1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp việt nam

76 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các quy định này, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện thông qua nghĩa vụ của các chủ thể khác như cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đang nắm giữ thông tin

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HOÀI NHÂN

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 - NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI XUÂN HẢI Học viên: NGUYỄN THỊ HOÀI NHÂN – Khóa 17

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, nếu đã từng được công bố trong các công trình khác thì đều được trích dẫn nguồn cụ thể Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính xác thực này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoài Nhân

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật Dân sự 2005 Bộ luật số 33/2005/QH11 ngày 14/5/2004 của

Quốc hội quy định về dân sự Luật Doanh nghiệp 2005 Luật số 60/2005/QH11 ngày 12/12/2005 của Quốc

hội quy định về doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp 2014 Luật số 68/2014/QH13 ngày 16/11/2014 của Quốc

hội quy định về doanh nghiệp Luật Đầu tư 2014 Luật số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc

hội quy định về đầu tư Luật Kế toán 2003 Luật số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003 của Quốc

hội quy định về kế toán Luật Chứng khoán 2006 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày

29/06/2006 của Quốc hội quy định về chứng khoán

Luật Sở hữu trí tuệ Luật số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc

hội quy định về sở hữu trí tuệ Luật Bảo vệ môi trường 2014 Luật số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014 của Quốc

hội quy định về bảo vệ môi trường Luật Giá Luật số 11/2012/QH13 ngày 20/06/2012 của Quốc

hội quy định về giá Luật Bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng

Luật số 59/2010/QH12 ngày 01/7/2011 của Quốc hội quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng

Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Luật Cạnh tranh Luật số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của Quốc

hội quy định về cạnh tranh Luật Công chứng Luật số 53/2014/QH13 ngày 20/06/2014 của Quốc

hội quy định về công chứng

Trang 5

Nghị định 54/2000/NĐ-CP Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2010

của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Nghị định 177/2013/NĐ-CP Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2014

của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá

Thông tư 23/2005/TT-BTC Thông tư số 23/2005/TT-BTC ngày 30/03/2005

của Bộ tài chính hướng dẫn kế toán thực hiện sáu (06) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định

số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính

Thông tư 161/2007/TT-BTC Thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007

của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện mười sáu (16) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định

số 149/2011/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 và Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục từ viết tắt

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 7

1.2 Mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 10

1.3 Chủ thể nắm giữ thông tin và có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 14

1.3.1 Chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp 14

1.3.2 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 17

1.4 Giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 21

1.5 Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 27

1.5.1 Khái niệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 27

1.5.2 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 28

Kết luận Chương 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 32

2.1 Thực trạng quy định về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam 32

2.1.1.Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 32

2.1.2.Chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin 37

2.1.3.Nội hàm của quyền tiếp cận thông tin 41

2.1.4.Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 49

Trang 7

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp

Việt Nam 54

2.2.1 Sự cần thiết hoàn thiện quy định pháp luật về đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp 54

2.2.2 Một số kiến nghị cụ thể 56

Kết luận Chương 2 63

KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếp cận thông tin đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần phải bảo đảm đối với mọi công dân bởi thông tin được coi là yếu tố cốt yếu trong mọi hoạt động xã hội Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người, được quy định trong Nghị quyết số 59 của Liên Hợp Quốc theo

đó tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là nền tảng của tất cả các tự do khác Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì quyền tiếp cận thông tin ngày càng được chú trọng và một trong số những thông tin được xã hội quan tâm là thông tin về doanh nghiệp Sở dĩ có sự quan tâm như vậy bởi những hoạt động trong doanh nghiệp đang ngày càng ảnh hưởng sâu và rộng đến đời sống kinh tế của các

cá nhân trong xã hội đồng thời có khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia

Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp nói riêng cũng đang trở thành vấn đề được quan tâm của toàn xã hội Người dân có ý thức hơn đối với quyền này của mình và sử dụng chúng ngày càng nhiều trong cuộc sống Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được quy định trong một số văn bản pháp luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán, Luật Chứng khoán, Luật Môi trường v.v và một

số nghị định hướng dẫn Trong các quy định này, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện thông qua nghĩa vụ của các chủ thể khác như cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đang nắm giữ thông tin và thông tin về doanh nghiệp được quyền tiếp cận cũng chủ yếu được giới hạn trong quy định của pháp luật về những thông tin phải công bố hoặc cung cấp Việc quy định như vậy đã giới hạn rất nhiều các quyền của chủ thể quyền khi mà họ chỉ có thể tiếp cận thông tin một cách

bị động về cả cách thức và loại thông tin tiếp cận Ngoài ra, quy trình thủ tục để thực hiện quyền tiếp cận thông tin cũng như cơ chế giải quyết khiếu nại khi có hành

vi vi phạm vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng dẫn đến khó có khả năng áp dụng quyền này trên thực tế

Để có thể đảm bảo quyền này được đưa vào cuộc sống, pháp luật cần phải có quy định chặt chẽ, rõ ràng và thống nhất để các chủ thể quyền có thể thực hiện quyền của mình một cách thuận lợi nhất Chính những điều nêu trên, tác giả nhận thấy dưới góc độ pháp lý, vấn đề về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp vẫn

cần có sự nghiên cứu, đó là lý do tác giả chọn đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về

doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thực tế, quyền tiếp cận thông tin là đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu do các học giả, cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước thực hiện như: đề tài của Nhóm tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Phạm Hồng Thái - Vũ Công Giao - Trịnh Quốc

Toàn - Lã Khánh Tùng (2011), Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực tiễn trên thế

giới và ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; đề tài cấp bộ của

PGS.TS Thái Vĩnh Thắng năm 2011: “Cơ sở lý luận và thực tiến của việc hoàn

thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin”, đề

tài của GS.TS Nguyễn Đăng Dung và TS Vũ Công Giao (2011), “Dự thảo Luật

tiếp cận thông tin của Việt Nam: phân tích, so sánh với Luật mẫu của Article 19 và luật của một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2; đề tài của

Nguyễn Đăng Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam

và một số quốc gia, Nxb Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh

Ngoài ra, các công trình khoa học pháp lý về lĩnh vực quyền tiếp cận thông tin cũng được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật như: Thái Thị Tuyết Dung (2010), “Quá trình phát triển của

quyền tiếp cận thông tin”, Tạp chí khoa học pháp lý (Số 4(59)/2010); Phan Huy

Hồng (2013), “Quyền và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong luật quốc tế, luật

nước ngoài và luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý (Số 1/2013); Bùi Thị Hải (2014), “Về quyền tiếp cận thông tin hiện nay”, Quản lý nhà nước (Số 226/2014);

Thái Vĩnh Thắng (2016), “Bàn về một số vấn đề liên quan đến luật tiếp cận thông

tin”, Nghiên cứu lập pháp (Số 02/2016)

Bên cạnh đó có rất nhiều Hội thảo trong nước được tổ chức nhằm nghiên cứu

về quyền tiếp cận thông tin, như: Hội thảo “Quyền tiếp cận thông tin – Lý luận và

thực tiễn ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị

Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Đại sứ quán Anh tổ chức vào

tháng 1 năm 2008 tại Hà Nội Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức Hội thảo “Xây dựng

Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam” tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2009

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên của các tác giả chủ yếu tiếp cận vấn đề về quyền tiếp cận thông tin công như thông tin về pháp luật, chính sách cũng như nghĩa vụ công bố/cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước

Liên quan đến quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, quyền này được nghiên cứu trong những công trình nghiên cứu như: Đinh Thị Kiều Trang (2009),

Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học Luật TP.HCM; Đề tài

Trang 10

của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013),

Bảo vệ cổ đông thiểu số: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị sửa đổi luật doanh nghiệp, do tác giả Phan Đức Hiếu là chủ nhiệm đề tài; Đề tài của Viện Nhà

nước và Pháp luật – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2015), Bảo vệ nhà

đầu tư theo pháp luật Việt Nam hiện nay, do tác giả Ngô Vĩnh Bạch Dương là chủ

nhiệm đề tài

Ngoài ra các công trình khoa học pháp lý về lĩnh vực quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp cũng được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật hoặc trong các Hội thảo chuyên ngành như: Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty

Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, (số 4 (41)/2007); Nguyễn Văn Vân (2010),

“Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán”, Tạp chí Khoa học pháp lý

(số 2/2010); Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” do Khoa Luật thương mại-Trường Đại học Luật

Tp.Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 09 tháng 5 năm 2010 tại Tp.Hồ Chí Minh; Phan Thị Thành Dương (2013), “Quyền tiếp cận thông tin tín dụng của công ty truyền

thông tín dụng ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý (số 04(77)/2013); Nguyễn

Hữu Đương (2015), “Luật doanh nghiệp mới và những hạn chế tiếp cận thông tin

doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng”, Tạp chí Ngân hàng (số

22/2015)

Tác giả nhận thấy các công trình trên được nghiên cứu công phu tuy nhiên nội dung chủ yếu của các công trình này chỉ đề cập đến quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp như là một giải pháp để giải quyết một số vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu mà chưa đi sâu để nghiên cứu, phân tích quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp từ mặt cơ sở lý luận đến thức trạng pháp luật

Nói tóm lại, quyền tiếp cận thông tin nói chung và quyền tiếp cận thông tin

về doanh nghiệp nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng các tác giả hầu như chỉ tập trung vào phân tích quyền tiếp cận thông tin công tức thông tin mà cơ quan nhà nước đang nắm giữ hoặc dù có đề cập đến quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp nhưng mức độ nghiên cứu chưa sâu và chỉ giới hạn trong một phạm vi rất nhỏ của công trình nghiên cứu mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập về khía cạnh pháp lý của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp để đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, góp phần đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh

nghiệp trên thực tế Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về doanh

Trang 11

nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình với

mong muốn góp phần làm rõ thêm các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề này, cũng như xác định nguyên nhân và gợi ý một số giải pháp để thực thi có hiệu quả những quy định về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tiếp thông tin về doanh nghiệp

Để đạt mục đích nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Phân tích các vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, làm rõ mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, làm rõ giới hạn quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp đồng thời làm rõ khái niệm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp và ý nghĩa của việc bảo đảm này

- Phân tích, đánh giá thực trạng của các quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp; phân tích một số vụ việc xảy

ra trên thực tế liên quan đến nghĩa vụ công bố/cung cấp thông tin của chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp cũng như quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

4 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định pháp luật doanh nghiệp về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp ở Việt Nam

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu là Luật Doanh nghiệp 2014 liên quan đến quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp – diễn dịch, phương pháp chứng minh, phương pháp so sánh v.v cụ thể:

Trang 12

Chương 1: tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh

Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kiến thức có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các khái niệm, các phạm trù có tính lý luận của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Phương pháp chứng minh được sử dụng khi đưa ra các tài liệu và dẫn chứng thực tế để làm rõ vấn

đề mang tính lý luận được đề cập trong luận văn

Chương 2: tác giả sử dụng phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh

Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ những nội dung, nội hàm, ý nghĩa của quy định pháp luật, từ đó đánh giá điểm hợp lý và chưa hợp lý của các quy định pháp luật Tác giả sử dụng phương pháp chứng minh thông qua việc đưa các thông tin, các ví dụ thực tế có tính chất điển hình để minh chứng cho những nhận định, đánh giá của tác giả Phương pháp so sánh được sử dụng khi dẫn chiếu đến quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau và phần thực trạng pháp luật khi đối chiếu quy định về cùng vấn đề ở các văn bản pháp luật v.v

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Về lý luận: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý

luận về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

Về thực tiễn: kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc xây

dựng và thực hiện quy định về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh Luật tiếp cận thông tin đang được xây dựng; có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và các đối tượng khác quan tâm đến vấn đề được nghiên cứu

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, Luận văn được chia thành các phần chính sau:

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TIẾP CẬN

THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận như một trong những quyền cơ bản của con người và được các văn kiện quốc tế sắp xếp trong nhóm các quyền dân sự

và chính trị Trong phiên họp thứ nhất, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua

Nghị quyết số 59 (1), quy định: “tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là

nền tảng của tất cả các tự do khác” Tiếp đó, tại Khoản 2 Điều 19 của Tuyên ngôn

thế giới về quyền con người 1948 quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận,

quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, thông qua truyền miệng, bằng bản viết, hoặc bản in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông nào tùy theo sự lựa chọn của họ” Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

năm 1966 cũng khẳng định mọi người có quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt ý tưởng không kể biên giới quốc gia1 Như vậy, điều đó cho thấy rằng ai cũng có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận thông tin về những vấn đề đang diễn ra trong mọi lĩnh vực và trong đó có thông tin về doanh nghiệp Nói theo cách khác, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là một phạm trù pháp lý xuất phát từ quyền con người

Mặc dù quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là quyền được xuất phát từ quyền con người nhưng quyền này chỉ thực sự được quan tâm khi xuất hiện sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control) trong xu hướng phát triển của các công ty hiện đại2

Theo xu hướng này, quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như quan hệ đại diện, theo đó các cổ đông (những người chủ thực sự) bổ nhiệm, chỉ định người khác, ở đây là người quản lý công ty, để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Tuy nhiên, lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở

để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất

Trang 14

cho người chủ, tức các cổ đông và công ty3 Vì vậy, cổ đông cần phải sử dụng các

cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản

lý công ty Một trong những cơ chế đó là thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty Vì lý do đó quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được

ra đời như là một cơ chế giám sát của cổ đông Qua phân tích trên có thể thấy rằng, chính nhu cầu thực hiện hoạt động giám sát của cổ đông là cơ sở đầu tiên để quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được chú ý và trở thành quyền quan trọng sau này

Có quan điểm cho rằng, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tự do tiếp nhận và tự do phổ biến thông tin4 Theo tác giả, cách hiểu như vậy vượt ngoài khuôn khổ của quyền tiếp cận thông tin Ở góc độ

ngữ nghĩa, thì “tiếp cận” là một động từ có nghĩa là từng bước, bằng phương pháp

nhất định, tìm hiểu về một vấn đề, công việc nào đó Việc tiếp cận chỉ nằm ở phương diện hướng chủ thể đạt đến mục đích thu thập thông tin mà không đề cập đến vấn đề sử dụng thông tin Tức vấn đề tiếp cận thông tin không bao hàm nội dung phổ biến thông tin Như vậy nội hàm quyền tiếp cận thông tin chỉ bao gồm quyền tiếp nhận thông tin và quyền tìm kiếm thông tin, trong đó:

Quyền tiếp nhận thông tin hàm ý khả năng chủ thể quyền nhận được những

thông tin cần thiết qua các kênh truyền thống công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu Quyền này gắn liền với trách nhiệm của chủ thể có nghĩa vụ công khai những thông tin và hoạt động của mình một cách thường xuyên Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này vừa mang tính chủ động, vừa mang tính bị động Tính chủ động ở chỗ có thể tự tìm kiếm những thông tin nào phục vụ nhu cầu của mình nhưng lại phải phụ thuộc vào số lượng, nội dung, chất lượng thông tin công khai của chủ thể mang nghĩa vụ - đây thể hiện tính bị động của chủ thể quyền Về phía chủ thể của nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính chủ động bởi chủ thể quyền có thể tự mình lựa chọn và quyết định thông tin nào công khai không phụ thuộc vào bất kỳ yêu cầu của chủ thể nào khác

Quyền tìm kiếm thông tin đề cập đến khả năng của các chủ thể quyền được

yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà mình cần hoặc quan

3

Bùi Xuân Hải , Tlđd 2, tr.23-30

4 Chu Thị Thái Hà (2009), “Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin”, Nghiên cứu

lập pháp, (17(154)), tr.20-23

Trang 15

tâm trong phạm vi khuôn khổ pháp luật cho phép Quyền này gắn liền với trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể có nghĩa vụ khi có yêu cầu của chủ thể quyền Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này mang tính chủ động Về phía chủ thể của nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính bị động

Từ sự phân tích nêu trên, có thể hiểu quyền tiếp cận thông tin về doanh

nghiệp là quyền mà chủ thể của quyền này bằng cách thức tiếp nhận và tìm kiếm để biết được những thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp có những đặc thù riêng khác với quyền tài sản và phi tài sản khác của chủ thể trong quan hệ dân sự - thương mại Bản chất của quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết

và tương trợ cho các quyền khác của chủ thể quyền Bên cạnh quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, các chủ thể còn có các quyền và lợi ích khác Đối với cổ đông

họ có quyền khởi kiện người quản lý công ty5, tham dự và phát biểu trong Đại hội

cổ đông, yêu cầu ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành của công ty khi xét thấy cần thiết6

v.v Hay đối với nhà đầu tư chứng khoán họ có quyền sở hữu và định đoạt chứng khoán thuộc sở hữu của mình, quyền giao dịch chứng khoán, quyền nhận các khoản lợi nhuận từ hoạt động đầu tư7 v.v Những quyền này chỉ được bảo đảm khi quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được bảo đảm vì chỉ khi các chủ thể này được cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin

về hoạt động của doanh nghiệp thì họ mới có cơ sở để thực hiện các quyền khác của mình

Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp thực chất là sự ràng buộc

nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể khác Trong khoa học pháp lý, phụ thuộc vào các quy phạm pháp luật làm cơ sở cho sự xuất hiện quyền, quyền của một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có thể là:

- Quyền chủ thể là khả năng xử sự của bản thân chủ thể phát sinh trên cơ sở quy phạm trao quyền cho chính chủ thể đó Quyền chủ thể xuất hiện trên cơ sở quy

5

Điều 161 Luật Doanh nghiệp 2014

6 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014

7 Nguyễn Văn Vân (2010), “Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khoán”, Tạp chí khoa học pháp

lý, (2/2010), tr 20-23

Trang 16

phạm trao quyền để chủ thể mang quyền được phép thụ hưởng quyền của mình theo cách thức khác nhau nhằm đáp ứng lợi ích của mình8;

- Quyền năng là khả năng chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể khác thực hiện những nghĩa vụ nhất định Nghĩa vụ này được ghi nhận bởi các quy phạm pháp luật dưới hình thức quy phạm trao nghĩa vụ Trong trường hợp này chủ thể mang quyền chỉ có thể thụ hưởng quyền khi chủ thể khác thực hiện các nghĩa vụ của mình9

Nói tóm lại, có thể nhận thấy nếu pháp luật đơn thuần chỉ ghi nhận quyền tiếp cận thông tin mà không quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể khác thì quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp chỉ là một tuyên ngôn, khẩu hiệu bởi lẽ chủ thể quyền không thể tự thực hiện quyền của mình

1.2 Mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền

tự do của công dân Đây là quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giá trị của quyền này thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế - một hoạt động luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống xã hội, quyết định các hoạt động khác

Theo nhìn nhận dưới góc độ là một chế định pháp luật: quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do nhà nước ban hành, nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên10 Với quan niệm đó, quyền tự do kinh doanh – một mặt bao gồm những quyền mà họ được hưởng; mặt khác là những nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh mà pháp luật quy định với mục đích để quyền tự do kinh doanh không được đi vượt giới hạn mà pháp luật cho phép, nói cách khác là tự do trong khuôn khổ của pháp luật

Căn cứ vào những đặc điểm của nền kinh tế thị trường và những quy định của pháp luật, quyền tự do kinh doanh bao gồm những nội dung cơ bản sau11:

- Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản

- Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp)

8

Nguyễn Văn Vân, Tlđd 7, tr.20-23

9 Nguyễn Văn Vân, Tlđd 7, tr.20-23

10 Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở

Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr.14

11

Bùi Ngọc Cường, Tlđd 10, tr.23

Trang 17

- Quyền tự do hợp đồng

- Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật

- Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp

Để thực hiện đầy đủ mỗi quyền nêu trên trong tổng thể được gọi chung là quyền tự do kinh doanh, pháp luật cần trao cho chủ thể quyền công cụ để thực hiện quyền đó và quyền được tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là một trong những công cụ để đảm bảo quyền tự do kinh doanh được thực hiện trên thực tế

Thứ nhất, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là công cụ đảm bảo

quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể trên thị trường Cạnh tranh là một trong những quy luật của mọi nền kinh tế thị trường, thể hiện sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình12 Cạnh tranh có nhiều hình thức

và được phân ra ở nhiều cấp độ khác nhau như: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh mang tính chất độc quyền; cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không lành mạnh Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là công cụ để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh, công bằng trên thị trường, được thể hiện ở khía cạnh sau:

(i) Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ mang đến cho các chủ thể

sự công bằng trong tiếp cận thông tin từ đó tạo nên sự cạnh tranh công bằng Môi

trường kinh doanh không phải là môi trường “chân không”, có rất nhiều yếu tố bên

ngoài tác động để làm nên sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể và một trong các yếu tố đó là yếu tố về thông tin Ngày nay, thông tin đóng vai trò quan trọng và được đánh giá là năng lượng, là nguồn tài nguyên mới bên cạnh năm nguồn tài nguyên cơ bản của doanh nghiệp là con người, thiết bị máy móc, tài chính, nguyên vật liệu và năng lượng, quản lý Thông tin chính là nguồn sức mạnh, đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh bởi nó có khả năng giúp doanh nghiệp vượt trước các đối thủ cạnh tranh của mình ở những thời điểm cạnh tranh quyết liệt Chính vì thông tin mang ý nghĩa quan trọng như vậy nên quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được xem như là công cụ mà nhà nước trao cho các chủ thể một bước xuất phát điểm ngang bằng nhau trong việc thu nhận thông tin để đảm bảo mọi chủ thể đều có quyền tiếp cận thông tin bình đẳng khi ở trong cùng một

12

Bùi Ngọc Cường, Tlđd 10, tr.33

Trang 18

điều kiện như nhau từ đó tạo nên một sự cân xứng về lượng thông tin được tiếp cận của mỗi chủ thể

(ii) Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ hạn chế được sự độc quyền trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ lợi ích công cộng Độc quyền tồn tại khi chỉ có một doanh nghiệp duy nhất sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không có sự thay thế từ các sản phẩm hoặc các chủ thể kinh doanh khác Khi có vị

trí độc quyền, thị trường sẽ trao cho doanh nghiệp quyền lực của mình, “khả năng

tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định”13 Việc độc quyền này đem lại cho doanh nghiệp độc quyền khả năng khống chế ý chí của đối tác hoặc của khách hàng, tước bỏ khả năng lựa chọn của khách hàng, buộc họ chỉ còn một cơ may duy nhất là được giao dịch với doanh nghiệp độc quyền Khi

ấy, sự chi phối của doanh nghiệp độc quyền đến giá cả và những điều kiện thương mại khác dễ xảy ra Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng mong muốn mình

ở vị thế độc quyền bằng cách đầu tư vào khoa học, kỹ thuật để tạo nên sản phẩm mà không có một đối thủ cạnh tranh nào có thể sản xuất được loại sản phẩm như thế Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ hạn chế tình trạng đó xảy ra trong một

số trường hợp đặc biệt khi lợi ích chung, lợi ích công cộng bị ảnh hưởng bởi vấn đề này Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc sẽ làm triệt tiêu khả năng sáng tạo của mỗi doanh nghiệp mà việc cung cấp thông tin này sẽ được xem xét dựa trên các yếu tố khách quan và công bằng để đảm bảo cả quyền lợi của doanh nghiệp cũng như lợi ích công cộng đều được bảo vệ

Có thể thấy rằng, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp đã góp phần đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, là công cụ bảo vệ quyền tự

do kinh doanh của mỗi chủ thể

Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp góp phần bảo đảm quyền

được bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Để tồn tại và phát triển, các nhà kinh doanh phải thiết lập các quan hệ kinh tế với nhau để trao đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ v.v Các quan hệ kinh tế đó rất đa dạng và phong phú như quan

hệ trong doanh nghiệp, doanh nghiệp với chủ thể khác, các mối quan hệ về sử dụng lao động, quan hệ công ty với cổ đông, quan hệ doanh nghiệp với khách hàng v.v14

Việc thiết lập các quan hệ kinh tế nêu trên chủ yếu được thực hiện thông qua hợp

13 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB ĐHQG Tp Hồ Chí Minh, tr.22

14 Bùi Ngọc Cường (2002), “Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh”, Tạp

chí khoa học pháp lý, (7(14)), tr 23-30

Trang 19

đồng Đó là mối quan hệ ý chí được xác lập một cách tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi Với ý nghĩa đó, tự do hợp đồng là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh

Trong quan hệ hợp đồng, các bên phải có sự bình đẳng, và sự bình đẳng trong quan hệ hợp đồng này đã được nâng lên thành nguyên tắc, được ghi nhận trong pháp luật dân sự của các quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các bên đều đứng trên vị thế bình đẳng như nhau khi đàm phán và ký kết hợp đồng,

bên nào “mạnh” hơn sẽ là bên có ưu thế lớn hơn và có thể đàm phán những điều khoản có lợi hơn cho mình Một bên được xem là “mạnh” hơn trong quan hệ hợp

đồng là bên đó có khả năng kinh tế mạnh hơn, có nhiều đối tác để lựa chọn hơn, có lợi thế hơn về thông tin v.v Như vậy, sự bất cân xứng về thông tin là một trong các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng trong quan hệ hợp đồng Rõ ràng rằng người bán sẽ có lợi thế thông tin hơn so với người mua bởi họ nắm rõ đặc tính của sản phẩm mà mình muốn bán và muốn bán với giá cao, còn người mua xem các mức giá của sản phẩm tốt và xấu là ngang nhau vì họ không thể phân biệt được đặc tính của sản phẩm, hậu quả là người mua có thể mua phải sản phẩm có chất lượng xấu với giá cao Có thể thấy trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán luôn ở vị thế

“mạnh” hơn so với người mua dẫn tới không có sự bình đẳng trong giao kết hợp

đồng Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra do nguồn thông tin khác nhau, thời điểm nhận tin khác nhau và trình độ nhận thức, ứng xử với thông tin khác nhau Nguyên nhân là do những hạn chế của thị trường làm cho tốc độ truyền tin chậm, nhưng cũng có thể do giới hạn khả năng tiếp cận thông tin của mỗi bên Ví dụ như người tiêu dùng luôn là bên bị hạn chế về khả năng tiếp cận những thông tin về sản phẩm hay về doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mà họ có nhu cầu mua Để khắc phục tình trạng bất cân xứng về thông tin do những hạn chế về khả năng tiếp cận của mỗi chủ thể, pháp luật đã trao cho những chủ thể này quyền tiếp cận thông tin và như vậy mỗi chủ thể đều có quyền ngang bằng nhau trong việc tiếp cận thông tin có thể là thông tin từ phía bên kia hoặc thông tin từ thị trường để từ đó các bên sẽ có vị thế bình đẳng hơn trong quan hệ hợp đồng

Quyền tự do hợp đồng là một phần quan trọng trong quyền tự do kinh doanh, việc đảm bảo quyền bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng sẽ giúp đảm bảo hơn quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trên thị trường

Tóm lại, xuất phát từ mối quan hệ mật thiết giữa quyền tiếp cận thông tin với quyền tự do kinh doanh, việc công nhận quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là

Trang 20

cần thiết vì đây là công cụ góp phần đảm bảo hai trong sáu quyền bao gồm quyền tự

do cạnh tranh và quyền tự do giao kết hợp đồng trong nội dung cơ bản của quyền tự

do kinh doanh được thực hiện trên thực tế

1.3 Chủ thể nắm giữ thông tin và có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Khác với những thông tin khác như thông tin về văn hóa-xã hội, thông tin về doanh nghiệp là những thông tin mang tính đặc thù Việc xem xét chủ thể nào là chủ thể nắm giữ cũng như có quyền tiếp cận thông tin này sẽ làm rõ hơn quyền và

nghĩa vụ của từng chủ thể trong việc công bố và tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

1.3.1 Chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp

Chủ thể nắm giữ thông tin là những chủ thể sở hữu hoặc có các thông tin, có thể là thông tin được thu thập, tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau Theo đó, có thể thấy doanh nghiệp là chủ thể chính nắm giữ các thông tin về doanh nghiệp, trước hết đó là những thông tin được hình thành trực tiếp từ hoạt động của chính mình Doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh15; được phân thành nhiều loại hình khác nhau như công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân v.v và được điều chỉnh bởi nhiều quy định khác nhau

để đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước cũng như phù hợp với từng mô hình kinh doanh Tuy nhiên, xét dưới góc độ chung thì mọi doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đều mang đặc điểm là một chủ thể độc lập với chủ thể khác, được vận hành dựa trên sự điều hành của con người và thông qua sự vận hành đó, doanh nghiệp có những hoạt động tương tác với môi trường bên ngoài để hình thành nên thông tin của chính bản thân doanh nghiệp Do vậy, có thể khẳng định mọi doanh nghiệp trên thị trường dù được điều chỉnh bởi bất kỳ quy định nào đều là chủ thể nắm giữ thông tin

Bên cạnh doanh nghiệp là chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp, một chủ thể đặc biệt khác cũng nắm giữ thông tin này là cơ quan nhà nước Sở dĩ cơ quan nhà nước cũng nắm giữ thông tin về doanh nghiệp bởi cơ quan nhà nước là cơ quan mang quyền lực nhà nước, được giao nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước trong đó có chức năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo đảm cho xã hội được trật tự ổn định và

15

Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 21

phát triển16 Trước đây, nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp bởi cho rằng nền kinh tế vận hành tốt nhất khi chính phủ để cho các doanh nghiệp

và cá nhân dành thắng lợi - thất bại bằng năng lực của chính họ trên những thị trường cạnh tranh và rộng mở17, chính sách này được tóm lược bằng thuật ngữ

“laissez-faire” (hãy để mặc nó)18

và Adam Smith – tác giả của lý thuyết “Bàn tay vô

hình” kết luận “sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy

định chặt chẽ của nhà nước mà do bởi tự do kinh doanh”19 Tuy nhiên, việc tự do kinh doanh lại dẫn đến một số tiêu cực trong môi trường kinh doanh như cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền v.v Để đảm bảo môi trường cạnh tranh, bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng, nhà nước đã dần dần tham gia để điều tiết

nền kinh tế, hạn chế “quyền tự do” của doanh nghiệp bằng cách đưa ra rất nhiều quy

định và chi tiết về việc những gì doanh nghiệp được phép làm và không được phép làm Ví dụ như nhà nước quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ phải báo cáo các hoạt động kinh doanh của mình để nhà nước quản lý Từ đó nhà nước trở thành chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp Trên thế giới hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước không giống nhau cho mỗi quốc gia khác nhau tuy nhiên đều mang đặc điểm chung đó là đều được phân chia thành cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước ở địa phương20 Trong đó, cơ quan nhà nước ở địa phương là cơ quan thực hiện công tác quản lý ở cấp địa phương, đây là cơ quan trực tiếp tiếp xúc, làm việc với doanh nghiệp do vậy có thể nói cơ quan nhà nước ở địa phương là cơ quan chủ yếu nắm giữ những thông tin về doanh nghiệp Ví dụ như trong giai đoạn doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước như nghĩa vụ về thuế, nghĩa vụ khai báo hải quan liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu v.v Để thực hiện các nghĩa vụ này, doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan nhà nước tại địa phương mà doanh nghiệp đang hoạt động các hồ sơ liên quan đến từng nghĩa vụ theo danh sách hồ sơ được nhà nước quy định Bên cạnh cơ quan nhà nước địa phương là cơ quan chủ yếu nắm giữ thông tin về doanh nghiệp, cơ quan nhà nước trung ương cũng nắm giữ thông tin về doanh nghiệp trong một số

16

Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, tr.269

17 Bùi Ngọc Cường, Tlđd 14, tr.23-30

18 Christopher Conte (2001), Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế, Ấn phẩm của Chương trình Thông tin

Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, nguồn: https://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_useconomy_vi.html , truy cập lần cuối ngày 22/8/2013

19 Ngô Văn Lương và Đồng Văn Phường (2012), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Chính trị -

Hành chính, tr.42

20 Bùi Xuân Đức (2007), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, NXB Tư pháp,

tr.352

Trang 22

trường hợp nhất định, như những thông tin về doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, then chốt trong việc phát triển ngành kinh tế mà nhà nước đang định hướng

Ngoài ra, người quản lý doanh nghiệp cũng là chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một hệ thống trong đó có sự tương tác giữa các bộ phận và được quản lý và điều hành bởi cá nhân hoặc tổng hợp nhiều cá nhân, được gọi là người quản lý doanh nghiệp, những người này có nhiệm vụ quản lý tất cả các hoạt động doanh nghiệp và bảo đảm chúng đi theo một mục tiêu để doanh nghiệp có thể hoạt động một cách trôi chảy, vì vậy họ cũng là một trong những chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp Tuy nhiên, việc xác định cụ thể ai là người quản lý doanh nghiệp khá phức tạp, tùy thuộc vào pháp luật của mỗi nước quy định Tham khảo pháp luật về tổ chức các loại hình doanh nghiệp của các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ như Australia, Singapore, New Zealand, Canada, việc xác định ai là người quản lý công ty dựa trên nguyên tắc họ có phải là thành viên Ban giám đốc; giữ vị trí hoặc thực hiện vai trò trong vị trí của Giám đốc; hay là người đưa ra các chỉ đạo để giám đốc làm theo21.Với cách tiếp cận này thì người quản lý doanh nghiệp không nhất thiết phải giữ một chức danh quản lý trong công

ty Bên cạnh đó, pháp luật của những quốc gia này còn phân chia người quản lý thành người quản lý điều hành và người quản lý không điều hành Theo quy định Luật Doanh nghiệp 2014, người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc tổng giám đốc và các cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty22 Xuất phát

từ quy định khác nhau của mỗi quốc gia đối với người quản lý doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến phạm vi nắm giữ thông tin về doanh nghiệp của những chủ thể này Ví

dụ như giám đốc điều hành là người trực tiếp điều hành các công việc hàng ngày của công ty sẽ nắm giữ nhiều thông tin về doanh nghiệp hơn so với giám đốc không điều hành bởi nhiệm vụ cơ bản của giám đốc không điều hành chỉ là có mặt tại cuộc họp của Hội đồng giám đốc để thảo luận thông qua các quyết định về quản lý công

Trang 23

ty, đánh giá công việc điều hành của bộ phần điều hành23 Bên cạnh những người

quản lý công ty được pháp luật quy định, trong hệ thống hoạt động doanh nghiệp

còn có các chủ thể khác tham gia vào công tác quản lý đóng vai trò như người giúp

đỡ người quản lý doanh nghiệp như phó tổng giám đốc, trưởng phòng, phó phòng,

tổ trưởng v.v những người này cũng là chủ thể nắm giữ thông tin về doanh nghiệp

Ngoài những người quản lý nêu trên, người có thể nắm giữ thông tin doanh

nghiệp còn là nhân viên làm việc trong doanh nghiệp Đây là những người trực tiếp

thực hiện các công việc thường ngày để đưa đến sự hoàn thành mục tiêu của tổ

chức Tuy nhiên, những nhân viên này chỉ có thể nắm giữ những thông tin rời rạc

liên quan đến công việc được giao của mình

Như vậy, chủ thể chính nắm giữ thông tin về doanh nghiệp là chính bản thân

doanh nghiệp, cơ quan nhà nước xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước của

mình, người quản lý doanh nghiệp và nhân viên làm việc tại doanh nghiệp

1.3.2 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là những chủ thể có

quyền thu thập thông tin trên các phương tiện thông tin được phép tiếp cận hoặc yêu

cầu các chủ thể khác cung cấp thông tin cho mình, cụ thể là chủ thể nắm giữ thông

tin Theo tác giả, chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là mọi chủ

thể và không thể liệt kê hết được Dựa vào mối quan hệ của chủ thể có quyền tiếp

cận thông tin với doanh nghiệp mang thông tin bị tiếp cận, tác giả chia chủ thể có

quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp thành bốn nhóm như sau:

Nhóm 1: Dựa trên quan hệ quản lý kinh tế 24

Đặc điểm của nhóm này là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh

nghiệp là chủ thể mang quyền lực nhà nước Quyền tiếp cận thông tin này được

phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh

tế với doanh nghiệp khi cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý của mình

Ngoài ra, chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất bình đẳng bởi quan hệ này

được hình thành và thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng25

Hệ thống quan hệ quản lý kinh tế giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp gồm có:

25 Nguyên tắc quyền uy phục tùng là nguyên tắc cơ bản của ngành Luật Hành chính, theo đó một bên nhân

danh nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các quyết định hành chính còn bên kia phải tuân theo

những quyết định ấy Quyết định hành chính phải thuộc phạm vi thẩm quyền của bên nhân danh nhà nước, vì

Trang 24

- Quan hệ quản lý theo chiều dọc: đó là mối quan hệ giữa bộ chủ quản với doanh nghiệp trực thuộc, giữa Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố với các doanh nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân

- Quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản lý chức năng với các doanh nghiệp như quan hệ giữa cơ quan tài chính với các doanh nghiệp về vấn đề quản lý vốn tài sản của doanh nghiệp v.v

Cơ sở pháp lý để hình thành mối quan hệ này là các văn bản pháp luật do các

cơ quan có thẩm quyền ban hành Theo đó, cơ quan nhà nước sẽ thực hiện quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp căn cứ trên các quy định pháp luật và phạm vi tiếp cận thông tin của mỗi cơ quan sẽ được quyết định tùy thuộc vào quan hệ quản

lý giữa cơ quan đó và doanh nghiệp Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp này

sẽ được thực hiện thông qua quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin, thường thể hiện rõ nhất bằng các hoạt động kiểm tra doanh nghiệp của cơ quan nhà nước.Ví dụ căn cứ vào Điều 80 Luật Hải quan 2014, Cục hải quan Lạng Sơn đã ban hành công văn số 789/HQLS-KTSTQ ngày 06/5/2015 về việc kiểm tra sau thông quan công ty TNHH Xe Buýt Daewoo Việt Nam, yêu cầu công ty này cung cấp hồ

sơ giấy tờ liên quan đến toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu trong vòng 05 năm Hay dựa trên quy định tại Điều 237 Bộ luật lao động 2012, Sở Lao động thương binh và

xã hội Tp.Hồ Chí Minh đã yêu cầu công ty Cổ phần Sài Gòn Đầu tư - Kỹ thuật - Xây dựng cung cấp hồ sơ về hệ thống thang lương, bảng lương, quy chế trả lương, nâng lương, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, bảng thanh toán tiền lương tháng 12/2015 và tháng 01/2016 để phục vụ công tác kiểm tra tình hình xây dựng, điều chỉnh thang lương, bảng lương theo Nghị định số 122/2015/NĐ-CP ngày 14/11/201526

Như vậy, cơ quan nhà nước dựa trên quy định của văn bản pháp luật và dựa trên từng hệ thống quản lý của mình để tiếp cận thông tin về doanh nghiệp phục vụ hoạt động quản lý nhà nước

Nhóm 2: Dựa trên quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh với nhau 27

Trang 25

Đặc điểm của nhóm này là những quan hệ thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình kinh doanh dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Sở dĩ tác giả cho rằng chủ thể của mối quan hệ này có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp của phía bên kia bởi xuất phát từ nhu cầu chia sẻ thông tin của nhau để hướng tới mục tiêu chung và mục tiêu riêng mà cả hai bên đều mong muốn đạt được Quyền tiếp cận thông tin này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên được thể hiện thông qua hợp đồng, biên bản thỏa thuận v.v

Điều khoản Hợp đồng được ký giữa công ty P&G Việt Nam và công ty TNHH trung tâm thương mại Lotte Việt Nam vào ngày 09/11/2015 trong đó P&G Việt Nam là Bên cung cấp và Lotte là Bên mua28 là minh chứng cho quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp dựa trên mối quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như phân tích nêu trên Theo Hợp đồng này, Lotte sẽ chia

sẻ các dữ liệu cho P&G Việt Nam vào tuần thứ nhất của mỗi tháng thông qua đĩa hoặc email được chỉ định, cụ thể:

a) Doanh số bán ra của các sản phẩm Bên cung cấp theo từng sku và từng siêu thị và thị phần của các ngành hàng Bên cung cấp theo từng siêu thị của Bên mua

b) Hàng tồn kho theo từng sku và từng siêu thị

Qua điều khoản này có thể thấy, giới hạn phạm vi thông tin được tiếp cận chỉ

là những thông tin được các bên thống nhất chia sẻ trong hợp đồng Ngoài điều khoản về chia sẻ thông tin, các bên cũng thường quy định thêm về điều khoản bảo mật thông tin để đảm bảo thông tin được chia sẻ không được bên tiếp cận phổ biến rộng rãi

Nhóm 3: Dựa trên quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp

Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp được hiểu là quan hệ được hình thành bên trong tổ chức đó như quan hệ giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp, quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp v.v Đặc điểm của nhóm này là những chủ thể có quan hệ với nhau và quan hệ với doanh nghiệp dựa trên sự tương tác của

họ với nhau để thực hiện các công việc nhằm mục đích làm cho doanh nghiệp vận

28 Trích từ Hợp đồng số PG-LT 2015 ký giữa công ty P&G Việt Nam và Công ty TNHH trung tâm thương mại Lotte Việt Nam vào ngày 9/11/2015, Phụ lục hợp đồng số 05 – Tăng trưởng doanh số và hợp tác chiến lược

Trang 26

hành và phát triển Chính vì thế những chủ thể này là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp nhưng tùy thuộc vào quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong doanh nghiệp phạm vi tiếp cận là không giống nhau cho mỗi chủ thể

Ví dụ như cổ đông công ty, đây là chủ thể có mối quan hệ với doanh nghiệp

và mối quan hệ với người quản lý doanh nghiệp Để thực hiện các hoạt động giám sát người quản lý doanh nghiệp, theo dõi các hoạt động của doanh nghiệp để quyết định các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp thông qua Đại hội đồng cổ đông v.v., những người này có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Tuy nhiên phạm vi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông bị hạn chế bởi không phải mọi thông tin đều

có quyền được tiếp cận mà chỉ là những thông tin phục vụ cho hoạt động nêu trên Một số thông tin cổ đông có quyền tiếp cận như báo cáo tài chính năm, giấy tờ, tài liệu liên quan đến tổ chức, hoạt động và quản lý của công ty như điều lệ công ty, quy chế quản lý nội bộ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, các quyết định được thông qua v.v.29

Nhóm 4: Dựa trên quan hệ khác của doanh nghiệp

Với tư cách là một chủ thể hoạt động trên thị trường, doanh nghiệp còn có mối quan hệ với nhiều chủ thể khác như với khách hàng, nhà đầu tư v.v Các chủ thể này đều là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Phạm vi tiếp cận thông tin về doanh nghiệp của các chủ thể này sẽ phụ thuộc vào quyền và lợi ích của họ trong mối quan hệ với doanh nghiệp Ví dụ như nhà đầu tư, đây là những người bỏ tiền ra để tham gia vào một hay nhiều vụ đầu tư dưới hình thức khác nhau

để nhằm thu về lợi ích kinh tế Nhà đầu tư khác cổ đông ở chỗ đây là những người đang trong quá trình thu thập thông tin, thực hiện sự phân tích đánh giá của mình dựa trên những thông tin có được mới quyết định đầu tư Sau khi đã thực hiện hoạt động đầu tư như mua chứng khoán, cổ phiếu v.v nhà đầu tư trở thành cổ đông của công ty hoặc chủ nợ của công ty nếu mua trái phiếu Như vậy, trong quá trình đầu

tư nhà đầu tư vẫn được xem là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Nói tóm lại, chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là mọi chủ thể trong xã hội và không thể liệt kê hết được Việc phân chia các chủ thể này thành các nhóm chủ thể nêu trên để làm rõ hơn loại chủ thể nào có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp tuy nhiên tùy thuộc vào mỗi cách tiếp cận sẽ có sự phân loại khác nhau do đó việc phân chia như vậy cũng chỉ mang tính chất tương đối Bên

29

Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 27

cạnh đó, với mỗi nhóm chủ thể khác nhau thì mức độ quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ của chủ thể đó với doanh nghiệp nắm giữ thông tin về quyền và lợi ích

1.4 Giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay thì vấn đề thông tin được xem là sự sống còn đối với doanh nghiệp Việc thông tin nội bộ của doanh nghiệp bị

rò rỉ hay bị đánh cắp và rơi vào tay người khác có thể đó là quân át chủ bài để đánh sập danh tiếng của công ty và ảnh hưởng đến vấn đề tài chính của doanh nghiệp Vì thế, bảo mật thông tin có các vai trò chính yếu sau:

Thứ nhất, bảo mật thông tin về doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tránh

được các tổn hại về mặt tài chính Việc thông tin bị rò rỉ có thể gây đến những tổn hại về tài chính một cách trực tiếp như doanh số giảm sút do mất khách hàng, các tổn thất khi phải trả các khoản tiền phạt cũng như chi trả các khoản bồi thường Ngoài ra, thông tin bị rò rỉ cũng có thể gây tổn thất gián tiếp từ những tác động như

sự sụt giảm niềm tin của nhà đầu tư hoặc khách hàng, mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường

Thứ hai, bảo mật thông tin sẽ tránh cho doanh nghiệp khỏi rơi vào các rắc rối

pháp lý do không thực hiện nghĩa vụ bảo vệ thông tin liên quan đến bên thứ ba như thông tin cá nhân, thông tin đối tác v.v

Thứ ba, việc doanh nghiệp nắm giữ càng nhiều thông tin có giá trị sẽ đảm

bảo cho doanh nghiệp có vị thế vững chắc trên thị trường bởi thông tin sẽ giúp doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh như nắm bắt được nhiều cơ hội kinh doanh hơn so với những chủ thể không nắm giữ thông tin hay tạo được lợi thế so với đối thủ cạnh tranh v.v

Tuy nhiên, việc trao cho doanh nghiệp quyền bảo mật thông tin một cách tuyệt đối dần bộc lộ những yếu điểm của nó, như: hoạt động của doanh nghiệp không có sự giám sát từ phía nhà nước và xã hội dẫn đến doanh nghiệp có có thể có những hành vi gây ảnh hưởng đến chủ thể khác, đến xã hội; môi trường cạnh tranh

bị ảnh hưởng do xuất hiện nhiều doanh nghiệp độc quyền; nền tri thức của nhân loại

bị thụt lùi do kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp không được công bố v.v

Chính vì vậy, nhà nước đã can thiệp vào đời sống thị trường để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển trong một trật tự, đảm bảo sự phát triển công bằng và lành mạnh bằng các chính sách và công cụ pháp luật Một trong những chính sách và công cụ pháp luật đó là trao quyền tiếp cận thông tin về

Trang 28

doanh nghiệp cho những chủ thể khác trên thị trường bên cạnh quyền bảo mật thông

tin của doanh nghiệp Hai quyền này được mô tả như “hai mặt của một đồng xu”30

bởi chúng vừa bổ sung cho nhau để duy trì tính minh bạch cho doanh nghiệp, tạo nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng trên thị trường lại vừa xung đột nhau khi doanh nghiệp vừa muốn giữ bí mật kinh doanh của mình để tạo nên giá trị cạnh tranh giữa mình với doanh nghiệp khác

Để đánh giá phạm vi của quyền bảo mật thông tin và nghĩa vụ đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp rất phức tạp Nếu pháp luật quy định cho doanh nghiệp nghĩa vụ để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin lớn thì có thể làm suy yếu nghiêm trọng quyền tự bảo vệ thông tin của chính doanh nghiệp Bởi khi mọi thông tin của doanh nghiệp đều được công khai thì mỗi doanh nghiệp sẽ không còn lợi thế của riêng mình để cạnh tranh trên thị trường điều này sẽ gây thiệt hại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, nếu gia tăng quyền bảo

vệ thông tin của doanh nghiệp thì có thể dẫn đến gây thiệt hại cho cộng đồng và xã hội Như vậy, có thể thấy rằng giữa quyền bảo mật thông tin và trách nhiệm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp có xung đột về lợi ích

Vụ việc “Microsoft vs Commission” dưới đây sẽ làm rõ vấn đề về sự xung

đột lợi ích nêu trên

Tóm tắt vụ việc:

Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vu liên quan đến máy tính Công ty này hiện nắm giữ thông tin về liên kết và giao thức và thông tin này được bảo vệ dưới quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền tác giả, quyền sáng chế và bí mật kinh doanh Ngày 17-9-2007, Tòa án sơ

thẩm Châu Âu (CFI) đã ra phán quyết giải quyết vụ việc “Microsoft vs

Commission” liên quan đến kháng cáo của Microsoft chống lại quyết định của Ủy

ban Châu Âu ban hành ngày 23-3-2004 về việc Microsoft từ chối cung cấp cho đối thủ cạnh tranh thông tin về liên kết và tương thích (thông tin về giao thức: interoperability information) là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường 31

30

Privacy International (2006), Khảo sát về Luật tiếp cận thông tin của các chính phủ trên thế giới, nguồn:

http://www.privacyinternational.org/foi/survey , truy cập lần cuối ngày 1/4/2014

31 Phan Huy Hồng (2012), Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam, NXB

Chính trị Quốc gia, tr.123

Trang 29

Qua phần tóm tắt vụ việc, ta thấy rằng rõ ràng có sự xung đột về lợi ích trong quyền bảo vệ thông tin của Microsoft và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho đối thủ cạnh tranh Việc Microsoft không cung cấp thông tin đồng nghĩa với việc Microsoft

sẽ có lợi thế trên thị trường hệ điều hành máy tính và điều này sẽ mang lại cho công

ty này nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, nếu Microsoft cung cấp thông tin cho đối thủ

để đối thủ có thể phát triển chương trình mới, điều đó có nghĩa là Micorsoft đã tự đẩy mình vào hoàn cảnh phải chịu áp lực cạnh tranh lớn, phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để lôi kéo khách hàng về phía mình và hệ quả tất yếu xảy ra là lợi nhuận thu về

ít hơn Vì thế Microsoft đã quyết định sử dụng quyền bảo vệ thông tin của mình để

từ chối yêu cầu cung cấp thông tin của đối thủ cạnh tranh với lý do thông tin này là quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ theo pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia và Hiệp định

về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiên, hành vi từ chối cung cấp thông tin của Microsoft có vi phạm nghĩa vụ đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của chủ thể khác hay không Để xem xét được vấn đề này, cần đánh giá các điều kiện sau:

(i) Thông tin bị từ chối cung cấp có phải là rất cần thiết cho hoạt động kinh doanh trên thị trường thứ cấp;

(ii) Việc từ chối cung cấp thông tin đã loại bỏ (triệt tiêu) cạnh tranh hiệu quả trên thị trường thứ cấp;

(iii) Việc từ chối cung cấp ngăn chặn sự xuất hiện một sản phẩm mới mà khách hàng tiềm năng có nhu cầu

Việc đưa ra các điều kiện này nhằm đánh giá nghĩa vụ cung cấp thông tin có gây ảnh hưởng đến hoạt động của Microsoft hay không hay hành động này sẽ mang lại một lợi ích công cộng lớn hơn thiệt hại mà Microsoft phải gánh chịu để từ đó xác định Microsoft có được áp dụng quyền bảo vệ thông tin trong trường hợp này

Sau khi xem xét, hậu quả của việc từ chối cung cấp thông tin của Microsoft mang lại là ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng, của cả xã hội bởi thị trường cạnh tranh giữa các chủ thể nếu Microsoft không cung cấp thông tin là thị trường cạnh tranh không bình đẳng và việc không cung cấp này cũng dẫn tới việc không thể phát triển sản phẩm mới từ đó sự kìm hãm về phát triển khoa học kỹ thuật

Việc được quyền sở hữu trí tuệ bảo vệ để không phải cung cấp thông tin theo yêu cầu không thể được áp dụng trong trường hợp này bởi khi so sánh giữa quyền bảo vệ thông tin và nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp, rõ ràng nghĩa vụ cung cấp thông tin mang lại lợi ích lớn hơn và có ý nghĩa quan trọng hơn Lợi ích

Trang 30

đạt được khi doanh nghiệp cung cấp thông tin là lợi ích cho toàn xã hội, cho sự phát triển khoa học kỹ thuật còn quyền bảo vệ thông tin chỉ mang lại lợi ích về thương mại cho doanh nghiệp nắm giữ thông tin Nghĩa là về lý thuyết, khi một người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ, người đó có thể khai thác độc quyền quyền sở hữu trí tuệ

đó vì lợi ích của mình Đây là quyền độc quyền được pháp luật sở hữu trí tuệ công nhận Tuy nhiên, khi hành vi từ chối cung cấp thông tin gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì nó trở thành hành vi lạm dụng Khi đó, để đảm bảo lợi ích chung trong việc duy trì môi trường cạnh tranh hiệu quả trên thị trường, việc bắt buộc chủ thể nắm giữ thông tin dù thông tin đó được pháp luật chuyên ngành khác bảo vệ là cần thiết

Như vậy, sự xung đột giữa quyền bảo mật thông tin và trách nhiệm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin là sự xung đột giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội Để đảm bảo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong vấn đề này cần có sự suy xét một cách cẩn trọng và tỉ mỉ xem lợi ích nào cần được pháp luật ưu tiên bảo vệ hơn Khi có sự xung đột lợi ích xảy ra, cần có một bên thứ ba đứng ra đánh giá giữa tính cần thiết công bố thông tin hay giữ bí mật thông tin để đảm bảo tính công bằng cho tất cả các bên

Từ những phân tích trên có thể thấy quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là một quyền có giới hạn, giới hạn này chính là phạm vi những thông tin về doanh nghiệp mà chủ thể quyền không thể tiếp nhận hoặc không thể yêu cầu cung cấp thông tin và ranh giới để phân định giới hạn là khả năng ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mang thông tin, của chủ thể khác khi những thông tin này được phép tiếp cận Theo tác giả, những thông tin dưới đây là những thông tin nằm trong giới hạn phạm vi thông tin về doanh nghiệp không được quyền tiếp cận

Thứ nhất là bí mật kinh doanh Theo Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là

thông tin mà không chủ thể quyền nào được tiếp cận mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu Các thông tin được xem là bí mật kinh doanh khi có các đặc điểm sau:

- Nó không phải là hiểu biết thông thường hoặc dễ dàng tiếp cận

- Nó có giá trị thương mại bởi vì nó được giữ bí mật, và

- Chủ sở hữu đã có những biện pháp hợp lý để giữ thông tin đó không bị tiết

lộ

Sở dĩ, thông tin này được xem là thông tin hạn chế tiếp cận bởi nó có được thông qua sự đầu tư tốn kém của doanh nghiệp với mục đích sẽ mang lại cho chủ sở hữu của nó những lợi ích về kinh tế so với những chủ thể khác chưa nắm được

Trang 31

thông tin này, lợi ích kinh tế này có thể là lợi ích về tiềm năng thương mại hoặc giá trị thương mại thực tế Nếu cho phép dễ dàng tiếp cận với những thông tin như vậy

sẽ xuất hiện sự không công bằng khi mà những người được tiếp cận thông tin không cần phải trả bất kỳ chi phí nào cho những thông tin có được, đồng thời dẫn đến các doanh nghiệp sẽ không còn hứng thú bỏ vốn để tạo ra những thông tin như vậy nữa

mà thay vào đó là cố gắng tiếp cận thông tin của chủ thể khác bởi họ biết rằng sẽ không có một “phần thưởng tài chính” nào cho sự đầu tư này32 Việc xâm phạm bí mật kinh doanh như có hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách bất chính như chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật đó, vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật v.v sẽ bị xem là hành

vi cạnh tranh không lành mạnh và bị xử lý theo quy định của pháp luật

Thứ hai là thông tin mật Đây là những thông tin liên quan đến hoạt động

kinh doanh của công ty Sở dĩ, việc tiếp cận thông tin này có ảnh hưởng đến doanh nghiệp nắm thông tin bởi đặc điểm của nó là những thông tin không dễ dàng có được bằng cách truy cập hay tìm kiếm mà chỉ có được trong quá trình làm việc tại công ty hoặc thông qua việc công ty tiết lộ hoặc là kết quả thu được từ quá trình làm việc trong công ty Thông tin mật bao gồm nhưng không giới hạn những thông tin như quy trình, các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, kế hoạch quảng cáo và tiếp thị, chiến lược kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận v.v

Thứ ba là thông tin thương mại nhạy cảm Trên thực tế, định nghĩa về thông

tin thương mại nhạy cảm không được tìm thấy trong bất kỳ từ điển luật học nào trên thế giới cũng như trong các quy định của pháp luật33 Tuy nhiên có thể hiểu rằng thông tin thương mại nhạy cảm là bất kỳ thông tin nào xuất hiện trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có giá trị kinh tế hoặc có thể gây thiệt hại kinh tế nếu biết Trong doanh nghiệp, loại thông tin có thể được coi là thông tin thương mại nhạy cảm bao gồm: thông tin công khai liên quan đến chi phí, giá cả, cấu trúc hoặc các mô hình tài chính (ví dụ như tiêu chuẩn, giảm giá, hoạt động tài chính); thông tin về thỏa thuận với nhà cung cấp hoặc khách hàng (đặc biệt là thông tin giá cả);

32 European Commision (2013), Study on trade secrets and confidential business information in the internal

market, http://ec.europa.eu/internal_market/iprenforcement/docs/trade-secrets/130711_final-study_en.pdf , truy cập lần cuối ngày 22/8/2014

33 Herbert Smith, “Commercially sensitive information and the public interest”

theo http://www.resourcegovernance.org/sites/default/files/RWI_Contracts_Confidential_Chapter_3.pdf, truy cập ngày 22/8/2014

Trang 32

thông tin về các thỏa thuận tài chính Đối với mỗi ngành, lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong các thị trường khác nhau sẽ có những thông tin được xem là thông tin thương mại nhạy cảm khác nhau Sự khác nhau giữa bí mật kinh doanh và thông tin thương mại nhạy cảm đó là thông tin thương mại nhạy cảm không phải là những thông tin có thể cung cấp cho đối thủ cạnh tranh một lợi thế nếu biết như bí mật kinh doanh mà nó chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp nếu thông tin này bị tiết lộ Ví

dụ thông tin về việc sáp nhập tiềm năng giữa hai công ty là thông tin thương mại nhạy cảm bởi việc thông tin này bị tiết lộ hoặc trở thành thông tin công cộng có thể dẫn đến cổ phiếu của một hoặc cả hai công ty có thể thay đổi và việc đó có thể gây thiệt hại kinh tế cho hai công ty

Nói tóm lại, việc đặt ra giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin về doanh nghiệp nhằm mục đích đảm bảo sự công bằng cho mọi chủ thể trong đó có các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường Tuy nhiên, ranh giới phân định giữa thông tin được phép tiếp cận và thông tin không được phép tiếp cận là khó có thể phân biệt dẫn tới có thể xuất hiện sự lạm dụng của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không muốn công bố thông tin của mình cũng như sự lạm dụng của chủ thể quyền trong việc tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp nắm giữ thông tin, sự lạm dụng thể hiện ở việc doanh nghiệp sẽ xem tất cả thông tin mà mình không muốn công bố/cung cấp nằm trong giới hạn thông tin có quyền từ chối công bố/cung cấp Ngược lại, đối với chủ thể quyền họ lại xem rằng những thông tin họ muốn tiếp cận nằm trong phạm vi được quyền tiếp cận Vì vậy, để giải quyết tình trạng trên pháp luật đã quy định một số thông tin trong các trường hợp nhất định là thông tin doanh nghiệp buộc phải công bố để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của chủ thể quyền nhưng việc quy định như vậy có thể dẫn tới hiểu lầm rằng doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ cung cấp thông tin được liệt kê quy định pháp luật và chủ thể quyền cũng chỉ có thể tiếp cận những thông tin đó

Ngoài các loại thông tin nêu trên, dữ liệu thông tin nhân viên cũng là thông tin hạn chế tiếp cận Khác với các thông tin như bí mật kinh doanh, thông tin mật, thông tin thương mại nhạy cảm v.v là những thông tin doanh nghiệp có quyền không cung cấp/công bố, đối với thông tin cá nhân của nhân viên như nguồn gốc, chủng tộc, dân tộc, quan điểm chính trị hoặc tôn giáo, điều kiện sức khỏe, đời sống

cá nhân v.v thì việc không cung cấp/công bố là nghĩa vụ của doanh nghiệp Sở dĩ

những thông tin này không được phép tiếp cận bởi nó có liên quan đến “quyền bí

mật đời tư” là một trong những quyền nhân thân cực kỳ quan trọng đối với mỗi cá

Trang 33

nhân và được ghi nhận như một quyền con người Theo Điều 12 Tuyên ngôn Quốc

tế Nhân quyền 1948 khẳng định “không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện

vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ và chống lại sự can thiệp xâm phạm như vậy”34

Có thể thấy rằng, theo phân tích trên sẽ có hai loại thông tin mà chủ thể có quyền tiếp cận thông tin bị hạn chế tiếp cận, đó là thông tin mà doanh nghiệp có quyền trong việc hạn chế tiếp cận, tức cho phép hay không cho phép tiếp cận tùy thuộc vào quyết định của doanh nghiệp và thông tin mà doanh nghiệp có nghĩa vụ hạn chế chủ thể khác tiếp cận, nghĩa là doanh nghiệp không có quyền quyết định trong việc cho phép tiếp cận hay không đối với thông tin này Như vậy, giới hạn phạm vi tiếp cận thông tin cần phải được đánh giá dưới hai góc độ về quyền và nghĩa vụ này của doanh nghiệp Xem xét dưới góc độ quyền, phạm vi giới hạn thông tin được quyền tiếp cận là lợi ích của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng vì thế các thông tin này chỉ được phép tiếp cận khi có một lợi ích công cộng lớn hơn hoặc

có sự đồng ý của doanh nghiệp Đối với xem xét dưới góc độ nghĩa vụ, phạm vi giới hạn thông tin được quyền tiếp cận là lợi ích của chủ thể khác có thể bị ảnh hưởng và các thông tin này chỉ được phép tiếp cận khi có một lợi ích công cộng lớn hơn hoặc

để bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp đang nắm giữ thông tin hay phải có sự đồng ý của chủ thể đó

1.5 Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

1.5.1 Khái niệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Bảo đảm có nghĩa là sử dụng những công cụ, những hoạt động cần thiết để

bổ trợ cho một vật hay một việc làm gì đấy để đạt được kết quả mong đợi35 Như

vậy, “bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp” được hiểu là làm cho

quyền này không chỉ được ghi nhận về mặt pháp lý mà còn được bảo vệ khi có hành

vi xâm phạm để quyền này được thực thi trong thực tế cuộc sống Để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, theo tác giả cần phải có sự đảm bảo về các vấn đề sau:

Trang 34

Thứ nhất, cần có sự bảo đảm về mặt pháp lý Đây là yếu tố quan trọng cho

việc quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp được thực hiện trên thực tế Bảo đảm pháp lý về vấn đề này cần được thực hiện ở một số nội dung như:

- Cần có quy định đầy đủ, chặt chẽ quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp bằng cách xác lập rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ cung

cấp/công bố thông tin;

- Cần quy định các biện pháp xử lý các vi phạm về quyền tiếp cận thông tin

về doanh nghiệp Đây là nội dung quan trọng trong việc bảo đảm về mặt pháp lý đối

với quyền tiếp cận thông tin về doanh nghệp

Thứ hai, cần có sự bảo đảm về cơ chế khiếu nại, khởi kiện và yêu cầu bồi

thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Khi có cơ sở cho rằng, các chủ thể liên quan có hành vi vi phạm trong việc cung cấp/công bố thông tin về doanh nghiệp thì pháp luật phải tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể quyền có thể sử dụng quyền khiếu nại, quyền khởi kiện của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách nhanh nhất Quyền khiếu nại và quyền khởi kiện này là quyền đặc biệt quan trọng, được xem như là công cụ để bảo vệ quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp của chủ thể quyền

Thứ ba, cần bảo đảm xử lý các hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin về

doanh nghiệp Khi có hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin, cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật Việc bảo đảm xử lý đúng đắn các vi phạm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp là một trong những bảo đảm quan trọng, giúp cho các chủ thể có liên quan thực sự tôn trọng và thực hiện đúng đắn các quy định về vấn đề này

Tuy nhiên, dù thực hiện bất kỳ sự đảm bảo nào thì hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể mang nghĩa vụ Bởi lẽ, nếu bên có nghĩa vụ cố tình chây ỳ, không chủ động trong việc cung cấp/công khai thông tin thì quyền tiếp cận thông tin này rất khó để thực thi trên thực tế một cách toàn vẹn

1.5.2 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Xã hội ngày càng phát triển, thông tin ngày càng giữ vai trò quyết định trong việc phát triển kinh tế vì thế nhu cầu tiếp cận thông tin của con người ngày càng gia tăng Quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trở thành một quyền quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 35

hợp pháp của mình đồng thời giúp họ nắm bắt các cơ hội trong hoạt động đầu tư một cách tốt hơn Do đó cần thiết phải có cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

về doanh nghiệp để quyền này đi vào thực tế cuộc sống và việc đảm bảo này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì những lý do sau :

Thứ nhất, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự

tham gia của cổ đông nhỏ trong việc quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp Liên quan đến các quyền của nhà đầu tư trong việc tham gia quản lý công ty, cổ đông là người chủ của công ty nên họ có quyền tham gia quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp Tuy nhiên, các cổ đông thiểu số gần như là bị động trong quyền này do hầu như không biết gì đến hoạt động kinh doanh của công ty Vì vậy bảo đảm quyền tiếp cận thông tin sẽ tạo điều kiện để thu hút sự tham gia của cổ đông vào công việc của doanh nghiệp bởi vì cổ đông chỉ thực sự có khả năng tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp khi họ biết đầy đủ thông tin về chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cũng sẽ tăng cường nhận thức của cổ đông về các lý do khiến doanh nghiệp đưa ra một quyết định từ đó tăng cường khả năng ủng hộ, làm giảm hiểu lầm và sự không hài lòng của cổ đông với

bộ máy điều hành của doanh nghiệp

Thứ hai, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ giúp bảo vệ

các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể liên quan đến hoạt động doanh nghiệp Các cổ đông sử dụng quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Minh chứng rõ rằng khi xem xét một vụ việc trên thực tế

Vụ việc được đăng trên báo Dân trí ngày 06/09/2014:

Vụ việc này xảy ra tại Công ty CPXDCT Giao thông I, các cổ đông nghi ngờ việc Ông Nguyễn Mạnh Quỳnh, nguyên chủ tịch HĐQT – kiêm giám đốc Công ty tổ chức Đại hội đồng cổ đông trái pháp luật, xâm hại quyền lợi hợp pháp của cổ đông, có dấu hiệu cố ý làm trái các quy định gây thiệt hại nhiều

tỷ đồng Bằng quyền tiếp cận thông tin của mình, các cổ đông đã yêu cầu xem xét các biên bản họp hội đồng quản trị của công ty, kết quả là họ đã phát hiện ra rằng ông Nguyễn Mạnh Quỳnh đã bị bãi nhiệm khỏi chức danh chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc công ty vào ngày 16/02/2012 Tuy nhiên, vào ngày 27/06/2012 ông Nguyễn Mạnh Quỳnh đã mạo danh chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên công ty năm 2012, để bầu ra thành viên Hội đồng quản trị và các chức danh

Trang 36

chủ chốt Công ty nhiệm kỳ 2012-2017 Ngoài ra, còn nhờ vào quyền tiếp cận thông tin này, họ còn phát hiện rằng Ông Nguyễn Mạnh Quỳnh đã có hành

vi tham nhũng nhiều tỷ đồng khi ông không đưa một số tài sản của doanh nghiệp vào danh sách thẩm định tài sản, để từ đó xác định trị giá doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa 36

Như vậy, rõ ràng rằng những người có quyền quản lý điều hành hoàn toàn có khả năng lợi dụng vị thế kiểm soát công ty của mình, lợi dụng ưu thế về thông tin của công ty để thu lợi cá nhân bỏ qua lợi ích của cổ đông Vì thế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp sẽ giúp cổ đông thực hiện quyền giám sát nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa quyền và lợi ích của mình có thể bị xâm hại

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cũng chính là bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư Bản thân thông tin không phải là tài sản của nhà đầu tư nhưng việc được tiếp cận thông tin và sử dụng thông tin chính là tiền đề để phát sinh các quyền và lợi ích khác Nếu thông tin không minh bạch thì nhà đầu tư rất khó có thể đạt được mục tiêu lợi nhuận khi tham gia thị trường, không có quyền tiếp cận thông tin thì nhà đầu tư chỉ là những con bạc mong chờ may rủi trên thị trường37

Thứ ba, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp chính là đảm bảo

quyền được thông tin cân xứng Thông tin bất cân xứng là việc xảy ra khi một bên tham gia thỏa thuận biết nhiều hơn bên kia38 Việc các bên nhận được thông tin không cân xứng sẽ làm cho môi trường kinh doanh và đầu tư không thể công bằng

và hoàn hảo bởi hệ quả của thông tin bất cân xứng là sự lựa chọn bất lợi và những rủi ro về đạo đức cho bên bị hạn chế về thông tin Theo nghiên cứu của Joseph E Stiglitz thì hệ quả của thị trường thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng sẽ không có cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy, cần thiết và bắt buộc phải tái tạo và duy trì quyền bình đẳng trong tiếp cận thông tin, cân xứng trong sở hữu thông tin để thiết lập một môi trường đầu tư bình đẳng, văn minh, một không gian cạnh tranh lành mạnh39 Để làm được như vậy, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng

36

Theo Báo Dân Trí, “Đại hội cổ đông bị tuyên trái pháp luật, Giám đốc vẫn ung dung “tại vị””, đăng ngày

09/09/2014 nguồn: van-ung-dung-tai-vi-885589.htm , truy cập lần cuối ngày 22/01/2015

http://dantri.com.vn/ban-doc/bai-2-dai-hoi-co-dong-bi-tuyen-trai-phap-luat-giam-doc-37

Nguyễn Văn Vân, Tlđd 7, tr.20-23

38

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và

có vai trò quan trọng trong nền kinh tế học hiện đại thông qua sự kiện các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz vinh dự nhận giải Nobel kinh tế năm 2001

39

Nguyễn Văn Vân, Tlđd 7, tr 20-23

Trang 37

Kết luận Chương 1

Để có cơ sở đối chiếu và phân tích các quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp, tác giả dành Chương 1 để nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin Trong chương này, tác giả tập trung làm sáng tỏ khái niệm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp bên cạnh đó cũng nêu lên mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Tác giả làm rõ các chủ thể có nghĩa vụ công bố/cung cấp thông tin và các chủ thể có quyền tiếp cận thông tin, phạm vi thông tin được tiếp cận Ngoài ra, trong chương 1 tác giả cũng phân tích về sự đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp từ đó chỉ ra ý nghĩa việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Những phân tích về lý luận này là cơ sở để nghiên cứu, đánh giá và có những kiến nghị để hoàn thiện thực trạng quy định về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng quy định về quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

2.1.1 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin về doanh nghiệp

Ngoài những thông tin được tiếp cận bằng cách tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng thì có một số thông tin chỉ có một số chủ thể mới được pháp luật trao quyền tiếp cận Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể được quyền tiếp cận đều được pháp luật trao quyền này ngang nhau, đối với mỗi loại chủ thể với mỗi đặc thù gắn liền với quyền và lợi ích của mình sẽ được pháp luật trao phạm vi tiếp cận khác nhau và mục đích trao cho các chủ thể này quyền tiếp cận khác nhau như vậy để họ có công cụ tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình Vì thế phạm vi tiếp cận thông tin về doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ quyền và lợi ích cần được bảo vệ của mỗi chủ thể Việc liệt kê mọi chủ thể có quyền tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp là rất khó, vì vậy tác giả chỉ tập trung phân tích một số chủ thể mà việc nắm giữ quyền tiếp cận thông tin này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của

họ

Thứ nhất là cổ đông công ty đối với công ty cổ phần và thành viên công ty

đối với công ty TNHH

Đối với cổ đông công ty, theo quy định của pháp luật cổ đông công ty có quyền kiểm tra sổ sách của doanh nghiệp Đây là cơ sở để cổ đông thực hiện quyền

cơ bản khác như quyền biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền bầu và miễn nhiệm Hội đồng quản trị và quyền chuyển nhượng cổ phần Luật Doanh nghiệp quy định mọi cổ đông đều có yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin liên quan đến danh sách cổ đông có quyền biểu quyết, điều lệ công ty và biên bản họp ghi chép về Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông thông qua40 Đối với cổ đông nắm giữ trên 10% cổ phần có quyền yêu cầu cung cấp các thông tin liên quan đến biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát41 Việc quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 10% cổ phần trở lên có quyền tiếp cận thông tin rộng hơn so với cổ đông phổ thông

40 Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014

41

Khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm