1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo luật hình sự việt nam

88 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 14,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG .... Thực tiễn địn

Trang 1

NGUYỄN DUY HIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn "Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Luật hình sự Việt Nam"

đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Hiến

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG 7 1.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 7 1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động 12 1.3 Các giải pháp định tội danh đúng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động 19 Kết luận Chương 1 25 CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRƯỜNG HỢP LÀM CHẾT NGƯỜI 26 2.1 Quy định của Bộ luật hình sự về trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người 26 2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết người 29 2.3 Các giải pháp để định tội danh đúng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết người 38 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43 KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo quy định của Điều 20 Hiến pháp năm 2013 thì "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự

và nhân phẩm"1

Như vậy, có thể nói quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ Trong những năm qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói chung và các hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nói riêng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác cho thấy còn có nhiều bất cập, vướng mắc trong việc định tội danh như trong trường hợp cố ý gây thương tích

mà có tình tiết trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc làm chết người, nhiều vụ

án việc định tội rất phức tạp, dễ dẫn đến xét xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm Quy định của pháp luật hình sự về các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác còn chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn

Để khắc phục những bất cập trong quy định và vướng mắc trong áp dụng quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, qua

đó đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này trong tình hình mới, thì vấn đề hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là điều quan trọng, cần

thiết Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài: "Định tội danh đối với hành vi cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Luật hình sự Việt Nam" làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học

1

Điều 20

1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và

nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm

thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm

2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định

3 Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử

nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự

đồng ý của người được thử nghiệm

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu dấu hiệu pháp lý về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam có thể kể đến:

* Các Giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học

Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật

hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam,

TP.HCM; Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam-Phần Các

tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội; Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần

Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Những giáo trình nêu trên có nội

dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích các dấu hiệu pháp lý của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác Đây là tài liệu quan trọng cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội trong luật hình sự Việt Nam và làm cơ sở pháp lý để định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

* Các bài viết liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể kể đến:

- Bài viết “Tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân và vấn đề áp dụng tình tiết

này khi xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Hàn lâm

Khoa học xã hội Việt Nam, số 4 năm 2003

- Bài viết “Đinh Văn Giang phạm tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới

hạn phòng vệ chính đáng” của tác giả Nguyễn Đức Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân

số 12/2005

- Bài viết “Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại đến sức khỏe của người khác trong trường hợp dấn đến chết người” của tác giả

Nguyễn Nông, Tạp chí Kiểm Sát nhân dân số 21/2005

- Bài viết “Phòng chống oan sai trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại đến sức khỏe của người khác” của tác giả Đỗ Xuân Tựu, Tạp chí Viện kiểm sát

nhân dân tối cao số 23/2006

Trang 8

- Bài viết “Một số vấn đề thực hiện định tội cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác”của tác giả Lê Thị Diễm Hằng, Tạp chí Tòa

án nhân dân, số 19/2017

- Bài viết “Một số vấn đề thực tiễn định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác” của tác giả Lê Thị Diễm Hằng, Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 20 năm 2017

Các bài viết trên có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác cũng như định tội danh đối với tội này trong một số trường hợp cụ thể

* Các luận văn thạc sĩ liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể kể đến:

- Luận văn “Đấu tranh phòng, chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả

Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002 Trong luận văn này, tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận của các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như: lịch sử hình thành

và phát triển, các dấu hiệu pháp lý, đưa ra thực tiễn áp dụng pháp luật, đề ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS 1999 Từ luận văn này, giúp tác giả có được một cái nhìn khái quát về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS 1999, làm cơ sở để nghiên cứu phát triển hoàn thiện luận văn

- Luận văn “Các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

người khác trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đình Tĩnh, Đại học Quốc

gia Hà Nội, năm 2014 Trong luận văn này, tác giả phân tích về lịch sử hình thành

và phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và so sánh với một số quốc gia trên thế giới Luận văn cũng đi sâu vào phân tích về nội dung tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và các giải pháp hoàn thiện

- Luận văn thạc sĩ “Các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe người khác những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê Văn Quang,

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm 2009 Luận văn cũng đi sâu vào phân

Trang 9

tích về nội dung tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 và các giải pháp hoàn thiện

Như vậy, trong những năm gần đây tại trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh

và các cơ sở đào tạo luật khác, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, chứ chưa có luận văn nghiên cứu tội này theo quy định của BLHS năm

2015 và nhất là vấn đề liên quan đến “Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác của các luận văn thạc sĩ nêu trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho đề tài luận văn

Nghiên cứu các công trình nghiên cứu về định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam cho thấy hầu hết các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận hoặc thực tiễn trong phạm vi hẹp, viết về một khía cạnh, một nội dung liên quan đến đề tài, chẳng hạn như: về việc xác định dấu hiệu định tội, về các dấu hiệu định khung của tội này … và phản ánh những khó khăn, vướng mắc đồng thời nêu lên những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện các qui định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác trong luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, các tài liệu nêu trên chưa tập trung nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh về định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Luật hình sự Việt Nam Tuy vậy, những quan điểm, ý kiến riêng của các nhà nghiên cứu được học viên tham khảo để xây dựng luận cứ khoa học cho việc tiếp tục nghiên cứu định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

Như vậy, đề tài “Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại đến sức khỏe người khác theo luật hình sự Việt Nam” mà tác giả làm Luận văn

Thạc sĩ Luật học theo định hướng ứng dụng về tổng thể không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước trong những năm gần đây liên quan đến đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những bất cập, vướng mắc khi áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về định tội danh đối với hành vi cố

Trang 10

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác, đề tài sẽ đưa ra những kiến nghị hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự hoặc hoàn thiện quy định pháp luật hình sự liên quan đến định tội danh đối với tội này

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Đánh giá thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015

+ Chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc quy định và áp dụng các quy định của luật hình sự liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015

+ Đưa ra các kiến nghị hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự hoặc hoàn thiện quy định pháp luật hình sự liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác trong luật hình sự Việt Nam

- Về phạm vi nghiên cứu của Luận văn:

+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác trên phạm vi cả nước

+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu định tội danh đối với hành vi

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 2015 đến năm 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích, đánh giá các

vụ án định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Qua đó, phân tích quy định của pháp luật hình sự hiện hành

Trang 11

về các vấn đề liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu

- Phương pháp bình luận án được sử dụng để bình luận các bản án trong thực tiễn xét xử vào nội dung đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh được sử dụng trên cơ sở so sánh giữa các bản án xét

xử liên quan đến định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác để từ đó chỉ ra các điểm khác biệt, không thống nhất trong thực tiễn liên quan đến việc định tội danh trong các bản án

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của Luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác, từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự có liên quan đến việc định tội danh này

- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của chính học viên và cho những người có quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung Luận văn được cấu trúc thành hai chương:

Chương 1: Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Chương 2: Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết người

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG

1.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định về tội cố

2

Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không

có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp

tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ

sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm

k khoản 1 Điều này

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

Trang 13

Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 thì dấu hiệu định tội của tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định là:

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm hại cho sức khỏe của người

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện ở các dạng thương tích, tổn hại về sức khỏe Thương tích là những vết thương để lại trên cơ thể của người bị hại vì thế mà làm suy giảm sức khỏe của họ như vết rách cơ, dập lá lách… Tổn hại về sức khỏe là sự rối loạn chức năng hoạt động của cơ thể nạn nhân khiến sức khỏe của họ bị suy giảm như rối loạn hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ thần kinh… Tổn hại về sức khỏe không để lại những vết thương trên cơ thể của nạn nhân mà làm rối loạn chức năng hoạt động của một bộ phận nào đó của cơ thể khiến

Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cấu thành tội phạm quy định tại Điều 134 BLHS nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

- Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên;

- Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp: a) Dùng vũ

k khoản 1 Điều này

5 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

6 Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

3

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm –

Quyển 1), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.97-98

Trang 14

khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; i) Có tính chất côn đồ

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc của tội này

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện với lỗi cố ý

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

* Khái niệm định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Để có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần phải dựa trên khái niệm định tội danh Theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận

về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể

đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” 4

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành vi

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi này với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự

4

Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9-10

Trang 15

Định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác là một trường hợp định tội danh cụ thể, do đó nó có các đặc

: + Thứ nhất, định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một quá trình lô gích nhất định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của hành vi này với các dấu hiệu của các cấu thành tội phạm được quy định trong luật

+ Thứ hai, định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với hành vi này

* Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều

134 BLHS) cần được phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và tội

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người, hai tội phạm này có nhiều điểm giống nhau về các yếu tố cấu thành tội phạm Về khách thể, hai tội này có khách thể trực tiếp giống nhau là đều xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người Mặt khách quan, hai tội đều là tội phạm có cấu thành vật chất, đều có hành vi khách quan là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác, đều có hậu quả là thương tích, tổn hại về sức khỏe và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả Về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều có thể thực hiện với lỗi cố ý Chủ thể của tội phạm đều là chủ thể thường Tuy nhiên, về cơ bản hai tội này có sự khác nhau Cụ thể:

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người

Trang 16

Thứ nhất, ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác trạng thái tinh thần của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trạng thái tinh thần của người phạm tội (đang

bị kích động mạnh) lại là dấu hiệu bắt buộc

Thứ hai, nếu nạn nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác là bất kỳ người nào thì nạn nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải là người đã thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội

Thứ ba, hai tội phạm này đều có cấu thành vật chất, tuy nhiên tỷ lệ thương tật

mà nạn nhân phải gánh chịu (hậu quả) được quy định đối với hai tội này là khác nhau: ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là từ 11% trở lên còn ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh lại là từ 31% trở lên

Thứ tư, theo quy định tại Điều 12 BLHS ở Tội cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác độ tuổi của người phạm tội là từ đủ 14 tuổi trở lên còn ở Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tuổi của người phạm tội là từ đủ 16 tuổi trở lên

Cũng cần phân biệt với trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được áp dụng tình tiết giảm nhẹ Điều 51 Bộ luật hình sự với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự

Căn cứ quy định của Điều 135 và Điều 51 BLHS, chúng ta thấy cả hai trường hợp người phạm tội đều bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác tuy nhiên hai trường hợp này vẫn có những điểm khác nhau cơ bản sau:

- Thứ nhất, về mức độ kích động về tinh thần: nếu như ở trường hợp cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS) tinh thần của người phạm tội phải bị kích động mạnh thì ở trường hợp phạm tội quy định Điều 51 thì người phạm tội tuy tinh thần có bị kích động nhưng chưa ảnh hưởng, chưa tới mức không nhận thức đầy đủ hành vi của mình

Trang 17

- Thứ hai, về mức độ của hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra tình

trạng kích động của người phạm tội: Nếu ở Điều 135 hành vi trái pháp luật được quy định phải là nghiêm trọng thì ở trường hợp phạm tội quy định tại Điều 51 hành

vi trái pháp luật có thể ở mức độ nghiêm trọng hoặc chưa ở mức độ nghiêm trọng

- Thứ ba, về chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật: hành vi trái pháp luật

quy định tại Điều 135 nhất thiết phải là hành vi trái pháp luật của người bị hại còn trường hợp quy định tại Điều 51 thì hành vi trái pháp luật có thể do người bị hại hoặc người khác gây ra Người khác mà các nhà làm luật quy định ở đây là một người không phải là người bị hại, nhưng có liên quan đến người bị hại; họ thường là người thân thích hoặc có mối quan hệ gần gũi với người bị hại nên người phạm tội mới xâm phạm đến người bị hại, nếu một người không có liên quan gì đến người bị hại mà có hành vi trái pháp luật đối với người phạm tội thì hành vi của người phạm tội không thuộc trường hợp được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Thứ tư, về đối tượng tác động của hành vi trái pháp luật: theo quy định tại

Điều 135 BLHS chỉ quy định hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội nhưng ở Điều 51 thì không nhất thiết phải như thế hành vi trái pháp luật có thể đối với người phạm tội, người thân thích của người phạm tội hoặc cũng có thể là người khác nhưng phải có quan hệ thân thiết đối với người phạm tội

Việc phân biệt giữa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các tội khác có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được chính xác và đúng đắn

1.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động

Định tội danh là một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự Đây là tiền đề cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với hành

vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách công minh, chính xác Định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, đặc biệt là không đảm bảo được tính có căn cứ của hình phạt được tuyên, xét xử không đúng người đúng tội, không đúng pháp luật Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, các cơ quan tiến

Trang 18

hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như hành

vi của người phạm tội vừa có yếu tố kích động về tinh thần, vừa có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng xâm phạm đến người phạm tội Đối với những vụ án thuộc những trường hợp này, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có trình độ lý luận

cơ bản và vững chắc, trên cơ sở đánh giá, phân tích, tổng hợp từng yếu tố của vụ án,

áp dụng các văn bản pháp luật liên quan một cách chính xác thì mới định tội danh đúng Chúng tôi xin lấy một vài vụ án để thấy rõ thực trạng trên

* Vụ án thứ nhất:

Bản án hình sự phúc thẩm số 08/2018/HS-PT Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1968, trú tại Xóm C, xã Hòa T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, là bố của Hoàng Công M, thường xuyên đi uống rượu về rồi đánh chửi

vợ con và nhiều lần đập phá đồ đạc trong nhà Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/8/2017, Hoàng Công M đi làm về thấy đồ đạc trong nhà bị ông L1 đập phá nên

đã bực tức, lúc đó thấy ông L1 bảo con gái là Hoàng Thị T2 đi phơi quần áo hộ, thì

M đã can không cho chị đi nên ông L1 đã dùng tay phải đấm vào đầu M Bị bố đánh, M chạy ra cửa thì ông L1 đuổi theo ra đến hiên, M chạy ra đến sân nhìn thấy một đoạn gậy bằng tre màu trắng – vàng dài 1,27m, đường kính một đầu là 4,2cm, một đầu là 4,4cm cạnh bờ rào liền dùng tay phải cầm lấy rồi quay lại thấy ông L1 đang đứng trên thềm M liền bước lên dùng gậy đập một phát từ trên xuống trúng vào đầu làm ông L1 ngã ra thềm M đập tiếp phát thứ hai, ông L1 giơ tay phải lên

đỡ thì bị trúng vào tay, bị M đánh ông L1 vùng dậy chạy vào buồng phía đầu hồi nhà thì M đuổi theo dùng hai tay cầm gậy đập nhiều phát vào hai chân làm ông L1

bị ngã ở cửa buồng, ông L1 bò vào trong buồng M vẫn bực tức nên vào theo đập mấy phát nữa vào hai chân ông L1 thì ông L1 xin tha và được mọi người can ngăn nên M dừng lại để mọi người đưa ông L1 đi cấp cứu Sau đó ông L1 được đưa đến Trung tâm Y tế huyện L điều trị thương tích

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 7917/17/TgT ngày 29/8/2017 của trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận dấu hiệu chính qua giám định gồm:

7

TAND tỉnh Lạng Sơn (2018), Bản án hình sự phúc thẩm số 08/2018/HSPT ngày 05/02/2018, nguồn:

trong-trang-thai-tinh-than-bi-kich-dong-manh-15354 (truy cập ngày: 15/11/2018)

Trang 19

https://banan.thuvienphapluat.vn/ban-an/ban-an-082018hspt-ngay-05022018-ve-toi-co-y-gay-thuong-tich Thương tích vết thương đã khâu chưa cắt chỉ vùng thái dương phải: 2%;

- Thương tích tay phải bó bột rạch dọc cẳng bàn tay + X-quang: Gãy đầu dưới xương trụ phải: 8%

- Thương tích chân trái bó bột rạch dọc cẳng bàn chân + X-quang: Gãy 1/3 giữa sương mác trái, có mảnh rời: 5%;

- Thương tích vết thương 1/3 trên mặt trước cẳng chân phải, vết thương mắt

cá ngoài cổ chân phải, mẻ mắt cá ngoài chân phải, mẻ mắt cá ngoài chân phải + Chân phải bó bột rạch dọc đùi – cẳng – bàn chân + X-quang: Gãy hai xương cẳng chân phải với nhiều đường gãy xương chày và đường gãy 1/3 dưới xương mác: 20%; Căn cứ bản tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Hoàng Văn L1 hiện tại là: 31%

Tại Phần xét thấy của Bản án có nhận định:

- Bị cáo và người bị hại không kháng cáo về phần tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo cho bị cáo Xét kháng cáo xin hưởng

án treo của bị cáo và người bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do trong quá trình sinh sống, ông Hoàng Văn L1 thường xuyên đi uống rượu về rồi mắng chửi vợ con và nhiều lần đập phá đồ đạc trong nhà, có lần còn bán tháo tài sản để chi dùng vào việc riêng không lành mạnh như khai nhận của ông Hoàng Văn L1 Ngày 24/8/2017, người bị hại ông Hoàng Văn L1 cũng như mọi khi đã đi uống rượu rồi về nhà chửi mắng vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà và đuổi đánh bị cáo; do bực tức bị cáo đã lấy chiếc gậy tre để ở sân nhà đánh lại bố là ông Hoàng Văn L1 dẫn đến thương tích 31% và sau đó đã cùng gia đình đưa ông L1 đến bệnh viện cứu chữa Như vậy, do bị cáo đã

bị hành vi trái pháp luật, hung hãn bạo hành, phá hoại tài sản trong gia đình của người bị hại là ông Hoàng Văn L1 gây ra nên mới dẫn tới hành động bột phát của bị cáo đánh lại bố và gây ra thương tích cho ông Hoàng Văn L1; vì vậy, hành vi của bị cáo là hành vi phạm tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật hình sự năm 1999, tương ứng với khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015; do đó bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 và bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm e khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 và không áp dụng Nghị

Trang 20

quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội là không phù hợp

- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Công M và người bị hại ông Hoàng Văn L1; Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 97/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 105; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 1 Điều 135; điểm b, s khoản

1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015

Như vậy, trong vụ án này, với hành vi nêu trên của bị cáo các Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo phạm Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân “ do ông Hoàng Văn L1 thường xuyên đi uống rượu về rồi mắng chửi vợ con

và nhiều lần đập phá đồ đạc trong nhà và ông L1 đã dùng tay phải đấm vào đầu M”; lúc này M không tự chủ, không kiềm chế được hành vi nên dùng cây gây thương tích cho ông L1 Trong trường hợp này, L1 có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với M” Tác giả cho rằng hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là có thật, và hành vi này có thể làm cho M bị kích động mạnh Tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định rõ trên thực tế M có bị kích động mạnh hay không

Để xác định “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, các cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ, cụ thể: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vị phạm tội của mình” Tuy nhiên, trong vụ án trên không có dấu hiệu nào cho thấy bị cáo “không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình”, mà ngược lại, tác giả cho rằng bị cáo M không bị mất tự chủ, tự kiềm chế được hành vi mà vẫn còn thời gian để giữ được bình tĩnh: “bị M đánh ông L1 vùng dậy chạy vào buồng phía đầu hồi nhà thì M đuổi theo dùng hai tay cầm gậy đập nhiều phát vào hai chân làm ông L1 bị ngã ở cửa buồng, ông L1 bò vào trong buồng M vẫn bực tức nên vào theo đập mấy phát nữa vào hai chân ông L1 thì ông L1 xin tha và được mọi người can ngăn nên M dừng lại” khoảng thời gian M rượt đuổi ông L1 từ ngoài sân vào trong buồng đủ để M nấy lại được sự bình tĩnh và hoàn toàn có khả năng kiểm soát, điều khiển hành vi của mình Do đó, tác giả cho rằng M không bị kích động mạnh

Trang 21

Tương tự vụ án thứ nhất, TAND tỉnh Tây Ninh cũng có cách hiểu như TAND Tỉnh Lạng Sơn sẽ được tác giả trình bày trong vụ án thứ hai

* Vụ án thứ hai:

Bản án hình sự phúc thẩm số 115/2017/HS-PT Tòa án nhân dân Tỉnh Tây

Diễn biến toàn bộ nội dung vụ án:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/8/2015, sau khi uống rượu xong biết nhà bị cáo A có chăn nuôi gà nên Tạ Công T rủ Lê Minh T1 (tên gọi khác Đ), sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh cùng đến trộm cắp gà về làm thịt uống rượu tiếp T1 đồng ý, cả hai cùng đi bộ đến nhà của bị cáo A T1 đứng ngoài cảnh giới còn T leo tường rào vào bắt trộm gà Do gà thường xuyên bị mất trộm nên thấy T vào bắt trộm cắp gà, bị cáo Nguyễn Ngọc A tức giận cầm cây chĩa mũi bằng sắt, cán bằng cây tầm vông đuổi theo, khi gần đuổi kịp do trời mưa nên bị cáo A bị trượt chân ngã làm mũi chĩa đâm vào mông của T một cái T tiếp tục bỏ chạy leo lên tường rào để leo ra ngoài Lúc này bị cáo A chạy đến kêu T leo xuống nhưng T không leo xuống mà tiếp tục leo ra ngoài nên bị cáo A dùng chĩa đâm vào người T 01 cái, làm mũi chĩa dính vào người của T T đã được T1

đỡ qua tường rào đưa xuống đất Sau khi xuống đất, T rút mũi chĩa ra bỏ cạnh tường rào và được T1 đưa đến Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 17-12-2015 thì xuất viện Sau khi đâm T bị thương tích, bị cáo A đi đến Trạm y tế phường N để tìm nhưng không gặp, bị cáo tiếp tục đi đến Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh tìm thì gặp T đang cấp cứu nên đến Công

an phường N đầu thú

* Kết quả giám định thương tật:

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 61/2016/TgT ngày 07-4-2016 của T tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương

cơ thể của Tạ Công T do thương tích gây nên hiện tại là 73%

8

TAND tỉnh Tây Ninh, Bản án hình sự phúc thẩm số 115/2017/HSPT ngày 25/9/2017, nguồn:

https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta90602t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày: 15/11/2018)

Trang 22

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 112/2016/TgT ngày 30-6-2016 của T tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tạ Công T do thương tích gây nên hiện tại:

+ Tỷ lệ tổn thương vùng bụng là 73%

+ Tỷ lệ tổn thương vùng mông là 01%

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) đoạn cây tầm vông dài 01m70, đường kính 0,03m, một đầu có bịt ống sắt ở giữa có lỗ trống và 01 (một) cây sắt tròn dài 0,51m, đường kính 0,01m, một đầu cây sắt được đập dẹp nhọn hình mũi tên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự T1 phố Tây Ninh tiếp tục bảo quản chờ xử lý theo quy định

* Tại Phần xét thấy của Bản án có nhận định:

Lời khai nhận của bị cáo nêu trên phù hợp với vết thương trên người bị hại có 01 vết thương vùng mông, 01 vết thương vùng bụng (dưới rốn), phù hợp với hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh ghi nhận Tạ Công T vào viện lúc 20 giờ ngày 01/8/2015, chuẩn đoán vết thương thủng ruột non, thủng trực tràng

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 61/2016/TgT ngày 07/4/2016 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thì

Tạ Công T có các dấu hiện chính qua giám định: 01 vết sẹo mổ đường giữa trên dưới rốn, kích thước 16 x 1 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng hố chậu trái, kích thước 8 x 0,6 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng gai chậu trước trên bên phải, kích thước 2 x 1 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng mông bên trái, kích thước 2 x 0,5 cm lành tốt; tổn thương phải cắt đoạn ruột non hồi tràng dưới 1 m, đã xử trí, hiện tại ổn; thủng trực tràng đã xử trí, hiện tại ổn Tổng cộng có 4 vết sẹo thì có 01 vết sẹo mổ ngay vết thương vùng bụng để xử lý vết thương bị đâm thủng ruột non, thủng trực tràng, 02 vết sẹo đưa hậu môn tạm ra da và dẫn lưu, 01 vết sẹo vùng mông

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, đã thu giữ 01 mũi chĩa nằm ngoài hàng rào nhà bị cáo (mũi chĩa nằm trong khuôn viên của Trường Cao đẳng sư phạm tỉnh Tây Ninh), bị cáo thừa nhận là mũi chĩa của bị cáo đã sử dụng đâm vào người bị hại

Trang 23

* Tại phần Quyết định của Bản án:

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm

2017 của Toà án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

Như vậy, với hành vi phạm tội như trên Cơ quan tiến hành tố tụng xác định

bị cáo phạm Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái thần bị khích động mạnh với hành vi dùng chĩa đâm vào người T 01 cái và gây ra tổn thương cơ thể của Tạ Công

T do thương tích gây nên hiện tại là 73% áp dụng điểm b khoản 2 Điều 105 Bộ luật hình sự năm 1999, xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là hành vi trộm gà nhà ông A

Tuy nhiên, tác giả cho rằng nhận định trên là chưa chính xác, nội dung vụ án không thể hiện bị cáo A có trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà chỉ xác định bị cáo A có tức giận Trạng thái tức giận này không đồng nhất với trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà cơ quan tiến hành tố tụng cần chứng minh để định tội danh

Việc xác định “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, các cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 04/1986-HĐTPTANDTC/NQ,

cụ thể: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn

toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vị phạm tội của mình” Tuy nhiên, trong vụ án

trên không có dấu hiệu nào cho thấy bị cáo “không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình”, mà ngược lại, tác giả cho rằng bị cáo A rất bình tĩnh “chạy đến kêu T1 đứng lại và leo xuống nhưng T1 không xuống ông A dùng chĩa đâm một nhát dính vào bụng T1” Hay có thể nói rằng ông A hoàn toàn tự chủ

và điều kiển được hành vi của mình, không bị rới vào tình trạng “không hoàn toàn

tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình” theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/1986-HĐTP TANDTC Điều này thể hiện tinh thần ông A không bị kích động mạnh Ngoài ra, hành vi trái pháp luật của nạn nhân trong vụ án này là hành vi

“ăn trộm gà”, mặc dù đây là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, lập đi lập lại (do bị cáo A bị mất trộm gà nhiều lần) nhưng tác giả cho rằng với bản chất của dạng hành

vi này chỉ có thể làm cho người khác bị kích động chứ không có khả năng làm cho người bị mất trộm bị rơi vào trạng thái bị kích động mạnh, và thự tế cho thấy ông A cũng không bị kích động mạnh Chính vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo A phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là chưa chính xác, dấn đến kết luận sai về tội danh

Trang 24

Như vậy, thông qua thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động của các bản án nêu trên cho thấy vướng mắc được đặt ra là cần hiểu và áp dụng một cách thống nhất các dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động”, từ đó mới

có thể định tội danh đúng trong trường hợp này

1.3 Các giải pháp định tội danh đúng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động

Như đã phân tích ở Mục 1.2, thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động cho thấy vướng mắc được đặt ra là cần hiểu và áp dụng một cách thống nhất các dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động” Theo chúng tôi, nguyên nhân của vướng mắc này là:

- Thứ nhất, dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo quy định của BLHS năm 2015 hiện nay chưa được hướng dẫn cụ thể mà chỉ có thể tham khảo theo Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn cho BLHS năm

1985 mà theo Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản này không còn hiệu lực

- Thứ hai, do năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Cụ thể trên thực tế, dấu hiệu

này có thể được hiểu như sau:

Quan điểm thứ nhất, trạng thái tinh thần bị kích động manh là tình trạng ý thức bị hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dấn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát về điều khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình

Quan điểm thứ hai cho rằng, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái của một người chưa mất hoàn toàn khả năng nhận thức, nhưng đã mất khả năng

tự chủ - khả năng kiềm chế và điều khiển hành vi của mình

Trang 25

Quan điểm thứ ba cho rằng, tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất khả năng nhận thức lúc đó, họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, trạng thái tinh thần của họ gần như người điên Trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước

Như vậy có thể thấy, quan điểm một và hai đều thừa nhân trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh là trạng thái mà tâm lý bị ức chế ở mức độ cao dấn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình Hai quan điểm này phù hợp với hướng dẫn tại điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP TANDTC ngày 29/11/1986 của hội đồng thẩm phán tòa án nhan dân tối cao

Việc quy định “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là dấu hiệu định tội trong một số tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe có cơ sở lý luận là: “Trong một số trường hợp đặc biệt, cảm xúc mà người phạm tội đã trãi qua khi thực hiện tội phạm cũng được nhà làm luật qui định là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan trong một

số cấu thành tội phạm Tuy nhiên, chỉ những cảm xúc gắn liền với quá trình chuẩn

bị phạm tội và quá trình thực hiện tội phạm mới có thể là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm, còn những cảm xúc thể hiện thái độ đối với tội phạm đã thực hiện như: thỏa mãn, hối hận, sợ bị trừng phạt …do không phải là một phần của hoạt động tâm lý diễn ra trong thời gian thực hiện tội phạm nên không thể là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm Yếu tố cảm xúc ở mức độ mạnh mẽ trong những trường hợp này làm hạn chế khả năng nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi, hạn chế khả năng kiểm soát hành vi của người phạm tội so với các trường hợp phạm tội trong trạng thái tâm lý bình thường, tuy nhiên nó không làm mất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng kiểm soát hành vi của người đó Trên cơ sở đó, nhà làm luật, trong một số trường hợp qui định dấu hiệu cảm xúc trong khi thực hiện một số hành vi phạm tội là tình tiết làm giảm nhẹ

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Nxb Hồng

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.155-156

Trang 26

trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, kiến nghị TANDTC ra văn bản hướng dẫn dấu hiệu “trạng thái tinh

thần bị kích động mạnh” để hướng dẫn chính thức dầu hiệu này thay cho việc tham khảo Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể như sau:

Nghị quyết số 04/HĐTP ngày

Tình trạng tinh thần bị kích

động mạnh là tình trạng người phạm

tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm

chế được hành vi phạm tội của mình

Nói chung, sự kích động mạnh đó

phải là tức thời do hành vi trái pháp

luật nghiêm trọng của nạn nhân gây

nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết

người Nhưng cá biệt có trường hợp

do hành vi trái pháp luật của nạn

nhân có tính chất đè nén, áp bức

tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự

kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến

thời điểm nào đó hành vi trái pháp

luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm

cho người bị kích động không tự

kiềm chế được; nếu tách riêng sự

kích động mới này thì không coi là

kích động mạnh, nhưng nếu xét cả

quá trình phát triển của sự việc thì

lại được coi là mạnh hoặc là rất

mạnh

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng do cảm xúc ở mức độ mạnh mẽ dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi, hạn chế khả năng kiểm soát hành vi của người phạm tội so với các trường hợp phạm tội trong trạng thái tâm lý bình thường, tuy nhiên nó không làm mất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng kiểm soát hành vi của người đó

Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng

của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành

vi phạm tội Nhưng cá biệt có trường hợp do

hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất

đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại,

sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được

coi là mạnh hoặc là rất mạnh

Việc xác định trường hợp phạm tội là trong “trạng thái tinh thần bị kích động” hay

Trang 27

“trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cần dựa vào ở mức độ hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội trong trường hợp cụ thể khi thực hiện hành vi dưới tác động của yếu tố cảm xúc “tinh thần bị kích động” Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không cần xem xét một cách khác quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của

sự việc; mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội, trình độ văn hóa, chính trị, tính tình,

cá tính của mỗi bên: mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội

Việc hướng dẫn nêu trên sẽ giúp chúng ta giải quyết được các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động mà cụ thể là: (1) Thống nhất cách hiểu về dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” – tránh tình trạng có nhiều cách hiểu khác nhau như đã nêu trên khi áp dụng dấu hiệu này; (2) Cụ thể hóa “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” phải gắn liền cá nhân

cụ thể và hoàn cảnh cụ thể mà Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 chưa làm

rõ, gắn với lý luận về yếu tố cảm xúc trong lý luận luật hình sự

- Thứ hai, kiến nghị TANDTC ra văn bản hướng dẫn định tội danh trường

hợp tuy hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nhưng không đủ các dấu hiệu khác của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS)

Trường hợp hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” không đủ

Trang 28

các dấu hiệu khác của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS) như: nạn nhân không phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc đối với người thân thích của người đó thì xử

lý hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

(Điều 134 BLHS) (nếu có đủ dấu hiệu của tội này) với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS

Trường hợp đã xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS) thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS

Cơ sở để hướng dẫn như trên xuất phát từ mối quan hệ giữa cấu thành tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) là mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm riêng và cấu thành tội phạm chung, do đó khi hành vi phạm tội trên thực tế thỏa mãn dấu hiệu của cả hai tội này thì xử lý hình sự về tội phạm có cấu thành tội phạm riêng vì nó phản ánh đầy đủ, chính xác hơn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong trường hợp hành vi phạm tội không thỏa mãn dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội phạm riêng thì xử lý hình sự về tội phạm có cấu thành chung

Đối với trường hợp đã xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều

135 BLHS) thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS nữ, bởi vì khoản 3 Điều 51

BLHS quy định: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu

định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt” Về mặt lý luận, một tình tiết đã được sử dụng làm tình tiết định tội nếu sử dụng nó một lần nữa làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì nó không phản ánh chính xác tính nguy hiểm cho xã hội của trường hợp phạm tội

Trang 29

Thứ ba, cần lấy vụ án chuẩn mực, hiểu đúng tinh thần của pháp luật để làm

nguồn án lệ

Thứ tư, cần tập huấn để nâng cao nhận thức cho người tiến hành tố tụng về

tình tiết các “ trạng thái tinh thần bị kích động” và “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

Các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả định tội danh đúng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tinh thần bị kích động

Trang 30

Kết luận Chương 1

Kết quả nghiên cứu Chương 1 của Luận văn được thể hiện qua các nội dung sau:

1 Đã phân tích quy định của pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, làm rõ dấu hiệu tinh thần bị kích động mạnh

2 Chỉ ra vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp trạng thái tính thần bị kích động ở các mức độ khác nhau: “kích động” và “kích động mạnh”

3 Đưa ra kiến nghị cơ quan chức năng hướng dẫn lại dấu hiệu “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” trong luật hình sự, bổ sung án lệ và tập huấn nghiệp

vụ về dấu hiệu này

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

TRONG TRƯỜNG HỢP LÀM CHẾT NGƯỜI 2.1 Quy định của Bộ luật hình sự về trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người

Trong BLHS năm 2015, trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người được quy định tại điểm a khoản 4 và

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn dấu hiệu “làm chết người” trong các điều luật của BLHS năm 2015 Do đó chúng ta có thể tìm hiểu dấu hiệu này thông qua dấu hiệu “thương tích dẫn đến chết người” tham khảo tại Nghị quyết số 01/89-HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán TANDTC như sau:

“Về thương tích dẫn đến chết người

Thương tích dẫn đến chết người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích nặng này, nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả Thí dụ: đâm vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tĩnh mạch hông và do bị mất nhiều máu nên nạn nhân bị chết

Cũng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trường hợp gây thương tích không phải là thương tích nặng, nhưng vì nạn nhân là người quá già yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho bị chết sớm hơn, nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết.”

Như vậy, trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người có đặc điểm là: (1) Trường hợp này xâm phạm sức khỏe của người khác chứ không xâm phạm tính mạng của người khác; (2) Việc gây ra hậu quả chết người cho nạn nhân có nguyên nhân từ thương tích do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe gây ra; (3) Lỗi của người phạm tội đối

10

Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

Trang 32

với hậu quả chết nạn nhân là lỗi vô ý; (4)Trường hợp này là trường hợp “hỗn hợp lỗi” – có nghĩa là người phạm tội cố ý đối với hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng vô ý đối với hậu quả chết người

* Phân biệt trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người với tội giết người (Điều 123 BLHS)

Giết người là hành vi cố ý tước bỏ trái pháp luật tính mạng của người khác Tội giết người xâm phạm là tính mạng của người khác Đối tượng tác động của tội phạm là con người đang sống với ý nghĩa là một thực thể tự nhiên

Tội giết người trong luật hình sự hiện hành được quy định với CTTP vật chất Tội giết người là tội phạm có tính nguy hiểm cao nên mặc dù có CTTP vật chất nhưng dấu hiệu hậu quả chết người chỉ có ý nghĩa xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm Đối với tội phạm này, hành vi giết người chưa làm nạn nhân vẫn cấu thành tội phạm và được coi là giết người chưa đạt

Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước bỏ trái phép tính mạng của người khác Tước bỏ trái phép tính mạng của người khác được hiểu là hành vi tác động trái phép đến thân thể của người khác chứa đựng khả năng thực tế gây ra chết người Hành vi khách quan phải là nguyên nhân đưa hậu quả nạn nhân bị tử vong Đây là dấu hiệu rất quan trọng đối với việc xác định tội danh và giai đoạn thực hiện tội phạm của tội giết người

Tội giết người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Đối với trường hợp giết người do lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả chết người có thể hoặc tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra Trong trường hợp này,

dù hậu quả chết người chưa xảy ra do nguyên nhân khách quan thì vẫn định tội danh

là giết người ở giai đoạn chưa đạt Nếu là lỗi cố ý gián tiếp thì việc định tội danh còn tùy thuộc vào hậu quả xảy ra trên thực tế Nếu hành vi tác động trái phép đến thân thể của người khác do lỗi cố ý gián tiếp gây ra hậu quả chết người thì định tội danh về tội giết người; nếu nạn nhân chỉ bị thương tích thì định tội danh là tội cố ý gây thương tích khi thỏa mãn các điều kiện khác được quy định trong BLHS Động

cơ giết người không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội giết người

Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người (khoản 4 Điều 134 BLHS) với tội giết người (Điều 123 BLHS) là ở chỗ:

Trang 33

- Thứ nhất, trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người xâm phạm sức khỏe của người khác, tội giết người xâm phạm tính mạng của người khác

- Thứ hai, trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người - có lỗi là trường hợp hỗn hợp lỗi (cố ý về hành vi, vô ý với hậu quả); còn trong tội giết người thì lỗi của người phạm tội là cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gian tiếp)

Những điểm khác biệt này là cơ sở để chúng ta định tội danh đúng đối với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người, tránh nhầm lẫn với tội giết người

* Phân biệt trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người với tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS) 11

Tội vô ý làm chết người được hiểu là hành vi do vi phạm các quy tắc chung

về bảo đảm an toàn cho tính mạng sức khỏe của người khác mà gây ra chết người Tội vô ý làm chết người xâm phạm đến tính mạng của người khác

Là tội phạm có CTTP vật chất nên mặt khác quan của tội vô ý làm chết người bao gồm ba dấu hiệu: hành vi khách quan, hậu quả chết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người

Hành vi khách quan của tội này là hành vi vi phạm quy tắc chung về bảo đảm tính mạng, sức khỏe Những quy tắc chung về bảo đảm an toàn tính mạng sức khỏe của con người có thể được quy định trong các văn bản pháp luật hoặc đã được thừa nhận chung Do vậy, hành vi vi phạm những quy tắc an toàn trong một số lĩnh vực

cụ thể là hành vi khách quan của những tội phạm khác như các tội vi phạm quy định

về an toàn giao thông, về xây dựng, về lao động, về y tế v.v

Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội vô ý làm chết người Nếu hành vi khách quan chưa gây ra hậu quả chết người thì không cấu thành tội phạm này Do vậy mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm

có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh

Lỗi của tội phạm là vô ý vì quá tin hoặc vô ý do cẩu thả Chủ thể của tội phạm: là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS

11

Điều 128 Tội vô ý làm chết người

1 Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

2 Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

Trang 34

Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa trường hợp cố ý gây thương tích làm chết người (khoản 4 Điều 134 BLHS) với tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS)

Những điểm khác biệt này là cơ sở để chúng ta định tội danh đúng đối với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người, tránh nhầm lẫn với tội vô ý làm chết người

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết người

Vụ án thứ ba

Bản án hình sự phúc thẩm số 38/2017/HS-PT Tòa án nhân dân Tỉnh Gia Lai

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/7/2015 tại quán nhà anh Trần Văn

T (làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai) gồm có: Võ Anh T, Trần Công H, Lê Đức T, Huỳnh Cẩm T (cùng trú tại xã T, huyện T, tỉnh bình Định); Bùi Xuân

Q, Bùi Tấn N, Trần Trọng N, Cao Tiến L, Mai Quốc T, Nguyễn Thành T, Nguyễn Tú B và Trần Văn T (đều trú tại làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai) cùng ngồi uống rượu với nhau Do đã uống nhiều bia rượu nên giữa Võ Anh T có xảy ra xô xát với Mai Quốc T nhưng được mọi người can ngăn và giải hòa Mai Quốc T cùng Nguyễn Tú B, Nguyễn Thành T về trước, Võ Anh

T cùng những người còn lại đi đến nhà Bùi Xuân Q (cùng ở làng Đ) tiếp tục uống rượu Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Mai Quốc T vẫn thấy bực tức vì bị

Võ Anh T đánh nên đã gọi cho Nguyễn Tú B cùng Nguyễn Thành T đi tìm Võ Anh T đánh trả thù Khi đi Mai Quốc T cầm 01 con dao (loại dao chặt mía) dài 114cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 43cm, Nguyễn Thành T cầm 01 con dao (loại dao chặt mía) dài 124cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 53cm và

12

TAND tỉnh Gia Lai (2017), “Bản án hình sự phúc thẩm số 38/2017/HSPT của TAND tỉnh Gia Lai ngày 23/6/2017”, nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta90602t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày: 15/11/2018)

Trang 35

Nguyễn Tú B cầm 01 con dao (loại dao độ chế) dài 89,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 56cm đến trước nhà Bùi Xuân Q

Lúc đó, Mai Quốc T thấy Trần Văn T ở trước sân nên chạy vào dùng dao chém Trần Văn T 2-3 nhát trúng tay và hông, Trần Văn T bỏ chạy vào nhà và kêu lên “tụi bay, nó chém tao ”, nghe Trần Văn T kêu thì Võ Anh T cùng mấy người đang ngồi chạy ra thì thấy Mai Quốc T, Nguyễn Tú B cùng Nguyễn Thành T mỗi người cầm 01 con dao đứng giữa sân nhà Bùi Xuân Q Lúc này Mai Quốc T dùng dao chém bị can T nhưng bị can T tránh được và chạy vào đường luồng nhà Bùi Xuân Q cầm 01 khúc gỗ dài 67,5cm, Trần Công H lấy 01 ống tuýp sắt dài 1,5 mét chạy ra rồi đứng đôi co với Mai Quốc T thì được Bùi Xuân Q, Nghĩa can ngăn đẩy Mai Quốc T ra ngoài đường Võ Anh T cầm khúc gỗ đi theo Mai Quốc T ra ngoài đường thì bị cáo

Võ Anh T nghe thấy Mai Quốc T gọi điện thoại cho ai đó nói “thằng Ba S dưới anh là ai, có chơi được không” thì bị cáo T nói “tao T này, bọn bay chém đi” rồi bị cáo Võ Anh T giơ cây gỗ lên đánh 01 cái làm Mai Quốc T bị rơi điện thoại xuống đường, Mai Quốc T dùng dao chém lại bị cáo Võ Anh T nhưng bị Võ Anh T đánh rơi dao nên Mai Quốc T bỏ chạy một đoạn 4-5 mét Tiếp đó Võ Anh T cùng Trần Công H quay lại chỗ Nguyễn Tú B và Nguyễn Thành T đang đứng, lúc này Trần Công H dùng tuýp sắt đánh 2-3 cái làm Nguyễn Thành T rơi dao nhưng Nguyễn Thành T giật được tuýp sắt đánh lại nên Trần Công H bỏ chạy Sau đó Nguyễn Thành T kéo Nguyễn Tú B đi ra chỗ để xe mô tô (hướng ra tỉnh lộ 666) để đi về, cả hai đi được một đoạn thì Nguyễn Tú B lại đi đến đối diện cách vị trí Võ Anh T đang đứng khoảng 01 mét, lúc này bị cáo Võ Anh T nghĩ Nguyễn Tú B quay lại chém mình nên đã dùng khúc gỗ đang cầm trên tay phải đánh 01 cái từ trên xuống thì trúng vào đầu của B Ngay lúc đó bị cáo Võ Anh T được Trần Công H kéo vào trong nhà Bùi Xuân Q Sau đó Bùi Xuân Q và Nguyễn Thành T phát hiện thấy Nguyễn Tú B bị thương nằm gục ở đường nên chở đi cấp cứu tại trạm xá xã

K, sau đó Nguyễn Tú B được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai và Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định Đến ngày 31/7/2015 thì Nguyễn Tú

B tử vong tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định Tại Bản kết luân giám định pháp y về tử thi số 170/2015-PYTT ngày 06/8/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận : Mũi có máu khô; Xây xát da vùng trán thái dương

Trang 36

phải, tụ máu dưới da đầu vùng trán thái dương phải, vỡ lún xương sọ vào trong Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não, vỡ sọ, chảy máu nội sọ đã điều trị không hồi phục

* Tại Phần xét thấy của Bản án có nhận định:

Qua xem xét hồ sơ bệnh án, và xác minh tại bệnh viện, thì Nguyễn Tú B vào viện với trạng thái hôn mê sâu, và tiếp tục hôn mê sâu cho đến lúc tử vong

Xét khi dùng cây gỗ sần sùi, có kích thước to ( dài 67,5cm; tiết diện có nơi là: 5x5 cm; nơi nhỏ nhất 5x2 cm) đánh vào đầu của anh Nguyễn Tú B, buộc bị cáo phải nhận thức rằng có thể gây ra cái chết cho anh B Trên thực tế, anh B đã chết do hành vi đó của bị cáo gây nên Do vậy, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội

“Giết người”, thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện M điều tra, truy tố , xét xử bị cáo về tội

“Cố ý gây thương tích” là không đúng , vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Do vậy, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tiến hành tố tụng lại theo thủ tục chung

* Tại phần Quyết định của Bản án:

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 06/2017/HSST ngày 17/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai

* Nhận xét về bản án

Như vậy, với hành vi phạm tội như trên, bản án sơ thẩm xác định bị cáo Võ Anh T phạm tội cố ý gây thương tích trong trường hợp làm chết người với hành vi dùng khúc gỗ sần sùi, có kích thước to (dài 67,5cm; tiết diện có nơi là : 5x5 cm; nơi nhỏ nhất 5x2 cm) đang cầm trên tay phải đánh 01 cái từ trên xuống thì trúng vào đầu của B

Tuy nhiên, tác giả cho rằng nhận định trên là chưa chính xác, bởi vì khi định tội danh trong các vụ án gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, trước hết phải căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội, động cơ, mục đích Trong trường hợp các

bị cáo không khai báo về động cơ, mục đích hoặc nếu chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo thì chưa đủ cơ sở để xác định mục đích, động cơ phạm tội, thì hung khí, vị trí tấn công, mức độ quyết liệt của hành vi tấn công, lực tác động và hậu quả thực tế xảy ra… là những tình tiết để xem xét, đánh giá, xác định ý thức chủ quan (động cơ,

Trang 37

mục đích phạm tội của bị cáo) Trường hợp người phạm tội không có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra và nạn nhân không bị chết thì không thể kết luận các bị cáo phạm tội "giết người", mà hành vi phạm tội có thể cấu thành tội "cố ý gây thương tích"

Trên thực tế, anh B đã chết do hành vi đó của bị cáo gây nên (dùng khúc gỗ sần sùi, có kích thước to và dài 67,5cm; tiết diện có nơi là : 5x5 cm; nơi nhỏ nhất 5x2 cm đang cầm trên tay phải đánh 01 cái từ trên xuống thì trúng vào đầu của B)

Vì nếu người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hai đến sức khỏe của nạn nhận, nhưng chẳng may nạn nhân bị chết, cái chết của nạn nhân là không ngoài

ý muốn của người phạm tôi Thương tích dẫn đến chết người, trước hết phải là thương tật nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích này, tức là giữa cái chết của nạn nhân phải có mối quan hệ nhân quả

Việc xác định bị cáo dùng cây gỗ có phải là hung khí nguy hiểm hay không?, các cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng hưỡng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 12/5/2006, hướng dẫn: “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Và theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

2.1 “Vũ khí” là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ)

2.2 “Phương tiện nguy hiểm” là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công

a Về công cụ, dụng cụ

Trang 38

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn

b Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ

c Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt

Vì vậy, cây gỗ gây ra cái chết cho nạn nhân là hung khí nguy hiểm và thuộc loại vật có sẵn trong tự nhiên

Trong vụ án này, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo mong muốn tước đoạt tính mạng của các nạn nhân Bị cáo có dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trọng yếu trên cơ thể người bị hại, với mức độ tấn công quyết liệt, lực tác động mạnh; hậu quả thực tế người bị hại bị chấn thương nặng ở đầu, dẫn đến chết người Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội giết người (Điều 123 BLHS) như bản

án phúc thẩm nhận định là có cơ sở Điều này khác với bản án sơ thẩm đã xác định

bị cáo Võ Anh T phạm tội cố ý gây thương tích trong trường hợp làm chết người

Điểm khác nhau về định tội danh trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong cùng một vụ án nêu trên là một vấn đề của thực tiễn cần được giải quyết để có thể định tội danh đúng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp làm chết người

Vụ án thứ tư:

Bản án hình sự phúc thẩm số 664/2017/HS -PT của TAND cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh ngày: 18 - 12 - 201713

có nội dung như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03/06/2013, sau khi nhậu xong , Phạm Văn C1 điều khiển xe mô tô phía sau chở Nguyễn Anh T3, còn Vắn Nhật B chở Đinh Công Thế H lưu thông trên trên đường N, Phường N, quận V Khi đến trước nhà đường N, thì xe của C1 và T3 va quẹt với Lê Minh N1 đang đi bộ mang bàn ghế qua đường, làm C1 và T3 bị ngã xe trầy xước da nhẹ N1 xin lỗi nhưng C1, T3, B, H cự cãi với N1 Thấy vậy, ông Trương Hoàng T và

13

Bản án hình sự phúc thẩm số 664/2017/HS –PT của Tòa án nhân của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ

Chí Minh ngày: 18/ 12/ 2017, nguồn:

http://banan.thuvienphapluat.vn/ban-an/quyet-dinh-giam-doc-tham-012008hsgdt-ngay-03032008-ve-vu-an-nguyen-hoang-minh-tien-bi-xet-xu-ve-toi-giet-nguoi-196 (truy cập ngày 7/8/2018)

Trang 39

Trương Nhật T4 (chủ quán cơm nơi N1 làm thuê) cũng ra xin lỗi và xin bồi thường, nhưng C1, T3, B, H không chịu và đã lao vào đánh N1 bằng tay không (không gây thương tích) khiến N1 bỏ chạy vào nhà Lê Văn T1 là bảo

vệ chợ V ra can ngăn và nói đã báo Công an rồi Nghe vậy, C1, T3, B, H lao vào đánh T1 thì T1 bỏ chạy lại quán cơm của ông T lấy cây sắt gắp than quay ra đánh trả T1 dùng cây gắp than đánh T3 một cái gây trầy da ở vùng

cổ và đánh loạn xạ vào nhóm của H (không xác định được trúng ai) Cùng lúc này, Trương Hoàng N (con ông T) liền lấy vỉ nướng thịt bằng kim loại nhà mình có kích thước khoảng 40 x 60cm (được gắn kết khoảng 4 cây Inox chiều ngang, 10 cây Inox chiều dọc, có đường kính khoảng 0,5cm) chạy đến đánh từ trên xuống đầu H một cái, làm H bị ngã H đứng lên bỏ chạy, N tiếp tục ném vỉ sắt vào người H, làm H ngã xuống đường Thấy H bị thương, C1

và T3 đưa đi cấp cứu tại bệnh viện 175, đến 14 giờ ngày 04/6/2013, H chết tại bệnh viện

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 595/13/GĐPY ngày 02/8/2013 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Đinh Công Thế H chết do vết thương và chấn thương sọ não Không tìm thấy thành phần cồn trong máu Máu Đinh Công Thế H thuộc nhóm máu O” Tại Công văn giải thích pháp y số 440/PC54(Đ4) ngày 19/3/2014 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh giải thích vết thương trên người nạn nhân Đinh Công Thế H như sau:

- Các chấn thương: Trầy rách da nham nhở trán phải xuống gò má phải, kích thước 10 x 3cm (vết rách da ngay trên đầu ngoài cung mày phải, kích thước 3 x 1,5cm) và vết rách da nham nhở ở giữa trán sát chân tóc, kích thước 1 x 0,6cm là do tác động bởi vật tày có cạnh gây ra Vết trầy da ngay trên đầu ngoài cung mày trái, kích thước 4 x 0,7cm là do tác động bởi vật tày không có cạnh gây ra Các tổn thương này gây tụ máu dưới da đầu vùng trán hai bên và một phần thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não phải và xuất huyết lan tỏa dưới nhện hai bán cầu đại – tiểu não

- Vết thương thủng da ở trên giữa cung mày trái 03cm, bờ mép gọn, kích thước 0,5 x 0,4cm làm thủng xương trán, kích thước 0,6 x 0,5cm và

Trang 40

xuyên thấu vào nhu mô não theo hướng từ bán cầu đại não trái qua bán cầu đại não phải

Rãnh thương dài 14cm, nhu mô não tại đây bị dập và xuất huyết rộng 8cm và có khoảng 30gam máu cục tại rãnh thương Vết thương này do vật cứng, thẳng, tiết diện gần tròn và có đường kính khoảng 0,6cm gây ra

- Các chấn thương và vết thương ở vùng đầu nạn nhân Đinh Công Thế

H là nguyên nhân dẫn đến tử vong Bị cáo Trương Hoàng N khai cầm cái vỉ nướng như mô tả bằng hai tay giơ lên qua đầu rồi đánh từ trên xuống vùng đầu – vai nạn nhân 01 cái Với tư thế như trên có thể gây ra vết trầy rách da nham nhở ở trán phải xuống gò má phải, kích thước 10 x 3cm và trầy da trên khớp vai phải, kích thước 2,5 x 1,5cm

Tại bản kết luận giám định số 127/2013/GĐSV ngày 16/7/2013 và số 133/2013/GĐSV ngày 21/6/2013 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên 04 cái vỉ nướng không dính máu; trên

02 cái vỉ nướng có khả năng dính máu, không còn dấu vết để giám định tiếp; trên đoạn sắt có khả năng dính máu, không còn dấu vết để giám định tiếp; trên cây gắp than không dính máu; trên 02 cây gỗ có dính máu người, không

đủ dấu vết để giám định nhóm máu”

* Tại Phần xét thấy của Bản án có nhận định:

Căn cứ các tài liệu điều tra đã thu thập, tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm lời khai của những người làm chứng và lời khai nhận của bị cáo Trương Hoàng N và các kết luận giám định nêu trên chỉ mới có căn cứ xác định N đã cầm vỉ nướng thịt bằng Inox đánh (hoặc đập) vào đầu nạn nhân trong lúc nhóm người của phía bị hại (B, T3, C1) đang ẩu đả với Lê Văn T1;

N từ trong nhà cầm vỉ nướng thịt đánh (đập) vào đầu nạn nhân và quăng tiếp

vỉ này vào lưng người bị hại gây ra thương tích, góp phần tác động đến nạn nhân tử vong như nội dung giải thích tại Công văn 440 ngày 19/3/2014 nêu trên Việc các cơ quan điều tra, truy tố cấp sơ thẩm đã điều tra bổ sung nhưng chưa phát hiện thêm ai là người sử dụng các hung khí khác đánh (đập) vào đầu nạn nhân, khi nào có tình tiết mới phát hiện người khác có liên quan đến vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm