Một thực tế nữa là trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên đã không chú ýđến việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn lịch sử, dạy quen theo lối truyềnthống thầy đọc- trò chép, chỉ truy
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
cơ bản
Tác giả sáng kiến: Vũ Thị Trâm
Mã sáng kiến: 04 - 57 - 02
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
cơ bản
Tác giả sáng kiến: Vũ Thị Trâm
Mã sáng kiến: 04 - 57 - 02
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã nêu ” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Thực hiện
Nghị quyết số 29-NQ/TW (Nghị quyết Trung ương) của Ban Chấp hành Trungương Đảng ( khóa XI), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tích cực đổi mới toàn diện nềngiáo dục Một trong những khâu đột phá bước đầu của đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục đào tạo mà Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện là cách thức tổchức dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh
Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành Thông tư21/2018/TT-BGDĐT, ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Về mụctiêu giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp tục được xây dựng trênquan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện, giúphọc sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ Chương trình giáo dục phổ thôngmới định hướng phát huy tính tích cực của học sinh, phát triển năng lực người học
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến
thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệuquả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thểhiện sự vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng) được thểhiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào
đó Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần
Trang 5phải có đó là các năng lực chung cốt lõi Năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực
cơ bản: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lựchợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng lực
sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.Trước yêu cầu đổi mới để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới, đờihỏi giáo viên tất cả các bộ môn phải tích cực vận dụng các phương pháp và kĩ thuậtdạy học tích cực nhằm hình thành năng lực người học
Trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, toàn ngành giáo dục nói chung
và các trường THPT nói riêng, nhiều phụ huynh và học sinh quan niệm sai rằng:môn Lịch sử là môn phụ, môn học thuộc lòng Thậm chí nhiều học sinh còn cảmthấy sợ học môn Lịch sử vì có nhiều sự kiện, nhiều số liệu lại khô khan, khôngyêu thích môn lịch sử Học sinh sợ Lịch sử, không lựa chọn môn Lịch sử làmmôn chuyên khi vào trường chuyên, lớp chọn
Một thực tế nữa là trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên đã không chú ýđến việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn lịch sử, dạy quen theo lối truyềnthống thầy đọc- trò chép, chỉ truyền tải những kiến thức có sẵn trong sách giáokhoa hay biến giờ học lịch sử thành giờ học chính trị Đây cũng chính là mộttrong những nguyên nhân làm giảm sút chất lượng dạy và học môn Lịch sử, làmcho học sinh không yêu thích môn lịch sử Câu chuyện về những “lỗ hổng ” trongdạy sử, học sử ở cấp học phổ thông luôn trở thành đề tài nóng trên mỗi diễn đàn.Chuyện học sinh, sinh viên “mù sử” thực sự trở thành nỗi xót xa của toàn xã hội.Trước sự quan tâm ấy, chúng tôi – những giáo viên dạy môn lịch sử luôn trăn trở
về việc dạy của mình, làm sao để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử?, làm sao
để các em học sinh yêu thích môn học này?
Trong quá trình giảng dạy và khảo nghiệm thực tế bộ môn, đặc biệt khi dạyphần Lịch sử lớp 10, chương trình Lịch sử lớp 10 bao gồm các kiến thức của Lịch
sử thời kì xã hội nguyên thủy, thời kì cổ đại, trung đại và một phần cận đại Đó là
Trang 6thời kì lịch sử diễn ra xa so với thời điểm hiện tại, nhiều tư liệu lịch sử không còn,kiến thức và khái niệm khá trìu tượng Do đó, tôi nhận thấy học sinh còn chưahứng thú, phát huy tính tích cực đối với nội dung học và kết quả đạt được chưacao Thực trạng đó xuất phát từ một số nguyên nhân như: học sinh coi môn Lịch
sử là môn phụ nên không chú trọng việc chuẩn bị kiến thức và sưu tầm tài liệu liênquan ở nhà hơn nữa phần kiến thức quá xa so với ngày nay, giáo viên chưa vậndụng được linh hoạt và nhuần nhuyễn một số phương pháp và kĩ thuật dạy họctích cực nhằm phát triển năng lực học sinh, còn nặng về yêu cầu học sinh nhớ,thuộc kiến thức để phục vụ cho mục đích thi cử, hoặc vô tình biến giờ học Lịch
sử trở thành giờ học Chính trị
Để thay đổi hiện trạng trên, trong quá trình giảng dạy thực tế chương trìnhLịch sử lớp 10 CB, để nâng cao hiệu quả bài học môn lịch sử, tôi đã tích cựcnghiên cứu và vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theođịnh hướng phát triển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử Nhờ
đó, hiệu quả bài học Lịch sử, kết quả giảng dạy và học tập của giáo viên và họcsinh được nâng cao rõ rệt, học sinh yêu thích, hứng thú với môn Lịch sử
2 Tên sáng kiến:
Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định
hướng phát triển năng lực học sinh nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử chương trình Lịch sử lớp 10 cơ bản
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Vũ Thị Trâm
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường PTDTNT cấp 2 - 3 Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0963121356 Email: vutram.dtnt@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Trâm
Trang 75 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Trước hết, sáng kiến được áp dụng trực tiếp ở lĩnh vực giáo dục, đào tạohọc sinh, giúp học sinh hình thành các năng lực, tích cực, hứng thú trong quá trìnhnghiên cứu, tìm hiểu bài học lịch sử Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuậtdạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử, nhằm phát triển năng lực người học phù hợp với đề án đổi mới
chương trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ GD&ĐTđang tiến hành Đồng thời đây là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mớiphương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Mặt khác, sáng kiến còn có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác của đờisống xã hội như hoạt động nghiên cứu, lập kế hoạch… hình thành các năng lực và
kĩ năng cần thiết trong quá trình làm việc và cuộc sống con người
Sáng kiến đã giải quyết được các vấn đề thiết yếu sau: làm rõ được tầm quantrọng của việc áp dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử; tạo hứngthú và niềm yêu thích, đam mê đối với môn học Điều này giải quyết được bănkhoăn, lo lắng của ngành giáo dục và sự quan tâm của xã hội về thực trạng dạy vàhọc Lịch sử hiện nay
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 09/2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1 Tầm quan trọng của việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghịquyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 -1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trongcác chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999)
Trang 8Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh" Như vậy, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướngtới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gìqua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương phápdạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiếnthức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc họctập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ýnghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những trithức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề họctập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và pháttriển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thôngtin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặcthù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nàocũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhậnthức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạyhọc Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hìnhthức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoàilớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu
Trang 9cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứngthú cho người học
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúccủa chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thànhphần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô
tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lựcphương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cáchđộc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận quaviệc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lývận động
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ
và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung vàphương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khảnăng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhậnqua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khácnhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhậnqua việc học giao tiếp
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá
được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triểnnăng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm,chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được
Trang 10tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tựchịu trách nhiệm.
Giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu pháttriển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn pháttriển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lựcnày không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động đượchình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thểhiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một là, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học
sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thứcđược sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành cáchoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biếtvào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các
tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi vàphát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích,tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hìnhthành và phát triển tiềm năng sáng tạo
Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết vàkinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung
Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt
tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chútrọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều
Trang 11hình thức như theo lời giải, đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí
để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
Trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo định hướngphát triển năng lực người học, người giáo viên cần phải tích cực áp dụng cácphương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực Đặc biệt, để thay đổi thực trạng củaviệc dạy và học môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông, một trong những yêucầu cấp thiết đối với các thầy cô giáo bộ môn Lịch sử đó là làm sao để có thể gâyhứng thú, yêu thích môn Lịch sử cho học sinh Muốn vậy, giáo viên cần phải biếtvận dụng linh hoạt, hợp lí các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn,được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướngphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướngtới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa làtập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vàophát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích
cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực, người thầy phải biết vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực để phát triển tư duy, kĩ năng và năng lực chohọc sinh Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáoviên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điềukhiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất củaphương pháp dạy học Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặcthù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại.Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huytính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, XYZ,Bản đồ tư duy, 3 lần 3, “KWL” Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật
Trang 12dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vàoquá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS Chương trình Lịch sử lớp 10 bao gồm 3 phần: Lịch sử thế giới thời nguyênthủy, cổ đại và trung đại, lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX vàlịch sử thế giới cận đại Đây là phần kiến thức khá xa so với ngày nay nên kiếnthức rất trìu tượng và khó, trong khi đó, nhiều giáo viên dạy học sinh còn yêu cầuhọc sinh nhớ sự kiện một cách máy móc, học thuộc, nếu không cẩn thận sẽ biếngiờ học Lịch sử thành giờ học Chính trị Điều này gây tâm lí sợ và chán học Lịch
sử cho học sinh Đây cũng là một trong những nguyên nhân tại sao học sinh ít rất
sợ học Sử Vì vậy, để giúp học sinh nắm kiến thức dễ dàng, yêu thích và hứng thúvới môn Lịch sử, qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu lí luận và khảo nghiệm thực
tế, tôi nhận thấy, giáo viên cần biết vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạyhọc tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong quá trình giảngdạy
7.1.2 Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực :
7.1.2.1.Dạy học tích hợp, liên môn.
Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát
triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến
thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi giải quyết một vấn đề trong thựctiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng
hợp, liên quan đến nhiều môn học Dạy học tích hợp liên môn là dạy cho học sinh
biết tổng hợp kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn”, trong đó:
Dạy học tích hợp là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quátrình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức lối sống, giáo dục phápluật, giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới biển đảo, giáo dục sử dụng nănglượng tiết kiệm và hiệu quả, giáo dục bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…
Trang 13Dạy học liên môn là phải xác định được các nội dung kiến thức liên quanđến các môn học khác để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùngmột nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Đối với những kiến thức liênmôn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trìnhmôn học đó và không phải dạy ở các môn khác Trường hợp nội dung kiến thức cótính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy họcriêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các môn liênqua
Giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc cáckiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu, giảng dạy,thảo luận, dạy học theo dự án
Đối với môn Lịch sử, để hiểu sâu kiến thức nội dung bài học lịch sử đòi hỏigiáo viên và học sinh cần vận dụng kiến thức của nhiều môn học liên quan nhưvăn học, Địa lí, Âm nhạc, Giáo dục công dân…Qua đó sẽ giúp học sinh có hứngthú và yêu thích hơn khi nghiên cứu, tìm hiểu một vấn đề lịch sử
Một số lưu ý đối với giáo viên: Tích hợp liên môn không phải là tích hợp đamôn; Không phải bài nào cũng phải dạy tích hợp liên môn Giáo viên nên hướngdẫn học sinh vận dụng kiến thức liên môn để nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức lịch
sử, tránh việc vận dụng một cách hình thức, máy móc
Với chương trình lịch sử lớp 10, giáo viên có thể tích hợp theo chủ đề như:
Sự phát triển kinh tế thời cổ, trung, cận đại; Sự hình thành và phát triển chế độphong kiến; Văn hóa cổ, trung đại, cận đại; … Hoặc giáo viên có thể dạy học tíchhợp trong từng bài
Ví dụ: Khi dạy bài 6: “Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ”.Giáo viên có thể tích hợp với môn Địa lí (Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí của ẤnĐộ), Hay môn toán (Hệ thống chữ số cả số 0), môn văn qua các tác phẩm văn học
Trang 14của Ấn Độ giáo viên liên hệ đến các tác phẩm văn học mà các em đã được họcnhư Ramayana, Mahabharata.
Hay khi học bài 11: “Tây Âu thời hậu kì trung đại” Ở bài học này, giáo viênhướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các môn Văn học, Địa lí, toán, vật lí, Tinhọc, để nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức Với môn Địa lí như khẳng định trái đấthình cầu qua hành trình của Magienlang và thuyết nhật tâm (Côpecních) Thuyếtđịa tâm (Ptôlêmê), môn Toán Đê-các-tơ vừa là nhà toán học xuất sắc, vừa là nhàtriết học lớn Môn văn có các nhà văn nổi tiếng như Sếch-xpia là nhà soạn kịch vĩđại với tác phẩm nổi tiếng của ông là Vở kịch Roméo và Juliet với nội dung đềcao nhân bản và tự do cá nhân (tình yêu đôi lứa)….hay môn hội họa phát triểnphong phú với những tài năng như Lê-ô-na đơ Vanh-xi với nhiều tác phẩm nổitiếng, tiêu biểu nhất là bức họa La Giô-công Môn Tin học: Kỹ năng tìm kiếmthông tin trên mạng, kỹ năng quay video, kỹ năng tạo lập bài thuyết trình bằngPower Point Các bộ môn khác: Phân tích, tổng hợp vấn đề Môn toán: Rút ra bàihọc về các định lí định đề và áp dụng về sau
7.1.2.2 Dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giảiquyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năngnhận biết và giải quyết vấn đề Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó làtình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề,giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giảiquyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của họcsinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khácnhau của học sinh Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa họcchuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễndạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoahọc chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuy nhiên nếuchỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì
Trang 15học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn.
Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quanđiểm dạy học theo tình huống
Trong dạy học lịch sử, tình huống có vấn đề xuất phát từ 3 cơ sở :Các tìnhhuống quyết định hoặc tình huống lựa chọn của quá trình lịch sử; Các mâu thuẫntrong kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử; Mâu thuẫn của kiến thức
cũ với tư liệu mới được tiếp cận.Trên cơ sở những tình huống có vấn đề, giáo viênnêu ra nhiệm vụ trong các câu hỏi tình huống
Lịch sử lớp 10 bao gồm kiến thức lịch sử thế giới cổ, trung, cận đại, ViệtNam thời nguyên thủy, thời cổ trung đại, cận đại với nhiều sự kiện, khái niệm trìutượng Dạy học giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp tích cực giúpkích thích tư duy của học sinh, học sinh tích cực, chủ động trong việc giải quyếtvấn đề và lĩnh hội kiến thức, hình thành năng lực học sinh
Ví dụ, Khi dạy bài 1: “Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thuỷ” giáo viên có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về nguồn gốc loài người: Đạo
Thiên chúa giáo cho rằng: con người và xã hội loài người là do Chúa Trời sáng tạora; Đạo Hồi quan niệm con người do Thánh A-la sáng tạo ra; hay truyền thuyết vềA-đam, Evar tạo ra con người; Lại cũng có nhận định cho rằng : con người cónguồn gốc từ động vật bậc cao- một loài vượn cổ Từ những quan niệm khác nhau
về nguồn gốc loài người, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi nhận thức như sau: Con người có nguồn gốc từ đâu ? Tiến hoá như thế nào ? Bầy người nguyên thuỷ
có gì khác so với bầy động vật ? Dựa vào những kiến thức đã học ở cấp học dưới
và kiến thức sinh vật học, học sinh sẽ dễ dàng trả lời được nguồn gốc của conngười chính là sự phát triển lâu dài từ động vật cấp thấp lên động vật cấp cao Đỉnhcao của quá trình này là sự chuyển biến từ vượn thành người Giáo viên có thể gợi
ý tiếp: trong quá trình tiến hoá, loài người phải trải qua một giai đoạn trung gian,
đó là Người tối cổ
Trang 16Hay, khi dạy bài 31: “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” Giáo viên hỏi học sinh: Tại sao lê nin nói “Cách mạng tư sản pháp là cuộc đại cách mạng” Để
giải quyết được câu nói của lê nin là đúng thì học sinh phải chứng minh được đỉnhcao của cách mạng tư sản pháp là vào thời chính quyền Gia cô banh nắm quyền đãthi hành những chính sách tích cực bảo vệ quyền lợi của quần chúng nhân dân, nhưchia ruộng đất cho nông dân và bán rẻ trả góp trong vòng 10 năm, đồng thời banban bố quyền dân chủ rộng rãi, mọi sự bất bình đẳng về đẳng cấp bị xóa bỏ Qua
đó sẽ chứng minh được câu nói của Lê nin là hoàn toàn đúng vì lần đầu tiên tronglịch sử người nông dân được hưởng các quyền lợi cho mình
7.1.2.3 Dạy học dự án
Dạy học theo dự án (Project Work) là một hình thức dạy học, trong đó ngườihọc thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thựchành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thựchiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích,lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình vàkết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA
* Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án
- Người học là trung tâm của quá trình dạy học
- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn
- Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình
- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên
- Dự án có tính liên hệ với thực tế
- Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện
- Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học
- Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án
Trang 17* Bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trongcùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng việc học tập của học sinh thông qua các vấn đề kích thích tư duy Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương trình
Bộ câu hỏi định hướng bao gồm:
- Câu hỏi khái quát Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng,kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹnăng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn
- Câu hỏi bài học Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự
án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tự xâydựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thậpđược
- Câu hỏi nội dung Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng có các câu trả lời
“đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụthể, thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (nhưcác câu hỏi kiểm tra thông thường)
* Quy trình tổ chức
Công đoạn chuẩn bị
- Công việc của GV:
+ Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạtđược
+ Thiết kế dự án: xác định lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần, ýtưởng và tên dự án
+ Thiết kế các nhiệm vụ cho học sinh: làm thế nào để học sinh thực hiện xong thì
bộ câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được
Trang 18+ Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế.
- Công việc của HS:
+ Cùng GV thống nhất các tiêu chí đánh giá
+ Làm việc nhóm để xây dựng dự án
+ Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm + Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án
Công đoạn thực hiện
Công việc của GV:
+ Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh trong quá trình thực hiện dự án
+ Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho học sinh
+ Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án.Công việc của HS:
+ Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch
+ Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được
+ Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo
+ Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần
+ Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên và các nhóm khác qua các buổi thảo luận hoặc qua trang wiki
Công đoạn tổng hợp
Công việc của GV:
+ Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh giai đoạn cuối dự án
+ Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm HS
Công việc của HS:
+ Hoàn tất sản phẩm của nhóm
+ Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm
Trang 19Công đoạn đánh giá
Công việc của GV:
+ Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án
+ Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm
Công việc của HS:
+ Tiến hành giới thiệu sản phẩm
+ Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm
+ Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra
* Các loại sản phẩm và thực hiện nhiệm vụ
Thành quả học tập bao gồm cả thành quả có thể đo lường (lượng hóa) và thành quả khó có thể đo lường (khó lượng hóa)
* Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án
Vai trò của học sinh
Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp
và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó
Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm
Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em
Học sinh hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó
HS cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự ánCuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên
những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó
Vai trò của giáo viên:
Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung
Trang 20tâm, là chuyên gia và nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức, trong DHDA, GV làchỉ là người hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise) chứ không phả i là “cầm tay chỉ việc” cho HS của mình Theo đó, giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ nội dung nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gằn với nội dung cần học (thiết kế các bài tập cho học sinh)…
Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học
mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợinhất cho các em trên con đường thực hiện dự án
Vai trò của công nghệ:
Mặc dù công nghệ không phải là vấn đề cốt yếu đối với phương pháp DHDAnhưng nó có thể nâng cao kinh nghiệm học tập và đem lại cho học sinh cơ hội đểhòa nhập với thế giới bên ngoài, tìm thấy các nguồn tài nguyên và tạo ra sảnphẩm Một vài giáo viên có thể không cảm thấy thoải mái với những công nghệmới hoặc có thể cảm thấy lớp học chỉ với một máy tính sẽ là trở ngại đối với việcphải dùng máy tính như là một phần của công việc dự án Những thử thách này cóthể vượt qua Nhiều giáo viên cần sẵn sàng chấp nhận rằng họ không phải làchuyên gia trong mọi lĩnh vực và học sinh của họ có thể biết nhiều hơn họ, đặcbiệt là khi tiếp cận với công nghệ Cùng học các kỹ năng mang tính kỹ thuật vớihọc sinh hoặc nhờ học sinh giúp đỡ như một người cố vấn kỹ thuật là một vài cách
để vượt qua chướng ngại này
Đánh giá dự án
Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phảiđánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theodõi sự tiến bộ ở các em Một số công cụ đánh giá:
Trang 21- Bài kiểm tra viết và kiếm tra nói Các bài kiểm tra có thể đưa ra được chứng cứtrực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và hiểu kiến thức của học sinh
- Sổ ghi chép Sổ ghi chép là những phản ảnh về việc học và những hồi đáp vớinhững gợi ý ở dạng viết Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các kỹnăng tư duy cụ thể ở những phần quan trọng của dự án
- Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị Các cuộc phỏng vấnmiệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểubài của học sinh Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa
ra lý do về cách hiểu vấn đề Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưngdùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thểđược thực hiện bởi học sinh
- Sự thể hiện – là những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinhthiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em
- Kế hoạch dự án Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập Học sinhxác định mục tiêu, thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xácđịnh các tiêu chí để đánh giá
- Phản hồi qua bạn học Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặcđiểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học
Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác
Chương trình lịch sử 10 những sự kiện xẩy ra xa với chúng ta, có rất ít tưliệu, tranh ảnh, phim tư liệu còn được lưu giữ Dạy học dự án là phương pháp hiệuquả để phát huy được tính sáng tạo, khả năng nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, xử lí tưliệu và tạo ra các sản phẩm của học sinh Khi học sinh chủ động trong quá trìnhhọc tập, các em sẽ nắm kiến thức sâu và chắc Đồng thời phát triển được các nănglực chung cũng như năng lực chuyên biệt của học sinh
Ví dụ khi học bài 24: “Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII”
Bước 1: Lựa chọn chủ đề: “Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII”
Trang 22Bước 2: Xây dựng kế hoạch dự án học tập: Dự kiến những vấn đề triển khai dự án: Giáo viên chia cả lớp làm 3 nhóm với nội dung như sau:
Nhóm 1: Tìm hiểu về tư tưởng, tôn giáo Lúc bấy giờ nước ta có những tôn giáonào?
Nhóm 2: Tìm hiểu nội dung giáo dục, văn học Văn học Việt Nam thời này có gìmới? Những điểm mới đó nói lên điều gì?
Nhóm 3: Tìm hiểu thành tựu khoa học- kĩ thuật và nghệ thuật
Nhóm 4: Sưu tầm các tranh ảnh, tài liệu, hiện vật của tỉnh nhà vào thời gian nàycòn tồn tại đến ngày nay
=> Thời gian chuẩn bị 1 tuần, các nhóm chia trưởng nhóm và thư kí của nhóm ghichép lại nội dung Mỗi nhóm trình bày chính xã sẽ được 9 điểm Sau đó các nhómtrình bày trên phai powpoint trên lớp
Bước 3: Thực hiện dự án (Thực hiện thời gian ngoài giờ lên lớp)
- Học sinh làm việc cá nhân và nhóm theo kế hoạch đã phân công
- Thu thập tài liệu: Dựa vào kiến thức đã học trong lịch sử dân tộc, các thànhviên trong nhóm theo sự phân công sử dụng các phương tiện (phiếu điều tra,internet, tư liệu, máy ảnh, ghi âm…) để tìm hiểu về các nội dung bài học
- Xử lí thông tin, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các thành viên trong nhóm.Trong quá trình xử lí thông tin, các nhóm sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi để làm rõ
về nội dung cần tìm hiểu
- Viết báo cáo của nhóm bằng văn bản và chuẩn bị bài trình bày Power Pointtrước lớp, báo cáo các nhóm dựa trên cấu trúc đề cương đã thảo luận, bổ sungbảng biểu, tranh ảnh, phim tư liệu… Các nhóm được giáo viên phân công tự chọnthành viên giới thiệu sản phẩm của nhóm mình
Bước 4: Trong giờ học chính khóa: Học sinh học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Trang 23- Học sinh học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Các nhóm báo cáo kết quả những nội dung thu thập được
- Các nhóm khác sẽ có những câu hỏi phản biện và nhận xét Sau đó giáo viên
nhận xét chung, chốt lại nội dung cơ bản và yêu câu học sinh trả lời bộ câu hỏi màgiáo viên đã chuẩn bị như sau:
- Thành tựu nổi bật của văn hóa XVI – XVIII
- Điểm khác biệt so với văn hóa trước đấy
- Vận dụng riêng ở Vĩnh phúc qua các lĩnh vực trên như thế nào?
- Truyền thống này được kế thừa và phát huy như thế nào trong thời đại ngày nayQua đây các em sẽ đạt được mục tiêu bài học về kiến thức, tư tưởng và hình thànhđược kĩ năng tự tin, thuyếtt trình, phân tích và vấn đáp…
- Nhìn lại quá trình thực hiện dự án
Hay khi dạy bài 11: “Tây Âu thời hậu kì trung đại”
Giáo viên cùng học sinh thảo luận về các vấn đề cần giải quyết của tiểu chủ đề, từ
đó phác thảo đề cương nghiên cứu: cần tìm hiểu các nội dung sau:
Trang 24Nội dung 1: nguyên nhân và điều kiện dẫn tới các cuộc phát kiến địa lí cuối thế kỉXV-đầu thế kỉ XVI.
- Trình bày được những cuộc phát kiến địa lí lớn của người Bồ Đào Nha và TâyBan Nha
- Đánh giá được hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí đối với nhân loại
Nội dung 2: Hiểu được hoàn cảnh ra đời, những thành tựu, nội dung, ý nghĩa củaphong trào Văn hóa Phục hưng
- Nguyên nhân, thành tựu, nội dung
- Ý nghĩa lịch sử
- Thời gian và địa điểm:
+ Thời gian triển khai: Dự kiến 1 tuần
+ Địa điểm: Học sinh có thể nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu trước ở nhà và ở trường
- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách khai thác các nguồn tài liệu, cách ghi chép
và trích dẫn tài liệu tham khảo, sử dụng các nguồn tài liệu qua 1 tiết dạy
- Học sinh, bên cạnh những vấn đề cả lớp cùng tìm hiểu chung, chia lớp thành 3nhóm tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu chuẩn bị bài thuyết trình
Bước 3: Thực hiện dự án (Thực hiện thời gian ngoài giờ lên lớp)
- Học sinh làm việc cá nhân và nhóm theo kế hoạch đã phân công
- Thu thập tài liệu: Dựa vào kiến thức đã học trong lịch sử dân tộc, các thànhviên trong nhóm theo sự phân công sử dụng các phương tiện (phiếu điều tra,internet, tư liệu, máy ảnh, ghi âm…) để tìm hiểu về các nội dung bài học
- Xử lí thông tin, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các thành viên trong nhóm.Trong quá trình xử lí thông tin, các nhóm sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi để làm rõ
về nội dung cần tìm hiểu
- Viết báo cáo của nhóm bằng văn bản và chuẩn bị bài trình bày Power Pointtrước lớp, báo cáo các nhóm dựa trên cấu trúc đề cương đã thảo luận, bổ sung lược
Trang 25đồ, bảng biểu, tranh ảnh, phim tư liệu… Các nhóm được giáo viên phân công tựchọn thành viên giới thiệu sản phẩm của nhóm mình
Bước 4: Trong giờ học chính khóa: Học sinh học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Các nhóm báo cáo kết quả những nội dung thu thập được
- Nhìn lại quá trình thực hiện dự án
- Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; 3 đề nghị cải tiến
- Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi
Kĩ thuật “3 lần 3” thực hiện hiệu quả nhất khi tổ chức hoạt động nhóm, saukhi mỗi nhóm lên báo cáo kết quả, các nhóm còn lại chú ý lắng nghe và rút ranhận xét: 3 điều tốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến về nhóm trình bày
- 3 lời khen cho nhóm trình bày
- 3 điều chưa hài lòng về nhóm trình bày
- 3 đề nghị cải tiến ở nhóm trình bày
Trang 267.1.2 5 Kĩ thuật KWL:
Là kĩ thuật dạy học nhằm tạo điều kiện cho người học nêu được nhữngđiều đã biết liên quan đến chủ đề, những điều muốn biết về chủ đề trước khi học,
và những điều đã học sau khi học
Dựa trên sơ đồ KWL, người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mìnhtrong việc học, đồng thời Gv biết được kết quả học tập của người học, từ đó điềuchỉnh việc dạy học cho hiệu quả
Biểu đồ KWL phục vụ cho các mục đích sau:
-Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài đọc
- Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc
- Giúp học sinh tự giám sát quá trình đọc hiểu của các em
- Cho phép học sinh đánh giá quá trình đọc hiểu của các em
Tạo cơ hội để học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quanđến chủ đề Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K Hoạtđộng này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng Tổ chức cho học sinhthảo luận về những gì các em đã ghi nhận
Một số lưu ý tại cột K
- Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não Đôi khi để khởi động, họcsinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các em đãbiết về ”
Trang 27- Khuyến khích học sinh giải thích Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điềucác em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
- Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề Cả giáo viên và họcsinh ghi nhận câu hỏi vào cột W Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất
cả các ý tưởng Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến
nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W
Một số lưu ý tại cột W
- Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở Nếu chỉ hỏi các em : “Các em muốn biếtthêm điều gì về chủ đề này?” Đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, vìcác em chưa có ý tưởng Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau :
“Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?”
- Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi, “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên quan đến ý tưởng này không?”
- Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W Có thể bạnmong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏicủa học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc Chú ý làkhông được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn Thành phần chính trong cột W vẫn lànhững câu hỏi của học sinh
- Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L.Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghinhận vào cột W
Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong
Một số lưu ý tại cột L
Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điềucác em cảm thấy thích Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ýtưởng của các em Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lờicho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao
Trang 28Đề nghị học sinh tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột
W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời (Không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)
- Thảo luận những thông tin được học sinh ghi nhận ở cột L
- Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ởcột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc
- Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bàiđọc
Với kĩ thuật KWL, giáo viên có thể sử dụng vào đầu tiết dạy, giáo viên nêuchủ đề, sau đó phát phiếu cho học sinh, yêu cầu các em điền thông tin vào cột K,
W, sau đó giáo viên thu lại, qua đó giáo viên sẽ nắm được học sinh đã biết gì vềchủ đề đó, muốn học gì về chủ đề đó Sau đó, vào cuối tiết dạy hoặc phần dạy,giáo viên phát lại phiếu và yêu cầu học sinh điều vào cột L để nắm được học sinh
đã học được gì trong chủ đề
Ví dụ: Cũng bài 22- sử 10 “Tình hình văn hóa thế kỉ XVI - XVIII” sau khi họccác bạn nhóm khác lên trình bày học sinh còn lại sẽ nhận xét vào phiếu là 3 điềutốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến về nhóm trình bày với kĩ thuật 3 lần 3