Trong khi đó, khi xem xét để sửa bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét đến rất nhiều vấn đề khác trong vụ án, chẳng hạn như để cân nhắc xem có giảm hình phạt theo yêu cầu khá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TUẤN ANH
SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2-*** -
NGUYỄN TUẤN ANH
SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình riêng của tôi Các số liệu,
tài liệu trong luận văn là trung thực Kết quả của luận văn chưa
được công bố ở công trình khác
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 4BAPT : Bản án phúc thẩm
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự HSST : Hình sự sơ thẩm
HSPT : Hình sự phúc thẩm
HĐXX : Hội đồng xét xử
TACST : Tòa án cấp sơ thẩm
TACPT : Tòa án cấp phúc thẩm
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự
XXST : Xét xử sơ thẩm
XXPT : Xét xử phúc thẩm
Trang 51 Phụ lục 1: Bảng số liệu thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
2 Phụ lục 1A: Biểu đồ thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
3 Phụ lục 2: Bảng số liệu thụ lý, giải quyết phúc thẩm các vụ án hình sự của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
4 Phụ lục 2A: Biểu đồ thụ lý, giải quyết phúc thẩm các vụ án hình sự của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
5 Phụ lục 3: Bảng số liệu sửa bản án hình sự sơ thẩm của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
6 Phụ lục 3A: Biểu đồ sửa bản án hình sự sơ thẩm của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2008 – 2012
Trang 6Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM
1.1 Khái niệm sửa bản án hình sự sơ thẩm ………… …….………… 7 1.2 Quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm … 10 1.3 Mục đích, ý nghĩa của việc sửa bản án hình sự sơ thẩm …… … 15 1.4 Căn cứ sửa bản án hình sự sơ thẩm………… ………… ………… 18 1.5 Tổng quan pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước khi Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực thi hành về quy định sửa bản án
Kết luận Chương 1 ……… ……… ……… 25
2.1 Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo kháng cáo
2.2 Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng có lợi cho những bị cáo
không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị …… … 43
2.3 Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng có lợi cho những bị cáo bị
kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi……… … 44
2.4 Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo bị
kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi 46
2.5 Sửa bản án hình sự sơ thẩm không phụ thuộc vào kháng cáo, kháng
Kết luận Chương 2……… ……… 50
NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN
3.1 Thực trạng về sửa bản án hình sự sơ thẩm của ngành Tòa án nhân
3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập khi thực hiện quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án
3.3 Các kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền sửa
bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm ….……… 71
Kết luận Chương 3 … ……… …… …… …… ……… 76
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vì vậy, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng, trong đó đẩy mạnh cải cách tư pháp theo yêu cầu của Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” là vấn đề cấp bách đòi hỏi nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính
trị nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng mà trong đó có vị trí và vai trò quan trọng của ngành Tòa án nhân dân
Để thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp, trong những năm qua các Tòa án nhân dân trong cả nước có những nỗ lực, phấn đấu rất lớn, mặc
dù số lượng các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính phải thụ lý hàng năm luôn có chiều hướng gia tăng nhưng tốc độ và chất lượng giải quyết cũng đã được cải thiện đáng kể Đặc biệt là trong công tác xét xử các vụ án hình sự thì hầu hết các phán quyết đều đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không để lọt tội phạm và cũng không xét xử oan người không có tội, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Tuy nhiên, hoạt động xét xử các vụ án hình sự vẫn chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu đề ra, còn có rất nhiều bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa và cũng có nhiều bản án của Tòa án cấp dưới bị Tòa
án nhân dân tối cao tuyên hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Do đó một trong những giải pháp đặt ra để khắc phục tình trạng này chính là từng cấp xét xử phải đảm bảo xét xử vụ án đúng cả về pháp luật nội dung và tố tụng bao gồm việc phải thực hiện chính xác phạm vi, thẩm quyền mà pháp luật cho phép Cũng chính
vì lẽ đó nên việc thực hiện các quyền: giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm hay hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử vụ án hình sự có
ý nghĩa, tác động rất quan trọng đến quá trình tố tụng hình sự, luôn được đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật
Mỗi quyết định về hủy bản án hay sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm đều có ý nghĩa, tác động quan trọng riêng đến quá trình giải quyết vụ án Nếu như việc hủy bản án chủ yếu là nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng để điều tra, xét xử lại hoặc chỉ để xét xử lại đúng đắn vụ án (trừ hủy và đình chỉ), thì sửa bản án
sơ thẩm chính là việc Tòa án cấp phúc thẩm phải khắc phục hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc do có những tình tiết mới phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án sau khi xét xử sơ thẩm
Trang 8Nếu đánh giá sửa bản án hình sự sơ thẩm ở góc độ liên hệ cùng với hiệu lực thi hành của bản án mới có thể thấy hết được tầm quan trọng trong sự tác động của sửa bản án đến quá trình giải quyết vụ án Bởi vì, quyết định sửa bản án dù đúng hay không đúng thì bản án phúc thẩm cũng phải có hiệu lực pháp luật, bị cáo và các đương sự không còn quyền kháng cáo nữa, họ chỉ có quyền thông báo (khiếu nại) đến người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tuy nhiên không phải bị cáo, đương sự nào cũng biết về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm hoặc có đủ trình độ để phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án của Tòa án Mặt khác, trình tự, thủ tục để kháng nghị và giải quyết giám đốc thẩm, tái thẩm phải qua nhiều giai đoạn và thường là rất lâu
Trong thực tiễn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, Tòa án ra phán quyết để sửa bản án sơ thẩm thường khó hơn là ra phán quyết để hủy bản án sơ thẩm Bởi vì, có khi chỉ cần phát hiện vụ án có vi phạm nghiêm trọng thuộc trường hợp phải hủy bản
án thì Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy mà có thể không cần xem xét đến các vấn đề khác của vụ án Trong khi đó, khi xem xét để sửa bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét đến rất nhiều vấn đề khác trong vụ án, chẳng hạn như
để cân nhắc xem có giảm hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo hay không Tòa án cấp phúc thẩm phải đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, điều khoản mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, nhân thân bị cáo, cân nhắc giữa các tình tiết giảm nhẹ với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vấn
đề bồi thường thiệt hại Nếu giảm hình phạt thì giảm ở mức nào, giảm trong cùng một khoản mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hay chuyển sang khoản khác nhẹ hơn, nếu vụ án có đồng phạm thì việc giảm hình phạt của một bị cáo có tạo nên sự chênh lệch so với các bị cáo khác hay không v.v Vì vậy, có thể thấy được rằng sửa bản
án hình sự sơ thẩm là vấn đề rất phức tạp, để thực hiện đúng đòi hỏi Tòa án cấp phúc thẩm mà cụ thể là Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải hiểu biết sâu, rộng về chuyên môn, vững vàng về bản lĩnh chính trị và nghiệp
vụ
Mặc dù vấn đề sửa bản án hình sự sơ thẩm là rất quan trọng, nhưng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và một số văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật đối với vấn đề này vẫn chưa thật sự phù hợp, không đồng bộ, nhất là quy định sửa bản án trong một số trường hợp cụ thể vẫn còn chung chung và chưa rõ ràng Ngoài
ra, các chế định khác của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự áp dụng để sửa bản án cũng còn nhiều bất cập, chẳng hạn như chế định về kháng cáo, kháng nghị, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, về xử lý vật chứng, về án phí v.v Do quy định của pháp luật về sửa bản án hình sự sơ thẩm còn chưa thật sự hoàn thiện, nên đã tạo ra không ít khó khăn, lúng túng cho Tòa án cấp phúc thẩm khi áp dụng
và trong một số ít trường hợp là kẽ hở gây ra nhũng nhiễu, tiêu cực
Trang 9Sửa bản án hình sự sơ thẩm là vấn đề rất quan trọng, nó không chỉ là một trong những cơ sở để đánh giá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự mà còn là tiêu chí để đánh giá chất lượng xét xử của ngành Tòa án nhân dân, hiệu quả về mặt chính trị, xã hội trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm
Tất cả những vấn đề trên đây là lý do mà Tác giả chọn đề tài “Sửa bản án sơ
thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sửa bản án hình sự sơ thẩm là một vấn đề thu hút sự quan tâm của không ít các nhà nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn Song, cách tiếp cận được thực hiện ở các mức độ khác nhau Có thể giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao” (2006) của Tòa án nhân dân tối cao
Trong công trình này ngoài việc nghiên cứu làm rõ một số qui định của pháp luật tố tụng, các tác giả chủ yếu phân tích thực trạng hoạt động, chất lượng, hiệu quả xét
xử phúc thẩm của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và từ đó đưa ra một
số giải pháp
- Ở cấp độ tiến sĩ, đã có các Luận án “Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2008) của tác giả Lê Tiến Châu nghiên cứu toàn diện về chức năng xét
xử nói chung trong tố tụng hình sự, trong đó đề cập một số vấn đề về chức năng xét
xử trong xét xử phúc thẩm; Luận án “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” (2003) của tác giả Lê Xuân Thân, trong đó
có phân tích về thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án cấp phúc thẩm; Luận án
“Phúc thẩm trong tố tụng hình sự” (2004) của tác giả Nguyễn Đức Mai nghiên cứu một cách toàn diện về phúc thẩm trong tố tụng hình sự nói chung; Luận án “Thẩm quyền của các cấp Tòa án trong tố tụng hình sự” (2002) của tác giả Nguyễn Văn
Huyên có đề cập một số nội dung về quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm
- Ở cấp độ thạc sĩ, đã có các Luận văn “Phạm vi xét xử phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” (2007)
của tác giả Bùi Ngọc Hòa nghiên cứu về phạm vi xét xử và thẩm quyền xét xử của
Tòa án cấp phúc thẩm; Luận văn “Thủ tục xét xử phúc thẩm theo luật tố tụng hình
sự Việt Nam” (1998) của tác giả Nguyễn Gia Cương; Luận văn “Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2001) của tác giả Huỳnh Lập Thành; Luận văn “Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Pháp; Luận văn
“Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Ngô Mạnh Cường… có những nội dung phân tích các qui định
Trang 10của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền hạn xét xử phúc thẩm, trong đó có đề cập đến vấn đề sửa bản án sơ thẩm
- Các bài viết trên các tạp chí như: “Những vấn đề cần trao đổi từ thực tiễn xét
xử phúc thẩm về hình sự” (2001) của tác giả Từ Văn Nhũ; “Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét lại các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị và thực tiễn áp dụng” (1994) của tác giả Lê Tiến Châu; “Khoản 2 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng” (2005) của tác giả Lương Tuấn Nghĩa; “Một số vấn đề về phạm vi xét xử và quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự” (2009) của tác giả Vũ Gia Lâm;
“Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm” (2006), “Hoàn thiện một số qui định của Bộ luật tố tụng hình sự
về xét xử phúc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp” (2008), “Bàn về quyền kháng cáo, kháng nghị và xét xử phúc thẩm theo hướng tăng nặng đối với bị cáo” (2010)
của tác giả Nguyễn Văn Trượng; các sách, bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự và giáo trình luật tố tụng hình sự của các cơ sở đào tạo luật
Nghiên cứu các công trình khoa học trên cho thấy vấn đề sửa bản án hình sự
sơ thẩm đã được các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu về sửa bản án hình sự sơ thẩm hoặc là được đặt trong phạm vi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Tòa án hoặc
là được nghiên cứu ở góc độ khái quát mà chưa đi sâu vào từng trường hợp cụ thể hoặc chỉ đi sâu nghiên cứu cụ thể một vài trường hợp nào đó mà thôi Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chưa trình bày chuyên sâu về căn cứ sửa bản án, về từng trường hợp sửa bản án cụ thể, cũng như chưa đánh giá sâu mối quan hệ giữa áp dụng luật tố tụng và luật nội dung trong quy định về sửa bản án hình sự sơ thẩm Ngoài ra, có những công trình nghiên cứu vấn đề sửa bản án hình sự sơ thẩm ở thời điểm trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành, mặc dù vẫn còn giá trị nhưng có một số nội dung đã không còn phù hợp so với pháp luật hiện hành
và thực tiễn Nghiên cứu vấn đề sửa bản án sơ thẩm theo tố tụng hình sự Việt Nam nhìn từ pháp luật hiện hành để đánh giá thực trạng trong bối cảnh cải cách tư pháp sâu, rộng như hiện nay là yêu cầu cần thiết Có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về những vấn đề nói trên
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa bản án sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, xem xét sửa bản án hình sự sơ thẩm là một trong những quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm, làm rõ các căn cứ, mục đích, ý nghĩa của quy định sửa bản án hình sự sơ thẩm
và đi sâu vào từng trường hợp sửa bản án hình sự sơ thẩm cụ thể theo quy định của pháp luật hiện hành; đánh giá về thực trạng sửa bản án hình sự sơ thẩm luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật, hạn chế việc bản án
Trang 11hình sự sơ thẩm bị sửa do có sai sót và hạn chế việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án hình sự sơ thẩm không đúng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Tòa án nhân dân
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết một số nhiệm vụ chính sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm sửa bản án hình sự sơ thẩm, phân tích quyền hạn sửa bản án hình sự sơ thẩm, xác định các căn cứ, mục đích, ý nghĩa của sửa bản án hình sự sơ thẩm và trình bày quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về sửa bản án hình sự sơ thẩm qua các thời kỳ (từ 1945 đến nay)
- Phân tích quy định của luật thực định (hiện hành) về sửa bản án hình sự sơ thẩm, xác định các căn cứ và các trường hợp sửa bản án hình sự sơ thẩm
- Đánh giá thực trạng sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm, tập trung phân tích làm rõ các trường hợp sửa bản án không đúng, tìm ra được những nguyên nhân gây ra vướng mắc, bất cập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là những vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử của các Tòa án về sửa bản án hình sự sơ thẩm
Đề tài không nghiên cứu đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong giải quyết các quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, vì vậy trong những trường hợp mà bản án hình sự sơ thẩm và quyết định hình sự sơ thẩm đều được xem là đối tượng có thể được giải quyết ở Tòa án cấp phúc thẩm như nhau thì đề tài chỉ đề cập đến bản án hình sự sơ thẩm, không đề cập đến quyết định hình sự sơ thẩm
Đề tài lấy bị cáo làm đối tượng để nghiên cứu, đánh giá các hướng tác động ở từng trường hợp sửa bản án hình sự sơ thẩm cụ thể xuất phát từ quan điểm coi bị cáo là đối tượng chính chi phối mọi hoạt động tố tụng hình sự, trung tâm của phiên tòa hình sự và quy định của pháp luật về sửa bản án hình sự sơ thẩm cũng coi bị cáo
là trung tâm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn xoay quanh vấn đề sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm Từ đó, đề tài cũng nghiên cứu đến các quy định của Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự hoặc các ngành luật khác có liên quan đến sửa bản án hình
sự sơ thẩm, kể cả quy định trước đây và quy định hiện hành
Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu đến thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Tòa án, trong đó lấy quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm làm hạt nhân, đề tài không nghiên cứu các thẩm quyền khác của Tòa án
Trang 12Đề tài có thể nêu quy định của một số quốc gia trên thế giới về sửa bản án hình sự sơ thẩm, nhưng chỉ để nhằm mục đích minh họa rõ thêm cho vấn đề chính được nghiên cứu, không đi sâu
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
và Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và phát luật tố tụng hình sự nói riêng Ngoài ra, tác giả còn vận dụng một số biện pháp nghiên cứu khác như: thống kê số liệu, phân tích số liệu, tổng kết thực tiễn v.v dựa trên cơ sở lý luận khoa học tố tụng hình sự để tiếp cận và làm sáng tỏ đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Về ý nghĩa lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, căn cứ, mục đích, ý nghĩa của việc sửa bản án hình sự sơ thẩm Từ đó làm rõ hơn ý nghĩa lý luận
về quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm trong thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa
án
Về ý nghĩa thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra được các giải pháp kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật và khắc phục hạn chế trong thực tế sửa bản án hình sự sơ thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử vụ
án hình sự nói chung, xét xử phúc thẩm hình sự nói riêng của ngành Tòa án nhân dân
Các kiến nghị của luận văn có thể được dùng để nghiên cứu, xem xét áp dụng khi sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, nhất là để sửa đổi, bổ sung chế định về sửa bản án hình sự sơ thẩm Các giải pháp đề xuất của luận văn có thể được các ngành, các cấp quan tâm, đặc biệt là sự quan tâm của ngành Tòa án nhân dân trong việc nâng cao hiệu quả xét xử nói chung, xét xử phúc thẩm nói riêng, mà trong đó sẽ có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng sửa bản án hình sự
sơ thẩm
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm sửa bản án hình sự sơ thẩm
Xét xử là chức năng của hoạt động bảo vệ pháp luật và do TAND thực hiện[1], đây là một trong những chức năng của Nhà nước Xét xử còn là một trong những thẩm quyền đặc biệt quan trọng mà việc thực hiện sẽ liên quan chặt chẽ đến việc thể hiện và vận hành các quyền tư pháp Vì vậy, xét xử đóng vai trò trọng tâm trong hệ thống hoạt động bảo vệ pháp luật và trong cấu thành thẩm quyền của quyền tư pháp[2] Khi nói đến chất lượng hoạt động xét xử thì vấn đề được quan tâm đầu tiên
và quan trọng nhất chính là chất lượng các phán quyết của TAND, bởi vì phán quyết của TAND chính là kết quả cuối cùng của tiến trình tố tụng[3]
Đối với vụ án hình sự thì chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên bố một người bị đưa ra xét xử tại phiên tòa là có tội hoặc không có tội[4] Tính chất đặc biệt quan trọng của vụ án hình sự đặt ra yêu cầu xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không để sót tội phạm, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Vì vậy, phán quyết của TAND được thể hiện bằng hình thức bản án, quyết định có tác động rất lớn tới tất cả các bên có liên quan, không chỉ cho các cá nhân, tổ chức cụ thể mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự công cộng, sự ổn định và phát triển của đất nước
Đối với bản án hình sự, mặc dù yêu cầu về tính chính xác, đúng pháp luật luôn được đặt lên hàng đầu, nhưng không thể loại trừ có những bản án tuyên xử không đúng hoặc có thiếu sót vì những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Đối với những bản án như vậy, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền phản đối lại các phán quyết trái pháp luật gây bất lợi cho họ và pháp luật cũng phải quy định một cấp Tòa án cao hơn để giải quyết các phản đối đó Đáp ứng yêu cầu này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử mà trong đó XXST được thực hiện bởi Tòa án ở cấp xét xử thứ nhất[5] và XXPT được thực hiện bởi Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã XXST khi mà bản án của Tòa án đã
Trang 14XXST bị kháng cáo hoặc kháng nghị bởi các chủ thể có quyền[6] Từ đó cho thấy,
vụ án có thể được xét xử lại lần nữa, Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã XXST
sẽ tiến hành XXPT về mặt nội dung, cũng như xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của BAST[7] TACPT có quyền giữ nguyên các quyết định trong bản án của TACST nếu xét thấy các quyết định đó là đúng pháp luật hoặc có quyền sửa lại những vấn đề không đúng trong quyết định của BAST hoặc có quyền hủy các quyết định trong BAST để điều tra, xét xử lại hay chỉ để xét xử lại theo thủ tục chung hoặc hủy BAST và đình chỉ vụ án Các phán quyết của TACPT là có hiệu lực pháp luật
Nhìn chung, TACPT xét xử là để khắc phục những khiếm khuyết, sai lầm của BAST[8] Tuy nhiên, không phải cứ BAPT quyết định khác so với quyết định của BAST thì cho rằng BAST có khiếm khuyết, sai lầm Thực tế cho thấy, có trường hợp BAST hoàn toàn đúng pháp luật nhưng vẫn bị TACPT tuyên sửa Đó là trường hợp vụ án có phát sinh các tình tiết mới sau khi XXST, trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc trong quá trình chuẩn bị XXPT mà việc ghi nhận và áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các tình tiết này khi XXPT sẽ làm thay đổi quyết định của BAST
Từ đó cho thấy, sửa BAST trong tố tụng hình sự là một hoạt động quan trọng đòi hỏi chủ thể thực hiện phải am hiểu vững vàng về pháp luật, bởi vì khi phán quyết BAST đúng hay không đúng, cần phải sửa vấn đề gì đều phải căn cứ vào luật nội dung và luật hình thức, thậm chí phải căn cứ vào các ngành luật ngành khác có liên quan Đồng thời, các quyết định về sửa BAST trong BAPT có hiệu lực thi hành ngay nên đòi hỏi tính chính xác, đúng pháp luật và tính thuyết phục phải cao, mọi phán quyết sai của TACPT đều có thể dẫn đến những hậu quả rất khó khắc phục Mặc dù sửa bản án HSST là vấn đề rất quan trọng, nhưng cho đến nay thì khái niệm về vấn đề này xuất hiện không nhiều Trong giáo trình của các Trường Đại học luật hoặc các Trường Đại học có ngành Luật ít khi đề cập đến khái niệm, mà chỉ tập trung nghiên cứu về nội dung của nó; trong các Tạp chí chuyên ngành cũng chỉ đi sâu phân tích để kiến nghị một số nội dung cụ thể còn vướng mắc của quy định sửa bản án trong BLTTHS mà chưa nói đến khái niệm về nó; trong Từ điển luật học do Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp chủ trì biên soạn, được Nhà xuất bản Tư pháp và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa xuất bản năm 2006 cũng không đưa ra để giải thích thuật ngữ “sửa bản án”
Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự” đã đưa ra khái niệm về sửa bản án HSST như sau: “Sửa bản án sơ thẩm là việc
[6] Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 46
[7] Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, tr 348
[8] Trường Đại học luật Hà Nội (2006), Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 406
Trang 15Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định khác với quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật”[9]
Theo khái niệm trên đây thì chủ thể thực hiện quyền sửa BAST chính là HĐXX phúc thẩm; đối tượng bị sửa trong BAST chính là quyết định của BAST; nội dung sửa BAST là sửa bản án theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; căn cứ sửa bản án HSST là theo quy định của pháp luật
Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu lên được chủ thể, đối tượng, nội dung
và căn cứ pháp lý của việc sửa bản án HSST Tuy nhiên cần phân tích làm rõ một số nội dung trong khái niệm này:
Thứ nhất, về chủ thể, BLTTHS quy định sửa BAST là quyền của TACPT
(điểm b khoản 2 Điều 248 BLTTHS 2003), nhưng khái niệm trên lại xác định đó là quyền của HĐXXPT phúc thẩm Tác giả cho rằng cách xác định quyền sửa bản án HSST là của HĐXX phúc thẩm hoàn toàn không trái với quy định của BLTTHS mà
có ý nghĩa xác định cụ thể hơn quy định của Bộ luật Bởi vì, muốn sửa bản án HSST thì TACPT phải mở phiên tòa để xét xử và chỉ có HĐXX phúc thẩm mới có quyền ban hành bản án để sửa bản án HSST, trong trường hợp này hoạt động tố tụng của HĐXX phúc thẩm chính là thực thi thẩm quyền xét xử của TACPT Vì vậy, khi xem xét quyền sửa bản án HSST ở góc độ tổng thể như là một quyền trong thực hiện chức năng xét xử thì chỉ TACPT có quyền này, nhưng khi xem xét quyền sửa bản án HSST ở góc độ cụ thể như là một quyền phán quyết khi XXPT vụ án hình sự thì chỉ HĐXX phúc thẩm có quyền này
Thứ hai, khái niệm trên xem đối tượng bị sửa trong bản án HSST không phải
là toàn bộ bản án HSST mà chỉ là quyết định của bản án HSST Tác giả cho rằng sửa phần quyết định của bản án HSST cũng được coi là sửa bản án HSST, bởi vì theo quy định của BLTTHS cũng như văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật thì phần quyết định trong bản án chính là kết quả được rút ra từ phần mở đầu, phần nhận thấy, phần xét thấy của bản án[10], không chấp nhận một bản án mà các phần này có mâu thuẫn với nhau Đồng thời, bản án HSPT được sử dụng để sửa bản án HSST cũng phải có phần nhận thấy, phần xét thấy trùng khớp với phần quyết định Do đó, không thể coi sửa bản án HSST chỉ đơn thuần là dùng phần quyết định của bản án HSPT để sửa phần quyết định của bản án HSST mà thực chất chính là dùng bản án HSPT để sửa bản án HSST
Trang 16Thứ ba, khái niệm trên xác định HĐXX phúc thẩm có quyền sửa bản án HSST
nhưng chưa xác định đầy đủ cả quyền về nội dung và quyền về hình thức Khái niệm trên cho rằng HĐXX phúc thẩm được sửa BAST theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho bị cáo và các đương sự khác theo quy định của pháp luật là chỉ khẳng định được quyền về nội dung, còn quyền về hình thức tức là xem sửa bản án HSST có phải là một quyền được luật tố tụng hình sự quy định hay không vẫn chưa thể hiện được
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sửa BAST trong tố tụng hình sự
như sau: “Sửa bản án HSST là việc TACPT thực hiện thẩm quyền do pháp luật quy định để quyết định khác với quyết định của BAST theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật” Khái niệm này nêu lên
được chủ thể thực hiện quyền sửa bản án HSST là TACPT với vị trí là chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện chức năng XXPT và quyền này cũng là quyền về hình thức Bên cạnh đó, khái niệm cũng nêu lên được quyền về nội dung, đối tượng và căn cứ sửa bản án HSST
1.2 Quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”[11], theo Từ điển luật học thì “thẩm quyền là quyền đầy đủ để xét đoán, định đoạt vấn đề gì”[12], còn theo tác giả Phạm Hồng Hải thì
“thẩm quyền là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật quy định cho tổ chức hoặc nhân viên Nhà nước”[13] hoặc có khái niệm cho rằng “thẩm quyền
là quyền hạn theo pháp luật quy định của cơ quan công quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định”[14] Như vậy, có thể thấy rằng thẩm quyền là quyền của tổ chức hoặc cá nhân được thực hiện những hành vi nhất định, tuy nhiên quyền này được quy định bởi pháp luật nên hành vi thực hiện phải là hành vi pháp lý Qua phân tích các khái niệm nêu trên, có thể thấy rằng khó có sự phân biệt rạch ròi giữa thẩm quyền và quyền Khi nêu khái niệm thẩm quyền thì đã bao gồm khái niệm về quyền mặc dù thẩm quyền và quyền không đồng nhất với nhau, có thể coi đây là mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, chủ thể chỉ có thể thực hiện được quyền hạn của mình, nếu trước đó vụ việc thuộc thẩm quyền của chủ thể theo quy định của pháp luật[15] Theo ý nghĩa đó, thì sửa bản án HSST được coi là một trong những quyền hạn của TACPT khi thực hiện thẩm quyền XXPT vụ án hình sự Như
[11] Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1988), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,tr 953
[12] Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 722
[13] Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 148
[14] Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật tố tụng hành chính, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.29
[15] Nguyễn Tiến Pháp (2010), Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ luật học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 16
Trang 17vậy, quyền sửa bản án HSST là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép để TACPT khi xét xử vụ án hình sự được kết luận trong BAPT khác với những quyết định trong BAST Quyền sửa bản án HSST được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều
248 BLTTHS 2003 và quy định cụ thể về nội dung tại Điều 249 BLTTHS 2003 Quyền sửa bản án HSST của TACPT được xây dựng trên nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án, bởi vì chỉ khi vụ án được giải quyết ở TACPT với chức năng là cấp xét xử thứ hai thì mới phát sinh thẩm quyền này Nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử là bản án HSST của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị Bản án HSST không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành Những bản án HSST bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được XXPT Bản án HSPT có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp bản án của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) Từ đó cho thấy, vụ án hình sự có thể chỉ được xét xử ở TACST nếu như BAST không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc vụ án đó có thể sẽ trải qua đầy đủ hai cấp Tòa án là sơ thẩm và phúc thẩm nếu như BAST đã xét xử bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm BAST chỉ có hiệu lực pháp luật nếu như nó không bị kháng cáo, kháng nghị, còn BAPT thì có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án mặc dù có thể bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà nó chỉ là một thủ tục
tố tụng đặc biệt có nhiệm vụ xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
để phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc có tình tiết mới[16] Khi xét lại bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng giám đốc thẩm hoặc Hội đồng tái thẩm không có quyền sửa bản án mà chỉ có quyền giữ nguyên bản án hoặc hủy bản
án của Tòa án cấp dưới (Điều 285, 298 BLTTHS 2003)
Như vậy, theo quy định của BLTTHS thì XXPT là cấp xét xử cuối cùng và quyền sửa BAST chỉ là quyền duy nhất có ở TACPT Mặc dù Điều 20 BLTTHS ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét xử, nhưng trong thực tế để khẳng định tính khả thi của nguyên tắc này là rất khó, nguyên nhân là giám đốc thẩm và tái thẩm hiện nay chưa thực hiện đúng với tính chất như là một thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại các bản
án, quyết định mà trong nhiều trường hợp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án giống như là cấp phúc thẩm Giám đốc thẩm cũng thực hiện việc đánh giá về chứng cứ và ra phán quyết về thực chất vụ án mà chưa thể hiện được là một thủ tục đặc biệt (thủ tục phá án[17]), tức là loại thủ tục chỉ xem xét những vi phạm trong áp dụng pháp luật như giải thích pháp luật sai lầm, áp dụng những căn cứ
[16] Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Chính
trị Quốc Gia, Hà Nội, tr.561, 583
[17] Trần Văn Độ, Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp,
http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=ea126ac2-2540-431ab804fad41bdd85d&groupId=13025, truy cập ngày 06/3/2013
Trang 18pháp luật hoàn toàn khác biệt với những nhận định về nội dung của vụ án hoặc những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Mặt khác, có quá nhiều cấp Tòa án có quyền xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như TAND cấp tỉnh, Tòa hình sự TANDTC, Hội đồng Thẩm phán TANDTC làm cho việc giải quyết vụ án qua nhiều tầng nấc, bị kéo dài, đã có ý kiến cho rằng hiện nay có nhiều hơn hai cấp xét xử đang tồn tại trong tố tụng hình sự Việt Nam Vì các nguyên nhân trên mà nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự được thể hiện rất mờ nhạt, điều đó ảnh hưởng đến tính ổn định trong các phán quyết của TACPT, trong đó có phán quyết về sửa bản án HSST Nhưng cho dù có nhiều quan điểm khác nhau về cấp xét
xử, thì phải khẳng định rằng sửa bản án HSST là loại quyền chỉ có ở TACPT mà thôi
Quyền sửa bản án HSST của TACPT còn phụ thuộc vào phạm vi XXPT và thẩm quyền XXPT của TACPT
Phạm vi XXPT là giới hạn mà pháp luật cho phép TACPT có quyền xem xét
và ra các quyết định về vụ án theo căn cứ của pháp luật quy định[18] Theo quy định
tại Điều 241 BLTTHS 2003 thì phạm vi XXPT được xác định như sau: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa
án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án” Như vậy, TACPT chỉ được xét xử lại vụ án khi có kháng cáo, kháng
nghị và xét xử trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị, việc xem xét các phần khác của vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị chỉ được thực hiện nếu xét thấy cần thiết,
đó là khi xét thấy ở phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần được giảm nhẹ TNHS cho bị cáo[19] Từ đó cho thấy, thẩm quyền sửa bản án HSST của TACPT cũng bị ràng buộc bởi phạm vi kháng cáo, kháng nghị mà trong đó chủ thể
và nội dung kháng cáo, kháng nghị là quan trọng nhất vì kháng cáo, kháng nghị không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm mà còn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thể, phạm vi XXPT và thẩm quyền XXPT[20] Phạm vi XXPT chỉ hạn chế quyền sửa bản án HSST trong trường hợp TACPT ra các quyết định về vụ án theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, còn trong các trường hợp khác, nếu có căn cứ mà pháp luật quy định để ra các quyết định theo hướng có lợi cho bị cáo thì TACPT hoàn toàn không bị hạn chế[21]
Quyền sửa bản án HSST còn phụ thuộc vào thẩm quyền XXPT Có thể chia thẩm quyền XXPT thành hai phần có quan hệ gắn kết với nhau là thẩm quyền về
[18] Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2006), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 383
[19] Xem Mục 4 Phần VI Thông tư liên tịch số:01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT ngày 08 tháng 12 năm 1988 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
[20] Nguyễn Đức Mai (2004), Phúc thẩm trong tố tụng hình sự, Luận án Tiến sĩ luật học, Hà Nội, tr 37
[21] Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2009), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 386
Trang 19hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức của XXPT là thẩm quyền mà pháp luật quy định cho TACPT được xét xử lại những vụ án mà BAST chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, còn thẩm quyền về nội dung của XXPT là thẩm quyền của Tòa án được đưa ra các quyết định trong bản án khi XXPT vụ án Quyền sửa bản án HSST thuộc thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền XXPT, bởi vì quyết định sửa BAST được hình thành sau khi TACPT mà cụ thể là HĐXX phúc thẩm đã xét xử lại vụ án trên cơ sở xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Theo quy định của BLTTHS thì thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền XXPT không chỉ có ở quyền sửa BAST mà còn là quyền giữ nguyên BAST, quyền hủy BAST để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc quyền hủy BAST và đình chỉ
vụ án (Điều 248 BLTTHS 2003) Tuy nhiên, thẩm quyền về nội dung nói trên chỉ phát sinh khi mọi yếu tố cấu thành thẩm quyền về hình thức đã được hội đủ Như vậy, quyền sửa bản án HSST thuộc thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền XXPT, nhưng được hình thành trên cơ sở thẩm quyền về hình thức của thẩm quyền XXPT Quyền sửa bản án HSST của TACPT cũng được quy định trong BLTTHS ở các quốc gia có lịch sử lập pháp và mô hình tố tụng hình sự tương đối giống Việt Nam Ví dụ, tại Điều 378 BLTTHS Liên bang Nga quy định về những quyết định của TACPT như sau:
1 Căn cứ kết quả xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án tại phòng nghị án ra một trong những quyết định sau đây:
1) Giữ nguyên bản án và quyết định của Tòa án và bác kháng cáo, kháng nghị;
2) Hủy bản án, quyết định của Tòa án và đình chỉ vụ án;
3) Hủy bản án, quyết định của Tòa án và trả lại hồ sơ vụ án để xét
xử lại ở Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp chống án từ giai đoạn thẩm tra sơ bộ hoặc giai đoạn xét xử hoặc các hoạt động của Tòa án sau khi đưa ra phán quyết của bồi thẩm đoàn;
4) Sửa bản án, quyết định của Tòa án
2 Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm được ban hành dưới hình thức quyết định[22]
Tại Điều 387 BLTTHS Liên bang Nga quy định trong trường hợp TACST áp dụng không đúng pháp luật hình sự như vi phạm những quy định tại phần chung, không áp dụng điều luật hoặc điểm và (hoặc) khoản phần các tội phạm cụ thể cần
phải áp dụng của BLHS thì “Tòa án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng luật hình sự
về tội nhẹ hơn và giảm hình phạt phù hợp với việc thay đổi tội danh đối với người bị
[22] Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Nga,
http://tks.edu.vn/law/detail/1028_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-Lien-Bang-Nga.html, truy cập ngày 06/3/2013
Trang 20kết án Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền áp dụng luật hình sự về tội nặng hơn hoặc tăng nặng hình phạt”[23]
BLTTHS Liên bang Nga cũng quy định TACPT có thẩm quyền sửa BAST Tuy nhiên, có một điểm khác là phán quyết của TACPT được ban hành dưới hình thức quyết định chứ không phải là bản án như ở Việt Nam, đồng thời luật còn quy định TACPT không được sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo trong trường hợp BAST áp dụng không đúng pháp luật hình sự
Tại Điều 189 BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:
Khi xét xử vụ án có kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm, tùy từng trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm phải giải quyết theo một trong những hướng sau:
(1) Nếu phán quyết ban đầu là đúng trong việc quyết định các tình tiết và áp dụng pháp luật và phù hợp với hình phạt, Tòa án phải bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án ban đầu;
(2) Nếu phán quyết ban đầu không có sai sót trong việc xác định các tình tiết nhưng áp dụng pháp luật không chính xác hoặc hình phạt không phù hợp, Tòa án phải sửa bản án;
(3) Nếu những tình tiết trong phán quyết ban đầu không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ, Tòa án có thể sửa đổi bản án sau khi điều tra rõ sự việc, hoặc có thể hủy bản án ban đầu và trả lại vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để xét xử lại[24]
Như vậy, theo quy định của BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì TACPT cũng có quyền sửa BAST và được thực hiện quyền này khi xét thấy phán quyết ở BAST tuy không có sai sót trong việc xác định các tình tiết của vụ án nhưng lại áp dụng pháp luật không chính xác hoặc áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra TACPT cũng có thể tuyên sửa BAST nếu như những tình tiết ban đầu là không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ và sau đó đã điều tra rõ được sự việc Như vậy, so với Điều 248 BLTTHS Việt Nam, thì Điều 189 BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng quy định quyền của TACPT là được giữ nguyên, sửa hoặc hủy BAST, tuy nhiên BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định chi tiết hơn cả ba quyền trong cùng một điều luật, còn BLTTHS Việt Nam tiếp tục quy định nội dung cụ thể của mỗi quyền ở từng điều luật khác nhau Đây chỉ là sự khác nhau về kỹ thuật lập pháp của mỗi nước, tuy nhiên tác giả cho rằng nội dung quy định tại Điều 189 BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là còn bao quát, chưa cụ thể hóa được từng quyền của TACPT khi xét xử BAST, trong đó có quyền về sửa BAST
[23] Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, tlđd
[24] Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Thông tin khoa học kiểm sát, số 03- 04
Trang 211.3 Mục đích, ý nghĩa của việc sửa bản án hình sự sơ thẩm
1.3.1 Mục đích của việc sửa bản án hình sự sơ thẩm
Sửa bản án HSST là quyền hạn của TACPT và là một dạng hoạt động tố tụng Kết quả sửa BAST không chỉ tác động đến những vấn đề về pháp lý mà còn tác động đến các vấn đề về chính trị, xã hội Do đó việc trả lời đúng cho câu hỏi: “sửa BAST để làm gì?” sẽ làm sáng tỏ mục đích của dạng hoạt động tố tụng này
Mục đích của việc sửa bản án HSST chính là những yêu cầu về pháp lý, chính trị, xã hội mà các chủ thể mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện quyền sửa bản án HSST của TACPT Các chủ thể ở đây rất đa dạng, bao gồm: người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng, nhà làm luật, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, thậm chí là mọi công dân có quan tâm
Thứ nhất, sửa bản án HSST là để thực hiện thẩm quyền tố tụng mà pháp luật
quy định Tòa án với vai trò là một chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện hoạt động xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án
và các vấn đề TNHS của bị cáo, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định
do luật tố tụng hình sự quy định căn cứ vào giai đoạn xét xử tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết vụ án hình sự nhằm góp phần làm cho hoạt động của
hệ thống tư pháp hình sự đạt hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh chống tội phạm[25] Với ý nghĩa đó, quyền sửa bản án HSST của TACPT cũng là quyền được nhân danh Nhà nước, tính hiệu quả của việc thực hiện quyền hạn này không chỉ nhằm mục đích làm cho hoạt động của Tòa án nói riêng, hệ thống tư pháp hình sự nói chung có chất lượng, mà còn là vì uy tín, lòng tin của xã hội vào Nhà nước Mặc dù BLTTHS quy định sửa BAST là quyền hạn của TACPT nhưng để thực hiện đúng quyền hạn này là cả một quá trình khó khăn, phức tạp, TACPT có khi phải đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, tính hợp pháp và tính có căn cứ của kháng cáo, kháng nghị, căn
cứ vào quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự hoặc các ngành luật khác có liên quan để quyết định có sửa BAST hay không Trong thực tiễn, việc cân nhắc để đi đến quyết định sửa BAST có khi khó hơn nhiều so với việc quyết định hủy BAST, đồng thời cũng có những vụ án mà vì tính chất phức tạp của nó làm cho việc lựa chọn quyết định là sửa hay là hủy đối với BAST là vấn đề khó khăn đối với TACPT Vì vậy để thực hiện đúng quyền hạn sửa bản án HSST không phải là vấn đề dễ dàng đối với TACPT
Thứ hai, sửa bản án HSST là để TACPT khắc phục những hạn chế, thiếu sót
của TACST làm cho vụ án được xét xử đúng pháp luật Quyền sửa bản án HSST có tác dụng phòng ngừa rất lớn, nó như là “chế tài” quan trọng buộc TACST phải giải quyết vụ án đúng đắn theo quy định của pháp luật Quyền hạn này còn là “vách ngăn” để đảm bảo không đưa ra thi hành các bản án còn hạn chế, thiếu sót Khi một
[25] Lê Văn Cảm (2009), tlđd 4, tr.120
Trang 22BAST được TACPT tuyên sửa đúng pháp luật không chỉ đã khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của TACST mà còn đạt được mục đích của tố tụng hình sự, qua
đó tạo được lòng tin của người dân vào hệ thống pháp luật, công lý, Tòa án và Nhà nước
Thứ ba, sửa bản án HSST là để giải quyết đúng pháp luật yêu cầu về kháng
cáo, kháng nghị của các chủ thể tham gia tố tụng Các chủ thể tham gia tố tụng hình
sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật đối với BAST để yêu cầu TACPT xét xử lại vụ án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mà mình đại diện hay người mà mình bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi, cũng như có quyền kháng nghị để yêu cầu TACPT xét xử lại vụ án nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan và công bằng XXPT là thủ tục tố tụng chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị, còn sửa bản án HSST là quyền của TACPT,
do đó mà quyền hạn này cũng chỉ có khi có kháng cáo, kháng nghị và pháp luật cũng quy định việc sửa BAST phải căn cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị, vì vậy mà giữa kháng cáo, kháng nghị và quyền sửa bản án HSST có quan hệ tác động chặt chẽ với nhau Trong các quyền của TACPT thì quyền sửa bản án HSST là biểu hiện rõ nhất của việc giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể tham gia tố tụng, bởi vì khi TACPT quyết định sửa BAST cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu kháng cáo của một hoặc một vài chủ thể hoặc yêu cầu kháng nghị của Viện Kiểm sát đã được chấp nhận Trong khi đó, nếu TACPT thực thi quyền giữ nguyên bản án HSST thì cũng đồng nghĩa với việc TACPT không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị hoặc nếu như TACPT thực thi quyền hủy bản án HSST thì có khi là căn
cứ vào yêu cầu kháng cáo, kháng nghị, nhưng cũng có khi là hủy bản án không căn
cứ vào yêu cầu kháng cáo, kháng nghị mà do vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng Ví dụ: Sau khi XXST, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Viện Kiểm sát kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Khi XXPT, TACPT xét thấy bị cáo là người chưa thành niên nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm không yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định tại Điều
57 BLTTHS Vì vậy mà TACPT đã tuyên hủy bản án HSST Trong trường hợp này, TACPT chưa giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể
1.3.2 Ý nghĩa của việc sửa bản án hình sự sơ thẩm
Trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, quyền sửa BAST của TACPT có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, quyền sửa bản án HSST góp phần thực hiện đúng nguyên tắc hai
cấp xét xử của Tòa án Vấn đề này xuất phát từ việc quy định thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự cũng như đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định về thủ tục này xét dưới góc độ đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử là một tất
Trang 23yếu khách quan[26] Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì quyền sửa BAST là quyền của TACPT, ở các thủ tục xét lại vụ án là giám đốc thẩm và tái thẩm thì Tòa
án không có quyền này mà chỉ có quyền giữ nguyên bản án hoặc hủy bản án Nếu quy định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có quyền sửa BAST thì cũng đồng nghĩa với việc công nhận giám đốc thẩm, tái thẩm là cấp xét xử thứ ba, bởi vì đặc điểm của quyền sửa bản án HSST là làm thay đổi trực tiếp nội dung quyết định của BAST và theo nguyên tắc hai cấp xét xử thì việc thay đổi đó chỉ phải diễn ra một lần sau khi
có phán quyết ở lần thứ nhất (với điều kiện là vụ án có kháng cáo hoặc kháng nghị), tức là sau khi XXST, thay đổi đó phải do TACPT quyết định
Khi cho rằng quyền sửa bản án HSST là biểu hiện của việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử không có nghĩa là quyền giữ nguyên bản án và quyền hủy BAST không phải là biểu hiện cho nguyên tắc này Về nguyên tắc chung, các quyền hạn
mà pháp luật quy định cho TACPT đều là biểu hiện của nguyên tắc hai cấp xét xử, nhưng do đặc thù khác với giám đốc thẩm và tái thẩm nên quyền sửa BAST là biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc này
Thứ hai, thực hiện quyền sửa bản án HSST đúng pháp luật sẽ góp phần làm
giảm số lượng vụ án phải giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Theo quy định của BLTTHS thì bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ, kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, có vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật và những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng pháp luật; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho
vụ án bị xét xử sai; vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật (Điều 273,
291 BLTTHS 2003) Như vậy, nếu thực hiện quyền sửa BAST đúng pháp luật thì căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sau khi XXPT sẽ không phát sinh, vụ án
sẽ chấm dứt ở giai đoạn XXPT, công tác thi hành bản án cũng sẽ được thực hiện ổn định và sẽ không gây lãng phí về chi phí cũng như thời gian tố tụng
Thứ ba, thực hiện quyền sửa bản án HSST góp phần tăng hiệu quả hoạt động
giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới Sau khi sửa BAST, TACPT ghi nhận những hạn chế, thiếu sót đối với từng vụ án của từng TACST để tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử và có phương hướng chỉ đạo áp dụng thống nhất pháp luật nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho các Tòa án cũng như Thẩm phán ở
[26] Vũ Gia Lâm (2006), Hoàn thiện một số quy định về xét xử phúc thẩm hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả
nguyên tắc hai cấp xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, (23), tr 02- 06
Trang 24cấp sơ thẩm Bên cạnh đó, TACPT cũng có những kiến nghị, đề xuất đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung đối với các quy định của pháp luật còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
1.4 Căn cứ sửa bản án hình sự sơ thẩm
BLTTHS hiện hành không quy định cụ thể các căn cứ làm cơ sở cho TACPT
áp dụng khi thực hiện quyền sửa BAST Nhưng theo nội dung các quy định có liên quan về tính chất, phạm vi XXPT, kháng cáo, kháng nghị, nội dung cụ thể của quyền sửa BAST của TACPT, có thể xác định các căn cứ sửa bản án HSST như sau:
1.4.1 Sửa bản án hình sự sơ thẩm căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, BLHS quy định tội phạm và hình phạt, điều đó cũng có nghĩa là chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS Vì vậy, để chứng minh tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm xác định: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Từ đó cho thấy rằng dù xét xử ở cấp sơ thẩm hay phúc thẩm thì Tòa án cũng phải có trách nhiệm chứng minh các vấn đề nêu trên, đi cùng với trách nhiệm phải chứng minh, BLTTHS cho phép Tòa án được quyền áp dụng các quy định của BLHS để quyết định trong bản án về tội phạm và hình phạt Điều đó cũng có nghĩa là khi TACPT thực hiện quyền sửa BAST về tội phạm và hình phạt cũng phải căn cứ vào quy định của BLHS
Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì TACPT phải căn cứ vào quy định của BLHS để sửa BAST đối với các vấn đề như: miễn TNHS, miễn hình phạt; áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn; giảm hình phạt cho bị cáo; chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo; tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn (Điều 249 BLTTHS 2003)
1.4.2 Sửa bản án hình sự sơ thẩm căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
BLTTHS có nhiệm vụ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, xác định thẩm quyền của TACPT phải căn cứ vào quy định của BLTTHS Điều đó cũng có nghĩa là TACPT chỉ được thực hiện những
Trang 25quyền hạn mà BLTTHS đã quy định, trong đó có quyền sửa BAST Từ đó cho thấy rằng sửa BAST cũng phải căn cứ vào quy định của BLTTHS, trước tiên là xác định cho được điều luật nào trong BLTTHS quy định quyền sửa BAST và nội dung của quyền này khi Tòa án thực hiện thẩm quyền XXPT
Bên cạnh đó, kháng cáo, kháng nghị không chỉ làm phát sinh XXPT mà nó còn quyết định đến quyền sửa BAST bởi những nội dung mà nó yêu cầu hay đề nghị đến TACPT Vì vậy, khi thực hiện quyền sửa bản án HSST, TACPT phải căn
cứ vào chủ thể kháng cáo, quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo, nội dung kháng nghị đã được BLTTHS quy định
Khi thực hiện quyền sửa bản án HSST đối với việc xử lý vật chứng của vụ án, TACPT cũng phải căn cứ vào quy định của BLTTHS
1.4.3 Sửa bản án hình sự sơ thẩm căn cứ vào quy định của ngành luật khác có liên quan
Tội phạm hình sự có thể xâm phạm đến mọi mặt của đời sống xã hội, do đó khi xét xử, Tòa án không thể chỉ căn cứ vào quy định của BLHS và BLTTHS để xác định tội phạm và hình phạt, mà trong nhiều trường hợp phải căn cứ vào quy định của các ngành luật khác có liên quan để xét xử Mặt khác, ngoài việc phải chịu TNHS, bị cáo còn phải chịu các trách nhiệm vật chất khác do hành vi trái pháp luật
đã gây ra như phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính v.v… Vì vậy, khi xét xử vụ
án hình sự, TACST ngoài căn cứ vào quy định của BLHS, BLTTHS còn phải căn
cứ vào các ngành luật khác như pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, quản lý hành chính nhà nước v.v… Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp TACST áp dụng không đúng hoặc không áp dụng quy định của các ngành luật này hoặc có những tình tiết mới phát sinh sau khi XXST buộc phải có những quyết định khác so với quyết định ban đầu làm cho TACPT phải tuyên sửa BAST Khi tuyên sửa quyết định của BAST đối với các phần thuộc ngành luật khác điều chỉnh, TACPT cũng phải căn cứ vào quy định của các ngành luật đó
1.5 Tổng quan pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực thi hành về quy định sửa bản án sơ thẩm
Sửa bản án HSST là một trong những quyền hạn của TACPT Vì vậy, căn cứ vào quá trình phát triển của pháp luật về tố tụng hình sự nói chung và XXPT nói riêng, có thể phân chia pháp luật về quyền sửa BAST của TACPT thành các giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1960 (thời điểm Luật tổ chức TAND năm 1960 được thông qua); giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 (thời điểm BLTTHS được thông qua) và giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi ban hành BLTTHS năm
2003
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1960
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời Thời gian này, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam đã ký sắc lệnh số
Trang 2633-SL ngày 13 tháng 9 năm 1945 thành lập các Tòa án quân sự, đánh dấu sự ra đời của
hệ thống Tòa án nước ta Tòa án xét xử một cấp, bản án, quyết định được thi hành ngay sau khi tuyên án, trừ người bị kết án tử hình có quyền làm đơn xin Chủ tịch nước ân giảm (Điều 3) Như vậy, giai đoạn này pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định thủ tục XXPT
Đến ngày 23 tháng 01 năm 1946, Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số
13-SL về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán Sắc lệnh này quy định hệ thống Tòa
án gồm Tòa thượng thẩm (Bắc kỳ đặt tại Hà Nội, Trung kỳ đặt tại Thuận Hóa, Nam
kỳ đặt tại Sài Gòn), Tòa án đệ nhị cấp (tỉnh), Tòa án các cấp (quận) Sắc lệnh số 13-
SL quy định Tòa thượng thẩm được sửa lại BAST trực tiếp theo hướng giảm nhẹ và tăng nặng cho bị cáo (Điều 41)
Tiếp theo đó, ngày 17 tháng 4 năm 1946 Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 51-SL quy định thẩm quyền của các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa
án Theo Sắc lệnh này, Tòa thượng thẩm có quyền xét xử những việc kháng cáo BAST của các Tòa đệ nhị cấp (Điều 13) Đến ngày 19 tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời, Hiến pháp quy định cơ quan tư pháp gồm có TANDTC, các Tòa phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63)
Ngày 01 tháng 10 năm 1947, Bộ trưởng Bộ tư pháp ban hành Nghị định số
05-ĐB tạm ngưng công việc xét xử của các Tòa thượng thẩm do cả nước lại phải kháng chiến chống Pháp Đến ngày 14 tháng 12 năm 1946, Sắc lệnh số 21- SL được ban hành quy định những vụ án phản cách mạng chỉ xét xử một lần và chung thẩm, thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự
Ngày 12 tháng 4 năm 1947, Bộ trưởng Bộ tư pháp ra Nghị định số 44- ĐB thiết lập ở mỗi khu một Hội đồng phúc án thay thế cho Tòa thượng thẩm để xét xử những việc của Tòa thượng thẩm trước đây Nhìn chung, thời điểm này hệ thống Tòa án các cấp chưa được kiện toàn về tổ chức; thẩm quyền của Tòa thượng thẩm (TACPT) chỉ được quy định khái quát; hoạt động của Tòa thượng thẩm còn rất hạn chế; các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục phúc thẩm và quyền hạn của Tòa thượng thẩm chưa rõ ràng, cụ thể
Đến ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 85-SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, quy định Hội đồng phúc án gọi là Tòa phúc thẩm, Tòa án đệ nhị cấp gọi là TAND tỉnh, Tòa án sơ cấp gọi là TAND huyện Tòa
án binh có thẩm quyền XXST đồng thời chung thẩm tất cả các vụ án phản cách mạng, Tòa án thường (TAND) thực hiện chế độ hai cấp xét xử đối với những vụ án hình sự khác Công tố viên có quyền kháng cáo cả về việc hộ và việc hình (Điều 15)
Đến ngày 14 tháng 8 năm 1959, các Tòa phúc thẩm ở miền Bắc được quy định sáp nhập thành Tòa phúc thẩm ở Hà Nội, Tòa phúc thẩm tại Hải phòng và Tòa phúc thẩm tại Vinh theo Nghị định số: 300/TTg của Thủ tướng Chính phủ Các Tòa phúc
Trang 27thẩm này có nhiệm vụ xét xử lại các bản án bị kháng cáo của Tòa án thành phố và tỉnh
Đến ngày 20 tháng 10 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số: 381/TTg quy định thành lập TANDTC với thẩm quyền được XXPT, chung thẩm những vụ án do Tòa án cấp dưới xét xử trong trường hợp có kháng nghị của cơ quan công tố và các TAND tách khỏi Bộ Tư pháp thành một hệ thống riêng
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960, do bộ máy Nhà nước còn non trẻ nên hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, đặc biệt là chưa có các quy định của luật,
bộ luật về trình tự, thủ tục tố tụng, vì vậy mà các quy định về phúc thẩm cũng chủ yếu được ghi nhận trong các văn bản dưới luật, nội dung rất khái quát, chung chung chưa thể hiện rõ được chức năng và nhiệm vụ của XXPT Trong giai đoạn này, TACPT được xem xét lại tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án HSST, có quyền sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988
Ngày 31 tháng 12 năm 1959, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 1959) Trên cơ sở đó, ngày 14 tháng 7 năm 1960 Luật tổ chức TAND cũng được Quốc hội thông qua, TAND được thiết lập thành một hệ thống thống nhất, chế độ hai cấp xét xử cũng được xác định, đương sự được chống bản án hoặc quyết định của TAND cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của TAND cấp sơ thẩm Bản án hoặc quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật nếu nó không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định Tại Công văn số 224-TC ngày 01 tháng 3 năm
1965 của TANDTC quy định tùy từng trường hợp, TACPT có thể có những quyết định y án sơ thẩm, sửa đổi BAST nếu nhận thấy sự việc mà TACST xét xử đã rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, trình tự tố tụng căn bản hợp pháp nhưng việc định tội, lượng hình chưa được chính xác, xử nặng quá, nhẹ quá hoặc xử cả hành vi chưa cấu thành tội phạm Trong những trường hợp này, TACPT có thể giảm án, tha bổng cho bị cáo, thay đổi tội danh nặng hơn hoặc tăng án… Nếu chỉ có bị cáo chống án mà Viện Kiểm sát không kháng nghị tăng nặng thì TACPT khi xét thấy cần định tội danh nặng hơn hoặc tăng án, có thể hủy BAST để tùy từng trường hợp vụ án sẽ được điều tra bổ sung hoặc đưa ra xét xử ở tại TACST cho thích đáng hơn Từ giai đoạn này, pháp luật đã áp dụng nguyên tắc không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo bằng việc hạn chế phạm vi, quyền hạn sửa BAST theo hướng bất lợi cho bị cáo mặc dù vẫn cho phép TACPT được quyền hủy BAST nếu nhận thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn hoặc cần tăng hình phạt khi không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi cho bị cáo
Đến ngày 19 tháng 5 năm 1967, TANDTC ban hành Thông tư số: 03- NCPL hướng dẫn về trình tự XXPT vụ án hình sự Thông tư số: 03- NCPL là văn bản đầu tiên quy định có hệ thống về trình tự tố tụng phúc thẩm hình sự; chức năng, nhiệm
Trang 28vụ và quyền hạn của TACPT; quyền kháng cáo, kháng nghị; thủ tục và thời hạn kháng cáo, kháng nghị; quyền thu thập chứng cứ, tài liệu bổ sung; thủ tục XXPT… Theo quy định, TACPT có nhiệm vụ xét xử lại toàn bộ vụ án, kể cả đối với những người không kháng cáo hay không bị kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị yêu cầu, thì TACPT có quyền định lại tội danh nặng hơn, tăng mức hình phạt đối với bị cáo[27]
Sau đó, TANDTC đã ban hành Thông tư số: 19/TATC ngày 12 tháng 10 năm
1974 (kèm theo Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự) để thay thế cho Thông tư số: 03- NCPL Thông tư mới ban hành đã quy định khá toàn diện chức năng, nhiệm vụ và tính chất của phúc thẩm TACPT xét xử lại những vụ án đã XXST mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nhằm thẩm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của BAST TACPT xét xử đối với những người kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị và xem xét trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị Trường hợp xét thấy mức án của BAST áp dụng cho các bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị là quá nhẹ, thì TACPT đề nghị Viện kiểm sát nghiên cứu có thể kháng nghị, nếu Viện kiểm sát không đồng ý kháng nghị hoặc thời gian kháng nghị đã hết thì TACPT cũng không được tăng án hay hủy BAST để xét xử lại mà phải kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, nếu có căn cứ thì Tòa án có thể giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị[28]
Qua XXPT, nếu nhận thấy hình phạt mà BAST áp dụng là quá nặng, thì TACPT giảm mức hình phạt cho tương xứng với tính chất và mức độ của tội phạm
và nhân thân bị cáo TACPT có quyền định lại tội danh cho đúng đồng thời giảm mức hình phạt tương xứng, miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (kể cả trong trường hợp có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát yêu cầu tăng nặng) Việc sửa BAST theo hướng nặng hơn chỉ thực hiện khi có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng đó TACPT có thể kết tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo đã được BAST tuyên bố không có tội, miễn TNHS hay miễn hình phạt TACPT cũng có thể xử theo tội danh nặng hơn; tăng nặng hình phạt; sửa lại tội danh từ nhiều tội thành một tội hoặc ngược lại từ một tội danh thành nhiều tội danh nếu cùng một loại hành vi
TACPT không được sửa BAST theo hướng nặng hơn đối với những bị cáo không kháng cáo hay không bị kháng cáo, kháng nghị về phần hình phạt
TACPT vẫn có thể sửa lại tội danh nếu tội danh mới cùng tính chất, cùng loại
và có khung hình phạt tương đương với tội danh đã XXST; TACPT có thể xử tội danh nặng hơn nếu ở phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng nhận tội danh nặng hơn đó hoặc có kết luận của Viện kiểm sát đề nghị xử theo tội danh nặng hơn, nhưng không
[27] Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, tr 206
[28] Tòa án nhân dân tối cao, tlđd 27, tr 208
Trang 29được tăng hình phạt; TACPT có thể bổ sung hình phạt phụ có tính chất bắt buộc, ví
dụ như tước một số quyền lợi của công dân đối với bị cáo phạm tội phản cách mạng hoặc thêm hình phạt phụ khác không có tính chất bắt buộc nhưng mang ý nghĩa phòng ngừa tội phạm, ví dụ như cấm cư trú ở một số địa phương, cấm đảm nhiệm những chức vụ có liên quan trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa… nhưng không được áp dụng thêm hình phạt phụ về tài sản, nếu không có kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp nếu chỉ có bị cáo kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hình phạt, nhưng thấy hình phạt là quá nhẹ, thì TACPT không có quyền tăng hình phạt hoặc tự mình định lại tội danh nặng hơn (trừ trường hợp nêu trên) Trong trường hợp này, TACPT ở khu, tỉnh, thành phố hủy BAST giao TACST xét xử lại hoặc có thể giữ lại để XXST trong một phiên tòa khác Đối với Tòa phúc thẩm TANDTC thì phải hủy BAST giao hồ sơ cho TAND khu, tỉnh, thành phố xét xử lại Trong trường hợp Tòa phúc thẩm TANDTC nhận thấy việc hủy BAST và giao cho các TAND khu, tỉnh, thành phố XXST lại sẽ gặp khó khăn, thì không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, giữ nguyên BAST rồi báo cho Tòa chuyên trách TANDTC xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm
Về phần bồi thường của bản án HSST, nếu có kháng cáo, kháng nghị và xét thấy có căn cứ, thì TACPT có quyền tăng hoặc giảm mức bồi thường Nếu thấy không có đủ căn cứ giải quyết, thì hủy riêng phần bồi thường của BAST và giao cho TACST điều tra và giải quyết lại theo thủ tục tố tụng dân sự Thông tư số: 19- TATC còn cho phép TACPT được quyền giải quyết đối với trường hợp khoản bồi thường nào đó chưa được TACST giải quyết và cũng không có kháng cáo, kháng nghị, nhưng nếu được yêu cầu ở phiên tòa phúc thẩm và có đầy đủ chứng cứ để giải quyết yêu cầu đó Bên cạnh đó, việc xử lý tang vật được coi là quy định bắt buộc, nếu TACST giải quyết không đúng thì TACPT có quyền giải quyết lại cho đúng, kể
cả trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị
Theo Thông tư số: 19- TATC, thì TACPT có quyền kiểm tra lại toàn bộ BAST không phụ thuộc vào kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo không bị kháng cáo hoặc không bị kháng nghị, đối với bị cáo có kháng cáo, kháng nghị thì TACPT có quyền sửa BAST theo hướng bất lợi cho bị cáo Mặc dù chưa thật hoàn chỉnh, nhưng Thông tư số: 19- TATC đã đáp ứng được yêu cầu XXPT tại thời điểm mà nó có hiệu lực, nội dung của Thông tư: 19- TATC
là một trong những cơ sở nền tảng để xây dựng các BLTTHS của nước ta
1.5.3 Giai đoạn từ năm 1988 cho đến trước năm 2003
Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VI đã thông qua bản Hiến pháp mới (Hiến pháp 1980) Đây là bản Hiến pháp của giai đoạn cách mạng mới, thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, trong bối cảnh đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
là rất cần thiết Đối với hoạt động tố tụng hình sự, đã đến lúc cần phải có Bộ luật
Trang 30hoàn chỉnh làm khuôn khổ pháp lý cho trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án hình sự, cũng như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Đáp ứng yêu cầu đó, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII ngày 28 tháng 6 năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta (BLTTHS 1988) đã được thông qua BLTTHS này là kết quả kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự hơn 40 năm, kể từ Cách mạng tháng tám đến thời điểm lúc bấy giờ
Nghiên cứu các quy định về “Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực theo thủ tục phúc thẩm” cho thấy đây là sự kế thừa và hoàn thiện các hướng dẫn về trình tự phúc thẩm hình sự trong Thông tư số 19- TATC So với các quy định trước đây, BLTTHS đã quy định một cách tương đối hệ thống, đầy đủ, cụ thể và hợp lý hơn
Về sửa BAST, BLTTHS 1988 quy định TACPT có quyền miễn TNHS hoặc hình phạt cho bị cáo; áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn; giảm hình phạt cho
bị cáo; giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng (khoản 1 Điều 221) Nếu có căn cứ, TACPT có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị (khoản 2 Điều 221) Đối với việc sửa BAST theo hướng bất lợi cho
bị cáo, Bộ luật quy định chỉ trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người
bị hại kháng cáo yêu cầu thì TACPT mới có quyền tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn hoặc có thể tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự Trong trường hợp này, nếu có căn cứ thì TACPT vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại (Khoản 3 Điều 221)
BLTTHS 1988 có ba lần được sửa đổi, bổ sung (tại các kỳ họp Quốc hội ngày 30/6/1990, 22/12/1992 và 09/6/2000) Kể từ khi có hiệu lực pháp luật, BLTTHS này đã phát huy tác dụng là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo đường lối của Đảng, BLTTHS 1988 đã bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, đặc biệt là trong điều kiện nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng có sự gắn kết, giao thoa, tác động lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lập pháp, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, không chỉ nhằm tạo ra môi trường ổn định để
Trang 31phát triển kinh tế, xã hội mà còn góp phần vì quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của con người ở mỗi quốc gia
Trước những đòi hỏi nêu trên, tại kỳ họp thứ 4 ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTHS mới (BLTTHS 2003)
Kết luận Chương 1
1 Sửa bản án HSST là việc TACPT thực hiện quyền do pháp luật quy định để quyết định khác với quyết định của BAST theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho
bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật Quyền sửa bản án HSST phụ thuộc vào thẩm quyền XXPT và phạm vi XXPT của TACPT Trong đó, quyền sửa bản án HSST được coi là loại quyền về nội dung của thẩm quyền XXPT Khi thực hiện quyền sửa bản án HSST, TACPT phải căn cứ vào quy định của BLHS, BLTTHS và các ngành luật khác có liên quan
2 Sửa bản án HSST được xây dựng trên nguyên tắc hai cấp xét xử và nó là biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc này Khi XXPT, TACPT phải đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của BAST để quyết định sửa BAST Sửa bản án HSST
có mục đích, ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của ngành TAND
3 Kể từ khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến trước năm 1988, pháp luật tố tụng hình sự nói chung, những quy định về sửa bản án HSST nói riêng
đã được xây dựng từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện dần, từ những quy định sơ khai tiến dần đến những quy định mang tính hệ thống, nhưng nhìn chung các quy định này chưa cụ thể và nằm rãi rác trong các văn bản dưới luật Tuy nhiên, đây lại là những quy định mang tính chất nền tảng, quan trọng để xây dựng hoàn chỉnh các BLTTHS 1988 và BLTTHS 2003
Trang 32Chương 2 CÁC TRƯỜNG HỢP SỬA BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO QUY
ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
Tại các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII, lần thứ
3 và lần 7 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, đặc biệt là Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Đảng ta chủ trương cần thiết phải sửa đổi
một cách cơ bản, toàn diện BLTTHS 1988 nhằm góp phần tạo sự chuyển biến quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, tại kỳ họp thứ 4, ngày 26 tháng 11 năm 2003 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTHS mới thay thế cho BLTTHS 1988 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS 1988 BLTTHS mới được gọi là BLTTHS 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 BLTTHS 2003 có 08 Phần với 37 Chương và 346 Điều, tăng 01 Phần 5 Chương và 53 Điều so với BLTTHS 1988
Quyền sửa BAST của TACPT được BLTTHS 2003 quy định tại điểm b khoản
2 Điều 248, nội dung của quyền này được quy định tại Điều 249, cụ thể như sau:
1 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo;
b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo
2 Nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt
tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị
3 Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt,
áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Tòa án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ
Trang 33nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại
Từ các quy định của Điều 249 BLTTHS 2003, có thể phân chia nội dung sửa bản án HSST thành các trường hợp cụ thể như sau:
2.1 Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị
2.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo
2.1.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo
TNHS là một trong những vấn đề lý luận phức tạp mà hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà luật học Theo Giáo trình của Trường Đại học
luật Hà Nội thì: “trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích”[29] Theo tác giả Đào Trí Úc thì TNHS: “là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chổ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”[30] Theo tác giả Lê Văn Cảm thì: “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”[31] Tuy nhiên, các quan điểm nêu trên có điểm chung là đều xem TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
BLTTHS 2003 quy định quyền sửa BAST là miễn TNHS cho bị cáo tại điểm a
khoản 1 Điều 249 “Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm”[32]
Miễn TNHS được áp dụng khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
có đầy đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định tại BLHS, lẽ ra họ phải bị truy cứu TNHS nhưng các Cơ quan tiến hành tố tụng thấy không cần thiết phải buộc họ chịu TNHS mà miễn cho họ khi họ có đủ điều kiện luật định Miễn TNHS thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, trong đó miễn TNHS khi có quyết định đại xá là một trường hợp mang tính nhân đạo sâu sắc thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta Miễn TNHS phản ánh chính sách
phân hóa tội phạm và người phạm tội, thể hiện nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo” trong luật hình
sự Việt Nam, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự
[29] Trường Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật hình sự (Tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr
Trang 34nghiêm khắc nhất với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, bằng cách đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp về mặt hình sự[33] Người được miễn TNHS không được bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bởi vì họ vẫn bị coi là đã thực hiện hành vi phạm tội[34] Người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy định trong các ngành luật khác
BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định 09 trường hợp miễn TNHS Tại Phần chung của Bộ luật này, các nhà làm luật quy định 05 trường hợp miễn TNHS, trong đó có 03 trường hợp có tính chất bắt buộc (được quy định tại Điều 19, các khoản 1 và 3 Điều 25) và 02 trường hợp có tính chất lựa chọn (được quy định tại khoản 2 Điều 25 và khoản 2 Điều 69), cụ thể:
Thứ nhất, về 03 trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc tại Phần chung
là:
Trường hợp thứ nhất, “… Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này” (Điều 19 BLHS)
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Chỉ coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội khi có đủ các điều kiện: Một là, việc chấm dứt hành vi phạm tội phải xảy ra khi
tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa
hoàn thành Hai là, việc chấm dứt hành vi phạm tội phải tự nguyện và dứt khoát
Quy định của BLHS hiện nay về miễn TNHS đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có điểm hạn chế là chỉ áp dụng miễn TNHS cho người thực hành
trong vụ án có đồng phạm (áp dụng thuật ngữ “việc phạm tội”), mà chưa quy định
cụ thể, rõ ràng việc áp dụng nó cho ba loại người đồng phạm còn lại là người tổ
chức, người xúi giục và người giúp sức Do đó cần thay cụm từ “việc phạm tội” bằng “tội phạm” cho phù hợp với thực tiễn xét xử và bao quát hành vi của tất cả
những người đồng phạm, chứ không chỉ riêng bản thân một loại người đồng phạm
là người thực hành…[35]
Trường hợp thứ hai, “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” (Khoản 1 Điều
25 BLHS)
[33] Trịnh Tiến Việt (2007), Về những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong phần chung Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1, tr 09- 20
[34] Xem: khoản 1 Điều 27 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
[35] Lê Cảm (2002), Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, trong sách: Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 224
Trang 35Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể thế nào là “chuyển biến của tình hình”, hướng dẫn của TANDTC chỉ nêu một cách khái quát xem đó là các chuyển
biến về chính trị, kinh tế, xã hội[36] Tuy nhiên, trường hợp này có thể hiểu là “tội phạm đã được thực hiện trong một điều kiện, hoàn cảnh khác so với điều kiện, hoàn cảnh vào thời điểm điều tra, truy tố, xét xử Chính sự thay đổi đó đã làm cho hành
vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội”[37] Khi đó, TACST miễn TNHS cho họ nếu vụ án đang được XXST hoặc khi XXPT thì TACPT sửa BAST, áp dụng quy định về miễn TNHS cho bị cáo đã bị TACST tuyên bố phạm tội và phải chịu hình phạt cũng như các hậu quả pháp lý hình sự khác
Trường hợp thứ ba, “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá” (Khoản 3 Điều 25 Bộ luật hình sự)
Đại xá là quyết định thuộc quyền hạn của Quốc hội (Khoản 10 Điều 84 Hiến
pháp năm 1992) Đại xá là: “tha, miễn hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt cho một
số loại tội phạm hoặc một loạt người phạm pháp nhất định đã hoặc chưa bị truy tố, xét xử, thi hành án”[38] Đại xá khác với đặc xá vì đặc xá là quyết định thuộc quyền hạn của Chủ tịch Nước (Khoản 12 Điều 103 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001), đó là quyết định miễn toàn bộ hay một phần hình phạt đối với một hoặc một số người bị kết án
Như vậy, quyết định đại xá là văn bản pháp luật hình sự của Cơ quan lập pháp cao nhất áp dụng đối với riêng một phạm vi không nhất định những người bị coi là
có lỗi trong việc thực hiện tội phạm Tuy nhiên, từ trước đến nay mới có 02 lần Nhà nước ta quyết định đại xá tội phạm, đó là đại xá năm 1945 nhân dịp thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đại xá năm 1954 nhân dịp giải phóng Thủ đô Hà Nội[39]
Căn cứ miễn TNHS theo khoản 3 Điều 25 BLHS hiện hành là một căn cứ mới
so với quy định của Điều 48 BLHS 1985 Trường hợp miễn TNHS khi có quyết định đại xá đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của pháp luật hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Thứ hai, về 02 trường hợp miễn TNHS có tính chất lựa chọn tại Phần chung
Trang 36Trường hợp thứ nhất, “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự” (Khoản 2 Điều 25 BLHS)
Căn cứ Thông tư liên tịch số: 05- BNV- TANDTC- VKSNDTC- BTP/TTLT ngày 02 tháng 6 năm 1990 của Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an), TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú thì người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm,
cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễn TNHS hoặc được giảm nhẹ hình phạt Nếu cùng với việc tự thú mà lập công lớn, vận động được nhiều người khác đã phạm tội ra tự thú thì có thể được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước[40] Như vậy, để được miễn TNHS, người phạm tội ra tự thú phải hội đủ các điều kiện đó là: (1) Tội phạm đã thực hiện chưa bị phát giác, tức
là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm; (2) Người tự thú phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm; (3) Người tự thú phải cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm
Thông tư liên tịch số 05- BNV-TANDTC- VKSNDTC- BTP/TTLT không quy
định trường hợp “đầu thú” Theo tác giả Đinh Văn Quế thì ở thời điểm này chỉ có
một khái niệm tự thú cho tất cả những trường hợp tự thú hoặc đầu thú, tuy nhiên mức độ có khác nhau[41] Theo hướng dẫn của TANDTC thì “đầu thú” là có người
đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật[42] Như vậy “tự thú” khác với “đầu thú”, và chỉ trong trường hợp “tự thú” mới
được xem xét áp dụng quy định miễn TNHS
Khi xem xét để sửa bản án HSST theo hướng miễn TNHS trong trường hợp này, TACPT phải xem xét một cách tổng hợp, toàn diện, căn cứ vào tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra, thái độ khai báo, tính tích cực hạn chế hậu quả của tội phạm cũng như những hành vi khác góp phần vào việc phát hiện, xử lý tội phạm của bị cáo, các đề nghị xử lý trong kết luận điều tra, cáo trạng, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, nhận định của BAST về
[40] Xem: Mục 1 Phần II Thông tư liên tịch số: 05- BNV- TANDTC- VKSNDTC- BTP/TTLT ngày 02/6/1990 của Bộ nội vụ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú
[41] Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự- Phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
Thành phố Hồ Chí Minh, tr 272
[42] Xem: Mục 7 Phần I Công văn số: 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp các vấn đề nghiệp vụ
Trang 37hành vi phạm tội của bị cáo Đồng thời phải cảnh giác với những người giả vờ tự thú để trốn tránh bị xử lý ở một tội phạm nghiêm trọng hơn hoặc chờ thời cơ tiếp tục thực hiện tội phạm
Trường hợp thứ hai, “người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (Khoản 2 Điều 69 BLHS)
Căn cứ vào quy định tại Điều 12 và Điều 68 BLHS hiện hành thì người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội phạm, bao gồm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa
đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS chỉ là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Tuy nhiên, ngoài độ tuổi là người chưa thành niên, để được xem xét miễn TNHS thì cần phải xác định hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra là không lớn, họ phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46 BLHS và phải được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục Việc quy định Tòa án giao người chưa thành niên phạm tội sau khi họ được miễn TNHS cho gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục họ là một quy định thể hiện nguyên tắc nhân đạo, một biện pháp pháp lý cần có sự tham gia rộng rãi của quần chúng nhân dân, cơ quan, tổ chức và nhất là gia đình của người được miễn TNHS Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng miễn TNHS cho người chưa thành niên phạm tội là hẹp, nếu được áp dụng mang tính lựa chọn ở các trường hợp khác thì ưu điểm của nó sẽ phát huy nhiều hơn
Tại Phần các tội phạm của BLHS hiện hành, có 04 trường hợp miễn TNHS, bao gồm 01 trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc và 03 trường hợp miễn TNHS có tính chất lựa chọn
Thứ nhất, trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc được quy định tại
khoản 3 Điều 80 của Tội gián điệp:
“… 3 Người nào đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự”
Thứ hai, về 03 trường hợp miễn TNHS có tính chất lựa chọn thì:
Trường hợp thứ nhất được quy định tại khoản 6 Điều 289 của Tội đưa hối lộ:
“Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ”
Trang 38Trường hợp thứ hai được quy định tại khoản 6 Điều 290 của Tội làm môi giới
hối lộ: “Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”
Trường hợp thứ ba được quy định tại khoản 3 Điều 314 của Tội không tố giác
tội phạm: “Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt”
Khi áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLTTHS và các quy định
về miễn TNHS của BLHS để XXPT, TACPT cần thận trọng đối với các trường hợp miễn TNHS có tính chất lựa chọn, nên tập trung đánh giá đúng bản chất của vụ án
và các tình tiết cụ thể nhằm tránh để xảy ra trường hợp sửa bản án không đúng, vừa trái với quy định của pháp luật, vừa gây bức xúc trong dư luận xã hội
Miễn TNHS khác với trường hợp không có TNHS, tức là những trường hợp hành vi của bị cáo không có sai trái hoặc chỉ đáng xử lý về hành chính[43] Hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp miễn TNHS không để lại án tích cho người bị kết án BLTTHS 2003 quy định thẩm quyền miễn TNHS thuộc về các Cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng quy định này chưa đầy đủ, cụ thể là trong các căn cứ để Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra quy định tại điểm a khoản 2 Điều 164 BLTTHS có các căn cứ miễn TNHS tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS và trong các căn cứ để Viện kiểm sát đình chỉ vụ án quy định tại khoản 1 Điều 169 BLTTHS cũng có các căn cứ miễn TNHS tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS Như vậy, nếu bị can không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS thì có được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ điều tra hay đình chỉ vụ án để miễn TNHS hay không Vì vậy BLTTHS nên quy định cụ thể, rõ ràng hơn
Tùy từng giai đoạn tố tụng mà các Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng việc miễn TNHS cho bị can, bị cáo Ở giai đoạn XXPT, trường hợp miễn TNHS ít xảy ra, bởi vì nếu bị can, bị cáo hội đủ những điều kiện để áp dụng miễn TNHS thì đã được các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng trước đó Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp TACST không áp dụng quy định này, nên TACPT phải sửa BAST và miễn TNHS cho bị cáo
2.1.1.2 Miễn hình phạt cho bị cáo
BLTTHS 2003 quy định quyền sửa BAST là miễn hình phạt cho bị cáo của TACPT tại điểm a khoản 1 Điều 249 Tuy nhiên, khái niệm miễn hình phạt vẫn chưa được pháp luật quy định cụ thể và vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái
niệm này Có quan điểm cho rằng miễn hình phạt là: “Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra Tòa án phải tuyên trong bản án kết
[43] Đinh Văn Quế, tlđd 9, tr 272
Trang 39tội có hiệu lực pháp luật đối với người này[44]” Hoặc quan điểm khác thì xem:
“Miễn hình phạt là không buộc một người phải chịu hình phạt về tội mà người đó
đã thực hiện”[45] Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các quan điểm đều coi miễn hình phạt là trường hợp Tòa án tuyên bố một người là có tội, nhưng không buộc họ phải chịu hình phạt về tội đó
Như vậy, miễn hình phạt có đặc điểm là một dạng của TNHS, được thể hiện bằng sự phản ứng đối với người có hành vi phạm tội từ phía Nhà nước và xã hội, phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội, thể hiện nguyên tắc
“nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục cải tạo” trong luật hình sự Việt Nam
Theo quy định tại Điều 54 BLHS hiện hành thì: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự” Như vậy, người phạm bất cứ tội gì cũng có thể
được miễn hình phạt không phân biệt tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù trên thực tế người phạm tội thường chỉ được miễn hình phạt khi tội phạm họ
đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng nhưng hậu quả chưa xảy ra hoặc hậu quả đã xảy ra nhưng không đáng kể hoặc hậu quả đã hoàn toàn được khắc phục Vì vậy, BLHS nên có quy định hạn chế phạm vi loại tội mà người phạm tội được miễn hình phạt, đó là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng để có sự phân hóa hơn nữa trong chính sách hình sự, tránh việc lạm dụng để áp dụng miễn hình phạt cho tất cả các loại tội phạm làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật
Hậu quả pháp lý hình sự của miễn hình phạt khác với miễn TNHS Người được miễn TNHS đương nhiên không bị áp dụng bất kỳ hình phạt nào, nhưng người được miễn hình phạt thì vẫn có TNHS và phải chịu TNHS
Điều kiện để người phạm tội được miễn hình phạt quy định tại Điều 54 BLHS hiện hành không cụ thể Nếu chỉ căn cứ vào nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì người phạm tội chỉ có thể được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 47 BLHS chứ chưa thể được miễn hình phạt Vì vậy, người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ để được miễn hình phạt là:
“đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” Tuy nhiên, thế nào là đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức
Trang 40được miễn TNHS? Đây là vấn đề chưa có hướng dẫn cụ thể Trong thực tế, cơ sở để Tòa án có thể cân nhắc, đánh giá áp dụng chế định này chính là các tình tiết mà chúng làm cho tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội giảm nhẹ đặc biệt, tạo khả năng tự giáo dục, cải tạo bị cáo mà không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đó có thể là trường hợp bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, chưa gây ra hậu quả hoặc hậu quả không lớn; nhân thân bị cáo tương đối tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong vụ án đồng phạm thì vai trò của bị cáo chỉ là thứ yếu và có công lớn trong việc phát hiện, điều tra tội phạm; bị cáo có nhiều thành tích trong công tác[46]
Đối với người chưa thành niên phạm tội, tại khoản 4 Điều 69 BLHS quy định:
“Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” Căn cứ vào nội dung điều luật cho thấy đây là
một trường hợp miễn hình phạt có điều kiện đối với người chưa thành niên phạm tội Trong trường hợp này, khả năng áp dụng các biện pháp tư pháp sẽ đảm bảo răn
đe, giáo dục, phòng ngừa hiệu quả hơn là áp dụng hình phạt Điều này thể hiện chính sách hình sự mềm dẻo và linh hoạt của các nhà làm luật Việt Nam, giúp cho người chưa thành niên phạm tội có điều kiện sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
về thể chất và tinh thần, có điều kiện học tập, rèn luyện để trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội[47]
Trường hợp miễn hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 314 BLHS hiện hành
đối với Tội không tố giác tội phạm: “3 Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt” Người phạm tội này là người biết rõ một
trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 BLHS đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác Để được miễn hình phạt, người phạm tội phải có một trong các điều kiện như đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc
đã có hành động hạn chế các tác hại của tội phạm Trong trường hợp này, những điều kiện để miễn hình phạt cũng là những điều kiện để miễn TNHS, nhưng pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể trường hợp nào được miễn hình phạt, trường hợp nào được miễn TNHS, nên còn nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng
Nếu như miễn TNHS thuộc quyền hạn của các Cơ quan tiến hành tố tụng thì miễn hình phạt chỉ thuộc quyền hạn của Tòa án[48], bởi vì Tòa án là cơ quan duy nhất được quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội Miễn hình phạt phải
[46] Trịnh Tiến Việt- Trần Thị Quỳnh (2005), Về chế định miễn hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22, tr 20- 28
[47] Trịnh Tiến Việt (2012), Hoàn thiện các quy định của Phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu mới của đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.242
[48] Xem: Khoản 2 Điều 227, điểm a khoản 1 Điều 249, điểm a khoản 1 Điều 314 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003