Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản đã giữ nguyên những nội dung của Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, vẫn còn nhiều bất cập đã gây không ít
Trang 1NGUYỄN THỊ THÚY AN
TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 - NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
Chuyên ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là kết quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Đại Các bản án, thông tin được nêu trong luận văn là trung thực và chính xác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy An
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 7
1.1 Khái niệm người không được quyền hưởng di sản thừa kế 7
1.1.1 Khái niệm thừa kế 7
1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế 7
1.1.3 Khái niệm chung về người thừa kế 9
1.1.4 Khái niệm người thừa kế không được quyền hưởng di sản 12
1.2 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản 17
1.2.1 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ thế kỷ XV đến ngày 01/7/1996 17
1.2.2 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ ngày 01/7/1996 đến nay 24
1.3 Thủ tục yêu cầu tuyên bố người thừa kế không được quyền hưởng di sản45 1.3.1 Chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người thừa kế không được quyền hưởng di sản 45
1.3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố người thừa kế không có quyền hưởng di sản 48
1.4 Hậu quả pháp lý khi người thừa kế thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản 49
Trang 5dung di chúc khi trong số những người thừa kế có người bị tước quyền hưởng di sản 52
Kết luận chương 1 56 CHƯƠNG 2 BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 57 2.1 Về vấn đề tên gọi của Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản 57 2.2 Bất cập và hướng hoàn thiện quy định pháp luật về căn cứ xác định người thừa kế không có quyền hưởng di sản 57 2.3 Bất cập và hướng hoàn thiện quy định pháp luật về hậu quả pháp lý khi người thừa kế thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản 65 2.4 Bất cập và hướng hoàn thiện quy định pháp luật về việc hướng dẫn, giải thích thuật ngữ 68 Kết luận chương 2 70 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6đề thừa kế Cụ thể Điều 19 Hiến pháp 1959 “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ
quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”, Điều 27 Hiến pháp 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”, Điều 58 Hiến pháp 1992 quy định
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” và hiện
nay tại Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo hiến pháp và pháp luật” Nhằm cụ thể hóa các quy định trên đây của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự
năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006 đã dành 57 điều luật (từ Điều 631 đến Điều 687) và Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 cũng dành 54 điều luật (từ Điều 609 đến Điều 662), để quy định chi tiết về chế định thừa kế, đã tạo ra chuẩn mực pháp lý cho cách xử sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ thừa kế và tạo môi trường thuận lợi để các quan hệ thừa kế phát triển lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật
Pháp luật thừa kế một mặt đảm bảo cho mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền
để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, mặt khác pháp luật cũng quy định một số trường hợp không được quyền hưởng di sản Theo đó, đối với các trường hợp người thừa kế xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người để lại di sản và những người thừa kế khác thì
Trang 7pháp luật không cho họ được quyền hưởng di sản, đây được xem là biện pháp chế tài áp dụng đối với những người đi ngược lại các giá trị đạo đức mà pháp luật tôn trọng và bảo vệ Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản đã giữ nguyên những nội dung của Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, vẫn còn nhiều bất cập đã gây không ít khó khăn cho việc áp dụng quy định này vào thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế như còn thiếu căn cứ xác định người thừa kế không có quyền hưởng di sản, quy định chưa cụ thể, rõ ràng vấn đề hậu quả pháp lý khi người thừa kế thuộc trường hợp không được quyền
hưởng di sản… Chính vì những lý do trên mà tác giả chọn đề tài “Trường hợp
không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam” làm
đề tài luận văn cao học Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện hơn quy định pháp luật về các trường hợp
không được quyền hưởng di sản
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này Do đó, các vấn đề của chế định thừa kế đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu ở các cấp
độ khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của xã hội và pháp luật như:
Đỗ Văn Đại (2013), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã chỉ ra điểm khác nhau cơ bản của trường hợp không được quyền hưởng di sản với trường hợp bị truất quyền hưởng di sản chính là căn cứ làm phát sinh các trường hợp đó Tác giả đã phân tích các điều kiện về nội dung
và hình thức làm phát sinh trường hợp không được quyền hưởng di sản Qua việc phân tích và liên hệ thực tiễn áp dụng quy định này trong hoạt động xét xử của Tòa án thì Tác giả đã đề xuất một số hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về trường hợp không được quyền hưởng di sản
Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật Dân sự Việt
Nam, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã phân tích các trường hợp không
được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995 (giữ nguyên nội dung và được quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 621
Bộ luật Dân sự năm 2015) Tuy nhiên, Tác giả dừng lại ở phần nghiên cứu các trường hợp không được quyền hưởng di sản, chưa đưa ra các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện quy định này
Trang 8Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm
1945 đến nay, NXB Tư pháp, Hà Nội Tại Mục IV “Những người không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật”, Tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triển
của quy định về người không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật, nghiên cứu các vấn đề cơ bản về trường hợp không được quyền hưởng di sản quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995 (những quy định này được giữ nguyên và quy định tại Điều 643
Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên những phân tích trên của Tác giả vẫn còn phù hợp) Tuy nhiên, Tác giả chưa đề cập đến các giải pháp nhằm định hướng sửa đổi, bổ sung để quy định phù hợp với tình hình thực tế
Nguyễn Minh Tuấn (2009), Pháp luật thừa kế của Việt Nam – Những vấn đề lý
luận và thực tiễn, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Tác giả đã khái quát lịch sử hình
thành và phát triển của quy định trên, đồng thời phân tích sơ lược các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 Tuy nhiên, vấn đề định hướng hoàn thiện quy định này thì chưa được đề cập đến
Hoàng Thế Liên (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 tập III, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội Công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở những lý giải cơ bản
về người không được quyền hưởng di sản quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm
2005 và cũng chưa đưa ra được giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này
Lê Minh Hùng (2003), “Hoàn thiện chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân
sự Việt Nam hiện hành”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh Do phạm vi nghiên cứu của Tác giả là toàn bộ chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, nên đối với các trường hợp không được quyền hưởng di sản quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995 tác giả chỉ khái quát vấn đề mà chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu đối với từng trường hợp cụ thể
Ngoài ra, các bài viết có nêu một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát và Nghiên cứu lập pháp như:
Trần Thị Huệ (1998), “Bàn về việc xác định “Hai phần ba suất của một người
thừa kế theo pháp luật””, Tạp chí Luật học, số 2, tr 21-24: Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết
phải xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều
646 Bộ luật Dân sự năm 1995 là một “Nhân suất” để xác định “Kỷ phần bắt buộc” cho những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Tuy nhiên, Tác giả chưa
có sự nghiên cứu chuyên sâu về các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo
Trang 9quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995, cũng như chưa đề suất hướng hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này
Nguyễn Thị Liên Hương (2004), “Về việc tước quyền thừa kế theo luật của bà
Võ Thị Xuân”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 02, tr 11-12: Tác giả nghiên cứu thực
trạng áp dụng pháp luật trong trường hợp tước quyền hưởng di sản của người thừa kế
do có hành vi giả mạo di chúc Do phạm vi nghiên cứu trong vụ án cụ thể nên Tác giả chưa đề cập đến các vấn đề pháp lý khác của quy định pháp luật về trường hợp không được quyền hưởng di sản và cũng chưa đề suất hướng hoàn thiện quy định này
Nguyễn Thị Hồng Lụa (2003), “Một vài ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung các quy
định thừa kế trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2, tr 6: Trong phạm vi
bài viết Tác giả chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu về trường hợp không được quyền hưởng di sản mà chỉ đề suất một số kiến nghị về việc bổ sung căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản
Phạm Văn Tuyết (1995), “Người thừa kế không được hưởng di sản thừa kế”, Tạp
chí Luật học, số 3, tr 46-48: Tác giả khái quát các trường hợp người thừa kế bị tước
quyền hưởng di sản quy định tại Điều 7 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 Tuy nhiên, Tác giả chưa đưa ra hướng đề xuất để hoàn thiện quy định pháp luật về trường hợp này Nhìn chung, các bài viết trên chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu các căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản, hậu quả pháp lý khi người thừa kế
bị tước quyền hưởng di sản và các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này còn chung chung, chưa cụ thể
Với đề tài“Trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ
luật Dân sự Việt Nam” Tác giả đi sâu phân tích, làm sáng tỏ bản chất và các quy định
của pháp luật về vấn đề trên Tuy có kế thừa các kinh nghiệm và những thành công chung của các đề tài trước, nhưng đây là một đề tài nghiên cứu toàn diện, những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định này xuất phát từ việc tổng kết lý luận và thực tiễn quá trình áp dụng quy định trên vào cuộc sống nên cũng có nhiều điều mới mẽ
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện trường hợp không được quyền hưởng di sản trong chế định thừa kế của pháp luật dân sự cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng quy định này vào hoạt động xét xử của Tòa án trong thời gian qua để làm sáng tỏ các vấn đề bất cập, thiếu sót của nó Qua đó, Tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn quy định về trường hợp không
Trang 10được quyền hưởng di sản của Bộ luật Dân sự, làm cho nó mang tính khả thi, đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi để quy định này dễ dàng đi vào cuộc sống
Đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về trường hợp không được quyền hưởng di sản;
- Nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật về trường hợp không được quyền hưởng di sản nhằm tìm ra những điểm bất cập, chưa hoàn thiện;
- Liên hệ với quy định của pháp luật Dân sự một số nước trên thế giới để làm
rõ hơn các điểm được và chưa được của quy định về trường hợp không được quyền hưởng di sản hiện nay trong pháp luật thừa kế của Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
về trường hợp không được quyền hưởng di sản trong chế định thừa kế hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Quy định về trường hợp không được quyền hưởng di sản qua hai Bộ luật Dân
sự vẫn giữ nguyên nội dung và được quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm
2005 và Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 Với đề tài nghiên cứu của mình Tác giả tập trung khai thác các quy định pháp luật về trường hợp không được quyền hưởng di sản trong hai Bộ luật Dân sự trên cùng những tài liệu có liên quan đến vấn
đề này
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề thuộc Chương 1 của luận văn Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài Tác giả nghiên cứu, các căn cứ xác định người thừa kế không có quyền hưởng di sản, hậu quả pháp lý khi có người thừa kế thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản
Phương pháp lịch sử và logic được sử dụng để nghiên cứu quá trình lịch sử pháp triển của quy định về người không được quyền hưởng di sản
Để giải quyết các vấn đề thuộc Chương 2 Tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, so sánh và bình luận để nghiên cứu những vấn đề hạn chế và hướng hoàn thiện quy định pháp luật về trường hợp không được quyền hưởng di sản
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với đề tài “Trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ
luật Dân sự Việt Nam” thì đây là lần đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về trường hợp
không được quyền hưởng di sản;
Trang 11Đề tài nghiên cứu toàn diện các quy định hiện hành về các trường hợp không được quyền hưởng di sản Đặc biệt, đề tài ưu tiên hướng đến nghiên cứu nhằm tìm
ra những điểm bất cập của quy định pháp luật về các trường hợp không được quyền hưởng di sản, hậu quả pháp lý khi có người thừa kế đang ở trong tình trạng không được quyền hưởng di sản, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi cho việc sửa đổi, bổ sung quy định
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
1.1 Khái niệm người không được quyền hưởng di sản thừa kế
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa trên những cơ sở vật chất nhất định Của cải do con người tạo ra một cách hợp pháp sẽ thuộc sở hữu của họ và
họ có toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình Khi họ chết, những tài sản thuộc sở hữu còn lại của họ sẽ được dịch chuyển cho người còn sống
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã
chết cho người còn sống” Về mặt ngữ nghĩa thì thừa kế là thừa hưởng một cách kế
tục Theo phương diện này, từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế là việc
hưởng của người chết để lại cho” 1
Vì vậy, theo nghĩa thông thường, có thể hiểu
thừa kế là quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết cho người còn sống
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản
và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế Người thừa kế trở thành chủ sở hữu tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật2
Tóm lại, thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho một chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo quy tắc, mà mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy tắc khác nhau do điều kiện kinh tế, chính trị xã hội… quyết định Trong xã hội chưa có nhà nước và pháp luật thì thừa
kế chỉ đơn thuần là một hiện tượng xã hội Sự dịch chuyển tài sản từ người chết cho người khác được thực hiện theo phong tục, tập quán của thời kỳ đó Cho nên, trong thời kỳ này chưa có khái niệm quyền thừa kế
1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Khi chưa xuất hiện nhà nước, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản theo phong tục tập quán thì khi nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí nhà nước Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm tác động đến
1
Kỳ Duyên (2013), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 794
và quyền thừa kế, NXB Hồng Đức, tr 358
Trang 13các quan hệ xã hội làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp mình Nghĩa là khi có nhà nước thì mọi quan hệ cũng như mọi sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội đều được pháp luật điều chỉnh Thừa kế trong xã hội đã
có nhà nước cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Vì thế, có thể nói rằng khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện và chỉ xuất hiện chừng nào có sự xuất hiện nhà nước và pháp luật
Như vậy, nếu thừa kế xuất hiện ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì khái niệm quyền thừa kế chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước
Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước quy định quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, quy định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như quy định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người còn sống khác Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau
sẽ có sự khác nhau trong quy định về quyền thừa kế Thậm chí ngay trong một chế
độ xã hội nhưng ở từng giai đoạn khác nhau sự quy định này cũng có thể khác nhau
Về phương diện khách quan (hay nghĩa rộng) thì quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người đã chết cho các chủ thể khác Ở phương diện này thì quyền thừa kế còn được gọi là pháp luật thừa kế
Pháp luật thừa kế ở Việt Nam qua các thời kỳ đều xuất phát từ cơ sở kinh tế, phù hợp với thực tế khách quan và do cơ sở kinh tế của xã hội quyết định Khi chế
độ kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong sự quy định của pháp luật Vì vậy, dù pháp luật là ý chí của nhà nước (do nhà nước đặt ra) nhưng nó vẫn mang tính khách quan Cho nên, khi xem xét quyền thừa kế dưới góc độ một chế định pháp luật thì có nghĩa là xem xét, nhìn nhận ở phương diện khách quan
Ngoài ra, quyền thừa kế còn được xem xét ở một phương diện khác, phương diện chủ quan (hay nghĩa hẹp) Theo đó, quyền thừa kế là các quyền cụ thể mà pháp luật đã quy định cho các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế Pháp luật quy định cho các chủ thể được quyền để lại thừa kế như thế nào, việc lập di chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, ai là người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì không có quyền hưởng di sản, quyền từ chối nhận di sản ra sao… Cụ thể tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2005 và
Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt
tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Pháp luật nước ta tôn trọng quyền tự định đoạt
Trang 14của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ Khi còn sống họ có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai thông qua các hợp đồng dân sự như bán, tặng cho Trước khi chết, họ có quyền định đoạt việc dịch chuyển tài sản đó cho ai sau khi
họ chết Nếu việc định đoạt này được thực hiện bằng ý chí của họ thể hiện trong di chúc đã lập thì được gọi là quyền để lại thừa kế theo di chúc Trong trường hợp người
để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập nhưng di chúc không có hiệu lực pháp luật thì di sản của họ được dịch chuyển cho người khác theo quy định của pháp luật Người được thừa kế trong trường hợp này phải là người có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và phải ở nhóm thân thích nhất đối với người chết Trong trường hợp này pháp luật phỏng đoán mong muốn của người chết trong việc dịch chuyển tài sản mà họ để lại cho những ai
Bên cạnh quyền để lại di sản thừa kế, cá nhân còn có quyền hưởng di sản Nếu việc hưởng di sản của một người được xác định theo ý chí của người để lại di sản thể hiện trong di chúc của họ thì được gọi là quyền hưởng di sản theo di chúc Nếu việc hưởng di sản của một người được xác định theo quy định của pháp luật thì được gọi là quyền hưởng di sản theo pháp luật
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền thừa kế của cá nhân bao gồm: Quyền để lại di sản theo di chúc, quyền để lại
di sản theo pháp luật, quyền hưởng di sản theo di chúc và quyền hưởng di sản theo pháp luật
1.1.3 Khái niệm chung về người thừa kế
Người thừa kế là một khái niệm đã xuất hiện từ khi xuất hiện chế định pháp luật thừa kế, vì khi có chế định thừa kế thì vấn đề cần thiết đó là phải có người thừa
kế Vậy, khái niệm người thừa kế xuất hiện trong lịch sử loài người từ khi có bộ luật đầu tiên, trong pháp luật Việt Nam nó cũng đã được xuất hiện trong các luật cổ của nước ta
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Nam chưa có quy định thế nào là người thừa kế Dù đã trải qua các chế độ xã hội khác nhau nhưng khi nói đến người thừa kế thì cùng theo quan điểm chung là những người được hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật
Trong đó, người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản của người chết để lại theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước khi họ chết Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức tùy theo sự định đoạt của người để lại di chúc Người thừa kế có thể là người có mối quan hệ hôn nhân, huyết
Trang 15thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặc không có các mối quan hệ này, không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện về quan hệ này
Người thừa kế theo pháp luật là những người thuộc diện và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, thuộc một trong các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đối với người để lại di sản
Ở Việt Nam trước năm 1945, dưới chế độ thực dân phong kiến với ý thức hệ bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột, giai cấp thống trị thường đề cao quyền sở hữu và xem nó là quyền thiêng liêng, luôn được quan tâm nhằm duy trì gia đình nội tộc Do đó, quan hệ huyết thống luôn được đề cao và quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế
Dưới chế độ dân chủ, kể từ năm 1945 đến nay, người thừa kế theo pháp luật
đã được mở rộng (nếu xét theo quan hệ huyết thống) Pháp luật thừa kế nước ta, đã dần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong việc xác định người thừa kế Quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng, giữa các con trong gia đình đã được pháp luật quy định, loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của vợ góa và con gái đã kết hôn với người khác nhưng vẫn thuộc diện thừa
kế của người chồng đã chết Đây là một quy định có tính chất cách mạng, nó không
những làm thay đổi quan hệ trong xã hội mà còn thay đổi tận gốc tư tưởng “xuất
giá tòng phu”, đồng thời bảo vệ trực tiếp quyền thừa kế của người vợ góa, mà trước
đó người vợ góa đã kết hôn không thể có quyền này
Hiện nay, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người thừa
kế theo hàng thừa kế, khi đó trình tự thừa kế sẽ do pháp luật quy định Người thừa
kế theo pháp luật là người có mối quan hệ thân thích, gần gũi nhất với người để lại
di sản Đó là những người có một trong ba mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học
thì người thừa kế là “Người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” 3 Điều 635 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Nội, tr 139
Trang 16Nhưng điều luật trên không phải là một khái niệm mà đó là quy định về điều kiện của người thừa kế Để có thể được hưởng thừa kế thì những người thừa kế phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định của pháp luật, các điều kiện đó có nội dung sau: Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là cá nhân: Khi một người chết đi thì có nghĩa là người đó không còn có năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật của Việt Nam Bởi vì, các chủ thể luôn luôn phải đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể có nghĩa người đó phải còn sống vào thời điểm phát sinh quan hệ đó Trong quan hệ thừa kế cũng vậy, để được hưởng thừa kế thì người đó phải có năng lực chủ thể tức người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Theo Điều 23 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì
“Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử” Như vậy, một đứa trẻ được xem như sinh ra và còn sống
là sau 24 giờ Trong trường hợp một người sinh ra sau thời điểm mở thừa kế thì người đó phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và phải sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là tổ chức: Để một cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc thì cơ quan, tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế Tức là với thời điểm người để lại di sản chết, cơ quan, tổ chức đã được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động
Từ những lý luận về người thừa kế như đã trình bày, theo quan điểm tác giả,
người thừa kế có thể được định nghĩa như sau: Người thừa kế là người được hưởng
di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật
Người thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơn rất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân bất kỳ, nếu được chỉ định mà không cần xét đến những quan hệ khác của họ đối với người để lại di sản Người thừa kế theo di chúc có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, pháp luật không quy định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc mà việc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của
họ để lại cho những người thừa kế
Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ, họ có thể là người thuộc diện hay không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, có thể là cơ
Trang 17quan, tổ chức được hưởng di sản do ý chí của người để di sản quyết định Thì người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có một trong ba mối quan
hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được hưởng quyền hưởng di sản một cách bình đẳng, ngang nhau giữa những người cùng hàng thừa kế Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
1.1.4 Khái niệm người thừa kế không được quyền hưởng di sản
1.1.4.1 Người thừa kế có quyền hưởng di sản
Quyền hưởng di sản của những người thừa kế có thể xác định theo hai căn cứ sau:
+ Theo quy định của pháp luật: Những người có quyền hưởng di sản của nhau
là những người mà giữa họ có mối liên hệ với nhau về một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng
+ Theo ý chí của các chủ thể: Là những người mà bằng ý chí của mình (thể hiện trong di chúc), để lại di sản cho nhau
Như vậy, quyền được hưởng di sản của người đã chết để lại trước hết thuộc về người thừa kế theo di chúc và người thừa kế thuộc diện và hàng thừa kế theo luật Tuy nhiên, thừa kế theo luật và thừa kế theo di chúc chỉ là một căn cứ, ngoài ra còn
có những căn cứ khác để một cá nhân có thể được hưởng di sản thừa kế
Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 644 Bộ luật Dân
Trang 18suất đó, trừ khi họ là những người từ chối di sản hoặc họ là những người không được quyền hưởng di sản:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động
Như vậy, quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc của những người thừa kế trong trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp với phong tục, tập quán cũng như phù hợp với các quy tắc đạo đức trong đời sống của người Việt Nam
Theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 652 Bộ luật Dân
sự 2015:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người
để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt được hưởng nếu còn sống
Dựa trên quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 622 Bộ luật Dân
sự 2015, người được hưởng di sản là Nhà nước:
Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi
đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước Như vậy, người có quyền hưởng di sản là những người thừa kế theo pháp luật, theo di chúc, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, người được thừa kế thế vị và nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế
1.1.4.2 Người thừa kế không có quyền hưởng di sản
Khi các chế định về thừa kế xuất hiện thì xác định được những ai được hưởng thừa kế Đồng thời, những quy định đó cũng xác định những ai không được quyền
hưởng di sản thừa kế do có những hành vi “bất xứng” với việc được hưởng phần di
sản đó
Thuật ngữ “người không được quyền hưởng di sản” còn xuất hiện nhiều trong
hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới Tuy nhiên, chưa có pháp luật nước
nào đưa ra định nghĩa thế nào là “người không được quyền hưởng di sản”
Ở Việt Nam, vấn đề người không được quyền hưởng di sản đã được quan tâm
từ rất sớm, ngay từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ Pháp thuộc đều có những quy
Trang 19định về những người bất xứng thừa hưởng di sản Ví dụ như tại Điều 388 Quốc triều Hình luật; Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ…
Tuy nhiên, chỉ đến khi Pháp lệnh Thừa kế 1990 ra đời thì quy định về người không được quyền hưởng di sản mới được đề cập một cách rõ ràng và tương đối đầy đủ nhưng vẫn chưa có quy định nào định nghĩa thế nào là người không được quyền hưởng di sản Ngay cả trong Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 vẫn giữ nguyên những trường hợp quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh Thừa kế 1990 Nhưng qua những quy định về các trường hợp không được quyền hưởng di sản đó thì người không có quyền hưởng di sản có một số đặc điểm như sau:
- Là người mà có những hành vi vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng với người để lại di sản hoặc có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của người để lại di sản hoặc của người thừa kế khác
Hiện nay, những hành vi “bất xứng” này được pháp luật quy định tại Khoản 1
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015
- Là người nếu không bị pháp luật quy định trong diện không được hưởng di sản thì họ sẽ được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật
- Người thừa kế có những hành vi bất xứng mà pháp luật quy định có thể bị mất quyền hưởng di sản nhưng lại được chính người để lại di sản thể hiện ý chí là vẫn cho hưởng khi biết những hành vi đó
Qua những phân tích ở trên, Tác giả định nghĩa về người không được quyền
hưởng di sản như sau: Người không được quyền hưởng di sản là người không được
hưởng phần di sản do người chết để lại mà lẽ ra thuộc về mình do có những hành vi được pháp luật quy định
1.1.4.3 Phân biệt trường hợp người không được quyền hưởng di sản do có các hành vi được pháp luật quy định với không được quyền hưởng di sản do chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản và người bị truất quyền thừa kế
Để có thể phân biệt được những trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 với không được quyền hưởng di sản trong một số trường hợp khác như chết trước hoặc chết cùng thời điểm, do bị truất quyền thừa kế thì cần tìm hiểu những vấn đề cơ bản về người chết trước hoặc chết cùng thời điểm và người bị truất quyền hưởng di sản
+ Trường hợp chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản
Trang 20Trong trường hợp người thừa kế chết trước người để lại di sản thì bản thân người đó không được hưởng di sản thừa kế vì theo điều kiện của người thừa kế thì người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Hiện nay, vấn đề những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng thời điểm quy định tại Điều 641 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 619 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
Trong trường hợp những người có quyền thừa kế tài sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước thì họ không được hưởng di sản thừa kế của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị
Quy định trên đã giải quyết được vấn đề chia di sản thừa kế của những người
có quyền thừa kế của nhau chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do có sự kiện pháp lý phát sinh trên thực tế như cùng tai nạn, thiên tai, thảm họa… thời điểm họ chết chỉ cách nhau rất ít thời gian mà không thể chứng minh được ai chết trước, ai chết sau
Hậu quả pháp lý đều là người không được quyền hưởng di sản nhưng bản chất của các vấn đề là hoàn toàn khác nhau Tác giả đưa ra một số điểm khác nhau để phân biệt:
Thứ nhất: Xét về nguyên nhân gây ra hậu quả pháp lý là không được quyền
hưởng di sản Trong trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự
2005 và Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì do người thừa kế có những hành vi trái đạo đức xã hội và được pháp luật quy định là không được quyền hưởng
di sản Trong trường hợp người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì do yếu tố khách quan làm cho người thừa kế không còn sống tại thời điểm mở thừa kế Theo nguyên tắc của luật thừa kế thì người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Do đó, người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì không được quyền hưởng thừa kế của nhau
Thứ hai: Trong trường hợp ở Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và
Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì người không được quyền hưởng di sản vẫn còn sống vào thời điểm mở thừa kế, tuy năng lực dân sự vẫn còn nhưng năng lực hưởng di sản thừa kế đã bị hạn chế bởi quy định của pháp luật Trường hợp người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm thì người thừa kế đã không còn sống ở thời điểm mở thừa kế Thời điểm chết của mỗi cá nhân đồng thời là thời
Trang 21điểm chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của người đó, tức là người này không còn năng lực hưởng thừa kế
+ Trường hợp người thừa kế bị truất quyền thừa kế
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Khoản 1 Điều
621 Bộ luật Dân sự 2015 thì người thừa kế sẽ không được quyền hưởng di sản nếu
có một trong những hành vi được pháp luật quy định Đối với người thừa kế bị truất quyền thừa kế là do ý chí của những người lập di chúc thể hiện thông qua việc cho hay không cho một người thừa kế di sản của mình Hiện nay, vấn đề truất quyền thừa kế thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng Có quan điểm cho rằng việc truất quyền thừa kế đó phải được chính những người để lại di sản thể hiện bằng cách ghi nhận trong di chúc hoặc một văn bản nhất định
Mặt khác, cũng có quan điểm cho rằng, người để lại di sản không cần thể hiện thành những hình thức nhất định mà có thể coi là mặc nhiên bị truất quyền hưởng di sản trong trường hợp người để lại di chúc không nhắc đến người đó trong di chúc4 Việc truất quyền thừa kế bị hạn chế bởi Điều 669 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 644
Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Khi thuộc trường hợp này người thừa kế không bị truất quyền thừa kế
Qua sự phân tích ở trên, để phân biệt người không được quyền hưởng di sản
do có hành vi bất xứng và người bị truất quyền thừa kế, có thể dựa trên những tiêu chí sau:
Thứ nhất: Căn cứ để xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản
Người không được hưởng di sản do có hành vi bất xứng là do pháp luật quy định còn người không được quyền hưởng di sản do bị truất quyền là do ý chí của người
để lại di sản, dựa trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại di sản
Thứ hai: Sự khác biệt về hình thức thừa kế áp dụng trong hai trường hợp
không được quyền hưởng di sản Theo đó, người thừa kế theo di chúc và người thừa
kế theo pháp luật nếu có hành vi bất xứng đều không được quyền hưởng di sản Người không được quyền hưởng di sản do bị truất quyền thừa kế chỉ áp dụng trong trường hợp thừa kế theo di chúc Bởi, khi đó người lập di chúc mới thể hiện được ý chí truất quyền thừa kế của mình
phố Hồ Chí Minh
Trang 221.2 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản
Qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, pháp luật Việt Nam đã đạt những thành
tựu nhất định Trong tiến trình hình thành và phát triển của xã hội, pháp luật thời kỳ
sau đã có sự kế thừa những tinh hoa, tiến bộ của pháp luật thời kỳ trước mặc dù pháp luật ở mỗi thời kỳ có sự điều chỉnh khác nhau do chịu sự chi phối bởi tục lệ và luật pháp của chế độ xã hội thời kỳ đó Trên cơ sở của pháp luật thời kỳ trước, căn
cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản ngày càng được hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn
1.2.1 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ thế kỷ XV đến ngày 01/7/1996
1.2.1.1 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ thế kỷ XV đến tháng Tám năm 1945
Thời Lê (hay còn gọi là thời Hậu Lê, bao gồm cả giai đoạn Lê sơ và Lê Trung Hưng) là một trong những thời kỳ có vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Đó là thời kỳ đất nước ổn định, phát triển, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ, mở rộng biên giới, hạn chế các xu hướng cát cứ, xây dựng một nhà nước tập quyền mạnh, có
vị trí và uy tín lớn trong khu vực Nhưng từ thế kỷ XVI trở đi, do những mâu thuẫn trong nội bộ, các thế lực phong kiến nổi dậy tranh giành quyền lực, làm suy yếu nhà nước trung ương, dẫn đến tình trạng đất nước bị phân chia Đây là giai đoạn mà Vương triều Lê tồn tại có tính chất danh nghĩa, còn quyền lực thực tế lại nằm trong
tay các thế lực phong kiến khác như Mạc, Trịnh, Nguyễn…
Những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là sự ảnh hưởng của đạo phật và nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung pháp luật nói chung và những quy định về thừa kế trong Quốc triều Hình luật (hay còn gọi là Luật Hồng Đức) nói riêng Tư tưởng tôn ti, thứ thế, con trưởng, vợ cả, vợ lẽ, nàng hầu, hương hỏa; trật tự trong quan hệ dòng họ và gia đình theo thứ bật trên dưới, trước sau được tôn trọng như một chuẩn mực của lẽ sống và đạo đức và được hiểu như nguyên tắc cương thường trong các quan hệ xã hội, dòng họ và gia đình, được thể hiện rõ nét trong những quy định về thừa kế dưới triều Lê
Với truyền thống nông nghiệp thì đất đai là tài sản có giá trị nhất và là di sản thừa kế cơ bản của một người sau khi chết để lại cho con cháu Pháp luật nhà Lê đã dành một chương để quy định vấn đề thừa kế có di sản là đất đai đó là chương
“Điền sản” trong Quốc triều Hình luật Ngoài quy định các vấn đề thừa kế đất đai
Trang 23theo di chúc, theo pháp luật, quy định người được hưởng di sản, cách thức phân chia di sản, di sản dùng vào việc hương hỏa, thờ cúng… thì chương “Điền sản” cũng quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản (“bất xứng” hưởng
di sản) Điều 388 Quốc triều Hình luật quy định:
“Cha mẹ mất cả, có ruộng đất chưa kịp để chúc thư, mà anh chị em tự chia nhau, thì lấy một phần hai mươi (1/20) số ruộng đất làm hương hỏa, giao cho người trai trưởng giữ, còn thì chia nhau Phần con của vợ lẽ, nàng hầu thì phải kém Nếu
có lệnh của cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì phải mất phần mình” 5
Pháp luật thời phong kiến chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo nên việc thờ cúng tổ tiên luôn được đặt lên hàng đầu Khi phân chia di sản thừa kế phải ưu tiên phần di sản dùng vào việc hương hỏa, con cháu phải dành một phần hai mươi điền sản làm hương hỏa Trường hợp có nhiều người mà ruộng ít, thì phần hương hỏa và phần con cháu, cho được tùy tiện mà chia, miễn là đồng thuận Hương hỏa giao cho con trai trưởng, nếu không còn con trai trưởng thì giao cho cháu trai trưởng quản lý, nếu không có cháu trưởng thì lấy người con thứ Nếu người vợ cả không có con thì chọn lấy người con nào tốt của vợ lẽ Nếu người để lại di sản không có con, cháu thì phải chọn một người trong dòng họ làm người thờ tự và giao phần hương hỏa cho người đó để người đó thờ cúng mình và thờ cúng tổ tiên… Khi còn sống ông bà cha
mẹ có thể lập san thư để chia tài sản cho con cháu, có thể lập di chúc hoặc có lệnh chia tài sản cho con cháu, nếu người nào làm trái di chúc, trái lệnh thì mất quyền thừa kế Những trường hợp này được coi là phạm vào tội bất hiếu (tố cáo, chửi mắng, đánh, giết ông bà cha mẹ; trái lời, không chịu để tang…), được quy định trong đoạn 272, 295 sách Hồng Đức thiện chính thư, Điều 506 Quốc triều Hình luật
Vì thế, khi người thừa kế phạm vào các tội bất hiếu, làm trái lệnh, trái di chúc của ông bà cha mẹ thì đó được xem là căn cứ để tước quyền hưởng di sản do ông bà, cha mẹ để lại
Hoàng Việt Luật Lệ (hay Luật Gia Long) bị ảnh hưởng của pháp luật nhà Thanh nên các quy định của Luật Hồng Đức ít được kế thừa Theo Luật Gia Long
chế độ gia trưởng trong gia đình được tuyệt đối hóa “…Nếu gia đình còn ông bà,
cha mẹ, thì con cháu không được đòi chia tài sản Ai trái thì bị phạt 100 trượng, nếu ông bà thưa kiện thì bị buộc tội Trong thời hạn để tang cha mẹ mà anh em tách
hộ khẩu, đòi chia gia sản thì bị phạt 80 trượng, nhưng nếu yêu cầu chia di sản theo
Trang 24
di chúc thì không sao” (Điều 82, Điều lệ 10 Biệt tịch dị tài, Riêng làng khác của)6 Qua những quy định trên cho thấy, trường hợp ông bà, cha mẹ không lập di chúc, gia đình còn người nắm quyền gia trưởng, thì khi mở thừa kế di sản không được phân chia Di sản do người có quyền gia trưởng quản lý sử dụng vào việc chung của gia đình Trường hợp ông bà, cha mẹ đều đã chết, di sản được chuyển cho tôn trưởng tiếp tục quản lý sử dụng Quy định này cũng phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội vào thế kỷ XIX ở nước ta Thời kỳ này, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lạc hậu, ruộng đất ít, vì vậy nếu chia nhỏ ruộng đất thì không thể canh tác được, do đó hình thái gia đình vào thời kỳ này là đại gia đình (gồm nhiều đời cùng sống chung) Khi có người trong gia đình chết thì tài sản vẫn là của chung đại gia đình, cho nên vấn đề thừa kế không cần phải đặt ra Cho nên, Luật Gia Long hầu như không quy định về thừa kế theo pháp luật
Mặc dù pháp luật bảo hộ quyền gia trưởng trong gia đình, tuy nhiên pháp luật cũng tôn trọng ý chí của người lập di chúc, cho nên người thừa kế theo di chúc có quyền yêu cầu chia di sản kể cả trong thời kỳ còn để tang cha, mẹ
Trường hợp người quá cố không lập di chúc, di sản được chuyển cho người nắm quyền gia trưởng hoặc tôn trưởng quản lý sử dụng phục vụ cho kinh tế của đại gia đình Nếu anh, em, con, cháu ở chung với tôn trưởng, thì tôn trưởng quản lý tài sản Các thành viên trong gia đình không được tự ý tiêu xài, nếu vi phạm mà tôn trưởng thưa kiện thì tùy từng trường hợp sẽ bị phạt từ 20 roi đến 100 trượng
Luật Gia Long quy định về thừa kế rất sơ sài, vì di sản của người quá cố chủ yếu là không chia (trừ trường hợp thừa kế theo di chúc) mà giao cho người nắm quyền gia trưởng hoặc tôn trưởng quản lý sử dụng cho việc chung của gia đình Do
đó, vấn đề tước quyền hưởng di sản của một người có quyền hưởng di sản hầu như không được đề cập Vì thế, chúng ta không có căn cứ để nghiên cứu sâu vấn đề này Pháp luật thời phong kiến nước ta do nhà nước phong kiến ban hành, tuy có chịu ảnh hưởng của pháp luật nước ngoài nhưng nội dung pháp luật do nhà nước phong kiến quy định Còn pháp luật nước ta thời Pháp thuộc do toàn quyền Đông – Pháp thay mặt Đại quốc dân Pháp mà tuyên bố Bộ dân luật thi hành tại các Tòa án Bắc Kỳ năm 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936 Hai bộ luật này được xây dựng dựa trên Bộ luật Dân sự Pháp 1804, cho nên nội dung của hai bộ
Trang 25
luật đó giống với Bộ luật dân sự của Pháp, tuy nhiên có điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam giữa thế kỷ XX
Trường hợp không được quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật hoàn toàn giống nhau Cụ thể Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ – Những kẻ sau đây là không xứng đáng ăn thừa kế
và bị truất mất quyền thừa kế:
“1 Kẻ nào đã do người mệnh một có chúc thư để lại nói rõ là kẻ ấy không xứng đáng ăn thừa kế;
2 Kẻ đã xâm phạm đến tính mệnh người mệnh một, là chánh phạm, đồng phạm hay tùy phạm mặc lòng;
3 Kẻ đã cố ý đả thương người mệnh một, hoặc ông bà, cha mẹ người ấy;
4 Kẻ thừa kế thành niên, hiện biết sự cố sát người mệnh một mà lại không tố giác với tòa án;
Đối với người sau này thì không thể viện duyên cớ không tố giác ấy được: ông
bà cha mẹ cùng con cháu của người phạm tội cố sát Thích thuộc đồng hàng với người ấy, chồng hoặc vợ chính vợ thứ của người ấy, các anh chị em ruột của người
ấy, chú, bác, cô, cậu, dì, thím, cháu trai, cháu gái thuộc về hàng con thúc, bá với người ấy;
5 Kẻ đã vu cáo người mệnh một, hoặc ông bà, cha mẹ người ấy, mà sự vu cáo
đã bị phạt về trọng tội hoặc phạt giam về tội trừng trị.”
Theo quy định tại Điều 313, có hai căn cứ để xác định người thừa kế không được hưởng di sản: Thứ nhất, do người thừa kế đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, không tố giác người đã xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hoặc có hành vi vu cáo người để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật Thứ hai, là người để lại di sản lập di chúc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật
Theo Khoản 2 Điều 314 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật quy định là kẻ nào xâm phạm đến tính mạng người để lại thừa kế dù là chủ mưu hay đồng phạm hoặc tự phạm đều không được thừa kế Hành vi vi phạm có thể là hành vi của người thừa kế theo pháp luật, cũng có thể là hành vi của người thừa kế theo di chúc
Khoản 3 Điều 314 quy định, người có hành vi cố ý gây thương tích cho người
để lại thừa kế hoặc ông bà, cha mẹ người để lại thừa kế thì không có quyền hưởng
di sản của người để lại thừa kế
Trang 26Khoản 4, quy định người không tố giác người xâm phạm đến tính mạng người
để lại thừa kế thì không được quyền hưởng di sản của người để lại thừa kế, quy định này là phù hợp vì giết người là tội rất nghiêm trọng, pháp luật quy định mọi người đều phải có nghĩa vụ tố giác tội phạm Chủ thể của tội này là người đã thành niên, không phân biệt người này có quan hệ như thế nào với người có hành vi xâm phạm tính mạng người để lại thừa kế
Theo Khoản 5 Điều 314 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật quy định kẻ vu cáo người để lại thừa kế hoặc ông bà cha mẹ người để lại thừa kế thì không có quyền hưởng di sản của người đó Hành vi vu cáo những người trên là xâm phạm đến danh
dự, nhân phẩm của người bị vu cáo, không những vi phạm pháp luật mà còn là hành
vi vô đạo đức, cho nên pháp luật không cho họ được quyền hưởng di sản là hợp lý
Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật quy định trường hợp truất quyền thừa kế và không được quyền hưởng di sản theo pháp luật trong cùng một điều luật, tuy còn sơ sài nhưng phần nào cũng điều chỉnh được các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thừa kế thời bấy giờ Hành vi vi phạm dẫn đến không được quyền hưởng di sản của người để lại thừa kế theo pháp luật là những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại thừa kế hoặc người thân thích của người đó Tuy nhiên, những hành vi này có cần phải có một phán quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không thì pháp luật chưa đề cập đến So với quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì quy định tại Điều 313 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 314 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật còn thiếu nhiều căn cứ để xác định người thừa kế không xứng đáng được hưởng di sản đó là: Người có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác; Có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; Giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng
di sản trái với ý chí của người để lại thừa kế Tuy còn nhiều thiếu sót nhưng quy định trên phần nào cũng đạt được mục đích là giáo dục con cái phải hiếu nghĩa, tuyệt đối vâng lời ông bà, cha mẹ nếu có hành vi bất hiếu thì phải bị trừng phạt bằng hình thức tước quyền hưởng di sản
Nhìn chung, pháp luật trong giai đoạn từ thế kỷ XV đến tháng Tám năm 1945
là phương tiện pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho nhà nước thực dân phong kiến là chủ yếu nhưng trong đó chế định thừa kế nói chung và quy định về người không được quyền hưởng di sản nói riêng vẫn được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và giữ gìn các truyền thống của dân tộc Việc tước quyền hưởng di sản của người thừa kế
Trang 27có hành vi vi phạm trong thời kỳ này không những mang tính pháp lý mà còn mang tính đạo đức, giáo dục con cháu phải biết vâng lời bố mẹ, ông bà, không được tranh giành của cải làm mất đoàn kết gia đình, có hiếu với ông bà, cha mẹ Vấn đề về người không có quyền hưởng di sản đã được đặt ra một cách phù hợp với các chính sách thời kỳ này
1.2.1.2 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ ngày 02/9/1945 đến ngày 01/7/1996
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc Miền Bắc bước vào giai đoạn khắc phục hậu quả của chiến tranh, bước đầu xây dựng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa và chi viện cho chiến trường miền Nam Miền Nam vẫn còn chịu sự thống trị của Pháp, kế đến là Mỹ Pháp luật được áp dụng ở miền Nam trong giai đoạn này là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật và Luật Nam kỳ giản yếu, sau đó ban hành Bộ luật Dân sự mới của chế độ Việt Nam Cộng hòa năm
1972 là Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, được ban hành trên cơ sở kế thừa Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật và được ban hành sau, cho nên các quy định trong Bộ luật này rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng hơn Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật
Trường hợp bị coi là bất xứng hưởng di sản được quy định tại Điều 502 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972:
“1 Người nào bị kết án vì đã cố sát, hay thanh toán người để lại di sản hay ông bà cha mẹ của người này;
2 Người nào bị kết án vì đã vu cáo người mệnh một hay ông bà cha mẹ của người này về một trọng tội;
3 Người thừa kế trưởng thành biết sự cố sát người mệnh một mà không tố giác
Những sự không tố giác đó không thể viện ra nếu kẻ sát nhân là tôn ti thuộc trực hệ của người thừa kế hay tôn thuộc của hàng tôn ti đó hay người phối ngẫu, anh chị em ruột, cô, chú, bác, cậu, dì, cháu trai gái ruột của người thừa kế.”
Khoản 1 Điều 502 qui định người thực hiện hành vi cố ý giết người hay hành
vi khác nhằm xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hay ông bà, cha mẹ người đó đều không được quyền hưởng di sản Hành vi đó phải bị tòa án kết tội bằng một bản án
Khoản 2 Điều 502 quy định người có hành vi vu cáo người để lại thừa kế hoặc ông bà, cha mẹ người này về một tội nghiêm trọng và hành vi vu cáo đã bị kết án thì không được quyền hưởng di sản
Trang 28Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 502 các hành vi phạm tội đã bị tòa
án kết án về tội tương ứng, thì người vi phạm mất quyền hưởng di sản Đây là những quy định chặt chẽ hơn những quy định về trường hợp không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ thế kỷ XV đến tháng Tám năm 1945 Bởi vì, pháp luật được đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội, được áp dụng chung cho toàn xã hội, quyền dân sự của cá nhân được pháp luật bảo hộ, không thể suy đoán là bị mất, ngược lại cần phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
Khoản 3 Điều 502 quy định người thừa kế không tố giác người có hành vi xâm phạm tính mạng người để lại di sản thì mất quyền hưởng di sản Chủ thể thực hiện hành vi không tố giác là người thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và cố
ý không tố giác tội phạm Người thừa kế không tố giác người thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng người để lại di sản không thể viện lý do giữa họ có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân để không tố giác tội phạm Vì hành vi giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải nghiêm trị, mọi cá nhân đều phải có nghĩa vụ tố giác tội phạm
Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, phân biệt khái niệm truất quyền thừa kế và không được quyền hưởng di sản theo pháp luật Đây là điểm khác biệt lớn so với quy định trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Truất quyền thừa kế của người khác là quyền của người lập di chúc không cho người thừa kế theo pháp luật hưởng di sản của mình sau khi chết Luật quy định người lập di chúc truất quyền của người thừa kế phải nêu rõ lý do tại sao người đó bị truất quyền (Điều 503 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972)
Người thừa kế có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của người
để lại thừa kế, thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 502 thì không được quyền hưởng di sản của người đó Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phong tục, tập quán và truyền thống hiếu nghĩa của nhân dân ta Người bị truất quyền thừa kế, người không được quyền hưởng di sản theo pháp luật thì không bao giờ được thừa kế, phần di sản đó được truyền cho con cháu người đó (thừa kế thế vị) Đây là điểm nổi bậc trong pháp luật thừa kế giai đoạn này, vì cơ bản việc không cho người thừa kế hưởng di sản như là một hình phạt dành cho họ khi họ có hành vi xâm phạm đến lợi ích của người để lại thừa kế Còn con cháu của họ thì không có lỗi (trừ khi con cháu cũng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 502 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972) Việc cho con cháu người đó
Trang 29hưởng di sản (thừa kế thế vị) tránh được tình trạng “quýt làm cam chịu”, lỗi của
người trước mà người sau phải nhận lãnh
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nhà nước ta thực hiện việc áp dụng pháp luật thống nhất trên cả nước Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thừa kế 1990 để điều chỉnh các vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực thừa kế
Những người thừa kế không có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh Thừa kế 1990:
“1 Những người thừa kế sau đây không có quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép người có tài sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người có tài sản;
2 Những người nói tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người
có tài sản thể hiện ý chí vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”
Pháp lệnh thừa kế xác định có bốn căn cứ mà người thừa kế sẽ không được quyền hưởng di sản nếu có các hành vi do luật định (tương ứng với bốn điểm của Khoản 1 Điều 7) Đây là quy định mới so với các quy định điều chỉnh vấn đề này trong giai đoạn trước đó, việc những người thừa kế vì tranh giành di sản mà xảy ra tranh chấp thậm chí xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của nhau là việc hoàn toàn
có thể xảy ra thì nay Pháp lệnh Thừa kế đã điều chỉnh kịp thời vấn đề này, đảm bảo cho các quan hệ thừa kế diễn ra một cách bình thường, đúng pháp luật
1.2.2 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản giai đoạn từ ngày 01/7/1996 đến nay
Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 được thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/1996 là một bước tiến quan trọng trong việc khẳng định và cụ thể hóa Hiến pháp 1992 và các quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự, tạo cơ sở pháp lý nhằm phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm an toàn pháp
lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh
Trang 30thần của nhân dân ta và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới
Trong thời gian 10 năm thi hành Bộ luật Dân sự 1995 thì ngoài những thành tựu đã đạt được như: Kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp sinh trong giao lưu dân sự, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự,… thì Bộ luật Dân sự cũng không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập do xã hội không ngừng vận động, phát triển làm cho các quy định trở nên lỗi thời, lạc hậu, không điều chỉnh kịp các vấn đề mới nảy sinh Do đó, việc ban hành một Bộ luật Dân sự mới là hoàn toàn phù hợp, cho nên, ngày 14/6/2005 Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2006 để thay thế Bộ luật Dân sự
1995 Ngày 24/11/2015 Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 nhằm điều chỉnh kịp thời các vấn đề nảy sinh trong giao lưu dân sự, khắc phục những thiếu sót, bất cập mà Bộ luật Dân sự 2005 còn tồn tại Trường hợp không được quyền hưởng di sản qua ba bộ luật đều được giữ nguyên nội dung và quy định tại Điều 646 Bộ luật Dân sự 1995, Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế sẽ không được hưởng phần di sản do người chết để lại mà lẽ ra thuộc
về mình do có những hành vi bất xứng theo quy định của pháp luật Theo Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì nếu có một trong bốn căn cứ sau thì người thừa kế sẽ không được quyền hưởng di sản (hay
nói cách khác là bị “tước” quyền hưởng di sản)
1.2.2.1 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó
Căn cứ pháp lý để tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế khi họ
có những hành vi nói trên phải là một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật Nói cách khác, dù người thừa kế có hành vi nói trên nhưng không bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản Hoặc đã bị kết án nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì cũng chưa có căn cứ để tước quyền hưởng di sản của họ Một bản án chỉ được thi hành khi đã có hiệu lực pháp luật bởi nó có thể bị sai sót và có thể bị một cấp xét xử khác sửa đổi hoặc hủy bỏ Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:
Trang 31“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật…”
Vì vậy, hành vi của người thừa kế dù đã bị kết án bằng một bản án thì vẫn chưa thể kết luận là người đó phạm tội cho nên chưa thể kết luận là người thừa kế
đó bị tước quyền hưởng di sản Bản án chỉ được xem là căn cứ để tước quyền hưởng
di sản của người thừa kế khi nó đã có hiệu lực pháp luật Do đó, việc tranh chấp thừa kế trong những trường hợp này chỉ tiến hành giải quyết chừng nào bản án nói trên đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, còn có ý kiến cho rằng nếu một người đã bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó được xóa án tích thì vẫn không được quyền hưởng di sản theo quy định tại điều này7
Để xác định những người có hành vi nói trên không được hưởng di sản trong trường hợp này cần phải làm rõ các vấn đề sau:
Vấn đề thứ nhất, hành vi “xâm phạm đến tính mạng” phải là hành vi được
thực hiện với lỗi cố ý Người có hành vi cố ý giết người để lại di sản và đã bị kết án
về hành vi đó thì không có quyền thừa kế di sản của người để lại di sản Để bị ràng buộc bởi điều này thì người có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người để lại di sản được thực hiện với lỗi cố ý và hành vi đó phải là hành vi trái pháp luật Điều đó khẳng định rằng người thực hiện hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng của người
để lại di sản nhưng hành vi đó không trái pháp luật (người thực hiện hành vi không
có lỗi hoặc đang thi hành án tử hình) thì họ vẫn được quyền hưởng di sản Khi người thừa kế xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản thì dù không vì động cơ trục lợi, không phải vì mục đích để được hưởng di sản họ vẫn bị tước quyền hưởng
di sản Nếu họ vô ý làm thiệt hại đến tính mạng của người để lại di sản và dù đã bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật, họ vẫn không bị tước quyền hưởng
di sản
Như vậy, trong trường hợp trên thì việc xem xét hình thức lỗi của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản có ý nghĩa quyết định đến việc người đó có được hưởng di sản hay không Cụ thể là: Nếu người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người để lại di sản và bị kết án về tội giết người thì người có hành vi đó sẽ bị tước quyền hưởng di sản Mặt khác, cũng bị truy tố hình
Trang 32
sự về hành vi nói trên nhưng về tội vô ý gây hậu quả chết người thì người có hành
vi đó không bị tước quyền hưởng di sản
Vấn đề thứ hai, để rơi vào trường hợp bị tước quyền hưởng di sản thì người thừa kế phải có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó Như vậy, yếu tố “nghiêm
trọng” là yếu tố có tính chất quyết định một người có được hưởng di sản hay không
theo điều luật này
Hành vi ngược đãi là hành vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ đối với người thân, người
lệ thuộc mình thông qua những hành vi như đánh đập, chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, giam hãm, bắt lao động nặng nhọc, không cho học hành,… trong khi bản thân người ngược đãi có đủ điều kiện để đối xử tốt hơn đối với người bị ngược đãi
Hành vi hành hạ là hành vi đối xử tàn ác gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người khác Đó có thể là hành vi xúc phạm, làm nhục… đối với người bị lệ thuộc mình khiến họ bị giày vò, đau khổ Đây là hành vi xảy ra mang tính chất thường xuyên, liên tục
Về mặt chủ quan, những người thực hiện hành vi trên đương nhiên có lỗi cố ý
vì bản thân người thực hiện hành vi đó đã nhận thức rõ hành vi của mình, thấy được hậu quả của hành vi đó nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra Tuy nhiên, ở mức độ nào thì các hành vi nói trên bị coi là nghiêm trọng? Điều này chưa được quy định và giải thích cụ thể bằng văn bản pháp luật Dù vậy, theo quy định của pháp luật thì người có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi hành vi đó đã
bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Vì vậy, cần phải hiểu rằng khi những hành vi nói trên đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và
đã bị kết án thì hành vi đó đã hàm chứa tính chất nghiêm trọng Nghĩa là bằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự và kết án hành vi nói trên, bản án hình sự kết án người
có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người để lại di sản tự
nó đã xác định tính chất nghiêm trọng của những hành vi này Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế trong những trường hợp này không cần xác định tính nghiêm trọng của các hành vi đó nữa mà chỉ cần tuyên bố người có hành vi đó không được quyền hưởng di sản
1.2.2.2 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
Truyền thống gia đình Việt Nam là các thành viên trong gia đình luôn quan tâm, giúp đỡ nhau cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Các thành viên trong gia đình có
Trang 33nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau nếu có người rơi vào trường hợp không thể tự nuôi sống bản thân mình, nghĩa vụ đó đã được pháp luật về hôn nhân và gia đình nước ta xác định là một nghĩa vụ pháp luật
Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là người được Luật Hôn nhân và Gia đình xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì người thừa kế được xem là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa kế trong những trường hợp sau đây:
+ Người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ
Tại khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về nghĩa vụ và quyền
chăm sóc, nuôi dưỡng thì “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ,
đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” Theo quy định này thì con phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ trong trường hợp
cha mẹ ốm đau, già yếu, bệnh tật Do đó, con sẽ không được quyền hưởng di sản của cha mẹ nếu không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ
+ Người để lại thừa kế là con của họ
Nếu như con có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ trong trường hợp cha
mẹ ốm đau, già yếu, bệnh tật thì ngược lại cha mẹ cũng có nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân mình (Khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Cha mẹ luôn là người thừa kế theo pháp luật đối với di sản do con để lại nhưng đồng thời cha mẹ sẽ không được hưởng di sản theo pháp luật đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện việc nuôi dưỡng con khi con nằm trong tình trạng nói trên
Một người chỉ có thể lập di chúc để định đoạt tài sản của mình khi có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc trên mười lăm tuổi dù chưa đủ mười tám tuổi nhưng có sự đồng ý của cha mẹ, hoặc người giám hộ Vì vậy, cha mẹ có thể trở thành người thừa
kế theo di chúc của con trong ba trường hợp: Con đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, con đủ 15 tuổi nhưng dưới 18 tuổi, con đã thành niên có năng lực hành vi dân sự nhưng bị tàn tật Trong đó, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con (người để lại di sản) trong hai trường hợp sau Cho nên, chỉ có thể tước quyền hưởng di sản theo di chúc của cha mẹ trong hai trường hợp này nếu họ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con
Trang 34+ Người để lại thừa kế là anh, chị, em của họ
Theo quy định tại Điều 105 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về quyền, nghĩa
vụ của anh, chị, em thì anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp
đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Anh, chị, em vừa có thể là người thừa kế theo di chúc vừa có thể là người thừa
kế theo pháp luật ở hàng thứ hai nếu như người để lại di sản không còn cha mẹ, không có vợ, chồng, con cái Nếu anh, chị, em vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng trong trường hợp trên, đồng thời người để lại di sản là người chưa thành niên (tròn mười lăm tuổi nhưng chưa đủ mười tám tuổi) hoặc là người tàn tật nhưng không bị mất năng lực hành vi thì pháp luật tước đi quyền hưởng di sản của anh, chị, em đó
+ Người để lại thừa kế là ông, bà của họ
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì cháu
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trong trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng Cho nên, nếu cháu vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng thì theo quy định của pháp luật cháu sẽ bị tước đi quyền hưởng di sản của ông, bà
+ Người để lại thừa kế là cháu của họ
Ông, bà nội ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình đồng thời cũng không có cha mẹ, anh chị em có thể nuôi dưỡng được (Khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Vì thế, nếu người để lại thừa kế là cháu ở trong tình trạng trên mà ông bà là người thừa kế nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản của cháu Nếu người cháu có đủ năng lực hành vi
để lập di chúc nhưng sau đó người cháu lại rơi vào tình trạng cần được nuôi dưỡng
và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc của người cháu
+ Người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 không xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau giữa vợ và chồng mà chỉ xác định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa họ khi ly hôn (Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Bởi vì, quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình là bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt
Trang 35trong gia đình nên pháp luật không quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa vợ và chồng mà chỉ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa họ khi ly hôn trong trường hợp một bên không đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống sau ly hôn, đó vừa là nghĩa vụ pháp
lý vừa là nghĩa vụ đạo đức Xét về mặt ngôn ngữ, cấp dưỡng và nuôi dưỡng không
có mối quan hệ với nhau, từ này không phải là từ phái sinh hay dẫn xuất của từ kia, nhưng xét dưới góc độ luật học, thì nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng có mối quan hệ nội tại với nhau8 Chủ thể của quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ cấp dưỡng là những người có mối quan hệ đặc biệt, trước tiên là những người có quan
hệ huyết thống với nhau, sau đó là những người có mối quan hệ nuôi dưỡng do sự kiện nuôi con nuôi và quan hệ hôn nhân đem lại Quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ cấp dưỡng khác nhau ở điều kiện phát sinh quan hệ, khi những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau không có điều kiện sống chung với nhau hoặc người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thì nghĩa vụ nuôi dưỡng được thực hiện dưới hình thức cấp dưỡng Tuy có cùng chủ thể để thực hiện nghĩa
vụ nhưng không thể cho rằng khi nghĩa vụ nuôi dưỡng không được thực hiện thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh, do đó, nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bổ sung cho nghĩa vụ nuôi dưỡng Bởi vì, khi xuất hiện điều kiện và hoàn cảnh nhất định thì nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh ngay lập tức mà không cần có nghĩa vụ nuôi dưỡng phát sinh trước Ví dụ, cha mẹ có nhiều con nhưng lại sống chung với một trong số các con của mình, khi đó, những người con không sống chung với cha mẹ có nghĩa
vụ cấp dưỡng cho cha mẹ mà không phụ thuộc vào việc người con đang nuôi dưỡng cha mẹ có khả năng cung cấp đầy đủ các nhu cầu vật chất cho cha mẹ hay không Tuy nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng khác nhau về mặt ngôn ngữ
và điều kiện phát sinh nghĩa vụ nhưng nó đều mang ý nghĩa là sự chăm lo về mặt vật chất của người này đối với người kia, trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nếu một bên rơi vào tình trạng đau ốm, tàn tật, không có khả năng tự chăm lo cho cuộc sống của mình thì bên còn lại có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau Đó vừa là nghĩa vụ đạo đức vừa là nghĩa vụ pháp lý (Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Cho nên, nếu người tàn tật là vợ (hoặc chồng) chết thì chồng (hoặc vợ) sẽ không được hưởng di sản nếu họ đã không thực hiện việc nuôi dưỡng người để lại thừa kế Trong trường hợp vợ chồng đã được tòa án cho ly hôn bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà
nhân và Gia đình”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 157, tr 10-11
Trang 36một bên chết thì họ không còn là người thừa kế theo pháp luật của nhau nữa Tuy nhiên, họ vẫn có thể là người thừa kế theo di chúc của người đã chết Trong trường hợp này, nếu sau ly hôn, người còn sống (chồng hoặc vợ) có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản theo di chúc (vợ hoặc chồng) mà lại vi phạm nghĩa vụ đó thì cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc
Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản được xác định ở trên chỉ không được quyền hưởng di sản thừa kế khi sự vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng bị coi là nghiêm trọng Có trường hợp người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng chưa nghiêm trọng đến mức bị tước quyền hưởng di sản nhưng những người thừa kế khác cho rằng cứ không chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ, là không được hưởng di sản do cha, mẹ để lại Khi giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề này Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án để xem xét Ví dụ, trong bản án số 1179/2006/DS-ST ngày 03/11/2006 về việc
“tranh chấp quyền thừa kế” của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung bà Tâm (sinh năm 1947) là vợ sau của ông Tòng khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, bà cho rằng ông Long con ông Tòng thường có hành động quậy phá ông Tòng, đốt bàn thờ ông bà nên lúc ông Tòng còn sống đã có đơn tố cáo gửi chính quyền địa phương để từ con, vì vậy ông Long không còn quyền được hưởng thừa
kế Đối với bà Hà và bà Ngọc do không có trách nhiệm, không chăm sóc bố nên cũng đề nghị không được hưởng quyền thừa kế Trong khi đó ông Long, bà Hà và
bà Ngọc cho rằng, các ông bà vẫn thường xuyên thăm và chăm sóc bố Riêng ông Long còn cho rằng ông là con trai duy nhất của ông Tòng, dù cha có trách mắng nhưng tình cảm cha con vẫn tốt đẹp, chưa có văn bản nào tước đi quyền làm con của ông Bà Tâm (sinh năm 1947) nại ra vấn đề này nhưng không đưa ra những bằng chứng xác đáng phù hợp với những điều kiện mà luật quy định để chứng minh ông Long, bà Hà và bà Ngọc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng ông Tòng,
vì vậy mà Tòa án vẫn để cho các con của ông Tòng được quyền hưởng di sản thừa
kế9 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án trên là hoàn toàn phù hợp với quy định quả pháp luật Đối với người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi
dưỡng nhưng sự vi phạm đó là không nghiêm trọng, có thể “tha thứ” được thì họ
vẫn được hưởng di sản của người quá cố để lại cho mình
tr 201-206
Trang 37Tòa án có thể tước quyền hưởng di sản của người thừa kế đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa kế dù hành vi đó không bị kết án Vì thế, chính Tòa án giải quyết việc thừa kế phải xác định sự vi phạm nghĩa vụ của người thừa kế có nghiêm trọng hay không? Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự
2015 không quy định cụ thể, đồng thời cũng chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn
để xác định như thế nào thì bị coi là vi phạm “nghiêm trọng” nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Trước đây, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế 1990 thì
“Trong khoảng thời gian 3 năm trước khi người để lại di sản chết, nếu có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thì không có quyền hưởng di sản của người đó”10 Đối với trường hợp trên ông Long, bà Hà và
bà Ngọc tuy có ít tới lui chăm sóc cha nhưng đó không phải là nguyên nhân chính làm cho người cần được nuôi dưỡng (ông Tòng) lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng Do đó, Tòa án vẫn cho ông Long, bà Hà và bà Ngọc hưởng di sản của ông Tòng là hoàn toàn phù hợp
Tuy nhiên, về mặt thực tế chúng ta thấy rằng, có những trường hợp người thừa
kế không nuôi dưỡng người để lại di sản làm cho người này lâm vào tình trạng khổ
sở và nguy hiểm đến tính mạng nhưng cũng không coi sự vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng của họ là nghiêm trọng nếu bản thân họ quá khó khăn, không có khả năng để nuôi dưỡng
1.2.2.3 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
Cũng giống như trường hợp thứ nhất, chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của người thừa kế trong trường hợp này khi hành vi “xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác” của họ là hành vi cố ý và đã bị Tòa án kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, khi tước quyền hưởng di sản của người thừa kế ở trường hợp thứ nhất không cần xét đến động cơ, mục đích của hành vi thì ở trường hợp này, người thừa kế phạm tội chỉ bị tước quyền hưởng di sản nếu hành vi phạm tội của họ chứa đựng động cơ là nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng Trường hợp những người thừa kế đánh, giết
áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế
Trang 38lẫn nhau nhưng không phải là để chiếm đoạt di sản, mà do các động cơ và nguyên nhân khác, như do chia di sản không công bằng hoặc do tranh chấp về vị trí của di sản ở mặt đường, chỗ có giá trị, chỗ ít giá trị… Những người thừa kế không giải quyết được các mâu thuẫn trên, dẫn đến xô xát và phạm tội Động cơ giết người không nhằm mục đích chiếm đoạt phần di sản mà người thừa kế khác được hưởng, cho nên mặc dù bị kết án về tội giết người, nhưng người thừa kế đó vẫn được hưởng
di sản
Khi áp dụng trường hợp này có hai vấn đề ta cần phải lưu ý
Vấn đề thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật phải xảy ra trước thời điểm mở thừa kế Bởi vì, sau khi thừa kế được mở, mỗi người thừa kế trở thành chủ sở hữu phần của mình trong di sản chưa chia Nếu một người thừa kế chết thì phần đó nằm trong di sản được để lại cho những người thừa kế của họ, chứ không phải cho kẻ giết người Giả sử kẻ giết người cũng là người có quyền thừa kế của người bị giết, thì trường hợp thứ nhất “người bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng người để lại thừa kế sẽ không có quyền hưởng di sản của người đó” được áp dụng
Quy tắc này chỉ áp dụng cho giả thuyết trong đó, người thừa kế hành động với mong muốn làm gia tăng phần mình được hưởng, một cách trực tiếp, trong di sản của người mà họ và người có tính mạng bị xâm hại có quyền thừa kế chung Ví dụ,
C có hai con A và B, đều độc thân Sau khi C chết, di sản được chia đôi cho A và B Một thời gian sau, A giết B A không được hưởng di sản của B với tư cách là người thừa kế hàng thứ hai, nhưng A không nằm trong tình trạng không có quyền hưởng
di sản của C Sự mong muốn làm gia tăng phần mình được hưởng phải có cơ sở hiện thực Không thể nói rằng người em giết người anh để giành di sản của cha trong khi người anh có con và người cha chết không để lại di chúc Bởi vì khi đó con của người bị giết sẽ nhận phần di sản của người này với tư cách là người thừa
kế thế vị (Điều 677 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015) Trái lại động cơ tranh giành di sản có thể tồn tại trong trường hợp người anh bị giết là người thừa kế theo di chúc hoặc người được di tặng, bởi vì thừa kế thế vị không áp dụng trong trường hợp thừa kế theo di chúc: Nếu người thừa kế theo di chúc hoặc người được di tặng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì phần di chúc liên quan đến người đó sẽ không có hiệu lực, phần di sản của di chúc không có hiệu lực sẽ được chia theo pháp luật (Điểm c Khoản 1, 2 Điều 675 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015) khi đó kẻ giết người sẽ dự phần vào việc thanh toán phần đó
Trang 39Vấn đề thứ hai cần lưu ý là động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án kết án người có hành vi phạm pháp, vì đó là căn cứ để Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế xác định người thừa kế có được quyền hưởng di sản hay không trong trường hợp người đó đã bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác Bản án kết tội người có hành vi xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt di sản phải được tuyên sau thời điểm mở thừa kế Bởi vì, sau thời điểm mở thừa kế thì mới phát sinh quyền thừa kế, sẽ rất không hợp lý khi gán cho một người có ý định chiếm đoạt một vật (ở đây là di sản) mà không tồn tại ở thời điểm phạm tội và cả ở thời điểm xét xử Trường hợp bản án đã xử xong trước khi mở thừa kế thì có thể được xét lại theo thủ tục tái thẩm
Có ý kiến cho rằng người đã bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp dự kiến này dù được xóa án tích vẫn không có quyền hưởng
di sản11 Các trường hợp không được quyền hưởng di sản đặt ra ở đây được lý giải chủ yếu bằng các giá trị đạo đức Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ trường hợp người cung cấp bằng chứng về động cơ phạm tội thông thường là người có lợi ích liên quan đến di sản, thậm chí, là đồng thừa kế Giả sử người phạm tội bị tuyên bố không có quyền hưởng di sản, thì người cung cấp bằng chứng đồng thời là thừa kế cùng hàng sẽ nhận lấy phần của người ấy và cả phần của người đã chết Do đó, có khả năng người cung cấp bằng chứng thúc đẩy vụ án chỉ vì lợi ích vật chất đó Trong trường hợp này để đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác thì nếu có
đủ bằng chứng về động cơ hành động của người tố giác hoặc khởi kiện, thì việc nên hay không nên áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và Điểm c Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 đối với người bị tố giác hoặc bị kiện cần được cân nhắc12
1.2.2.4 Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Điểm d Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người thừa kế nói chung (cả theo pháp luật, cả theo di chúc) không được hưởng di sản khi có hành vi
“lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo
di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái
Trang 40với ý chí của người để lại di sản” Điểm d Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 giữ nguyên các quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và bổ sung thêm trường hợp người thừa kế có hành vi “che giấu di chúc” nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản
Trong các hành vi được liệt kê trên thì hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản hoặc giấu di chúc của người để lại di sản sẽ làm phát sinh các trường hợp thừa kế theo pháp luật (vì di chúc không có hiệu lực hoặc không có di chúc) Các hành vi sửa chữa di chúc, hủy di chúc sẽ làm phát sinh tranh chấp trong một vụ án thừa kế theo di chúc Do đó, việc làm rõ bản chất của các hành vi trên là điều hết sức cần thiết, vì nó có ý nghĩa quyết định trong việc xác định một người thừa kế có đủ tư cách để nhận di sản từ người chết hay không
+ Hành vi lừa dối người để lại di sản nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Lừa dối người để lại di sản là việc người thừa kế đã thực hiện một số hành vi làm cho người lập di chúc tin và lầm tưởng vào sự việc, từ đó đã lập di chúc cho người này hưởng di sản Trường hợp này, người lập di chúc hoàn toàn tưởng tượng sai sự việc và tin tưởng tuyệt đối vào hành vi của người thừa kế
Xét về ý thức chủ quan, người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình là định đoạt tài sản cho một người nào đó, nhưng bị người thừa kế lừa dối, cho nên người lập di chúc hủy di chúc đã lập, hoặc lập di chúc khác cho người thừa kế có hành vi lừa dối được hưởng phần di sản đã định đoạt trong di chúc trước đây
Người thực hiện hành vi này có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng cũng có thể là người ngoài diện thừa kế theo pháp luật Hơn nữa, nếu di chúc được lập dưới tác động của hành vi lừa dối này thì di chúc đó không có hiệu lực pháp luật nên trường hợp này sẽ làm phát sinh việc thừa
kế theo pháp luật Vì vậy, nếu người có hành vi lừa dối là người thừa kế theo pháp luật thì Tòa án sẽ tuyên bố người đó không có quyền hưởng di sản mà người chết để lại, nếu người có hành vi lừa dối là người ngoài diện thừa kế và có tên trong di chúc được lập do lừa dối thì Tòa án chỉ cần tuyên bố di chúc vô hiệu và di sản chia cho người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản Theo quy định của điều luật trên thì hành vi lừa dối phải chứa đựng động cơ nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ
di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người có hành vi lừa dối mới bị tước quyền hưởng di sản Vì vậy, nếu người thừa kế theo pháp luật lừa dối nhưng không nhằm mục đích để bản thân hưởng di sản mà để cho người thân thích của mình