khiếu nại về danh sách chủ nợ; quyền cử đại diện tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản; quyền tham gia Hội nghị chủ nợ; quyền được khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản… Trong đó, nộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TÒA ÁN TRONG THỦ TỤC PHÁ
SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2004
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Lữ Thị Hằng Khoá: 2005- 2009 MSSV: 3040034 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Phan Huy Hồng
TP HỒ CHÍ MINH- 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác; các dữ liệu, luận điểm được trích dẫn đầy đủ nếu không là ý tưởng hoặc là kết quả sự tổng hợp của riêng tôi
Sinh viên thực hiện
Lữ Thị Hằng
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN, HTX: Doanh nghiệp, Hợp tác xã
NĐ 67/2006/NĐ-CP: Nghị định số 67/2006/NĐ-CP hướng dẫn áp dụng Luật Phá
sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của
Tổ quản lý, thanh lý tài sản
NĐ 114/2008/NĐ-CP: Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/2008 hướng dẫn
chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác
Trang 4MỤC LỤC
Phần mở đầu: 1
Chương 1 4
1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật phá sản 4
1.1.1 Khái niệm phá sản 4
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản ở Việt Nam 5
1.1.2.1 Pháp luật phá sản của Việt Nam trước Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 5
1.1.2.2 Pháp luật phá sản của Việt Nam dưới hiệu lực của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 6
1.1.2.3 Pháp luật phá sản của Việt Nam dưới hiệu lực của Luật Phá sản 2004 7
1.1.3 Vai trò của Luật Phá sản 2004 9
1.1.3.1 Luật Phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ 9
1.1.3.2 Luật Phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động 9
1.1.3.3 Luật Phá sản góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của con nợ 10
1.1.3.4 Luật Phá sản góp phần làm lành mạnh nền kinh tế 11
1.1.3.5 Luật Phá sản góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội 11
1.2 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản theo LPS 2004 12
1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản 12
1.2.2 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản 13 1.2.2.1 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ nợ 14
1.2.2.2 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với con nợ 14
1.2.2.3 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với Tổ quản lý, thanh lý tài sản 14
1.2.2.4 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với VKS trong thủ tục phá sản 15
Chương II 16
2.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 16
2.2 Địa vị pháp lý của Tòa án khi nhận, thụ lý đơn và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản 17
2.2.1 Nhiệm vụ của Tòa án khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 18
2.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 20
2.3 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản 26
Trang 52.3.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi doanh nghiệp đặc biệt và
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính 26
2.3.2 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản 27
2.4 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục quản lý, thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản DN, HTX 28
2.4.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong việc quản lý tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản 29
2.4.2 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục thanh lý tài sản của DN, HTX 32
2.4.3 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục tuyên bố phá sản DN, HTX 35
2.5 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo pháp luật một số nước 36
2.5.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo pháp luật Hoa Kỳ 37
2.5.2 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo pháp luật Pháp 39
2.5.3 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo pháp luật Úc 41
Chương III 45
3.1 Thực tiễn thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 45
3.2 Định hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 53
3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 53
3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 53
3.2.3 Nội dung hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản 54
Phần kết luận 59
Trang 6để giải quyết nhiều vụ việc trong đó có việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN, HTX Vậy nguyên nhân của tình trạng này là do đâu, để giải quyết tình trạng này cần có những giải pháp pháp lý nào? TAND đã thể hiện vai trò của mình trong thủ tục phá sản như thế nào để khắc phục những “ lỗ hổng” của pháp luật phá sản? Để hiểu một cách thấu đáo các vấn đề trên cần phải có sự nghiên cứu kỹ về vai trò TAND mà cụ thể là Tòa kinh tế trong việc giải quyết phá sản DN, HTX trên cơ sở đó xây dựng cho nó một địa vị pháp lý đầy đủ và hợp lý hơn góp phần làm cho thủ tục giải quyết phá sản được tiến hành một cách thuận lợi và hiệu quả hơn
Chính vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “ Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo Luật Phá sản năm 2004” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Luận văn sẽ là công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác pháp luật, những người có nhu cầu quan tâm tìm hiểu, nhất là sinh viên luật Đặc biệt là đóng góp quan điểm trong việc xây dựng địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những quy định của Luật Phá sản năm 2004
về địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản trên cơ sở thực tế Từ đó phát hiện những vấn đề còn bất cập, hạn chế và đề xuất phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu: Thực tiễn thi hành pháp luật phá sản về địa vị pháp lý của
Tòa án ở một số tỉnh thành trong những năm gần đây
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Những vấn đề lý luận chung về pháp luật phá sản và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
+ Phân tích và làm rõ vai trò của Tòa án trong thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản năm 2004
+ Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật phá sản ở Tòa án nhân dân những năm gần đây trên cơ sở so sánh với pháp luật nước ngoài Qua đó phân tích những hạn chế, bất cập còn tồn tại
Trang 7+ Đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng cụ thể là phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và chứng minh để làm sáng tỏ nội dung đề tài
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Luật Phá sản được kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 11 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2004 Thực tiễn thi hành Luật Phá sản còn nhiều vướng mắc, bất cập do đó có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đóng góp và xây dựng cho việc hoàn thiện pháp luật phá sản Điển hình như các đề tài luận văn cao học của các tác giả: Nguyễn Trường Nhật Phượng ( 2004) với đề
tài Chế độ pháp lý về phá sản – thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện; Lê Thị Đào ( 2006) với đề tài Luật Phá sản 2004 – cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
các chủ nợ; Đinh Ngọc Thu Hương ( 2006) với đề tài Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo Luật Phá sản 2004; Lê Học Lâm ( 2007) với đề tài Những biện pháp pháp lý đảm bảo thực hiện Luật Phá sản năm 2004 ở nước ta hiện nay; Đinh Thị
Thanh Nga ( 2007) với đề tài: Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản Các đề tài luận văn cử nhân có các tác giả như: Hi Hoàng Khánh Linh ( 2005)
với đề tài Thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã theo Luật Phá sản 2004; Trần Nhật Tân ( 2005) với đề tài Luật Phá sản 2004 - bước phát triển mới của pháp luật phá
sản Việt Nam… Mỗi tác giả trên đều nghiên cứu và có các giải pháp ở mỗi khía cạnh
khác nhau, trong đó đề tài nghiên cứu của tác giả Đinh Ngọc Thu Hương có đề tài nghiên cứu giống với đề tài của tác giả Tuy nhiên cách tiếp cận của tác giả Đinh Ngọc Thu Hương đứng từ góc độ của một luận văn thạc sỹ luật học và với góc nhìn của một người làm công tác thực tiễn Với góc độ tiếp cận của một luận văn cử nhân chưa có ai thực hiện đề tài này Trên cơ sở tham khảo đề tài của tác giả Đinh Ngọc Thu Hương một cách có chọn lọc, tác giả đã thực hiện luận văn theo quan điểm của riêng mình phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã cố gắng khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật và việc thực hiện các quy định mới nhất của pháp luật phá sản không chỉ ở TAND Tp HCM mà còn
ở TAND các tỉnh phụ cận để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài
6 Bố cục của Luận văn
Luận văn được chia làm ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
Phần nội dung được chia làm ba chương:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật phá sản và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
Trang 8+ Chương 2: Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản Doanh nghiệp, Hợp tác xã theo Luật Phá sản năm 2004
+ Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản và định hướng hoàn thiện
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỦ TỤC PHÁ SẢN
Pháp luật phá sản của Việt Nam không có một định nghĩa chính thức về “ phá sản” Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định về “ tình trạng phá sản” tại Điều 3 Theo đó, Doanh nghiệp, Hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu
Theo tác giả, phá sản có thể được hiểu ở khái niệm: “ tình trạng doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản theo thủ tục do pháp luật quy định”
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nên pháp luật của các nước trên thế giới xác định tình trạng mất khả năng thanh toán là khác nhau Một số nước áp dụng tiêu chí định lượng, quy định rõ số nợ đến hạn chưa được thanh toán để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Như Luật Phá sản của Singapore năm 1999 con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản khi không trả được số nợ đến hạn ít nhất
Trang 10là 5000 $ Singapore; theo Luật Phá sản của Liên bang Nga năm 2002 thì số tiền đó đối với pháp nhân là không quá 100.000 rúp và đối với cá nhân là không dưới 10.000 rúp; ở
Mỹ số tiền này là không dưới 10.000 USD3; ở Úc số tiền này là không dưới 2000 $ Úc4
Một số nước lại sử dụng phương án dựa trên cơ sở hành vi để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán của con nợ Phương án này không ấn định một giá trị cụ thể về
số nợ mà chỉ cần con nợ có dấu hiệu không thanh toán được nợ đến hạn thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản Theo Luật Phá sản Trung Quốc 1986, xí nghiệp bị thua lỗ nghiêm trọng vì quản lý kinh doanh không giỏi, không thể thanh toán được các khoản
nợ đến hạn bị tuyên bố phá sản5 Ở CHLB Đức, theo Luật Vỡ nợ, tình trạng mất khả năng thanh toán được xác định theo ba căn cứ: con nợ mất khả năng thanh toán ( điều 17), bị đe dọa mất khả năng thanh toán ( điều 18) hoặc nợ của con nợ lớn hơn tài sản của nó ( điều 19)6
Như vậy có thể thấy quan niệm về phá sản là khá thống nhất: đó là việc con nợ không có khả năng thanh toán nợ đến hạn của mình Điều này góp phần cho việc hỏi học kinh nghiệm xây dựng pháp luật phá sản ở các quốc gia phù hợp với sự phát triển của pháp luật phá sản trên thế giới
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản Việt Nam
1.1.2.1 Pháp luật phá sản của Việt Nam trước Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993
- Khái niệm “ phá sản” được sử dụng ở nước ta ( chủ yếu ở Nam Kỳ) thông qua việc
du nhập từ Pháp Bộ luật thương mại Pháp năm 1807 có quy định về vấn đề này
- Tuy nhiên, thuật ngữ “ phá sản” không được ứng dụng nhiều mà là thuật ngữ “ khánh tận” được sử dụng chủ yếu để chỉ tình trạng mất khả năng thanh toán của một
thương nhân Thuật ngữ “ khánh tận” xuất hiện lần đầu tiên trong Bộ luật thương mại
Trung Kì 1942 ( Điều180) và được định nghĩa một cách chính thức tại Điều 864 Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972, đó là tình trạng “ thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa án tuyên khánh tận”7
- Đến năm 1990, khi phá sản được thừa nhận là hậu quả tất yếu của nền kinh tế thị trường thì thuật ngữ “ phá sản” cũng được sử dụng và thừa nhận Tại Điều 24 Luật Công ty năm 1990 quy định: “ Công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động
Lê Thị Đào ( 2006), Luận văn Thạc sỹ luật học, Tr 5
6 TS Phan Huy Hồng ( 2004), “ Pháp luật vỡ nợ của CHLB Đức – một số nội dung cơ bản”, Tạp chí khoa học
pháp lý ( 6), Tr 45 – 54
7
PGS TS Dương Đăng Huệ tlđd, Tr 31
Trang 11kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là công ty đang lâm vào tình trạng phá sản” Tại Điều 17 Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 cũng có quy định: “ Doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản” Cũng theo quy định tại các điều luật này, Trọng tài kinh tế cấp tỉnh có quyền tuyên bố công
ty, doanh nghiệp tư nhân phá sản theo đề nghị của chính công ty, doanh nghiệp tư nhân
đó hoặc các chủ nợ của họ; cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên trong thực tế không hề
có một công ty hay một doanh nghiệp tư nhân nào bị tuyên bố phá sản trong giai đoạn này
1.1.2.2 Pháp luật phá sản của Việt Nam dưới hiệu lực của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
- Luật Phá sản doanh nghiệp được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
30 tháng 12 năm 1993 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1994 Đã đưa ra khái niệm cụ thể về “ tình trạng phá sản” tại Điều 28 và quy định một cách tương đối toàn diện về
nhiều vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết một vụ phá sản cụ thể
- Tiếp theo đó, ngày 23 tháng 12 năm 1994 Chính phủ ban hành nghị định số 189/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Trong đó quy định rõ phạm vi áp dụng của Luật Phá sản doanh nghiệp9, căn cứ để xem xét doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản10, sự tham gia của các chủ thể trong việc giải quyết phá sản
doanh nghiệp, về tổ chức và hoạt động của tổ quản lý và tổ thanh toán tài sản
- Nghị định 92/CP ngày 19 tháng 12 năm 1995 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Theo đó, nghị định này quy định về các khoản mà doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản còn nợ và các quyền lợi khác của người lao động trong các trường hợp đặc biệt khác như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bị tạm
giữ, tạm giam, thi hành nghĩa vụ quân sự
- Quyết định số 528/QĐ/BT ngày 13 tháng 6 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế làm việc của Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản Trong đó quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế làm việc của hai tổ này trong việc giải quyết phá
sản doanh nghiệp
- Quyết định số 426-QĐ ngày 01 tháng 7 năm 1994 của Tòa án nhân dân tối cao về quy chế làm việc của tập thể Thẩm phán phụ trách việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Theo đó, việc giải quyết phá sản do tổ Thẩm phán thực hiện phải được ghi rõ trong quyết định mở thủ tục phá sản và việc phân công nhiệm vụ cụ thể cho
8 Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30 tháng 12 năm 1993
9 Điều 1 Nghị định 189-CP ngày 23 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp
10
Điều 3 NĐ 189-CP
Trang 12từng Thẩm phán cũng như việc ra quyết định của tổ Thẩm phán và việc thay đổi Thẩm
phán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Công văn số 457/KHXX ngày 21 tháng 7 năm 1994 của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng một số quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp về đối tượng áp dụng của Luật Phá sản doanh nghiệp; những người có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết việc phá sản; vấn đề thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về phá sản thì Luật Phá sản doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, chi phối nội dung của các văn bản khác
1.1.2.3 Pháp luật phá sản của Việt Nam dưới hiệu lực của Luật Phá sản 2004
Thực hiện nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ XI, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp
1993 và xây dựng Luật Phá sản ( sửa đổi) Ngày 15 tháng 6 năm 2004 Luật Phá sản năm
2004 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004 Luật Phá sản 2004 đã quy định tương đối đầy đủ trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN, HTX; thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố DN, HTX và các quy định khác
có liên quan…
Các văn bản hướng dẫn Luật Phá sản năm 2004 bao gồm:
- Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 hướng dẫn áp dụng Luật Phá sản với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Trong đó quy định rõ trình tự, thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp đặc biệt… Quy định rõ việc thành lập, hoạt động, giải thể
Tổ quản lý, thanh lý tài sản; nguyên tắc, chế độ làm việc và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số HĐTP ngày 28/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản Nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định của LPS ở phần chung; việc nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; nghĩa vụ tài sản của DN, HTX; các biện pháp bảo toàn tài sản; một số quy định khác của LPS và ban hành kèm theo đó các mẫu văn bản mà
03/2005/NQ-TAND phải ra trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN, HTX
- Quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao số 01/2005/QĐ-TANDTC ngày 27/4/2005 về quy chế làm việc của tổ Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản Quyết định này quy định nguyên tắc và chế độ làm việc của tổ Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản nhưng không bao gồm tổ Thẩm phán được Chánh án chỉ định
để xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị của TAND cấp dưới trực tiếp tiến hành thủ
tục phá sản
- Nghị định số 94/2005/ NĐ-CP ngày 15/7/2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản Nghị định quy định về việc giải quyết quyền lợi về tài sản của người lao động trong DN, HTX bị tuyên bố phá sản; việc giải quyết quyền lợi của người lao động trong các trường hợp đặc biệt như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động bị tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm của cơ quan bảo
Trang 13hiểm xã hội; trách nhiệm của Sở Lao động thương binh xã hội trong việc giám sát việc
giải quyết quyền lợi của người lao động…
- Thông tư liên tịch 19/2008/TTLT-BTC-BTP ban hành ngày 19/02/2008 của Bộ Tài
chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Thông tư quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và Tổ
quản lý, thanh lý tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
- Nghị định 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác Nghị định quy định về danh mục doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác; hướng dẫn một số quy định của LPS đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác và các quy định có liên quan
- Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06/02/2009 về xử lý vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản trên lãnh thổ Việt Nam
Có thể nói, pháp luật phá sản của Việt Nam phát triển còn chậm so với xu hướng phát triển chung của pháp luật phá sản trên thế giới và chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thực thi pháp luật phá sản ở nước ta trong những năm qua chưa hiệu quả trong thực tế đời sống kinh tế xã hội Nội dung này sẽ được trình bày rõ hơn tại chương 3
1.1.3 Vai trò của Luật Phá sản năm 2004
1.1.3.1 Luật Phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các chủ thể kinh doanh không thể tránh khỏi việc nợ nần lẫn nhau, vì vậy cũng tất yếu dẫn đến việc các chủ nợ có nhiều cách khác nhau để đòi lại món nợ của mình Nhưng đôi khi, việc kiện đòi ra Tòa án không phải lúc nào cũng giải quyết được một cách thỏa đáng quyền và lợi ích của chủ nợ Nhất
là thực trạng tồn đọng án chưa được thi hành những năm gần đây còn khá nhiều Bên cạnh thủ tục Tố tụng dân sự để đòi nợ thông thường thì thủ tục phá sản được coi là thủ tục đòi nợ đặc biệt Việc đòi nợ thông qua thủ tục phá sản được đảm bảo bằng việc Tòa
án tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ qua đó bán toàn bộ tài sản của nó để trả cho chủ nợ Thủ tục phá sản cho phép chủ nợ có biện pháp kiểm soát được tình hình tài chính của doanh nghiệp nợ, hạn chế những rủi ro, thiệt hại xảy ra và bảo đảm việc thu hồi nợ một cách công bằng Đồng thời, pháp luật phá sản cũng thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích của chủ nợ thông qua một loạt các quy định về quyền của chủ nợ như: Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; quyền
Trang 14khiếu nại về danh sách chủ nợ; quyền cử đại diện tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản; quyền tham gia Hội nghị chủ nợ; quyền được khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản… Trong đó, nội dung đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ theo Luật Phá sản năm 2004 được quy định rõ ràng, đơn giản và dễ thực hiện hơn với người làm đơn ( quy định tại khoản 2 điều 13 Luật Phá sản 2004) trong khi Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 yêu cầu chủ nợ phải cung cấp cho tòa án giấy tờ, tài liệu chứng minh con nợ đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Đó là quy định “ làm khó” chủ nợ vì họ khó có thể chứng minh được điều này Luật Phá sản năm 2004 đã bỏ quy định đó, nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ nợ
1.1.3.2 Luật Phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động
Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đối tượng bị ảnh hưởng trước hết
là người lao động trong doanh nghiệp Họ sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, khó khăn về tài chính, dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội Do vậy, để bảo
vệ người lao động phải có biện pháp “ giúp đỡ” doanh nghiệp không bị phá sản Thủ tục phục hồi doanh nghiệp được đặt ra trước hết nhằm mục đích này Mặt khác, khi doanh nghiệp không thể phục hồi, khoản nợ lương của người lao động chưa được giải quyết thì pháp luật cũng có quy định cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; quyền được tham gia vào quá trình giải quyết phá sản; quyền được ưu tiên thanh toán trước các khoản nợ thông thường khác… So với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Phá sản 2004 có một số sửa đổi quan trọng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động đó là các quy định bãi
bỏ thời hạn nợ lương của DN, HTX như một điều kiện để mở thủ tục phá sản Bởi vì người lao động không có một khoản thu nhập nào khác ngoài tiền lương, trong khi đó tiền lương của họ tháng nào chỉ đủ chi dùng trong tháng đó nếu quy định thời hạn nợ lương là ba tháng liên tiếp sẽ gây khó khăn rất lớn cho người lao động Hơn nữa thời hạn ba tháng là quá dài nên dễ bị lợi dụng việc nợ lương đối với người lao động từ một đến hai tháng, sau đó trả để làm hạn chế khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong trường hợp DN, HTX rõ ràng đã có dấu hiệu lậm vào tình trạng phá sản Ngoài ra, so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản năm 2004 đã bổ sung thêm quy định về cử đại diện người lao động ở những doanh nghiệp không có công đoàn để thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( điều 14 Luật Phá sản năm 2004) Điều này cũng đã khẳng định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là quyền của tập thể người lao động chứ không phải quyền của một cá nhân riêng lẻ nào Quy định này nhằm hạn chế việc bất kỳ người lao động nào cũng được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gây bất lợi cho DN, HTX của họ11
1.1.3.3 Luật Phá sản góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của con nợ
Xu hướng chung của pháp luật phá sản trên thế giới hiện nay bên cạnh việc quan tâm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ còn chú ý tới việc phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của con nợ Luật Phá sản không đồng nghĩa với việc giải thể doanh nghiệp và thanh lý tài sản của nó mà còn trở thành công cụ tái tổ chức hoạt động kinh doanh Xu
11 Ths Vũ Hồng Vân (2005), “ Quy định của Luật Phá sản năm 2004 về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”, Tạp
chí tòa án nhân dân, (21) Tr 8 – 17
Trang 15hướng này xuất phát từ quan niệm coi phá sản là hiện tượng khách quan của nền kinh tế thị trường Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam cũng được xây dựng theo hướng này
Bằng các quy định của mình, Luật Phá sản góp phần tái cấu trúc con nợ thông qua thủ tục phục hồi tạo điều kiện để con nợ trở lại hoạt động bình thường Đây được coi là giải pháp giúp giải thoát con nợ khỏi tình trạng khó khăn Đây còn là cơ hội tốt nhất để buộc doanh nghiệp đang thua lỗ phải tiến hành ngay việc tái cấu trúc doanh nghiệp một cách triệt để: loại bỏ nguyên nhân gây tổn hại đến tình trạng tài chính doanh nghiệp, phát huy các mặt tích cực để cải thiện kết quả kinh doanh Nhưng khi không thể phục hồi thì Luật Phá sản cũng là giải pháp giúp con nợ rút lui khỏi thương trường theo một trật tự nhất định, tránh tình trạng đòi nợ bất hợp pháp theo kiểu “ luật rừng” hoặc xiết nợ, đồng thời giải phóng con nợ khỏi các khoản nợ ( trừ doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh) Khi tiến hành thủ tục phá sản, Luật Phá sản cũng có những quy định các cơ chế bảo toàn tài sản của con nợ, không làm xấu hơn tình trạng tài chính của con
nợ khi lâm vào tình trạng phá sản Đồng thời luật cũng quy định về việc thay đổi người quản lý doanh nghiệp trong trường hợp xét thấy người quản lý DN, HTX không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho viêc bảo toàn tài sản của DN, HTX Luật cũng quy định chế tài đối với người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của
DN, HTX Quy định này nhằm tránh việc người có quyền nộp đơn có hành vi lạm quyền gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, HTX
1.1.3.4 Luật Phá sản góp phần làm lành mạnh nền kinh tế
Pháp luật phá sản có tác dụng sàng lọc các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kinh doanh kém hiệu quả bằng những nhà quản lý chuyên nghiệp hơn Luật Phá sản góp phần làm cho nền kinh tế phát triển ổn định, lành mạnh cũng như việc tái cơ cấu nền kinh tế, điều tiết cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Đồng thời cũng là biện pháp
để cảnh báo cho doanh nghiệp về tính chất khốc liệt của thương trường, Luật Phá sản đã quy định rõ nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc về chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã Trong trường hợp nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng các đối tượng này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời gian nhất định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Luật Phá sản cũng quy định về việc cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý doanh nghiệp, cấm thành lập doanh nghiệp trong thời hạn nhất định sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản Đây là quy định nhằm hạn chế quyền của các cá nhân khi điều hành, quản lý doanh nghiệp nhằm tránh những tiêu cực trong quá trình giải quyết phá sản Có thể nói, lợi nhuận đối với doanh nghiệp giống như “củ cà rốt” thì phá sản lại là “cây gậy” nhằm răn đe các doanh nhân, cảnh báo về tính chất khắc nghiệt của thương trường12
1.1.3.5 Luật Phá sản góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
Bản chất của phá sản là sự xung đột lợi ích giữa tình trạng mất khả năng thanh toán của con nợ với việc đòi nợ của chủ nợ Bất cứ sự xung đột nào dù vì nguyên nhân
12
Ths Phạm Bình An ( 2002) “ Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của pháp lý về phá sản DN trên địa bàn
TP.HCM”, http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=1070&cap=3&id=1081
Trang 16nào cũng đều có thể ảnh hưởng đến trật tự bình thường của xã hội, nhất là sự xung đột lợi ích sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng nhất Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước can thiệp một cách có ý thức vào sự xung đột này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó13 Pháp luật phá sản là công cụ hữu hiệu để giải quyết tình trạng cưỡng bức, đe dọa con nợ, giúp con nợ tránh khỏi việc đòi nợ bất hợp pháp Đồng thời, cũng là công cụ để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và người lao động một cách thích đáng Thông qua thủ tục phá sản, chủ nợ có thể thu hồi được phần nào khoản nợ của mình, nhất là các chủ nợ không có bảo đảm Tình trạng thất nghiệp do doanh nghiệp phá sản có thể đẩy người lao động vào tình trạng nghèo đói, từ đó dẫn đến các hiện tượng tiêu cực như trộm cắp, cờ bạc, làm ăn phi pháp… Quy định về thủ tục phục hồi của Luật Phá sản cũng nhằm mục đích hạn chế những hiện tượng tiêu cực này
Như vậy, phá sản và pháp luật phá sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Vai trò đó được thể hiện thông qua những cơ chế bảo đảm của pháp luật phá sản đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết phá sản Tuy rằng cơ chế bảo đảm ấy giành cho mỗi chủ thể là khác nhau, nhưng xét cho cùng, những bảo đảm ấy đã thể hiện
sự bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật phá sản
1.2 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản theo Luật Phá sản
2004
1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản:
Theo từ điển Luật học thì “ Địa vị pháp lý” là vị trí của chủ thể trong mối quan
hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật 14
Địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật được thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật
Như vậy, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản là vị trí của các
chủ thể trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết phá sản theo quy định của Luật Phá sản, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia thủ tục phá sản
Trong thủ tục phá sản thường có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, trong
đó có bốn chủ thể quan trọng là Tòa án, chủ nợ, con nợ, người quản lý tài sản Ngoài ra trong một số giai đoạn còn có thêm sự xuất hiện của VKS với chức năng kiểm soát việc tuân theo pháp luật phá sản của các chủ thể Bằng pháp luật, Nhà nước quy định cho các
Trang 17chủ thể có các quyền và nghĩa vụ khác nhau để có thể giải quyết mối quan hệ của họ một cách tốt nhất khi tham gia thủ tục phá sản nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xảy ra mâu thuẫn giữa họ
Tùy thuộc vào mục đích tham gia thủ tục phá sản, các chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau khi tham gia thủ tục phá sản Vì vậy, trong một số trường hợp, quyền của chủ thể này khi tham gia thủ tục phá sản lại là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại Pháp luật của các nước cũng có các quy định không hoàn toàn giống nhau khi quy định về vấn đề này Việc quy định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản phụ thuộc vào mục đích ưu tiên chủ nợ hay ưu tiên con nợ của pháp luật phá sản của các nước Đối với các quốc gia theo định hướng ưu tiên con nợ thì các quy định về địa vị pháp lý của con nợ và các chủ thể khác có phần “ nhân đạo” hơn nhằm tạo điều kiện tối
đa cho con nợ có cơ hội phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Còn đối với các quốc gia có định hướng bảo vệ chủ nợ thì các quy định về địa vị pháp lý của con nợ
có phần hạn chế quyền và tăng nghĩa vụ của nó nhằm mục đích bảo vệ tối đa các quyền
và lợi ích của chủ nợ
Ngoài ra, việc quy định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển, phá sản được coi là hiện tượng bình thường của quy luật cạnh tranh, sinh – tử thì việc tiến hành phá sản phải do một Tòa chuyên trách tiến hành để giải quyết hết số lượng các vụ phá sản hàng năm Vì vậy, các quy định về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản cũng thể hiện quan điểm này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tất cả các bên
Việc quy định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản cũng phụ thuộc vào khả năng tự giải quyết các công việc phát sinh từ vụ việc phá sản của các bên Theo đó, việc giải quyết các công việc phát sinh từ vụ việc phá sản có thể được thực hiện theo sự thỏa thuận của chủ nợ và con nợ mà không cần phải có sự xuất hiện của cơ quan tư pháp Hoặc có thể, việc xuất hiện của cơ quan tư pháp trong trường hợp này chỉ nhằm mục đích công nhận sự hòa giải của các bên mà thôi
Theo quy định của LPS năm 2004 thì địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản là khác nhau Trong các giai đoạn của thủ tục phá sản thì Tòa án thể hiện vai trò trung tâm của mình Còn các chủ thể khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thông qua các quy định của LPS trên cơ sở sự công nhận của Tòa án Điều đó được thể hiện ở
vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
1.2.2 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ thể khác tham gia thủ tục phá sản:
Trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản, Tòa án có vai trò chủ đạo – đó chính là nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật trao cho Tòa án trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản thông qua việc giám sát và tiến hành thủ tục phá sản ( khoản
3 điều 8 LPS) Vai trò chủ đạo của Tòa án thể hiện ở quyền hạn và trách nhiệm của Tòa
án đối với việc xác lập và công nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia thủ tục phá sản Vai trò đó được thể hiện trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản như sau:
Trang 181.2.2.1 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ nợ
Tòa án – cụ thể là Thẩm phán hoặc tổ Thẩm phán là người chịu trách nhiệm về việc lập danh sách chủ nợ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản và có trách nhiệm giải quyết khiếu nại về danh sách chủ nợ do Tổ quản lý, thanh lý tài sản lập Thẩm phán cũng là người có trách nhiệm triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ nợ; kiểm tra sự có mặt của các chủ nợ và xem xét tính hợp lệ của Hội nghị chủ nợ
Thẩm phán phụ trách tiến hành phá sản là người ra quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ, xem xét và trình hội nghị chủ nợ phương án phục hồi do DN, HTX xây dựng để hội nghị chủ nợ thảo luận và ra nghị quyết; Tòa án có trách nhiệm xem xét báo cáo về tình hình thực hiện việc phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX Trong quá trình tiến hành phá sản, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực theo yêu cầu của chủ nợ để bảo toàn tài sản của con nợ, đảm bảo khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ Thẩm phán ra quyết định thanh lý tài sản và giao tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản của DN, HTX để trả cho chủ nợ theo thứ tự ưu tiên…
Như vậy, trong mối quan hệ với các chủ nợ, Tòa án đã thể hiện vai trò trung tâm của mình Các quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với tất cả các bên có liên quan trong đó có các chủ nợ
1.2.2.2 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với con nợ:
Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ và xem xét căn cứ
để ra quyết định thụ lý hay không thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ Sau khi thụ lý và ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án có trách nhiệm giám sát hoạt động của con nợ để ra các quyết định cần thiết đồng thời là cách để giúp con nợ thoát khỏi tình trạng đòi nợ bất hợp pháp từ các chủ nợ Thẩm phán cũng có trách nhiệm chỉ định đại diện của con nợ tham gia hội nghị chủ nợ khi không có đại diện hợp pháp của con nợ tham gia Tòa án có trách nhiệm xem xét phương án phục hồi của con nợ để trình hội nghị chủ nợ Khi ra quyết định thanh lý tài sản, Tòa án cho phép con nợ thực hiện một số hoạt động nhằm làm gia tăng tài sản của con nợ Tòa án còn có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại của con nợ đối với các quyết định của Tòa án, quyết định của
Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình tiến hành phá sản
1.2.2.3 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Đồng thời với quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để thực hiện nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của con nợ và thi hành các quyết định của Tòa án trong quá trình tố tụng phá sản Trong quá trình hoạt động, Tổ quản lý thanh lý tài sản còn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Tòa án trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Tổ quản lý, thanh lý tài sản được quyền đề nghị Thẩm phán ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lý, thanh lý tài sản nhằm mục đích bảo toàn tài sản của con nợ và bảo vệ quyền, lợi ích của các bên
1.2.2.4 Vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với VKS trong thủ tục phá sản
Cũng như trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, trong thủ tục phá sản VKS cũng
có trách nhiệm giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia thủ tục phá
Trang 19sản Để thực hiện nhiệm vụ này, khi tiến hành thủ tục phá sản, Tòa án có trách nhiệm cung cấp thông tin cho VKS nhân dân cùng cấp để VKS xem xét và ra quyết định trong trường hợp cần thiết Các quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết phá sản có thể bị kháng nghị bởi VKS nhân dân cùng cấp ( quyết định thanh lý tài sản, quyết định tuyên bố phá sản) Thẩm phán được phân công giải quyết phá sản còn có trách nhiệm cung cấp tài liệu cho VKS xem xét việc khởi tố hình sự khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Như vậy, trong mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thủ tục phá sản,Tòa án ở
vị trí trung tâm điều khiển mọi hoạt động của các chủ thể và xem xét tính hợp lệ của các hoạt động ấy Quy định này của LPS giúp cho quá trình tố tụng phá sản được thực hiện một cách thống nhất và hiệu quả theo sự điều khiển của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ phá sản
Tóm lại, tại chương một, tác giả đã lần lượt trình bày một cách khái quát nhất về pháp luật phá sản và quy định của pháp luật phá sản về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản Cụ thể đó là các vấn đề như khái niệm về phá sản, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phá sản tại Việt Nam, vai trò của luật phá sản trong nền kinh tế thị trường, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản, vị trí của Tòa án trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia thủ tục phá sản Trong khi trình bày, tác giả có đưa ra các khái niệm, quan điểm của các tác giả khác về các vấn đề này Từ việc nhận thức một cách cơ bản nhất về phá sản và pháp luật phá sản, tác giả sẽ làm rõ về địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản theo quy định của LPS năm
2004 trong các giai đoạn của tố tụng phá sản tại chương 2
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TÒA ÁN TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004
2.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản
Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phá sản được hiểu là vị trí của Tòa án
trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong quá trình giải quyết việc phá sản
Phần lớn pháp luật các nước đều quy định Tòa án có vai trò trung tâm trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Tuy nhiên, do mô hình tổ chức Tòa án ở mỗi nước khác nhau nên vị trí, vai trò của Tòa án trong thủ tục phá sản cũng không hoàn toàn giống nhau Nhưng một điểm chung nhất có thể nhận thấy trong quá trình giải quyết việc phá sản từ đầu đến cuối đều có sự xuất hiện của Tòa án với tư cách là chế định trung tâm cho mọi hoạt động của quá trình giải quyết phá sản Tòa án thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua một vị Thẩm phán hoặc tổ Thẩm phán phụ trách việc tiến hành phá sản và Tổ quản lý, thanh lý tài sản do Tòa án thành lập
Theo pháp luật Việt Nam, tại Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “ Tòa án là cơ quan xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật” Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản Theo quy định tại điều 7 Luật Phá sản năm 2004 thì thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc về TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh Như vậy, thẩm quyền giải quyết phá sản ở nước ta thuộc
về hệ thống cơ quan tư pháp mà cụ thể là hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp hành chính lãnh thổ ở địa phương Sự phân chia thẩm quyền giữa các Tòa án này trong việc giải quyết phá sản phụ thuộc vào việc đăng ký kinh doanh của DN, HTX tại cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp Theo đó, TAND cấp huyện sẽ có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó ( khoản 1 – điều 7 LPS 2004) TAND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản với DN, HTX đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
đó Trong trường hợp cần thiết, TAND cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện ( khoản 2 – điều 7 LPS 2004) Tại mục I.3.2 Nghị quyết 03/ 2005/ NQ-HĐTPTANDTC những trường hợp cần thiết đó là:
a Hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có chi nhánh, văn phòng đại diện, có bất động sản, có nhiều chủ nợ tại nhiều huyện khác nhau
b Hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có chi nhánh, văn phòng đại diện, có bất động sản, có chủ nợ hoặc người mắc nợ ở nước ngoài
c Hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có khoản nợ còn có tranh chấp phải giải quyết
d Hợp tác xã là đương sự trong vụ án bị đình chỉ do Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản với hợp tác xã đó hoặc trong trường hợp phức tạp khác ( cần phải tuyên bố giao dịch của HTX quy định tại khoản 1 điều 43 Luật phá sản là vô hiệu…)
Trang 21Ngoài ra, TAND cấp tỉnh cũng có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh mình ( khoản 3 – điều
7 LPS 2004)
Việc xác định thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án là vấn đề quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng tới tính chất của thủ tục phá sản mà nó còn ảnh hưởng tới việc xác định khả năng đảm đương nhiệm vụ giải quyết phá sản của TAND các cấp Vì vậy, khi nhận và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản công việc đầu tiên mà Tòa án phải là đó
là xem xét xem vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không Từ đó mới tiến hành các công việc tiếp theo của mình
2.2 Địa vị pháp lý của Tòa án khi nhận, thụ lý đơn và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản DN, HTX
Theo quy định của LPS năm 2004, giai đoạn này bắt đầu từ khi TAND cấp có thẩm quyền nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và kết thúc khi giải quyết xong khiếu nại về việc không mở thủ tục phá sản Cũng như các giai đoạn khác của thủ tục phá sản, ở giai đoạn này TAND có vị trí trung tâm trong mối quan hệ với các chủ thể khác tham gia tố tụng phá sản Vì vậy, nhiệm vụ của Tòa án trong giai đoạn này sẽ bao gồm:
- Nhận và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Yêu cầu sửa đổi đơn, tài liệu
- Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Chuyển việc giải quyết phá sản cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm
quyền
- Tạm đình chỉ việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của DN, HTX lâm vào tình
trạng phá sản
- Ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
- Giải quyết khiếu nại quyết định không mở thủ tục phá sản
- Xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở, gây khó khăn trong việc thực
hiện quyền nộp đơn; vi phạm quy định về nghĩa vụ nộp đơn; vi phạm quy định
về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, xuất trình giấy tờ; vi phạm trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 222.2.1 Nhiệm vụ của Tòa án khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Khi nhận đơn, Tòa án sẽ tiến hành xem xét hồ sơ yêu cầu; xem xét về thẩm quyền của người nộp đơn Nếu người nộp đơn không có quyền nộp đơn – tức là không thuộc một trong các trường hợp:
- Chủ nợ: bao gồm các chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một
phần có quyền nộp đơn
- Người lao động: công đoàn hoặc đại diện của người lao động được cử hợp pháp
được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp đó
- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty, nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội đồng cổ đông; nếu không có cả 2 trường hợp trên thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian ít nhất là 6 tháng liên tục có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với công ty cổ phần
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với công ty đó
- Chủ doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
thì Tòa án sẽ ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( khoản 2 điều 24 LPS) Ngược lại, Tòa án sẽ yêu cầu người nộp đơn nộp tạm ứng phí phá sản theo quy định tại điều 41 NĐ 189/1994/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Phá sản doanh nghiệp
1993, điều 34 NĐ 70/1997/NĐ-CP về án phí, lệ phí Tòa án Nếu người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Tòa án ấn định thì đó sẽ là căn cứ để Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( khoản 1 điều 24 LPS)
Đồng thời với việc xem xét thẩm quyền của người nộp đơn, Tòa án cũng phải xem xét đến thẩm quyền của mình trong việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản Nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại mục I.3.2 Nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTPTANDTC ( trường hợp cần thiết TAND cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện – xem mục 2.1) thì Tòa
án cấp huyện đã nhận đơn gửi công văn đề nghị và gửi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cùng các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu cho TAND cấp tỉnh để tiến hành thủ tục phá sản và thông báo cho người nộp đơn biết ( mục 3.3 NQ 03/2005) Đồng thời, Tòa án cũng phải xem xét xem đã có Tòa án nào đã mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX hay chưa Nếu đã có một Tòa án khác mở thủ tục phá sản trong trường hợp này, Tòa án sẽ trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( khoản 3 điều 24 LPS)
Trang 23Ngoài ra, Tòa án cũng phải xem xét đến tiêu chí xác định doanh nghiệp đặc biệt,
tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính để thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết Các tiêu chí này được xác định tại Điều 3, Điều 4 Nghị định 67/2006/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định 114/2008/NĐ-CP Khi nhận được thông báo, cơ quan có thẩm quyền sẽ yêu cầu con nợ báo cáo về nguy cơ mất khả năng thanh toán của mình Từ đó có quyết định hướng giải quyết theo hai cách: áp dụng các biện pháp phục hồi hoặc không áp dụng các biện pháp này Nếu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp phục hồi thì đây sẽ là căn cứ để Tòa án
ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( khoản 6 điều 10 Nghị định 114/2008/NĐ-CP)
Trong trường hợp này, Tòa án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định không áp dụng thủ tục phục hồi hoặc quyết định chấm dứt các biện pháp phục hồi ( điều 9 NĐ 67/2006/NĐ-CP và điều 3 NĐ 114/2008/NĐ-CP)
Khi nhận đơn, Tòa án cũng cần phải xem xét việc nộp đơn có khách quan, trung thực hay không Nếu việc nộp đơn không khách quan, ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của DN, HTX hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đó sẽ là căn cứ để Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 4 điều 24 LPS Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không khách quan còn có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tối đa lên đến 15.000.000 đồng theo quyết định xử phạt của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( Điều 11 Nghị định 10/2009/NĐ-CP) Tuy nhiên, việc xác định tính chất khách quan theo quy định này không có một tiêu chí cụ thể mà chỉ dựa vào ý chí chủ quan của Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu Vì vậy, quy định này thực chất không khả thi nhất là khi
có sự nhập nhằng hoặc cố tình gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Khi Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người nộp đơn
có quyền khiếu nại quyết định này theo quy định tại điều 25 LPS Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa án phải ra một trong hai quyết định:
+ Giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
+ Hủy quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và thụ lý đơn theo quy định Nếu Chánh án Tòa án ra quyết định giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình giải quyết phá sản Điều đó đồng nghĩa với việc DN, HTX được coi là không lâm vào tình trạng phá sản và tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường cũng như thanh toán các khoản nợ đến hạn theo hợp đồng Ngược lại, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý đơn và thực hiện các công việc tiếp theo của quá trình giải quyết phá sản
Trong quá trình xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu phát hiện các hành
vi vi phạm hành chính như cản trở, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền nộp đơn;
vi phạm quy định về nghĩa vụ nộp đơn thì Tòa án có quyền ra quyết định xử phạt với hình thức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng và ra quyết định áp dụng biện
Trang 24pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp chủ doanh nghiệp, hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời hạn quy định tại Điều 15 của Luật Phá sản ( Điều 8, Điều 9 Nghị định 10/2009/NĐ-CP) Khi đã thực hiện xong tất cả những công việc như trên, xét thấy đủ điều kiện thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý và thực hiện các công việc tiếp theo của quá trình giải quyết phá sản DN, HTX
2.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thực hiện theo quy định tại Điều 22 LPS Thời điểm Tòa án thụ lý đơn được tính từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc ngày Tòa án nhận được đơn nếu người nộp đơn thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản Sau đó, Tòa án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn ( khoản 2 điều 22 LPS)
Tòa án sẽ tiến hành thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi có đủ các điều kiện: người nộp đơn yêu cầu đã nộp tạm ứng phí phá sản; DN bị yêu cầu mở thủ tục phá sản không thuộc loại doanh nghiệp đặc biệt hoặc nếu có thì Tòa án đã nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh theo quy định tại điều 9 NĐ 67/2006/NĐ-CP
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án có trách nhiệm phải thông báo cho DN, HTX đó biết trong thời hạn năm ngày và trong thời hạn 15 ngày thì DN, HTX phải xuất trình cho Tòa án các giấy tờ tài liệu theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 LPS:
a, Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của DN, HTX, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu DN là công ty
cổ phần mà pháp luật có yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận;
b, Báo cáo về các biện pháp mà DN, HTX đã thực hiện nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;
c, Bảng kê chi tiết tài sản của DN, HTX và địa điểm nơi có tài sản nhìn thấy được;
d, Danh sách các chủ nợ của DN, HTX trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;
đ, Danh sách những người mắc nợ của DN, HTX trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;
e, Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp;
g, Những tài liệu khác mà Tòa án yêu cầu DN, HTX phải cung cấp theo quy định của pháp luật
Khi hết thời hạn như quy định trên đây, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có hành vi không xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu thì
có thể bị Thẩm phán được giao nhiệm vụ tiến hành thủ tục phá sản ra quyết định xử
Trang 25phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng – 1.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách buộc xuất trình giấy
tờ, tài liệu cho Tòa án ( Điều 10 Nghị định 10/2009/NĐ-CP)
Ngoài ra, nếu nhận thấy việc giải quyết phá sản không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án đã thụ lý đơn chuyển việc giải quyết phá sản cho Tòa án có thẩm quyền
và thông báo cho người nộp đơn biết Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền được quy định tại khoản 2 điều 26 LPS Theo đó, chánh án TAND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các TAND cấp huyện trong cùng một tỉnh; Chánh án TAND tối cao có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các TAND cấp huyện thuộc các tỉnh khác nhau hoặc giữa các TAND cấp tỉnh
Kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì các nghĩa vụ về tài sản sau đây phải tạm đình chỉ ( điều 27 LPS):
+ Thi hành án dân sự về tài sản mà DN, HTX là người phải thi hành án
+ Giải quyết vụ án đòi DN, HTX thực hiện nghĩa vụ về tài sản
+ Xử lý tài sản bảo đảm của DN, HTX đối với các chủ nợ có bảo đảm trừ trường hợp tòa án cho phép
Khi nhận thấy DN, HTX thuộc một trong các trường hợp quy định ở trên thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định tại mục II.2 NQ 03/2005/NQ-HĐTPTANDTC như sau:
+ Trong trường hợp DN, HTX là người phải thi hành án dân sự về tài sản, thì Thẩm phán phải gửi văn bản thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết và yêu cầu cơ quan thi hành án đó ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án dân sự
+ Trong trường hợp DN, HTX là đương sự trong vụ án đòi DN, HTX thực hiện nghĩa
vụ về tài sản thì Thẩm phán phải gửi văn bản thông báo cho Tòa án đang giải quyết vụ
án biết và yêu cầu Tòa án đó ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
+ Trong trường hợp có chủ nợ có bảo đảm yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của DN, HTX thì Thẩm phán phải thông báo cho họ biết về nguyên tắc chung việc xử lý tài sản bảo đảm của DN, HTX đang phải tạm đình chỉ Thẩm phán có thể cho phép xử lý tài sản bảo đảm của DN, HTX cho chủ nợ có bảo đảm khi có đủ các điều kiện:
Tài sản có yêu cầu xử lý là tài sản bảo đảm cho khoản nợ đã đến hạn
Việc xử lý tài sản bảo đảm đó không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, HTX
Người yêu cầu xử lý tài sản có đơn yêu cầu, trong đó trình bày các lý do của việc xin xử lý tài sản bảo đảm và xét thấy các lý do đó là chính đáng, việc xử lý tài sản bảo đảm của DN, HTX đối với họ là cần thiết
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản ( khoản 1 điều 28 LPS) Quyết định mở thủ tục phá sản được ra khi có đủ căn cứ để xác định con nợ lâm vào tình trạng phá sản ( khoản 2 điều 28 LPS) Khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, công việc đầu tiên mà Tòa án phải làm là thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản Thành phần của Tổ
Trang 26quản lý, thanh lý tài sản theo quy định tại điều 9 LPS, điều 15 NĐ 67/2006/NĐ-CP bao gồm:
Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp với Tòa án
Một cán bộ của Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đại diện của chủ nợ là tổ chức, cá nhân có số nợ lớn nhất trong số các chủ nợ
Đại diện hợp pháp của con nợ
Trong trường hợp cần thiết, thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản còn có thêm:
Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nếu con nợ có nợ lương hoặc khoản nợ khác với người lao động
Đại diện cơ quan hữu quan trong trường hợp DN, HTX thuộc loại doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, cơ yếu…
Đại diện của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm nếu con nợ là tổ chức tín dụng hoặc hoạt động trong lĩnh vực tài chính và đại diện tổ chức bảo hiểm tiền gửi ( nếu có)
Đại diện cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực về sản phẩm, dịch vụ công ích; đại diện
ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi DN, HTX trực tiếp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích
Quy chế làm việc, quyền hạn, trách nhiệm của tổ quản lý, thanh lý tài sản được thực hiện theo quy định tại điều 10 LPS, 20 NĐ 67/2006/NĐ-CP và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Quyết định mở thủ tục phá sản phải được gửi cho DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi con nợ có trụ sở chính, báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp Đồng thời phải được thông báo cho các chủ nợ, người mắc nợ của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định ( điều 29 LPS) Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Tòa án ( Khoản 1 Điều 50 LPS) Giấy đòi nợ của chủ nợ là căn cứ
để Tòa án lập danh sách chủ nợ và sắp xếp thứ tự ưu tiên thanh toán cho các chủ nợ Sau khi lập xong danh sách chủ nợ, Tòa án sẽ niêm yết công khai danh sách trong thời gian 10 ngày Sau 10 ngày, nếu không có khiếu nại gì thì Tòa án sẽ khóa danh sách chủ
nợ và triệu tập Hội nghị chủ nợ
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh của con nợ vẫn diễn ra bình thường nhưng có sự giám sát của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh doanh của DN,
Trang 27HTX nếu thấy người quản lý không có khả năng điều hành hoặc nếu để người này tiếp tục sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của con nợ ( điều 30 LPS)
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản thì người làm đơn có quyền khiếu nại với Chánh án tòa án trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định Chánh
án Tòa án phải ra một trong hai quyết định sau đây trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại nói trên:
- Giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản
- Hủy quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định mở thủ tục phá sản Trong trường hợp Chánh án Tòa án ra quyết định giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản thì quá trình tố tụng phá sản chấm dứt từ khi có quyết định này Ngược lại, quá trình giải quyết phá sản vẫn tiếp tục được diễn ra và Tòa án tiếp tục làm công việc của mình trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản như trên
Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất được tiến hành trong thời gian 30 ngày sau khi lập xong danh sách chủ nợ và kết thúc việc kiểm kê tài sản Để tiến hành Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán được phân công giải quyết phá sản sẽ phải gửi giấy triệu tập và chương trình, nội dung Hội nghị chủ nợ cũng như các tài liệu khác cho người có quyền và nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc Điều kiện họp hợp lệ của Hội nghị chủ nợ lần này là: i): có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia và ii): có sự tham gia của người có nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ ( chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN, HTX; cổ đông công ty cổ phần; chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước; thành viên hợp danh công ty hợp danh) Nội dung của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất sẽ bao gồm các nội dung như sau:
- Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản báo cáo về tình hình kinh doanh, tình trạng
tài chính, kết quả kiểm kê tài sản của con nợ; danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
- Chủ DN hoặc người đại diện hợp pháp của DN, HTX đề xuất phương án, giải
pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ
- Thông qua nghị quyết của Hội nghị chủ nợ khi có quá nửa số chủ nợ không có
bảo đảm có mặt tại hội nghị đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên thông qua
- Nếu cần thay thế người đại diện cho các chủ nợ tại Tổ quản lý, thanh lý tài sản
thì hội nghị bầu người thay thế
- Đề nghị Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành DN, HTX Hội nghị chủ nợ có thể được hoãn một lần nếu:
Trang 28 Không có đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba
tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia
Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại hội nghị chủ nợ biểu quyết đề
nghị hoãn hội nghị chủ nợ
Người có nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ vắng mặt có lý do chính đáng
Hội nghị chủ nợ được hoãn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định Thẩm phán
ra quyết định hoãn hội nghị chủ nợ phải triệu tập hội nghị chủ nợ trong thời hạn này Sau khi Hội nghị được hoãn một lần, nếu chủ nợ và người lao động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng không tham gia Hội nghị chủ nợ được triệu tập lại hoặc người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ nộp đơn yêu cầu nhưng không đến tham gia mà không có lý do chính đáng thì Thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
Trường hợp chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng hoặc người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại các Điều 15, 16, 17
và 18 của Luật Phá sản không tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng không uỷ quyền cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng thì Thẩm phán được phân công giải quyết phá sản có thể ra quyết định xử phạt hành chính với mức phạt tối đa lên đến 1.000.000 đồng ( Điều 19 NĐ 10/2009/NĐ-CP)
Việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản cũng được thực hiện khi người nộp đơn
đã rút lại đơn yêu cầu của mình ( điều 67 LPS) Hậu quả của việc đình chỉ thủ tục phá sản chưa được LPS quy định rõ ràng, dẫn đến có hai quan điểm khác nhau khi đề cập đến vấn đề này Nội dung này sẽ được trình bày rõ hơn tại chương 3
Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên của quá trình giải quyết việc phá sản, Tòa án đã thể hiện vai trò trung tâm của mình trong việc thực hiện các hoạt động của thủ tục phá sản DN, HTX Trong mối quan hệ với các chủ thể khác, Tòa án giữ vai trò là cầu nối để các chủ thể có thể ngồi lại thỏa thuận với nhau tại Hội nghị chủ nợ Đây là cơ sở quan trọng để có thể thông qua và thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ và thực hiện các bước tiếp theo của quá trình giải quyết phá sản Vị trí trung tâm của Tòa án trong thủ tục phá sản cũng được thể hiện rõ ở các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết phá sản
2.3 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
Pháp luật phá sản hiện đại đều được xây dựng theo hướng tạo điều kiện tối đa cho con nợ thực hiện việc tái tổ chức hoạt động kinh doanh Thông qua thủ tục phục hồi, con nợ được tạo điều kiện để tổ chức lại cơ cấu sản xuất, kinh doanh; đồng thời loại
bỏ các yếu tố không có lợi trong hoạt động của mình Thủ tục phục hồi con nợ được coi
là đương nhiên phải làm nếu có thể, vì vậy LPS năm 2004 đã quy định đây là một thủ tục độc lập và là thủ tục quan trọng trong quá trình giải quyết phá sản DN, HTX Quy
Trang 29định này thể hiện mục đích “ hướng vào con nợ”15 của pháp luật phá sản Trong phạm
vi đề tài, tác giả xin trình bày cụ thể về vai trò của Tòa án trong việc áp dụng thủ tục phục hồi đối với DN, HTX theo LPS 2004 Thông qua vai trò của Tòa án, chúng ta có
thể hiểu thêm được mục đích của LPS như đã nói ở trên
2.3.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi doanh nghiệp đặc biệt và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính:
Theo quy định tại NĐ 67/2006/ NĐ-CP và NĐ 114/2008/NĐ-CP thì việc tổ chức
và áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở báo cáo của Doanh nghiệp về nguy cơ mất khả năng thanh toán của mình Tòa án chỉ chịu trách nhiệm thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Còn việc ra quyết định áp dụng hay không áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, áp dụng biện pháp nào, cách thức thực hiện ra sao là công việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý các doanh nghiệp đặc thù này Công việc của Tòa án lúc này chỉ là “ ngồi chờ” các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tòa án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi có văn bản của các cơ quan
có thẩm quyền quyết định không áp dụng biện pháp phục hồi hoặc chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi Khi đó, quá trình giải quyết phá sản sẽ được tiến hành như doanh nghiệp bình thường ( điều 10 NĐ 67/2006/NĐ-CP, điều 11 NĐ 114/2008/NĐ-CP) hoặc
áp dụng ngay biện pháp thanh lý tài sản ( điều 78 LPS, khoản 2 điều 10 NĐ 67/2006/NĐ-CP, khoản 2 điều 3 NĐ 114/2008/NĐ-CP)
Đối với doanh nghiệp đặc biệt, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính vai trò của Tòa án trong thủ tục phục hồi có thể được thực hiện hai lần: một lần do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ra quyết định áp dụng, một lần do Tòa án ra
quyết định áp dụng trên cơ sở Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ Như vậy, vai trò của
Tòa án trong thủ tục phục hồi của doanh nghiệp đặc biệt, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính có sự khác biệt và được phân hóa theo từng giai đoạn của quá trình giải quyết phá sản đối với các doanh nghiệp loại này
2.3.2 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định của LPS, Thẩm phán được phân công giải quyết phá sản sẽ ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi khi Hội nghị chủ nợ ra nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh và kế hoạch trả nợ của con nợ Trong thời hạn luật định, Thẩm phán có trách nhiệm xem xét phương án phục hồi hoạt động kinh doanh để ra quyết định đưa phương án ra hội nghị xem xét hoặc yêu cầu sửa đổi bổ sung nếu thấy cần thiết Nếu hết thời hạn luật định, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không thực hiện việc xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ và nộp cho Tòa án có thẩm quyền thì Thẩm phán được giao tiến hành thủ tục phá sản được quyền ra quyết định xử phạt hành chính với mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu
15
Nguyễn Trường Nhật Phượng ( 2004), Luận văn thạc sỹ Luật học, Tr 25
Trang 30quả bằng cách buộc xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và nộp cho Tòa án ( Điều 17 Nghị định 10/NĐ-CP) Việc xem xét phương án phục hồi của Thẩm phán chỉ là xem xét về mặt hình thức Nghĩa là Thẩm phán chỉ có trách nhiệm xem xét xem phương án được đưa ra đã đầy đủ các yêu cầu về mặt cơ cấu, phạm vi các vấn đề
mà LPS đã quy định Còn về nội dung các giải pháp kinh tế trong phương án phục hồi, Thẩm phán không có trách nhiệm xem xét nó Điều đó có thể hiểu, khi Thẩm phán nhận thấy phương án đó đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu đề ra thì sẽ trình Hội nghị chủ nợ Ngược lại, Thẩm phán sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định đưa phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ ra Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán phải có trách nhiệm triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét thông qua phương
án phục hồi Quy định này đã thể hiện việc LPS không quá đặt nặng vai trò của Thẩm phán khi giám sát và tổ chức các hoạt động của quá trình tố tụng phá sản Tuy nhiên, xét
ở khía cạnh phê chuẩn thủ tục phục hồi của Tòa án nhằm mục đích đảm bảo cân bằng quyền lợi của tất cả các bên thì quy định này đã bỏ qua vai trò kiểm soát của Tòa án đối với quá trình chấp hành phương án phục hồi16 Thủ tục phục hồi chính thức được thông qua nếu được quá nửa số chủ nợ không có bảm đảm có mặt đại diện cho ít nhất 2/3 số
nợ không có bảo đảm tham gia Hội nghị chủ nợ đồng ý Khi đó, Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX Quyết định công nhận của Thẩm phán có giá trị bắt buộc với các bên và là cơ sở để Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có hiệu lực và được thực hiện trong thực tế Sau khi ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản bị giải thể Tổ này có thể được thành lập lại nếu Thẩm phán ra quyết định thanh lý tài sản hoặc không được thành lập lại nếu phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ là hiệu quả và khả thi Việc giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ
do các chủ nợ thực hiện, Tòa án chỉ có trách nhiệm nhận các báo cáo 6 tháng một lần để theo dõi và ra quyết định phù hợp với tình hình thực tế của con nợ trong từng thời kỳ
Đó có thể là quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên trong việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX ( khoản 3 điều 75 LPS) Đó cũng có thể là quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh khi DN, HTX
đã thực hiện xong phương án phục hồi hoặc tuy chưa thực hiện xong nhưng được quá nửa số phiếu của các chủ nợ đại diện cho từ 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình chỉ ( khoản 1 điều 76 LPS) Khi đó, DN, HTX được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản và việc thi hành án đối với DN, HTX hoặc giải quyết vụ án đã bị đình chỉ được tiếp tục thực hiện Khi đó, quá trình tố tụng phá sản sẽ chấm dứt ở đây
Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không gửi báo cáo về tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho Tòa án trong thời hạn quy định thì Thẩm phán được giao tiến hành thủ tục phá sản có quyền ra
16
Nguyễn Trường Nhật Phượng ( 2004), tlđd, Tr 104
Trang 31quyết định xử phạt hành chính với mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và buộc khắc phục hậu quả ( Điều 18 Nghị định 10/2009/NĐ-CP)
Ngoài ra, trong quá trình giám sát việc thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, Thẩm phán còn có thể ra quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang thủ tục thanh lý tài sản nếu con nợ thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được các phương án phục hồi hoạt động kinh doanh này ( khoản 3 điều 80 LPS) Trong trường hợp này, quá trình tố tụng phá sản sẽ được chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn thực hiện thủ tục thanh lý và tuyên bố phá sản DN, HTX
Có thể nhận thấy, trong quá trình DN, HTX thực hiện phương án phục hồi, vai trò của Tòa án được thể hiện không nhiều nhưng quan trọng và không thể thiếu được Các quyết định của Tòa án được coi là hình thức bảo đảm cho việc thực hiện các công việc của quá trình tố tụng phá sản được thực thi trên thực tế
2.4 Địa vị pháp lý của Tòa án trong thủ tục quản lý, thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản DN, HTX
Việc quản lý, thanh lý tài sản của con nợ là công việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Tuy nhiên, vai trò quan trọng của Tòa án trong việc thực hiện các công việc này là không thể phủ nhận Vai trò đó được thể hiện thông qua mối quan hệ với Tổ quản lý, thanh lý tài sản và các quyết định của Tòa án trong việc thực hiện công việc quản lý và thủ tục thanh lý tài sản của DN, HTX
2.4.1 Địa vị pháp lý của Tòa án trong việc quản lý tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản
Khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán sẽ đồng thời ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản được thành lập để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của DN, HTX Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ quản lý, thanh lý tài sản được quy định tại điều 10 LPS bao gồm:
- Lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của DN, HTX
- Giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của DN, HTX
- Đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo
toàn tài sản của DN, HTX trong trường hợp cần thiết
- Lập danh sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho từng chủ nợ; những người mắc
nợ và số nợ phải đòi của DN, HTX
- Thu hồi và quản lý tài sản, tài liệu, sổ kế toán và con dấu của DN, HTX bị áp
dụng thủ tục thanh lý
- Thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định của Thẩm phán
- Phát hiện và đề nghị Thẩm phán ra quyết định thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản
hay phần chênh lệch giá trị tài sản của DN, HTX bị áp dụng thủ tục thanh lý đã