1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra thực trạng và hướng hoàn thiện

65 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 700,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG, SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG GÂY RA (9)
    • 1.1. Khái niệm về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường (9)
      • 1.1.1. Khái niệm về ô nhiêm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường (9)
        • 1.1.1.1. Ô nhiễm môi trường (9)
        • 1.1.1.2. Suy thoái môi trường (10)
        • 1.1.1.3. Sự cố môi trường (10)
      • 1.1.2. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra (13)
        • 1.1.2.1. Định nghĩa (13)
        • 1.1.2.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường (16)
    • 1.2. Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại (27)
      • 1.2.1. Nguyên tắc nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành (27)
      • 1.2.2. Nguyên tắc khuyến khích các bên tranh chấp thương lượng và hòa giải ngay tại cấp cơ sở (28)
      • 1.2.3. Nguyên tắc ưu tiên áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng môi trường bị thiệt hại (29)
      • 1.2.4. Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (29)
  • CHƯƠNG 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG, SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG GÂY RA QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM (32)
    • 2.1. Cơ chế giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra (0)
      • 2.1.1. Chủ thể bị thiệt hại (0)
      • 2.1.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường gây ra (0)
        • 2.1.2.1. Hòa giải tại cơ sở và tự thương lượng (0)
        • 2.1.2.2. Giải quyết bằng hình thức trọng tài (0)
        • 2.2.2.3. Giải quyết bằng hình thức khởi kiện ra Tòa án (36)
      • 2.1.3. Cơ chế đảm bảo bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra (0)
        • 2.1.3.1. Căn cứ vào khả năng tài chính của các chủ thể gây thiệt hại (0)
        • 2.1.3.2. Vấn đề giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra (0)
    • 2.2. Thực trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay (41)
      • 2.2.1. Thực trạng (41)
      • 2.2.2. Trách nhiệm của các chủ thể gây ô nhiễm đối với tình trạng ô nhiễm môi trường, (44)
      • 2.2.3. Tầm quan trọng của việc bồi thường thiệt hai do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra (45)
    • 2.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt do ô nhiễm suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra ở Việt Nam (47)
    • 2.4. Một số giải pháp làm tăng tính hiệu quả cho vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra (59)

Nội dung

Cũng như Bộ luật Dân sự chỉ có những quy định chung về trách nhiệm của người có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại, mà chưa có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của c

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG, SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG GÂY RA

Khái niệm về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường

1.1.1 Khái niệm về ô nhiêm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường 1.1.1.1 Ô nhiễm môi trường

Môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm, khí hậu biến đổi thất thường, loài người đang đứng trước những thảm họa khó lường Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự ý thức về vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) Ô nhiễm môi trường (ONMT) là một khái niệm được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Theo nghĩa thông thường thì : “Ô nhiễm môi trường là hiện tượng một chất nào đó có mặt trong môi trường với thành phần và chất lượng có khả năng ngăn cản các quá trình tự nhiên vận hành một cách bình thường hoặc làm cho các quá trình này xảy ra theo xu hướng không như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khỏe và sự sinh tồn của con người hoặc của các loài sinh vật khác sống trong môi trường đó” (1)

Dưới góc độ pháp lý: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”

(Khoản 6 Điều 3 luật BVMT 2005) Như vậy khái niệm ONMT vừa mang tính định tính vừa mang tính định lượng là căn cứ để xác định một hành vi tác động vào môi trường có phải là hành vi làm ONMT hay không Không phải bất cứ hành vi nào tác động làm thay đổi tính chất môi trường đều bị coi là hành vi gây ô nhiễm Qua đó, một hành vi bị xem là gây ô nhiễm môi trường khi hành vi đó tác động vào môi trường làm cho thành phần môi trường bị biến đổi không phù hợp với tính chất môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Các thành phần môi trường này cụ thể là môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi do sự xuất hiện và tiếp nhận vào các chất gây ô nhiễm Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm các chất này có thể là chất rắn (như rác), chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp dệt, nhuộm, chế biến thực phẩm…), hay các chất khí (SO2, CO, NO2…), các chất kim loại nặng như: đồng, chì… làm cho các chỉ số của môi trường không còn phù hợp, vượt quá tiêu chuẩn môi trường làm cho các thành phần môi trường trở thành độc hại, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Ví dụ: Những thay đổi về chất lượng môi trường không khí đã làm

1 Từ điển Bách Khoa Việt Nam (2003), NXB Bách Khoa Hà Nội, tr.340

5 ảnh hưởng đến sức khỏe, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của con người và sự sinh tồn của sinh vật

Tương tự như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường (STMT) là một khái niệm dùng để chỉ trạng thái môi trường, trong đó có sự thay đổi về số lượng chất lượng, các thành phần môi trường Số lượng và chất lượng các thành phần môi trường có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là hành vi khai thác quá mức các yếu tố môi trường, làm hủy hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt trong khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật

Theo Khoản 7 Điều 3 Luật BVMT 2005: “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật” Một thành phần môi trường bị coi là suy thoái khi có đầy đủ các dấu hiệu: 1) Có sự suy giảm đồng thời cả về số lượng và chất lượng thành phần môi trường đó hoặc là sự thay đổi về số lượng sẽ kéo theo sự thay đổi về chất lượng các thành phần môi trường và ngược lại Ví dụ: Số lượng động vật hoang dã bị suy giảm do săn bắt quá mức hay diện tích rừng bị thu hẹp sẽ kéo theo sự suy giảm về chất lượng của đa dạng sinh học 2) Gây ảnh hưởng xấu lâu dài đến đời sống của con người và sinh vật Nghĩa là sự thay đổi số lượng và chất lượng các thành phần môi trường phải đến mức gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người hoặc gây nên những hiện tượng hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất, sụt lở đất…thì mới coi thành phần môi trường đó bị suy thoái

Bên cạnh đó, sự cố môi trường là hiện tượng biến đổi của thiên nhiên, tai biến rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người, mà hậu quả của nó gây ảnh hưởng đến đời sống của con người và môi trường Sự cố môi trường bản thân chúng không phản ánh hiện trạng của môi trường, chúng là những tác động xấu làm biến đổi xấu thành phần môi trường gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng

Dưới gốc độ pháp lí: “ Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên, gây ô nhiễm suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng” (Khoản 8 Điều 3 Luật BVMT 2005)

Như vậy, để được coi là một SCMT thì tất yếu phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

Một là, sự cố môi trường là tai biến rủi ro gây ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên Trong quá trình hoạt động của con người bao gồm: hoạt động sản xuất, sinh hoạt… thường sử dụng nguyên, nhiên liệu và các thành phần khác của môi trường để phục vụ sản xuất Nhưng lại áp dụng công nghệ yếu kém lơ

6 là trong công tác phòng ngừa, khai thác bừa bãi,… Nên thường kéo theo những tai biến rủi ro như: Nổ nhà máy điện nguyên tử, nổ kho chứa chất phóng xạ… Những tai biến này được xem là các SCMT do yếu tố con người gây ra Do đó, những tai biến rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của con người được coi là SCMT Những biến đổi thất thường của thiên nhiên bao gồm: Những biến đổi mang tính quy luật và những biến đổi không theo quy luật của thiên nhiên Những biến đổi mang tính quy luật của thiên nhiên làm ảnh hưởng đến môi trường như các hiện tượng động đất, sự hoạt động của núi lửa, biến động khí hậu… Những biến đổi này hoàn toàn không phụ thuộc vào con người, những biện pháp phòng chống không thể loại trừ được nguyên nhân phát sinh các hiện tượng trên mà chỉ có thể hạn chế hoặc khắc phục hậu quả do các sự cố môi trường gây ra Bên cạnh những biến đổi mang tính quy luật là những biến đổi không theo quy luật nào của thiên nhiên

Ví dụ: Hiện tượng ELNINO là hiện tượng biến đổi bất thường của thiên nhiên, hay hiện tượng băng tuyết giữa mùa hè Tuy nhiên, để được xem là SCMT chỉ điều kiện một là chưa đủ mà phải thỏa mãn điều kiện hai

Hai là, đó phải là những tai biến rủi ro gây ra STMT nghiêm trọng: một hành vi bị coi là gây ra STMT hoặc một môi trường bị coi là suy thoái khi có đủ các dấu hiệu được ghi nhận tại mục 1.1.1.2 Vì vậy, khi một sự cố thỏa mãn hai điều kiện và những tai biến rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên mà gây STMT nghiêm trọng sẽ được xem là SCMT

Tóm lại, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường là những tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến sức khỏe và đời sống của con người Do đó, vấn đề bồi thường thiệt hại do ONMT, STMT, SCMT là một yêu cầu bức thiết để bù đắp những tổn thất mà con người phải gánh chịu, khắc phục và khôi phục lại hiện trạng ban đầu của môi trường Để hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta đặt bồi thường thiệt hại trong mối tương quan giữa ba thuật ngữ này

Không phải ngẫu nhiên mà ba thuật ngữ này được đặt ngang nhau trong đề tài khóa luận mà do giữa chúng có những mối liên hệ rất mật thiết với nhau Cụ thể như sau: cả hai thuật ngữ ONMT và STMT có nhiều biểu hiện giống nhau là làm thay đổi thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật và cấp độ ảnh hưởng môi trường được chia tương tự nhau Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường thường là hậu quả của hành vi thải vào môi trường những chất gây ô nhiễm, chất độc hại, làm nhiễm bẩn, làm ô uế các thành phần môi trường Trong khi STMT thường là hậu quả của hành vi sử dụng, khai thác quá mức các thành phần môi trường, làm suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên Ô nhiễm môi trường thường bắt nguồn từ hành vi

7 đưa vào môi trường các chất thải loại, các chất độc hại, các chất gây nhiễm bẩn môi trường Trái lại, suy thoái môi trường bắt nguồn từ hành vi lấy đi các giá trị sinh thái của thành phần môi trường, làm suy giảm chất lượng của các nguồn tài nguyên Ô nhiễm môi trường thường thể hiện mức độ “cấp tính” cao hơn so với STMT, ô nhiễm môi trường thường diễn ra đột ngột, tức thì, trong một thời gian ngắn (phụ thuộc vào số lượng và hàm lượng các chất độc hại đưa vào môi trường), trái lại suy thoái môi trường diễn ra trong thời gian dài, suy thoái môi trường thường là kết quả của một quá trình thoái hóa, cạn kiệt dần giá trị sinh thái của các thành tố môi trường, làm mất đi chức năng cơ bản của chúng Ô nhiễm môi trường về lâu dài là nguyên nhân dẫn đến STMT Tuy nhiên, không phải sự STMT lúc nào cũng do ONMT mà ra, có thể do một tác nhân khác Ví dụ: Hành vi khai thác rừng một cách quá mức không có sự kiểm soát dẫn đến hiện tượng suy thoái rừng Sự suy thoái ấy không phải do ONMT gây ra mà do hành vi của con người tác động đến Bên cạnh đó, sự cố môi trường là nguyên nhân dẫn đến ONMT và về lâu dài dẫn đến STMT Ví dụ: Các vụ chìm tàu chở dầu trên biển gây ra sự cố tràn dầu là nguyên nhân gây ra ONMT biển, gây chết sinh vật dưới biển Nếu như tình trạng ô nhiễm này kéo dài thì sẽ gây ra STMT biển Sự cố môi trường có thể do thiên nhiên hoặc con người tạo ra Ví dụ: Các hiện tượng bão, lũ quét là do diễn biến thời tiết thất thường gây ONMT thì không thể đòi thiên nhiên phải bồi thường Do đó, vấn đề bồi thường không đặt ra với trường hợp này Sự cố môi trường có thể do con người gây ra Chính hành vi của con người đã gây ra ONMT, có thể là dưới dạng hành động hoặc không hành động Ví dụ: Tàu chở thuốc trừ sâu đang trên đường vận chuyển gặp bão, thuyền trưởng ra lệnh cho các thủy thủ đoàn ném hết các thùng hàng xuống biển Chính hành vi này đã làm ONMT biển, làm cho cá chết hàng loạt, hủy hoại môi trường sống của hàng ngàn loài thủy sinh khác Trong trường hợp này, vấn đề bồi thường được đặt ra thể hiện dưới dạng hành động như sau: đối với một thành phần môi trường vừa có thể rơi vào tình trạng ô nhiễm đồng thời gây STMT như đất, nước… thì ta phải áp dụng kết hợp cả hai biện pháp ngăn chặn hành vi khai thác, sử dụng quá mức các thành phần môi trường kết hợp với thu gom, xử lý chất thải, làm loãng độ độc hại của chất gây ô nhiễm…

Nói chung, ba thuật ngữ ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, suy thoái môi trường có mối quan hệ gắn bó với nhau Ô nhiễm môi trường có thể làm STMT và SCMT có thể làm ONMT lâu dài có thể dẫn đến STMT Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ lẫn nhau ảnh hưởng đến môi trường Nói cho cùng thì đây là những hiện tượng tiêu cực đối với môi trường sống của chúng ta Vì thế, cần phải loại trừ những nguyên nhân gây nên những hiện tượng này thông qua việc tìm hiểu mối liên hệ giữa

8 chúng trong một thể thống nhất Để tìm hiểu đầy đủ khái niệm của đề tài ta tìm hiểu khái niệm sau

1.1.2 Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra

Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1.2.1 Nguyên tắc nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên Một trong những quyền cơ bản của con người là quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường quyền sống của con người đang bị đe dọa bởi tình trạng ONMT, STMT, SCMT gây ra Chúng ta không thể sống khỏe mạnh với một bầu không khí ô nhiễm Đây là quyền quyết định đến tuổi thọ và chất lượng cuộc sống nói chung Môi trường hiện nay đang bị suy thoái nên quyền tự nhiên đang bị xâm phạm Trong tuyên bố của liên hiệp quốc về môi trường đã đưa quyền con người được sống trong môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia Nguyên tắc số 1 của tuyên bố Stockkolm nêu rõ “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau” Tuyên bố Rio De Janeiro có khẳng định “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên” Hai tuyên bố này có trách nhiệm biến quyền được sống trong một môi trường trong lành thành nguyên tắc pháp lý và thực tế nó đã là một nguyên tắc của luật môi trường Việt Nam Đòi hỏi cơ bản của nguyên tắc này là mọi quy phạm pháp luật, mọi chính sách pháp luật về môi trường phải lấy việc đảm bảo điều kiện sống của con người, trong đó có điều kiện môi trường làm ưu tiên số một

Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm đảm bảo cho người dân được sống trong môi trường trong lành Xét ở khía cạnh này thì đây không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục đích của luật môi trường: Vì quyền được sống trong một môi trường trong lành vẫn đang bị xâm phạm nghiêm trọng: tính mạng, sức khỏe, chất lượng cuộc sống ngày càng giảm Nhưng suy cho cùng là xuất phát từ hai nguyên nhân chính sau: 1) Dân số các thành phố ngày càng tăng, mật độ dân số ngày càng dày đặc khiến cho chính quyền các thành phố khó kiểm soát, cùng với thói quen “vứt rác ra đường” vẫn tồn tại Người dân chưa ý thức

23 được sự nguy hại của chất thải do mình phát tán vào môi trường, và xem BVMT là nghĩa vụ của mình: 2) Người dân thì đổ lỗi cho cơ quan chức năng, còn cơ quan chức năng lại đổ lỗi cho nhau Vi phạm thì nhiều mà phát hiện xử lý chưa triệt để Mặc dù có nhiều nổ lực tiến hành những biện pháp cần thiết để BVMT, phục hồi môi trường nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả Thì vấn đề BTTH do hành vi làm ô nhiễm môi trường sẽ đi đâu về đâu? Do đó, Nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Điều 50 hiến pháp 1992) như: quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do cư trú; quyền được BTTH; quyền tiếp cận thông tin…

1.2.2 Nguyên tắc khuyến khích các bên tranh chấp thương lượng và hòa giải ngay tại cấp cơ sở

Việc bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự hòa hảo giữa các bên Qua thương lượng các bên có thể tự mình lựa chọn phương án giải quyết tốt nhất Tại Khoản 1 Điều 605 BLDS 2005 và Điều 133 Khoản 1 Luật BVMT 2005 có quy định:

“Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Trong luật BVMT thì hình thức bồi thường bằng tiền thường được đặt ra Tuy nhiên, nếu bên bị thiệt hại là cộng đồng dân cư thì việc bồi thường bằng tiền không thể chính xác và sự phân chia tiền bồi thường đôi khi không đảm bảo Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở tôn trọng ý kiến, sự thỏa thuận, lợi ích giữa các bên, cũng như lợi ích của xã hội Hướng các chủ thể cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất phương án giải quyết và tự nguyện thực hiện Đây là hình thức xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người về giải quyết tranh chấp Thực tế giải quyết cho thấy tính ưu việt của nó là đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức… Ngoài ra, tranh chấp được giải quyết thông qua thương lượng hòa giải sẽ hạn chế xu hướng ùn tắc các khiếu nại, khiếu kiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tại Tòa án

Thương lượng, hòa giải là nguyên tắc được sử dụng phổ biến trong cuộc sống Giúp các bên giảm bớt một khoản chi phí không đáng có, đảm bảo tranh chấp được thực thi trên thực tế thông qua tinh thần tự nguyện Giảm bớt gánh nặng cho Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác Đây là một nguyên tắc có tính khả thi cao cần được phát huy Tuy nhiên,

24 hai bên không phải lúc nào cũng đạt được sự thống nhất về ý chí, trong khi môi trường đã bị thiệt hại cho nên cần thực hiện triệt để nguyên tắc sau

1.2.3 Nguyên tắc ưu tiên áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng môi trường bị thiệt hại

Khi môi trường bị tổn hại không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tranh chấp mà nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng đến lợi ích của cả cộng đồng Môi trường bị thiệt hại nghiêm trọng thì hậu quả để lại càng nặng nề Chính vì vậy nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở đề cao mục đích BVMT và quan tâm đến lợi ích chung của cả cộng đồng Có nghĩa là, khi môi trường bị ô nhiễm thì sẽ ưu tiên áp dụng nguyên tắc này trước khi xem xét đến thiệt hại của cá nhân, tổ chức

Mặt khác, vấn đề BTTH do ONMT, STMT, SCMT muốn được thực hiện phải trải qua một quá trình lâu dài, do tính chất lây lan và ảnh hưởng rộng khắp của môi trường Nếu chờ đến BTTH xong mới tiến hành khắc phục hậu quả thì quá muộn, quá sức đối với chủ thể gây ra ONMT, STMT, SCMT Do đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp nên ưu tiên áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Biện pháp này không phải là BTTH, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau Trong quá trình yêu cầu BTTH chúng ta không nên nhằm lẫn hai vấn đề này Việc ưu tiên áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là biện pháp mang tính ngăn chặn hậu quả xấu nhất có thể xảy ra Dù muốn hay không, chủ thể gây ONMT, STMT, SCMT phải tiến hành các biện pháp khắc phục hậu quả trước Ví dụ: VeDan Việt Nam đã cho xây dựng hệ thống xử lý nước thải và tháo dỡ toàn bộ hệ thống xả thải trái phép trước đây Vì thế, sông Thị Vải có vẻ như được “hồi sinh” Nếu không áp dụng biện pháp này mà cứ để VeDan tiếp tục xả thải và chờ đến khi BTTH mới khắc phục thì không biết còn bao nhiêu “dòng sông chết” nữa

Nguyên tắc này ưu tiên BVMT hơn là quyền lợi của tổ chức, cá nhân Vì xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường Môi trường bị ô nhiễm, sức khỏe của con người bị ảnh hưởng, không có môi trường con người không thể tồn tại và phát triển Ý thức được điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà nguyên tắc này được đặt ra Bên cạnh đó, nguyên tắc

“Người gây ô nhiễm phải trả tiền” được xem là “linh hồn” của bồi thường thiệt hại

1.2.4 Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”

Nguyên tắc này đã được quốc tế thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong quá trình giải quyết các tranh chấp môi trường Trong định hướng kế hoạch BVMT song hành với quá trình đầu tư các dự án kinh tế trọng điểm giai đoạn 2006-2010 tầm nhìn đến 2010 Theo cục trưởng BVMT Trần Hồng Hà thì nguyên tắc hàng đầu bắt buộc phải thực hiện đối với

25 mọi thành phần kinh tế hiện nay là “ Người sử dụng tài nguyên phải trả tiền, trả phí thải và phí gây ô nhiễm”

Người thực hiện hành vi hợp pháp nhưng theo quy định của pháp luật phải trả tiền Theo các cách thức thông qua bị đánh thuế tài nguyên (đánh trên số lượng tài nguyên khai thác), trả phí BVMT (phí nước thải, rác thải) tiền mua giấy phép phát thải, tiền phải trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trường (dịch vụ tư vấn, dịch vụ xử lý theo hợp đồng thỏa thuận), chi phí bỏ ra để phục hồi môi trường Với yêu cầu của nguyên tắc này thì tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm tương ứng với tính chất, mức độ gây tác động xấu đến môi trường Đồng thời, tiền phải trả đủ tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể gây ô nhiễm Vì vậy, mục đích của nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong khai thác và BVMT Định hướng hành vi tác động của các chủ thể vào môi trường theo hướng khuyến khích những hành vi tác động có lợi cho môi trường thông qua việc tác động vào lợi ích kinh tế của họ Đánh thẳng vào “túi tiền” của các nhà sản xuất, buộc họ phải có ý thức BVMT ngay từ đầu hơn là phải bỏ ra một số tiền khá lớn sau khi đã gây ra thiệt hại

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được xây dựng trên cơ sở Khoản 5 Điều

4 Luật BVMT 2005 “Tổ chức, cá nhân, gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại, và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật” Qua đó, ngoài việc thực hiện hành vi hợp pháp phải trả tiền (phí, thuế…) còn phải trả tiền cho hành vi gây tác động xấu cho môi trường theo nghĩa tiêu cực nhưng chưa vượt tiêu chuẩn do nhà nước quy định hay bắt bồi thường thiệt hại Đây là nguồn thu cho ngân sách nhà nước Cần lưu ý, không phải mọi chủ thể khai thác sử dụng tài nguyên đều phải trả tiền như sử dụng tài nguyên vào mục đích cần thiết cho con người: nước sinh hoạt, không khí để thở… Nói cách khác, người có hành vi làm ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại cho người khác bắt buộc phải trả hai khoản tiền sau: i) Tiền đền bù các thiệt hại về môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng, của nhà nước quyết định việc sử dụng theo các cách khác nhau để khắc phục các thiệt hại về môi trường ii) Tiền bồi thường các thiệt hại về người và tài sản đối với từng tổ chức, cá nhân bị hại do các bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức và phương thức bồi thường

Tóm lại, Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” là nguyên tắc nền tảng cho bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường Xuất phát từ đặc trưng của nguyên tắc yêu cầu các chủ thể gây ô nhiễm phải trả giá để bảo vệ môi trường, tạo sự công bằng, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm môi trường được tái tạo trên thực tế Bồi

26 thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường không chỉ dừng lại ở một vài nguyên tắc mà nó còn nhiều nguyên tắc khác

Trên đây là những vấn đề cơ bản về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường Phần này cho cái nhìn khái quát nhất về vấn đề bồi thường thiệt hại, có những phần làm tiền đề cho việc xác định thiệt hại Thông qua khái niệm và đặc điểm giúp phân biệt với các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác Tiếp đó, là một số nguyên tắc để định hướng cho việc bồi thường Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta hãy đi vào tìm hiểu chương 2 phân tích về một vài vụ việc cụ thể đã và đang diễn ra Qua đó, tác giả có một số bình luận và nêu một số phương hướng giúp giải quyết tốt những vấn đề còn vướng mắc

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG, SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG GÂY RA QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w