- Phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động, bao gồm các biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động, các hà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
PHẠM THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA –
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Dân Sự Niên khóa: 2013 - 2017
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
PHẠM THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA –
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Dân Sự Niên khóa: 2013 – 2017
Người hướng dẫn khoa học: PGT.TS Trần Hoàng Hải Người thực hiện: Phạm Thị Nhung
MSSV: 1353801015205 Lớp: 45-AUF38
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau gần bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, em đã tích lũy được cho bản thân vốn kiến thức hữu ích cũng như khả năng tư duy, phân tích các vấn đề pháp lý để vận dụng những kiến thức đã học vào quá trình nghiên cứu đề tài “Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động tại một số quốc gia – Kinh nghiệm đối với Việt Nam”
Để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình em học tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Trần Hoàng Hải người đã quan tâm và góp ý đối với công trình này thật sự khiến cho em vô cùng xúc động Một lần nữa, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thầy
Cuối cùng, em xin cảm ơn Cô Huỳnh Thị Thu Trang và Cô Nguyễn Thị Khánh Phương (Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học và Hợp tác Quốc tế), gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và đưa ra những lời khuyên trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tác giả, không hề sao chép từ luận văn của tác giả khác Khóa luận là kết quả của quá trình nghiên cứu, tham khảo các nguồn tài liệu cùng với sự định hướng và hỗ trợ của
PGS.TS Trần Hoàng Hải Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình
nghiên cứu của mình
Người viết
Phạm Thị Nhung
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ được viết tắt
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 5
1.1 Định nghĩa và đặc điểm về bí mật kinh doanh 5
1.1.1 Định nghĩa bí mật kinh doanh 5
1.1.2 Đặc điểm của bí mật kinh doanh 7
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 10
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 11
1.3.1 Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 11
1.3.2 Các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 13
1.3.3 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 25
2.1 Quy định của Cộng hòa Liên bang Đức về bảo vệ bí mật thương mại trong quan hệ lao động 25
2.1.1 Định nghĩa bí mật thương mại 25
2.1.2 Các hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 26
2.1.3 Biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 29
2.1.4 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 33
2.1.5 Kết luận 36
2.2 Quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ bí mật thương mại trong quan hệ lao động 36
Trang 72.2.1 Định nghĩa bí mật thương mại 37
2.2.2 Các hành vi chiếm đoạt trái phép bí mật thương mại trong quan hệ lao động 38
2.2.3 Các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 39
2.2.4 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 40
2.2.5 Kết luận 42
2.3 Quy định của Cộng hòa Indonesia về bảo vệ bí mật thương mại trong quan hệ lao động 43
2.3.1 Định nghĩa bí mật thương mại 43
2.3.2 Hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 44
2.3.3 Các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 44
2.3.4 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động 45
2.3.5 Kết luận 45
2.4.Bài học rút ra từ quy định của một số quốc gia và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động 46
2.4.1 Phạm vi thông tin được coi là bí mật kinh doanh 46
2.4.2 Điều khoản bảo mật bí mật kinh doanh 49
2.4.3 Xác định thiệt hại nghiêm trọng 54
2.4.4 Biện pháp bồi thường thiệt hạitrong quan hệ lao động 54
2.4.5 Biện pháp hình sự 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh miễn là không trái với quy định của pháp luật Để cạnh tranh và thành công trong hoạt động kinh doanh, sản xuất thì các doanh nghiệp cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực này luôn có những thông tin bí mật riêng, những thông tin này chính là bí mật kinh doanh của họ, nó là bí quyết, mang lại những ưu thế, đôi khi nó là yếu tố quyết định sự thành công cho chủ thể sở hữu nó
Hiểu được tầm quan trọng cũng như giá trị kinh tế mà bí mật kinh doanh mang lại nên các doanh nghiệp luôn tìm kiếm, áp dụng các biện pháp để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình vì trên thực tế nguy cơ bí mật kinh doanh bị xâm phạm rất cao Đặc biệt là trong quan hệ lao động, người lao động có thể có được bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thông qua quá trình làm việc cho người sử dụng lao động, từ
đó làm phát sinh các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Các hành vi này có thể diễn ra ngay trong quá trình người lao động làm việc tại doanh nghiệp hoặc cũng có thể phát sinh sau khi hợp đồng lao động chấm dứt
Tuy nhiên hiện tại, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động chưa chi tiết, rõ ràng, chỉ là có quy định chứ chưa đi sâu vào giải quyết vấn đề Vì vậy, còn tồn tại rất nhiều bất cập trên thực tế,
do đó, để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước thì một trong các phương pháp hữu hiệu đó là học hỏi kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác và chọn lọc áp dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động là một vấn đề mang tính chuyên sâu và cấp thiết hiện nay Tuy bí mật kinh doanh là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nhưng tác giả không nghiên cứu đề tài này ở góc độ của pháp luật sở hữu trí tuệ, mà nghiên cứu nó dưới góc độ của pháp luật lao động Hiện tại, có một vài công trình nghiên cứu về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động, mặc dù các công trình này nghiên cứu dưới góc nhìn của luật Sở hữu trí tuệ nhưng nó cũng là một nguồn tài liệu giúp tác giả có góc nhìn tổng quát hơn
Đề tài thứ nhất, Quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động – Lý Quảng Quyền, Khóa luận cử nhân, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đề cập
Trang 9đến các quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ lao động Công trình phân tích thực trạng áp dụng luật để giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong quan
hệ lao động, đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật cả
về lý luận lẫn thực tiễn
Đề tài thứ hai: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam – Trần Thi Kim Huế, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài chủ yếu nghiên cứu về Luật
Sở hữu trí tuệ, về thực trạng bí mật kinh doanh và đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh
Đề tài thứ ba: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật lao động – Nguyễn Hoàng Yến, Luận văn cử nhân, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Đề tài này nghiên cứu về cạnh tranh trong pháp luật lao động, thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
Ngoài ra, còn có một số bài viết như: Nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động của tác giả Lê Thị Thúy Dương, Nguyễn Hồ Bích Hằng trên Tạp chí Khoa học pháp lý Bài viết phân tích các quy định của pháp luật về bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động và các kiến nghị
Bài viết: Bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về bí mật kinh doanh trong mối tương quan với quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật các nước của tác giả Nguyễn Thái Mai trên Tạp chí Luật học Bài biết nêu thực trạng các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về bí mật kinh doanh, so sánh với quy định của Điều ước quốc tế và các quốc gia khác, đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định trong nước
Và bài viết: Điều khoản bảo mật-hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động của tác giả Đoàn Thị Phương Diệp trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Bài viết phân tích các quy định của pháp luật về điều khoản bảo mật, hạn chế cạnh tranh, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tuy mỗi bài viết đều có phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng chúng cũng có liên quan ít nhiều đến đề tài “Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động tại một số quốc gia – kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả
3 Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả nghiên cứu nhằm làm rõ tầm quan trọng của bí mật kinh đối với các doanh nghiệp, từ đó thấy được sự cần thiết của việc bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Đồng thời, tìm hiểu thực trạng các quy định của pháp
Trang 10luật Việt Nam về vấn đề này, chỉ ra những điểm bất cập trên thực tế và nghiên cứu quy định của pháp luật nước ngoài để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước Khóa luận góp phần làm rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn
đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Đồng thời, khóa luận cũng nêu những bất cập, vướng mắc trên thực tế và đưa ra hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước dựa trên việc học hỏi, chọn lọc các quy định của các quốc gia khác
về vấn đề này Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này Và tác giả hy vọng nó sẽ giúp ích được phần nào đó cho các nhà lập pháp trong việc xây dựng hệ thống pháp luật trong nước
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định của pháp luật về vấn
đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Cụ thể khóa luận tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề sau:
- Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ bí mật kinh doanh như: định nghĩa và đặc điểm của bí mật kinh doanh, sự cần thiết phải bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan
hệ lao động
- Phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động, bao gồm các biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh do người lao động thực hiện và biện pháp xử lý các hành vi xâm phạm này
- Phân tích quy định của pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Indonesia về vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan
vệ bí mật kinh doanh, các hành vi xâm phạm cũng như các biện pháp xử lý đối với các hành vi này
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong từng chương tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong toàn bộ 2 chương của khóa luận Tại chương 1 tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích định nghĩa, đặc điểm của bí mật kinh doanh và các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Chương 2 tác giả sử dụng phương pháp phân tích để phân tích những quy định pháp luật của một số quốc gia về bảo
vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động, đồng thời phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành của Việt Nam về vấn đề này, từ đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm hoàn thiện hơn quy định của pháp luật
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để so sánh quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành với quy định của pháp luật một số quốc gia về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ khóa luận, trên cơ sở các tài liệu đã phân tích, so sánh, tác giả sử dụng phương pháp này để tổng hợp, khái quát lại những vấn đề đã nêu ra, làm cơ sở đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
6 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động Chương 2: Quy định của một số quốc gia về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động và một số kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH
TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1.1 Định nghĩa và đặc điểm về bí mật kinh doanh
1.1.1 Định nghĩa bí mật kinh doanh
Hiện nay, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cụ thể là trong sở hữu công nghiệp, có rất nhiều thuật ngữ được dùng để chỉ những thông tin mang tính bí mật và có giá trị được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại đó là bí mật thương mại (trade secrets), thông tin bí mật (confidential information) hay bí mật kinh doanh (business secrets) Trong đó, thuật ngữ bí mật thương mại được sử dụng phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ lại sử dụng
thuật ngữ thông tin bí mật (confidential information) Theo quy định tại khoản 1
Điều 2 chương II Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thì: “Thông tin bí mật bao gồm bí mật thương mại, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật quốc gia của bên liên quan” Từ định nghĩa này có thể thấy, thông tin bí mật là thuật ngữ có phạm vi rộng bao gồm tất cả các thông tin chưa bị công khai, tiết lộ
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) không sử dụng thuật ngữ bí mật kinh
doanh hay thông tin bí mật mà lại sử dụng thuật ngữ bí mật thương mại (Trade
secrets) Theo cách giải thích của WIPO thì bí mật thương mại được hiểu là “bất kì thông tin bí mật thương mại nào cung cấp cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh thì được coi là bí mật thương mại Bí mật thương mại bao gồm bí mật sản xuất, bí mật công nghiệp hoặc bí mật kinh doanh”1 Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy rằng dù sử dụng thuật ngữ khác nhau nhưng nội hàm chung của chúng chính là những thông tin bí mật được sử dụng trong kinh doanh Tuy nhiên, khi so sánh với các cách định nghĩa trên thì định nghĩa bí mật kinh doanh theo quy định của Luật SHTT 2005: “Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt động đầu tư
1
“What is a Trade Secret”, http://www.wipo.int/sme/en/ip_business/trade_secrets/trade_secrets.htm, truy cập ngày 25/5/2017
Trang 13tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”2 còn chung chung, chưa rõ ràng Hơn nữa, cho đến thời điểm hiện tại, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT 2005 cũng không giải thích gì thêm về định nghĩa này Trong khi đó, pháp luật của các nước khác trên thế giới đưa ra định nghĩa về bí mật thương mại khá rõ ràng và chi tiết Theo pháp luật của Hoa Kỳ thì bí mật thương mại là: “thông tin, bao gồm công thức, mẫu, biên soạn, chương trình, thiết bị, phương pháp, kỹ thuật hoặc quy trình, mà: (i) có giá trị kinh tế độc lập, thực tế hoặc tiềm năng, chưa được biết đến rộng rãi và chưa được xác định bằng các phương tiện phù hợp bởi những người khác có thể có được giá trị kinh tế từ việc tiết
lộ hoặc sử dụng, và (ii) chịu những nỗ lực hợp lý để duy trì bí mật”3
Ngoài ra, Luật Bảo vệ Bí mật thương mại của Hoa Kỳ (Defend Trade Secrets Act – DTSA) đưa ra định nghĩa bí mật thương mại như sau: “tất cả các hình thức và các loại thông tin tài chính thương mại, khoa học, kỹ thuật, kinh tế bao gồm các mô hình, đồ án, tác phẩm, bưu phẩm, biên soạn, thiết bị chương trình, công thức, thiết kế nguyên mẫu, phương pháp, kỹ thuật, quy trình, chương trình hoặc mật mã dù hữu hình hay vô hình được lưu trữ, soạn thảo hay ghi lại cụ thể dưới dạng điện tử, đồ họa, hình ảnh hoặc bằng văn bản; (A) chủ sở hữu của nó đã có biện pháp hợp lý để giữ bí mật thông tin đó; Và (B) thông tin có được giá trị kinh tế độc lập, thực tế hoặc tiềm năng, không được công bố rộng rãi và không thể dễ dàng xác định bằng các phương tiện phù hợp”.4
Không chỉ trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Liên Bang Nga cũng giải thích rằng bí mật thương mại là “thông tin khoa học kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tài chính kinh tế hoặc những thông tin khác bao gồm cả bí quyết sản xuất, đó là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, những thông tin về phương pháp trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, có giá trị thương mại, được chủ sở hữu bảo mật ngăn không cho bên thứ ba biết đến”.5
Tương
tự như vậy, theo pháp luật Nhật Bản, bí mật thương mại là “thông tin kỹ thuật hay thông tin hữu ích mà chủ sở hữu có được trong hoạt động thương mại như quy trình sản xuất, phương pháp tiếp thị Những thông tin này được giữ bí mật và không được bộc lộ công khai đến công chúng”.6
Qua các quy định trên có thể thấy rằng các điều kiện để một thông tin được xem là bí mật kinh doanh theo quy định của các
Trang 14nước tương đồng với quy định của Việt Nam, đó là: (i) không được nhiều người biết đến; (ii) hữu ích cho hoạt động kinh doanh và (iii) được giữ bí mật Tuy nhiên, khác với pháp luật Việt Nam, khi nêu ra các điều kiện thì pháp luật của các nước này còn giải thích, liệt kê phạm vi thông tin bí mật theo nghĩa rộng, bao gồm cả thông tin trong lĩnh vực kinh doanh và khoa học, kỹ thuật
Theo tác giả, bí mật kinh doanh là những thông tin trong lĩnh vực kinh doanh
và khoa học, công nghệ bao gồm: danh sách khách hàng, chiến lược thị trường, tài liệu tính toán, bí quyết kỹ thuật, bản vẽ thi công và các thông tin khác thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm của bí mật kinh doanh
Không giống như những tài sản khác, bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ, tồn tại ở dạng thông tin, được chủ sở hữu đầu tư về trí tuệ cũng như tài chính Đây là một loại tài sản khá đặc biệt vì nó có những đặc điểm mang tính đặc trưng Nhìn chung thì bí mật kinh doanh có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, bí mật kinh doanh là một loại tài sản vô hình Như đã biết, bí mật
kinh doanh tồn tại dưới dạng thông tin, những thông tin này sẽ mang đến cho người nắm giữ nó những hiểu biết, những điều kiện mà dựa vào đó người này có thể tiến hành hoạt động kinh doanh Và những thông tin này không phải là những hiểu biết thông thường, do đó, để có được những thông tin này, chủ sở hữu đã đầu tư rất nhiều cả về trí tuệ lẫn tài chính Tuy hiện tại pháp luật Việt Nam chưa giải thích
“hiểu biết thông thường” là như thế nào, nhưng theo tác giả thì nên hiểu là ngay cả những người thường xuyên làm việc, tiếp xúc với những thông tin này cũng không nhận thức được hoặc không dễ dàng nhận thức được các thông tin này Cách hiểu này cũng phù hợp với cách giải thích của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Theo Hiệp định TRIPs và Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thì “không phải là hiểu biết thông thường” có nghĩa là một người với sự hiểu biết trung bình thì khó có thể biết và áp dụng những thông tin này một cách hiệu quả Chính vì vậy, một thông tin mà tất cả mọi người đều dễ dàng nhận thức và vận dụng được thì không được coi là “không phải hiểu biết thông thường”
Thứ hai, bí mật kinh doanh là những thông tin mang tính bí mật Tính bí mật
là đặc trưng và là yếu tố quyết định đối với bí mật kinh doanh Một thông tin sẽ
Trang 15không được coi là bí mật kinh doanh nếu nó thỏa mãn các điều kiện còn lại nhưng thiếu đi tính bí mật Theo quy định hiện hành của Việt Nam thì tính bí mật được xác định dựa trên hai tiêu chí, đó là không phải hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được Trong khi các quốc gia khác, tiêu biểu là Hoa Kỳ thì tính bí mật của một thông tin được xác định dựa trên nhiều yếu tố như: 1 Mức độ thông tin được người bên ngoài doanh nghiệp biết đến; 2 Mức độ của biện pháp được chủ sở hữu
áp dụng để duy trì tính bí mật của thông tin; 3 Sự dễ hoặc khó để người khác tiếp cận hoặc nhân bản thông tin mà không sử dụng biện pháp bất hợp pháp Trong các yếu tố trên thì Tòa án của Hoa Kỳ coi việc xác định mức độ hiểu biết và sự tiếp cận của công chúng ở ngoài doanh nghiệp đối với thông tin là yếu tố quyết định7
Thứ ba, bí mật kinh doanh là những thông tin có giá trị, được áp dụng trong
kinh doanh và khi được sử dụng nó sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng nó Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đều có những thông tin bí mật của riêng doanh nghiệp mình Trong hoạt động kinh doanh, sản xuất, những thông tin này thường mang lại nhiều lợi thế cho doanh nghiệp nói chung và cho chủ sở hữu nói riêng như tạo cơ hội cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp cũng như mang lại lợi nhuận lớn cho chủ sở hữu Chính vì thông tin có giá trị nên cần sự bảo hộ của pháp luật và cần chủ sở hữu giữ bí mật
Thứ tư, bí mật kinh doanh được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần
thiết để không bị tiết lộ Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì bí mật kinh doanh luôn là mục tiêu nhòm ngó không chỉ của các đối thủ cạnh tranh mà còn của nhân viên không có lòng trung thành vì nó mang lại rất nhiều lợi thế cho người nắm giữ Do đó, trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải có những biện pháp phù hợp để đảm bảo các thông tin bí mật của mình không bị tiết lộ hay đánh cắp, vì một khi các thông tin này bị lộ thì nó sẽ không còn là bí mật kinh doanh nữa và doanh nghiệp có thể sẽ không còn hoặc mất
đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường
Thứ năm, bí mật kinh doanh được bảo hộ theo cơ chế tự động Theo Luật
SHTT 2005, phần lớn, căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đều dựa trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục
7
Nguyễn Thái Mai (2012), “Bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về bí mật kinh doanh trong mối tương
quan với quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật các nước”, Tạp chí Luật học, 7/2012, tr.40-41
Trang 16đăng kí luật định hoặc công nhận đăng kí quốc tế theo quy định của điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, có một số đối tượng được bảo hộ tự động
mà không phải qua một thủ tục pháp lý nào, một trong những đối tượng đó là bí mật kinh doanh
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT 2005 thì: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó” Như vậy, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh phát sinh vào thời điểm bí mật kinh doanh đó đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định mà không phải thông qua bất kì thủ tục đăng kí nào Vì bí mật kinh doanh là một loại tài sản vô hình, có giá trị kinh tế cao, dễ bị tiết lộ và đánh cắp nên quy định như trên
là hoàn toàn hợp lý và nó cũng phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Những đặc điểm mà tác giả vừa phân tích là những đặc điểm của bí mật kinh doanh trong các quan hệ dân sự nói chung Còn trong quan hệ lao động, bí mật kinh doanh có các đặc điểm đặc thù sau:
Thứ nhất, tính bí mật của bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động chỉ mang
tính tương đối vì được cả NSDLĐ và người lao động (NLĐ) biết đến Đa phần, trong các quan hệ khác, chỉ có chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc những người được chủ sở hữu trao quyền mới có thông tin về bí mật kinh doanh Tuy nhiên, để trở thành một bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động thì bí mật kinh doanh này phải được biết đến bởi cả hai bên, NSDLĐ sẽ phải cung cấp các thông tin thuộc bí mật kinh doanh có liên quan đến công việc của NLĐ cho họ biết, vì nếu không có các thông tin này thì NLĐ không thể thực hiện được công việc mà NSDLĐ giao Điều này có nghĩa là, bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động phải được sử dụng trong quan hệ lao động, nhằm mục đích duy trì quan hệ lao động Tuy nhiên, không phải mối quan hệ lao động nào cũng sử dụng bí mật kinh doanh và không phải tính chất công việc nào cũng đòi hỏi NLĐ phải biết bí mật kinh doanh Do đó, bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động chỉ phát sinh trong một số lĩnh vực nhất định và với những NLĐ làm việc ở những vị trí nhất định8
8
Khoản 2 Điều 23 BLLĐ 2012
Trang 17Thứ hai, các biện pháp chủ sở hữu dùng để bảo vệ bí mật kinh doanh của
mình trong quan hệ lao động và trong các quan hệ khác không giống nhau Trong các quan hệ khác, chủ sở hữu sẽ sử dụng các biện pháp nhằm không để cho người khác biết đến bí mật kinh doanh của họ; còn trong quan hệ lao động, vì cả NLĐ và chủ sở hữu đều biết đến bí mật kinh doanh nên biện pháp được sử dụng trong trường hợp này là quy định trách nhiệm bảo mật cho NLĐ nhằm ngăn chặn bên thứ
ba biết đến bí mật kinh doanh
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động
Thứ nhất, bí mật kinh doanh tạo ra nhiều lợi thế mang tính chất thương mại cho
chủ sở hữu Như chúng ta đã biết, bí mật kinh doanh đóng vai trò vô cùng quan
trọng, nó được xem là bí quyết thành công của doanh nghiệp Ở các nước công nghiệp phát triển, nhất là ở Hoa Kỳ, nhiều công ty đã đạt được sự thống trị trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định nhờ có trong tay bí mật thương mại9
Thứ hai, bí mật kinh doanh dễ bị tiết lộ và đánh cắp vì đặc tính vô hình và có
giá trị kinh tế cao của nó Với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ như ngày nay thì nguy cơ bí mật kinh doanh bị xâm phạm ngày càng gia tăng, điều đó cũng có nghĩa là việc bảo vệ bí mật kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn hơn Đặc biệt là trong quan hệ lao động, trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp, NLĐ
có thể tiếp xúc với ít nhiều các thông tin bí mật của doanh nghiệp, NLĐ có thể bị các doanh nghiệp khác lôi kéo để, xúi giục để có được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp mà NLĐ đang làm việc Trong trường hợp này có thể làm phát sinh hành vi gián điệp kinh tế, người thực hiện hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh thường phục vụ vì lợi ích của người thứ ba nhằm làm hại chủ sở hữu bí mật kinh doanh Việc bí mật kinh doanh bị tiết lộ đã gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp đã phải mất rất nhiều thời gian cũng như phải trả chi phí rất cao cho việc bảo vệ bí mật kinh doanh của mình vì biết rằng nó luôn là mục tiêu của các đối thủ cạnh tranh Để xử lý tốt các trường hợp gián điệp kinh tế, pháp luật nên có những quy định thống nhất trong các luật có liên quan, đặc biệt là luật Lao động, nếu không sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn và không áp dụng được trên thực tiễn Ngoài ra, NLĐ được pháp luật cho phép tự do làm việc ở bất kì đâu và cho bất kì NSDLĐ nào, do đó, trong quá trình chuyển đổi công việc, họ có thể mang theo những thông
9
Nguyễn Thanh Tâm (2006), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nxb Tư Pháp, tr.25
Trang 18tin thuộc bí mật kinh doanh của NSDLĐ cũ để áp dụng ở nơi làm việc mới Thêm vào đó, khi quan hệ lao động chấm dứt , NLĐ có thể làm lộ, vẫn tiếp tục sử dụng hay bán các thông tin bí mật đó cho các doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp
cũ Theo pháp luật của nhiều nước, NLĐ phải chịu trách nhiệm bảo mật với NSDLĐ thậm chí ngay khi không có các thỏa thuận trong hợp đồng lao động Trách nhiệm giữ các thông tin bí mật của NSDLĐ thường được duy trì, ít nhất là trong một thời hạn xác định, thậm chí cả sau khi người làm lao động đã thôi việc10 (nghỉ hưu) Từ đó đòi hỏi pháp luật phải xây dựng cơ chế bảo vệ bí mật kinh doanh cho các doanh nghiệp cũng như cân bằng lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ
Thứ ba, bí mật kinh doanh được bảo hộ lâu dài nên tạo tính cạnh tranh và độc
quyền cao Không như những tài sản trí tuệ khác, bí mật kinh doanh được bảo hộ tự động khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định và thời hạn bảo hộ cũng không bị hạn chế, nghĩa là khi nào thông tin còn đáp ứng các điều kiện thì thông tin bí mật đó còn được bảo hộ Chính vì vậy, NSDLĐ thường chọn bảo hộ những thông tin, kiến thức mang tính nhạy cảm như quy trình sản xuất, công thức chế tạo sản phẩm, dưới
hình thức bảo hộ bí mật kinh doanh
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan
hệ lao động
1.3.1 Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động
Như đã phân tích ở trên, bí mật kinh doanh có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp nói chung và NSDLĐ nói riêng Là một loại tài sản vô hình và có giá trị cao nên bí mật kinh doanh rất dễ có nguy cơ bị xâm phạm, đặc biệt là trong quan hệ lao động, khi làm việc tại doanh nghiệp, NLĐ có thể tiếp xúc và biết được những thông tin bí mật của NSDLĐ, từ đó làm phát sinh các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động chưa được pháp luật Việt Nam đề cập mà chỉ mới có quy định về các hành vi vi phạm bí mật kinh doanh nói chung cho các lĩnh vực
Khoản 1 Điều 127 Luật SHTT 2005 liệt kê các hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm: “Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí
10
Hoàng Dũng, “Bảo hộ bí mật kinh doanh”,
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/06/11/116008/, 13/7/2017
Trang 19mật kinh doanh đó; Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó; Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh; Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của
cơ quan có thẩm quyền; Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa
vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi nêu trên” Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định xâm phạm bí mật kinh doanh là một trong những hành vi cạnh trạnh không lành mạnh11 Mặc dù đây là quy định về các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nói chung cho các lĩnh vực nhưng việc pháp luật quy định cụ thể các hành vi vi phạm như vậy mang ý nghĩa thiết thực trong việc xác định chính xác và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh cũng như bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho chủ sở hữu
Trên thực tế, trong quan hệ lao động, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh diễn ra khá phổ biến và chủ thể thực hiện hành vi này luôn là NLĐ Nếu căn cứ vào thời gian thì hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động được chia thành hai nhóm, nhóm các hành vi xảy ra trong quá trình lao động và nhóm các hành vi xảy ra sau khi chấm dứt quan hệ lao động Thứ nhất, trong quá trình lao động, NLĐ có thể tiết lộ, sử dụng một cách trái phép các thông tin thuộc bí mật kinh doanh hoặc bị các doanh nghiệp cạnh tranh lôi kéo nhằm tiếp cận bí mật kinh doanh bởi các thông tin mà NLĐ thu được trong quá trình làm việc ở doanh nghiệp này có thể sẽ tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp khác Thứ hai, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh thường xảy
ra là NLĐ vi phạm các thỏa thuận bảo mật/hạn chế cạnh tranh mà mình đã cam kết Hành vi vi phạm các cam kết này khá đa dạng, có thể là NLĐ làm việc cho đối thủ cạnh tranh trong thời gian và không gian đã cam kết; hoặc có thể chính NLĐ tự kinh doanh trong lĩnh vực đã cam kết và cạnh tranh với doanh nghiệp mình đã từng làm việc; hoặc cũng có thể là khi NLĐ nghỉ hưu hay không làm việc cho doanh nghiệp nữa nhưng họ sẽ vẫn còn nhớ những thông tin mà họ tiếp xúc trong quá trình lao động và họ vẫn tiếp tục sử dụng những thông tin này hoặc tiết lộ, bán chúng cho người khác
11
Khoản 2 Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004
Trang 20Như vậy, để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình cũng như ngăn chặn các hành
vi xâm phạm của NLĐ thì NSDLĐ cần phải có các biện pháp thích hợp
1.3.2 Các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
trong quan hệ lao động
Hiện nay, về vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động, pháp luật lao động Việt Nam tuy đã mở rộng hơn trước nhưng nhìn chung vẫn còn chưa
cụ thể, rõ ràng Pháp luật lao động không quy định chi tiết các biện pháp mà NSDLĐ có thể sử dụng để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình mà chỉ nêu “Khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì NSDLĐ có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ vi phạm”12 Như vậy có nghĩa là pháp luật cho phép các bên trong quan hệ lao động được tự do thỏa thuận về vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh
Ngoài ra Luật SHTT 2005 còn quy định, chủ sở hữu có quyền áp dụng các biện pháp để tự bảo vệ bí mật kinh doanh của mình13
Tuy nhiên, trong các biện pháp đó, chỉ có một biện pháp công nghệ là dùng để ngăn ngừa hành vi xâm phạm, còn các biện pháp khác chỉ được áp dụng khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra Trên thực tế, để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình, NSDLĐ có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như kiểm soát thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thông qua thẻ nhân viên, không sử dụng điện thoại, email cá nhân trong giờ làm việc nhằm hạn chế thông tin bị lọt ra ngoài, duy trì bảo mật máy tính, Ngoài ra, NSDLĐ còn quy định các nghĩa vụ bảo mật hoặc các hành vi cụ thể như cấm NLĐ không được làm những một số công việc trong thời hạn nhất định cho một hoặc một vài đối tượng nhất định trong nội quy lao động Tuy nhiên, cách chủ động và thường được các doanh nghiệp áp dụng nhất để bảo vệ bí mật kinh doanh là thông qua các cam kết ký
Trang 21với NLĐ14 Các cam kết này thường được gọi là thỏa thuận bảo mật thông tin/hạn chế cạnh tranh Theo các thỏa thuận này, trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp, NLĐ phải chấp hành nội quy, quy định do NSDLĐ đặt ra hoặc phải cam kết về việc không được tiết lộ bí mật kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào15
Về biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh bằng thỏa thuận bảo mật/hạn chế cạnh tranh Trong quan hệ lao động, pháp luật cho phép các bên có quyền tự do thỏa thuận với nhau về việc bảo mật bí mật kinh doanh miễn là thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật và phải đảm bảo cân bằng quyền lợi cho các bên Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động cũng như vị trí của NLĐ làm việc trong doanh nghiệp
mà nội dung những điều khoản này sẽ khác nhau Chức vụ của NLĐ càng cao thì nguy cơ bị bộc lộ bí mật kinh doanh càng lớn16
Đối với thỏa thuận này, các bên có thể xác lập thành một văn bản riêng biệt hoặc là một điều khoản trong hợp đồng lao động, tuy nhiên, giá trị pháp lý của điều khoản này không phụ thuộc vào hợp đồng lao động Các thỏa thuận này điều chỉnh hành vi của NLĐ trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động và cả sau khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động trong một khoảng thời gian nhất định Việc pháp luật quy định hình thức của thỏa thuận bắt buộc bằng văn bản là phù hợp vì đây chính là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong trường hợp có xảy ra hành vi vi phạm Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại chưa có quy định chi tiết thế nào là thỏa thuận bảo mật/hạn chế cạnh tranh và nội dung của những thỏa thuận này như thế nào Xuất phát từ mục đích nhằm ngăn chặn bí mật kinh doanh bị tiết lộ, ta có thể định nghĩa điều khoản hạn chế cạnh tranh như sau: Điều khoản hạn chế cạnh tranh là loại điều khoản thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng lao động mà theo đó NLĐ đưa ra cam kết và phải tuân thủ những giới hạn về việc tìm việc làm mới trong một giới hạn về thời gian, không gian, lĩnh vực để bảo vệ bí mật công nghệ, kinh doanh cho NSDLĐ và
dự kiến cả hậu quả pháp lý trong trường hợp NLĐ vi phạm cam kết này17
Điểm mâu thuẫn ở đây là pháp luật quy định NLĐ được làm việc cho bất kì NSDLĐ nào và ở bất kì nơi nào mà pháp luật không cấm18
, còn trong thỏa thuận
Trang 22hạn chế cạnh tranh giữa NLĐ và NSDLĐ lại nói rằng NLĐ không được làm việc cho đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực sau khi chấm dứt hợp đồng lao động trong một thời gian nhất định Như vậy, liệu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có được coi là một thỏa thuận hợp pháp hay không? Nếu không được coi là hợp pháp thì nó
sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của NSDLĐ trong trường hợp NLĐ làm lộ
bí mật kinh doanh, còn nếu ngược lại thì NLĐ sẽ bị xâm phạm quyền lợi bởi sau khi chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp, NLĐ không được đi làm cho doanh nghiệp khác trong lĩnh vực chuyên môn của mình và cũng không được nhận bất kỳ khoản lợi ích vật chất nào tương ứng với khoảng thời gian và lĩnh vực mà họ cam kết không làm việc cho đối thủ cạnh tranh
Để bảo vệ bí mật kinh doanh, pháp luật còn cho phép NSDLĐ quy định nghĩa
vụ bảo mật trong nội quy lao động Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh của NSDLĐ là một trong những nội dung trong nội quy lao động19 Thông thường, nội quy lao động sẽ xác định ai là người có thể truy cập thông tin, tài liệu được xem là bí mật kinh doanh, cách thức giữ và quản lý bí mật kinh doanh và những chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm Tuy nhiên, pháp luật quy định NLĐ chỉ có nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh trong phạm vi trách nhiệm được giao chứ không phải bảo
vệ toàn bộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp20 Trên thực tế, nội quy lao động do NSDLĐ đơn phương xây dựng nhưng phải đăng kí với cơ quan lao động thì nó mới
có hiệu lực thi hành và hiệu quả của biện pháp này vẫn chưa cao
Không như những đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh chưa phổ biến ở Việt Nam Liên quan đến bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động, có hai trường hợp đã được Tòa án giải quyết, một trường hợp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vào năm 2005 (Bản án số 20/LĐ-ST ngày 17/3/2005) và một trường hợp do Tòa án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An giải quyết (Bản án số 09/2010/LĐ-ST ngày 10/12/2010)
Vụ việc thứ nhất liên quan đến công ty Nike (Nike) sa thải bà H Nike đã dẫn
ra nội quy lao động tại phần 4 Điều 4.1 như sau: “trong quá trình làm việc cho Nike, nhân viên có thể có được tài liệu hoặc biết được thông tin về Công ty Những thông tin hay tài liệu này nếu tiết lộ cho những cá nhân không có liên quan sẽ có thể gây tai hại về vật chất cũng như các ảnh hưởng không tốt khác cho Công ty Hành vi tiết
19
Điểm d khoản 2 Điều 119 BLLĐ 2012
20
Khoản 4 Điều 27 Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động
Trang 23lộ đó, dù cố tình hay sơ suất đều có thể được xem như vi phạm hợp đồng và có thể dẫn đến biện pháp kỷ luật kể cả việc sa thải” Trong vụ việc này, căn cứ vào nội dung email trao đổi giữa bà H, một nhân viên của Nike với người chị của mình, Nike đã đi đến kết luận cho rằng bà H đã có hành vi tiết lộ thông tin về hàng hóa của Nike cho người chị Công ty cho rằng người chị của bà H không liên quan đến hoạt động của Công ty, do vậy, bà H đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 4.1 của nội quy lao động Trên cơ sở đó, Nike đã sa thải bà H Tòa án đã thừa nhận giá trị pháp lý của nội quy lao động vì NSDLĐ đã ban hành nội quy theo đúng pháp luật và có đăng kí với cơ quan lao động Do đó, khi xem xét đến lợi ích của NSDLĐ,Tòa án đã xác định việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa NSDLĐ và nhân viên trên là hợp lý
Vụ việc thứ hai, liên quan đến một nhân viên (ông R) làm cho Công ty Saitex (Saitex) và ông R đã ký với Saitex một thỏa thuận Theo đó, ông R không được làm việc trực tiếp hay gián tiếp cho bất kỳ công ty hoặc cá nhân nào là đối thủ cạnh tranh của Saitex trong vòng một năm kể từ khi chấm dứt hợp đồng với Saitex Thời hạn một năm tính cho đến hết ngày 13/5/2011 Tuy nhiên, cũng theo thỏa thuận này, ông R có thể được làm việc cho các cá nhân hay tổ chức là đối thủ cạnh tranh của Saitex nếu được sự chấp nhận bằng văn bản từ phía Saitex Danh sách công ty hoặc
cá nhân là đối thủ cạnh tranh sẽ được cập nhật mỗi tháng bằng thông báo chung cho toàn công ty Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động với Saitex, ông R ký hợp đồng bới một công ty khác (công ty này nằm trong danh sách mà Saitex đã thông báo trước đó) mà không được sự đồng ý của Saitex Vì vậy, Saitex kiện ông R vì đã vi phạm thỏa thuận, đồng thời yêu cầu ông R bồi thường thiệt hại Tòa án đã cho rằng:
“ông R là chuyên viên kỹ thuật nên có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh của Công ty Saitex Công ty phải có quyền được bảo vệ bí mật công nghệ, kinh doanh của Công ty Nếu NLĐ là việc cho một công ty đối thủ thì đương nhiên Công ty sẽ bị thiệt hại khi bí mật kinh doanh của Công ty Saitex bị tiết lộ nên yêu cầu của Công ty Saitex buộc ông R tuân thủ điều khoản cạnh tranh tại khoản 2 Điều 3 của hợp đồng lao động đã ký với Công ty Saitex là phù hợp và có cơ sở” Bên cạnh đó, Tòa án cho rằng: “sự thỏa thuận giữa Công ty Saitex và ông R tại khoản 2 Điều 3 của hợp đồng là một dạng giao dịch dân sự giữa Công ty và NLĐ” Vì thế, Tòa án
đã áp dụng Điều 122 BLDS 2005 để xác định điều kiện có hiệu lực của một giao
Trang 24dịch dân sự Và Tòa án đã xác định ông R vi phạm thỏa thuận cấm cạnh tranh với Công ty và phải bồi thường cho Công ty21
Từ hai vụ việc trên ta có thể thấy rằng, Tòa án Việt Nam có xu hướng tôn trọng các biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh mà các bên đã thỏa thuận Tuy nhiên,
sự tôn trọng đó lại thể hiện sự yếu kém, thiếu kinh nghiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến bảo vệ bí mật kinh doanh, vì sự tôn trọng thỏa thuận ở đây của Tòa án là chưa thực sự hợp lý, theo tác giả, trước khi đưa ra kết luận Tòa cần phải xem xét kỹ lưỡng đến nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất là lợi ích của các bên trong thỏa thuận, cân nhắc xem liệu nội dung thỏa thuận như vậy có xâm phạm quyền và lợi ích của một trong các bên của quan hệ lao động không, vì như chúng ta đã biết, trong quan hệ lao động, địa vị pháp lý của các bên không ngang nhau, NLĐ luôn là bên yếu thế hơn
Tóm lại, mặc dù pháp luật không quy định cụ thể các biện pháp bảo vệ bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động nhưng để ngăn chặn các hành vi xâm phạm, NSDLĐ vẫn áp dụng các biện pháp mà mình cho là cần thiết Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ làm hạn chế chứ không thể loại bỏ hoàn toàn các hành vi xâm phạm,
do đó, khi NLĐ thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh thì cần phải có các biện pháp xử lý các hành vi này
1.3.3 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động
Khi có hành vi xâm phạm đến bí mật kinh doanh thì bí mật kinh doanh đó có thể bị bộc lộ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường sẽ giảm sút, thậm chí không còn Vì vậy, những hành vi xâm phạm này phải được xử lý nghiêm khắc nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bí mật kinh doanh Để xử
lý các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh thì tùy vào từng trường hợp, hành vi và mức độ sẽ có chế tài xử phạt thích đáng Trong quan hệ lao động, nếu giữa các bên
có thỏa thuận bảo mật/hạn chế cạnh tranh thì theo nguyên tắc sẽ xử lý theo những gì
mà hai bên đã thỏa thuận; nếu các bên không có thỏa thuận thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật Nhìn chung, các chế tài mà NLĐ có thể bị áp dụng là xử lý kỷ luật lao động, tùy vào mức độ vi phạm mà NSDLĐ có thể áp dụng hình thức kỷ luật như khiển trách; kéo dài thời hạn nâng bậc lương không quá 06 tháng hoặc cách
21
Phụ lục 1
Trang 25chức; sa thải; buộc chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại hoặc bị áp dụng các chế tài khác như biện pháp dân sự, hành chính, hình sự
Thứ nhất, xử lý bằng hình thức xử lý kỷ luật lao động
Tùy vào mức độ vi phạm mà NSDLĐ có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật như khiển trách hoặc kéo dài thời hạn nâng bậc lương không quá 06 tháng; cách chức hoặc sa thải22 Mức độ vi phạm được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như hành vi vi phạm, người thực hiện hành vi vi phạm và thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra Ví dụ như theo Điều 24 nội quy lao động của Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Phú Thọ23thì tùy thuộc vào mức độ gây thiệt hại của các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh mà áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật khác nhau Nếu hành vi vi phạm không gây thiệt hại sẽ áp dụng hình thức khiển trách, nếu gây thiệt hại có mức độ thì sẽ áp dụng hình thức kéo dài thời hạn nâng bậc lương hoặc cách chức và cuối cùng, nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại nghiêm trọng
sẽ áp dụng hình thức sa thải
Ngoài ra, khoản 1 Điều 126 BLLĐ 2012 quy định NSDLĐ áp dụng hình thức
xử lý kỷ luật sa thải khi: “NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh,
bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng
về tài sản, lợi ích của NSDLĐ.” Hiện tại, có hai quan điểm khác nhau về nhận thức đối với quy định này24
: Quan điểm thứ nhất: chỉ cần NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì NSDLĐ có quyền kỷ luật lao động bằng hình thức
sa thải, mà không cần quan tâm đến mức độ thiệt hại, vì mức độ thiệt hại chỉ phải xác định khi NLĐ có hành vi khác mà không phải là các hành vi vừa nêu
Quan điểm thứ hai: dấu hiệu mức độ thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các hành vi trên, vì xét về mặt câu chữ, dấu hiệu mức độ thiệt hại là sự tiếp nối của các hành vi được nhà làm luật liệt kê, không riêng của hành vi nào Mặt khác, theo tinh thần hướng dẫn tại Thông tư
Trang 2619/2003/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 22 tháng 9 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ thì doanh nghiệp cũng bắt buộc phải quy định mức độ thiệt hại vào nội quy lao động đối với tất cả các hành vi trên
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, có nghĩa là nếu NLĐ thực hiện hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh của NSDLĐ và gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ thì NSDLĐ mới được
áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối NLĐ Và nội quy lao động của Công ty
Cổ phần Dịch vụ Du lịch Phú Thọ như tác giả vừa nêu ở trên cũng quy định theo cách hiểu này Về vấn đề xác định thiệt hại nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì luật không có quy định vì trên thực tế, tùy thuộc vào lĩnh vực và quy mô kinh doanh mà NSDLĐ sẽ xác định mức thiệt hại như thế nào thì được coi là nghiêm trọng Có thể một thiệt hại được coi là nghiêm trọng với NSDLĐ này nhưng lại không phải là nghiêm trọng với NSDLĐ khác Do đó, theo tinh thần của Thông tư 19/2003/TT-BLĐTBXH thì NSDLĐ bắt buộc phải quy định mức độ thiệt hại vào nội quy lao động
Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải phải tuân thủ nguyên tắc luật định, cụ thể như sau: “NSDLĐ phải chứng minh được lỗi của NLĐ; Phải có
sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; NLĐ phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Nếu NLĐ dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật; Việc sa thải phải được lập thành biên bản”25 Không những vậy, tại khoản 4 Điều 123 BLLĐ
2012 còn quy định NSDLĐ không được xử lý kỷ luật NLĐ đang trong thời gian:
“Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của NSDLĐ; Đang bị tạm giữ, tạm giam; Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này; Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; NLĐ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi” và khoản 5 Điều này quy định rằng không xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ vi phạm
kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả
25
Điều 123 BLLĐ 2012 và Điều 30 Nghị Định 05/2015/NĐ-CP
Trang 27năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa đối với hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tiết lộ bí mật kinh doanh của NSDLĐ là 12 tháng26
Thứ hai, xử lý bằng hình thức yêu cầu bồi thường thiệt hại
Theo khoản 2 Điều 23 BLLĐ 2012, khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh thì các bên có quyền thỏa thuận với nhau về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ
có vi phạm Như vậy, pháp luật cho phép các bên được tự do thỏa thuận về mức bồi thường khi NLĐ có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
Biện pháp dân sự được quy định khá chi tiết, đầy đủ Nó bao gồm nguyên tắc xác định thiệt hại, cách xác định mức bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ của đương sự và các biện pháp khẩn cấp tạm thời Căn cứ để áp dụng biện pháp này được quy định tại Chương XX BLDS 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLTTDS 2015, Chương XVII Luật SHTT 2005, Nghị Định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản
lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010
Trang 28Các biện pháp dân sự mà Tòa án có thể áp dụng là: “Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại; Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ29”
Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015, khi yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp dân sự thì NSDLĐ phải có nghĩa vụ chứng minh mình là chủ sở hữu bí mật kinh doanh và chứng minh NLĐ đã có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của mình Ngoài ra, nếu có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì NSDLĐ phải chứng minh thiệt hại xảy ra trên thực tế dựa vào các căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại tại Điều 205 Luật SHTT 2005 Theo đó, mức thiệt hại vât chất sẽ bao gồm tổng thiệt hại và giá chuyển giao bí mật kinh doanh, nếu không xác định được mức bồi thường thiệt hại thì Tòa án sẽ ấn định, nhưng không quá năm trăm triệu đồng Không những vậy, để tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được cũng như để bảo vệ chứng cứ, ngăn chặn những hành vi hủy hoại bằng chứng thì NSDLĐ có quyền yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như: thu giữ; kê biên; niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển; cấm dịch chuyển quyền sở hữu và các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của BLTTDS.30
Tóm lại, việc áp dụng biện pháp dân sự có ưu điểm là nó phù hợp với bản chất, đặc điểm của bí mật kinh doanh, làm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu, điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này cũng gặp không ít khó khăn, nhất là trong việc thu thập chứng cứ để chứng minh có hành vi xâm phạm vì biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa hỗ trợ tích cực cho quá trình thu thập, ngăn chặn, bảo vệ chứng cứ Ngoài ra, biện pháp này chỉ áp dụng khi NLĐ có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh vì mục đích cạnh tranh không lành mạnh
Trang 29có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, lúc đó NSDLĐ có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hành chính có thể áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện Nếu biện pháp dân sự chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền
áp dụng thì ngược lại, việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp Biện pháp hành chính cũng được quy định khá chi tiết trong Chương XVIII Luật SHTT và trong Nghị Định 97/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm 2010 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Theo quy định tại Điều 214 Luật SHTT 2005 và Điều 3 Nghị Định 97/2010/NĐ-
CP thì khi NLĐ thực hiện hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của NSDLĐ thì họ sẽ bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt hành chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà NLĐ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm Ngoài việc bị áp dụng hai biện pháp trên, tùy trường hợp cụ thể mà NLĐ có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để đảm bảo xử lý vi phạm hành chính, NSDLĐ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính như: Tạm giữ người; Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm; Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ; Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật
về xử l ý vi phạm hành chính
Biện pháp hành chính là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện Ở nước ta hiện nay, biện pháp hành chính là biện pháp được áp dụng chủ yếu trong việc xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này cũng gặp một
số hạn chế nhất định Thứ nhất, biện pháp này có vẻ không phù hợp với bản chất dân
sự của quyền sở hữu công nghiệp Thứ hai, biện pháp này không xác định được giá trị thiệt hại trên thực tế dẫn đến mức xử phạt chưa hợp lý Cuối cùng, việc trao thẩm quyền cho nhiều cơ quan có thể gây ra khó khăn trong việc thi hành trên thực tế
Trang 30 Biện pháp hình sự:
Cũng giống với biện pháp dân sự, thẩm quyền áp dụng biện pháp hình sự chỉ thuộc về Tòa án31 Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự32 Thẩm quyền áp dụng biện pháp hình sự tuân theo quy định của BLTTHS
2015, theo đó cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là những cơ quan có thẩm quyền thực thi chế tài hình sự
Mặc dù, Điều 212 Luật SHTT 2005 quy định: “Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự” Theo quy định này thì chế tài hình sự chỉ áp dụng cho cá nhân Tại Điều 226 BLHS 2015 quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhưng chỉ quy định quy định: “ Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam ” Như vậy, chỉ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mới cấu thành tội phạm, còn hành vi xâm phạm những đối tượng sở hữu công nghiệp khác, trong đó có bí mật kinh doanh thì không Tiếp theo đó, BLHS cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả cá nhân lẫn pháp nhân Vậy quy định của Luật SHTT và BLHS mâu thuẫn nhau, do
đó, việc áp dụng trên thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Tóm lại, pháp luật quy định biện pháp dân sự và biện pháp hành chính chỉ áp dụng đối với hành vi xâm phạm vì mục đích cạnh tranh không lành mạnh Mà trong quan hệ lao động, NLĐ chỉ cạnh tranh được với NSDLĐ khi và chỉ khi NLĐ không còn làm việc cho NSDLĐ nữa Như vậy, nếu hành vi NLĐ sử dụng bí mật kinh doanh mà mình có được trong quá trình lao động với NSDLĐ cũ để tự kinh doanh
và cạnh tranh với NSDLĐ và hành vi này là vi phạm nghĩa vụ bảo mật mà các bên
đã thỏa thuận thì NLĐ mới bị áp dụng các biện pháp này Ngược lại, nếu NLĐ không có nghĩa vụ bảo mật sau khi chấm dứt quan hệ lao động, thì khi NLĐ sử dụng bí mật kinh doanh mà mình có được trong quá trình lao động để tự kinh doanh
và cạnh tranh với NSDLĐ trước đây sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh Với những đặc điểm: là những thông tin mang tính bí mật, không phải là hiểu biết thông thường và
là một loại tài sản vô hình; là những thông tin có giá trị, được áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng nó sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn
so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng nó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được cùng với việc được pháp luật bảo hộ một cách tự động
Với những đặc điểm trên thì có thể thấy bí mật kinh doanh là một loại tài sản đặc biệt, có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp nên việc bảo vệ các thông tin này trong quan hệ lao động là hoàn toàn cần thiết, nó không chỉ giúp bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu – NSDLĐ, mà còn tạo hành lang pháp
lý bảo vệ NLĐ
Pháp luật Việt Nam đã có các quy định về việc bảo vệ bí mật kinh doanh, các quy định này cũng khá đầy đủ và mở rộng hơn giai đoạn trước đây, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số mâu thuẫn, bất cập Do đo, để hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như giúp dễ dàng áp dụng trên thực tiễn thì ta nên tham khảo, học hỏi quy định, kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới
Trang 32CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Sau khi nghiên cứu, xem xét về sự phát triển kinh tế cũng như chế độ chính trị, tác giả đã lựa chọn pháp luật của ba nước để tìm hiểu, phân tích nhằm rút ra kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật trong nước Thứ nhất, tác giả chọn pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức vì đây là một nước có nền kinh tế phát triển, ta sẽ học hỏi được cách quy định trong pháp luật của họ để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước cũng như nâng cao trình độ phát triển kinh tế Thứ hai, vì Việt Nam là một nước theo chế độ chủ nghĩa xã hội nên tác giả chọn phân tích pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bởi chế độ chính trị tương đồng sẽ phần nào giúp ta dễ so sánh, học hỏi hơn Cuối cùng, tác giả tìm hiểu pháp luật của Cộng hòa Indonesia vì đây cũng là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á và có nền kinh tế tương tự như Việt Nam
2.1 Quy định của Cộng hòa Liên bang Đức về bảo vệ bí mật thương mại trong quan hệ lao động
Vị thế thị trường chiến lược và khả năng cạnh tranh của một công ty phụ thuộc vào những điểm mạnh và điểm yếu của nó trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, sản xuất và tiếp thị, phân phối, tài chính và kiểm soát Vì vậy, để chống lại việc khai thác trái phép bởi người khác, các công ty có quyền bảo vệ những thành tựu, những tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế mà mình đạt được trong những lĩnh vực này Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, nhất là trong quá trình làm việc tại công ty, nhân viên công ty tiếp xúc ngày càng nhiều với bí mật thương mại Do đó, việc bảo vệ bí mật thương mại trong quan hệ lao động sẽ trở nên đặc biệt quan trọng Dưới đây, tác giả sẽ giải quyết vấn đề về định nghĩa bí mật thương mại, các hành vi xâm phạm bí mật thương mại của NLĐ, biện pháp bảo vệ bí mật thương mại của NSDLĐ cũng như nghĩa vụ pháp lý mà NLĐ phải gánh chịu khi thực hiện hành vi vi phạm
2.1.1 Định nghĩa bí mật thương mại
Hiện nay ở Cộng hòa Liên bang Đức chưa có luật nào đưa ra định nghĩa về bí mật thương mại, do đó, để hiểu thế nào là bí mật thương mại thì phải dựa vào định
Trang 33nghĩa trong các điều ước quốc tế hay các phán quyết của Tòa án Vì lẽ đó mà tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về bí mật thương mại
Toàn án Hiến pháp Liên bang Đức (German Federal Constitutional Court) định nghĩa bí mật thương mại là tất cả sự kiện, hoàn cảnh, chương trình liên quan đến một công ty, đó không phải là hiểu biết thông thường và chỉ có một số chủ thể nhất định biết được Về cơ bản, bí mật thương mại bao gồm bản vẽ thi công, quy trình sản xuất, tài liệu tính toán, hợp đồng, danh sách khách hàng33
Thuật ngữ “hiểu biết thông thường” được Tòa án giải thích theo nghĩa rộng Một thông tin được coi là hiểu biết thông thường nếu nó được biết đến một cách dễ dàng mà không cần bất kì nỗ lực đặc biệt nào Một bí mật thương mại sẽ không được bảo hộ nữa nếu nó không còn tính bí mật, ví dụ như thông tin đó được công bố trên tạp chí chuyên ngành hay nó được cấp bằng sáng chế
Tòa án Lao động vùng Rhineland-Palatinate (The Regional Labor Court of Rhineland-Palatinate) định nghĩa bí mật thương mại là những yếu tố kỹ thuật theo nghĩa rộng nhất, bao gồm: doanh thu, lợi nhuận và thiệt hại, sổ sách nội bộ, danh sách khách hàng, nguồn cung cấp, điều kiện, chiến lược thị trường, tài liệu tính dụng, tài liệu tính toán, sự ứng dụng sáng chế, dự án nghiên cứu và phát triển khác
có thể quyết định đến tình hình tài chính của doanh nghiệp34
Từ đó, có thể thấy rằng định nghĩa về bí mật thương mại ở Cộng hòa Liên bang Đức được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả thông tin trong lĩnh vực kinh doanh và cả thông tin trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật
2.1.2 Các hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động
Cộng hòa Liên bang Đức quy định các hành vi xâm phạm bí mật thương mại chủ yếu trong Luật Cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể là tại Mục 17, Mục 18 và Mục 19
Mục 17 Luật Cạnh tranh không lành mạnh quy định về việc tiết lộ bí mật thương mại và bí mật công nghiệp như sau:
33
German Federal Constitutional Court decision of 14 March 2006- 1 BvR 2087/03=BVerfGE 115, 2005-259, http://www.bundesverfassungsgericht.de/SharedDocs/Entscheidungen/DE/2006/03/rs20060314_1bvr208703 html, truy cập ngày 25/6/2017
34
LAG Rheinland-Pfalz decision of 22 February 2008- 6 SA 626/07
http://www.judicialis.de/Landesarbeitsgericht-Rheinland-Pfalz_6-Sa-626-07_Urteil_22.02.2008.html, truy cập ngày 26/6/2017
Trang 34“(1) Bất kì một nhân viên nào của doanh nghiệp, khi chưa có sự cho phép mà truyền đạt một bí mật thương mại hay công nghiệp mà người đó được ủy thác hoặc tiếp cận được trong thời gian làm việc cho người khác vì mục đích cạnh tranh, vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích của bên thứ ba hay vì mục đích gây thiệt hại cho chủ doanh nghiệp thì phải chịu hình phạt tù không quá ba năm hoặc bị phạt tiền
(2) Bất cứ ai vì mục đích cạnh tranh, vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích của bên thứ ba, hoặc có ý định gây thiệt hại cho chủ sở hữu doanh nghiệp, có được hoặc nắm giữ trái phép,
1 bí mật thương mại hoặc công nghiệp
a) bằng cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật;
b) bằng cách tạo ra sự mô phỏng của bí mật; hoặc là
c) bằng cách loại bỏ một chi tiết trong đó có chứa bí mật;
hoặc là
2 sử dụng hoặc thông tin một cách trái phép những bí mật thương mại cho bất
cứ người nào mà người có được bí mật này thông qua một trong những cách thức được đề cập trong tiểu mục (1) hoặc thông qua hành động của mình hoặc của người thứ ba theo đoạn 1
(4) Một trường hợp được coi là đặc biệt nghiêm trọng khi người phạm tội:
1 hành động mang tính thương mại;
2 biết rằng bí mật sẽ được sử dụng ở nước ngoài tại thời điểm truyền thông tin; hoặc là
3 chính người phạm tội có hành vi sử dụng được quy định ở tiểu mục (2) đoạn
2 ở nước ngoài.”
Theo quy định tại Mục 2 (2) số 2 Luật Cạnh tranh không lành mạnh thì một người có được bí mật thương mại một cách độc lập hoặc bí mật thương mại được lưu trong trí nhớ dài hạn thì không bị coi là hành vi xâm phạm bí mật thương mại
Vì bí mật thương mại ở Cộng hòa Liên bang Đức được hiểu theo nghĩa rộng nên ngoài các hành vi vi phạm tại Mục 17, Luật Cạnh tranh không lành mạnh còn
bổ sung thêm các quy định tại Mục 18 và 19 của luật này
Trang 35Mục 18 Luật Cạnh tranh không lành mạnh quy định người nào chưa được sự cho phép của người có quyền mà sử dụng hoặc truyền đạt cho người khác mẫu hoặc hướng dẫn có tính chất kỹ thuật, đặc biệt là các bản vẽ, nguyên mẫu, mẫu, phân đoạn hoặc công thức mà mình được giao, vì mục đích cạnh tranh hoặc vì lợi ích cá nhân sẽ phải chịu hình phạt tù không quá hai năm hoặc phạt tiền
Mục 19 Luật Cạnh tranh không lành mạnh quy định người nào cố tình xúi hay kích động người khác thực hiện hành vi tại Mục 17 và 18 nêu trên thì phải chịu trách nhiệm hình sự Và người nào chấp nhận lời đề nghị của người khác, hoặc âm mưu với người khác, thực hiện hoặc kích động việc phát hiện tội phạm cũng phải chịu trách nhiệm tương tự
Ngoài ra, các hành vi xâm phạm bí mật thương mại còn quy định trong Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức (Strafgesetzbuch, StGB), Mục 202a về gián điệp dữ liệu, theo đó, hành vi xâm phạm bí mật thương mại là hành vi thu thập dữ liệu một cách trái phép cho mình hoặc cho người khác mà phá vỡ biện pháp bảo vệ đặc biệt đối với các dữ liệu được lưu trữ hoặc truyền qua đường điện tử hoặc từ tính hoặc cách khác mà không thể nhận ra ngay được Còn Mục 203 và 204 thì quy định
về hành vi tiết lộ hoặc khai thác bất hợp pháp bí mật thương mại của người khác được thực hiện bởi một số chủ thể làm trong lĩnh vực ngành nghề nhất định như bác
sĩ, luật sư, công chức Mục 266(1) áp dụng đối với người nào thực hiện hành vi quy định tại Mục 17 Luật Cạnh tranh không lành mạnh nhưng tiết lộ bí mật do hành
vi lạm dụng và quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp người phạm tội
có trách nhiệm bảo vệ tài sản của công ty Do đó, Điều này luôn được áp dụng đối với thành viên của hội đồng quản trị và nhân viên điều hành cũng như những nhân viên có tiếng nói trong công ty vì nhiệm vụ cơ bản của những người này là quan tâm đến lợi ích tài chính của công ty Còn nếu NLĐ tiết lộ bí mật thương mại mà mình có trách nhiệm bảo mật vì lợi ích của mình hay người khác thì NLĐ đó được coi là đã vi phạm nghĩa vụ bảo vệ tài sản và xử lý theo Điều này
Hơn nữa, các luật khác cũng có quy định về vấn đề này Theo Mục 79 và Mục
120 Luật Tổ chức Công trình Cộng hòa Liên bang Đức quy định các thành viên và thành viên thay thế của Hội đồng Công trình không được khai thác bí mật thương mại mà mình biết được thông qua tư cách hội viên của mình Thêm vào đó, Mục
404 Luật Công ty cổ phần chứng khoáng Cộng hòa Liên bang Đức (German Stock
Trang 36Corporation Act - Aktiengesetz) quy định thành viên Hội đồng quản trị hoặc thành viên Ban kiểm soát không được tiết lộ bí mật thương mại cho bên thứ ba
Mặc dù các điều khoản được quy định trong các luật khác nhau nhưng nhìn chung các hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động bao gồm hành vi tiết lộ những bí mật mà NLĐ có được trong quá trình người đó làm việc tại công ty và hành vi khai thác những bí mật đó một cách bất hợp pháp Tiết lộ bí mật
có nghĩa là trao đổi bí mật đó với bên thứ ba Những hành vi được coi là vi phạm nghiêm trọng như NLĐ đổi lấy một khoảng tiền hoặc có ý định làm giàu cho chính mình hay người khác hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu bí mật thương mại (câu thứ hai Mục 404(1) Luật Công ty cổ phần chứng khoáng Cộng hòa Liên bang Đức, Mục
333 Bộ luật thương mại, câu đầu tiên Mục 120(3) Luật Tổ chức Công trình)
2.1.3 Biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động
Trong quan hệ lao động, một công ty có thể bảo vệ những thông tin bí mật của mình bằng quyền sở hữu trí tuệ giống như đối với sáng chế hay bản quyền hoặc bằng điều khoản không tiết lộ (non-disclosure clause) trong hợp đồng lao động hoặc bằng một thỏa thuận độc lập
Theo Tòa án Lao động Liên bang Tối cao (Federal Supreme Labour Law Court) thì NLĐ phải tuân thủ nghĩa vụ bảo mật và đảm bảo bí mật thương mại35
Như một nguyên tắc, NLĐ có nghĩa vụ phải bảo mật bí mật thương mại của công ty
và không được tiết lộ nó cho bên thứ ba Nghĩa vụ bảo mật này của NLĐ không chỉ tồn tại trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, mà nó còn tồn tại ở cả giai đoạn tiền hợp đồng và sau khi chấm dứt hợp đồng lao động
Thứ nhất, nghĩa vụ không tiết lộ trong quá trình lao động
Trách nhiệm của NLĐ là giữ bí mật những bí mật thương mại được quy định trong chính hợp đồng lao động vì lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của NSDLĐ phụ thuộc phần lớn vào việc NLĐ thực hiện trách nhiệm của mình trong hợp đồng Theo nguyên tắc thiện chí (good faith) thì NLĐ có nghĩa vụ bảo mật bí mật thương mại ngay cả khi không có điều khoản nào quy định Một thỏa thuận đặc biệt liên
35
BAG, EzA Nr 1 on § 242 BGB – Nachvertragliche Treuepflicht; BAG, EzA Nr 1 on § 611 BGB – Betriebsgeheimnis,
https://www.jurion.de/urteile/bag/1987-02-26/6-abr-46_84/, truy cập ngày 15/7/2017,
https://www.jurion.de/urteile/bag/1985-02-27/gs-1_84/ truy cập ngày 15/7/2017
Trang 37quan đến bảo vệ bí mật thương mại thường được quy định thành một điều khoản trong hợp đồng lao động Tuy nhiên, khi những thỏa thuận bảo mật vượt quá phạm
vi luật định, dẫn đến xâm phạm quyền lợi của NLĐ, mà nếu không có thỏa thuận này thì lợi ích của NSDLĐ cũng không bị ảnh hưởng gì thì thỏa thuận đó đương nhiên vô hiệu36
Tuy nhiên, nghĩa vụ bảo mật của NLĐ trong hợp đồng không chỉ giới hạn ở việc không tiết lộ bí mật thương mại mà nó còn bao gồm tất cả phương pháp và công việc mà NLĐ có được từ vị trí mà họ đảm nhận trong công ty, tất cả phương pháp và công việc này cũng được giữ bí mật
Thứ hai, nghĩa vụ không tiết lộ trước khi có hợp đồng lao động
Nghĩa vụ bảo mật trước khi có hợp đồng được hình thành trong quá trình đàm phán hợp đồng lao động Trong quá trình đàm phán về hợp đồng lao động, nếu nội dung đàm phán có liên quan đến bí mật thương mại thì NLĐ tương lai phải có nghĩa
vụ bảo mật những thông tin này
Thứ ba, nghĩa vụ không tiết lộ sau khi chấm dứt hợp đồng lao động
Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ bảo mật của NLĐ vẫn tồn tại Theo luật của Tòa án Lao động Liên bang, NLĐ có nghĩa vụ bảo mật bí mật thương mại sau khi họ chấm dứt hợp đồng lao động ngay khi không có thỏa thuận nào37
Tòa án Lao động Liên bang cho rằng hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật là vi phạm quy định tại Mục 1 Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Liên bang Đức (Gesetz gegen den unlauteren Wettbewerb - UWG)38 và Mục 823(1) và Mục 826
Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức39
36
Mục 134 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Một giao dịch pháp lý vi phạm điều cấm thì
vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” và Mục 138 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “1 Giao dịch pháp lý trái với chính sách công thì vô hiệu; 2 Một giao dịch pháp lý bị vô hiệu khi một người lợi dụng tình trạng khó khăn, thiếu kinh nghiệm, thiếu khả năng xem xét hay sự suy yếu ý chí của người khác để người đó hoặc bên thứ ba thực hiện giao dịch và hứa hoặc trợ cấp một khoảng tiền mà rõ ràng khoảng tiền này không tương ứng với việc thực hiện”
37
BAG decision of 16 August 1990, NZA 1991, 141, 113_90/, truy cập ngày 28/6/2017
https://www.jurion.de/urteile/bag/1990-08-16/2-azr-38
Mục 1 Luật cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Đạo luật này nhằm phục
vụ mục đích bảo vệ những người cạnh tranh, người tiêu dùng và những người khác tham gia thị trường chống lại các hành vi thương mại không lành mạnh Đồng thời, nó cũng bảo vệ lợi ích của công cộng khỏi các hành
vi cạnh tranh bị bóp méo”
39
Mục 823(1) Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Người cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại đến tài sản hoặc quyền của người khác một cách bất hợp pháp thì có nghĩa vụ bồi thường về những thiệt hại
Trang 38Phán quyết ngày 27 tháng 4 năm 2006 của Tòa án Tối cao Liên bang Đức (BGH) đã giải quyết việc chiếm đoạt danh sách khách hàng và sử dụng nó sau khi chấm dứt hợp đồng lao động NLĐ đã giữ tài liệu danh sách khách hàng trong quá trình làm việc của mình Tòa án Tối cao Liên bang đã lập luận rằng, NLĐ có thể lợi dụng những kiến thức mà mình có được trong quá trình lao động để sử dụng sau đó
mà không bị giới hạn miễn là không vi phạm nghĩa vụ không cạnh tranh với NSDLĐ trước đây và quyền này chỉ áp dụng trong trường hợp những hiểu biết mà NLĐ có được là những thông tin còn ghi trong trí nhớ của họ Việc lợi dụng những hiểu biết
có được sau khi chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ sẽ không được chấp nhận nếu gây thiệt hại cho NSDLĐ và những hiểu biết có được từ trong quá trình lao động là những thông tin thuộc bí mật thương mại và được bảo vệ như: hồ sơ cá nhân, văn bản ghi chép hoặc dưới hình thức tập tin được lưu trong sổ cá nhân40
Thứ tư, nghĩa vụ không tiết lộ khác
Ngoài những nghĩa vụ bảo mật quy định trong hợp đồng như đã phân tích ở trên thì còn có những nghĩa vụ bảo mật khác được áp dụng cho các thành viên của Hội đồng Công trình (Works Council)41
và các thực tập sinh42 Mặc dù, giám đốc điều hành là thành viên của Hội đồng quản trị nhưng các nguyên tắc áp dụng cho nhân viên đều áp dụng cho họ và sự tin cậy luôn được chú ý trong mối quan hệ này
Thứ năm, điều kiện đối với các điều khoản không tiết lộ trong hợp đồng lao động
Trong hợp đồng lao động, các bên có thể thỏa thuận rằng NLĐ không được sử dụng hoặc chia sẻ những bí mật thương mại mà mình có được trong quá trình làm việc hay sau khi kết thúc công việc Điều khoản bảo mật quy định phạm vi nghĩa vụ của NLĐ cùng hậu quả khi có vi phạm Điều khoản này sẽ không có giá trị nếu nó trái với quy định của pháp luật
Đối với điều khoản bảo mật toàn diện (All-encompassing confidentiality clauses) thì NLĐ phải có trách nhiệm giữ bí mật tất cả những sự gì quan đến công
Trang 39việc của họ trong suốt quá trình lao động và điều khoản này đã vượt quá quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Mục 17 và Mục 18 Luật Cạnh tranh không lành mạnh Cộng hòa Liên bang Đức quy định về việc tiết lộ bí mật thương mại và sử dụng mô hình Điều khoản này còn quy định NLĐ không được phép lợi dụng những kiến thức nghề nghiệp mà họ có được trong ngành Đây được coi là một điều khoản không cạnh tranh (non-compete clause) theo quy định tại Mục 74
Bộ luật Thương mại của Cộng hòa Liên bang Đức (Handelsgesetzbuch, HGB) và NLĐ chỉ bị ràng buộc khi họ được trả một khoảng bồi thường như đã thỏa thuận Theo bản án của Tòa án Lao động Liên bang, những điều khoản bảo mật không quy định về việc bồi thường thì vô hiệu43
Khi tầm quan trọng của bí mật thương mại giảm đi thì nghĩa vụ bảo mật sau khi chấm dứt hợp đồng lao động cũng giảm theo Thông thường, pháp luật quy định NLĐ phải thực hiện nghĩa vụ sau khi chấm dứt hợp đồng lao động trong thời hạn không quá hai năm Tuy nhiên, đối với những bí mật thương mại đặc biệt quan trọng thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo mật sau khi chấm dứt hợp đồng có thể hơn hai năm Theo quy định tại Mục 310(4) Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức thì một điều khoản không hợp lệ trong hợp đồng lao động là điều khoản gây thiệt hại đáng kể cho NLĐ và điều khoản đó sẽ không có hiệu lực
Về “Điều khoản bảo mật hạn chế” (Restricted confidentialty clauses) hay một
số nước gọi đây là điều khoản hạn chế cạnh tranh, điều khoản này được pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức cho phép sử dụng Tuy nhiên, nó chỉ được áp dụng đối với những bí mật thương mại có tầm quan trọng đặc biệt với doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp thích hợp trong việc giữ gìn bí mật của mình Khi điều khoản này được áp dụng thì có vẻ như vấn đề bảo mật thông tin của doanh nghiệp được đề cao hơn so với sự phát triển nghề nghiệp của NLĐ Do đó, cần phải đánh giá bí mật thương mại một cách chính xác
Ngoài ra, cần phải xem xét phạm vi của điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động và phạm vi sử dụng những kiến thức mà NLĐ thu được trong quá trình làm việc Cần phải cân bằng lợi ích, vì trong phạm vi nhất định, NLĐ có thể đã tạo
43
BAG decision of 16 March 1982, 3 AZR 83, 79, https://www.prinz.law/urteile/BAG_3_AZR_83-79.pdf, truy cập ngày 28/6/2017
Trang 40ra bí mật thương mại bằng việc sử dụng những kiến thức chuyên môn cùng với kinh nghiệm của mình
Trong trường hợp nếu NLĐ được tự do làm việc cho bất kì NSDLĐ khác sau khi chấm dứt hợp đồng lao động thì NLĐ đó sẽ vĩnh viễn bị cấm sử dụng bí mật thương mại của doanh nghiệp mà mình đã từng làm Nếu những quy định của doanh nghiệp không thể tác động đến sự tự do nghề nghiệp của NLĐ thì Tòa án Lao động Liên bang sẽ xem xét giới hạn điều khoản không cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng lao động mà hai bên đã thỏa thuận, nghĩa vụ bảo mật chỉ được chấp nhận khi điều khoản không cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng lao động có quy định về việc bồi thường và trong thời hạn tối đa là hai năm Trong thời hạn hai năm này, NLĐ bị cấm không được sử dụng bất kỳ kiến thức chuyên môn nào dựa trên kinh nghiệm của mình
Đây là một ví dụ về điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động: “Trong suốt quá trình làm việc, NLĐ phải cam kết giữ bí mật tất cả bí mật kinh doanh, thương mại của NSDLĐ và tất cả những công việc kinh doanh mà mình có được trong quá trình làm việc Sau khi chấm dứt quan hệ lao động, NLĐ vẫn tiếp tục thực nghĩa vụ
vụ bảo mật đối với các bí mật thương mại, kinh doanh: [ ] NLĐ không phải thực hiện nghĩa vụ bảo mật đối với những hiểu biết dễ dàng tiếp cận hay những hiểu biết
rõ ràng không gây thiệt cho công ty nếu bị tiết lộ Trong trường hợp NLĐ nghi ngờ không biết liệu một thông tin có phải là bí mật thương mại hay không thì NLĐ bắt buộc phải xin hướng dẫn từ ban điều hành công ty.”
Như vậy, nhìn chung một điều khoản bảo mật hợp lệ phải đáp ứng hai điều kiện, thứ nhất, phải có thỏa thuận bồi thường; thứ hai, thời hạn không quá hai năm sau khi chá dứt hợp đồng lao động
2.1.4 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bí mật thương mại trong quan hệ lao động
Biện pháp bồi thường thiệt hại
Khi NLĐ vi phạm nghĩa vụ bảo mật thì họ không chỉ gánh chịu hậu quả theo quy định của luật hình sự mà còn phải chịu trách nhiệm theo quy định của luật lao động Việc NSDLĐ áp dụng quy định nào của luật lao động thì còn phụ thuộc vào hành vi vi phạm của NLĐ xảy ra vào thời điểm nào: trước khi bắt đầu quan hệ lao động, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động hay sau khi chấm dứt hợp đồng lao động