1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn theo luật tố tụng hình sự việt nam

104 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả Trần Hoàng Đông
Người hướng dẫn TS. Lê Huỳnh Tấn Duy
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 30,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN LẦN ĐẦU ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN BỊ THẤT LẠC HOẶC KHÔNG CÒN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (12)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (12)
      • 1.1.1. Khái niệm định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (12)
      • 1.1.2. Đặc điểm hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (14)
    • 1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về định giá tài sản lần đầu (15)
      • 1.2.1. Căn cứ định giá tài sản (15)
      • 1.2.2. Hội đồng định giá tài sản (17)
      • 1.2.3. Thời hạn định giá tài sản (19)
      • 1.2.4. Tiến hành định giá tài sản (20)
      • 1.2.5. Kết luận định giá tài sản (21)
    • 1.3. Thực tiễn hoạt động định giá lần đầu đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (22)
    • 1.4. Kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (31)
  • CHƯƠNG 2. ĐỊNH GIÁ LẠI TÀI SẢN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN BỊ THẤT LẠC HOẶC KHÔNG CÒN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (35)
    • 2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về định giá lại tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn (35)
      • 2.1.1. Căn cứ định giá lại tài sản (35)
      • 2.1.2. Trình tự, thủ tục định giá lại tài sản (36)
      • 2.1.3. Kết luận định giá lại tài sản (37)
    • 2.2. Thực tiễn hoạt động định giá lại tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (38)
    • 2.3. Kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động định giá lại tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự (44)
  • KẾT LUẬN (21)
  • PHỤ LỤC (50)

Nội dung

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về hoạt động định giá tài sản trong trường hợ

ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN LẦN ĐẦU ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN BỊ THẤT LẠC HOẶC KHÔNG CÒN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Khái niệm, đặc điểm hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua BLTTHS, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Từ Điều 215 đến Điều 222 BLTTHS quy định về định giá tài sản trong tố tụng hình sự

Hiện nay, hoạt động định giá tài sản trong TTHS được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự thủ tục trong định giá tài sản, thay thế Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Đánh giá chung cho thấy từ khi ban hành đến nay, Nghị định số 26/2005/NĐ-CP được triển khai thực hiện và đi vào cuộc sống thực tế ở tất cả các địa phương trong cả nước và đã đạt được những kết quả nhất định, như xây dựng môi trường pháp lý quy định về việc thành lập, quyền, nghĩa vụ và trình tự, thủ tục định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thống nhất thực hiện từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các cấp, các cá nhân thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện công vụ; trên cơ sở đó, đảm bảo xác định giá trị của tài sản trong tố tụng hình sự phù hợp với giá thị trường, góp phần cùng cơ quan tố tụng xét xử các vụ án đúng người, đúng tội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan trong quá trình xử lý vụ án hình sự…

Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về định giá trong hoạt động tố tụng hình sự Các quy định về định giá được diễn giải trong pháp luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa có một khái niệm cụ thể về định giá tài sản Các văn bản dưới luật có liên quan đến hoạt động định giá tài sản trong tố tụng hình sự như Nghị định số 26/2005/NĐ-CP và Thông tư số 55 ngày

22/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP chỉ quy định các vấn đề về trình tự thủ tục định giá tài sản về hội đồng định giá tài sản và chưa nói rõ về khái niệm định giá tài sản trong tố tụng hình sự Đến Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ cũng chưa thể hiện rõ khái niệm này Do đó để hiểu đúng bản chất về định giá tài sản chúng ta cần phải có khái niệm thế nào là định giá tài sản Định giá tài sản được xem là một hoạt động tố tụng do Hội đồng định giá thực hiện, theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trong đó, những người được trao thẩm quyền yêu cầu định giá tài sản là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra Viện trưởng, Phó Viện trưởng, VKS, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hiện nay, chủ thể tiến hành hoạt động định giá tài sản chính là Hội đồng định giá tài sản được quy định tại Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ Việc xác định giá của tài sản do Hội đồng định giá tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật Mục đích là xác định giá của tài sản được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu nhằm làm căn cứ giải quyết vụ án hình sự

Trong khi đó, Điều 4 Luật giá năm 2012 giải thích từ “định giá” là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định từ Điều 215 đến Điều 222 BLTTHS năm 2015, Luật Giá năm 2012, Nghị định 26 ngày 02/3/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Thông tư số 55 ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26 ngày 2/3/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ, tác giả đưa ra khái niệm định giá tài sản trong TTHS như sau: Định giá tài sản là hoạt động tố tụng hình sự do Hội đồng định giá tài sản thực hiện nhằm xác định giá trị của tài sản theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự

Có nghĩa là, khi có vấn đề liên quan đến vụ án hình sự, cần xác định giá để chứng minh nhưng ngoài khả năng và các biện pháp điều tra mà ĐTV được phép tiến hành theo quy định của BLTTHS thì phải yêu cầu định giá tài sản Việc thực hiện định giá phải được tiến hành ngay sau khi cơ quan định giá hoặc người định giá nhận được Quyết định yêu cầu và đồ vật cần định giá Hội đồng định giá có thể tiến hành định giá tại cơ quan định giá hoặc tại hiện trường vụ án Trong quá trình định giá, ĐTV và KSV có quyền tham gia nhưng phải báo cho người định giá biết trước Quá trình tiến hành định giá kết thúc, Hội đồng định giá trả lời cho Cơ quan yêu cầu định giá bằng bản kết luận định giá tài sản

1.1.2 Đặc điểm hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

Tài sản bị thất lạc hoặc không còn là tài sản không còn thuộc quyền quản lý của chủ sở hữu và có căn cứ xác định tài sản đó không biết ở đâu hoặc đã bị hư hỏng, hủy hoại hoàn toàn Việc định giá tài sản được thực hiện không trực tiếp, không nhìn thấy tài sản cần định giá mà được thực hiện trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nguồn gốc, giá trị tài sản Đây là điểm khác biệt giữa định giá tài sản còn nhìn thấy với tài sản bị thất lạc hoặc không còn Ví dụ: tài sản đã bị người phạm tội trộm cắp không tìm thấy, tài sản bị hủy hoại, đốt cháy Do đó, việc định giá tài sản này có những có đặc điểm chung nhất như các tài sản khác và có những đặc trưng nhất định như:

- Định giá tài sản là sự ước tính giá trị tài sản tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm

- Giá trị tài sản được biểu hiện chủ yếu bằng hình thái tiền tệ

- Định giá tài sản được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

- Định giá tài sản phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn và phương pháp định giá theo quy định của pháp luật

- Phải có đầy đủ căn cứ xác định tài sản bị thất lạc hoặc không còn Tài sản bị thất lạc hoặc không còn phải là những tài sản được quy định trong danh mục có thể định giá được và có căn cứ xác định tại thời điểm định giá tài sản đó đã bị thất lạc hoặc không còn Đây là vấn đề cốt lõi để định giá, khác với việc định giá tài sản dễ nhìn thấy, có thể nhìn, cầm nắm, xem xét, dùng các biện pháp khoa học kỹ thuật để định giá, nhưng định giá tài sản bị thất lạc hoặc không còn là việc định giá tài sản

“vô hình”, không nhìn thấy tài sản định giá Do đó, khi tiến hành định giá cần xác định rõ tài sản đó đã bị thất lạc hoặc không còn, thông qua các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra vụ án hình sự (từ kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng, bị hại, người có liên quan và các tài liệu khác ).

Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về định giá tài sản lần đầu

1.2.1 Căn cứ định giá tài sản

Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản Như vậy, cơ sở pháp lý để Hội đồng định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ của mình chính là quyết định yêu cầu định giá tài sản của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Văn bản yêu cầu định giá tài sản có các nội dung 1 : a) Tên cơ quan yêu cầu định giá; họ tên người có thẩm quyền yêu cầu định giá; b) Tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; c) Thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá; d) Tên tài liệu có liên quan (nếu có); đ) Nội dung yêu cầu định giá tài sản; e) Ngày, tháng, năm yêu cầu định giá tài sản, thời hạn trả kết luận định giá tài sản

Sau khi nhận được văn bản yêu cầu định giá tài sản, Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản có trách nhiệm tiếp nhận văn bản yêu cầu định giá tài sản và lựa chọn những người có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm về loại tài sản cần định giá tham gia định giá tài sản theo quy định Để xác định được giá của tài sản, Hội đồng định giá phải dựa trên các căn cứ sau 2 :

2 Khoản 2, Điều 3, Thông tư số 43/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP. a) Giá thị trường của tài sản là giá giao dịch phổ biến trên thị trường của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự với tài sản cần định giá tại thời điểm định giá và địa điểm định giá được yêu cầu định giá

Giao dịch phổ biến trên thị trường là hoạt động mua, bán tài sản được tiến hành hợp pháp và công khai trên thị trường Một tài sản được coi là có giao dịch phổ biến khi có ít nhất 03 tài sản tương tự có giao dịch mua, bán trên thị trường Mức giá giao dịch phổ biến được thu thập là giá mua, bán thực tế của giao dịch thành công; giá niêm yết của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; giá chào bán, giá chào mua; giá kê khai; giá trúng thầu; giá ghi trên hóa đơn, hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ… b) Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định là mức giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định đang có hiệu lực áp dụng tại thời điểm được yêu cầu định giá Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá tối đa, giá tối thiểu, khung giá thì áp dụng mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá; c) Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp là giá được xác định theo kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá và Báo cáo kết quả thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá còn hiệu lực đối với tài sản được thuê thẩm định giá; d) Giá trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp về loại tài sản đó do các cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp; đ) Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá là những thông tin, tài liệu giúp xác định giá của tài sản cần định giá, như mức độ sử dụng tốt nhất có khả năng mang lại giá trị cao nhất, hiệu quả nhất của tài sản; quan hệ cung cầu về tài sản; ý kiến đánh giá về giá trị của tài sản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức, cá nhân có kiến thức, hiểu biết về tài sản; lời khai và hồ sơ tài liệu của các bên liên quan đến tài sản; giá của tài sản tương tự với tài sản cần định giá trong vụ án khác và đã được Hội đồng định giá tài sản thực hiện định giá trước đó; giá của tài sản tương tự với tài sản cần định giá thu thập được trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức trong khu vực và trên thế giới khi Hội đồng tiến hành mở rộng thu thập giá tại khu vực và thế giới

Những quy định trên là căn cứ để xác định giá của tài sản nói chung, riêng đối với những tài sản đã thất lạc hoặc không còn thì việc xác định giá chủ yếu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến tài sản cần định giá, bao gồm:

- Lời khai của chủ sở hữu: là chủ tài sản nên biết rõ đặc điểm, tình trạng của tài sản tại thời điểm cần định giá Mặc dù tài sản đã thất lạc hoặc không còn nhưng lời khai của chủ sở hữu có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định nguồn gốc, xuất xứ tài sản, giá trị tài sản để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể từ đó làm căn cứ để thu thập các tài liệu có liên quan, phục vụ việc định giá

- Lời khai người làm chứng: là lời trình bày của người biết được tài sản đã bị thất lạc hoặc không còn về tình trạng, đặc điểm tại thời điểm định giá hoặc biết được nguồn gốc, xuất xứ của tài sản phục vụ cho việc thu thập chứng cứ để định giá

- Các hóa đơn, chứng từ có liên quan đến tài sản: đây là một nguồn tài liệu, chứng cứ rất quan trọng, có tính quyết định đối với việc định giá tài sản trong trường hợp bị thất lạc hoặc không còn, vì các tài liệu, chứng từ thường ghi chính xác nguồn gốc xuất xứ, giá trị của tài sản, đặc điểm, tình trạng của tài sản như: hóa đơn mua bán tài sản, giấy bảo hành, giấy xuất xưởng, giấy xác nhận đưa tài sản vào sử dụng, vận hành hoặc lưu thông, giấy đăng kiểm Các tài liệu, chứng từ tạo thuận lợi cho việc định giá tài sản bị thất lạc hoặc không còn, kết luận định giá thường khá chính xác

1.2.2 Hội đồng định giá tài sản

Từ Điều 215 đến Điều 222 BLTTHS năm 2015 quy định về định giá tài sản trong TTHS, trong đó khoản 2 Điều 217 BLTTHS quy định: “Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản” Như vậy BLTTHS không quy định về Hội đồng định giá tài sản

Trước đây, Hội đồng định giá tài sản quy định tại Điều 5, Chương 2, Nghị định số 26/2015/NĐ-CP Hiện nay, tại Chương 2, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản

Về thành lập Hội đồng định giá tài sản ở 03 cấp, trong đó ở địa phương, Hội đồng định giá tài sản cấp huyện, cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của cơ quan tài chính cùng cấp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phù hợp và đáp ứng kịp thời với yêu cầu của công tác tố tụng

Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, được quy định bằng việc thành lập Hội đồng định giá theo vụ việc và Hội đồng định giá thường xuyên Tuy nhiên quy định này còn tùy trường hợp cụ thể ở từng địa phương mà vận dụng để thành lập Hội đồng Do chưa có hướng dẫn cụ thể nên từng địa phương sẽ có cách áp dụng khác nhau Tuy nhiên, quy định này là phù hợp với thực tiễn hiện nay

Về thành lập Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương, Nghị định số 26/2005/NĐ-CP chưa quy định cách xác định tài sản có giá trị đặc biệt lớn để cấp Trung ương có thẩm quyền tiến hành định giá, điều này đã gây khó khăn trong việc định giá Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 đã quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản ở cấp Trung ương cũng như xác định rõ phạm vi định giá, các lĩnh vực định giá Ngoài ra, Nghị định cũng nêu rõ Hội đồng định giá ở Trung ương thực hiện việc định giá lại lần thứ hai trong trường hợp có mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu của Hội đồng định giá cấp tỉnh và kết luận định giá lại của Hội đồng định giá cấp tỉnh

Quy định như trên hiện nay là phù hợp, khắc phục tình trạng hầu hết sau hai lần định giá, các vụ án đều bị “đẩy” lên Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương Thậm chí có vụ án giá trị tài sản rất nhỏ và trong nhiều trường hợp, kết quả định giá khác nhau giữa hai Hội đồng chủ yếu do thực hiện chưa đúng quy trình, nguyên tắc định giá

Về quyền của Hội đồng định giá tài sản, Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP quy định: “Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc định giá; Thuê tổ chức giám định để thực hiện giám định tình trạng kinh tế - kỹ thuật, tỷ lệ chất lượng của tài sản; thuê doanh nghiệp thẩm định giá để thực hiện thẩm định giá tài sản Việc thuê tổ chức giám định, doanh nghiệp thẩm định giá được tiến hành trong các trường hợp cần thiết do Hội đồng định giá tài sản quyết định; Từ chối thực hiện định giá tài sản trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành định giá; không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá; các tài liệu cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để định giá; nội dung yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình; Được bảo đảm về tài chính đầy đủ, kịp thời và các cơ sở vật chất cần thiết để tiến hành định giá tài sản theo quy định của pháp luật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật”

Thực tiễn hoạt động định giá lần đầu đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, hiện nay lĩnh vực định giá rất rộng, trong khi năng lực định giá của Hội đồng định giá còn những hạn chế nhất định, đòi hỏi cần phải thuê thẩm định giá Thực tiễn cho thấy căn cứ để xác định giá còn do các doanh nghiệp cung cấp cho cơ quan thẩm định giá, sau đó Hội đồng định giá ký hợp đồng và thuê thẩm định giá Hiện nay vấn đề thuê thẩm định giá rất phổ biến, nhất là đối với các loại tài sản có tính đặc thù, bản thân Hội đồng định giá không thể một mình thực hiện được Việc thuê thẩm định giá dẫn đến việc chi phí trả cho việc định giá rất cao, nhiều vụ việc kéo dài do không có chi phí trả cho việc định giá tài sản Điển hình như Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng đã thực hiện việc yêu cầu định giá tài sản trong vụ án tham ô tài sản xảy ra từ năm 2010 đến năm 2013 tại Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh và phải trả phí định giá gần cả trăm triệu đồng đối với việc định giá đối với tài sản là các loại hóa chất xử lý nước thải

Thứ hai, đối với các căn cứ để tính khấu hao tài sản trong định giá, cần có quy định thống nhất Hiện nay tại một số địa phương, Hội đồng định giá căn cứ vào Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định; Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 Quy định chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định, nhưng có Hội đồng lại căn cứ Thông tư số 162/2014/TT-BTC nên dẫn đến có sự khác nhau trong việc tính khấu hao tài sản Thông thường Hội đồng định giá tài sản tính hao mòn tài sản theo thời gian sử dụng (tính theo năm) tương ứng với phần trăm hao mòn Do đó có một số bất cập là có một số chủng loại tài sản còn giá trị sử dụng rất tốt nhưng do cách tính hao mòn trong định giá nên kết luận định giá xác định tài sản đó không còn phần trăm giá trị sử dụng, tài sản không có giá Vì vậy, các cơ quan tố tụng rất lúng túng trong xử lý, nếu căn cứ vào kết luận định giá tài sản thì không thể xử lý hành vi phạm tội Đặc biệt đối với tài sản bị thất lạc hoặc không còn thì việc tính hao mòn rất khó khăn, vì không thể nhìn thấy tài sản nên không biết được tình trạng như thế nào, tài sản đã hao mòn, hư hỏng ra sao, do đó căn cứ để tính hao mòn tài sản rất cảm tính và kết luận định giá đôi lúc không chính xác Thực trạng này được phản ánh qua các vụ án sau:

Vụ án thứ nhất: Tại Bản án số 27/ 2018/HSST ngày 23/10/2018 Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử vụ án trộm cắp tài sản đối với bị cáo Châu Đ và Lâm T Nội dung vụ án: vào khoảng 23h ngày 31/01/2018, Đ và T rủ nhau đi tìm kiếm tài sản lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài Khi đến khu vực nhà bà Trần Thị Lai thuộc khóm Đai Rụng, phường 2 thị xã Vĩnh Châu thì phát hiện một chiếc xe môtô loại xe Dream Trung Quốc biển số 83 H5- 9474 đang đậu bên hông nhà bà Lai nhưng không có ai trông coi nên T đứng ngoài canh đường, còn Đ đi vào dẫn chiếc xe biển số 83H5-9474 ra ngoài đường một đoạn, rồi dùng tay bứt dây điện khóa xe để T nổ máy xe chở Đ chạy đi Sau đó,

T chạy xe chở Đ đến nhà của Phương thuộc khóm Vĩnh Bình, Phường 2 để bán xe vừa lấy trộm với giá 800.000 đồng, lấy tiền chia nhau tiêu xài hết

Tại bản kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS, ngày 23/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu kết luận: chiếc xe môtô biển số 83H5 - 9474 giá trị còn lại là 2.500.000 đồng Theo Biên bản định giá tài sản ngày 23/4/2018 Hội đồng định giá đã khảo sát theo giá xe tại thời điểm hiện hành, mặc dù xe môtô của bị hại đã được đưa vào sử dụng nhiều năm (10 năm) nhưng hội đồng đã không khấu hao, tính hao mòn theo quy định mà định giá theo giá mới là không đúng

Trong quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người bị hại nên đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 Vì vậy Tòa án tuyên phạt bị cáo Châu Đ 02 năm tù giam và bị cáo Lâm T 01 năm tù giam

Tuy nhiên, các bị cáo kháng cáo và trên cơ sở đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử và tuyên hủy bản án sơ thẩm trên để điều tra lại và yêu cấu cấp sơ thẩm phải làm rõ các căn cứ để xác định giá của tài sản được định giá

Vụ án thứ hai: Tại bản án số 34/2018 ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử bị cáo Lê Minh D sinh năm 1987 tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nội dung: vào năm 2017, bị cáo

Lê Minh D là cán bộ công an nhân dân công tác tại phòng an ninh điều tra Trong thời gian này bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách lợi dụng mối quan hệ quen biết nên giả vờ thuê mượn xe ô tô và xe mô tô sau đó mang đi cầm cố lấy tiền chi xài cá nhân Với thủ đoạn này trong khoảng thời gian từ ngày 21/7/2017 đến ngày 21/10/2017 bị cáo D đã thực hiện nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác Ngày 04/9/2017 bị cáo Lê Minh D trực tiếp gặp anh H thông tin gian dối là cần xe môtô cho bạn bè đi lại nhằm mục đích lấy xe đi cầm Anh H đồng ý, hai bên thỏa thuận làm hợp đồng thuê xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 94K1-316.23 từ ngày 04/9/2017 đến ngày 06/9/2017 với giá 750.000 đồng Sau khi nhận được xe, cùng ngày bị cáo D gọi điện thoại cho Nguyễn Đăng K ra quán cà phê Ngọc Thuận uống nước, tại đây bị cáo D nói cần tiền gấp để lo chuyển bệnh cho con của bị cáo từ Cần Thơ lên Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cầm xe mô tô biển số 94K1-316.23 với số tiền 12.000.000 đồng, K đồng ý Khi hết hạn hợp đồng thuê xe với anh H, để che giấu việc cầm xe, bị cáo D liên hệ anh H xin gia hạn hợp đồng đến ngày 21/10/2017, sau đó thì bị cáo đưa ra lý do đi công tác hoặc công việc đột xuất để né tránh việc trả xe cho anh H Ngày 14/12/2017 anh H làm đơn tố giác hành vi phạm tội của bị cáo D

Tại bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 11/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng đã căn cứ vào Thông tư số 55/2006/TT- BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP quy định: đối với tài sản bị xâm phạm đã qua sử dụng hoặc đã có thay đổi về kết cấu cơ bản của tài sản thì Hội đồng định giá tài sản và tiến hành kiểm định đánh giá chất lượng tài sản hàng hóa cần định giá sau khi đã tính đến khấu hao phần đã sử dụng để xác định giá trị còn lại của tài sản đó

Căn cứ theo Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 của Bộ Tài chính “quy định chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước”; Tại bản phụ lục số 01 của Thông tư, việc tính khấu hao tài sản cố định đối với xe mô tô gắn máy là 10% /năm Đối với chiếc xe môtô trên là xe đã qua sử dụng không thu hồi được nên căn cứ Thông tư số 55/2006: đối với tài sản bị xâm phạm không còn nữa thì hội đồng định giá phải lấy lời khai và hồ sơ tài liệu (nếu có) của người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người có hành vi xâm phạm tài sản, để xác định tài sản bị xâm phạm là tài sản gì, chủng loại, mẫu mã, nhãn mác, chất lượng Đồng thời, theo Thông tư số 304/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính về việc ban hành bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với ô tô xe máy kèm theo danh mục bảng giá tính lệ phí trước bạ ô tô xe máy có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, nguyên giá xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Air Blade dung tích xi lanh 125 được áp dụng bảng giá tính lệ phí trước bạ xe máy có mức giá là 38.000.000 đồng/chiếc

Theo thông tin tại phiếu xác minh do Phòng cảnh sát giao thông cơ giới đường bộ của công an tỉnh Bạc Liêu xác nhận thì xe mô tô biển kiểm soát 94K1- 316.23 được đưa vào sử dụng và đăng ký lần đầu ngày 09/11/2015 tính đến thời điểm ngày 04/9/2017 là 01 năm 9 tháng 27 ngày Như vậy tính hao mòn tài sản xe mô tô biển kiểm soát 94 K1-316.23 là 01 năm 9 tháng 27 ngày = 18,253% Giá trị chất lượng còn lại của xe môtô là 81,747% Giá trị bằng tiền của xe mô tô biển kiểm soát 94K1-31623 tại thời điểm ngày 04/9/2017 là: 38.000.000đ/chiếc x 81,747% = 31.063.860 đồng

Qua hai vụ án trên, có thể thấy rằng việc tính hao mòn tài sản ở mỗi nơi mỗi khác, đặc biệt đối với tài sản bị thất lạc hoặc không còn chủ yếu khấu hao theo quy định mỗi năm bao nhiêu phần trăm, không thể đánh giá chính xác hiện trạng, giá trị thực tế của tài sản Có thể tài sản đó còn rất tốt nhưng có tỷ lệ tính hao mòn cao, ngược lại tài sản đó có thể không tốt nhưng lại định giá cao hơn so với thực tế

Thứ ba, ở một số địa phương, trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá tài sản không thống nhất với nhau, thậm chí cùng một tỉnh nhưng các huyện, thị xã vẫn có những cách thành lập Hội đồng khác nhau Có địa phương ngay từ đầu năm Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ quyết định thành lập một Hội đồng định giá tài sản, trong đó một lãnh đạo cơ quan tài chính là Chủ tịch hội đồng; một chuyên viên về giá của cơ quan tài chính là thành viên thường trực của Hội đồng, còn thành phần Đại diện các cơ quan, tổ chức chuyên môn sẽ do Chủ tịch Hội đồng quyết định trong các trường hợp cụ thể theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng Căn cứ vào đó Hội đồng định giá tài sản này thực hiện các hoạt động định giá tài sản trong cả năm đó đến khi có Quyết định mới thay thế Nhưng có địa phương căn cứ vào yêu cầu định giá tài sản của cơ quan tiến hành tố tụng, Chủ tịch UBND huyện, tỉnh quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản để thực hiện định giá tài sản, theo đó Hội đồng định giá tài sản giải tán sau khi hoàn thành kết luận định giá tài sản Hội đồng định giá này được thành lập theo từng vụ việc cụ thể sau khi có quyết định trưng cầu định giá tài sản của cơ quan tiến hành tố tụng

Thứ tư, hiện nay các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực về tài sản cần định giá rất đa dạng Theo các quy định của Luật Giá và luật chuyên ngành, các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực khác nhau sẽ thực hiện việc quản lý nhà nước về giá các hàng hóa, dịch vụ khác nhau, như một số mặt hàng thuốc chữa bệnh cho người, dịch vụ bưu chính viễn thông, xây dựng, đất đai thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá của các Bộ, ngành: Y tế, Thông tin truyền thông, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường Do đó gây khó khăn cho các cơ quan trưng cầu định giá, không xác định rõ nơi nào để yêu cầu định giá, nên có trường hợp yêu cầu không đúng cơ quan định giá, gây kéo dài, khó khăn trong giải quyết vụ án hình sự

Thứ năm, về quyền từ chối định giá và quyền yêu cầu cung cấp tài liệu của Hội đồng định giá tài sản: nhận thấy vẫn còn một số bất cập khi các quyền này sẽ gây một số khó khăn cho cơ quan yêu cầu định giá tài sản, nhất là các điều kiện để từ chối thực hiện định giá, các điều kiện này còn quá chung chung, tùy nghi nên dễ dẫn đến việc lạm dụng và áp dụng không đúng: “Từ chối thực hiện định giá tài sản trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành định giá; không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá; các tài liệu cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để định giá; nội dung yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình” 4 BLTTHS năm 2015 không quy định thời gian định giá tài sản cũng do đặc thù của việc định giá phức tạp và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, nếu không có hướng dẫn cụ thể sẽ dẫn đến việc Hội đồng định giá từ chối định giá thường xuyên hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiền hành tố tụng cung cấp các thông tin quá nhiều, làm hạn chế tính chủ động của Hội đồng định giá

Kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động định giá tài sản đối với trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, về quyền của Hội đồng định giá: cần quy định rõ việc thuê tổ chức giám định để thực hiện giám định tình trạng kinh tế - kỹ thuật, tỷ lệ chất lượng của tài sản Thực chất, đây là việc giám định phục vụ định giá tài sản Tuy nhiên, nếu không có hành lang pháp lý cụ thể sẽ tạo kẽ hở và mâu thuẫn với các văn bản khác như Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định; Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 Quy định chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định Đây là các thông tư được Hội đồng định giá căn cứ để xác định tình trạng, chất lượng đối với một số loại tài sản Do đó, nếu Hội đồng được quyền thuê tổ chức giám định để xác định tình trạng và chất lượng tài sản thì cần có quy định bằng văn bản pháp luật cụ thể về đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng

Thứ hai, về việc Hội đồng định giá được quyền thuê doanh nghiệp thẩm định giá để làm căn cứ cho việc định giá tài sản: Trường hợp này cũng cần có những quy định cụ thể, vì trong thực tế có khá nhiều vụ việc định giá được Hội đồng định giá thuê doanh nghiệp thẩm định giá, dẫn đến chi phí rất cao Đây là giá do Hội đồng định giá thuê công ty thẩm định giá thực hiện Việc thuê này làm cho Hội đồng không phát huy hết chức năng, nhiệm vụ của mình, giống như trường hợp Hội đồng chỉ ký tên cho đủ thành phần trong kết luận định giá chứ không có thực hiện công việc gì vì đã thuê các doanh nghiệp thẩm định giá làm hết, Hội đồng chỉ căn cứ vào kết quả thẩm định giá và ra bản kết luận Điều này cũng dễ dẫn đến những tiêu cực, thậm chí sẽ không khách quan đối với kết luận định giá Vì vậy cần quy định cụ thể, trường hợp nào cần thiết thuê thẩm định giá, trường hợp nào Hội đồng định giá phải tự thực hiện, tránh việc lạm dụng, áp dụng tràn lan trong thực tế

Thứ ba, về các trường hợp từ chối định giá: cần quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu định giá và Hội đồng định giá để sau khi nhận yêu cầu định giá của Cơ quan tiến hành tố tụng, Hội đồng định giá nghiên cứu và xác định thời gian để thông báo cho cơ quan yêu cầu định giá biết, tránh cứng nhắc áp dụng và từ chối định giá, ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, xử lý tội phạm

Thứ tư, về kết luận định giá tài sản: đối với các trường hợp Hội đồng định giá thuê các doanh nghiệp, cơ quan thẩm định giá, cần quy định bản kết luận định giá phải kèm theo hồ sơ, kết quả thẩm định giá để cơ quan yêu cầu định giá có sự so sánh đối chiếu, phát hiện những thiếu sót và đánh giá kết luận định giá được toàn diện và chính xác hơn

Thứ năm, đối với các căn cứ để tính khấu hao tài sản trong định giá, cần có quy định thống nhất để tránh trường hợp hiện nay tại một số địa phương, có nơi Hội đồng định giá căn cứ vào Thông tư số 45/2013/TT-BTC có nơi áp dụng Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 để tính khấu hao

Thứ sáu, đối với kết luận định giá tài sản: Bản kết luận định giá cần kết luận chính xác giá trị của tài sản tại thời điểm thực hiện tội phạm và kết luận phải mang tính khẳng định, không được kết luận theo tính định hướng, chung chung, vào “khoảng” giá trị nào đó

Ngoài ra, để bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc định giá tài sản là phù hợp với giá thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm, cần quy định:

“Các mức giá từ các nguồn thông tin phải được điều chỉnh thống nhất về thời điểm bị xâm phạm và nơi tài sản bị xâm phạm.”

Thứ bảy, để thống nhất cách tiếp cận và phương pháp định giá giữa các thành viên của Hội đồng định giá, cần quy định về phương pháp định giá cụ thể căn cứ vào thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá; tình hình khảo sát, thu thập thông tin liên quan đến tài sản cần định giá; các nguyên tắc, căn cứ, phương pháp xác định giá theo quy định của pháp luật về giá và pháp luật chuyên ngành (nếu có) liên quan đến tài sản cần định giá; Hội đồng định giá tài sản quyết định lựa chọn áp dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp để định giá Đồng thời, cần có quy định cụ thể về phương pháp định giá trong một số những tài sản đặc thù, nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất cách thức thực hiện định giá tài sản giữa các Hội đồng định giá tài sản các cấp, gồm định giá tài sản chưa qua sử dụng; tài sản đã qua sử dụng; tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ; và tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường, tài sản là kim khí quý, đá quý hoặc mang giá trị phi vật thể về văn hóa, tôn giáo, khảo cổ, kiến trúc, lịch sử và giá trị phi vật thể khác Đặc biệt đối với tài sản bị thất lạc hoặc không còn có những đặc thù riêng, chỉ định giá trên tài liệu, chứng cứ, do đó nếu không có phương pháp cụ thể dễ dẫn đến xử lý tội phạm không khách quan, không đảm bảo căn cứ

Kết luận Chương 1 Định giá tài sản là hoạt động của Hội đồng định giá thực hiện theo sự yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng để xác định giá của tài sản, phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng theo quy định của pháp luật Trong một số vụ án hình sự, kết luận định giá tài sản là căn cứ để khởi tố vụ án, là chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội, xác định chính xác mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã khái quát các quy định của pháp luật về định giá tài sản, trình tự thủ tục để định giá tài sản, đồng thời phản ánh được thực tiễn áp dụng các quy định này, nhất là hoạt động định giá tài sản trong trường hợp bị thất lạc hoặc không còn, nhìn thấy được những khó khăn, vướng mắc nhất định khi tiến hành định giá đối với tài sản bị thất lạc hoặc không còn, đó là trường hợp định giá rất khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng và Hội đồng định giá tài sản Qua đó, tác giả cũng đưa ra những giải pháp cơ bản để tháo gỡ những vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn khi tiến hành hoạt động định giá đối với tài sản bị thất lạc hoặc không còn, trong điều kiện các quy định của pháp luật còn khát quát, chưa cụ thể, các văn bản hướng dẫn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế tiến hành hoạt động định giá tài sản.

ĐỊNH GIÁ LẠI TÀI SẢN ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN BỊ THẤT LẠC HOẶC KHÔNG CÒN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm