Dù rằng Luật doanh nghiệp năm 1999 đã được đánh giá là bước đột phá trong cải cách kinh tế nói chung và môi trường kinh doanh nói riêng ở Việt Nam nhưng hệ thống pháp luật về đăng kí kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ luật học “Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ nội dung trình bày cũng như các kết qủa đạt được của luận văn này
do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đình Huy Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với lời cam đoan của mình
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2009
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Bình
Trang 4MỤC LỤC Trang
Lời nói đầu
Chương 1: Khái quát về công ty TNHH một thành viên
1.1.Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH một thành viên
1.1.1.Trên thế giới
1.1.2 ỞViệt Nam 16
1.2 Khái niệm và đặc điểm công ty TNHH một thành viên 19
1.2.1 Công ty TNHH một thành viên theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới 19
1.2.2 Công ty TNHH một thành viên theo pháp luật Việt Nam 23
1.3 Phân biệt công ty TNHH một thành viên do cá nhân thành lập với DNTN theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 và vai trò của công ty TNHH một thành viên trong thời kì hội nhập nền kinh tế quốc tế 33
Chương 2: Địa vị pháp lý của công ty TNHH một thành viên – thực trạng và hướng hoàn thiện 39
2.1 Quy chế thành lập, đăng kí kinh doanh công ty TNHH một thành viên 39
2.1.1 Chủ thể có quyền thành lập 39
2.1.2 Trình tự, thủ tục đăng kí kinh doanh công ty TNHH một thành viên 44
2.2 Quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH một thành viên 52
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên 52
2.2.2 Hạn chế quyền của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên 57
2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH một thành viên 59
2.3 Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty TNHH một thành viên 64
2.3.1 Công ty TNHH một thành viên là tổ chức 64
2.3.2 Công ty TNHH một thành viên là cá nhân 69
2.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định công ty TNHH một thành viên 70
2.4.1 Về chủ thể thành lập công ty TNHH một thành viên 70
2.4.2 Về đăng kí kinh doanh 71
2.4.3 Về vốn 72
Kết luận 74 Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thời gian qua Nhà nước ta cũng đã cố gắng từng bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế làm cơ sở cho việc cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của công cuộc chuyển đổi nên không sao tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng của nước ta chưa thật sự hoàn chỉnh, đặc biệt những quy định pháp luật về doanh nghiệp còn rải rác, không tập trung, mâu thuẫn và chồng chéo Trong giai đoạn hiện nay của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về kinh tế và môi trường kinh doanh nói riêng là yêu cầu bức bách Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam
đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc cam kế sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các Luật, Pháp lệnh nhằm thực hiện các nguyên tắc của WTO là điều kiện quan trọng
Với những lí do đó, ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại kì họp thứ 8 Quốc hội khóa XI, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã được thông qua Đây là một bước tiến trong việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế của nước
ta Với phạm vi và đối tượng điều chỉnh được mở rộng hơn, nội dung rõ ràng
và hoàn thiện hơn, Luật doanh nghiệp 2005 là một dấu mốc quan trọng với hàng loạt điểm tiến bộ đáng kể về mọi mặt, trong đó đã chính thức ghi nhận cho phép cá nhân là chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên Với quy định này, Luật doanh nghiệp 2005 đã đưa công ty TNHH một thành viên lên một vị thế mới, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường kinh
Trang 6doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển Dù rằng Luật doanh nghiệp năm 1999 đã được đánh giá là bước đột phá trong cải cách kinh tế nói chung và môi trường kinh doanh nói riêng ở Việt Nam nhưng hệ thống pháp luật về đăng kí kinh doanh vẫn còn tản mạn và phức tạp một cách không cần thiết, quy định tổ chức mới có quyền thành lập và quản lý công ty TNHH một thành viên đã hạn chế đi quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư đặc biệt là cá nhân Luật doanh nghiệp 2005 ra đời với những quy định mới được sửa đổi, bổ sung
đã khắc phục được những bất cập trong các quy định về địa vị pháp lý của công ty TNHH một thành viên liệu có tạo điều kiện thuận lợi để loại hình công ty này phát huy hết vai trò của nó, góp phần công cuộc phát triển đất nước hay không? Đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề này chúng ta cần làm sáng tỏ về mặt lí luận để hoàn thiện hơn các quy định về loại hình này, làm cơ
sở để nó được đón nhận một cách phổ biến hơn trong thực tiễn Đây cũng là mục tiêu và động lực thúc đẩy tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Địa vị pháp
lý của công ty TNHH một thành viên” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề pháp luật về công ty TNHH một thành viên đã được rất nhiều luật
gia, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu chẳng hạn như Th.S Đồng Ngọc Ba với bài viết “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam” (Tạp chí Luật học số 01/ 2005) Trong quá trình xây dựng Luật doanh nghiệp 2005 những vấn đề pháp lý về công ty TNHH một thành viên cũng được giới khoa học dành nhiều quan tâm như PGS.TS Nguyễn Như Phát với bài viết “Góp ý dự thảo Luật doanh nghiệp (thống nhất)” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 07/2005), TS Phan Huy Hồng và
Lê Nết với bài viết “Trách nhiệm tài sản của pháp nhân: hữu hạn hay vô hạn” (Tạp chí Khoa học pháp lý số 06/2005) Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật doanh nghiệp trên các website:
www.vibonline.com.vn, www.na.gov.vn Đặc biệt là các công trình nghiên
Trang 7cứu trong quá trình soạn thảo Luật doanh nghiệp 2005 như công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý trung ương (CIEM) Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổ chức các kỉ thuật Đức (GTZ) với những nghiên cứu về “Thời điểm cho sự thay đổi: đánh giá cho Luật doanh nghiệp và kiến nghị” (tháng 11/2004); Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (PMRC) và Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) với
“Báo cáo tổng hợp nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức
và hoạt động của doanh nghiệp với các tư tưởng chỉ đạo xây dựng Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư chung”v v v
Nhìn chung, các bài viết và công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến những vấn đề pháp luật về công ty TNHH một thành viên ở nhiều khía cạnh
và mức độ khác nhau Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống pháp luật về công ty TNHH một thành viên trong điều kiện lịch sử và hoàn cảnh pháp lý thay đổi Trước tình hình như vậy, việc nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp này là vấn đề cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là đưa ra một cách nhìn tổng quát, toàn diện và có
hệ thống đối với những quy định pháp luật về công ty TNHH một thành viên, tìm ra những tiến bộ, hạn chế trong các quy định của pháp luật về Công ty TNHH một thành viên, từ đó đưa ra những ý kiến nhằm hoàn thiện về loại hình doanh nghiệp này trong tương lai tới
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ là:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty TNHH một thành viên
Trang 8- Phân tích cơ sở pháp lý và những bất cập trong các quy định của pháp luật về công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam trên cơ sở có sự so sánh đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới
- Đưa ra những nhận định về những tiến bộ, hạn chế trong các quy định của pháp luật về công ty TNHH một thành viên, trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến nhằm hoàn thiện hơn về loại hình doanh nghiệp này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích những quy định của pháp luật về công ty TNHH một thành viên, từ đó chỉ ra những tiến bộ và hạn chế trong các quy định của pháp luật
về loại hình công ty này Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu, đối chiếu pháp luật một số nước trên thế giới khi quy định về công ty TNHH một thành viên
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thông qua nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích một số vấn đề pháp lý về công
ty TNHH một thành viên, thực trạng pháp luật về công ty TNHH một thành viên, đồng thời cung cấp những ý kiến khác nhau từ các nhà nghiên cứu luật học cũng như ý kiến của cá nhân tác giả, từ đó có cái nhìn chính xác và đầy
đủ hơn đối với các quy định pháp luật về công ty TNHH một thành viên của nước ta hiện nay
6 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm những nội dung sau đây:
- Phần mở đầu
- Chương 1: Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 9- Chương 2: Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên - thực trạng và hướng hoàn thiện
- Kết luận
Trang 10
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
đã tồn tại từ rất lâu, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau về nó
Xét góc độ kinh tế, trong nền kinh tế thị trường, công ty được hiểu như là
một tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận được xem là yếu tố then chốt cho sự hình thành và phát triển của công ty Vì thế, trong công ty luôn tồn tại các hoạt động quản lý, điều hành để hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đó Hay nói cách khác, công ty chính là nơi diễn ra hoạt động quản trị nhằm hướng tới khai thác hiệu quả yếu tố đầu vào, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Chính vì thế, công ty đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các chuyên ngành khoa học quản trị khác nhau
Xét góc độ pháp lý, công ty là vấn đề phức tạp được nghiên cứu bởi nhiều
công trình khoa học khác nhau Đó cũng là một trong những vấn đề trọng tâm của khoa học pháp lý về kinh doanh Trên nền tảng truyền thống pháp lý của mỗi quốc gia, các học giả pháp lý đưa ra khá nhiều định nghĩa về công ty nhằm tạo tiền đề lý luận cho những điều chỉnh pháp lý với chúng
Trang 11Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law), việc đưa
ra định nghĩa về công ty thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều học thuyết khác nhau Mỗi học thuyết đều có giá trị ảnh hưởng riêng của nó đối với pháp luật
tổ chức công ty
Thứ nhất, học thuyết thực thể nhân tạo (artifical entity theory) xem công
ty (corporation) là một thực thể pháp lý độc lập được kiến tạo bởi cơ quan lập pháp Chúng có các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ sở hữu tài sản Cụ thể
là công ty có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dưới tên riêng của nó giống như thể nhân, có thể nắm giữ và chuyển nhượng tài sản, kí kết hợp đồng, thủ đắc tài sản, là nguyên đơn cũng như bị đơn trước tòa án Tóm lại, học thuyết này coi công ty giống như pháp nhân theo quan niệm của học thuyết hư cấu (fiction theory), mà nội dung sâu xa bắt nguồn từ Luật La Mã
và Luật Giáo hội về “con người giả tưởng” (persona ficta) Do vậy, thuật ngữ công ty (corporation hay company) không bao hàm hợp danh (partnership) và doanh nghiệp cá thể (sole proiertorship firm), mà có sự khác biệt về địa vị pháp lý giữa chúng, đặc biệt là cơ chế quản lý nội bộ công ty
Thứ hai, học thuyết duy danh (nominalism theory) hay học thuyết biểu
tượng (symbol theory) xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá nhân góp vốn tạo thành công ty có nhân tính nhóm Tư cách pháp lý của công ty không hơn gì sự nhân danh nhóm trong quan hệ với bên ngoài nhóm Nói cách khác, công ty không có tư cách độc lập với thành viên của nó Cách tiếp cận này không cho phép lý giải thỏa đáng những khác biệt giữa công ty và hợp danh trong luật thực định của hệ thống pháp luật này Nhưng
nó thể hiện được bản chất tồn tại của loại hình công ty ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển Đó là sự liên kết kinh doanh giữa các cá nhân
Thứ ba, học thuyết thừa nhận (fiat theory) hay học thuyết nhượng quyền
(concession theory) xem công ty là một hiện thực xã hội tất yếu được thừa
Trang 12nhận bởi Nhà nước Nhà nước nên hạn chế can thiệp thô bạo vào quá trình thành lập, đặc biệt là quá trình quản lý nội bộ công ty Do vậy học thuyết này
có ý nghĩa đặc biệt đối với việc xây dựng pháp luật công ty ở các nước có nền kinh tế mới chuyển đổi
Thứ tư, học thuyết về doanh nghiệp (theory of firm) xem công ty như một
loại hình tổ chức kinh doanh ưu việt Theo đó, công ty có thể tiếp tục tồn tại
dù cho một trong số các thành viên của nó qua đời, có thể dễ dàng huy động vốn và thay đổi thành viên Do vậy chúng có cơ cấu tổ chức khác biệt so với các loại hình kinh doanh khác
Thứ năm, học thuyết hợp đồng (contract theory) xem công ty như một
hội liên kết giữa các cá nhân thông qua hình thức hợp đồng Tuy nhiên, khác với học thuyết biểu tượng, học thuyết này thừa nhận công ty là một đơn vị pháp lý độc lập (separate judical unit), tách biệt với các thành viên của nó Học thuyết đề cao một cách tuyệt đối các quyền cơ bản của công ty (core rights to corporation), xem công ty chính là cội nguồn sản sinh ra các quyền của thành viên công ty
Thứ sáu, học thuyết mối liên hệ hợp đồng (nexus of contracts) do các nhà
kinh tế học phát triển khởi xướng nhằm tạo dựng các mô hình kinh tế Học thuyết này xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể góp vốn với nhau, cũng như giữa chủ thể góp vốn với người lao động, khách hàng của công ty và những chủ thể khác Theo học thuyết này, những Giám đốc của công ty là những nhân vật chính có chức năng kết hợp các nguồn lực hiện hữu được cung cấp để tiến hành các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận tối đa Những người nắm giữ cổ phần trong công ty không được xem là những chủ sở hữu của công ty mà chỉ là những người cung cấp vốn, cùng với những người nắm giữ cổ phiếu và các chủ nợ khác chờ đợi thu nhập từ hoạt động đầu tư Tuy nhiên, trong nhiều
Trang 13trường hợp người nắm giữ cổ phần cũng cĩ thể tham gia quản lý cơng ty như những giám đốc
Nhìn chung, các học thuyết trên đã gĩp phần làm nên các khái niệm hiện đại về cơng ty, tạo ra các tiền đề lý luận soi rọi những khía cạnh pháp lý khác nhau của cơng ty Tuy nhiên, khi xác định nội hàm của khái niệm cơng ty để xác định địa vị pháp lý của nĩ trong hệ thống luật thực định, các nhà lập pháp
ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thường chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết thực thể nhân tạo Đĩ cũng là lý do vì sao trong hệ thống pháp luật này cĩ sự phân biệt rõ nét giữa cơng ty với hợp danh và doanh nghiệp cá thể Điều này được chứng minh rõ qua Luật cơng ty của các nước theo truyền thống pháp luật này
Ở các nước chịu ảnh hưởng bởi hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
(Continental Law), khi định nghĩa về cơng ty, các học giả pháp lý thường
nhấn mạnh đến tính chất liên kết kinh doanh giữa các chủ đầu tư Dù vậy, vẫn
cĩ những dị biệt nhỏ trong việc định nghĩa về cơng ty giữa các nước theo truyền thống pháp luật này
Ở Cộng hịa Liên bang Đức, khi xem xét bản chất của cơng ty, các học giả
pháp lý quan niệm rằng: “Cơng ty là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân
bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được một mục tiêu chung nào đĩ” 1 Do vậy loại hình hợp danh trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ cũng được các học giả này thừa nhận là cơng ty, biểu hiện khởi nguyên của quan hệ pháp lý này chính là hợp đồng thành lập cơng ty Hợp đồng được xem như là căn cứ pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên cĩ liên quan đến việc thành lập cơng ty Cụ thể là tại Điều 705 Bộ luật dân sự
của Đức qui định: “Bằng hợp đồng hợp danh, các thành viên tự ràng buộc
mình để cùng thúc đẩy đạt mục tiêu chung được qui định trong hợp đồng đĩ
1 Friedrich Kubler & Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng Hòa Liên Bang Đức, NXB
Khoa học pháp lý, TPHCM
Trang 14mà cụ thể là đóng góp theo thỏa thuận” Điều 25 Bộ luật này cũng quy định:
“Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không
dựa vào các quy định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội” Như
vậy, cách tiếp cận này chỉ xem hợp đồng là phương tiện thể hiện sự liên kết lập hội kinh doanh giữa hai hay nhiều người, còn hội kinh doanh mới thực sự được gọi là công ty Tương tự đối với Luật công ty năm 1990 của Việt Nam (Điều 2), Bộ luật thương mại của Cộng hòa Czech (Khoản 1 Điều 57), Bộ luật dân sự Ý (Điều 2247), Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan (Điều 1012) và Luật công ty Trung Quốc (Điều 2, điều 20, Điều 75)
Trái với việc xem hợp đồng là sự kiện pháp lý thành lập công ty, một số
nhà lập pháp khác xác định rõ công ty là hợp đồng liên kết kinh doanh giữa
các chủ đầu tư Điều 1832 Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp định nghĩa:
“Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với
nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó…Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ” Tương tự, Bộ luật dân sự Việt Nam Cộng
hòa năm 1972 quy định: “Công ty là một khế ước do hai hay nhiều người thỏa
thuận cùng xuất tài sản, góp lại, chung nhau để lấy lợi chia nhau” Cách tiếp
cận này không cho phép thấy được rõ ràng tư cách chủ thể của công ty trong quan hệ pháp lý với chủ thể khác Bởi bản thân hợp đồng không phải là hội kinh doanh với tư cách là một chủ thể pháp lý
Với cách định nghĩa trên về công ty, các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa đã tỏ ra bất lực khi giải thích bản chất của công ty TNHH một thành viên, mặc dù chúng được các nhà làm luật thừa nhận khá rộng rãi ở Châu Âu, kể cả Pháp và Đức Cụ thể là Điều 1832 Bộ luật dân sự Pháp quy
định: “…Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định
bằng hành vi tự nguyện của một người” Tại Luật số 85-697 ngày 11 tháng 7
năm 1985 sửa đổi Luật công ty của Pháp cũng quy định cho phép cá nhân thành lập công ty TNHH một thành viên Biện minh cho điều này, một số lý
Trang 15thuyết gia pháp lý cho rằng đây là một ngoại lệ nhằm cứu vãn cơng ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên thốt khỏi chấm dứt hoạt động khi quá trình hoạt động cịn lại duy nhất một thành viên, cũng như tạo hành lang pháp lý an tồn để thu hút các cá nhân đầu tư vào các ngành cĩ độ rủi ro cao trong nền kinh tế Tuy nhiên, lập luận này đã khơng thuyết phục được các nhà lập pháp của Ý, Tây Ban Nha và những nước Nam Mỹ Vì vậy, xuất hiện quan điểm cho rằng đây khơng phải là một cơng ty thực sự, mà là doanh nghiệp cá thể
nhận rằng, về cơ bản, cơng ty vẫn bao gồm một tập thể người luơn cần cĩ sự
tổ chức, điều hành thống nhất để hướng tới mục tiêu chung; bản thân cơng ty cũng sẽ cĩ tranh chấp nội tại cần được điều chỉnh bởi pháp luật
Khơng khuơn mẫu theo một lý luận kinh điển duy nhất, khuynh hướng lập pháp hiện nay cĩ sự tiếp nhận hạt nhân hợp lý của cả hai truyền thống pháp luật trên Trong quá trình xây dựng các mơ hình pháp lý về tổ chức doanh nghiệp, các nhà lập pháp hiện đại khơng cịn chú trọng nhiều đến cách dùng thuật ngữ cơng ty theo nghĩa đơn nhất là một hợp đồng, một hội kinh doanh hay là một pháp nhân, mà cĩ cách dùng linh hoạt hơn Bởi suy cho cùng mục đích của pháp luật cơng ty là thiết lập nên các loại hình tổ chức kinh doanh hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu địi hỏi của thực tiễn Trong khi, trên thực tế giữa hai hệ thống pháp luật này vẫn cĩ sự giao thoa về các mơ hình tổ chức cơng ty Do vậy, điều quan trọng là việc xây dựng và thừa nhận về mặt pháp
lý các loại hình cơng ty cùng với cơ cấu tổ chức của chúng sao cho đảm bảo
tính hiệu quả hơn là cân nhắc cách dùng từ “cơng ty” trong trường hợp nào
Cĩ lẽ với tư tưởng này, pháp luật Việt Nam hiện nay chấp nhận tên gọi chung cơng ty cho cả loại hình doanh nghiệp một chủ chịu trách nhiệm hữu hạn (cơng ty nhà nước, cơng ty TNHH một thành viên) lẫn hợp danh và doanh nghiệp nhiều chủ khác (cơng ty cổ phần, cơng ty TNHH cĩ hai thành viên trở lên), dù rằng chúng cĩ địa vị pháp lý khác biệt
2 Nguyễn Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện
nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.53
Trang 16Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách khái quát rằng, công ty là
những thực thể kinh doanh tồn tại và hoạt động theo quy định của pháp luật
về công ty Chúng bao gồm một tập thể người được tổ chức chặt chẽ thành
một chỉnh thể thống nhất dưới một tên nhất định nhằm hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực để đạt mục tiêu đề ra Hoạt động của chúng luôn đặt dưới
sự quản lý và điều hành thống nhất, nói đơn giản hơn đó là những chủ thể kinh doanh – pháp lý (dĩ nhiên chúng phải thỏa mãn các điều kiện của pháp luật về công ty)
Các công ty đầu tiên trên thế giới xuất hiện ở các thành phố lớn của Châu
Âu và ban đầu đều là các công ty đối nhân, công ty mà thành viên của nó quan hệ với nhau dựa trên sự quen biết, tin cậy và cùng nhau chịu trách nhiệm
vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Tuy nhiên, khi hoạt động kinh doanh phát triển, lĩnh vực hoạt động của các công ty ngày càng mở rộng, nhu cầu vốn tăng lên và việc huy động vốn giữa các thành viên trong công ty không thể đáp ứng Mặt khác có nhiều người có lượng vốn dư thừa muốn kinh doanh nhưng không chấp nhận nguy cơ khánh tận khi tham gia công ty đối nhân Thực tế đòi hỏi phải có những loại hình công ty khác thích hợp hơn cho quá trình kinh doanh, do vậy loại hình công ty đối vốn được hình thành (thế kỉ XVII)
Công ty đối vốn về nguyên tắc khác biệt với công ty đối nhân ở tính chịu trách nhiệm hữu hạn: Thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty Đặc điểm này tạo ra một sự an toàn cho các nhà kinh doanh không thích mạo hiểm Công ty đối vốn có hai loại hình là công ty cổ phần và công ty TNHH Công ty cổ phần là loại hình công ty mà ở đó vốn điều lệ được phân chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần, người nắm giữ những cổ phần đó là những người đồng sở hữu tài sản của công ty Khi cần tăng vốn, công ty có thể huy
Trang 17động vốn từ công chúng bằng cách phát hành cổ phiếu Mọi cổ đông trong công ty quan hệ với nhau trên số lượng cổ phần mà họ nắm giữ đồng thời hoạt động của cổ đông trong công ty cổ phần đều dựa vào số vốn mà cổ đông hiện
có Công ty cổ phần là công ty mà ở đó tính chất đối vốn được thể hiện rõ ràng nhất Cũng là loại hình đối vốn nhưng công ty TNHH có sự kết hợp giữa những ưu điểm của loại hình công ty đối nhân và công ty đối vốn: Thành viên trong công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp nhưng đồng thời số lượng thành viên của công ty không quá lớn và vẫn có quan hệ quen biết nhau Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH đã chứng minh được đây
là mô hình tổ chức thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh
tế thị trường vì những lí do sau:
- Cơ cấu tổ chức công ty không quá phức tạp do đó chi phí quản lí, điều hành không lớn, nhất là khi so sánh với cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần
- Có tư cách pháp nhân, quy chế rõ ràng, chế độ chịu TNHH giúp công ty có
đủ khả năng tài chính nhân danh mình tiến hành các hoạt động kinh doanh cũng như trang trãi các khoản nợ phát sinh từ hoạt động đó
- Quan hệ quen biết giữa các thành viên tạo ra sự tin tưởng vào một mục tiêu chung đồng thời tạo động lực cho các thành viên bảo vệ những giá trị chung
mà công ty đã tạo dựng
Do có nhiều ưu điểm, độ “phù hợp” với nền kinh tế khá cao nên ngay sau khi ra đời công ty TNHH đã được các nhà kinh doanh lựa chọn để đầu tư Điều này có thể thấy rõ tại Đức qua các năm 1917,1936, 1989 số lượng công
Đức, hầu hết các nước Châu Âu lục địa và nhiều quốc gia trên thế giới đều
như một loại hợp danh theo thương luật Hoa Kỳ”, Phạm Duy Nghĩa (2006), Giáo trình Luật Kinh tế, NXB
Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tr.69
Trang 18Trong quá trình hoạt động của công ty TNHH, dưới nhu cầu của thực tiễn, một loại hình đặc biệt của công ty này ra đời: Công ty TNHH một thành viên, việc ra đời và tồn tại của công ty TNHH một thành viên là một minh chứng sinh động về sự vượt trước của nền kinh tế so với pháp luật Có thể nói, công ty TNHH một thành viên là kết quả tất yếu của quá trình vận động
và phát triển của công ty TNHH Và điều này đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: Thành viên công ty chuyển nhượng toàn bộ số vốn, công ty có hai thành viên nhưng sau đó một thành viên chết mà không có người thừa kế hoặc thành viên công ty ra khỏi công ty mà điều lệ công ty không cho phép kết nạp thêm thành viên mới… làm cho công ty TNHH chỉ còn lại duy nhất một thành viên Thêm vào đó thực tế công ty đó vẫn hoạt động hiệu quả thậm chí có khả năng phát triển dưới sự quản lý điều hành của thành viên còn lại Hoặc không ít nhà đầu tư lại có nhu cầu được thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh theo hình thức công ty TNHH một thành viên mà ở đó họ là chủ
sở hữu duy nhất có toàn quyền chủ động quyết định mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng như được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được, doanh nghiệp đó sẽ được hoạt động theo chế độ TNHH giúp họ hạn chế được tối thiểu thiệt hại về tài sản và trách nhiệm của cá nhân trong quá trình kinh doanh Vấn đề được đặt ra ở đây là thừa nhận hay không thừa nhận mô hình công ty này? Quan điểm của các nhà lập pháp cũng khác nhau khi nhận định và giải quyết vấn đề này
Tuy nhiên, qua phân tích và đánh giá từ thực tiễn về lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của nhà đầu tư, pháp luật của một số quốc gia đã thừa nhận về mặt pháp lý đối với mô hình công ty TNHH một chủ Luật công ty của một số nước như: Đức, Pháp, các nước khác ở Châu Âu lục địa và Nam
Ban Nha, Bồ Đào Nha…lại không cho phép tồn tại loại hình này vì cho rằng: thực ra nó là doanh nghiệp cá thể chịu TNHH chứ không phải là công ty Theo quan điểm của họ, xét về mặt bản chất công ty TNHH một thành viên
5
Nguyễn Thị Thu Vân (1996), “Chuyên đề Luật công ty ”, Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý, Hà Nội, tr.16
Trang 19không khác gì doanh nghiệp tư nhân (DNTN) do không tách bạch được tài sản của công ty và tài sản của chủ sở hữu công ty Còn đối với các quốc gia thừa nhận loại hình công ty TNHH một chủ là vì các lí do sau đây:
Một là: Cho dù các thành viên của công ty chuyển toàn bộ số vốn của
mình cho thành viên còn lại của công ty thì trên thực tế công ty vẫn hoạt động hiệu quả và cho lợi nhuận
Hai là: Về bản chất đối vốn cũng là một lợi thế của công ty TNHH một
chủ Đây là một tính chất đặc biệt của công ty đối vốn so với công ty đối nhân Trong công ty đối vốn, công ty và thành viên công ty là hai chủ thể có địa vị pháp lý độc lập Giữa hai chủ thể này có sự tách biệt về tài sản do đó về
cơ bản khi có sự thay đổi thành viên công ty không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty
Ba là: Về chế độ TNHH của công ty cũng là một điểm mạnh để các quốc
gia thừa nhận loại hình công ty này Vì nó giúp các nhà đầu tư chia sẻ rủi ro
mà vẫn tự mình quyết định được mọi vấn đề trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Đồng thời, chế độ TNHH sẽ mở đường khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào bất kì lĩnh vực kinh tế nào mang lại lợi ích cho xã hội mà trong trường hợp ngược lại, nếu phải chịu trách nhiệm vô hạn thì nỗi lo về nguy cơ sạt nghiệp sẽ làm họ đắn đo, cân nhắc trước khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực có khả năng rủi ro cao Và như vậy, nền kinh tế - xã hội sẽ tổn thất đi một lợi ích mà đáng lẽ ra nó phải được thừa nhận
Theo đó, vào bất cứ trường hợp và lí do gì mà công ty TNHH chỉ còn lại một thành viên thì các quốc gia này vẫn cho phép nó tồn tại và hoạt động mà không buộc phải chuyển đổi hay giải thể công ty
Nhìn chung, việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế thị trường Pháp luật của các nước đã chuyển từ chỗ thụ động trong việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên
Trang 20sang chủ động và chính thức công nhận nó Việc công nhận công ty TNHH một thành viên đảm bảo quyền tự do kinh doanh đối với các nhà đầu tư trong việc chủ động lựa chọn loại hình kinh doanh phù hợp với nhu cầu, khả năng của họ Điều này cũng góp phần giải quyết vấn đề các công ty TNHH một chủ được thành lập và hoạt động trá hình mà nhà nước không thể kiểm soát
1.1.2 Ở Việt Nam
So với các quốc gia phát triển trên thế giới thì quá trình phát triển các loại
hình doanh nghiệp ở Việt Nam còn khá mới mẻ Các loại hình doanh nghiệp chỉ thực sự xuất hiện cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
và các hoạt động thương mại đều được điều chỉnh bằng hệ thống các án lệ thương mại Về sau thì Luật thương mại của họ đã áp dụng vào nước ta cùng với những quan niệm hiện đại về sở hữu tư nhân hợp pháp và những quy định pháp lý đầu tiên về hoạt động kinh doanh là cơ sở hình thành các loại hình doanh nghiệp
Song, sự phát triển các loại hình doanh nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu bởi những quy định hạn chế về kinh doanh, đặc biệt đối với nhà đầu
tư người Việt Nam Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhà nước ta đã ban hành các sắc lệnh bãi bỏ những hạn chế do thực dân Pháp đặt ra
Năm 1954, nước ta phân thành hai miền: Ở miền Bắc, Chính phủ từng bước thực hiện chính sách xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân, thực hiện quốc hữu hóa hầu hết các doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức này, chỉ cho phép tồn tại những cơ sở sản xuất thuộc sở hữu quốc doanh và tập thể Ở miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì những loại hình doanh nghiệp đa dạng bao gồm cả sở hữu tư nhân và đầu tư nước ngoài Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn ban hành các chính sách bảo hộ cho doanh nghiệp trong
Trang 21nước, đánh thuế cao đối với các mặt hàng xuất khẩu, ưu đãi thuế cho nhập khẩu nguyên liệu
Năm 1975, đất nước thống nhất, pháp luật cả hai miền cùng được áp dụng thống nhất theo pháp luật hiện hành ở miền Bắc, tiến hành quốc hữu hóa trên phạm vi cả nước, các loại hình doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu ngoài Nhà nước và tập thể không cho phép tồn tại
Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mở ra hướng đi mới cho các nhà đầu tư, kinh doanh và nền kinh tế
Năm 1990, Quốc hội khóa VIII đã thông qua hai đạo luật quan trọng đó là: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Mặc dù hai đạo luật này được coi là khuôn khổ pháp lý cho doanh nghiệp ở nước ta ra đời và phát triển Tuy nhiên do còn chứa dựng nhiều hạn chế, thiếu sót do đó ngày 12 tháng 6 năm
1999 Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp trên cơ sở thống nhất và thay thế hai đạo luật trên Lần đầu tiên công ty TNHH một thành viên được chính thức ghi nhận trong hệ thống pháp luật về kinh tế của nước ta
Luật doanh nghiệp năm 1999 mặc dù được đánh giá là một trong những luật kinh tế thành công nhất, nhanh chóng phát huy tác dụng rộng rãi trong thực tế, là một luật có nội dung về cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và
Chính những khiếm khuyết này là một trong những yếu tố làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta trở nên kém cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu
6
Chẳng hạn các quy định của Luật doanh nghiệp về công ty cổ phần và công ty TNHH:
i Chưa quy định quyền và nghĩa vụ của các thành viên, cổ đông; quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên, cổ đông nhất là thành viên, cổ đông thiểu số chưa được bảo vệ hợp lý
ii Thiếu các quy định và công cụ hợp lý bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ nợ
iii Cơ cấu quản trị của công ty TNHH chưa tính đến sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý, vì vậy có thể chưa phù hợpvới công ty TNHH mà thành viên của nó là pháp nhân
iv Cơ chế giám sát của thành viên và cổ đông hoặc gián tiếp thông qua các thể chế như kiểm toán, kiểm soát nội bộ… chưa được quy định đầy đủ hoặc chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn
v Nhóm người có liên quan cũng như sự giám sát đối với các giao dịch của công ty chưa được quy định đầy đủ, hợp lý và chưa được thực hiện đầy đủ…
(Bộ kế hoạch và đầu tư, Tờ trình về dự án Luật doanh nghiệp (thống nhất) ngày 23 tháng 5 năm 2005,
của Bộ kế hoạch và đầu tư, số 344/TTr - BKH)
Trang 22cầu nội tại về thúc đẩy cải cách và phát triển kinh tế cũng như yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế Chính sách phát triển các thành phần kinh tế trước
đó vẫn còn thiếu nhất quán chưa khai thác được các nguồn lực trong dân nhân Chưa có được một khuôn khổ pháp lý thống nhất, thuận lợi và bình đẳng là một trong những rào cản lớn đối với quá trình hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường ở nước ta Chưa tạo ra đủ công cụ đầu tư và kênh huy động vốn, đồng thời vẫn còn không ít những cản trở, hạn chế đối với nhà đầu tư và dòng vốn Kết quả là nhiều kênh huy động vốn chưa phát huy hết khả năng, không tận dụng hết cơ hội đầu tư trong nền kinh tế, không tạo được điều kiện và khuyến khích đầu tư và tập trung vốn, do đó không khai thác và sử dụng hết hiệu quả tiềm năng phát triển cho từng doanh nghiệp nói riêng và cho toàn bộ nền kinh tế nói chung Hơn nữa, trong thời gian mà Việt Nam đã nỗ lực trong các vòng đàm phán để được gia nhập WTO và hiện nay đã chính thức trở thành thành viên 151 của tổ chức này thì song song với việc mở rộng cửa thị trường trong nước là việc chúng ta sẽ kí kết cũng như thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực
Trong bối cảnh đó, những quy định của hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung trở nên không còn phù hợp và bó hẹp đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp Vì vậy, sự cho ra đời Luật doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam là một bước đột phá mới với nội dung phù hợp hơn sẽ là nhân tố quyết định trong việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định, minh bạch cho các loại hình doanh nghiệp nói chung, công ty TNHH một thành viên nói riêng, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sự tiến bộ trong việc ghi nhận mô hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ
Trang 231.2 Khái niệm và đặc điểm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
1.2.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Về mặt pháp lý, sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên ở các quốc gia trên thế giới đều được điều chỉnh bằng những văn bản pháp luật cụ thể trong hệ thống pháp luật của họ, chẳng hạn như:
Ở Đức
Tại Điều 1 Luật công ty TNHH của Đức (có hiệu lực từ 19/5/1892) với sự sửa đổi bổ sung lần cuối vào ngày 01/01/1992 công ty TNHH (viết tắt là Gmhb) được định nghĩa như sau: “Công ty TNHH là công ty do một hoặc nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của pháp luật và theo đó có
Đặc trưng quan trọng nhất của loại công ty này là nó được hưởng quy chế pháp lý độc lập Có sự tách biệt về địa vị pháp lý cũng như về tài sản giữa công ty và chủ công ty, pháp luật Đức gọi đây là nguyên tắc phân tách Mặt khác, pháp luật nước này cũng thừa nhận chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân hoặc pháp nhân Để đảm bảo an toàn cho chủ nợ và khách hàng của công ty đồng thời nhằm giữ gìn trật tự chung cho nền kinh tế
- xã hội, pháp luật Đức còn buộc chủ sở hữu công ty phải nộp đủ toàn bộ vốn pháp định trước khi thành lập công ty thì mới được đăng kí tên vào danh bạ thương mại Và việc thành lập công ty TNHH phải tôn trọng các quy định của pháp luật Đức về hoạt động của công ty
7
Garicle Buder Steihoff (1996), Luật công ty TNHH các nước Đức, Áo, Hungari và Pháp trong so sánh
luật, dịch giả Trần Mạnh Hà, Đại học pháp lý Hà Nội, tr.10
Trang 24Ở Hungary
Tại Khoản 1 Điều 156 Luật phát triển kinh tế - xã hội năm 1988 quy định:
Khoản 3 Điều 156 Luật này quy định về các điều kiện cho việc thành lập công
ty TNHH một chủ, tương tự như luật Đức, chủ sở hữu công ty cũng phải góp
đủ vốn pháp định trước khi thành lập thì mới được đăng kí tên vào danh bạ thương mại
8
Garicle Buder Steihoff (1996), Luật công ty TNHH các nước Đức, Áo, Hungari và Pháp trong so sánh luật,
dịch giả Trần Mạnh Hà, Đại học pháp lý Hà Nội, tr.13
Trang 25Ở Trung Quốc9
Quan điểm về công ty TNHH một chủ của Trung Quốc có sự khác biệt so với các nước Nếu một cá nhân muốn kinh doanh chỉ có thể thành lập doanh nghiệp thể nhân - loại doanh nghiệp này không gọi là công ty Doanh nghiệp thể nhân không có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn Pháp luật về công ty của Trung Quốc chỉ quy định loại hình công ty TNHH 100% vốn nhà nước, còn gọi là công ty một người và cũng chỉ cho phép thành lập công ty một người là pháp nhân chứ không cho phép thành lập công ty một người là cá nhân Bởi vì, theo các nhà làm luật Trung Quốc nếu một người thành lập công ty thì tài sản và lợi nhuận thuộc về cá nhân, không phải chia sẻ cho bất cứ ai và không thể phân biệt được đâu là tài sản của chủ sở hữu, đâu
là tài sản của công ty Mặt khác, các nhà làm luật Trung Quốc cho rằng nếu một người làm chủ sở hữu thì khả năng kinh doanh sẽ bị hạn chế, ngoài ra sự tồn tại của công ty phần nào phụ thuộc vào tuổi thọ của chủ sở hữu công ty Chính vì những lí do đó mà pháp luật Trung Quốc không cho phép thành lập công ty TNHH một thành viên là cá nhân Đây cũng là quan điểm của một số nước nằm trong khối ASEAN
Ở một số quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 10
Đa số các quốc gia Đông Nam Á không công nhận loại hình công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ Cũng như nhiều nước khác có cùng quan điểm, họ cho rằng không có cơ sở để tách bạch tài sản giữa công ty với chủ sở hữu công ty Mặt khác, việc thừa nhận nó có thể gây nhầm lẫn với doanh nghiệp tư nhân Đây là điều không mong muốn đối với các cơ quan quản lý nhà nước Do đó, các công ty TNHH nhiều thành viên nếu trong quá trình hoạt động vì lí do nào đó mà số thành viên còn lại chỉ là một thì công ty
đó phải tiến hành giải thể trong một thời hạn nhất định, thông thường là sáu
9
Vụ thể chế sản xuất, Ủy ban nhà nước về cải cách thể chế Trung Quốc (1995), Một trăm câu hỏi và trả lời
về chế độ doanh nghiệp hiện đại, NXB Chính trị quốc gia
10
Lê Hồng Hạnh (1999), “Một số vấn đề về Luật công ty và Luật đầu tư của một số nước ASEAN”, Thông
tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (07)
Trang 26tháng hoặc một năm tùy thuộc vào quy định cụ thể của mỗi nước Quá thời hạn này mà công ty vẫn tiến hành các hoạt động kinh doanh thì bị coi là vi phạm pháp luật và phải gánh chịu các chế tài tương ứng
Tóm lại, qua xem xét khái niệm và đặc điểm công ty TNHH một thành viên của một số quốc gia trên thế giới cho thấy mô hình công ty TNHH một thành viên thực sự đã được thừa nhận và phát triển rộng rãi Nhìn chung, pháp luật các nước đã có sự nhìn nhận về loại hình công ty TNHH do một chủ thể (thể nhân hay pháp nhân) đứng ra thành lập Và mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới nhưng chung quy lại các nước đều nhìn nhận mô hình công ty này với những đặc điểm chung cơ bản sau:
- Công ty TNHH một thành viên là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập: Tài sản của công ty có sự tách bạch với tài sản của chủ sở hữu công ty Công ty có tư cách pháp nhân độc lập kể từ thời điểm được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đồng ý ghi tên vào sổ quản lý kinh doanh Và kể từ thời điểm
đó, công ty được sự bảo hộ về tài sản và uy tín từ phía pháp luật
- Công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng chính tài sản của công ty Đây chính là lợi thế của loại hình công ty này tránh được tình cảnh khánh kiệt gia sản của chủ sở hữu công ty khi công ty bị phá sản
- Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp một chủ, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức Chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới tổ chức cũng như hoạt động của công ty
- Vốn của công ty TNHH một thành viên do một thành viên duy nhất góp vào khi thành lập công ty Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho chủ nợ, khách hàng của công ty Theo đó, thành viên duy nhất phải hoàn tất việc góp vốn đầy đủ cho cơ quan chức năng thì mới được phép thành lập công
ty
Trang 27Cũng như các loại hình công ty khác, công ty TNHH một chủ là công cụ
để công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh, lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, đồng thời nó cũng là một trong những biện pháp nhằm đa dạng hóa phương án đầu tư, thu hút tối đa nguồn vốn trong xã hội Đây chính là mục tiêu phấn đấu của không ít nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Vậy, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về loại hình công ty này?
1.2.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo pháp luật Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm công ty TNHH một thành viên
Việc tìm hiểu khái niệm về công ty TNHH một thành viên khi nghiên cứu địa vị pháp lý của công ty TNHH một thành viên là một vấn đề có ý nghĩa về
lí luận cũng như thực tiễn
Nếu trước đây, Luật doanh nghiệp 1999 chưa thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ thì hiện nay, để phù hợp với xu hướng chung của các quốc gia, đồng thời tạo động lực kinh doanh cho các nhà đầu tư thì chúng ta đã thừa nhận một cá nhân có quyền làm chủ sở hữu công ty Quy định này là sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp
ở nước ta và trong quá trình soạn thảo Luật doanh nghiệp 2005, đây là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm Mặc dù có nhiều luồng quan điểm khác nhau về vấn đề này, song quan điểm thừa nhận một cá nhân được phép thành lập công ty TNHH một thành viên đã chiếm ưu thế hơn và đã được chấp nhận Vì vậy, tại Khoản 1 Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty ”
Trang 28Như vậy, công ty TNHH một thành viên - một mô hình kinh doanh mới, trước hết nó cũng là một doanh nghiệp như những loại hình doanh nghiệp khác trong hệ thống các loại hình doanh nghiệp hiện đã có ở Việt Nam Điều này có nghĩa là nó cũng là một tổ chức kinh tế độc lập, có tên riêng, có tài sản riêng và trụ sở giao dịch ổn định để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời, một mục tiêu chung và cuối cùng của mọi nhà đầu tư Song để hiểu rõ hơn về bản chất của công ty TNHH một thành viên và phân biệt nó với các loại hình doanh nghiệp khác chúng ta cùng nghiên cứu thêm những đặc điểm của loại hình công ty này
12.2.2 Đặc điểm công ty TNHH một thành viên
Theo Luật doanh nghiệp 2005, công ty TNHH một thành viên có các đặc điểm cơ bản sau:
- Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ - là loại hình doanh nghiệp một chủ
Căn cứ pháp lý cho đặc điểm này là theo Khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của luật này, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 điều này ” Đồng thời, Khoản 1 Điều 9 Nghị Định 139/ 2007/NĐ – CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp cũng khẳng định: “Tất cả các tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không phân biệt nơi đăng ký, địa chỉ trụ sở và mọi cá nhân, không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2, Điều 13, Luật doanh nghiệp đều có quyền thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật doanh nghiệp” Như vậy, so với quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999 thì Luật doanh nghiệp năm 2005
đã có sự mở rộng phạm vi các đối tượng là tổ chức có quyền thành lập doanh nghiệp nói chung, công ty TNHH một thành viên nói riêng Theo đó, hiện nay
Trang 29chúng ta đã cho phép tổ chức, cá nhân người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam được phép thành lập, quản lý công ty Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi vì, trong những năm qua khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng trưởng mạnh góp phần không nhỏ trong sự tăng trưởng chung của kinh tế cả nước Việc thu hút nguồn vốn đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài là một hướng quan trọng giúp chúng ta có cơ hội sử dụng hiệu quả những thế mạnh tiềm năng của mình Bên cạnh đó, chúng ta đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt đã trở thành thành viên chính thức của WTO Do đó, việc tạo môi trường pháp lý công bằng, minh bạch đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài
là điều hết sức cần thiết
Trước đây, pháp luật chỉ cho phép 17 loại tổ chức được liệt kê tại Điều 14 Nghị định 03/2000/NĐ –CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính Phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp năm 1999 được phép thành lập công ty TNHH một thành viên Quy định này đã hạn chế những tổ chức có tư cách pháp nhân khác muốn thành lập công ty TNHH một thành viên và như vậy đã hạn chế mất một nguồn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế
xã hội Để khắc phục điều này, Nghị Định 139/ 2007/NĐ – CP đã quy định theo hướng mở rộng “Tất cả các tổ chức là pháp nhân” đều có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên Theo đó, mọi tổ chức có tư cách pháp nhân đều được thực hiện quyền này Đây là điểm tiến bộ của pháp luật về doanh nghiệp, xóa bỏ quy định cứng nhắc tại Nghị định 03
Đối với chủ sở hữu công ty là cá nhân, đây là quy định mới trong Luật doanh nghiệp 2005, trước đây pháp luật nước ta chưa thừa nhận điều này Trong quá trình soạn thảo Luật doanh nghiệp, vấn đề này đã được các nhà làm luật đưa ra bàn luận rất kĩ càng Có hai quan điểm trái ngược nhau xoay quanh việc nên hay không nên chấp nhận cá nhân được phép thành lập công
ty TNHH một thành viên Những người có quan điểm không đồng ý thành lập công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ đã lo ngại rằng: Nếu
Trang 30cho phép cá nhân thành lập công ty TNHH một thành viên thì sẽ không còn ai lựa chọn loại hình DNTN, thực ra sự lo ngại này hoàn toàn không có cơ sở Bởi vì, mỗi một loại hình doanh nghiệp đều có những lợi thế và bất lợi nhất định Ở các nước mà pháp luật cho phép cá nhân có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên vẫn tồn tại một số lượng lớn DNTN Hơn nữa, việc cá nhân hay tổ chức lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào phần lớn phụ thuộc vào khả năng cũng như tiềm lực của họ Lợi thế của công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ so với DNTN là tính chịu TNHH Tuy nhiên, điểm bất lợi của công ty TNHH do một cá nhân làm chủ so với loại hình DNTN thể hiện ở hai điểm sau: Thứ nhất, khi muốn thiết lập một quan hệ kinh doanh thương mại, các đối tác thường dành sự ưu tiên cho DNTN; Thứ hai, khi muốn đầu tư kinh doanh, sản xuất thì công ty TNHH rất khó có thể huy động vốn từ bên ngoài Song nếu lựa chọn loại hình DNTN, vì tính chịu trách nhiệm vô hạn thì khi gặp rủi ro rất có thể nhà đầu tư sẽ mất hết tài sản
“Như vậy không có loại hình doanh nghiệp nào được quy định trong Luật
tư
“Do vậy, vấn đề chính của việc cho phép hay không cho phép cá nhân thành lập loại hình công ty này hoàn toàn không nằm ở tính chất chịu trách nhiệm vô hạn hay hữu hạn mà vấn đề chính là khả năng quản lý nhà nước đối
Sở dĩ, Luật doanh nghiệp 1999 trước đây quy định tại Khoản 1 Điều 46:
“Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu” mà chúng ta chưa chấp nhận công ty TNHH một thành viên do một cá
khi muốn đầu tư kinh doanh trên thương trường chỉ có thể thành lập DNTN
i Nếu thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân thì có nguy cơ DNTN sẽ chuyển sang hết loại hình này
ii Nguy cơ lạm dụng chế độ TNHH để gây thiệt hại cho bên thứ ba
iii Với chuẩn mực kế toán như hiện nay thì rất khó trong việc phân định tài sản của công ty và tài sản cá nhân chủ sở hữu; chi tiêu của công ty với chi tiêu của các nhân chủ sở hữu
Trang 31và phải chịu trách nhiệm bằng tất cả tài sản của mình đối với các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Nay, Luật doanh nghiệp 2005 với quy định tại Điều 63: “Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu” đã chính thức thừa nhận công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ Sự thừa nhận này xuất phát từ những cơ sở sau:
- Việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ là sự bảo
đảm quyền tự do kinh doanh được ghi nhận tại Điều 57 Hiến pháp 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001) Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản nhất của quyền tự do kinh doanh Quyền này bao gồm quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp để đầu tư và quyền góp vốn, chuyển nhượng vốn góp Vì vậy, pháp luật cần phải tạo mọi điều kiện cho những người muốn đầu
tư, tức là phải mở rộng khả năng cho các đối tượng đó tham gia thành lập các loại hình doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh không
có nghĩa là không có bất cứ một sự giới hạn nào Và trong một nền pháp luật tiến bộ thì quyền tự do kinh doanh chỉ có thể bị giới hạn khi nó xâm phạm lợi ích công cộng được pháp luật bảo vệ Vấn đề đặt ra là việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân có xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội cũng như lợi ích của nhà đầu tư không? Câu trả lời ở đây là không Bởi vì, chúng ta có thể thấy rằng việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân không những gây thiệt hại mà còn đem lại nhiều ích lợi cho Nhà nước, đó là: Góp phần giải quyết việc làm; góp phần kích thích sự phát
triển của nền kinh tế đem lại nguồn thu ngân sách Nhà nước
Ngoài ra, việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân sẽ khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạng bỏ vốn ra kinh doanh, đầu tư trong các ngành, nghề, lĩnh vực rủi ro cao, phát huy được các tiềm năng, thế mạnh của đất nước
Trang 32Đối với lĩnh vực xã hội, lợi ích của bên thứ ba, có nhiều ý kiến cho rằng:
“Công ty TNHH một thành viên sẽ lợi dụng quy chế TNHH một thành viên
để gây thiệt hại bởi hệ thống kế toán và giám sát hiện nay đang tuân thủ chế
độ kế toán, nhất là kế toán doanh nghiệp lại chưa phát triển và hiệu quả chưa
viên là cá nhân và DNTN Tuy nhiên, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam mới
nhân cùng với các quy định về công khai hóa thông tin sẽ làm cho các loại hình công ty này dễ nhận biết hơn đối với bên thứ ba, do đó tạo được sự an toàn hơn cho bên thứ ba khi mà họ dễ dàng nhận thấy được rủi ro khi giao dịch với loại hình công ty này Sự thừa nhận một cá nhân có quyền thành lập
và quản lý công ty TNHH một thành viên là cần thiết Theo đó, cần có sự hỗ trợ, bổ sung của các luật khác như: Sự ra đời của Luật phá sản cá nhân, sự chặt chẽ và hoàn chỉnh của Luật kế toán, kiểm toán…
Về phía các chủ đầu tư, việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là
cá nhân chính là sự khuyến khích, cởi mở hơn đối với họ Vì nó vừa hạn chế được rủi ro, vừa tăng mức độ an toàn đảm bảo tâm lý bình ổn cho nhà đầu tư khi họ bỏ vốn ra kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH một thành viên
Như vậy, việc thừa nhận một cá nhân có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên không chỉ tạo ra lợi ích cho nền kinh tế, xã hội, đảm bảo quyền lợi cho cả hai phía: Nhà nước, chủ đầu tư mà quy định này có thể được xem là sự thể chế hoá “quyền tự do kinh doanh” đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992
Trang 33- Việc thừa nhận mô hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ
sẽ đảm bảo việc thi hành pháp luật tốt hơn đối với nhà đầu tư, giải quyết được tình trạng “lách luật” và những hệ quả phát sinh từ tình trạng này
Người Việt Nam hiện nay nói chung vẫn có tâm lý ưa chuộng kinh doanh một mình, tức là một mình làm chủ doanh nghiệp và tự mình trực tiếp tổ chức quản lý kinh doanh đồng thời một mình hưởng lợi nhuận mà không phải chia
sẻ với ai khác Đây cũng là sự phù hợp với tập quán kinh doanh của hộ gia đình kinh doanh vốn tồn tại lâu dài ở Việt Nam Đặc biệt, với những nhà đầu
tư bỏ vốn ra kinh doanh chỉ muốn một mình hưởng tất cả lợi nhuận nhưng lại không muốn bị ràng buộc bởi chế độ trách nhiệm vô hạn thì việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sẽ giúp họ không còn phải
“lách luật” Bởi vì các cá nhân rất có thể thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng các thành viên khác chỉ là thành viên danh nghĩa Điều này
có nghĩa là ngay từ khi thành lập, công ty chỉ có một thành viên đích thực, còn các thành viên khác và số vốn góp của họ hoàn toàn chỉ mang tính hình thức Trên thực tế, hiện tượng này khá phổ biến và nó nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước Và hệ quả của nó là các cơ quan chức năng sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết các hậu quả phát sinh từ hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, bởi vì bản thân nó không có sự thống nhất về hình thức và nội dung pháp lý Do vậy, việc cho phép một cá nhân được thành lập công ty TNHH một thành viên là giải pháp tốt nhất cho vấn đề này
- Việc thừa nhận một cá nhân có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên sẽ tạo điều kiện cho các DNTN có thể chuyển thành công ty TNHH hoặc các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức công ty TNHH một thành viên để kinh doanh ngay từ khi thành lập doanh nghiệp Hay nói cách khác, việc pháp luật cho phép cá nhân có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên sẽ không làm triệt tiêu loại hình DNTN Bởi vì bản thân mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những lợi thế riêng phù hợp với điều kiện, nhu cầu của từng
Trang 34nhà đầu tư, từng lĩnh vực đầu tư Vì thế việc lựa chọn DNTN hay công ty TNHH một thành viên là cá nhân để đầu tư kinh doanh sẽ là sự cân nhắc, lựa chọn cuối cùng của chủ đầu tư trên cơ sở những ưu và hạn chế của mỗi mô hình kinh doanh Mặc dù về hình thức DNTN và công ty TNHH một thành viên đều do một người làm chủ sở hữu nhưng đây là hai loại hình doanh nghiệp khác nhau với những ưu điểm và hạn chế riêng (vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn trong phần phân biệt công ty TNHH một thành viên và DNTN) Do vậy, chúng vẫn có thể cùng tồn tại trong một nền kinh tế
Thực tế phát triển kinh tế thị trường trong những năm qua đã chứng minh rằng: Một hoạt động kinh doanh đã tồn tại trên thực tế đáp ứng nhu cầu của xã hội, được xã hội thừa nhận thì phải được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh, ngược lại nếu như các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế thì các hoạt động này dễ có khuynh hướng đi vào hoạt động ngầm và nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng yếu tố tích cực từ việc quy định hình thức công ty TNHH một thành viên đã vượt xa những yếu tố tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động của loại
Từ những phân tích trên chúng ta có thể thấy được những cơ sở cho việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân Đó là sự phù hợp với nhu cầu khách quan lẫn chủ quan của nhu cầu kinh tế
- Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu công
ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân bởi lẽ: Công ty có tài sản độc lập với tài sản của thành viên công ty (chủ sở hữu), đồng thời công
ty là một chủ thể kinh doanh dưới danh nghĩa riêng, là một chủ thể kinh
16
Nguyễn Văn Hùng (2005), “Một số khía cạnh pháp lý về chủ thể thành lập công ty TNHH một thành
viên”, tạp chí Khoa học pháp lý (0 3), tr.53
Trang 35doanh độc lập Sau khi được chủ sở hữu thành lập, công ty nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó bằng tài sản của chính mình Theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005, công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Đây là đặc điểm cơ bản của công ty TNHH một thành viên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ khách hàng khi tiến hành các giao dịch với công ty Là một pháp nhân độc lập, có tên gọi, điều lệ, trụ sở giao dịch và có cơ cấu tổ chức quản lý riêng tùy thuộc vào quy mô hoạt động và ý chí của chủ sở hữu công ty Tuy nhiên, để đảm bảo tư cách pháp nhân độc lập
Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Đặc điểm này cũng tương tự như các công ty TNHH một thành viên tại các nước trên thế giới Như đã phân tích ở trên, do tài sản của công ty tách bạch với tài sản của chủ sở hữu nên nếu công ty bị tuyên bố phá sản thì chủ sở hữu công ty không bị tuyên bố phá sản theo Với chế độ TNHH, chủ sở hữu công ty chỉ bị mất một phần vốn góp mà mình đã góp khi thành lập công ty, khi công ty bị tuyên bố phá sản Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng “trách nhiệm hữu hạn” là để chỉ phạm vi trách nhiệm của thành viên - chủ sở hữu công ty chứ không phải trách nhiệm của pháp nhân Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mình góp vào công ty – TNHH, còn pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Theo đó, về đặc điểm TNHH
17
Tại Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định một tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân phải
có đủ bốn điều kiện sau:
i Được thành lập hợp pháp;
ii Có cơ cấu tổ chức hợp pháp;
iii Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
iv Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Trang 36của công ty TNHH một thành viên thực chất là chế độ TNHH của chủ sở hữu công ty
- Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phần
Tại Khoản 3 Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần Tại sao pháp luật Việt Nam lại đưa ra quy định này? Điều này được lý giải bởi bản chất của công ty TNHH một thành viên Điểm khác nhau cơ bản giữa công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần là công ty cổ phần được quyền phát hành cổ phiếu còn công ty TNHH một thành viên thì không có quyền này Theo quy định của pháp luật, thành viên tối thiểu của công ty cổ phần là ba so với công
ty TNHH một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất là chủ sở hữu công
ty Nếu cho phép công ty phát hành cổ phần ra bên ngoài thì không chỉ làm mất đi bản chất cơ bản của công ty mà còn có nguy cơ gây xáo trộn lớn cho chính công ty, số lượng thành viên công ty sẽ tăng lên tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Đây là điều không mong muốn đối với cả nhà đầu tư lẫn nhà quản lý doanh nghiệp
Mặc dù pháp luật không cho phép công ty TNHH một thành viên phát hành cổ phần ra công chúng để huy động vốn Tuy nhiên, luật cũng không
linh hoạt và mềm dẻo vừa tạo được kinh huy động vốn cho công ty khi cần thiết vừa đảm bảo sự ổn định trong kinh doanh của công ty Hơn nữa, quy định này giảm bớt khó khăn cho các cơ quan chức năng, khuyến khích được các nguồn vốn nhàn rỗi tham gia kinh doanh Song, để cơ quan chức năng
18
Khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 (có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2007) quy định chứng khoán gồm các loại sau:
i Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
ii Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Trang 37kiểm soát được hoạt động phát hành các loại chứng khoán khác thì công ty
1.3 Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân
thành lập với doanh nhiệp tư nhân theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 và vai trò của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong thời kì hội nhập nền kinh tế quốc tế
1.3.1 Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân thành lập với doanh nhiệp tư nhân theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005
Về hình thức, công ty TNHH một thành viên và DNTN có đặc điểm giống nhau là chỉ có một chủ thể là chủ sở hữu - sở hữu một chủ Song, về bản chất đây là hai chủ thể kinh doanh hoàn toàn khác nhau Những điểm khác nhau cơ bản của hai loại hình doanh nghiệp này là:
Thứ nhất: Về tư cách pháp nhân, công ty TNHH một thành viên có tư
cách pháp nhân Mặc dù công ty chỉ có một thành viên nhưng là một chủ thể kinh doanh độc lập, có tài sản tách biệt với tài sản chủ sở hữu công ty Khi công ty kinh doanh thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản thì chủ sở hữu công ty chưa hẳn đã rơi vào hoàn cảnh khánh tận Còn DNTN không có tư cách pháp nhân - tài sản của chủ doanh nghiệp và DNTN không có sự tách bạch rõ ràng như trong công ty TNHH một thành viên và về bản chất công việc kinh doanh của chủ sở hữu DNTN và doanh nghiệp chỉ là một
19 Theo Điều 17 Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp thì doanh nghiệp chỉ được phát hành trái phiếu khi có đủ các điều kiện sau:
i Là doanh nghiệp thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định này
ii Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm, kể từ ngày giờ chính thức đi vào hoạt động
iii Có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán
iv Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề năm phát hành phải có lãi
v Có phương án phát hành trái phiếu được tổ chức, các nhân có thẩm quyền thông qua
Trang 38Thứ hai: Về chế độ trách nhiệm, chủ sở hữu công ty TNHH một thành
viên chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình (chế độ trách nhiệm hữu hạn) Trong trường hợp công ty thì chủ sở hữu công ty chỉ bị mất phần vốn góp chứ không bị ảnh hưởng đến phần tài sản của cá nhân tạo ra ngoài phần vốn góp vào công ty Ngược lại chủ DNTN phải chịu trách nhiệm các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình (chế độ trách nhiệm vô hạn) Trường hợp DNTN bị phá sản thì có nghĩa là chủ DNTN cũng bị phá sản theo do bị tịch biên tới cả phần tài sản do cá nhân
đó làm ra ngoài doanh nghiệp “Chủ DNTN và DNTN không phải là hai chủ thể pháp nhân độc lập nhau, hoạt động của DNTN là hoạt động của chủ doanh
Thứ ba: Về quyền phát hành chứng khoán, tại Khoản 3, Điều 63 Luật
doanh nghiệp 2005 quy định “công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần”, như vậy Luật không cấm công ty TNHH một thành viên phát hành các loại chứng khoán khác Còn theo quy định tại Khoản
2, Điều 141 thì DNTN: “Không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào” Sở dĩ như vậy bởi công ty TNHH một thành viên có chế độ TNHH và
có tư cách pháp nhân, là chủ thể độc lập Song công ty lại có những khó khăn nhất định trong việc huy động vốn, do đó pháp luật không cấm loại hình doanh nghiệp này huy động vốn bằng các kênh khác, tất là được phát hành các loại chứng khoán trừ cổ phiếu Trong khi đó DNTN không có tư cách pháp nhân không phải là chủ thể pháp lý độc lập, tư cách chủ thể của DNTN gắn liền với chủ doanh nghiệp vì thế không thể có được quyền phát hành các loại chứng khoán Quy định như vậy sẽ giảm bớt khó khăn cho hoạt động quản lý của Nhà nước Ngoài ra, do DNTN có chế độ trách nhiệm vô hạn nên
họ dễ dàng huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau
20 Bùi Thị Khuyên (1999), Luật Kinh doanh, NXB Thống kê, tr.45
Trang 39Thứ tư: Về chủ thể thành lập doanh nghiệp, cả công ty TNHH một thành
viên và DNTN đều là doanh nghiệp một chủ, do một chủ thể có tư cách pháp
lý thành lập, là chủ sở hữu cũng là người hưởng lợi nhuận duy nhất từ hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên chủ thể thành lập DNTN chỉ có thể là cá nhân còn chủ thể thành lập công ty TNHH một thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân Như vậy, so về phạm vi chủ thể được phép thành lập doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên rộng hơn
Thứ năm: Về cơ cấu tổ chức và quản lý, công ty TNHH một thành viên có
cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên hoặc mô hình Chủ tịch công
ty Việc lựa chọn mô hình nào là tùy thuộc vào chủ sở hữu công ty và quy mô của nó Đối với DNTN thì cơ cấu tổ chức thường đơn giản hơn và do chính chủ doanh nghiệp đảm nhận Chủ DNTN trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp thì chủ DNTN phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chủ DNTN đồng thời là nguyên đơn, bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài hoặc tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp
Và trong mọi trường hợp chủ doanh nghiệp điều là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khác với công ty TNHH một thành viên: Người đại diện theo pháp luật của công ty do Điều lệ công ty quy định, đó có thể là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty TNHH một thành viên
Thứ sáu: Về vốn và chế độ tài chính, công ty TNHH một thành viên
không được giảm vốn điều lệ Trong khi đó chủ DNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của DNTN phải được ghi chép đầy
đủ vào sổ kế toán của doanh nghiệp Trường hợp giảm vốn đầu tư của doanh nghiệp xuống dưới mức đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp chỉ được giảm vốn
Trang 40khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Rõ ràng quy định này thoáng hơn so với công ty TNHH một thành viên
Thứ bảy: Về chuyển quyền sở hữu tài sản, chủ sở hữu công ty TNHH một
thành viên phải chuyển quyền sở hữu tài sản đối với tài sản góp vốn vào công
ty theo quy định:
- Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất đó cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Đối với tài sản không có đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn và có xác nhận bằng biên bản
- Phần góp vốn bằng tài sản không phải là tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã được chuyển sang công ty
Còn đối với DNTN thì: “Tài sản sử dụng và hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp” (Khoản 2 Điều 29)
Như vậy, qua nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của công ty TNHH một thành viên và so sánh nó với loại hình DNTN chúng ta thấy rằng mỗi loại doanh nghiệp đều có những ưu, khuyết điểm riêng Công ty TNHH một thành viên có ưu thế là trong kinh doanh nếu có bị thua lỗ thì chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, đây lại là hạn chế đáng kể khi quan hệ làm ăn với khách hàng Bởi tại, trong kinh doanh bao giờ các đối tác cũng thường thận
21
Khó khăn trong du nhập trách nhiệm hữu hạn:
i Bức tường trách nhiệm hữu hạn tuy mang lại lợi ích cho nhà đầu tư, xong chủ nợ, các thiết chế tư pháp và xã hội Việt Nam đang có những khó khăn khi dung nạp quan niệm mới mẻ
ii Người nước ta chưa quen với khái niệm công ty là một pháp nhân độc lập
iii Khi vỡ nợ các chủ nợ chỉ có thể cầu may từ khối tài sản của công ty mà không thể dễ dàng buộc chủ
sở hữu trả nợ thay cho công ty
(Phạm Duy Nghĩa (2006), giáo trình Luật Kinh tế, NXB ĐHQG Hà Nội, tr.72 -73)