1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội và vấn đề phòng ngừa tội phạm

98 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong các giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng và Giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Tâm lý h

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA MSSV: 0955030197

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI VÀ VẤN ĐỀ

PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHÓA: 2009 – 2013

Người hướng dẫn:

Th.S Lê Nguyên Thanh

Cử nhân Lê Thị Anh Nga

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA

NGƯỜI PHẠM TỘI 1

1.1 Khái niệm về đặc điểm tâm lý của người phạm tội ở góc độ nghiên cứu Tội phạm học 1

1.2 Phạm vi, mức độ và mục đích nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội trong Tội phạm học (so sánh với các khoa học khác) 8

1.3 Tính chất phổ biến, điển hình của một số đặc điểm tâm lý của người phạm tội được nghiên cứu 13

1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc điểm tâm lý phổ biến, điển hình của người phạm tội ở góc độ Tội phạm học 14

1.5 Tình hình nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong Tội phạm học nước ngoài 16

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI 23

2.1 Nhu cầu 23

2.2 Hứng thú 39

2.3 Định hướng giá trị 47

2.4 Ý thức đạo đức 55

2.5 Ý thức pháp luật 60

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI 69

Trang 4

3.1 Bản chất của hoạt động phòng ngừa tội phạm và cơ chế phòng ngừa tội phạm ở góc độ tâm lý 69 3.2 Các biện pháp phòng ngừa tội phạm tương ứng với các đặc điểm tâm lý của người phạm tội 72

KẾT LUẬN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay cùng với sự phát triển của kinh tế và khoa học công nghệ là sự gia tăng của tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và tội phạm Tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, tội phạm có xu hướng tăng về cả số lượng lẫn mức độ nguy hiểm, đồng thời xuất hiện thêm nhiều loại tội phạm mới như: tội phạm môi trường, tội phạm công nghệ cao, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, tội phạm xuyên quốc gia Đây là điều đáng báo động cho toàn xã hội Vì vậy, đòi hỏi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, để làm cho công tác phòng ngừa tội phạm có chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa, càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Có nhiều hướng tiếp cận vấn đề này, nhưng sẽ là đóng góp thiết thực nếu có sự nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của một tội phạm dưới lăng kính tâm lý của người phạm tội Bởi tội phạm là do con người thực hiện, do đó muốn tìm hiểu tội phạm cần phải nghiên cứu con người phạm tội, mà quan trọng là các đặc điểm tâm lý của người phạm tội Mặt khác, các biện pháp phòng chống tội phạm chủ yếu tác động đến con người phạm tội và các mối quan hệ xã hội của con người Vì vậy, nghiên cứu dưới góc

độ tâm lý sẽ mở ra nhiều khả năng tiếp cận những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội một cách cặn kẽ, chính xác; chỉ ra cơ sở để hoạch định các biện pháp phòng ngừa tội phạm, đấu tranh và ngăn chặn các tội phạm ở nhiều mức độ khác nhau Tất nhiên, không phải tất cả các đặc điểm tâm lý của người phạm tội đều là đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp này, mà chỉ có những đặc điểm tâm lý nào có tính chất phổ biến, điển hình và có ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm và phòng ngừa tội phạm mới được nghiên cứu

Tuy vai trò của việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội quan trọng như đã nêu ở trên, nhưng hiện nay hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội dưới góc độ Tội phạm học Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề “Một số đặc điểm tâm lý điển hình

Trang 6

của người phạm tội và vấn đề phòng ngừa tội phạm” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam, Tội phạm học vẫn là một ngành khoa học còn non trẻ, số tài liệu chuyên khảo của Tội phạm học rất ít ỏi, đặc biệt về tâm lý người phạm tội lại càng khan hiếm Có lẽ vì đây là một đối tượng nghiên cứu luôn vận động biến đổi, với những trạng thái tư tưởng tâm lý linh hoạt và đa dạng nên dường như tất cả các hướng nghiên cứu đều là nghiên cứu mở

Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu cũng như bài viết có đề

cập đến vấn đề tâm lý của người phạm tội như: luận văn “Vận dụng đặc điểm tâm lý tội

phạm phục vụ cho hoạt động điều tra khám phá tội phạm về ma túy”, bài viết “Cơ chế tâm lý xã hội của các hành vi tiêu cực ở dạng tệ nạn xã hội” của PGS.TS Phạm Văn

Tỉnh, bài viết “Một số đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên phạm tội” của Th.s Đặng Thanh Nga; các khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Bích Việt về “Cơ chế tâm

lý - xã hội của hành vi phạm tội trong Tội phạm học Việt Nam”, các khóa luận về đề tài

“Nhân thân người phạm tội dưới góc độ nghiên cứu Tội phạm học” của Đỗ Trúc Lâm,

Trần Thị Thúy Hường cũng có một phần liên quan đến tâm lý tội phạm Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong các giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng và Giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Tâm lý

học pháp lý của Học viện Cảnh sát nhân dân, giáo trình “Những vấn đề cơ bản của tâm

lý học tội phạm, tâm lý học điều tra tội phạm và tâm lý học quản lý” của Học viện Cảnh

sát nhân dân, tác phẩm “Xã hội học tội phạm” của tác giả Trần Đức Châm…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên có sự nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của người phạm tội nhưng ở những góc độ và phạm vi khác nhau Đó

có thể là nghiên cứu tâm lý của người phạm tội ở phạm vi hẹp: nghiên cứu các đặc điểm tâm lý tội phạm để điều tra, khám phá tội phạm về ma túy hay nghiên cứu vai trò của đặc điểm tâm lý tiêu cực của con người đối với hành vi tệ nạn xã hội, hành vi phạm tội ở

Trang 7

người chưa thành niên… Ở các công trình này, các tác giả nghiên cứu tâm lý của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng ở các góc độ cụ thể, có thể là ở một loại tội phạm hoặc ở một nhóm đối tượng xác định Cũng có công trình nghiên cứu chỉ

có sự tìm hiểu, đề cập sơ qua về các đặc điểm tâm lý của người phạm tội ở dạng khái quát mà không đi sâu vào phân tích chi tiết như: các khóa luận về cơ chế tâm lý - xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của người phạm tội hay các kiến thức được đề cập trong các giáo trình Tội phạm học, Tâm lý học pháp lý, Xã hội học Vì vậy, cần có

sự nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về các đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội, từ nguồn gốc hình thành đến cơ chế tác động của nó đối với các hành vi phạm tội phổ biến, từ đó đưa ra biện pháp phòng ngừa tội phạm

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận

và thực tiễn của đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội Từ đó góp phần làm sáng tỏ được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể, hoàn thiện hơn lý luận Tội phạm học, đồng thời làm cơ sở đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp

Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của đề tài là xây dựng khái niệm đặc điểm tâm lý của người phạm tội, phân tích các đặc điểm thuộc tâm lý điển hình của người phạm tội và vai trò của nó đối với một số tội phạm phổ biến Trên cơ sở đó, đánh giá thực tiễn phòng ngừa tội phạm, đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm

Tâm lý con người nói chung cũng như tâm lý người phạm tội nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu rộng, cho nên nội dung đề tài không đi vào nghiên cứu tất cả những vấn đề liên quan đến tâm lý người phạm tội, mà chỉ làm sáng tỏ các đặc điểm tâm lý phổ biến, điển hình của người phạm tội Các đặc điểm tâm lý này có vai trò trong việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người phạm tội là nghiên cứu về con người, tâm

lý của con người, hành vi của con người và những nhân tố xã hội ảnh hưởng đến các đặc điểm tâm lý của con người Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu vấn đề đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội và vấn đề phòng ngừa tội phạm

Mặt khác, để phục vụ cho việc thu thập, phân tích và xử lý các thông tin cần thiết nhằm làm rõ hơn các luận điểm trong khóa luận, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp nghiên cứu các vụ án và tham khảo các tài liệu khác

5 Ý nghĩa của khóa luận

Tác giả hy vọng với kết quả trên đề tài có thể có những đóng góp về mặt lý luận

và thực tiễn nhất định Trước hết, về lý luận, đề tài cung cấp những nhận thức về đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội trong lĩnh vực Tội phạm học Đồng thời, vạch

ra sự tác động, ảnh hưởng của các hiện tượng xã hội đến tâm lý người phạm tội Từ đó, tạo cơ sở khoa học để nhận thức đầy đủ và toàn diện về bản chất của hành vi phạm tội, nguyên nhân của tội phạm Góp phần hoàn thiện hơn lý luận Tội phạm học và gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo về đề tài này Về thực tiễn, việc nghiên cứu của khóa luận giúp cho các nhà hoạt động thực tiễn đánh giá đúng vị trí, vai trò của các biện pháp phòng ngừa tội phạm liên quan đến đặc điểm tâm lý của người phạm tội, vì thế mà hoàn thiện hơn các chương trình, kế hoạch phòng chống tội phạm Đề tài cũng sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho người đọc trong quá trình học tập, nghiên cứu bởi đây là một vấn đề nghiên cứu còn mới mẻ

6 Bố cục của khóa luận

Với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài đã nêu như trên, khóa luận được xây dựng thành các bộ phận:

Mục lục

Mở đầu

Trang 9

Chương I: Lý luận chung về đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội ở góc

độ nghiên cứu Tội phạm học

Chương II: Nội dung một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội Chương III: Vấn đề phòng ngừa tội phạm tội từ việc nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI

1.1 Khái niệm về đặc điểm tâm lý của người phạm tội ở góc độ nghiên cứu Tội phạm học

1.1.1 Khái niệm tâm lý

Một tội phạm cụ thể, như mọi hành vi khác của con người suy cho cùng là kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân và hoàn cảnh khách quan bên ngoài Trong sự tác động đó, quyết định thực hiện tội phạm được thông qua và được thể hiện trên thực tế Như vậy, để có thể xác định được nguyên nhân hình thành tội phạm ở một con người và đề ra biện pháp giáo dục, phòng ngừa thì cần thiết phải nghiên cứu sâu sắc các đặc điểm liên quan đến cá nhân người phạm tội Một trong những đặc điểm quan trọng của người phạm tội có ảnh hưởng đến việc hình thành nguyên nhân, động cơ của hành vi phạm tội là đặc điểm tâm lý của người phạm tội

Tâm lý con người hình thành dưới tác động của hoàn cảnh xã hội, phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội mà người đó tham gia Mặt khác, điều kiện xã hội và ảnh hưởng bên ngoài chỉ có thể tác động đến con người thông qua tâm lý của họ, kết hợp với ý thức

Và khi tất cả các đặc điểm này phối hợp, thỏa mãn sẽ tạo thành động lực thúc đẩy con người hành động Cho nên, để hiểu rõ bản chất của hành động, hành vi của con người cũng như hành vi của người phạm tội, tất yếu phải hiểu được đặc điểm tâm lý của người

đó, sự tương tác của nó với các yếu tố khách quan bên ngoài Khi nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người phạm tội, giải thích nguyên nhân, các yếu tố tác động đến sự hình thành các phẩm chất tâm lý tích cực hay tiêu cực ở họ, chúng ta phải có các tri thức căn bản nhất

về tâm lý con người, phải hiểu được các qui luật về sự hình thành, biểu hiện của tâm lý người

Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều người vẫn sử dụng từ “tâm lý” để chỉ thái độ, cách cư xử phù hợp của con người hay để nói về ý muốn, nhu cầu, sở thích, ý nghĩ, tâm

tư, tình cảm của con người, về lòng người Đây là cách hiểu “tâm lý” ở cấp độ nhận thức

Trang 11

thông thường Nếu dừng lại ở cách hiểu này thì “tâm lý” chưa được hiểu một cách rõ ràng

và đầy đủ Vậy “tâm lý là gì?”

Xét về mặt thuật ngữ thì “tâm lý” đã có từ lâu trong tiếng Việt Trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa một cách tổng quát khái niệm tâm lý như sau: “Tâm lý” là toàn bộ nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí…; biểu hiện trong hoạt động và cử chỉ của mỗi người [20 – tr.823] Ngoài

ra, còn có nhiều cách định nghĩa khái niệm tâm lý theo các tài liệu khác như:

Theo tiếng Latinh, tâm lý (Psyche) có nghĩa là “linh hồn”, “tinh thần” Theo Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, 2008: Tâm lý là thuộc tính đặc biệt của vật chất có

tổ chức cao, là sự phản ánh hiện thực khách quan đảm bảo cho cơ thể sống thích ứng với môi trường có hiệu quả Còn theo Tâm lý học đại cương, Nguyễn Quang Uẩn chủ biên,

2007 thì tâm lý gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người gắn liền với mọi hoạt động của con người

Như vậy, thuật ngữ “tâm lý” trong khoa học là rất rộng, bao hàm tất cả các hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người (còn gọi là hệ thần kinh), gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người Tâm lý của con người là nhận thức, trí tuệ,

là xúc cảm, tình cảm, ý chí, là nhu cầu, động cơ hành vi, năng lực, ý thức, định hướng giá trị… Để hiểu rõ hơn về tâm lý, điều cần thiết là phải hiểu được bản chất của tâm lý Khi giải thích về bản chất của tâm lý, Tâm lý học Mácxít đưa ra 3 luận điểm cơ bản như sau:

Luận điểm thứ nhất, tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt động của con người

Chính các hiện tượng khách quan bên ngoài tác động vào hệ thần kinh, được não tiếp nhận và nhờ hoạt động phân tích, tổng hợp của não mà tạo ra những hình ảnh tinh thần (tâm lý) chứa đựng trong vết vật chất, đó là các quá trình sinh lý, sinh hóa ở hệ thần kinh và não bộ C.Mác nói tinh thần, tư tưởng, tâm lý… chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có [17 – tr.13]

Tuy vậy, con người không phải là một chủ thể tiếp thu một cách thụ động những tác động của thế giới khách quan, mà mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế

Trang 12

giới xung quanh đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, nhu cầu, tính khí… của riêng mình vào hình ảnh đó Làm cho hình ảnh tâm lý mang đậm tính chất chủ quan hay nói cách khác, con người phản ánh thế giới khách quan bằng hình ảnh tâm lý thông qua “lăng kính chủ quan” của mình Đây là lý giải tại sao cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện tượng khách quan nhưng những chủ thể khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lý với những mức độ, sắc thái khác nhau; cùng một hiện thực khách quan tác động đến một chủ thể duy nhất nhưng vào các thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau, với trạng thái cơ thể, trạng thái tinh thần khác nhau, có thể cho ta thấy mức độ biểu hiện và các sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy [17 – tr.14] Từ những hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể riêng biệt đó, con người sẽ thể hiện ra thế giới hiện thực thông qua hoạt động, sự giao lưu với những người xung quanh Đây chính là sự phản ánh tâm lý

Từ luận điểm trên ra có thể kết luận, tâm lý có nguồn gốc từ thế giới khách quan

Mà thế giới khách quan bao gồm thế giới tự nhiên và thế giới xã hội Vậy thì nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc xã hội có ảnh hưởng quyết định đến tâm lý con người?

Theo Tâm lý học Mácxít, tâm lý con người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử

Đây là một trong ba luận điểm của Tâm lý học Mácxít về bản chất hiện tượng tâm lý người

Như đã phân tích ở trên, con người vừa là một thực thể tự nhiên lại vừa là một thực thể xã hội Chính con người tạo ra môi trường xã hội với các mối quan hệ xã hội đa dạng, nhiều chiều và thể hiện bản chất của mình là tổng hòa các mối quan hệ xã hội đó Tâm lý con người chịu sự quy định của các quan hệ xã hội mà họ tham gia Chẳng hạn, các hoạt động nghề nghiệp khác nhau luôn tạo ra những phong cách khác nhau trong hành vi của mỗi người Nếu bạn làm luật sư, hẳn bạn sẽ chịu ảnh hưởng của môi trường nghề nghiệp

mà có phong cách điềm tĩnh, suy luận sắc bén, cẩn thận trong lời nói Còn nếu bạn là nghệ

sĩ, bạn sẽ là người có phong cách lãng mạn và bay bổng Như vậy, phụ thuộc vào các quan

hệ xã hội khác nhau mà tâm lý của mỗi cá nhân có nội dung khác nhau

Đồng thời, tâm lý người còn là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội Thông qua hoạt động và giao tiếp con người tiếp thu và lĩnh

Trang 13

hội vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội sau đó biến thành cái riêng cho bản thân Bởi xã hội luôn vận động, phát triển không ngừng mà tâm lý con người là sự phản ánh thế giới xung quanh nên cũng không ngừng vận động, phát triển Bản chất xã hội của tâm lý người thể hiện ở sự kế thừa kinh nghiệm của cá nhân và học hỏi ở người khác, ở xã hội, ở các nền văn hóa Như vậy, tâm lý người chính là kết quả của quá trình xã hội hoá mang tính chất đặc trưng của xã hội theo từng giai đoạn, thời kỳ Điều này giải thích tâm lý con người ở những giai đoạn, thời kỳ lịch sử khác nhau thì khác nhau

Luận điểm thứ ba, tâm lý là chức năng của não

Bộ não con người là hệ thần kinh cấp cao, nơi diễn ra các hoạt động thần kinh phức tạp, các cơ chế biến đổi lý hóa ở các nơ-ron thần kinh… Từ đó điều khiển hoạt động của

cơ thể con người, đồng thời tạo ra hiện tượng tâm lý Tâm lý người, trước hết là do cơ sở của cấu trúc sinh học đặc biệt sinh ra và có khả năng phản ánh hiện thực khách quan vào

bộ não, thông qua cấu trúc của hệ thần kinh và các cơ quan thụ cảm, đồng thời bộ não có khả năng thể hiện nhận thức thông qua hành vi và kết quả hoạt động Cụ thể của quá trình

là một chuỗi hoạt động từ khi bộ não nhận tác động của thế giới khách quan dưới dạng xung thần kinh, sau đó sẽ sinh ra hình ảnh tâm lý theo cơ chế phản xạ Chính ở đây cũng tạo nên sự khác nhau về phản xạ của các cá thể: cùng một tác động với chỉ số như nhau (cường độ, kích thước, thời gian…) có thể tạo ra các phản xạ khác nhau với các “giai tầng” tâm lý rất khác nhau [17 – tr.17]

Ngoài những đặc điểm thuộc về bản chất của tâm lý con người nói chung như trên, tâm lý của người phạm tội ở góc độ nghiên cứu Tội phạm học có những nét đặc trưng riêng:

Thứ nhất, tâm lý của người phạm tội là tất cả hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc của người phạm tội, bao gồm hiện tượng tâm lý tích cực và tiêu cực (trong đó có tâm lý tội phạm) điều hành hành vi, hoạt động phạm tội của họ Nó nói lên quan điểm, thái

độ đối với giá trị đạo đức, xã hội khác nhau và mức độ nhận thức giá trị đối với người đó

Thứ hai, tâm lý người phạm tội không phải đã có sẵn, không di truyền và mã hóa theo gen mà nó là kết quả của quá trình hình thành, phát triển dưới sự tác động của nhiều

Trang 14

yếu tố bên trong và bên ngoài cá nhân Tâm lý người phạm tội chịu sự chi phối của các yếu tố thể chất, môi trường sống và hoạt động của cá nhân, nhưng quá trình xã hội hóa và thích ứng xã hội của họ có khiếm khuyết và sai lệch chuẩn mực xã hội, trong đó có chuẩn mực pháp luật hình sự có tính chất quyết định [15 – tr.10]

Thứ ba, trong tâm lý người phạm tội có một bộ phận đó là tâm lý tội phạm hay còn gọi là tâm lý phạm tội, ý thức phạm tội, đây là tâm lý tiêu cực phản ánh sự tác động của những yếu tố tiêu cực trong môi trường đến cá nhân, định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội của cá nhân Những đặc điểm tâm lý mang tính tiêu cực thể hiện sự chống đối, đi ngược lại những chuẩn mực của đạo đức và xã hội Ở người phạm tội thường có những đặc điểm tâm lý gần giống nhau, đặc biệt là những người cùng phạm một nhóm tội, ví dụ như nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe thì người phạm tội thường có tâm lý xem thường tính mạng, sức khỏe người khác

1.1.2 Đặc điểm của tâm lý

Tuy tâm lý con người là hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc, mang tính chất trừu tượng nhưng vẫn có những đặc điểm chung

Đặc điểm thứ nhất:

Tâm lý là một hiện tượng tinh thần gần gũi, thân thuộc với con người Tâm lý không phải là những gì cao siêu, xa lạ mà chính là những gì con người suy nghĩ, hành động, cảm nhận hàng ngày

Đặc điểm thứ hai:

Các hiện tượng tâm lý này vô cùng đa dạng, phức tạp, phong phú từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đến tình cảm, ý chí, năng lực, tính khí, niềm tin, lý tưởng… Bởi các hiện tượng tâm lý của con người là những hiện tượng tinh thần, tồn tại một cách chủ quan trong đầu óc con người nên không thể cân, đong, đo, đếm… Nhưng chúng ta vẫn có thể nghiên cứu thông qua sự biểu hiện ra bên ngoài của chúng một cách

thường xuyên

Đặc điểm thứ ba:

Trang 15

Tâm lý người mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân nên tâm lý của con

người là không ai giống ai một cách hoàn toàn Đó là do mỗi người có cấu trúc hệ thần

kinh và cơ thể khác nhau; tuổi tác khác nhau; giới tính khác nhau; nghề nghiệp khác nhau; địa vị xã hội khác nhau; điều kiện sống khác nhau Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp, vui chơi, lao động, học tập… Trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định Vì thế khi nghiên cứu sự hình thành, cải tạo tâm lý con người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động

Đặc điểm thứ tư:

Các hiện tượng tâm lý trong cùng một chủ thể luôn luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Hiện tượng tâm lý này có thể là nguyên nhân, có thể là kết quả, hoặc yếu tố chi phối hiện tượng tâm lý khác

Đặc điểm thứ năm:

Các hiện tượng tâm lý của con người có sức mạnh vô cùng to lớn chi phối hoạt động của con người Một ví dụ cho đặc điểm này là vào năm 1902, nhà bác học Cô-phen-hap, người Đan Mạch, đã làm thí nghiệm trên một tử tù và chứng minh rằng con người có thể tự ám thị mình và giết chết bản thân chỉ trong một thời gian ngắn Tâm lý có thể giúp con người tăng thêm sức mạnh, vượt qua khó khăn để đi đến thành công, cũng có thể khiến con người trở nên yếu ớt, bạc nhược và thất bại

Trên đây là những đặc điểm tâm lý chung của con người, người phạm tội cũng không nằm ngoài số đó Tuy nhiên, đối với riêng người phạm tội còn có những đặc trưng trong tâm lý như sau:

Thứ nhất, tâm lý phản ánh nhận thức xã hội của người phạm tội, thường những đặc điểm tâm lý này mang tính tiêu cực thể hiện sự chống đối, đi ngược lại những chuẩn mực của đạo đức và xã hội Nó được hình thành trong suốt quá trình sống, dưới sự tác động và ảnh hưởng lâu dài của môi trường sống xung quanh, đồng thời cũng được chọn lọc, tiếp nhận bởi chính yếu tố cá nhân của người phạm tội Ở đây ta không thể tuyệt đối hóa vai

Trang 16

trò của môi trường sống đối với việc hình thành các đặc điểm tiêu cực của cá nhân cũng như không thể cho rằng những đặc điểm xấu có sẵn trong cá nhân là mang tính tất yếu, không thể thay đổi Cần phải nhận thức rằng việc hình thành các đặc điểm tiêu cực của các nhân là hệ quả của sự tác động mang tính biện chứng giữa nhân tố cá nhân với môi trường bên ngoài, trong đó bản thân cá nhân đó có sự tự do đầy đủ về ý chí và sự độc lập tương đối với môi trường xã hội

Thứ hai, đặc điểm tâm lý của người phạm tội là những đặc điểm đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy người phạm tội lựa chọn và điều khiển xử sự chống đối xã hội của người đó

Thứ ba, nhóm đặc điểm này tồn tại mang tính ổn định, lâu dài, khó phá vỡ Các đặc điểm này trong sự tương tác với nhau và với những tình huống khách quan thuận lợi bên ngoài sẽ làm phát sinh động cơ của hành vi phạm tội Giữa hành vi phạm tội và tâm lý của người phạm tội gắn bó chặt chẽ với nhau Một người dù nghĩ tiêu cực như thế nào đi chăng nữa, khi ý nghĩ đó chưa được bộc lộ ra bên ngoài bằng hành vi tương ứng xâm phạm khách thể mà pháp luật bảo vệ thì không thể coi tâm lý đó là tâm lý của người phạm tội Chỉ khi tâm lý đó định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội thì tâm lý đó là tâm lý người phạm tội - kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng tâm lý tích cực và tâm lý tiêu cực Nếu tâm lý của người phạm tội được thể hiện ra ngoài thế giới khách quan bằng hành vi xâm phạm khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ thì khi đó tâm lý người phạm tội có sự biến đổi thành tâm lý tội phạm

1.2 Phạm vi, mức độ và mục đích nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội trong Tội phạm học (so sánh với các khoa học khác)

Đặc điểm tâm lý của người phạm tội là những đặc điểm đặc trưng phản ánh bản chất của người phạm tội Những đặc điểm này tác động với hoàn cảnh khách quan khác tạo nên xử sự phạm tội Tội phạm học nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm, dấu hiệu tâm

lý của người phạm tội và xem xét mối liên hệ, tác động của môi trường bên ngoài đối với chúng để lý giải nguyên nhân, điều kiện của quá trình hình thành tội phạm Khi đã nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc về con người phạm tội thông qua các đặc điểm tâm lý của

Trang 17

họ thì chúng ta có thể “giải mã” được vì sao một người phạm tội và phạm tội này chứ không phải tội khác Chính từ đó, có thể dự báo được tội phạm và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả

Đặc điểm tâm lý trong nhân thân người phạm tội không chỉ là đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học mà nó còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tâm lý học… Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích, nhiệm

vụ nghiên cứu riêng mà mỗi ngành nghiên cứu về tâm lý người phạm tội theo những tiêu chí khác nhau, với phạm vi và mức độ cũng khác nhau Với mục đích xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội; dự báo và phòng ngừa tội phạm, Tội phạm học nghiên cứu đặc điểm tâm lý người phạm tội ở một phạm vi rộng và mức độ chi tiết Chẳng hạn về phạm vi nghiên cứu, Tội phạm học nghiên cứu về đặc điểm tâm lý người phạm tội bao gồm một tổng thể các đặc điểm như: nhu cầu, hứng thú, định hướng giá trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật… và những yếu tố tác động đến việc hình thành nhân cách, ý thức, tâm lý con người Trong những điều kiện ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển và hình thành nhân cách, ý thức, thái độ tâm lý của con người thì con người rất dễ nảy sinh trạng thái tiêu cực, các thái độ xử sự đi ngược lại với những quy định của pháp luật

Tuy vậy, Tội phạm học không nghiên cứu tất cả các yếu tố tâm lý người phạm tội

mà chỉ nghiên cứu những đặc điểm phổ biến, điển hình phản ánh được bản chất của con người phạm tội, đồng thời đó cũng là những đặc điểm tâm lý có ảnh hưởng trong cơ chế hành vi phạm tội, thể hiện sự chống đối xã hội

Tóm lại, nghiên cứu các đặc điểm tâm lý điển của người phạm tội theo khoa học Tội phạm học là việc nghiên cứu các đặc điểm tâm lý và các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển tâm lý làm ảnh hưởng đến hành vi của con người khiến họ thực hiện hành vi phạm tội, từ đó lý giải nguyên nhân của tội phạm

Cùng nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của người phạm tội nhưng khoa học Luật Hình sự có phạm vi, mức độ và mục đích nghiên cứu khác Các đặc điểm tâm lý trong nhân thân người phạm tội được khoa học Luật Hình sự nghiên cứu nhằm mục đích đánh

Trang 18

giá, phân tích vai trò của các đặc điểm đó trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, định tội danh, quyết định hình phạt [14 – tr.122, 124] [16 – tr.117, 119]

Khi nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của người phạm tội, Luật Hình sự cũng tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý tiêu cực, hình thành động cơ dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội Nhưng mục đích không phải để lý giải nguyên nhân phạm tội, dự báo và phòng ngừa tội phạm như Tội phạm học mà Luật Hình sự nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của người phạm tội để xác định những yếu tố này có ảnh hưởng như thế nào đối với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội Đây là điểm khác nhau rất quan trọng giữa Luật Hình sự và Tội phạm học khi nghiên cứu về đặc điểm tâm lý người phạm tội

Có thể nêu ra một ví dụ chứng tỏ lập luận này như sau: tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung năm 2009) là trường hợp giết người trong trạng thái bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó Đối với tội này, Luật Hình sự nghiên cứu tình trạng tinh thần bị kích động

mạnh của người phạm tội ở góc độ là tình trạng của người phạm tội không hoàn toàn tự

chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình [3] Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng

của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của nạn nhân là nguyên nhân làm cho trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩy đến cao độ và người phạm tội lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Như vậy, để xem xét dấu hiệu

“giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, Luật Hình sự phải đi vào phân tích nguyên nhân tác động vào trạng thái tinh thần, trạng thái tâm lý cùng diễn biến tâm lý của người phạm tội khiến cho người đó đi đến thực hiện hành vi giết người Trên cơ sở đó xác định những sự việc này có phù hợp, đồng nhất với khái niệm được nêu trong Luật Hình sự hay không? Nếu không đồng nhất thì sự việc đó không có ý nghĩa về mặt hình sự, nếu đồng nhất thì đây là cơ sở để giải quyết đúng đắn về trách nhiệm hình sự đối với

Trang 19

người phạm tội Trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội ở tội giết người theo Điều 95 này sẽ nhẹ hơn so với trách nhiệm hình sự và hình phạt ở tội giết người thông thường, bởi vì tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là thấp hơn

Nhưng nếu nghiên cứu tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh

ở góc độ Tội phạm học thì người nghiên cứu sẽ phải theo các tiêu chí và mục đích khác với Luật Hình sự Góc độ tâm lý của người phạm tội ở Điều 95 này sẽ được Tội phạm học nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn và mức độ chi tiết hơn Xuất phát từ mục đích nghiên cứu

là phát hiện ra quy luật phát sinh, tồn tại và vận động của tội phạm thông qua việc tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, Tội phạm học không chỉ nghiên cứu tâm lý người phạm tội để trả lời cho câu hỏi: người phạm tội nguy hiểm như thế nào? Mà còn lý giải tại sao tội phạm này lại xảy ra? Vì sao trong cùng một hoàn cảnh, người này lựa chọn phương án thực hiện hành vi phạm tội, người khác lại không? Điểm khác nhau về diễn biến tâm lý của những người phạm tội khác nhau trong cùng một tội ở Điều 95 này là như thế nào? Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân (nếu nạn nhân là người thân của người phạm tội) đối với tâm lý kích động mạnh của người phạm tội là như thế nào? Và hàng loạt các vấn đề khác liên quan đến tâm lý người phạm tội được đặt ra Mục đích cuối cùng là làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của việc thực hiện tội phạm

để phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao nhất

Tuy mục đích, phạm vi nghiên cứu không trùng nhau nhưng Tội phạm học và khoa học Luật Hình sự có mối quan hệ chặt chẽ Mối quan hệ này thể hiện trước hết ở nhiệm vụ chung khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội mà cụ thể hơn là đặc điểm tâm lý người phạm tội là phục vụ cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Khoa học Luật Hình sự có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của Tội phạm học về đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong một tội phạm cụ thể để xác định chính xác, đúng đắn hơn trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu, cũng như hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thể hiện trong đặc điểm tâm lý của người đó

Trang 20

Khác với Tội phạm học và khoa học Luật Hình sự, khoa học Luật Tố tụng hình sự chủ yếu nghiên cứu các hoạt động tố tụng hình sự như: điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án, mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia

tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự Theo nguyên tắc không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật

Tố tụng hình sự 2003) thì người bị tình nghi là người phạm tội trong quá trình xét xử theo trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự chưa thể khẳng định là người phạm tội Vì vậy, trong Tố tụng hình sự không sử dụng khái niệm “người phạm tội” mà được thay thế bằng khái niệm bị can - người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) hay bị cáo - người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 50

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) Do đó, dưới góc độ của Luật Tố tụng hình sự có khái niệm nhân thân bị can hoặc nhân thân bị cáo tùy theo giai đoạn tố tụng Các đặc điểm tâm lý là yếu tố không thể không đề cập khi chúng ta nhắc đến nhân thân bị can, bị cáo

Khoa học Luật Tố tụng hình sự nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của bị can, bị cáo vì trách nhiệm của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong từng vụ án cụ thể

là phải tìm ra nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm thông qua quá trình tố tụng hình sự như: hỏi cung, lấy lời khai, điều tra, xét xử Để thực hiện tốt nhiệm

vụ của mình, những cơ quan tham gia tố tụng, người tham gia tố tụng phải tìm hiểu rõ đặc điểm tâm lý của bị can, bị cáo; không để xảy ra những sai lầm về mặt tố tụng Ví dụ: đối với bị can, bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần, có tâm lý rối loạn, không bình thường khi đưa ra xét xử nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra,Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ (khoản 2 Điều 57 Bộ luật

tố tụng hình sự 2003) Có thể khẳng định, tham gia vào từng giai đoạn tố tụng khác nhau, người phạm tội sẽ chịu tác động của điều kiện và mục đích khác nhau của hoạt động mà

có những diễn biến tâm lý khác biệt Tất cả những diễn biến tâm lý của người phạm tội với các tư cách là người bị tình nghi, bị can, bị cáo, phạm nhân… là đối tượng được quan tâm nghiên cứu của Luật Tố tụng hình sự Ngoài đối tượng là bị can, bị cáo, phạm nhân

Trang 21

thì Luật Tố tụng hình sự còn nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của người làm chứng, người

bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, của các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư pháp khi

họ tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình xét xử

Như vậy, khoa học Luật Tố tụng hình sự nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của

bị can, bị cáo trong nhân thân bị can, bị cáo là nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Trong khi đó, mục đích của Tội phạm học là nhằm tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó dự báo và phòng ngừa tội phạm Vì mục đích khác nhau nên phạm vi nghiên cứu và mức độ nghiên cứu của Tội phạm học về đặc điểm tâm lý người phạm tội sâu rộng hơn khoa học Luật Tố tụng hình sự Tuy khác nhau như vậy nhưng khi cùng nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của người phạm tội giữa Tội phạm học và khoa học Luật Tố tụng hình sự có sự hỗ trợ, bổ sung lý luận cho nhau, từ đó phục vụ cho công tác hoạch định chính sách hình sự và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giúp đấu tranh phòng, chống tội phạm ngày càng vững mạnh

1.3 Tính chất phổ biến, điển hình của một số đặc điểm tâm lý của người phạm tội được nghiên cứu

Hành vi phạm tội của một người luôn chịu sự chi phối của đời sống tâm lý, đặc điểm cá nhân trong hoàn cảnh xã hội của họ Vậy đặc điểm tâm lý nào của người phạm tội

là nguyên nhân dẫn đến việc họ thực hiện hành vi phạm tội Cần phải thấy rằng, đối với con người, đặc trưng cơ bản là hoạt động có ý thức, có mục đích Tội phạm được thực hiện do cố ý hay vô ý nhưng vẫn là hành vi của con người có ý thức Do vậy, nguyên nhân dẫn đến hành vi này không chỉ phụ thuộc vào chủ thể hành động với những kết cấu hết sức phức tạp về tâm sinh lí mà còn phụ thuộc vào những hoàn cảnh xã hội mà họ trải nghiệm Trong phạm vi khóa luận này, tác giả chỉ phân tích một số đặc điểm tâm lý phổ biến, điển hình của người phạm tội với mục đích làm sáng tỏ một phần nguyên nhân phạm tội

Tính chất phổ biến trong tâm lý người phạm tội thể hiện ở sự tác động đối với nhiều tội phạm khác nhau Chẳng hạn khi nghiên cứu về ý thức pháp luật của người phạm

Trang 22

tội - một đặc điểm trong tâm lý người phạm tội, Tội phạm học nhận thấy phần lớn người phạm tội có sự hiểu biết về pháp luật rất hạn chế, những quy định của pháp luật chưa thực

sự có ý nghĩa trong đời sống hàng ngày của họ, việc giải quyết các mối quan hệ xã hội chủ yếu dựa trên thói quen, kinh nghiệm cá nhân hoặc những phong tục, tập quán địa phương Chính ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến nhiều tội phạm khác nhau như: tội giết người, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội hiếp dâm trẻ em Một ví dụ khác cho tính chất phổ biến của đặc điểm tâm lý của người phạm tội được tác giả lựa chọn nghiên cứu đó là ý thức đạo đức Ý thức đạo đức của hầu hết người phạm tội đều có sự sai lệch hoặc không nhận thức được các giá trị đạo đức như những người bình thường khác Người phạm tội có những quan niệm, đánh giá riêng biệt về nội dung của những giá trị đạo đức, quan niệm của họ

về điều thiện - ác, tốt - xấu, chính - tà có sự sai lệch so với những chuẩn mực chung của xã hội, của giai cấp Chính ý thức đạo đức như vậy là một trong những nguyên nhân phổ biến làm cho người phạm tội có thái độ ứng xử chống đối lại xã hội, đi ngược lại các giá trị mà cộng đồng trân trọng và gìn giữ

Khác với tính chất phổ biến, tính chất điển hình của tâm lý người phạm tội nói lên

sự tác động rõ nét đối với việc hình thành động cơ, nguyên nhân thực hiện tội phạm Mỗi loại tội phạm hay mỗi hành vi phạm tội cụ thể đều có những động cơ, nguyên nhân riêng của nó Tuy có thể tồn tại nhiều loại động cơ, nguyên nhân nhưng trong số đó sẽ có những động cơ, nguyên nhân có tính chất quyết định Cũng tương tự như vậy, có thể trong tâm lý của người phạm tội diễn ra nhiều kiểu suy nghĩ và tính toán nhưng sẽ có những đặc điểm tâm lý có tính chất quan trọng, quyết định đến việc hình thành động cơ thực hiện hành vi phạm tội Sự tác động quyết định, rõ nét của đặc điểm tâm lý đối với việc hình thành động

cơ, nguyên nhân thực hiện tội phạm là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của Tội phạm học khi nghiên cứu về tâm lý của người phạm tội

Vì giới hạn về dung lượng của khóa luận tốt nghiệp nên tác giả chỉ lựa chọn để nghiên cứu một số đặc điểm của tâm lý người phạm tội có tính chất điển hình như nhu cầu, hứng thú, định hướng giá trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật Còn các đặc điểm khác

Trang 23

của tâm lý như niềm tin, lý tưởng, tính cách, khí chất… là các đặc điểm tâm lý ít phổ biến, không điển hình, ảnh hưởng không rõ nét đối với hành vi phạm tội nên tác giả không lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu

1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc điểm tâm lý phổ biến, điển hình của người phạm tội ở góc độ Tội phạm học

Kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm Cụ thể như sau:

Trước hết, nghiên cứu đặc điểm tâm lý người phạm tội giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân và điều kiện của một tội phạm cụ thể Đây chính là những đặc điểm thể hiện rõ nhất các quan niệm, quan điểm, tính cách, lối sống tiêu cực hay nói cách khác thể hiện nhân cách, phẩm chất lệch lạc của một con người Các nhóm đặc điểm nhân thân khác không phải không có ý nghĩa trong cơ chế hành vi phạm tội nhưng nhóm đặc điểm phản ánh tâm

lý tiêu cực của người phạm tội có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội Chính việc hình thành những đặc điểm tâm lý tiêu cực này là tiền đề cho giai đoạn tiếp theo là giai đoạn làm phát sinh hành vi phạm tội

Tuy nhiên, một người dù có những phẩm chất, nhân cách xấu đến mấy nhưng nếu không có những yếu tố bên ngoài môi trường thuận lợi thì cũng không thể phát sinh tội phạm và ngược lại, những yếu tố môi trường dù thuận lợi đến mấy, nếu như con người không có những phẩm chất, nhân cách xấu, tâm lý tiêu cực thì cũng không thể phát sinh hành vi phạm tội Quan điểm này cũng đã được GS.TS Võ khánh Vinh khẳng định:

“ những điều kiện, những yếu tố của môi trường bên ngoài hay những quá trình tâm lý bên trong con người, dù ở mức độ bất lợi và xấu như thế nào đi chăng nữa, tự nó đều không phải là nguyên nhân và điều kiện của hành vi phạm tội cụ thể, mà phải là sự tương tác, kết hợp của hai loại yếu tố đó mới trở thành nguyên nhân và điều kiện của tội phạm

cụ thể” [24 – tr.44]

Như vậy, việc Tội phạm học đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố thuộc về tâm lý của người phạm tội và quá trình hình thành những đặc điểm tâm lý tiêu cực dẫn đến việc con

Trang 24

người thực hiện tội phạm sẽ giúp xác định được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể

Thứ hai, nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội Con đường trở thành tội phạm của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, có người do nhu cầu thiếu thốn tiền bạc, có người do tâm lý thích bạo lực hay đơn giản chỉ là do tinh thần bị kích động mạnh

mà không điều khiển được hành vi của mình mà phạm tội Từ những yếu tố khác nhau đó dẫn đến mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do mỗi người gây ra cũng không giống nhau Điều này đòi hỏi phải có một môi trường quản lí, giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý của người phạm tội, từ đó làm thay đổi cách nhìn nhận, thái độ của họ, giúp họ hình thành tâm lý, thái độ phù hợp với yêu cầu của xã hội Chính kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội sẽ là căn cứ để xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục cải tạo đối với người phạm tội

Thứ ba, nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong dự báo và phòng ngừa tội phạm Việc nghiên cứu những đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội cho phép xác định những đặc điểm ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với việc thực hiện hành vi phạm tội, vai trò, vị trí của mỗi đặc điểm trong cơ chế tâm lí

xã hội của hành vi phạm tội Đồng thời, chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của điều kiện xã hội đến việc hình thành tâm lý tiêu cực của người phạm tội Dựa vào đó có thể đưa ra được các dự báo về tình hình tội phạm cùng biện pháp, kế hoạch phòng ngừa tội phạm, loại trừ các điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh tội phạm, hạn chế các nhân tố có ảnh hưởng đến sự hình thành các đặc điểm tâm lý tiêu cực của con người

Tóm lại, việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội có ý nghĩa

to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn Đây là cơ sở đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm thích hợp để loại bỏ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến phạm tội của mỗi người; cũng như giúp xây dựng mô hình quản lí, giáo dục cải tạo phù hợp, tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập với xã hội

Trang 25

1.5 Tình hình nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong Tội phạm học nước ngoài

Tâm lý người phạm tội cũng như ảnh hưởng của tâm lý đối với việc hình thành nguyên nhân phạm tội là vấn đề được các nhà khoa học nước ngoài đề cập và nghiên cứu

từ nhiều thập kỷ trước Các nhà Tội phạm học đã cố gắng lý giải nguyên nhân tội phạm bắt nguồn từ vấn đề tâm lý của người phạm tội Từ đây hình thành nhiều nhánh khác nhau của các thuyết tâm lý trong Tội phạm học

Thời lỳ sơ khai của thuyết tâm lý quyết định, các nhà khoa học đã nghiên cứu hành

vi phạm tội theo hai hướng: hướng thứ nhất, nhấn mạnh hành vi phạm tội như là hành vi

có điều kiện, hướng thứ hai coi hành vi phạm tội như là sự rối loạn nhân cách hoặc là bệnh tâm thần về tâm lý

Sau đó, một số nhà khoa học khác đi theo con đường nghiên cứu, tìm hiểu về bệnh

học tâm lý (Psychopathology) Nhà nghiên cứu Nolan D.C Lewis đã coi: “Người phạm

tội như những người bình thường có cuộc sống theo thiên hướng bản năng, ham muốn, khát khao, có cảm xúc nhưng nếu một trong những khả năng nhận thức của anh ta rõ ràng kém hiệu quả sẽ dẫn đến sự kiềm hãm theo khuynh hướng nào đó Con người anh ta sẽ hoạt động theo hướng lệch lạc dẫn đến việc anh ta xung đột với pháp luật và các hình mẫu văn hóa của xã hội” [11– tr.101, 102]

Còn các nhà khoa học đi theo con đường Tội phạm học tâm thần (Psychiatric Criminology) như Hervey M Cleckley, Hans J Eysenck đã tập trung tìm hiểu mối liên hệ giữa tội phạm và nhân cách con người theo hai hướng: 1) Các loại nhân cách chống đối xã hội; 2) Loại nhân cách liên quan đến việc thực hiện tội phạm Quan điểm của Tội phạm học tâm thần cũng đã lý giải xu hướng cũng như động cơ phạm tội có liên quan đến loại nhân cách Tuy nhiên, “thuyết tâm lý quyết định” thực sự bùng nổ và bắt đầu có chỗ đứng quan trọng trong Tội phạm học từ khi xuất hiện những công trình nghiên cứu nổi tiếng về phân tâm học của Sigmund Freud

Trang 26

1.5.1 Thuyết phân tâm học

Sigmund Freud (1856-1939) là nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới và là cha đẻ của thuyết phân tâm học Ông coi tội phạm như là sự biểu hiện của bản năng và thiên hướng

tự nhiên bẩm sinh nằm sâu trong cá nhân Căn cứ theo Freud thì những ham thích không

tự giác (mà chủ yếu xuất phát từ các bản năng tình dục, công kích) thuộc khối vô thức nằm sâu trong tâm lý của con người làm cơ sở cho tác phong hành động của họ Những điều ham thích này là bẩm sinh, và nó bị kiềm nén bởi lý trí và ý chí (thuộc cái “siêu tôi”) của con người phù hợp với những chuẩn mực xã hội (đạo đức, pháp luật…) Cuối cùng hoạt động tâm lý của con người được xác định bởi những bản năng sinh vật học, đặc biệt

là bản năng sinh dục và sự chết

Bên cạnh đó, Sigmund Freud còn cho rằng sự thăng hoa không tương xứng có thể

là nguyên nhân khác dẫn đến tội phạm Đây là một quá trình tâm lý mà nhờ đó trạng thái tỉnh táo sẽ bị thay thế biểu tượng bởi một trạng thái khác Freud đã lấy ví dụ cho trường hợp này: một người đàn ông từ thuở nhỏ đến khi trưởng thành phải sống với một người

mẹ chuyên quyền, độc đoán Ông ta muốn độc lập nhưng không thể, nên căm ghét mẹ nhưng không dám bộc lộ thái độ của mình một cách trực tiếp với mẹ Người này muốn giải tỏa tình cảm căm ghét của mình với mẹ bằng cách tấn công những người phụ nữ khác

- những người mà anh ta suy nghĩ trong tâm thức sẽ thay thế cho biểu tượng nhân vật người mẹ

Ngoài ra, ông còn cho rằng chứng loạn thần kinh chức năng (neurois) cũng là một nguyên nhân dẫn đến tội phạm Cần lưu ý là không phải mọi người bị rối loạn thần kinh chức năng đều phạm tội, chỉ có một số người thuộc nhóm này thực hiện hành vi phạm tội

mà thôi

Thuyết phân tâm học ngay từ khi ra đời cho đến nay đã ảnh hưởng rộng khắp trên toàn thế giới Tuy nhiên, ngay từ thời đại của ông cho đến nay vẫn có nhiều quan điểm

Trang 27

phê phán và tranh luận với nội dung của thuyết phân tâm học Có nhiều học giả đã phê phán rằng, khi đề cập đến nguyên nhân của tội phạm Freud đã coi nhẹ vai trò của môi trường sống, vai trò của giáo dục cá nhân và đề cao tính quy định sinh học của hành vi tính dục Mặc dù vậy, công lao to lớn của Freud là không thể phủ nhận, đó là những đóng góp to lớn cho kho tàng tri thức của nhân loại [11 – tr.102, 108]

1.5.2 Thuyết hành vi

B F Skinner (1904-1990) là nhà tâm lý học hành vi xuất sắc, với cuốn “Về chủ nghĩa hành vi” (About behaviorism) (1974), ông trở thành nhà khoa học nổi tiếng trong lĩnh vực Tâm lý học và Tội phạm học “Thuyết hành vi” còn được gọi là thuyết về tác nhân kích thích dẫn đến hành vi của con ngưởi Trọng tâm của “thuyết hành vi” là hành vi của con người được quyết định bởi môi trường xung quanh Trong đó, môi trường đã tác động đến con người tạo nên sự quan tâm của các cá nhân, từ đó thúc đẩy họ thực hiện hành vi Khi một người thực hiện hành vi nhất định và được nhận phần thưởng hoặc nhận được sự phản hồi khen ngợi vì đã thực hiện hành vi đó sẽ khiến cho người đó vui vẻ, thoải mái và điều này sẽ kích thích làm cho hành vi đó xảy ra thường xuyên hơn, nghĩa là trong trường hợp này hành vi này sẽ được củng cố, tăng cường Ngược lại, nếu biện pháp trừng phạt được áp dụng đối với người thực hiện hành vi đó thì người này có tâm lý sợ bị trừng phạt nên hành vi này sẽ bị giảm Như vậy, sự phản ứng của cá nhân trong trường hợp này được gọi là hành vi có quan sát

Thuyết hành vi đã giải thích về nguyên nhân của tội phạm như sau: một người nào

đó thực hiện tội phạm là do họ tiếp nhận nhân tố kích thích từ môi trường xung quanh và điều này đã thúc đẩy họ thực hiện tội phạm Ví dụ: nếu một người nào đó nhận được sự cổ

vũ, khuyến khích của người hoặc nhóm người bên cạnh kích động họ việc thực hiện tội phạm thì họ sẽ thực hiện tội phạm Thuyết hành vi chỉ giải thích được phần nào nguyên nhân của tội phạm mà không giải thích được nguyên nhân của tội phạm trên diện rộng Thuyết này bị chỉ trích là quá đề cao tác động của môi trường xung quanh và coi nhẹ tự do

ý chí, sự lựa chọn của từng cá nhân [11 – tr.108, 110]

Trang 28

1.5.3 Thuyết bắt chước (Modeling theory)

Gabriel Tarde (1843-1904) là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Luật bắt chước (1890), So sánh tội phạm (1890), Kinh tế tâm lý (1902-1903)… Tuy nhiên, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Luật bắt chước” Ông cho rằng cơ sở của bất kỳ xã hội nào chính là sự bắt chước Trong xã hội, hành vi của mỗi người thực chất là bắt chước hành vi của người khác Đồng thời, ông cũng cho rằng người phạm tội là những người bình thường đã học theo (bắt chước) việc phạm tội từ người khác Từ đó, ông đã xây dựng

và phát triển lý thuyết của mình trong thuật ngữ “luật bắt chước” - nguyên tắc chi phối một người khiến anh ta đi vào con đường phạm tội Theo Gabriel Tarde, nguyên nhân của tội phạm là do một người đã bắt chước hành vi phạm tội của người khác mà người đó có

cơ hội quan sát

Sau đó, vào thập niên 50 của thế kỷ 20, thuyết bắt chước tiếp tục được phát triển Người có công đưa thuyết này phát triển ở mức cao hơn là Albert Bandura - nhà Tâm lý học, Tội phạm học xuất sắc Theo ông, hạt nhân của thuyết bắt chước là mọi người học cách hành động như thế nào trên cơ sở quan sát được từ người khác Albert Bandura đã làm nhiều cuộc nghiên cứu thực nghiệm Trong đó, ông cho trẻ em quan sát những hành vi bạo lực của người lớn như xem phim bạo lực hoặc nhìn một số người lớn đánh liên tiếp vào người trộm Kết quả là ông thấy những em này sau khi xem thường xuyên cảnh bạo lực thì có tâm lý rất dễ nổi nóng, sự kiềm chế kém và bắt chước rất nhanh các hành vi bạo lực học từ người lớn Bên cạnh đó, ông còn cho rằng tâm lý dễ nổi nóng cũng như tâm lý thích bắt chước hành vi bạo lực của trẻ em còn do sự khuyến khích, tác động của người khác

Thuyết bắt chước đã đặt ra nhiều vấn đề cần thực hiện để phòng ngừa tội phạm như: bố mẹ cần kiểm soát chặt chẽ con cái và không nên có hành vi xấu, dễ làm con cái bắt chước như hành vi bạo lực gia đình; cần kiểm soát nghiêm ngặt phim ảnh bạo lực… Tuy nhiên, thuyết này bị chỉ trích là đề cao vai trò của tác động môi trường sống và coi nhẹ quá trình tự rèn luyện, tu dưỡng của từng cá nhân Tuy nhiên, điều này không thể phủ

Trang 29

nhận vai trò to lớn của thuyết này đối với sự phát triển của tội phạm học [11 – tr.110, 113]

Ngoài các thuyết tâm lí trên, còn có một số quan điểm thuộc trường phái Nhân chủng học tội phạm có nghiên cứu về tâm lý của người phạm tội trong ảnh hưởng đối với nguyên nhân hình thành tội phạm, mặc dù hầu hết các quan điểm thuộc trường phái này là

đề cao vai trò quyết định của các yếu tố sinh học khi lí giải nguyên nhân hình thành tội phạm

1.5.4 Trường phái nhân chủng học (Anthropologie criminelle)

Sử dụng phương pháp thực chứng để nghiên cứu về tội phạm, Enrico Ferri (1856 - 1929) không cho rằng chỉ có các đặc điểm thể chất bẩm sinh là nguyên nhân của tội phạm (nguyên nhân loại cơ thể) mà bên cạnh đó còn có các yếu tố kinh tế - xã hội cũng có vai trò quyết định đối với việc thực hiện tội phạm Người phạm tội không lựa chọn việc phạm tội mà là bị hướng đến việc phạm tội do điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống xung quanh họ chi phối Ngoài nguyên nhân kinh tế - xã hội, Ferri còn cho rằng các đặc điểm tâm lý tiêu cực của con người cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm của một cá nhân như: lòng hận thù, sự tham lam, tính lười biếng, ích kỷ, kiêu căng, tự phụ… Ông cho rằng người phạm tội có tâm lý rất dễ lung lay và xuôi theo xu hướng phạm tội cũng như sự cám dỗ phạm tội để thực hiện tội phạm Với những nghiên cứu của mình, Enrico Ferri đã chia Tội phạm học thực chứng thành hai hướng: Tội phạm học thực chứng sinh học (mà Lombroso là người đứng đầu) và Tội phạm học thực chứng xã hội – tâm lý (Enrico Ferri

là người đứng đầu) [10 – tr.43, 45]

Enrico Ferri đưa ra nhận thức mới về nguyên nhân tội phạm đó là các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội cùng nhau tác động tạo nên nguyên nhân của tội phạm Nhưng ông nhấn mạnh yếu tố kinh tế - xã hội và tâm lý hơn

Một nhà khoa học khác có quan điểm về nguyên nhân tội phạm gần giống như quan điểm của Enrico Ferri là Reffaele Garofalo (1852 - 1934) Ông là người đầu tiên đưa

ra thuật ngữ “tội phạm học” vào năm 1885 Đóng góp lớn nhất của ông là “thuyết tội phạm bẩm sinh” hay còn gọi là “tội phạm tự nhiên” dùng để giải thích hai loại tội phạm là

Trang 30

tội phạm bạo lực và tội phạm xâm phạm tài sản Ông cho rằng hành vi phạm tội không chỉ

do những đặc điểm thể chất bẩm sinh mà còn do các đặc điểm tâm lý bẩm sinh dẫn đến hành vi lệch lạc, trong đó có hành vi phạm tội Ông cho rằng tội phạm bẩm sinh là những người có nhược điểm trong quan niệm đạo đức Họ không có tính liêm khiết, tức là không

có sự tôn trọng quyền sở hữu của người khác cũng như không có sự sợ hãi đối với sự trừng phạt của người khác Vì vậy, họ không thể kiềm chế không thực hiện các loại tội phạm về sở hữu và bạo lực Quan điểm của ông về tội phạm bẩm sinh sau này bị nhiều nhà Tội phạm học chỉ trích, trong đó có các nhà Tội phạm học xã hội chủ nghĩa [10 – tr.45, 46]

Việc cho rằng tội phạm là do các đặc điểm tâm lý bẩm sinh dẫn đến hành vi lệch lạc, trong đó có hành vi phạm tội khiến các nhà Tội phạm học sau này thực hiện các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đối với yếu tố tâm lý dẫn đến việc thực hiện tội phạm ở người phạm tội

Tóm lại, trên đây là các quan điểm cũng như các thuyết nghiên cứu có đề cập đến vấn đề tâm lý của người phạm tội, cũng như các lí giải nguyên nhân phạm tội từ góc độ tâm lý Giá trị của các học thuyết nêu trên là rất khác nhau đối với việc tìm hiểu về nguyên nhân của hành vi phạm tội dưới góc độ tâm lý để từ đó áp dụng vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm Thuyết hành vi và thuyết bắt chước có vai trò to lớn trong việc lý giải nguồn gốc của hành vi phạm tội bởi các thuyết này có góc độ nghiên cứu mang tính chất duy vật, tìm hiểu nguồn gốc của hành vi phạm tội trong sự tương tác giữa các đặc điểm tâm lý của con người với điều kiện khách quan bên ngoài Còn thuyết phân tâm học

có tính chất duy tâm, thuyết nhân chủng học - thực chứng theo quan điểm duy vật chất phát… trong nghiên cứu tâm lý nên không có độ tin cậy Vì thế, các thuyết này không được khuyến khích nghiên cứu ở Việt Nam

Qua việc tìm hiểu các quan điểm cũng như các học thuyết này, ta thấy chúng không chỉ nghiên cứu tâm lý người phạm tội ở các khía cạnh như nhu cầu, hứng thú, định hướng giá trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật… như trong Tội phạm học Việt Nam mà còn có sự mở rộng xem xét ở các khía cạnh khác Chẳng hạn như, nhìn tâm lý của người

Trang 31

phạm tội ở góc độ sinh học, xem xét tâm lý người phạm tội dưới dạng là tâm lý bắt chước hay nghiên cứu tâm lý người phạm tội trong mối liên quan tới các bệnh lý về tâm thần, loạn thần kinh chức năng… Như vậy, nếu chỉ nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong phạm vi như trong Tội phạm học nước ta hiện nay là tập trung vào một số đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội thì còn chưa hiểu được sâu sắc và đầy đủ nhất về tâm lý người phạm tội Vì vậy, kiến nghị rằng Tội phạm học nước ta nên mở rộng hơn nữa phạm vi tìm hiểu, nghiên cứu về tâm lý người phạm tội cả về mặt sinh học và xã hội, từ những đặc điểm tâm lý mang tính chất điển hình, có tác động quan trọng đến cơ chế hành vi phạm tội đến cả những đặc điểm tâm lý có ảnh hưởng ít hơn nhưng cũng có tác động đến nguyên nhân hình thành tội phạm

Trang 32

CHƯƠNG2 NỘI DUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI

2.1 Nhu cầu

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm

Nhu cầu là một trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách con người Nó không chỉ là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học mà còn của Tội phạm học, bởi nhu cầu là một trong những đặc điểm tâm lý điển hình của người phạm tội có ảnh hưởng quan trọng trong

cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, nhu cầu được tìm hiểu theo những tiêu chí không giống nhau, tuy nhiên, khái niệm về nhu cầu cũng gần như đồng nhất giữa các ngành khoa học

Trong Tâm lý học, nhu cầu được hiểu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Nhu cầu gây cho con người cảm giác đang ở trong trạng thái thiếu thốn và cá nhân tìm mọi cách để đáp ứng, thỏa mãn nó Cùng quan điểm như trên, nhà Tâm lý học Nga A G Covaliop viết: nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và của nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển Nhu cầu quy định hướng lựa chọn của ý nghĩ, rung cảm và ý chí của con người Nó quy định hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội

và của cả một giai cấp, một dân tộc, một thời đại [38 – tr.193]

Nhu cầu của con người có các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng, không có giới hạn, cũng không bao giờ cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn Nhà Tâm lý học Nenman đã đưa ra nhận định có tính chất quy luật về nhu cầu như sau: hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu kia trở nên bức xúc hơn Con người không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu Sự ước muốn của con người là vô tận dẫn đến hoạt động bất tận

Thứ hai, nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể Trong tâm lý con người thì đối tượng của nhu cầu được nhận thức dần dần Khi đối tượng của nhu cầu được nhận thức

Trang 33

đầy đủ, tất yếu phải thực hiện thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người nhắm tới đối tượng [11 – tr.290]

Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng nhưng Tâm lý học thường phân chia

nhu cầu thành hai nhóm lớn: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội Trong đó, nhu cầu tự

nhiên hay còn gọi là nhu cầu vật chất, nhu cầu tất yếu là loại nhu cầu gắn liền với sự tồn tại của sinh học cơ thể như: nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu sinh lý bảo tồn nòi giống… Tuy nhiên, những nhu cầu này ở con người đã được xã hội hóa Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người, chính nó thúc đẩy sự tồn tại cá nhân và hoạt động đời sống sinh học

và sáng tạo của con người, tái sản xuất ra con người và của cải vật chất

Nhu cầu tự nhiên nói chung có giới hạn về lượng và có tính chu kỳ rõ rệt, có nghĩa

là nhu cầu nào đó của nhóm này thỏa mãn không phải là nó đã kết thúc Ví dụ: ăn no rồi sau một thời gian lại thấy đói Đặc điểm của nhóm nhu cầu này là sự “căng thẳng” càng mạnh thì cường độ càng lớn, nhưng khi thỏa mãn đến đỉnh cao thì lại cảm thấy chán nán, mệt mỏi Ví dụ: khi đói thì rất muốn ăn nhưng khi no rồi thì nhìn thấy đồ ăn lại thấy chán [17 – tr.128]

Còn nhu cầu xã hội hay còn gọi là nhu cầu tinh thần là loại nhu cầu chủ yếu do tâm

lý tạo nên, nói lên bản chất xã hội của con người Có thể nêu một vài loại cụ thể trong nhóm nhu cầu tinh thần như: nhu cầu lao động, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu tình cảm, nhu cầu học tập… Nhóm nhu cầu này có đặc điểm là rất khó đo lường, không có giới hạn, được thể hiện thông qua sự hiểu biết về thế giới, xã hội, thẩm mỹ… Những nhu cầu này thường sâu và bền

Tội phạm học dựa trên những nghiên cứu cơ bản của Tâm lý học về nhu cầu để nghiên cứu chuyên sâu hơn về nhu cầu của người phạm tội Khái niệm nhu cầu trong Tội phạm học cũng gần như trùng khớp với khái niệm nhu cầu vừa được nêu ở trên

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về nhu cầu của người phạm tội thì Tội phạm học nhận thấy một số đặc trưng như sau:

Thứ nhất, nhu cầu của người phạm tội có tính nghèo nàn, hạn hẹp Những nhu cầu của họ thường chỉ tập trung vào một số loại như: nhu cầu ăn, ngủ, sinh dục, nhu cầu giao

Trang 34

tiếp, nhu cầu tình cảm… mà ít có các nhu cầu lao động, học tập, nhu cầu nhận thức, nhu cầu về sự công bằng… Trong khi đó, ở người bình thường, hệ thống các nhu cầu là vô cùng phong phú và đa dạng, thể hiện tính xã hội hóa ở mức cao

Thứ hai, nhu cầu của người phạm tội có sự mất cân đối, ở họ có sự đòi hỏi cao các nhu cầu thuộc cấp độ thấp như các nhu cầu sinh lý, nhu cầu vật chất mang tính thực dụng, cực đoan

Thứ ba, ở người phạm tội thường tồn tại những nhu cầu biến dạng đi ngược lại những chuẩn mực của đạo đức và pháp luật, mang tính suy đồi, thiếu lành mạnh và biện pháp thỏa mãn các nhu cầu đó là vô đạo đức và vi phạm pháp luật Đây là đặc trưng quan trọng trong nhu cầu của người phạm tội bởi: mặc dù nhu cầu là nguyên nhân sâu xa bên trong của hành vi, kể cả hành vi phạm tội, song không tồn tại nhu cầu phạm tội Một người bị coi là người phạm tội không phải vì người đó cần phải thỏa mãn một nhu cầu nào

đó của mình, mà bởi vì họ đã lựa chọn phương thức thỏa mãn các nhu cầu của mình (trong

đó có các nhu cầu lệch lạc) bằng việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trong khi

đó họ có đủ điều kiện về chủ quan và khách quan để quyết định một hành vi khác phù hợp với các chuẩn mực xã hội

Thứ tư, nhu cầu của người phạm tội thường vượt quá khả năng đáp ứng của họ Ở người phạm tội thường có sự đòi hỏi cao, tập trung vào một số nhu cầu vật chất, nhu cầu mang tính chất cực đoan nhưng khả năng của họ hạn chế, không có phương thức thỏa mãn nhu cầu hợp pháp dẫn đến việc họ thực hiện các hành vi phạm tội

Trên đây là những hiểu biết chung nhất về nhu cầu của người bình thường nói chung, của người phạm tội nói riêng Qua đó, ta hiểu được nhu cầu là gì, các loại nhu cầu phổ biến, cũng như các đặc trưng riêng của nhu cầu của người phạm tội Để hiểu sâu hơn nữa về nhu cầu, chúng ta cần thiết phải nắm được nguồn gốc hình thành của nhu cầu là do bẩm sinh, do tác động xã hội mà hình thành hay là do cả hai yếu tố này tác động Khi hiểu

rõ được nguồn gốc hình thành nhu cầu thì ta mới có thể có hiểu biết về nguyên nhân hình thành hành vi nói chung và hành vi phạm tội nói riêng Dựa theo đó mà đề ra biện pháp phòng ngừa hành vi phạm tội

Trang 35

2.1.2 Nguồn gốc hình thành nhu cầu

Nhu cầu của con người vừa có nguồn gốc tự nhiên vừa có nguồn gốc xã hội Nội dung của nhu cầu là do cấu trúc sinh lý, những điều kiện tự nhiên và xã hội, những phương thức thỏa mãn nó quy định Chẳng hạn như những nhu cầu như ăn, ngủ, sinh dục… của mỗi con người đều cơ bản giống nhau, đó là do xuất phát từ bản chất của con người cũng là sinh vật như các loài sinh vật khác Tuy nhiên, nhu cầu của con người khác

xa về bản chất so với nhu cầu của con vật, nhu cầu của con người mang tính bản chất của cái tự nhiên và cái xã hội và là khả năng điều chỉnh xã hội - tự nhiên của nhân cách Ở động vật, sự thỏa mãn nhu cầu hoàn toàn bản năng và lệ thuộc vào thế giới bên ngoài Chúng không biết lao động sáng tạo mà chỉ sử dụng những gì có sẵn trong tự nhiên để thỏa mãn các nhu cầu của chúng Còn con người thì luôn luôn ý thức được các nhu cầu của mình Con người không ngừng lao động sáng tạo làm ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình ngày một tốt hơn Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, động vật chỉ

có những nhu cầu vật chất gắn liền với bản năng sinh tồn của chúng Còn ở con người, ngoài những nhu cầu vật chất thì còn có những nhu cầu được nảy sinh và hình thành trong điều kiện xã hội như: nhu cầu tinh thần, nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội…

Nhu cầu của con người được hình thành và phát triển trong những điều kiện xã hội

và lịch sử nhất định, trong quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân Nó chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội mà con người tham gia và mức độ phát triển của xã hội

Do đó, hoạt động và lối sống của con người để lại dấu ấn trong hệ thống nhu cầu của họ

Nhu cầu có tính tất yếu, phụ thuộc vào chu kỳ, tuổi, điều kiện lịch sử, tự nhiên - xã hội của cá nhân Chính vì thế, tuy cùng chung sống trong một xã hội nhưng nhu cầu thỏa mãn cái tự nhiên và cái xã hội của mỗi người rất khác nhau Đó là kết quả của di truyền, của giáo dục và rèn luyện trong quá trình phát triển loài người và ý thức xã hội trong mỗi

cá nhân

Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý vừa mang tính động cơ lại vừa có sự bền vững ổn định, được hình thành và phát triển gắn bó với suốt quá trình sống của con người Ở con người có thể hình thành những nhu cầu phong phú, lành mạnh đồng thời cũng có thể có

Trang 36

những nhu cầu lệch chuẩn Nhu cầu sai lệch và phương thức thỏa mãn trái pháp luật sẽ dẫn đến hành vi phạm tội Như vậy, nguồn gốc hình thành nhu cầu của người phạm tội cũng giống như ở người bình thường, đó là bắt nguồn từ bản chất tự nhiên và bản chất xã hội của con người Nhưng khác với người bình thường, nhu cầu của người phạm tội thường được hình thành và phát triển trong môi trường xã hội có nhiều ảnh hưởng tiêu cực Đó có thể là do môi trường giáo dục chưa phù hợp của gia đình, nhà trường và xã hội,

do ảnh hưởng xấu của các mối quan hệ xã hội mà người phạm tội tham gia vào…

Sau đây tác giả xin nêu một ví dụ cho loại nhu cầu lệch lạc được hình thành do ảnh hưởng của môi trường xã hội mà người phạm tội tham gia vào:

Không biết từ bao giờ, trong giới lắm tiền nhiều của đã hình thành quan niệm có thể giải đen hoặc làm cho chuyện làm ăn thuận lợi bằng cách “quan hệ” với gái trinh Chính từ quan niệm kì quái này dẫn đến hệ lụy đó là những cô gái còn trong trắng đã trở thành món hàng cao cấp được các má mì săn lùng chuyên để phục vụ các đại gia Cho rằng việc có được trinh tiết của bé gái, công việc làm ăn sẽ thuận buồm xuôi gió, ông Trần Văn T (47 tuổi), một doanh nhân khá thành đạt ở Lạng Sơn, chuyên xuất khẩu hàng đông lạnh sang Trung Quốc, đã bỏ 20 triệu đồng để mua "cái ngàn vàng" Trong các buổi làm

ăn với một số ông chủ lớn ở bên kia biên giới, ông T được rỉ tai, lấy trinh bé gái sẽ gặp vận đỏ, công việc buôn bán hanh thông Thế là thông qua má mì Hoàng Thu T (17 tuổi, trú tại xã Yên Trạch, Cao Lộc), ông T đã mua trinh một bé gái với giá 20 triệu đồng Ngoài ra, hẳn nhiều người vẫn còn nhớ vụ án Lương Quốc D, nguyên Phó Chủ niệm Ủy ban Thể dục Thể thao, một người đã có học vị Tiến sỹ, giữ trọng trách cao nhưng vẫn ấu trĩ, bệnh hoạn, bỏ tiền mua trinh cô bé mới lớn để giải đen

Dưới góc độ của y học, những kẻ có quan niệm mua trinh trẻ vị thành niên giải đen được các nhà khoa học nhìn nhận như một biểu hiện của sự lệch lạc nhu cầu tình dục Xuất phát từ bản chất tự nhiên của nam giới, những đối tượng này cảm thấy chỉ thỏa mãn

và đạt được khoái cảm khi quan hệ tình dục với những cô gái còn trinh Tâm lý chiếm lĩnh, muốn thể hiện bản lĩnh đàn ông, muốn chứng tỏ ta đây thừa tiền, thích phô trương, muốn thể hiện đẳng cấp của mình đã khiến không ít đại gia sẵn sàng bỏ tiền ra mua trinh

Trang 37

gái trẻ Phân tích về việc nhiều đại gia sẵn sàng vung tiền hoặc làm đủ trò bỉ ổi để chiếm đoạt được “trinh” gái trẻ, Tiến sỹ tâm lý Nguyễn Kim Qúy cho rằng: Trước hết, đó là xuất phát từ chuyện mê tín mà có nguồn gốc từ Trung Quốc - rằng phá được trinh gái trẻ sẽ giúp xua đuổi được vận đen Ở Việt Nam, những kẻ lắm tiền nhiều của cũng học đòi giải đen theo cách này.Theo bà Quý, không hiếm những trường hợp bị thầy bói xui khiến, nhiều đại gia đã mù quáng tin theo dù chuyện này không hề có cơ sở khoa học nào Cũng

có những đại gia khi công việc làm ăn đang lụi bại, giữa lúc chơi vơi không biết phải làm

gì để cứu vãn tình thế, khi được mách nước, họ sẵn sàng làm theo chỉ dẫn phải mua trinh gái trẻ để giải đen [36]

Như vậy, qua ví dụ này ta thấy được nguồn gốc của nhu cầu lệch lạc của người phạm tội được hình thành một phần là do bản chất tự nhiên của con người đòi hỏi, nhưng phần quyết định là do ảnh hưởng của các quan niệm xã hội lệch lạc, do hoàn cảnh xã hội

mà người phạm tội đang trải qua Chính từ nhu cầu mang tính lệch lạc, trái chuẩn mực xã hội cùng với cách thức thỏa mãn nhu cầu trái pháp luật của người phạm tội dẫn đến người phạm tội đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật

2.1.3 Vai trò của nhu cầu đối với hành vi phạm tội

Cơ sở của động cơ là hệ thống nhu cầu Tuy nhiên, không phải bất cứ nhu cầu nào cũng trở thành động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi Khi nhu cầu không được thỏa mãn và gặp sự tác động tương thích của điều kiện bên ngoài thì nó sẽ trở thành động cơ Quá trình này Tâm lý học gọi là “động cơ hóa” Chẳng hạn, nhu cầu “ăn” khi đang được thỏa mãn thì bạn chưa để ý đến nó, nó chưa trở thành động cơ Không được thỏa mãn nó

sẽ thúc đẩy bạn hành động Lúc này, nhu cầu mới trở thành động cơ của hành động

Theo bậc thang nhu cầu của A Maslow, các động cơ thúc đẩy hoạt động được tổ chức theo bậc thang nhu cầu Đó là một sự sắp xếp hệ thống các nhu cầu theo thứ tự ưu tiên sao cho các nhu cầu cơ bản cần được thỏa mãn trước các nhu cầu ít cơ bản hơn

Các nhu cầu này tổ chức theo hình chóp nón Đáy của hình chóp là những nhu cầu

cơ bản nhất, cần thiết cho sự tồn tại như ôxy, thức ăn, nước uống… khi chúng ta thỏa mãn

Trang 38

nhu cầu ở bậc này thì sự thỏa mãn đó sẽ kích thích tính bức xúc nhu cầu ở bậc thang kế tiếp [17 – tr.128]

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi tội phạm, Tội phạm học tập trung làm rõ sự ảnh hưởng của nhu cầu đối với việc làm phát sinh tính động cơ và ảnh hưởng của nhu cầu lên hành vi, lên cách xử sự của con người khi nó không được thỏa mãn Cội nguồn của hành vi phạm tội không phải ở bản thân nhu cầu mà là ở sự ý thức sai

về nhu cầu và con đường thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu của người phạm thường nghiêng về vật chất, vụ lợi nhưng không có khả năng được thỏa mãn bằng phương thức đúng đắn, vì vậy ở người phạm tội hình thành động cơ thỏa mãn những nhu cầu của mình với phương thức thỏa mãn lệch chuẩn xã hội Ví dụ như: nhu cầu tự khẳng định là nhu cầu quy luật của một nhân cách đang phát triển nhưng ở trẻ em hư lại thể hiện bằng hành động côn đồ càn quấy

Động cơ là nguyên nhân bên trong trực tiếp đưa con người đến quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Động cơ phạm tội biểu hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và của nhân cách người phạm tội, còn trong trường hợp phạm tội với lỗi

vô ý thì chỉ tồn tại động cơ ứng xử, nó không đóng vai trò là động lực thúc đẩy thực hiện tội phạm

Khi nhu cầu được nhận thức và so sánh nó với những điều kiện, công cụ, biện pháp thực hiện nhu cầu (con đường thỏa mãn nhu cầu) thì đó là lợi ích Lợi ích của con người là

xu hướng nhận thức đối tượng có ý nghĩa được cá nhân lựa chọn và có nội dung phong phú Con người chỉ thực hiện hành động khi có lợi ích Lợi ích của con người thể hiện mối quan hệ của con người với hiện thực nhưng nếu lợi ích vượt quá khả năng thì dễ hình thành động cơ phạm tội Ngoài ra, người phạm tội thường đem đối lập lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, xâm phạm tới lợi ích chính đáng, hợp pháp của người khác

Khi nghiên cứu về nhu cầu của người phạm tội, điều quan trọng là chúng ta phải xác định được nhu cầu mang tính chủ đạo và chi phối đời sống của người đó Khi đã xác định được nhu cầu nào là chủ đạo ở người phạm tội thì chúng ta sẽ đoán biết được động

cơ cũng như hành vi của người phạm tội Việc so sánh cấu trúc của hệ thống nhu cầu với

Trang 39

những biện pháp cá nhân có trong tay để thỏa mãn nhu cầu và hành vi thực tế của người

đó cho chúng ta thấy nguyên nhân của những hành vi phạm tội Chẳng hạn, đối với những người phạm tội có nhu cầu vật chất cao thì đa số họ thể hiện động cơ vụ lợi trong giao tiếp thông thường, ở những người này có sự khao khát đối với việc góp nhặt, tích lũy của cải

Sự hướng đến nhu cầu vật chất chiếm ưu thế tuyệt đối so với các nhu cầu khác Đối với những tội phạm có sử dụng bạo lực thì người phạm tội lại thường có sự khát khao khẳng định uy quyền của mình bằng bất cứ giá nào

Nhu cầu là một yếu tố tâm lý có ảnh hưởng quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội ở người phạm tội, nó có ảnh hưởng to lớn trong việc hình thành động cơ phạm tội Do

hệ thống các nhu cầu rất phong phú, đa dạng nên nhu cầu có vai trò, tác động đến nhiều loại tội phạm khác nhau Tuy nhiên, nhu cầu có ảnh hưởng rõ nét đối với một số loại tội phạm như sau:

Nhóm tội phạm liên quan đến sự biến dạng của hệ thống nhu cầu: nhu cầu biến dạng ở con người tức là nhu cầu lệch chuẩn xã hội, nhu cầu nghèo nàn, thấp kém, thích thói xấu và biện pháp đáp ứng nhu cầu là bất hợp pháp, kể cả việc phạm tội Chẳng hạn như nhu cầu sử dụng bạo lực nhằm thỏa mãn mâu thuẫn tình cảm, giải quyết xung đột, va chạm trong các tội phạm giết người, cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ, gây rối trật

tự công cộng Ở những người phạm tội có nhu cầu sử dụng bạo lực thường dựa vào sức mạnh thể chất hoặc các công cụ phạm tội như súng đạn, dao gậy, kiếm, mã tấu… để tấn công vào người bị hại nhằm làm mất khả năng phòng vệ, đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân để thỏa mãn mong muốn, đạt được mục đích của họ Ngoài ra còn có các nhu cầu bệnh hoạn, lệch lạc khác như: giao cấu với trẻ em, sử dụng ma túy…

Ví dụ: bản án HSST số 54/HSST ngày 26/4/2002 của TAND tỉnh Bến Tre: bị cáo

Võ Thanh Vũ, sinh ngày 29/4/1983 khi phạm tội còn là học sinh đã giết nạn nhân là Trần Thị Yến Ngân, sinh ngày 28/7/1984 bằng cách vừa bóp cổ vừa đè nạn nhân nằm úp xuống mặt nước Sau đó thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân để thỏa mãn nhu cầu nhục dục Đây là một biểu hiện của nhu cầu lệch lạc

Trang 40

Ở nhóm tội liên quan đến sự biến dạng nhu cầu không thể không đề cập đến các tội liên quan đến nhu cầu sinh dục như hiếp dâm, giao cấu với trẻ em… Nhu cầu lệch lạc về tình dục là nguyên nhân chính, phổ biến dẫn đến người phạm tội có động cơ thực hiện hành vi phạm tội để thỏa mãn nhu cầu của mình Thế nhưng một phần điều kiện môi trường bên ngoài cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhu cầu lệch lạc về tình dục ở người phạm tội, góp phần quan trọng trong việc hình thành động cơ và thực hiện hành vi phạm tội Theo phân tích của chuyên gia tâm lý, tri giác một sự vật hiện tượng tốt thì sẽ để lại một hình ảnh tâm lý tốt và ngược lại sẽ để lại một hình ảnh tâm lý xấu Cái gì xấu thì hay làm cho con người ta tò mò và rất dễ bắt chước Vì bắt chước điều xấu bao giờ cũng dễ hơn là học hỏi điều tốt Điều này có thể giải thích cho những hiện tượng tâm lý xấu đang ngày càng phát triển ở nước ta, trong đó có vấn đề về "tệ nạn" hiếp dâm Khoa học công nghệ đang phát triển rất nhanh nhưng đạo đức lại xuống cấp trầm trọng Điều này dẫn đến một hiện tượng tâm lý xã hội đang làm chúng ta không ít lần phải giật mình là nhiều nam thanh niên, cả người trung tuổi vì tò mò tặc lưỡi xem những hình ảnh khiêu dâm tràn lan trên mạng Internet để rồi dẫn đến hiện tượng đau lòng đó là nạn hiếp dâm, cưỡng bức Các chuyên gia tâm lý còn cho rằng, giáo dục giới tính ở Việt Nam hiện vẫn chưa được chú trọng Chính vì thiếu hiểu biết về tâm lý giới tính, về kiến thức quan hệ tình dục lành mạnh và an toàn nên một số thanh niên đã phạm tội hiếp dâm ngay

từ khi còn đang đi học Dưới góc độ của Tâm lý học, một nguyên nhân mang tính chủ quan cũng được chuyên gia tâm lý chỉ ra là, một bộ phận không nhỏ những cô gái ăn mặc quá hở hang và khiêu gợi Hình ảnh của những cô gái ấy sẽ tác động đến tri giác của những kẻ có ham muốn tình dục cao, làm cho họ dù không muốn nhưng cũng phải có cảm giác Và đương nhiên nó sẽ là hình ảnh "đáng lưu tâm" trong tâm sinh lý của những kẻ có ham muốn cao trong tình dục ấy, và nó góp phần không nhỏ để kích thích mạnh mẽ bản năng tính dục cùng với những phim ảnh thiếu lành mạnh Cách ăn mặc thiếu vải, khiêu gợi của các cô gái như là "mỡ nhử miệng mèo" Ngoài ra, những cảnh hôn nhau và đụng chạm quá giới hạn trong các bộ phim cũng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ Chính một số bộ phim Việt Nam sản xuất mới đây được phát trên VTV3 cũng thể hiện

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w