1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hỏi cung bị can theo luật tố tụng hình sự việt nam

138 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hỏi cung bị can theo luật tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Nguyễn Thành Lợi
Người hướng dẫn TS. LS. Nguyễn Hữu Thế Trạch
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 13,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tiễn việc hỏi cung bị can được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng triển khai thực hiện rất đa dạng và có nhiều trường hợp lạm dụng, biến tướng dẫn đến vi p

Trang 1

NGUYỄN THÀNH LỢI

HỎI CUNG BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP.HỒ CHÍ MINH - THÁNG 4 - NĂM 2019

Trang 2

HỎI CUNG BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học: TS LS NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH

Học viên: NGUYỄN THÀNH LỢI, Lớp Cao học Luật Khóa 26

TP.HỒ CHÍ MINH - THÁNG 4 - NĂM 2019

Trang 3

Luật học “Hỏi cung bị can theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” là hoàn toàn

trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là

công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS LS

Nguyễn Hữu Thế Trạch Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Nguyễn Thành Lợi

Trang 4

8 VKSND Viện kiểm sát nhân dân

11 TAND Tòa án nhân dân

Trang 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỎI CUNG BỊ CAN 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hỏi cung bị can 9

1.1.1 Khái niệm hỏi cung bị can 9

1.1.2 Đặc điểm hoạt động hỏi cung bị can 10

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động hỏi cung bị can 12

1.2 Cơ sở quy định thủ tục hỏi cung bị can 13

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự 13

1.2.2 Quan điểm lịch sử lập pháp về bảo đảm quyền của bị can nói riêng và quyền con người nói chung 16

1.2.3 Một số công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên 17

1.2.4 Quyền công dân, quyền con người được Hiến pháp quy định 21

1.2.5 Một số nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự trong hỏi cung bị can 22

1.3 Hỏi cung bị can của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới 27

1.3.1 Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 27

1.3.2 Liên bang Nga 28

1.3.3 Cộng Hoà Liên bang Đức 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hỏi cung bị can 34

2.1.1 Đối tượng của hỏi cung bị can 34

2.1.2 Chủ thể của hỏi cung bị can 35

2.1.3 Trình tự, thủ tục tiến hành hỏi cung bị can 36

2.1.4 Hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi 42

2.1.5 Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động hỏi cung 45

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hỏi cung bị can 46

2.2.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động hỏi cung bị can 46

Trang 6

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT

ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN 66

3.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hỏi cung bị can 66

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỏi cung bị can 70

3.2.1 Kiện toàn tổ chức Cơ quan điều tra 70

3.2.2 Nâng cao vai trò người bào chữa trong hoạt động hỏi cung bị can 72

3.2.3 Tăng cường công tác phối hợp, chế ước chặt chẽ giữa hai cơ quan Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hỏi cung bị can 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ sau khi ban hành Hiến pháp 1992, trong hơn hai thập kỷ xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã và đang đạt được nhiều kết quả tiến bộ Một trong những kết quả đạt được đó là pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn, hướng đến bảo vệ các quyền cơ bản của con người

Chủ trương cải cách tư pháp của chúng ta được xây dựng trên nền tảng của các tư tưởng pháp lý tiến bộ trên thế giới, dựa trên các nguyên tắc công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế Nhà nước với một nền thượng tôn pháp luật luôn coi các quyền con người là những giá trị xã hội cao quý nhất, được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, đồng thời cũng là những giá trị được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

Thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam trong những năm qua cho thấy, kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010 định hướng đến năm

2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị ban hành về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo được mở rộng hơn và được coi trọng hơn rất nhiều so với trước đây Chính sách của Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm đặc biệt đến việc bảo đảm quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc khi bị buộc phải tham gia vào các hoạt động của cơ quan, tổ chức của nhà nước, nhất là cơ quan tiến hành tố tụng Điều này càng thể hiện mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cá nhân con người trong trong xã hội và được cụ thể hóa bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Tuy nhiên, để có thể kết luận một người

là người phạm tội thì cần phải có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Bản án là kết quả của một quá trình tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thoạt động điều tra, truy tố và xét xử Tất cả những hoạt động này ảnh hưởng, liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi họ tham gia tố tụng với tư cách là người bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và đến tính khách quan, tính pháp lý của bản án Hoạt động hỏi cung bị can là một hoạt động

Trang 8

quan trọng của cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần làm sáng tỏ vụ án và được quy định tại Chương XI của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Mô hình tố tụng của nước ta hiện nay là mô hình tố tụng hỗn hợp, là sự pha trộn giữa mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng mà trong đó mô hình thẩm vấn giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự, do vậy hỏi cung

bị can là hoạt động thường xuyên của cơ quan tiến hành tố tụng Trong thực tiễn việc hỏi cung bị can được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng triển khai thực hiện rất đa dạng và có nhiều trường hợp lạm dụng, biến tướng dẫn đến vi phạm pháp luật khi thực hiện hoạt động này, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của công tác cải cách tư pháp, chất lượng tố tụng hiệu quả giải quyết vụ án hình

sự

Xuất phát từ xu thế xây dựng xã hội ngày càng bình đẳng, tiến bộ, quyền con người được tôn trọng theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc và cần thiết phải chống lại tình trạng tra tấn, đối xử tàn ác, vô nhân đạo theo Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc1, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận tại Điều

20: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về

sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra trấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm”

Chính vì vậy hoạt động hỏi cung bị can cần phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Hỏi cung bị can là một trong những hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra thực hiện, được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật

tố tụng hình sự quy định, nhằm thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của

bị can về toàn bộ sự thật của vụ án, hành vi phạm tội của bị can cũng như các tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa là công tác điều tra và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều hạn chế, vấn đề

1 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nổ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn

2

Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người Cụ thể, các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật

Trang 9

bảo đảm quyền con người nhất là quyền bào chữa của bị can chưa bảo đảm các quyền lợi ích hợp pháp của họ dẫn đến việc giải quyết những vụ án này không đạt hiệu quả Bên cạnh đó, không ít cơ quan và người tiến hành tố tụng đã không tuân thủ theo những quy định của pháp luật liên quan đến hỏi cung bị can dẫn đến quyền

và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại, một số quy định của pháp luật tố tụng hình

sự còn vướng mắc, bất cập Vẫn còn tình trạng bức cung, mớm cung, dùng nhục hình đối với bị can dẫn đến oan, sai vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, chưa đáp ứng đòi hỏi của tiến trình cải cách tư pháp Việt Nam Hoạt động hỏi bị can, ngoài việc sử dụng chiến thuật, nghiệp vụ lấy lời khai, người có thẩm quyền hỏi cung cần phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, trình độ học vấn của họ, vừa bảo đảm thủ tục tố tụng vừa bảo đảm quyền con người không bị vi phạm Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn nên việc nghiên cứu là cần thiết, vì vậy tác giả chọn đề tài: “Hỏi cung

bị can theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước đề cập Các công trình nghiên cứu về vấn đề này có thể khái quát như sau:

Trước hết là các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài luận án, cụ thể như:

- Về sách giáo khoa:

+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình khoa học điều tra hình sự,

Nxb Công an nhân dân

+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Nxb Công an nhân dân

+ Trường Đại học Cần Thơ (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Mạc Giáng Châu chủ biên

+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Khoa học điều tra hình sự, NXB

Công an nhân dân

+ Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật tố tụng

hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh chủ biên, Nxb Hồng Đức

Trang 10

+ Giáo trình là tài liệu giảng dạy giới thiệu, phân tích các quy định của BLTTHS, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến hỏi cung bị can

- Về sách chuyên khảo:

+ Nguyễn Ngọc Anh (2013) Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb

Chính trị quốc gia

+ Phan Bá Toản, “Lấy lời khai người bị tạm giữ trong điều tra các vụ án xâm

phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam” Công trình này tập trung nghiên cứu một số

quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc lấy lời khai của người bị tạm giữ và phân tích, đánh giá trên nền tảng thực trạng công tác lấy lời khai của các đối tượng

là người bị tạm giữ trong điều tra các vụ án liên quan đến nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia

+ Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Võ Thị Kim Oanh chủ biên

(2010), Bảo đảm quyền con người trong Tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia TP Hồ Chí Minh Công trình tổng hợp những bài viết nghiên cứu khoa học của các tác giả là những chuyên gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự Chủ đề xuyên suốt trong các bài viết nhằm hướng đến công tác bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam Những vấn đề về mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn nói chung và thực trạng của mô hình cũng như những kiến nghị để hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam đã được phân tích khá cụ thể

+ Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tư pháp Công trình nghiên cứu khoa học mang tính chất phổ quát, giới thiệu và phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 Tài liệu cung cấp hàm lượng kiến thức để người đọc hiểu rõ hơn các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Do phải dàn trải hàm hượng kiến thức trên tất cả các điều luật vì vậy việc phân tích, đánh giá hoạt động hỏi cung bị can chỉ dừng lại ở việc giới thiệu điều luật, việc đánh giá hiệu của của quy định pháp luật chưa được phân tích sâu rộng

+ Nguyễn Huy Thuật (2010), “Chiến thuật điều tra hình sự”, Nxb Công an

nhân dân Đây là công trình nghiên cứu cơ bản các vấn đề thuộc lĩnh vực điều tra hình sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự và trong đó có hỏi cung bị can

Bên cạnh các sách chuyên khảo còn có các công trình của các học giả trong nước dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự Có thể kể đến các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài, tác giả phân thành các nhóm như sau:

Trang 11

- Đề tài khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sỹ luật học:

+ Trương Công Am (2006), “Giải pháp nâng cao hiệu quả lấy lời khai người

bị tạm giữ trong điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia ở Tây nguyên”, đề

tài khoa học cấp cơ sở Đây là một công trình nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá thực trạng hoạt động lấy lời khai của người bị tạm giữ trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia một cách công phu Hạn chế của đề tài là chỉ tổng hợp, đánh giá thực trạng

mà chưa nghiên cứu về mặt lý luận

+ Lê Minh Hùng (2001), “Hỏi cung bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc

gia trong tình hình hiện nay”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện An ninh

nhân dân

+ Nguyễn Quý Khoát (2003), “Hỏi cung bị can phạm tội gián điệp trong tình

hình hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Học viện An ninh nhân dân Công trình nghiên cứu

khá thành công về mặt lý luận cũng như thực tiễn hoạt động hỏi cung bị can Tuy nhiên, chỉ giới hạn trong hoạt động hỏi cung bị can phạm tội gián điệp và trong một giai đoạn nhất định

+ Nguyễn Thị Minh (2008), “Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự”,

Luận văn thạc sĩ Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội

+ Nguyễn Hồng Nguyên (2017), “Hoạt động lấy lời khai của người bị bắt,

người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường

Đại học Luật TP HCM Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung có liên quan đến lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ và phân tích đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động này

+ Hồ Ngọc Quân (2017), “Hỏi cung bị can là người chưa thành niên trong tố

tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP HCM

Ngoài ra còn một số bài viết của một số tác giả trên các tạp chí chuyên ngành liên quan đến hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự, tuy nhiên các công trình này ở những mức độ khác nhau mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật về hỏi cung bị can mà chưa tập trung phân tích biện pháp này theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự như chủ thể có thẩm quyền hỏi cung, trình tự và thủ tục hỏi cung… cũng như chưa phân tích các bất cập, hạn chế để từ đó đưa ra đề xuất về giải pháp hoàn thiện, cũng như những kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự

Hầu hết các tài liệu nói trên đều đề cập tới hoạt động hỏi cung bị can Các nghiên cứu đều chỉ ra các quy định về thủ tục hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự

Trang 12

là tương đối đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn một số quy định mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể Chính vì vậy mà việc áp dụng các quy định này trên thực tế đã gặp không ít những khó khăn Có rất nhiều các cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận thức chưa đầy đủ, chưa thống nhất dẫn đến việc vận dụng sai các quy định của pháp luật tố tụng hình sự khi giải quyết những vụ án hình sự, điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị can Bên cạnh đó, một số đề tài được thực hiện khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 còn hiệu lực, so với thực tiễn hiện nay quy định đã có nhiều sự thay đổi, từ việc ra đời của Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành Do vậy, những luận cứ khoa học của những công trình này cần phải được tiếp tục cập nhật, phát triển những nội dung mới trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là:

+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về hỏi cung bị can;

+ Phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về hỏi cung

bị can và thực tiễn áp dụng;

+ Đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp hỏi cung bị can trong thực tiễn

4 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Là quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động hỏi cung

Trang 13

- Phạm vi không gian: đề tài tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động hỏi cung bị can trên phạm vi cả nước

+ Phạm vi thời gian: tập trung từ năm 2013 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta

về cải cách tư pháp

- Bên cạnh tác giả sẽ tiến hành một số phương pháp cụ thể như: + Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập, nghiên cứu các văn bản pháp luật và các tài liệu có liên quan hoạt động lấy lời khai người bị bắt, người

bị tạm giữ trong tố tụng hình sự; nghiên cứu hồ sơ vụ án được sử dụng tập trung tại các Chương 1 và Chương 2

+ Phương pháp tổng kết: Nghiên cứu các tài liệu tổng kết về thi hành Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003; Pháp lệnh điều tra hình sự; báo cáo tổng kết một số vụ

án hình sự có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra được sử dụng tập trung tại Chương 2

+ Phương pháp thống kê: thu thập, hệ thống, phân tích, đánh giá, tổng hợp các tài liệu, số liệu phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ được sử dụng ở Chương 2 và Chương 3

+ Phương pháp khảo sát và trao đổi

6 Các đóng góp mới của đề tài

- Về mặt khoa học: đề tài nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự; từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp để sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn chi tiết các quy định của pháp luật về hoạt động hỏi cung bị can nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trên thực tế Với kết quả nghiên cứu như vậy, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

- Về giá trị ứng dụng: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự Qua đó khắc phục được những thiếu sót, bất cập trong hoạt động này Các đề xuất, kiến nghị trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động

Trang 14

lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ cũng như xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề chung về hỏi cung bị can

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hỏi cung bị can và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả hoạt động hỏi cung bị can

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỎI CUNG BỊ CAN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hỏi cung bị can

1.1.1 Khái niệm hỏi cung bị can

Tố tụng hình sự là hoạt động đòi hỏi sự công bằng, khách quan và tuân theo các trình tự, thủ tục đúng quy định của pháp luật Hỏi cung bị can là một trong những hoạt động bắt buộc và quan trọng nhất của giai đoạn điều tra Thuật ngữ bị can được sử dụng trong luật TTHS ngay từ những văn bản tố tụng đầu tiên của nước

ta Nhưng khái niệm pháp lý về bị can được quy định lần đầu trong BLTTHS năm

1988 và được sử dụng lại trong trong các BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015, theo đó bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự Kể từ thời điểm khởi

tố bị can, Nhà nước thể hiện sự buộc tội đối với con người cụ thể, bị can là người chính thức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa bị can và người bị tạm giữ liên quan đến việc bảo đảm quyền con người của họ trong TTHS

Trong lịch sử lập pháp qua các BLTTHS năm 1988, năm 2003 và năm 2015 không có một khái niệm chính thức nào về hỏi cung bị can Theo quy định tại Điều

183 BLTTHS năm 2015, việc hỏi cung bị can do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Nội dung nêu trên chỉ rõ hoạt động hỏi cung bị can nhưng không nêu rõ hoạt động hỏi cung bị can là gì

Theo ghi nhận tại một số công trình nghiên cứu khoa học, hiện nay có rất nhiều học giả đưa ra các khái niệm về hỏi cung bị can, đáng chú ý có thể kể đến khái niệm hỏi cung bị can tại một số công trình nghiên cứu khoa học như sau:

Theo Từ điển luật học: Hỏi cung bị can là hoạt động TTHS do ĐTV tiến hành để lấy lời khai của bị can về các tình tiết của các hành vi phạm tội để thu nhập thông tin chính xác, khách quan, làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh đối với

vụ án và bị can3

Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh: Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự do BLTTHS quy định có sự kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý bị can bằng việc đưa ra những câu hỏi nhằm thu được lời khai đúng và đầy đủ của bị can

3

Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Tư pháp, tr 213

Trang 16

về sự thật của vụ án và những thông tin cần thiết khác phục vụ cho công tác điều tra

và xử lý đối với vụ án4

Tại một công trình nghiên cứu khoa học khác đưa ra định nghĩa ngắn gọi về hỏi cung bị can như sau: Hỏi cung là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can5 Theo định nghĩa nêu trên, hoạt động hỏi cung bị can chỉ đơn thuần là một hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ Khái niệm này cũng chưa thể làm rõ được hoạt động hỏi cung bị can được thực hiện cụ thể như thế nào

Trong một nghiên cứu khác, các tác giả đưa ra khái niệm về hoạt động hỏi cung bị can như sau: Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra theo trình tự luật định đối với một người đã bị khởi tố về hình sự nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của họ và những người đồng phạm6

Như vậy, qua nghiên cứu các công trình nêu trên, có thể nhận thấy điểm chung nhất của khái niệm hỏi cung bị can đó là một thủ tục thuộc giai đoạn điều tra

vụ án hình sự, mục đích của hỏi cung bị can nhằm thực hiện mục đích chung của TTHS là phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và người phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội

Do đó, tác giả xin đưa ra khái niệm về hỏi cung bị can như sau: Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra trong TTHS do ĐTV hoặc KSV tiến hành bằng cách tác động trực tiếp vào tâm lý bị can nhằm thu được lời khai trung thực, đúng đắn, đầy

đủ về quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị can nhằm làm rõ nội dung của vụ

án

1.1.2 Đặc điểm hoạt động hỏi cung bị can

- Về chủ thể thực hiện hoạt động hỏi cung bị can, theo quy định tại Điều 183 BLTTHS năm 2015, chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức và hỏi cung bị can do ĐTV thực hiện, bên cạnh đó KSV hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết Người bào chữa được hỏi bị can khi có

sự đồng ý của người có thẩm quyền hỏi cung bi can

4 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, tr 402

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr

295

6 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, NXB Công an

nhân dân, tr 270

Trang 17

- Đối tượng tác động của hoạt động hỏi cung đó là bị can, người bị khởi tố về hình sự Đó là người mà cơ quan điều tra có đủ căn cứ để xác định rằng họ đã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự Kể từ thời điểm khởi tố bị can, Nhà nước thể hiện sự buộc tội đối với con người cụ thể Trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS, người có thẩm quyền lấy lời khai sẽ thực hiện các hoạt động hỏi cung nhằm tác động trực tiếp đến tâm lý của bị can để khai thác các nội dung, tình tiết của vụ án

Hoạt động hỏi cung bị can là hoạt động phức tạp Thông qua hoạt động hỏi

và đáp, bị can trình bày lời khai về quá trình thực hiện hành vi phạm tội (nếu có), tuy nhiên lời khai có thể ít nhiều bị các yếu tố khách quan lẫn chủ quan tác động và

có thể dẫn tới sai lệch, khai báo không trung thực Trong quá trình hỏi cung bị can thường xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là cán bộ tiến hành lấy lời khai mong muốn nhanh chóng làm rõ sự thật của vụ án với một bên là bị can luôn tìm mọi cách che giấu sự thật, cản trở quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án để trốn tránh

Thực chất của hỏi cung bị can là cuộc đấu tranh về ý chí và lý trí giữa ĐTV

và bị can Do đó, để hoạt động này đạt hiệu quả cao, đòi hỏi ĐTV phải có trình độ nhận thức pháp luật, nghiệp vụ cao, có kiến thức sâu rộng về xã hội, tâm lý, có kinh nghiệm dày dạn trong công tác hỏi cung và luôn xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của các cuộc hỏi cung, những biện pháp, phương tiện cần sử dụng để đạt được mục đích đề ra

- Mục đích của hoạt động hỏi cung bị can là nhằm thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của bị can về toàn bộ sự thật của vụ án, người thực hiện hành vi phạm tội, các đồng phạm, các tình tiết liên quan đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can nhằm phục vụ cho việc điều tra

vụ án hình sự

- Hỏi cung bị can phải thực hiện theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong BLTTHS

Việc hỏi cung bị can phải được thực hiện ngay sau khi có quyết định khởi tố

bị can, trong trường hợp bị can có NBC, trước khi tiến hành việc hỏi cung ĐTV phải thông báo cho NBC và KSV về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can

Trước khi thực hiện hỏi cung bị can, cơ quan và người có thẩm quyền hỏi cung phải triệu tập bị can hoặc làm thủ tục trích xuất bị can để hỏi cung Trong trường hợp bị can vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì người có thẩm quyền có thể ra quyết định áp giải bị can

Trang 18

Khi tiến hành hỏi cung bị can, người có thẩm quyền hỏi cung phải thực hiện các nguyên tắc: nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật, thận trọng, khách quan, coi trọng chứng cứ Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của

Bộ luật hình sự

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động hỏi cung bị can

- Thứ nhất, hỏi cung bị can là hoạt động nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, giúp cơ quan điều tra có những thông tin ban đầu về đối tượng, nội dung và quá trình thực hiện hành vi bị tình nghi là phạm tội, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra, củng cố chứng cứ để làm

rõ nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can và các đồng phạm khác

Luật TTHS được xây dựng nhằm thực hiện nhiệm vụ, đó là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến các quan hệ cơ bản và quan trọng được luật hình sự bảo vệ Đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm bảo vệ quyền con người và quyền công dân là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào Chính vì vậy xác định tội phạm để

xử lý theo quy định của pháp luật là trách nhiệm của cơ quan THTT Do đó, đòi hỏi

cơ quan THTT phải thực hiện hàng loạt các biện pháp điều tra, mà hoạt động hỏi cung bị can là một trong số đó Giai đoạn điều tra được tiến hành bởi nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau, mỗi biện pháp nghiệp vụ đều đóng vai trò, ý nghĩa nhất định góp phần đạt được mục đích điều tra

- Thứ hai, hoạt động hỏi cung bị can nhằm cung cấp lời khai của bị can một trong các nguồn chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án Khi ban hành quyết định khởi tố bị can, nhiệm vụ của cơ quan THTT là thu thập thông tin từ bị can để xác định tình tiết vụ án Nếu tội phạm đang trong giai đoạn chuẩn bị thì thu thập thông tin về âm mưu phạm tội như: thời gian, địa điểm dự định phạm tội; công cụ, phương tiện gây án; động cơ phạm tội… từ đó áp dụng các biện pháp ngăn chặn tội phạm và hình thành nên các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm Nếu tội phạm đã hoàn thành thì hỏi cung bị can để khai thác các thông tin như: thời gian, địa điểm, công cụ phương tiện gây án; đặc điểm nhận dạng của người thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm… để có các biện pháp điều tra phù hợp giúp cơ quan có thẩm quyền không bỏ sót chứng cứ, không để lọt tội phạm

Trang 19

- Thứ ba, hỏi cung bị can góp phần làm chuyển biến và thay đổi thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo của bị can trong quá trình giải quyết vụ án Khi hỏi cung bị can nếu người có thẩm quyền tiến hành hỏi cung áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hợp lý, hiệu quả giúp bị can vượt qua trở ngại về tâm lý, khai báo đầy đủ, trung thực các tình tiết có liên quan đến vụ án

- Thứ tư, hỏi cung bị can giúp cơ quan THTT định hướng các vấn đề để mở rộng điều tra toàn diện vụ án Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích về diễn biến của vụ

án đã xảy ra, về vai trò, vị trí của bị can mà cơ quan THTT phán đoán trong vụ án

đó có các đối tượng phạm tội khác là đồng phạm của bị can hay không; nếu có đồng phạm thì cần phải tập trung làm rõ một số thông tin về từng đối tượng cụ thể như tên, tuổi, bí danh, vai trò vị trí, hành vi phạm tội, nơi lẩn trốn hoặc hướng lẩn trốn, đặc điểm nhận dạng, ám tín hiệu liên lạc Chính từ những thông tin này sẽ giúp cho cơ quan THTT có biện pháp tổ chức truy bắt các đối tượng Đối với những vật chứng của vụ án còn chưa được phát hiện và thu giữ, giúp cơ quan THTT thu thập thông tin về đặc điểm của chúng, nơi cất giấu, thủ đoạn cất giấu để tiến hành thu giữ kịp thời, sử dụng làm chứng cứ trong vụ án hoặc phục vụ cho việc thi hành án sau này Mặt khác, các hành vi phạm tội thường xảy ra rất phức tạp, giữa chúng thường

có mối quan hệ qua lại, liên quan với nhau ở mức độ nhất định

- Thứ năm, hỏi cung bị can là cơ sở để đảm bảo thực hiện tốt quyền của người bị buộc tội, bảo đảm quyền con người Hỏi cung bị can cần phải được nhìn nhận ở hai khía cạnh đó là pháp luật không chỉ bảo vệ cho người bị hại mà còn phải bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị can, tránh gây oan sai

Trong TTHS tồn tại ba chức năng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Nếu coi TTHS là cuộc đấu tranh giữa bên buộc tội và bên bào chữa thông qua các hoạt động tố tụng thì lời khai của bị can là vũ khí sắc bén để các bên có thể sử dụng để bảo vệ quan điểm, lợi ích chính đáng của mình, nhất là qua việc trình bày lời khai, bị can có thể tự bào chữa cho mình

1.2 Cơ sở quy định thủ tục hỏi cung bị can

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự

Đảng và Nhà nước ta coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có

ý nghĩa then chốt đối với việc bảo đảm và phát triển quyền con người Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam năm 1946 chỉ gồm 70 điều, nhưng đã dành 18 điều

Trang 20

cho việc quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, được trình bày tập trung và đặt trang trọng ở vị trí ưu tiên, ngay tại Chương II

Khái niệm Nhà nước pháp quyền được một số nhà nghiên cứu đưa ra trong quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, đặc biệt là trong

dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng ý kiến đó chưa được chấp nhận Có thể nói khái niệm Nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được cố Tổng bí thư Đỗ Mười đề cập trong bài phát biểu tại Hội nghị tập huấn ngành tư pháp toàn quốc năm 1992 và sau đó là tại kỳ họp Quốc hội khóa VIII thông qua Hiến pháp 1992 Trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền chính thức được ghi nhận lần đầu tiên tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân” và trong các văn kiện Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng, tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đều đã được khẳng định

Quan điểm nêu trên của Đảng đã được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước ta Qua nhiều lần sửa đổi, kế thừa và phát huy tinh thần của các Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2)

Bên cạnh đó, chỉ tính từ năm 1986 đến nay, chúng ta đã ban hành khoảng 20.000 văn bản luật và dưới luật, trong đó có những đạo luật trực tiếp liên quan tới lĩnh vực quyền con người như Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình

sự, BLTTHS, Luật báo chí, Luật xuất bản, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật đặc xá, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân, Luật giáo dục, Luật bảo hiểm xã hội Hiện nay, chúng ta đang tập trung triển khai mạnh mẽ và đồng bộ Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật định hướng đến năm 2020 nhằm tạo khung pháp lý và chính sách ngày càng hoàn chỉnh hơn, góp phần tạo bước phát triển mới cho việc bảo đảm quyền của công dân

Trang 21

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là trung tâm, đồng thời là mục tiêu, động lực trong quá trình xây dựng và phát triển Các quyền con người được chính thức ghi nhận bằng pháp luật thông qua Hiến pháp, các đạo luật, các văn pháp pháp luật khác, cũng như bằng nhiều chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Hiến pháp Việt Nam năm 2013, văn kiện pháp lý cao nhất của Việt Nam, đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng và toàn diện các quyền con người, đặc biệt được nêu tập trung tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Bên cạnh đó, cùng với quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập sâu rộng thì việc bảo đảm quyền con người ngày càng được quan tâm, chú trọng và ghi nhận trong các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra nhiệm vụ “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người” Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước

Từ khi thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị

về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010 định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị ban hành về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo được mở rộng hơn và được coi trọng hơn rất nhiều so với trước đây Chính sách của Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm đặc biệt đến việc bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc khi bị buộc phải tham gia vào các hoạt động của cơ quan, tổ chức của nhà nước, nhất là cơ quan THTT Điều này càng thể hiện mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cá nhân con người trong trong xã hội và được cụ thể hóa bằng pháp luật hình sự và TTHS

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa thể hiện sự đổi mới tư duy lý luận ở nước ta trong công cuộc đổi mới Nhà nước pháp quyền có các dấu hiệu cơ bản là: tính tối cao của luật; sự phân

Trang 22

công và phối hợp thực hiện các quyền lực công cộng lập pháp, hành pháp và tư pháp; dân chủ trong hoạt động của Nhà nước; bảo đảm quyền con người; tuân thủ các hiệp ước và luật pháp quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập7

Việc bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ phụ thuộc vào việc các quyền con người được quy định trong pháp luật thế nào, mà phụ thuộc rất nhiều vào việc trong Nhà nước đó các quyền con người được quy định, được bảo đảm thực hiện ra sao trên thực tế8

Như vậy, có thể khẳng định rằng bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của bị can trong TTHS nói riêng chính là hình ảnh của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mục tiêu giải phóng con người, tôn trọng và bảo vệ quyền con người chính là mục đích nội tại của Đảng và Nhà nước ta Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tố quốc, của nhân dân

1.2.2 Quan điểm lịch sử lập pháp về bảo đảm quyền của bị can nói riêng và quyền con người nói chung

Hỏi cung bị can là hoạt động do cơ quan, người có thẩm quyền THTT thực hiện, có liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền của người bị buộc tội Đất nước ta đã trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển cùng với các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Trong mỗi giai đoạn lịch sử, các bản Hiến pháp pháp trên đã ghi dấu lại sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người Trên cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, Hiến pháp 2013 một lần nữa lại khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất Mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền công dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng

và Nhà nước ta trong một loạt vấn đề của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước trong

đó có vấn đề đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong các hoạt động tố

7 Nguyễn Duy Quý (1992), “Xây dựng Nhà nước pháp luật: một số suy nghĩ về vấn đề xây dựng Nhà nước

pháp quyền ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tr 2

8 Nguyễn Ngọc Kiện (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng

hình sự, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 19

Trang 23

tụng Hiến pháp 2013 đã thể chế hóa được các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng: “xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người….”

Đổi mới thủ tục tố tụng tư pháp, hoàn thiện thủ tục TTHS nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan THTT, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Tăng cường hơn nữa khả năng chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, chống làm oan người vô tội Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ mang tính chất Hiến định làm cơ sở để quy định hoàn thiện các thủ tục TTHS, trong đó có thủ tục hỏi cung bị can

1.2.3 Một số công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên

Hội nhập quốc tế đã trở thành xu hướng phát triển chung của toàn nhân loại Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm và đảm bảo quyền con người như: Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp); Công ước về quyền dân sự và chính trị 1966 (là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976); Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác,

vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 (được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1984 theo Nghị Quyết số 39/46, có hiệu lực từ ngày 26/6/1987 Việt Nam ký kết ngày 07/11/2013, phê chuẩn ngày 05/02/2015), nội dung của các công ước nhấn mạnh đến quy định như: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý

do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định; Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người

đó được chứng minh theo pháp luật”

Trang 24

Trong quá trình hội nhập quốc tế, nhiều nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á, Việt Nam phải chịu nhiều sức ép về vấn đề quyền con người, nhưng bằng nhiều biện pháp, Việt Nam đã dần vượt qua được các sức ép này Theo đó, kinh nghiệm được rút ra là: Từng bước tham gia các công ước quốc tế và khu vực cũng như những diễn đàn quốc tế về quyền con người; sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, cam kết bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đồng thời cải thiện trên thực tế tình trạng quyền con người trong nước; vừa đối thoại, vừa đấu tranh với những sức ép từ bên ngoài; phát triển kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư nước ngoài, là điểm đến có lợi cho các đối tác khắp nơi trên thế giới Đó cũng chính là lý do tại sao quy định về nhân quyền của Hiến pháp 2013 có nhiều điểm tiến bộ hơn những Hiến pháp trước

Công ước chống tra tấn, mà Việt Nam là thành viên, không chỉ cấm tra tấn

và đòi hỏi các biện pháp để ngăn chặn tra tấn, mà còn nghiêm cấm sử dụng bất kỳ bằng chứng nào thu thập được thông qua tra tấn

Với mục tiêu xây dựng một nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước nên các nội dung quan trọng liên quan đến chính sách đối ngoại của Nhà nước ta trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư pháp, đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng Do

đó, việc tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam đã được hiến định tại Điều 12, Hiến pháp 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

Với quyền tư pháp, TAND và VKSND có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ các giá trị quyền con người Thông qua hoạt động xét xử, TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp

Trang 25

luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã được Quốc hội thông qua nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp, dù rằng thực tiễn hệ thống cơ quan tư pháp ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong tất cả các khâu, từ điều tra, truy tố đến xét xử, phòng ngừa, thi hành án Cải cách tư pháp đang là yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa rất quan trọng của cải cách bộ máy nhà nước, có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng nhất tới xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm thực hiện quyền con người

Trong cơ chế bảo đảm quyền con người của Liên Hợp Quốc, năm 2011, Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia thực hiện Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) giai đoạn 1993 - 2010 Năm 2012, Việt Nam đã nộp và trình bày Báo cáo quốc gia thực hiện Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD) giai đoạn 2000 - 2009, Báo cáo quốc gia thực hiện Công ước về quyền trẻ

em (CRC) giai đoạn 2008 - 2011; đã hoàn thành và gửi Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Hiện nay, Việt Nam đang tích cực triển khai xây dựng Báo cáo quốc gia thực thi Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR)

Năm 2017, lần đầu tiên Việt Nam có báo cáo quốc gia về chống tra tấn9 Báo cáo quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam về thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Báo cáo này đã được gửi đến Ủy ban chống tra tấn của Liên hợp quốc để Ủy ban xem xét và đăng công khai lên website của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc Đây là Báo cáo quốc gia về thực thi một trong chín Công ước cốt lõi, cơ bản của Liên hợp quốc, có nội dung quan trọng, liên quan trực tiếp đến công tác Công an, thể hiện chính sách

và pháp luật của Nhà nước ta trong chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người

Nội dung báo cáo khẳng định quyền không bị tra tấn của con người tại Việt Nam đã được quy định tại nhiều văn bản luật như Hiến pháp năm 2013, BLHS năm

1999, BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 Đặc biệt, một trong những nội

9 ve-chong-tra-tan-260.html , thời điểm truy cập 20/01/2018

Trang 26

http://bocongan.gov.vn/van-ban/van-ban-moi/bao-cao-quoc-gia-ve-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-dung quan trọng được dự thảo đề cập tới là việc bức cung, dùng nhục hình trong quá trình tố tụng Điều này cho thấy Việt Nam kiên quyết trừng trị mọi hành vi tra tấn, bức cung, dùng nhục hình; không bao che, dung túng cho bất kỳ ai, kể cả những cán bộ công quyền xâm phạm quyền cơ bản của con người; đồng thời khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người

Ngoài những việc đã làm được, báo cáo còn đề cập đến những khó khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt khi tham gia công ước của Liên Hợp Quốc Theo đó,

hệ thống văn bản pháp luật về quyền con người của Việt Nam chưa đồng bộ, nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ môi trường, giảm thiểu khác biệt giữa các vùng, miền còn hạn chế Công ước chống tra tấn là công ước về quyền con người có nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có nhiều nội dung khó, phức tạp Vì vậy, việc triển khai công ước phải tiến hành theo từng giai đoạn, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của Việt Nam

Ngoài ra, trình độ pháp luật, nghiệp vụ của nhân viên công vụ chưa đồng đều nên họ có thể hiểu sai, hiểu chưa đúng về các nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân

Vì vậy, việc cá nhân lạm quyền trong khi thực thi công vụ vẫn có thể xảy ra Thêm vào đó, tại một số địa phương, đời sống kinh tế và trình độ dân trí của người dân còn thấp, do vậy, người dân chỉ quan tâm đến pháp luật khi lợi ích của họ bị xâm hại, hoặc khi chính họ là người vi phạm pháp luật; một bộ phận người dân không hiểu rõ về các quyền lợi được hưởng từ việc thực thi chính sách, pháp luật…

Để khẳng định là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, một thành viên tích cực của công ước, thời gian tới Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai đồng

bộ các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tra tấn

Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung, trong lĩnh vực quyền con người nói riêng chưa đồng bộ, còn chồng chéo, mâu thuẫn dẫn tới khó khăn, thậm chí hiểu sai trong quá trình vận dụng và thực thi pháp luật Đây chính là vật cản lớn đối với

sự phát triển của xã hội cũng như trong việc bảo đảm thực hiện, phát triển con người Nhận diện thách thức đó, Chính phủ Việt Nam đang triển khai Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam định hướng đến năm 2020, trước mắt là rà soát lại toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm loại

bỏ các văn bản luật mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, tính khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và dễ thực hiện của các văn bản quy phạm pháp luật này, bảo đảm có hệ thống

Trang 27

pháp luật và pháp chế thống nhất phản ánh những nhu cầu thực tiễn của xã hội, vì con người và sự phát triển của con người

1.2.4 Quyền công dân, quyền con người được Hiến pháp quy định

Việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân được ghi nhận một cách cụ thể tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khoẻ của con người (Điều 10 BLTTHS năm 2015) Những vấn

đề này cụ thể hoá tại các điều của BLTTHS như: khoản 6 Điều 183 BLTTHS năm

2015 quy định: “Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can, của cơ quan, người có thẩm quyền THTT” Với quy định này, đối với hoạt động hỏi cung được đánh giá là cần thiết nhằm bảo đảm tính minh bạch trong quá trình hỏi cung, bảo vệ bị can, chống tra tấn, bức cung, dùng nhục hình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTHS, giao chính phủ bảo đảm kinh phí thực hiện quy định về chỉ định NBC, ghi âm hoặc ghi hình khi hỏi cung bị can;

Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể nơi có điều kiện để thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung kể từ ngày 01/01/2017 Chậm nhất đến 01/01/2019 thực hiện thống nhất việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc

Tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” Điều này được cụ thể hoá vào Điều 16 BLTTHS năm 2015

về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cơ quan, người có thẩm quyền THTT có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”

Trang 28

1.2.5 Một số nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự trong hỏi cung

bị can

Nhằm cụ thể hóa các chủ trương về cải cách tư pháp, quy định của Hiến pháp năm 2013 và Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến hoạt động TTHS trong hoạt động hỏi cung bị can, bảo đảm quyền con người, quyền của người

bị buộc tội, BLTTHS đã quy định nhiều nguyên tắc cơ bản định hướng cho các hoạt động TTHS

Các nguyên tắc cơ bản trong TTHS phải thể hiện sâu sắc tinh thần cải cách

tư pháp là đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, đề cao quyền tự do, dân chủ và quyền con người, làm cơ sở cho việc xây dựng các chế định, quy định cụ thể

về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục tố tụng điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo theo hướng minh bạch hóa các hoạt động tố tụng, nhất là hoạt động hỏi cung bị can

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Là một nguyên tắc Hiến định đã được quán triệt trong mọi hoạt động điều tra nói chung và hoạt động TTHS nói riêng của các cơ quan Nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền Do vậy, hỏi cung bị can là một biện pháp trong giai đoạn điều tra, giải quyết vụ án hình sự cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này:

“Mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của luật này” (Điều 7 BLTTHS năm 2015) Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo thực hiện trong quá trình hỏi cung bị can thì ĐTV cần phải quán triệt các vấn đề sau:

+ Trong mọi trường hợp hỏi cung bị can, ĐTV phải tiến hành theo đúng trình

tự, thủ tục về triệu tập bị can, trình tự hỏi cung và về lập biên bản hỏi cung theo quy định của BLTTHS năm 2015 Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ, trong mọi trường hợp hỏi cung bị can phải được tiến hành theo đúng trình tự và thủ tục được quy định trong BLTTHS năm 2015 Cụ thể hỏi cung do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, nhưng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho NBC, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can là người dưới 18 tuổi Có thể tiến hành hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc nơi ở của người đó vào thời gian ban ngày và không quá hai lần một ngày, mỗi ngày không quá 2 giờ, trừ trường hợp luật định (khoản 5 Điều

421 BLTTHS năm 2015) Trước khi tiến hành hỏi cung, ĐTV phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết quyền, nghĩa vụ của họ Trong trường hợp cần thiết, kiểm tra lại lý lịch của bị can cũng như những người tham gia tố tụng

Trang 29

khác Sau khi tiến hành hỏi, cho phép người đại diện, NBC hỏi bị can Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản theo đúng luật định Trong biên bản hỏi cung ghi nhận đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời Sau khi hỏi cung, ĐTV đọc lại biên bản hỏi cung…

+ Khi tiến hành hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, ĐTV ngoài việc phải bảo đảm tôn trọng các quyền tố tụng của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015 còn phải tuân thủ tuyệt đối Điều 421 BLTTHS năm 2015 như việc lấy lời khai người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt NBC hoặc người đại diện của họ hay thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp phạm tội có tổ chức; để truy bắt người phạm tội khác đang trốn; ngăn chặn người khác phạm tội; để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án; vụ án có tình tiết phức tạp

- Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Để giải quyết vụ án hình sự một cách có hiệu quả, đảm bảo pháp luật, xác định đúng người, đúng tội và không làm oan sai người vô tội, đòi hỏi cơ quan THTT, người THTT phải luôn luôn khách quan, chí công vô tư khi thực hiện nhiệm

vụ được giao Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra nhằm thu thập và mô tả theo trình tự TTHS thật đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của bị can về những tình tiết của vụ án, hành vi phạm tội của bị can cùng những người tham gia và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm Các chủ thể có thẩm quyền hỏi cung phải thực hiện đúng những quy định của BLTTHS để xác định sự thật của vụ án, lời khai của bị can một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội

+ Mặt khách quan: Hoạt động xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng phải căn

cứ vào sự thực vốn có của sự vật hiện tượng đó, phải có nhận định trung thực, tránh định kiến chủ quan khi nhìn nhận chúng Khi tiến hành hỏi cung, ĐTV cần có thái

độ khách quan khi nhìn nhận tội phạm, người phạm tội Thái độ khách quan được thể hiện ở việc nhận thức ngay từ đầu trong phát hiện, thu thập, đánh giá chứng cứ

+ Toàn diện: Trong quá trình tiến hành hoạt động hỏi cung bị can, ĐTV cần thu thập đánh giá không những chứng cứ buộc tội mà còn phải thu thập đánh giá cả những chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, nhân thân, nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó không để lọt tội phạm,

Trang 30

không làm oan sai người vô tội Bên cạnh đó, đòi hỏi người THTT phải thực hiện

và áp dụng một cách chính xác các quy định của BLTTHS, BLHS và các chính sách hình sự của Đảng và nhà nước trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự

+ Đầy đủ: Nguyên tắc này đòi hỏi sự tuân thủ và chấp hành đầy đủ các nguyên tắc và các quy định cụ thể của BLTTHS nhằm làm sáng tỏ tất cả các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, vì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan THTT

Để nguyên tắc này được thực hiện có hiệu quả, khi tiến hành hoạt động hỏi cung đòi hỏi ĐTV phải tôn trọng sự thật khách quan, không tuỳ tiện suy diễn chủ quan Nghiêm cấm ĐTV sử dụng bức cung, nhục hình đối với bị can dẫn đến làm mất đi tính khách quan của hoạt động điều tra mà còn xâm phạm đến quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ Để cho nguyên tắc này được đảm bảo thực hiện thì người THTT có thẩm quyền hỏi cung cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định, nghĩa là phải được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ một cách bài bản Trách nhiệm chứng minh tội phạm là thuộc về các cơ quan THTT, bị can không buộc phải chứng minh là mình vô tội Bộ luật TTHS có quy định rõ bị can có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (điểm d khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015) Do vậy, để chứng minh bị can là có tội hay không thì ĐTV phải căn cứ vào sự thật khách quan của những lời khai của bị can kết hợp với những chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can

Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa (khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013) Tại điểm h khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015 quy định: “Bị can có quyền

tự bào chữa, nhờ người bào chữa” Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của TTHS, là hình thức biểu hiện ưu thế của công lý nhằm đảm bảo quyền dân chủ trong hoạt động tố tụng nói chung cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của

bị can nói riêng Đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền bào chữa của bị can là điều kiện cần thiết giúp CQĐT xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra nói chung và hoạt động hỏi cung bị can nói riêng là một trong những quyền cơ bản của bị can Đó là quyền mà bị can tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình nhằm chứng minh cho sự vô tội, làm

Trang 31

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp khác trong quá trình TTHS

Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có NBC hoặc người đại diện của họ không lựa chọn NBC thì CQĐT, VKS, Toà án phải chỉ định NBC theo quy định tại Điều 76 BLTTHS năm 2015 Cũng giống người bị buộc tội

là người từ đủ 18 tuổi trở lên thì người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (khoản 1 Điều 422 BLTTHS năm 2015)

Trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động này chủ yếu thuộc về phía CQĐT Để bảo đảm thực hiện quyền này, CQĐT phải tạo những điều kiện cho bị can tự mình hoặc nhờ người khác thực hiện quyền bào chữa theo quy định của pháp luật

Theo quy định của pháp luật, bị can có quyền tự bào chữa cho mình Khi tự bào chữa, bị can có quyền sử dụng tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chứng minh sự vô tội của mình hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bị can hơn ai hết

là người biết về các tình tiết liên quan đến vụ án nói chung và những tình tiết liên quan tới họ nói riêng Vì vậy, việc pháp luật TTHS quy định bị can có quyền tự bào chữa là một trong những đảm bảo pháp lý hết sức cần thiết giúp họ có thể đưa ra những chứng cứ và lý lẽ biện minh gỡ tội cho mình

Để đảm bảo thực hiện quyền tự bào chữa của bị can trong hỏi cung bị can, pháp luật TTHS quy định: Bị can có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá…

Ngoài việc bảo đảm cho bị can được thực hiện quyền tự bào chữa, CQĐT còn phải đảm bảo cho bị can được thực hiện quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015 quy định cho NBC có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì NBC có quyền đặt ra câu hỏi đối với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can để tạo điều kiện cho họ khai báo về hành vi của mình Các câu hỏi mà NBC sẽ hỏi thường liên quan đến các tình tiết chứng minh sự vô tội hay những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can mà những tình tiết này có thể ĐTV sẽ không đề cập đến NBC được cơ quan có thẩm quyền THTT báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để NBC có thể sắp

Trang 32

xếp tham gia hoạt động hỏi cung (khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015) Cơ quan

có thẩm quyền THTT phải báo trước một thời gian hợp lý cho NBC về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia (khoản 1 Điểu 79 BLTTHS năm 2015)

Đối với trường hợp bị can là người dưới 18 tuổi thì khi tiến hành hoạt động hỏi cung bắt buộc phải có mặt của NBC hoặc người đại diện của họ (khoản 2 Điều

án cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS là một nguyên tắc cơ bản với nội dung:

+ Tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS là tiếng Việt Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch (Điều 29 BLTTHS năm 2015) Theo quy định này, trong quá trình hỏi cung bị can, ngôn ngữ chính thực dùng trong hoạt động hỏi cung bắt buộc phải là bằng tiếng Việt Tuy nhiên, trong trường hợp bị can không sử dụng được tiếng Việt (bị can là người nước ngoài; dân tộc thiểu số…) thì họ có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần có người phiên dịch Theo đó, Điều 70 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền THTT yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu không thể hiện bằng tiếng Việt”

+ Trong hoạt động hỏi cung bị can việc đảm bảo quyền bào chữa và tiếng nói, chữ viết có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền con người của bị can, giúp họ hiểu rõ các quyền tố tụng của mình đồng thời góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án

Trang 33

1.3 Hỏi cung bị can của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Bộ luật TTHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa10, từ Mục 2 đến Mục 8 của Chương 2, Phần II có quy định các biện pháp điều tra: thẩm vấn nghi can; hỏi người làm chứng; điều tra và thẩm cứu; khám xét, bắt giữ; tài liệu đồ vật làm chứng; truy nã; giám định Trong đó, biện pháp thẩm vấn nghi can được quy định tại tại Mục 2, là biện pháp điều tra đầu tiên trong số các biện pháp điều tra mà khi điều tra vụ án thì CQĐT phải tiến hành

Bộ luật TTHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không sử dụng thuật ngữ

“hỏi cung bị can” mà sử dụng thuật ngữ “thẩm vấn nghi can” Bộ luật TTHS cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là thẩm vấn nghi can mà chỉ có quy định về trình

tự, thủ tục thẩm vấn nghi can ở những điều luật cụ thể

Theo đó, khi thẩm vấn nghi can, ĐTV của VKSND hoặc cơ quan công an phải tiến hành thẩm vấn nghi can Khi thẩm vấn, phải có từ hai ĐTV trở lên tham gia Nghi can không cần phải bắt hoặc giam giữ có thể bị triệu tập đến một địa điểm chỉ định trong thành phố hoặc thị trấn nơi người phạm tội cư trú hoặc thẩm vấn tại nơi cư trú của người này Thời điểm thẩm vấn từ lúc triệu tập hoặc buộc phải trình diện không quá 12 giờ Không được lợi dụng việc triệu tập hoặc buộc phải trình diện để giam giữ nghi can

Tại Điều 65 BLTTHS quy định: “Cơ quan công an phải tiến hành thẩm vấn người bị tạm giữ trog vòng 24 giờ sau khi tạm giữ Khi xét thấy không cần tạm giữ thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ và ban hành lệnh phóng thích Nếu cơ quan công an thấy cần bắt người bị tạm giữ khi chưa có đủ chứng cứ thì có thể cho phép người bị tạm giữ có người bảo lãnh tạm hoãn xét xử hoặc giám sát nơi cư trú của người này” Hay tại Điều 95 quy định: “Khi thẩm vấn nghi can, trước tiên ĐTV phải hỏi nghi can có thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào không và để cho người trình bày các tình tiết phạm tội hoặc giải thích sự vô tội của mình, sau đó mới có thể hỏi thêm Nghi can phải trả lời thành khẩn các câu hỏi của ĐTV, nhưng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào không liên quan đến vụ án”11

10 Bộ luật TTHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua tại kỳ họp thứ hai, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ 5 ngày 01 tháng 7 năm 1979, được sửa đổi ngày 17 tháng 3 năm 1996 và có hiệu lực thi hành dến nay

11

Bộ luật TTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979, sửa đổi bổ sung năm 1996

Trang 34

Trong khi thẩm vấn một nghi can bị câm hoặc điếc, cán bộ có khả năng sử dụng tốt ngôn ngữ dấu hiệu phải tham gia và những tình huống như vậy phải được ghi vào biên bản

Biên bản thẩm vấn phải được đưa cho nghi can xem; nếu nghi can không thể đọc được, biên bản phải được đọc cho họ nghe Nếu thấy biên bản còn thiếu hoặc chưa chính xác, nghi can có thể bổ sung hoặc sửa chữa Khi nghi can công nhận biên bản không có sai sót thì phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đó Điều tra viên cũng

ký tên vào biên bản Nếu nghi can yêu cầu viết một bản tường trình thì phải được phép làm điều này Khi cần, ĐTV cũng có thể yêu cầu nghi can viết bản tường trình

Sau khi nghi can bị CQĐT thẩm vấn lần đầu tiên hoặc từ ngày bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì nghi can có thể chỉ định một luật sư tư vấn pháp lý và thực hiện việc khiếu nại, tố cáo thay mặt mình Nếu nghi can bị bắt, luật sư được chỉ định

có thể thay mặt họ để yêu cầu có người bảo lãnh trong giai đoạn chờ xét xử Nếu vụ

án liên quan đến bí mật nhà nước, nghi can phải có được sự phên chuẩn của CQĐT đối với việc chỉ định luật sư Luật sư được chỉ định có quyền tìm kiếm từ CQĐT các thông tin về tội phạm bị tình nghi và có thể gặp gỡ nghi can trong trại giam để tìm hiểu vụ án Khi luật sư gặp gỡ nghi can trong trại giam, căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm và nếu thấy cần thiết thì CQĐT có thể cử người tham gia cuộc gặp Nếu vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, trước khi gặp nghi can, luật sư phải

có sự phê chuẩn của CQĐT

Như vậy, xem xét những quy định về trình tự, thủ tục thẩm vấn nghi can của CQĐT trong BLTTHS nhân dân Trung Hoa và hỏi cung trong BLTTHS Việt Nam

có nhiều điểm tương đồng

1.3.2 Liên bang Nga

Bộ luật TTHS Liên bang Nga gồm 5 phần và chia thành 18 chương12 Phần thứ nhất là quy định chung; Phần thứ hai là Thủ tục tố tụng trước khi xét xử; Phần thứ ba là Thủ tục xét xử; Phần thứ tư là Thủ tục đặc biệt; Phần thứ năm là Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TTHS

Bộ luật TTHS Liên bang Nga có nhiều đặc điểm gần với pháp luật TTHS Việt Nam Do đó, khi nghiên cứu các biện pháp điều tra cho thấy, khi giải quyết vụ

án hình sự, trong giai đoạn điều tra, CQĐT tiến hành các biện pháp: khởi tố bị can,

12 Bộ luật TTHS Liên bang Nga được Đuma quốc gia thông qua ngày 22/12/2001 và được Hội đồng Liên bang Nga phê chuẩn ngày 05/12/2001

Trang 35

hỏi cung bị can; khám xét, thu giữ, tạm giữ bưu kiện, bưu phẩm, kiểm tra và ghi âm các cuộc đàm thoại Trong đó, biện pháp hỏi cung bị can được quy định tại Mục 23 của Chương VIII - Điều tra

Bộ luật TTHS Liên bang Nga không sử dụng thuật ngữ người bị bắt, người

bị tạm giữ mà sử dụng thuật ngữ chung “người tình nghi” Điều 76 quy định khái niệm lời khai người bị tình nghi như sau: “Lời khai của người bị tình nghi là những thông tin do họ đưa ra khi lấy lời khai, được tiến hành trong giai đoạn trước khi xét

xử và phù hợp với các quy định tại các Điều từ 187 đến 190 Bộ luật này”

Về thủ tục tố tụng đối với hoạt động lấy lời khai, BLTTHS Liên bang Nga quy định khá cụ thể về trình tự, thủ tục, thời gian, địa điểm cũng như biên bản ghi lời khai13 Chẳng hạn như Điều 187 quy định: Việc lấy lời khai được tiến hành ở nơi tiến hành điều tra dự thẩm Trong trường hợp xét thấy cần thiết, Dự thẩm viên có quyền tiến hành việc lấy lời khai tại nơi ở của đương sự14; Việc lấy lời khai không thể tiến hành liên tục quá 4 tiếng; Việc tiếp tục lấy lời khai được tiến hành sau ít nhất là 01 giờ để nghỉ ngơi và ăn uống, tuy nhiên tổng số thời gian lấy lời khai trong một ngày không được quá 8 giờ Dự thẩm viên tiến hành hỏi cung người tình nghi ngay sau khi đưa ra lời buộc tội đối với họ Khi bắt đầu hỏi cung, Dự thẩm viên cần làm rõ người tình nghi có nhận tội hay không, họ có muốn khai báo về bản chất việc buộc tội họ không và nếu có thì khai báo bằng ngôn ngữ nào Trong trường hợp người tình nghi từ chối khai báo thì Dự thẩm viên phải xác nhận việc này trong biên bản hỏi cung họ Trường hợp người đó từ chối khai báo ở lần hỏi cung đầu tiên chỉ

có thể được tiến hành theo yêu cầu của bị can Mỗi lần hỏi cung người tình nghi, Dự thẩm viên phải lập biên bản theo quy định Điều 190 quy định về biên bản lấy lời khai: “Quá trình và kết quả lấy lời khai được thể hiện trong biên bản và được lập theo quy định tại Điều 166 và 167 Bộ luật này” Trong biên bản hỏi cung lần đầu tiên phải ghi rõ những thông tin về nhân thân người tình nghi, bao gồm: họ và tên; ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh; quốc tịch; trình độ văn hoá; hoàn cảnh gia đình, các thành viên trong gia đình; nơi làm việc hoặc học tập, nghề nghiệp hoặc chức vụ; nơi cư trú; tiền án (nếu có); những thông tin khác có ý nghĩa đối với vụ án

13 Điều 187 đến Điều 190 BLTTHS Liên bang Nga 2001, bổ sung năm 2006

14 BLTTHS Liên bang Nga quy định chủ thể tiến hành hỏi cung là Dự thẩm viên- là người có chức vụ quyền hạn, có quyền tiến hành điều tra dự thẩm đối với vụ án trong phạm vi thẩm quyền do BLTTHS Liên bang Nga quy định

Trang 36

Đối với người tình nghi là người dưới 18 tuổi, BLTTHS Liên bang Nga quy định về việc lấy lời khai một cách khá cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho chủ thể này15 Việc lấy lời khai của người bị tình nghi là người dưới 18 tuổi không được tiến hành liên tục quá 2 giờ và tổng thời gian không được quá 4 giờ trong một ngày Người bào chữa tham gia vào quá trình lấy lời khai người bị tình nghi là người dưới 18 tuổi, có quyền đưa ra câu hỏi đối với người dưới 18 tuổi, sau khi kết thúc việc lấy lời khai được xem biên bản và đưa ra những nhận xét về tính đúng đắn

và toàn diện của những nội dung được đưa vào biên bản Đối với việc lấy lời khai của người chưa thành niên chưa đủ 16 tuổi hoặc đủ 16 tuổi nhưng bị rối loạn về tâm thần hoặc chậm phát triển về mặt tâm sinh lý thì sự tham gia của nhà sư phạm hoặc nhà tâm lý là bắt buộc

1.3.3 Cộng Hoà Liên bang Đức

Mô hình TTHS của Cộng hoà Liên bang Đức là tố tụng thẩm vấn, xét hỏi Trên cơ sở được xây dựng, hình thành từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, trải qua quá trình dài hoàn thiện, được sửa đổi, bổ sung nhiều lần Bộ luật TTHS của Cộng hoà Liên bang Đức có 6 phần với khoảng 470 điều quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong trình tự tố tụng giải quyết VAHS

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ quan công tố là chủ thể tiến hành hoạt động điều tra nên không thành lập hệ thống CQĐT riêng biệt như quy định của luật TTHS Việt Nam Viện kiểm sát điều tra thuộc thẩm quyền của Thẩm phán thụ lý VAHS Do đó, cơ quan công tố có trách nhiệm về toàn bộ hoạt động điều tra vụ án

Cơ quan công tố phải tiến hành điều tra ngay khi nhận được tin báo, tố giác về tội phạm Khi vụ án được khởi tố, cơ quan công tố có quyền và trách nhiệm áp dụng tất

cả các biện pháp của BLTTHS để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và hành

vi phạm tội của bị can, làm rõ tất cả các tình tiết liên quan đến vụ án Trong quá trình điều tra, cơ quan công tố có trách nhiệm thu thập chứng cứ buộc tội và cả những chứng cứ gỡ tội để bảo đảm sự khách quan, công bằng, không thiên vị trong lĩnh vực tư pháp hình sự16

Để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội của bị can, làm rõ tất cả các tình tiết liên quan đến vụ án, trong quá trình điều tra, cơ quan công

tố có quyền sử dụng biện pháp lấy lời khai bị can Điều 163a của Bộ luật quy định

về việc lấy lời khai bị can

Trang 37

Bị can phải được lấy lời khai chậm nhất là trước khi kết thúc điều tra, trừ khi thủ tục tố tụng dẫn tới việc đình chỉ Đối với những vấn đề đơn giản, có thể cho người đó cơ hội có ý kiến bằng văn bản; Nếu bị can có yêu cầu thu thập chứng cứ

để phục vụ việc bào chữa, chứng cứ đó sẽ được thu thập nếu đó là chứng cứ quan trọng; Bị can có nghĩa vụ có mặt tại Cơ quan công tố khi được triệu tập Điều 133 đến 136a, 168c khoản 1 và khoản 5 sẽ được áp dụng với những sửa đổi phù hợp Khi có yêu cầu của bị can, toà án sẽ quyết định tính hợp pháp của việc triệu tập người đó, Điều 161a khoản 3

Bên cạnh các biện pháp khám nghiệm tử thi; giải phẩu tử thi; nhận dạng… thì lấy lời khai bị can là một trong những biện pháp điều tra hiệu quả, có khả năng thu nhiều tin tức nhất về vụ án đang điều tra cũng như các tin tức khác mà cơ quan công tố cần thu thập Bộ luật TTHS Cộng hoà Liên bang Đức cũng quy định về sự tham gia của NBC trong quá trình lấy lời khai của bị can Quyền có NBC được quy định tại Điều 137 BLTTHS cho phép bị can có quyền nhận được sự trợ giúp pháp lý

từ NBC trong quá trình tố tụng mà không có sự hạn chế Theo quy định của BLTTHS Cộng hoà Liên bang Đức, họ được thông báo quyền giữ im lặng và quyền được tư vấn bởi NBC ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào, thậm chí trước khi tiến hành thủ tục thẩm vấn Chính vì vậy, tại khoản 1 Điều 136 BLTTHS quy định: khi bị bắt giữ, bị can được khuyên nên im lặng nếu bị cảnh sát thẩm vấn và yêu cầu được gặp luật sư Việc giữ im lặng cho đến khi nói chuyện với luật sư sẽ không bị coi là tình tiết chống lại người bị bắt Như vậy, BLTTHS Cộng hoà Liên bang Đức quy định

về sự có mặt của NBC khi tiến hành lấy lời khai bị can và một số quyền khác là sự đảm bảo cần thiết cho quá trình điều tra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

Qua nghiên cứu pháp luật TTHS của Liên bang Nga, Liên bang Đức và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về hỏi cung bị can, có thể thấy:

Cả 03 quốc gia trên đều là quốc gia mô hình TTHS khá tương đồng và phù hợp với Việt Nam, đặc biệt hiện nay, pháp luật TTHS của các quốc gia này cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện nên việc tìm hiểu những quy định của pháp luật liên quan đến các biện pháp điều tra nói chung và biện pháp hỏi cung nói riêng là những kinh nghiệm tốt khi nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật TTHS ở nước ta Nghiên cứu pháp luật TTHS của những nước này cho thấy, BLTTHS của Liên bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Cộng hoà Liên bang Đức cũng như BLTTHS Việt Nam không đưa ra định nghĩa biện pháp điều tra này là gì Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau: BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định là thẩm vấn

Trang 38

nghi can, BLTTHS Cộng hoà Liên bang Đức là lấy lời khai bị can, BLTTHS Liên bang Nga là hỏi cung bị can, nhưng đây đều là biện pháp điều tra quan trọng nhằm thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và xác định các thiệt hại do tội phạm gây ra và những vấn đề khác có liên quan Pháp luật TTHS các quốc gia đó có điểm chung tương quan với pháp luật TTHS Việt Nam khi quy định về hoạt động điều tra này, bên cạnh đó do xuất phát từ điều kiện kinh

tế, xã hội, tình hình tội phạm… Ở những nước này khác nhau, do đó, BLTTHS quy định về biện pháp này cũng có sự khác nhau như là: chủ thể hỏi cung, quyền của bị can trong quá trình hỏi cung… Vì vậy, điều này có thể làm tư liệu quý báu để các nhà làm luật nước ta tham khảo trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung BLTTHS về hỏi cung bị can nói riêng và giai đoạn điều tra nói chung trong quá trình giải quyết VAHS

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hoạt động hỏi cung bị can được thu thập đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật có thể là nguồn chứng cứ quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật Mặc dù hỏi cung bị can là hoạt động thu thập chứng cứ khá phổ biến, là hoạt động bắt buộc trong thủ tục tố tụng hình sự Tuy nhiên, hiện nay pháp luật vẫn còn những vấn đề tồn tại, bất cập cần phải giải quyết để hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm quyền con người trong quá trình thực hiện hoạt động hỏi cung bị can

Trong chương này, tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản nhất về hỏi cung bị can, đưa ra các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động hỏi cung bị can Tác giả cũng trình bày được cơ sở lý luận về việc quy định về hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự, đồng thời có sự tổng hợp, phân tích, so sánh các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về hoạt động hỏi cung bị can Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng pháp luật, tác giả sẽ phân tích, làm rõ những nội dung vướng mắc và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật trong chương 2

Trang 40

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hỏi cung bị can

2.1.1 Đối tượng của hỏi cung bị can

Bị can là một chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS Những quy định về quyền, nghĩa vụ của bị can trong TTHS hợp thành một chế định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều tra VAHS nói chung và trong biện pháp điều tra hỏi cung bị can nói riêng

Hoạt động TTHS chính thức đặt ra khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong toàn bộ quá trình TTHS, một chủ thể buộc xuất hiện phải tham gia kể từ khi điều tra, đến tuy tố, xét xử, thi hành án và dĩ nhiên ở mỗi hoạt động hợp thành cụ thể của TTHS, mang một tên gọi khác nhau: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… Vì thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này ở mỗi hoạt động nói trên có sự điều chỉnh nhất định của BLTTHS Một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách là bị can trong VAHS khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội Theo Từ điển Luật học thì bị can là người đã bị khởi tố về hình sự17 Còn Từ điển

Tiếng Việt, bị can được quy định cụ thể hơn, Bị can là người phạm tội hay tình nghi phạm tội đã bị khởi tố về hình sự18 Việc xác định một người có tư cách bị can từ khi nào là rất quan trọng Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015 thì bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự19 Khi một người bị khởi tố

về hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án, tuy nhiên điều đó không có nghĩa xác định họ là người có tội Đây là vấn đề có tính nguyên tắc Bởi

lẽ, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật20 Như vậy, theo quy định của BLTTHS hiện hành thì bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi

tố bị can Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi CQĐT đình chỉ điều tra, VKS đình chỉ vụ án, Toà

17

Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2004) Nxb từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp

Hà Nội

18 Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2003) Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội

19 Khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015

20

Điều 13 BLTTHS năm 2015

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Trường Đại học Cần Thơ (2006), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Mạc Giáng Châu, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Cần Thơ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2006
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình khoa học điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học điều tra hình sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
27. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh chủ biên, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2015
28. Võ Thị Kim Oanh (2010), Bảo đảm quyền con người trong Tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong Tư pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2010
29. Võ Thị Kim Oanh (2016), Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
30. Trần Quang Tiệp (2013), Chế định chứng cứ trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng cứ trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
31. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
32. Lê Vũ Huy (2012), Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng các quy định về hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng các quy định về hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Vũ Huy
Năm: 2012
33. Võ Thị Thanh Thúy (2011), Bắt, tạm giữ , tạm giam là người chưa thành niên phạm tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt, tạm giữ , tạm giam là người chưa thành niên phạm tội trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Thanh Thúy
Năm: 2011
34. Đỗ Thị Phượng (2007), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Phượng
Năm: 2007
35. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011), Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ
Tác giả: Lương Thị Mỹ Quỳnh
Năm: 2011
36. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2009), Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tiến trình cải cách tử pháp ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tiến trình cải cách tử pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Thế Trạch
Năm: 2009
37. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2014), Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Thế Trạch
Năm: 2014
38. Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị, tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người của người bị, tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lại Văn Trình
Năm: 2011
39. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2012), Tài liệu tập huấn tư pháp người chưa thành niên, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn tư pháp người chưa thành niên
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
42. Võ Quốc Công (2005), Vấn đề bắt giữ oan, sai trong hoạt động điều tra vụ án hình sự và một số giải pháp khắc phục của Cơ quan cảnh sát điều tra hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Học viện Cảnh sát nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bắt giữ oan, sai trong hoạt động điều tra vụ án hình sự và một số giải pháp khắc phục của Cơ quan cảnh sát điều tra hiện nay
Tác giả: Võ Quốc Công
Năm: 2005
49. “Báo cáo quốc gia về thực thi công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn”, http://bocongan.gov.vn/van-ban/van-ban-moi/bao-cao-quoc-gia-ve-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-chong-tra-tan-260.html, truy cập ngày 20/01/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về thực thi công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn
50. “Quốc hội thảo luận về án oan, sai và bồi thường oan, sai trong tố tụng”, https://vtv.vn/chinh-tri/quoc-hoi-thao-luan-ve-an-oan-sai-va-boi-thuong-oan-sai-trong-to-tung-20150605091633181.htm, truy cập ngày 07/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội thảo luận về án oan, sai và bồi thường oan, sai trong tố tụng
52. Hoài Thu (2015) “Oan sai vì điều tra viên năng lực kém, tư tưởng nóng vội”, http://www.baogiaothong.vn/oan-sai-vi-dieu-tra-vien-nang-luc-kem-tu-tuong-nong-voi-d108241.html, truy cập ngày 18/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oan sai vì điều tra viên năng lực kém, tư tưởng nóng vội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w