rõ những nội dung của pháp luật
Trang 15trong quá khứ, chẳng hạn như Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị định số 63/CP của Chính phủ ngày 24/10/1996 Quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp,…nhằm mục đích so sánh đối chiếu để tìm hiểu sự thay đổi trong từng giai đoạn lập pháp và làm sáng tỏ hơn các vấn đề pháp lý về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành Khóa luận, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng trong đó tập trung chủ yếu vào một số phương pháp sau:
Chương 1: Tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm
hiểu chi tiết và khái quát lại vấn đề về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý cũng như mối quan hệ giữa chúng;
Chương 2: Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, chứng minh, phân
tích nhằm xem xét mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong vấn đề xác lập quyền, thực thi quyền, tìm hiểu nguyên nhân và giải quyết xung đột trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới;
Chương 3: Tác giả tập trung sử dụng các phương pháp phân tích, bình luận,
tổng hợp để nghiên cứu thực tiễn bảo hộ trong và ngoài nước để từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp về mặt lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
7 Bố cục của Khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Khóa luận được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn
địa lý
Chương 3: Thực tiễn về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1.1 Khái quát về nhãn hiệu
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu
Ngày nay, thuật ngữ “nhãn hiệu” hay “thương hiệu” ngày càng được sử dụng rộng rãi Câu hỏi được đặt ra rằng trải qua thời gian lâu dài, “nhãn hiệu” đã được hình thành và phát triển như thế nào? Có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này Và theo ghi nhận của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì “có bằng chứng về việc xa xưa tới 4000 năm về trước các thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư
” “Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình lên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000
trên khoảng 1000 năm lịch sử Nguồn gốc của nhãn hiệu có thể xem xét ngược trở
Dựa trên các nghiên cứu của các nhà khảo cổ thì lịch sử hình thành nhãn hiệu cũng “khá cũ”, cũng gần với lịch sử hình thành của nhân loại và tôn giáo Các nhà khoa học đã vô tình khai quật được một số hiện vật ở các nơi như hiện vật của Ai Cập cổ đại với nhiều biểu tượng được điêu khắc nhằm mục đích tôn giáo và tâm linh Các dấu hiệu, biểu tượng, tên, các hình vẽ độc đáo,… được dùng để khắc tên lên các đồ vật, vật nuôi, hàng hóa nhằm phân biệt hàng hóa, tài sản của mình với hàng hóa, tài sản của người khác và để thực thi quyền sở hữu của mình Từ đó nhấn
Nhãn hiệu đã trải qua quá trình hình thành và phát triển từ quá khứ đến hiện tại Quá trình này càng cho thấy vai trò của nhãn hiệu không chỉ trong quan hệ sở
3
Kamil Idris (2005), Sở hữu trí tuệ – Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế (bản Tiếng Việt), Tổ chức Sở
hữu trí tuệ thế giới, tr.149
4 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ (bản tiếng Việt), Cục Sở hữu trí tuệ, Hà
Nội, tr 65
5
Shoen Ono (1999), Overview of Japanese Trademark Law 2 nd ed, Part 1, Chap.2: The History and Development of Trademark Law, tr.1, http://www.iip.or.jp/e/e_publication/ono/ch2.pdf , truy cập ngày 17/5/2017
6
Philip C Zerrillo (2010), Trademarks, Proprietary Marks, and Brands, Part 1 Marketing Strategy,
Abtraction: Ngày nay “thương hiệu” là một sự gia tăng của nhãn hiệu cũng như nhãn hiệu độc quyền,
http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/9781444316568.wiem01058/abstract , truy cập ngày 17/5/2017
Trang 17hữu mà còn trong quan hệ thương mại Nếu như thời kỳ đầu các dấu hiệu của nhãn hiệu chỉ được dùng để phân biệt và xác định chủ sở hữu của hàng hóa thì hiện tại những dấu hiệu này đã tạo ra những tiền đề để khẳng định vị trí của hàng hóa, dịch vụ và hơn nữa là vị thế của chủ sở hữu nhãn hiệu trên thị trường Trên thực tế, không phải đương nhiên mà một chiếc điện thoại Iphone 7 hoặc Iphone 7 Plus lúc
sốt” vô cùng lớn đối với thị trường công nghệ nói chung và thị trường điện thoại di động nói riêng Và nhà sản xuất ra nó – APPLE có giá trị thương hiệu đứng đầu thế giới với 154.1 triệu USD theo “Những thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2016”
Ở mỗi quốc gia, với đặc thù về lịch sử, kinh tế, xã hội, khác nhau mà nhãn hiệu được thừa nhận và bảo hộ cũng khác nhau Đối với Pháp, Điều 16 Luật về Xí
đối với hành vi lạm dụng tên của người khác hoặc sử dụng sai tên của nơi sản xuất
ra hàng hóa Và sau đó, Chính phủ Pháp lần thứ hai ban hành Luật về xí nghiệp, cơ sở sản xuất và lò xưởng thủ công vào năm 1809 để tuyên bố rằng nhãn hiệu cũng
Có thể nói, pháp luật Pháp đã thừa nhận những đặc điểm, tính chất riêng biệt của hàng hóa, dịch vụ từ những giai đoạn đầu tiên của quá trình lập pháp mới và khẳng định nhãn hiệu là tài sản cần được bảo hộ Đây là giai đoạn tiếp nối sau khi Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp năm 1804 hay còn gọi là Bộ luật Napoléon ra đời Đến ngày 26/6/1857, Đạo luật về Cơ sở sản xuất và nhãn hiệu hàng hóa ra đời Đây là Đạo luật đầu tiên ghi nhận cơ chế bảo hộ nhãn
Pháp luật Pháp đạt được nhiều những thành tựu và có những ảnh hưởng nhất định đối với các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam Nhìn chung, những nguồn tài liệu có giá trị tham khảo ghi nhận cụ thể quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu cũng như pháp luật về nhãn hiệu đã góp phần giải thích nguyên nhân, tầm quan trọng của đối tượng này
7
Choose an iPhone 7 model., https://www.apple.com/shop/buy-iphone/iphone-7 , truy cập ngày 17/5/2017
8 The World's Most Valuable Brands (2016), https://www.forbes.com/powerful-brands/list/#tab:rank , truy cập ngày 17/5/2017
9
Shoen Ono, tlđd 5, tr.2
10
An Qinghu (2005), “Well-known marks & China’s System of Well-known mark protection”, The
Trademark Reporter –Official Journal of the International Trademmark Association, vol.95 , tr.706,
http://www.inta.org/TMR/Documents/Volume%2095/vol95_no3_a5.pdf , truy cập ngày 17/5/2017
11
Shoen Ono, tlđd 5, tr.2
Trang 18Hòa nhập vào xu thế chung của thế giới, nhìn từ góc độ về kinh tế, nhãn hiệu tại Việt Nam ngày càng đóng vai trò “đầu tàu” cho xu hướng phát triển của thương mại Điều này thể hiện ở chỗ, khi một nhãn hiệu có uy tín, được sự tín nhiệm bởi khách hàng, được định vị giá trị thương hiệu cao sẽ tạo ra định hướng tiêu dùng trên thị trường Về mặt pháp lý, trong mối quan hệ giữa nhãn hiệu và thương hiệu, pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam chỉ thừa nhận và bảo hộ đối với nhãn hiệu Bởi
lẽ, dựa trên định nghĩa của WIPO12 thì “dấu hiệu đặc biệt để nhận biết” của một thương hiệu rất đa dạng Đó có thể là nhãn hiệu, tên thương mại và cả chỉ dẫn địa lý (CDĐL) hay tên gọi xuất xứ hàng hóa (TGXXHH) nên việc bảo hộ thương hiệu có thể thực hiện một cách gián tiếp
Như vậy, với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, các quốc gia càng nỗ lực hơn nữa để bảo vệ các quyền SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng Có thể nói rằng, các quốc gia bảo vệ quyền SHTT mạnh mẽ nhất (Mỹ, Nhật và Tây Âu) là các quốc gia có nền văn hoá, khoa học, nghệ thuật phát triển nhất13 Việt Nam đã và đang tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương cũng như các điều ước quốc tế song phương nhằm đàm phán, tiếp thu kinh nghiệm bảo hộ đối với tài sản trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu, CDĐL Tiến trình hội nhập càng sâu rộng thì cơ chế bảo hộ nhãn hiệu càng cần phải được chú trọng hơn Điều này xuất phát từ việc các nhà đầu
tư trong và ngoài nước mong muốn nhãn hiệu của mình được bảo hộ và có cơ sở để giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu
1.1.2 Khái niệm nhãn hiệu
Với quá trình hình thành lâu dài cùng với sự phát triển không ngừng, nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền thị trường thương mại và sở hữu công nghiệp
cách khác nhau Cụ thể, Văn phòng Nhãn hiệu và Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO) đã
định nghĩa về nhãn hiệu như sau:
Nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu, thiết kế xác định để phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hóa của chủ thể khác Nhãn hiệu dịch vụ là
12
Theo WIPO: Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng
hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”,
http://www.wipo.int/sme/en/documents/branding_fulltext.html, truy cập ngày 18/5/2017
13 Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.34
14 Phan Ngọc Tâm (2011), Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng – Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh châu
Âu và Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật Trường ĐH Lund-Thụy Điển và Trường ĐH Luật TP
Hồ Chí Minh, tr.32
Trang 19một từ, cụm từ, ký hiệu, thiết kế xác định để phân biệt nguồn gốc của một dịch vụ chứ không phải là hàng hoá.15
Đối với pháp luật của Liên minh châu Âu (EU) quy định tại Điều 2 Chỉ thị về
Cả Hoa Kỳ và EU đã đưa ra khái niệm về nhãn hiệu và thừa nhận rằng nhãn hiệu bao gồm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Trên đây, tác giả xem xét khái niệm nhãn hiệu dưới góc độ pháp luật của một quốc gia và Tổ chức quốc tế liên Chính phủ Trên bình diện toàn cầu, khái niệm nhãn hiệu theo Điều 15.1.a Hiệp định TRIPs của WTO được hiểu là:
tất cả những dấu hiệu bất kỳ hoặc tập hợp các dấu hiệu cho phép phân biệt các sản phẩm và dịch vụ của một doanh nghiệp với các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp khác đều có thể đăng ký nhãn hiệu 17
Trước khi gia nhập WTO, các đối tượng của quyền SHTT được ghi nhận tại BLDS năm 1995, trong đó, khẳng định nhãn hiệu hàng hóa là đối tượng của quyền
khả năng và tình hình đất nước đang chuyển sang giai đoạn đổi mới lúc bấy giờ, việc quy định đối với các quyền SHTT còn mới mẻ và hạn chế Đến năm 2005, BLDS năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam ra đời Theo đó, Điều 750 BLDS
Cả Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
15
Trademark, Patent, or Copyright?, basics/trademark-patent-or-copyright , truy cập ngày 18/5/2017
https://www.uspto.gov/trademarks-getting-started/trademark-16 Phan Ngọc Tâm, tlđd 14, tr.35
17 Vũ Tuấn Hưng (2015), Xây dựng và phát triển thương hiệu chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia, tr.40, 41
18 Điều 780 BLDS năm 1995 về nhãn hiệu hàng hóa: là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc
19 Điều 750 BLDS năm 2005: “Đối tượng SHCN bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý”
Trang 20hữu trí tuệ (gọi chung là Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)) đã đưa ra định nghĩa về
nhãn hiệu tại Điều 4.16: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch
vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Từ đây có thể thấy, khái niệm “nhãn hiệu
hàng hóa” theo BLDS năm 1995 đã được thay thế bằng khái niệm “nhãn hiệu” tại BLDS năm 2005 và Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) Thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” tại BLDS năm 1995 dễ khiến người đọc liên tưởng đến việc nhãn hiệu chỉ sử
Mặt khác, nội dung mới này còn khẳng định một cách minh thị rằng pháp luật SHTT đã thừa nhận nhãn hiệu hàng hóa cùng tồn tại với nhãn hiệu dịch vụ Việc ghi nhận về “nhãn hiệu” là phù hợp với quy định chung về SHTT trên thế giới mà nhất là Hiệp định TRIPs Đây cũng là cơ sở ban đầu để Việt Nam gia nhập WTO Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý
chỉ khẳng định quyền tài sản bao gồm quyền SHTT mà không còn quy định cụ thể việc điều chỉnh về quyền SHTT như BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 Vì vậy, vấn đề về xác lập, chấm dứt, bảo hộ, giải quyết tranh chấp và các vấn đề liên quan đến quyền SHTT được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành (pháp luật về SHTT)
Tìm hiểu về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP), nhận thấy rằng, theo quy định tại Điều 18.18 Hiệp định TPP thì dấu hiệu không bắt buộc phải là dấu hiệu nhìn thấy được (âm thanh hoặc mùi vị) Căn cứ vào Điều 18.83.4.(f).(iv) Hiệp định TPP, Việt Nam chỉ thực hiện việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh sau 03 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực đối với Việt Nam Khoảng thời gian 03 năm là thời gian để hoàn thành các công tác về mặt lập pháp, xây dựng
cơ chế và đánh giá quá trình bảo hộ nhằm đạt được hiệu quả bảo hộ trong tương lai Vì hiện nay, nhu cầu sử dụng âm thanh hay một dấu hiệu nhận dạng âm thanh của
Như vậy, khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam được đánh giá là khá tương đồng, phù hợp với pháp luật quốc tế về bảo hộ nhãn
20 Bồ Xuân Tuấn (2013), Khía cạnh pháp lý về mối quan hệ giữa nhãn hiệu hàng hóa và tên thương mại,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr.12
21
Điều 115 BLDS 2015:“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối
tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”
22
Lê Ngọc Lâm (2016), “Xây dựng chiến lược quốc gia để thúc đẩy sở hữu trí tuệ”, Đặc san Cẩm nang Sở
hữu trí tuệ 2016- Chạm tay vào tài sản vô hình của Báo Khoa học và Phát triển, tr.14
23 Bồ Xuân Tuấn, tlđd 20, tr.12
Trang 21hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ này với hàng hóa hay dịch vụ khác và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể với nhau trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật Hơn nữa, việc tìm hiểu khái niệm của nhãn hiệu còn nhằm mục đích hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa nhãn hiệu với các đối tượng khác của quyền SHTT, trong đó có CDĐL
1.1.3 Tiêu chuẩn bảo hộ đối với nhãn hiệu
còn được quy định trong Hiệp định TRIPs Hiệp định TRIPs quy định điều kiện bảo hộ tối thiểu đối với nhãn hiệu tại Điều 15:
- Bao gồm các dấu hiệu, tổ hợp các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp với nhau Đó có thể là các biểu tượng, từ ngữ, tên riêng, chữ cái, tổ hợp mầu sắc, tổ hợp các ký hiệu,…
- Các dấu hiệu này phải có khả năng phân biệt với nhãn hiệu, tên thương mại khác Nếu không có khả năng phân biệt thì các Thành viên có thể quy định khả năng đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng
- Nhãn hiệu phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp đối với nhãn hiệu nổi tiếng (Điều 16.3 Hiệp định TRIPs và Điều 6bis Công ước Paris năm 1967)
Bên cạnh đó, Hiệp định cũng đã thừa nhận việc bảo hộ đối với “dấu hiệu không nhìn thấy được” Cụ thể có thể kể đến như nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi Điều L.711-1.b Bộ luật SHTT Pháp năm 2004 đã ghi nhận dấu hiệu âm thanh (âm thanh, câu nhạc) có khả năng phân biệt có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn
Một minh chứng cho trường hợp này là tiếng gầm sư tử “Metro Goldwyn Mayer”- nhãn hiệu hãng phim Hoa Kỳ đã được bảo hộ tại Pháp năm 1994 Điều kiện để một âm thanh được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu phải được thể hiện dưới dạng hình minh hoạ hay ảnh phổ âm thanh (đây là loại máy có chức năng ghi lại âm thanh và thể hiện lại âm thanh đó dưới dạng hình họa bằng những đường cong khác
24
Công ước Paris được thông qua ngày 20/3/1883, được sửa đổi tại Brussels ngày 14/12/1900, tại Washington
ngày 2/6/1911, tại LaHay ngày 6/11/1925, tại London ngày 2/6/1934, tại Lisbon ngày 31/10/1958 và tại Stockholm ngày 14/7/1967, và được tổng sửa đổi ngày 28/9/1979
25
Nguyễn Thị Tú Anh (2008), “Bảo hộ nhãn hiệu theo Luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học, số 12/2008, tr.47
26 Nguyễn Thị Tú Anh, tlđd 25, tr.48
Trang 22vị27 Ví dụ cho trường hợp này, nhãn hiệu được bảo hộ như mùi hoa Phumeria (Phumeria Blossoms) cho sản phẩm chỉ may và chỉ thêu Còn ở Anh, mùi hoa hồng để chỉ lốp xe của Công ty DUNLOP được bảo hộ ngày 09/4/1996,… Ngày nay, các quốc gia như Australia, New Zealand, Nhật Bản,… cũng thừa nhận việc bảo hộ
Hiệp định TRIPs cũng quy định các nước thành viên có thể đưa ra các tiêu
những quy định trong Hiệp định TRIPs, Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) đã đưa ra các điều kiện chung về bảo hộ nhãn hiệu tại Điều 72 như sau:
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác
Theo đó, một dấu hiệu muốn được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu phải đáp ứng hai điều kiện Đó là dấu hiệu phải nhìn thấy được và phải có khả năng phân biệt Dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình ba chiều, kết hợp giữa chữ và hình được thể hiện dựa trên mầu sắc (một mầu hoặc nhiều mầu) Dựa vào quy định trên, pháp luật SHTT Việt Nam không thừa nhận và bảo hộ đối với dấu hiệu không nhìn thấy được dưới dạng nhãn hiệu Các nhãn hiệu mùi vị, nhãn hiệu âm thanh của nước ngoài sẽ không được bảo hộ tại Việt Nam
Căn cứ vào nội dung nêu trên, khả năng phân biệt là yếu tố cần thiết, được thể hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp bởi vì đây cũng chính là chức năng chính của nhãn hiệu, chính là phân biệt hàng hóa dịch vụ của các chủ thể với nhau Để làm rõ
vấn đề này, Điều 74.1 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) đã quy định việc được xem là
có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết,
dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ
27 Nguyễn Thị Quế Anh (2010), “Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học Đại
học Quốc gia Hà Nội - Luật học, số 26 (2010) 99-107, tr.106
Trang 23và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Khoản 2 ghi nhận cụ
thể mười ba trường hợp được xem là không có khả năng phân biệt, trong đó có ba
trường hợp liên quan đến CDĐL cần lưu ý: Thứ nhất, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý
của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập
thể (NHTT) hoặc nhãn hiệu chứng nhận (NHCN) quy định tại Luật này Thứ hai,
dấu hiệu trùng hoặc tương tự với CDĐL đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng
hoá Thứ ba, dấu hiệu trùng với CDĐL hoặc có chứa CDĐL hoặc được dịch nghĩa,
phiên âm từ CDĐL đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu
Ngoài nhãn hiệu thông thường, pháp luật Việt Nam còn thừa nhận bảo hộ đối với NHTT, NHCN, nhãn hiệu liên kết, và nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) Các đối tượng này được định nghĩa cụ thể tại Điều 4 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) Các sản phẩm được bảo hộ dưới dạng NHTT cũng rất đa dạng mà chủ yếu là các mặt hàng nông sản và thủ công, có thể kể đến như: măng cụt Lái Thiêu, Hồ tiêu Lộc Ninh, nước mắm Phú Lợi, gốm Phù Lãng (Quế Võ),… Đây là nhãn hiệu được cấp cho tổ chức, hiệp hội nhưng chỉ các thành viên trong các tổ chức, hiệp hội này được
Tập thể không được nhân danh chính mình sử dụng NHTT vì việc này mang tư cách cá nhân Trường hợp đối với nhãn hiệu liên kết, chủ sở hữu sẽ đăng ký loại nhãn hiệu này cho các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự nhau vì có thể hạn chế tình trạng “hàng nhái” của các chủ thể khác gây ảnh hưởng đến uy tín cho sản phẩm của mình và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Ví dụ như nhãn hiệu Wave cho dòng xe Wave của hãng Honda (Wave alpha, Wave S, Wave RS,…)
Đối với NHCN, vì được công nhận theo một tiêu chuẩn nhất
định nên uy tín, danh tiếng của sản phẩm được nâng lên cao so với sản
phẩm cùng loại khác Bởi vì, để được cấp văn bằng bảo hộ, sản phẩm
30 Điều 74.2.đ, l, m Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
31 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Lê Nết – Nguyễn
Xuân Quang (Chủ biên), Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr 285, 286
Trang 24phải đạt được các tiêu chuẩn nhất định về chất lượng, nguồn gốc sản
phẩm, nguyên liệu đầu vào,…
Một đối tượng đặc biệt được pháp luật SHTT quốc tế và Việt Nam ghi nhận, đó là NHNT Nếu như các đối tượng trên
hộ NHNT căn cứ trên việc sử dụng và mức độ “nổi tiếng” của nhãn hiệu và sản phẩm mang nhãn hiệu, nghĩa là được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam hoặc thế giới Theo quy định của Luật SHTT
Nhìn chung, pháp luật SHTT Việt Nam đã có những quy định phù hợp những điều kiện tối thiểu được đặt ra tại Hiệp định TRIPs, Công ước Paris nhằm bảo hộ cả nhãn hiệu thông thường và các nhãn hiệu đặt biệt khác (NHTT, nhãn hiệu liên kết, NHCN, NHNT)
1.2 Khái quát về chỉ dẫn địa lý
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chỉ dẫn địa lý
Giá trị và lợi ích thu được từ những sản phẩm được bảo hộ CDĐL là rất lớn, không chỉ đối với các nền kinh tế phát triển mà còn đối với những nền kinh tế đang phát triển Cụ thể, việc xuất khẩu gạo Basmati vào năm 2007 giúp Ấn Độ thu được
Các chỉ dẫn này đã tồn tại rất lâu với nhiều sản phẩm có chất lượng cao, chiếm vị trí đặc biệt trên thị trường mà chỉ ở một khu vực địa lý riêng biệt mới có thể tạo ra Trong sản phẩm có sự kết hợp của các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” Khi nhắc các tên gọi nổi tiếng như “Champagne”, “Cognac”, Roquefort” “Chianti”, “Pilsen” thì người tiêu dùng sẽ lập tức liên tưởng đến các sản phẩm tự nhiên và có chất lượng
xuất giống nhau nhưng mỗi vùng địa lý lại cho ra chất lượng, mùi vị của rượu khác nhau Đó là đặc trưng trong sản phẩm của mỗi địa phương nhất định
32 Điều 87 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
33 Điều 75 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
34
Agriculture and Rural Development, Workshops on Geographical Indications: Agriculture and Rural
Development Development and use of specifi c instruments to market origin-based agricultural products in African-ACP countries, European Commission, tr.4,
http://ec.europa.eu/agriculture/sites/agriculture/files/events/2014/gi-workshops/training-brochure_en.pdf ,
truy cập ngày 20/5/2017
35 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tlđd 4, tr 119
Trang 25CDĐL được thừa nhận trên quy mô toàn cầu vào thời kỳ trung đại và thời kỳ đế quốc thuộc địa mặc dù không có một tuyên bố pháp lý nào Có nhiều ví dụ có thể làm sáng tỏ vấn đề này như: các loại gia vị ở Ấn Độ đã thúc đẩy Christopher Columbus căng buồm từ Châu Âu đến Ấn Độ, rượu Whisky của Scotch, ngựa Arabian, vải muslin Dhaka, thảm Kashimi, đồ dùng làm bằng đất sét của Trung Quốc, cao su Ấn Độ, khăn trải bàn Damask,… là một số ít những ví dụ để nói về sự
Tuy nhiên, mãi đến khi Công ước Paris được thông qua vào năm 1883 mới ghi nhận
Có giả định cho rằng, thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” hay “tên gọi xuất xứ hàng
Đây cũng được xem như xuất phát điểm cho việc ghi nhận và bảo hộ CDĐL
Sau đó, thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” được sử dụng phổ biến hơn Cụ thể, Thỏa ước Madrid về Chống các chỉ dẫn giả mạo hoặc lừa dối về nguồn gốc hàng hoá năm 1891 đã ghi nhận việc bảo hộ “chỉ dẫn nguồn gốc” tại Điều 1 của Thỏa ước này Hơn nữa, văn kiện tại Stockholm năm 1967 bổ sung Thỏa ước Madrid năm
1891 vẫn giữ nguyên thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” Đặt biệt, quy định tại Điều 2 Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ và Đăng ký tên gọi xuất xứ năm 1958 (Thỏa ước Lisbon) đã thay thế “chỉ dẫn nguồn gốc” thành “tên gọi xuất xứ hàng hóa” và đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ này
Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” được đề cập tại Quy định số 2081/92 của Hội đồng châu Âu ngày 14/7/1992 về Bảo hộ CDĐL và quyết định nguồn gốc của nông sản
chất toàn cầu của Hiệp định TRIPs, “chỉ dẫn địa lý” được sử dụng phổ biến tại các quốc gia khác nhau Có thể nói, “chỉ dẫn địa lý” là thuật ngữ thể hiện hay nhất và
phát từ vai trò trụ cột của Hiệp định TRIPs cùng với Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại năm 1994 và Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ năm 1995 trong WTO Xét thấy, WTO là một trong những Tổ chức quốc tế có số lượng thành
36
Varun Shukla (2016), “Historical development of geographical indication law under international arena” ,
International Journal of Law, vol 2, Issue 4, tr 1
37
“indications of source” hoặc “appellations of origin”
38
Varun Shukla, tlđd 36, tr 1
39 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tlđd 4, tr 119
40 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tlđd 4, tr 120
Trang 26viên nhiều nhất thế giới nên vô hình chung thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” cũng được thừa nhận một cách rộng rãi
Trong phạm vi quốc gia, với vai trò là thành viên của WTO, Việt Nam đã ghi nhận và bảo hộ bảo hộ chỉ CDĐL tại Điều 750.1, Điều 751.4 BLDS năm 2005 và Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) đã quy định cụ thể về CDĐL tại Điều 1.2 và các điều luật tương ứng để khẳng định “chỉ dẫn địa lý” là đối tượng của quyền SHCN thuộc quyền SHTT Trước đó, BLDS năm 1995 đã ghi nhận việc bảo hộ đối với “tên gọi xuất xứ hàng hóa”, đây được xem như ghi nhận đầu tiên của pháp luật Việt Nam về CDĐL Ngoài ra, còn có Nghị định số 63/CP của Chính phủ ngày 24/10/1996 Quy định chi tiết về SHCN (gọi là Nghị định 63/CP) Sau đó, tại Điều 10.1 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2000 Quy định về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, CDĐL, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN (gọi là Nghị định 54/2000/NĐ-CP) đã đưa ra điều kiện bảo hộ đối với CDĐL Và theo quy định tại Điều 10.2 của Nghị định số
54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000, nếu CDĐL là TGXXHH thì việc bảo hộ được thực
hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về TGXXHH Với quy định này, pháp luật
SHTT Việt Nam đã khẳng định CDĐL và TGXXHH là hai phạm trù khác nhau đồng thời cũng công nhận vai trò của việc bảo hộ CDĐL trước khi gia nhập WTO Ngoài
ra, việc bảo hộ CDĐL còn được ghi nhận tại các văn bản khác Cụ thể, Luật Cạnh tranh năm 2004 liên quan đến việc sử dụng, kinh doanh “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” được quy định tại Điều 39.1 và Điều 40 của Luật này
Tuy nhiên, trên thực tế, các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý đã xuất hiện từ sớm
, nước mắm Phú
- là đặc sản của huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Đến năm 2001, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Cục SHTT) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp văn bằng bảo hộ CDĐL đối với nước mắm Phú Quốc Và hơn 10 năm sau, vào ngày 08/10/2012, Ủy ban châu Âu cấp văn bằng bảo hộ xuất xứ địa lý đối với nước mắm Phú Quốc, chính thức thừa nhận nước mắm Phú Quốc được bảo hộ tại EU
41
Nguyễn Thanh Lợi (2016), “Nghề buôn nước mắm bằng đường thủy”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển,
số 4 (130)/2016, tr.3
42 Lương Thanh Hải (2014), Sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm
nước mắm, Dự án Hỗ trợ Chính sách thương mại và Đầu tư của Liên minh châu Âu (EU–MUTRAP), tr.2
Trang 27Có thể thấy, pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam đã thừa nhận nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa và bảo hộ chúng dưới dạng “chỉ dẫn địa lý” Xét thấy rằng, việc bảo hộ CDĐL cho các sản phẩm không chỉ góp phần phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa phương mà còn thúc đẩy các làng nghề thủ công, tập quán canh tác được phát triển, tạo nên danh tiếng và uy tín cho chính sản phẩm và cả vùng sản xuất Do đó, có thể giá của một sản phẩm được bảo hộ dưới dạng CDĐL trên thị trường cao hơn so với sản phẩm cùng loại Theo một cuộc điều tra người tiêu dùng được thực hiện tại EU năm 1999 thì có 40% khách hàng đồng ý chi trả cao hơn 10%
1.2.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lý
Dưới góc độ thương mại, CDĐL được hiểu là dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm và nguồn gốc này được xem là một trong các yếu tố cơ bản nói lên
gọi xuất xứ hàng hóa” được đề cập lần đầu tiên tại Công ước Paris năm 1883 và được xem như là tiền thân của “chỉ dẫn địa lý” Dù là đối tượng đã được ghi nhận và bảo hộ nhưng Công ước không đưa ra định nghĩa cho các khái niệm này và mãi cho đến khi Thỏa ước Lisbon năm 1958 ra đời, “tên gọi xuất xứ hàng hóa” được định nghĩa tại Điều 2 là:
Tên địa lý của một quốc gia, vùng hoặc địa phương cụ thể để chỉ rõ một sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý có môi trường địa lý riêng biệt và cần thiết để tạo ra chất lượng, đặc tính của sản phẩm, bao gồm yếu tố tự nhiên và nhân tạo
Sau đó, với sự ra đời của Hiệp định TRIPs, khái niệm của “chỉ dẫn địa lý”
được định nghĩa cụ thể tại Điều 22.1: “CDĐL là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt
nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”
Theo đó, khái niệm đã đề cập đến ba nội dung quan trọng, cụ thể: Thứ nhất, về
khái niệm “hàng hóa”, “hàng hóa” phải được hiểu theo nghĩa rộng và chung nhất,
không chỉ áp dụng trong công nghiệp mà còn áp dụng trong thương mại, các ngành
43
Briefing Paper (2013), “The Protection of Geographical Indications in India: Issues and Challenges”, The
Energy and Resources Institute, tr.1, http://www.teriin.org/div/briefing_paper_GI.pdf , truy cập ngày 10/7/2017
44
Lê Thị Thu Hà (2011), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp cho sản phẩm đặc sắc của địa phương, Nxb Thông Tin và Truyền Thông, tr.11
Trang 28sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác, sản phẩm nông nghiệp Tóm lại,
“hàng hóa” không bị giới hạn trong một ngành, một lĩnh vực cụ thể mà được hiểu dưới khía cạnh tổng quan nhất, đa dạng nhất Vấn đề này được thể hiện tại Điều 2.1
Thứ hai, về nơi bắt nguồn
của hàng hóa, Hiệp định TRIPs không quy định hình thức của CDĐL phải được thể
hiện là tên địa lý của địa phương nhất định mà có thể là các tên gọi khác, các từ ngữ địa phương, có thể là biểu tượng hay dấu hiệu, miễn là chỉ ra được sản phẩm mang nguồn gốc xuất xứ có được những đặc tính, uy tín, chất lượng là do chịu ảnh hưởng từ nơi xuất xứ của sản phẩm đó Bởi lẽ, chính những điều kiện tự nhiên và điều kiện về con người là những yếu tố quan trọng nhất để tạo ra các sản phẩm đặc trưng mà người tiêu dùng chấp nhận chi trả cao hơn so với những phẩm cùng loại Chính vì
Thứ
ba, về mối liên hệ giữa hàng hóa và khu vực địa lý, hàng hóa có danh tiếng nhất
định dựa trên những đặc điểm do khu vực địa lý mang lại nên việc thể hiện mối quan hệ giữa chúng là hoàn toàn cần thiết Điều đó không chỉ bảo đảm tính cạnh tranh của hàng hóa được bảo hộ CDĐL mà chính CDĐL cũng khẳng định vai trò cũng mình trong việc cung cấp thông tin về sản phẩm và chống lại các hành vi vi phạm, nhất là đối với việc “giả mạo” CDĐL để làm “hàng nhái”, hàng giả
Với Việt Nam, BLDS năm 1995 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa tại Điều
786: “TGXXHH là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt
hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó Định nghĩa này có những điểm
tương đồng với Thỏa ước Lisbon năm 1958 Tuy nhiên, khi quy định chi tiết về bảo
47 Nguyễn Thị Kim Cương (2006), Một số vấn đề về mối quan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu hàng hóa
theo quy định của TRIPs, Pháp luật Liên minh châu Âu và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr 5
48
Điều 7 Tên gọi xuất xứ hàng hoá:
1/ Một tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ phải là tên địa lý của một nước hoặc một địa phương là nơi mà hàng hoá tương ứng được sản xuất và hàng hoá đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lý (tự nhiên, con người) của nước, địa phương đó quyết định
Trang 29hạn ở việc TGXXHH muốn được bảo hộ phải là “tên địa lý của một nước hoặc một địa phương” Và một dấu hiệu, biểu tượng mang tính chỉ dẫn, mang tính đặc trưng nhưng không phải là tên địa lý thì sẽ không được bảo hộ Với quy định này, việc bảo hộ TGXXHH dễ dàng bị thu hẹp và mất đi tính đa dạng vì chỉ giới hạn trong phạm vi theo tên địa lý nhất định Bên cạnh đó, dù mang tên địa lý nhưng không còn khả năng phân biệt thì TGXXHH vẫn không được bảo hộ (điều này tương tự như nhãn hiệu) nên khả năng được bảo hộ lại càng thu hẹp hơn nữa Để đáp ứng, thúc đẩy và khuyến khích việc đăng ký bảo hộ CDĐL, Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 ra đời, nhưng không nêu ra định nghĩa về CDĐL Tuy nhiên, đây là bước khởi đầu của “chỉ dẫn địa lý” tại Việt Nam
Đến năm 2005, khi Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) ra đời, nội dung về quyền SHTT về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của WTO Khía cạnh về CDĐL được quy định tại Luật này được đánh giá là phù hợp và tương thích với quy định trong Hiệp định TRIPs về khái niệm và điều kiện bảo hộ Theo đó, định nghĩa CDĐL
được đề cập tại Điều 4.22 Luật SHTT năm 2005: “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ
sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”, với “sản phẩm” được đề cập ở đây được hiểu như “hàng hóa” Nhìn chung, cả
hai khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” và “chỉ dẫn địa lý” có những nét tương đồng với nhau và nhất là đối với yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ, kể cả đặc tính và chất lượng của sản phẩm Tuy nhiên, cần phân biệt “tên gọi xuất xứ hàng hóa” và
“chỉ dẫn địa lý” bên cạnh đó còn có “chỉ dẫn nguồn gốc” Sự khác nhau giữa CDĐL và TGXXHH được thể hiện như sau:
hóa
Chỉ dẫn địa lý
Nguyên liệu Phải có nguồn gốc từ
khu vực địa lý xác định
Không nhất thiết phải từ khu vực địa lý xác định
Chất lượng hoặc tính
chất đặc thù
Hoàn toàn hoặc chủ yếu có được do nguồn gốc địa lý (bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người)
Chủ yếu có được do nguồn gốc địa lý;
Có liên quan đến nguồn gốc địa lý;
Có danh tiếng
2/ Các đối tượng sau đây không được Nhà nước bảo hộ với danh nghĩa là tên gọi xuất xứ hàng hoá:
a) Các chỉ dẫn xuất xứ không phải là tên địa lý (kể cả các dấu hiệu mang tính chất biểu tượng của nước, địa phương là nơi xuất xứ của hàng hoá nhưng không phải là tên địa lý của nước, địa phương đó); b) Tên gọi xuất xứ hàng hoá đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá và đã mất chức năng chỉ dẫn xuất xứ hàng hoá đó
Trang 30ra sản phẩm sử dụng chỉ dẫn nguồn gốc phải được sản xuất tại địa phương riêng biệt, chịu sự tác động của các yếu tố về tự nhiên và nhân tạo như TGXXHH
Như vậy, khái niệm CDĐL được hiểu một cách khái quát và tổng quan, bao hàm cả khái niệm TGXXHH Định nghĩa về CDĐL trong Luật SHTT năm 2005
quy định thống nhất, không có sự phân biệt giữa CDĐL và TGXXHH được đặt ra tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 Việc quy định như vậy bảo đảm cho việc xây dựng một cơ chế bảo hộ thống nhất và thuận lợi trong việc quản lý, đăng ký và sử dụng CDĐL
1.2.3 Tiêu chuẩn bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 đã thừa nhận việc bảo hộ CDĐL nhưng chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể mà chỉ đề cập các căn cứ bảo hộ tại Điều 10.1 Cụ thể, đó là các căn cứ liên quan đến dấu hiệu để nhận biết nguồn gốc địa lý
của hàng hóa Thứ nhất, các điều kiện về “từ ngữ, dấu hiệu, hình ảnh” phần nào
tương đồng với nhãn hiệu nhưng khác ở chỗ là các “dấu hiệu” này phải cung cấp thông tin, làm sáng tỏ được đặc trưng, danh tiếng, chất lượng của sản phẩm và được thể hiện trên bao bì, trên chính hàng hóa hoặc giấy tờ có liên quan đến việc mua bán Nhìn chung, so với Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996, Nghị định 54/2000/NĐ-
CP ngày 03/10/2000 đã có sự mở rộng đối với “tên gọi” và suy rộng ra là cả về mặt
thủ tục Thứ hai, đặc điểm nổi bật của một sản phẩm được bảo hộ dưới dạng CDĐL
thể hiện ở đặc tính, chất lượng của nó có quan hệ với nguồn gốc (vị trí địa lý) đã tạo
49 Điều 18.1 Hiệp Định TPP: “chỉ dẫn địa lý là một dấu hiệu để nhận biết một mặt hàng có xuất xứ tại lãnh
thổ của một Bên, hoặc một vùng hoặc địa phương trong lãnh thổ đó, mà chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của mặt hàng đó chủ yếu do xuất xứ địa lý tạo nên”
Trang 31nên danh tiếng và uy tín cho chính sản phẩm mà không bắt buộc sản phẩm phải
được sản xuất tại vùng mang CDĐL Thứ ba, Điều 24.1.c Nghị định
54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 đề cập đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
Theo đó, CDĐL để được bảo hộ thì phải không gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá,…cho người tiêu dùng trong quá trình nhận biết, chọn lựa hàng hóa Quy định này nhằm bảo vệ chủ sở hữu chỉ dẫn thương mại đã đăng ký trước cũng như bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng
Quá trình đàm phán và gia nhập WTO là dấu mốc quan trọng khi xây dựng Luật SHTT của Việt Nam Theo đó, Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) không chỉ định nghĩa CDĐL mà còn đưa ra điều kiện bảo hộ cho đối tượng này tại Điều 79:
CDĐL được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Sản phẩm mang CDĐL có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với CDĐL;
2 Sản phẩm mang CDĐL có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu
do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với CDĐL đó quyết định
Với quy định như trên, điều kiện bảo hộ đối với CDĐL theo Luật SHTT năm
2005 (sửa đổi) có nhiều điểm tương đồng với Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 ở điểm phải thông tin được nguồn gốc địa lý có mối quan hệ với chất lượng, đặc tính, danh tiếng của sản phẩm Vậy câu hỏi đặt ra, làm thế nào để xác định danh tiếng, chất lượng của sản phẩm mang CDĐL? Song song đó còn phải xác định điều kiện địa lý và khu vực địa lý có liên quan đến CDĐL Những nội dung này lần lượt được quy định một cách rõ ràng, chi tiết tại Điều 81, 82, 83 Luật SHTT năm
2005 (sửa đổi) Theo đó, “danh tiếng” được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm; “chất lượng, đặc tính” mang tính chất khoa học được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về
50 Điều 130.2 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi): “Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các
dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá”
Theo đó, chỉ dẫn tương mại là một khái niệm rộng, hàm chứa nhãn hiệu và tên thương mại với mục đích là nhằm hướng dẫn thương mại Còn chỉ dẫn địa lý thể hiện thông tin về nguồn gốc địa lý của sản phẩm
Trang 32vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp phù hợp Xét về điều kiện địa lý liên quan đến CDĐL, đó là các yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang CDĐL Trong đó, yếu tố tự nhiên có thể kể đến như khí hậu, thủy văn, địa chất, hệ sinh thái,… còn yếu tố về mặt con người như kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất
Và khu vực địa lý mang CDĐL phải có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp một chỉ dẫn đáp ứng các điều kiện trên đều được bảo hộ dưới dạng CDĐL Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) cũng đã dự liệu trường hợp một đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa CDĐL tại Điều 80.3 Trước đó, vấn đề này được quy định tại Điều 10.3 Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000, cụ thể:
Trường hợp 1: Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở
Việt Nam Bởi vì một tên gọi chung sẽ làm mất đi tính độc quyền cho một hiệp hội tại địa phương và tên gọi này sẽ được sử dụng chung để gọi tên cho một loại sản
dẫn “Thụy Sĩ” hoặc “Bermuda” cho quần shorts vì những chỉ dẫn này được xem là chung chung Điều này cũng tương tự như trường hợp của rượu “Champagne” không được bảo hộ tại Việt Nam dưới dạng CDĐL Khi Pháp đề nghị Việt Nam công nhận “Champagne” là một CDĐL thì phía Việt Nam không đồng ý với lý do thuật ngữ “Champagne” phiên âm sang tiếng Việt là “sâm-panh” Ở Việt Nam, người ta không phân biệt “sâm-panh” là loại rượu đặc biệt, có nguồn gốc từ vùng
“Champagne” Với người Việt, “sâm-panh” được gọi chung cho một loại rượu vang, rượu khai vị
Trường hợp 2: Là CDĐL của nước ngoài mà tại nước đó CDĐL không được
bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng Xuất phát từ việc một CDĐL muốn được bảo hộ phải đăng ký theo Điều 88 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) và dựa trên nguyên tắc lãnh thổ của quyền SHCN, một CDĐL của nước ngoài để được bảo hộ tại Việt Nam thì trước hết phải được bảo hộ ở quốc gia sở tại Đây
51
Daniele Giovannucci - Tim Josling - William Kerr - Bernard O’Connor - May T Yeung (2009), Guide to
Georaphical indications – Linking products and their origins, International Trade Centre, tr.113
Trang 33là điều hoàn toàn khác với nguyên tắc bảo hộ tự động của quyền tác giả52
.Tính đến tháng 7/2013, sản phẩm rượu Cognac (Pháp), rượu Pisco (Peru), rượu Whisky (Scotch) là ba CDĐL nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam lần lượt qua các năm
2002, 2007, 2010 Trước khi được bảo hộ tại Việt Nam, chắc chắn những chỉ dẫn này phải được ở chính các quốc gia nêu trên
Trường hợp 3: CDĐL trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo
hộ, nếu việc sử dụng CDĐL đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm Một sản phẩm có nguồn gốc tại MONT BLANC muốn đăng ký bảo
hộ cho một hãng sản xuất bút máy nổi tiếng cũng là tên một ngọn núi tại Thụy Sĩ
Trường hợp 4: CDĐL gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc
địa lý thực của sản phẩm mang CDĐL đó Người tiêu dùng chấp nhận chi trả một mức giá cao hơn cho sản phẩm có chất lượng, nhất là những sản phẩm được gọi là
“đặc sản” Việc gây ra cách hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc sản phẩm làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng, uy tín, danh tiếng của sản phẩm và cả vùng sản xuất ra sản phẩm đó
Tóm lại, có thể thấy rằng một sản phẩm muốn được bảo hộ dưới dạng CDĐL hoàn toàn không dễ dàng Bên cạnh đó, quá tình trao đổi, tiếp xúc với các nền lập pháp tiên tiến trên thế giới, CDĐL tại Việt Nam cơ bản đã thoát khỏi rào cản của
“tên gọi xuất xứ hàng hóa” Dù tiêu chuẩn bảo hộ của CDĐL quả thật còn khó khăn nhưng một cánh cửa đã mở ra cho những sản phẩm của Việt Nam để có thể được bảo bộ CDĐL và nâng cao khả năng thương mại
52 Điều 5.2 Công ước Berne năm 1886: “Việc hưởng và thực hiện các quyền này không lệ thuộc vào một thể
thức, thủ tục nào; việc hưởng và thực hiện này hoàn toàn độc lập không tùy thuộc vào việc tác phẩm có được bảo hộ hay không ở Quốc gia gốc của tác phẩm”
53 Nguyễn Duy (2007), Xây dựng, đăng ký bảo hộ và phát triển chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr 17
Trang 34Kết luận Chương 1
Từ các nguồn tài liệu liên quan đến nhãn hiệu và CDĐL và việc tìm hiểu hai đối tượng này ở khía cạnh tổng quan và khái quát, có thể nhận thấy như sau:
Thứ nhất, dù được hình thành và phát triển ở những giai đoạn lịch sử khác
nhau nhưng nhãn hiệu và CDĐL có những đặc điểm tương đồng về uy tín, chất lượng cũng như danh tiếng và cũng tồn tại những khác biệt nhất định Nội dung về phân biệt cũng như quy trình đăng ký, xét đơn đối với nhãn hiệu và CDĐL được trình bày tại Phụ lục 01
Thứ hai, mối quan hệ mật thiết giữa hai đối tượng này được thể hiện thông qua
“dấu hiệu” và “khả năng phân biệt” Theo pháp luật SHTT Việt Nam, nhãn hiệu và CDĐL có những tiêu chuẩn bảo hộ riêng biệt Do đó, việc một dấu hiệu mang chỉ dẫn được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hay CDĐL không chỉ dựa trên mong muốn về mặt cá nhân của các chủ thể mà còn phải xem xét thời gian, tình hình sử dụng cụ thể
và tiêu chuẩn bảo hộ
Như vậy, với những điểm tương đồng và khác biệt và đặc điểm về “dấu hiệu” cùng với “khả năng phân biệt” trong mỗi đối tượng đã tạo nên mối quan hệ giữa nhãn hiệu và CDĐL không chỉ trong giai đoạn xác lập và thực thi quyền mà còn liên quan đến xung đột và giải quyết xung đột trong mối quan hệ giữa chúng
Trang 35CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÃN
HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Có thể nói, trong các đối tượng của quyền SHCN, có lẽ nhãn hiệu và CDĐL là
Và trên thực tế, nhiều CDĐL của Việt Nam được các doanh nghiệp trong và nước ngoài sử dụng hoặc đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu Do đó, để tìm hiểu rõ hơn về mặt pháp lý trong cơ chế xác lập quyền, bảo hộ và khả năng xung đột đối với nhãn hiệu và CDĐL, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa nhãn hiệu và CDĐL theo các khía cạnh dưới đây
2.1 Khía cạnh pháp lý về xác lập quyền trong mối quan hệ giữa nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lý
“Ở một số quốc gia, sự bảo hộ đối với CDĐL được pháp luật quy định như đối
nhận bảo hộ hai đối tượng này với cơ chế riêng biệt Dưới góc độ phân tích mối quan hệ giữa hai đối tượng này trong quan hệ xác lập quyền, pháp luật về SHTT Việt Nam tiếp cận mối quan hệ giữa nhãn hiệu và CDĐL chủ yếu liên quan đến
“dấu hiệu” và “khả năng phân biệt”
Theo quy định của Luật SHTT 2005 (sửa đổi), điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu được quy định tại Điều 72 và tại Điều 79 đối với CDĐL “Dấu hiệu” được sử dụng trong nhãn hiệu đa dạng và có thể bao gồm cả CDĐL Bởi lẽ, dù có đa dạng đến đâu thì “dấu hiệu” của CDĐL cũng phải mô tả được nguồn gốc của sản phẩm mà nhãn hiệu thì không chịu sự hạn chế nếu không thuộc trường hợp là các dấu hiệu không được bảo hộ quy định tại Điều 73 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) và các loại dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu theo Điều 39.2.b Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 14/02/2007 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN (gọi là Thông tư 01/2007/TT-BKHCN)
Các dấu hiệu dù mang tính chất thông thường hay chứa đựng đặc trưng, danh tiếng của sản phẩm thì vẫn có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu nếu cá nhân, tổ
54 Lê Thị Thu Hà, tlđd 44, tr.34
55 Phan Ngọc Tâm, tlđd 14, tr.50
Trang 36chức đăng ký bảo hộ56 và được Cục SHTT cấp phép Điều này dẫn đến tình trạng, khi một dấu hiệu chứa đựng các đặc trưng mà được chủ sở hữu xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu sẽ dẫn đến trường hợp “tư hữu” CDĐL trong tương lai Bởi vì, CDĐL là tài sản mang tính “công” và không thuộc quyền sở hữu riêng của một doanh nghiệp mà chúng được sử dụng chung bởi các cá nhân, tổ chức trong khu vực địa lý xác định, đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn bảo hộ và được chủ thể quản lý CDĐL đó cho phép Theo đó, quyền đăng ký CDĐL của Việt Nam thuộc về Nhà nước, cụ thể là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (UBND cấp tỉnh)57
Cá nhân, tổ chức, hiệp hội có thể được phép đăng ký nhưng họ không phải là chủ sở hữu Hơn nữa, Điều 121.4 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) tiếp tục khẳng định “chủ sở hữu CDĐL của Việt Nam là Nhà nước”, CDĐL là tài sản
Ngoài ra, dấu hiệu mang chỉ dẫn cũng hàm chứa khả năng phân biệt Theo Điều 80.3 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi), CDĐL dùng để phân biệt sản phẩm của các vùng Bởi vì, hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp tên gọi địa lý của nơi xuất xứ sản phẩm được bảo hộ trùng với tên của vùng địa lý khác59
Và đối với một dấu hiệu đã được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu nếu việc đăng ký CDĐL mà gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm sẽ không được bảo hộ Trường hợp này là một sự phân biệt gián tiếp dựa trên tính bắt buộc của khả năng phân biệt đối với nhãn hiệu Do đó, việc đồng ý bảo hộ cho cả CDĐL trong trường hợp gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ đồng nghĩa với việc làm mất đi khả năng phân biệt của nhãn hiệu Ngoài khả năng phân biệt một cách gián tiếp, những dấu hiệu trong CDĐL bắt buộc
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, khả năng phân biệt tồn tại trong cả CDĐL và nhãn hiệu Tuy nhiên, với tính chất là “tài sản công” của CDĐL, việc cân nhắc danh tiếng, sự phân biệt và khả năng thông tin của sản phẩm có chứa dấu hiệu
56
Điều 87.1 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi): Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng
hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp
57 Điều 19.4 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
58 Điều 139.2 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
59 Lê Việt Tuấn (2004), Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Trường ĐH Lund –Trường ĐH Luật TP Hồ Chí
Minh, tr.31
60 Vũ Thị Hải Yến, “Mối quan hệ giữa bảo hộ chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Luật Sở
hữu trí tuệ Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 10/2007, tr.47
Trang 37mang chỉ dẫn khi xem xét chấp nhận hay không chấp nhận bảo hộ đối với nhãn hiệu hay CDĐL của Cục SHTT là thực sự cần thiết Bởi vì, việc xác lập quyền đối với một dấu hiệu mang chỉ dẫn còn liên quan đến vấn đề về thời hạn bảo hộ
Cụ thể, đối với nhãn hiệu, hiệu lực của văn bằng bảo hộ là mười năm kể từ
hợp đối với NHNT Trước đây, Điều 10.1 Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 đưa ra nguyên tắc bảo hộ “vô thời hạn” đối với NHNT, nhưng Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi) không quy định cũng như không có các văn bản hướng dẫn cho vấn đề này Do
Một CDĐL để được bảo hộ với các điều kiện riêng biệt cũng đã khó khăn mà còn phải thể hiện những đặc tính ưu việt và giá trị của sản phẩm mang CDĐL lại càng khó hơn Đây cũng là một trong những căn cứ để Giấy chứng nhận đăng ký CDĐL
có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp Như vậy, tính chất vô thời hạn của CDĐL là mặc nhiên và trực tiếp được pháp luật thừa nhận trong khi nhãn hiệu được bảo hộ
vô thời hạn một cách gián tiếp dựa trên việc sử dụng và gia hạn đối với nhãn hiệu thông thường và sự nổi tiếng của NHNT
Tóm lại, khâu xác lập quyền là một khâu quan trọng đối với các tài sản trí tuệ nói chung và quyền SHCN nói riêng Đây là khâu cơ bản làm phát sinh các quyền và liên quan đến quá trình thực thi cũng như sử dụng đối với nhãn hiệu và CDĐL
Do đó, dấu hiệu, khả năng phân biệt và chức năng thông tin là những yếu tố quan trọng tác động đến vấn đề xác lập quyền đối với nhãn hiệu hay CDĐL
2.2 Khía cạnh pháp lý về mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa
lý trong việc bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL trong mối quan hệ của cả hai đối tượng được thể hiện cụ thể ở ba vấn đề sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu hàng hóa mang dấu hiệu của chỉ dẫn địa lý đã được bảo
hộ và ngược lại
- Nhãn hiệu mang dấu hiệu chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ
Khi một nhãn hiệu đã được bảo hộ tại một quốc gia, về nguyên tắc, chủ sở hữu
61 Điều 93.6 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
62 Phan Ngọc Tâm, tlđd 14, tr 228
Trang 38được độc quyền sử dụng63 Nhãn hiệu được cấu thành từ dấu hiệu, có thể bao gồm tên gọi riêng biệt được sử dụng trong kinh doanh nhưng cũng có thể chứa đựng dấu hiệu mang CDĐL đã được bảo hộ tại một quốc gia khác hay trong nội bộ quốc gia sở tại thì vấn đề này được giải quyết như thế nào? Quy định tại Điều 24.5 Hiệp định TRIPs đã đưa ra ngoại lệ đối với nhãn hiệu hàng hoá đã được nộp đơn đăng ký hoặc đã được đăng ký một cách có thiện chí hoặc các quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá
đạt được thông qua việc sử dụng một cách có thiện chí trước thời điểm thi hành các
quy định này ở nước Thành viên đó như quy định tại Phần VI về điều khoản chuyển tiếp thì nhãn hiệu đăng ký dù mang CDĐL cũng không bị từ chối bảo hộ với lý do
là có dấu hiệu trùng hoặc tương tự CDĐL
Đối với Việt Nam, nhãn hiệu vẫn có thể được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu mang chỉ dẫn không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa64
Ví dụ, “cam Vinh” là CDĐL được bảo hộ cho quả cam vào ngày 31/5/2007 Nếu một doanh nghiệp lấy dấu hiệu “Vinh” cho sản phẩm đồ may mặc sẽ không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của xuất xứ của hai sản phẩm Riêng trường hợp đối với rượu vang, rượu mạnh, dấu hiệu được sử dụng để đăng ký
cho rượu vang, rượu mạnh nếu có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang CDĐL mà
trùng hoặc có chứa hoặc phiên âm, dịch nghĩa từ CDĐL thì vẫn được xem là có khả
Nghĩa là, khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với rượu vang, rượu mạnh thì việc đăng
:
nghĩa, phiên âm từ CDĐL đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh;
khu vực địa lý mang chỉ dẫn
Ở đây, không xem xét việc người tiêu dùng có hiểu sai lệch về nguồn gốc hay không mà chỉ cần không có nguồn gốc từ khu vực địa lý thì không được bảo hộ Đây
63
Đinh Văn Thanh, Đinh Thị Hằng (2004), Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự, Nxb Công an nhân
dân, tr.60
64 Điều 74.2.l Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
65 Điều 74.2.m Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi)
66 Vũ Thị Hải Yến, tlđd 60, tr.54
Trang 39là điều khoản mà các nước thuộc EU yêu cầu tại Điều 23 Hiệp định TRIPs bởi vì châu Âu có nhiều sản phẩm mang CDĐL có giá trị kinh tế, danh tiếng trên thế giới
- Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ
Đây là trường hợp “các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam cho sản
phẩm trùng hoặc tương tự với sản phẩm mang CDĐL với ngày bắt đầu được bảo hộ sớm hơn ngày nộp đơn đăng ký CDĐL, kể cả các nhãn hiệu được bảo hộ theo các
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”67 Trên thực tế, dấu hiệu của nhãn hiệu có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, thậm chí có thể nói là rất đa dạng Câu hỏi đặt ra rằng, tại sao người ta vẫn chọn những dấu hiệu có liên quan đến nguồn gốc địa lý? Vấn đề này liên quan đến uy tín và sự tin tưởng của khách hàng đối với nhãn hiệu có nguồn gốc địa lý thông qua giá trị sản phẩm mang nhãn hiệu được sử dụng và tích lũy trong thời gian dài trên thị trường Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi), các nhãn hiệu như “vang Đà Lạt”,
“bia Sài Gòn”, “bánh phồng tôm Sa Đéc” đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi từ
Xu hướng hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế làm cho nguyên tắc lãnh thổ ngày càng được gần nhau và đòi hỏi cần có sự thay đổi để thích ứng Vì vậy, nguyên tắc lãnh thổ theo xu hướng mới cho phép sự đồng tồn tại đối với trường hợp tương tự hoặc giống hệt nhau về nhãn hiệu nếu chúng được sử dụng với những sản phẩm,
thể cùng tồn tại dưới dạng nhãn hiệu hay CDĐL
Như vậy, pháp luật SHTT Việt Nam chấp nhận bảo hộ đối với nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với CDĐL (đã được bảo hộ) và ngược lại Nguyên nhân là do tác động của xu hướng hội nhập và nguyên tắc lãnh thổ mới mà các sản phẩm, dịch vụ khác nhau có thể giống hoặc tương tự nhãn hiệu của nhau Điều này càng khẳng định vai trò của khả năng phân biệt trong mối quan giữa nhãn hiệu và CDĐL
Thứ hai, một “dấu hiệu” cùng là thành tố của nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Trường hợp này là một “dấu hiệu vừa có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, vừa có thể được bảo hộ dưới dạng CDĐL” nhưng xét trong trường hợp dấu
67 Mục 45.3.c.(i) Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007
68 Vũ Thị Hải Yến, tlđd 60, tr.48
69 Lê Việt Tuấn, tlđd 59, tr.72
Trang 40hiệu này chưa được bảo hộ trên thực tế Khi được sử dụng cùng với các nhãn hiệu,
Việt Nam chưa đề cập rõ vấn đề này Dựa trên tinh thần của Hiệp định TRIPs và
mà hiện nay là Quy định số 1151/2012 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu ngày 21/11/2012 về Chương trình chất lượng cao cho sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm (gọi là Quy định số 1151/2012) để nghiên cứu và xem xét nội dung sau:
- Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ sau chỉ dẫn địa lý
Nhãn hiệu sẽ bị từ chối bảo hộ nếu đơn đăng ký được nộp chậm hơn so với ngày nộp đơn đăng ký CDĐL cho sản phẩm cũng loại hoặc tương tự theo Điều 14.1(i) của Quy định số 1151/2012 Vì công nhận bảo hộ nhãn hiệu sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và ảnh hưởng đến sự khai thác danh tiếng của CDĐL Hơn nữa, “dấu hiệu” này mang nghĩa đặc biệt đối với lợi ích chung của cộng đồng Bên cạnh đó, dấu hiệu mang chỉ dẫn cũng liên quan đến việc xem xét vấn đề được đặt ra theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và điều kiện về khả năng phân biệt trong nhãn hiệu cũng như yếu tố cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, các nhà sản xuất đã và đang ngày càng nổ lực vừa tạo ra sản phẩm có chất lượng vừa tạo những khác biệt nhất định nhằm tăng khả năng bảo hộ đối với nhãn hiệu trong trường hợp này
Vấn đề được đặt ra tại nội dung này cũng có thể được xem xét đối với trường hợp CDĐL và nhãn hiệu đồng thời được đăng ký bảo hộ dựa trên cơ sở xem xét đơn, sự cân nhắc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ trước chỉ dẫn địa lý
Vấn đề đã được đặt ra tại Điều 14.2 của Quy định số 2081/92 và được tiếp tục quy định tại Điều 14.2 Quy định số 1151/2012, nếu một nhãn hiệu được đăng ký hoặc sử dụng trước đó một cách thiện chí (“in good faith”) thì có thể được bảo hộ Theo quy định này, nếu việc sử dụng nhãn hiệu là thiếu căn cứ, không rõ ràng hoặc
do thiếu hiểu biết về vị trí địa lý thì cần được mở rộng bảo hộ Bởi lẽ, chủ thể đăng ký “dấu hiệu” không cố ý đăng ký nhưng do nhầm lẫn hoặc thiếu hiểu biết khi mà CDĐL cũng chưa được bảo hộ Hơn nữa, trên thế giới hay trong một quốc gia thì có
70
Daniele Giovannucci - Tim Josling - William Kerr - Bernard O’Connor - May T Yeung, tlđd 51, tr.xiii
71
Council Regulation (EEC) No 2081/92 of 14 July 1992 on the protection of geographical indications and
designations of origin for agricultural products and foodstuffs,
http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=1412 , truy cập ngày 07/6/2017