Thị trường sản phẩm liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt với các k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung đề tài là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Kết quả của đề là quá trình nghiên cứu các tài liệu có liên quan cùng với sự hướng dẫn của TS PHẠM TRÍ HÙNG- Giảng viên Trường Đại học Luật TP HCM- Khoa luật Thương mại
Toàn bộ những tài liệu trích dẫn đã được chú thích đầy đủ tên tác giả
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan trên theo qui định của trường
Tp.HCM, ngày 31 tháng 07 năm 2008
Tác giả
ĐẶNG THỊ NGỌC HƯỞNG
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan
Phần mở đầu 1
Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường liên quan và Xác thị trường Liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004 5
1.1 Những vấn đề chung về thị trường liên quan 5
1.1.1 Khái quát về thị trường 5
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường liên quan 7
1.2 Xác định thị trường liên quan theo Luật cạnh tranh năm 2004 13
1.2.1 Xác định thị trường sản phẩm liên quan 13
1.2.1.1 Khái niệm thị trường sản phẩm liên quan 13
1.2.1.2 Các căn cứ xácđịnh thị trường sản phẩm liên quan 14
1.2.1.3 Các căn cứ xác định thị trường sản phẩm liên quan 18
1.2.2 Xác định thị trường địa lý liên quan 25
1.2.2.1 Khái niệm và cách xác định thị trường địa lý liên quan 25
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định thị trường địa lý liên quan 26
1.3 Xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan 28
Chương 2: Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan đối với việc thực thi Luật Cạnh tranh năm 2004 32
2.1 Ý nghĩa trong việc xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh 32
2.1.1 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan trong việc xác định hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 34
2.1.2 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan trong việc xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 39
2.1.3 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan trong việc xác định hành vi tập trung kinh tế 44
Trang 42.2 Những đề xuất nhằm hoàn thiện chế định xác định thị trường liên quan trong Luật Cạnh tranh năm 2004 49
Phần kết luận 56
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước tạo điều kiện cho mọi thành phần tham gia hoạt động kinh doanh Theo Hiến
Pháp năm 1992 thì Công dân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật 1 đã tạo
kiện cho nền kinh tế phát triển gồm nhiều thành phần kinh tế Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh là các lợi ích về kinh tế
Họ cạnh tranh với nhau để tranh giành những lợi ích đó Để tạo được chỗ đứng cho mình và dành được lợi thế, các doanh nghiệp không ngừng cải tiến kĩ thuật, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm chi phí sản xuất,… Các doanh nghiệp không ngừng tìm kiếm những phương thức nhằm thoả mãn những nhu cầu của khách hàng Đặc biệt trong xu hướng “quốc tế hoá” nền kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước càng trở nên khốc liệt hơn,
“thương trường là chiến trường” Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật Tuy nhiên, một hậu quả trái ngược một khi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có sự vi phạm, không đảm bảo được yếu tố cạnh tranh bình đẳng, công bằng Khi đó, chính lợi ích của khách hàng cũng bị xâm phạm Xác định những tiêu cực đó, Luật của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 27/2004/QH11 ngày tháng 12 năm 2004 về cạnh tranh (Luật Cạnh tranh năm 2004) đã được ban hành nhằm đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cạnh tranh diễn ra trong môi trường lành mạnh, bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, cho người tiêu dùng và cho chính nền kinh tế nước ta Căn cứ và hậu quả tác động của hành vi đối với thị trường, Luật Cạnh tranh năm 2004 chia làm hai hành vi: hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh Trong đó, hành vi hạn chế cạnh tranh gây hậu
quả rất nặng nề cho nền kinh tế là làm giảm, làm sai lệch, làm cản trở cạnh tranh trên thị trường 2 Luật Cạnh tranh đã đưa ra các biện pháp xử lý rất nghiêm khắc và gây ra hậu quả nặng nề cho các doanh nghiệp có hành vi hạn chế cạnh tranh Chính
vì vậy, việc xác định hành vi của một doanh nghiệp có phải là hành vi hạn chế cạnh tranh theo qui định của luật cạnh tranh hay không là một việc không dễ dàng và đòi
Trang 6hỏi phải rất thận trọng Luật Cạnh tranh năm 2004 đã đưa ra các căn cứ để xác định những hành vi cạnh tranh nào bị cấm theo qui định của pháp luật cạnh tranh Một trong những căn cứ đó là xác định thị trường liên quan và thị phần, thị phần kết hợp của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp Xác định được tầm quan trọng đó, Cục thương mại công bằng Anh đã nhận định:
Định nghĩa thị trường là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra về hành vi nào là hành vi lạm dụng Bởi lẽ, thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định
Do đó, nếu thị trường được xác định sai thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường điều không hoàn thiện 3
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc xác định thị trường liên quan nên đòi hỏi phải có sự thận trọng khi xác định để đi đến những kết luận đúng đắn Minh hoạ bằng một vụ kiện ở Mỹ, Toà án Liên bang vùng đã bác đơn vụ kiện của công ty Adidas America Ine kiện Hiệp hội tập đoàn thể hình quốc gia với lý do là hãng Adidas đã không đưa ra được bằng chứng về thị trường liên quan 4 Lý do Adidas bị bác đơn là vì đã không đưa ra được bằng chứng về thị trường liên quan, đã không chứng minh được mình và Hiệp hội tập đoàn thể hình có chung thị trường liên quan
để chứng minh những hành vi của Hiệp hội thể hình đã gây ra thiệt hại cho mình và môi trường cạnh tranh Bởi chỉ khi xác định được thị trường liên quan mới xác định được cấu trúc của thị trường kể cả thị trường tiềm năng, xác định được vị thế của các doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp trong mối quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan Chỉ khi xác định được cấu trúc của thị trường mới xác định được những thiệt hại của hành vi gây ra cho thị trường Thực tế những năm qua cho thấy Việt Nam còn nhiều yếu kém từ kinh nghiệm cho đến đội ngũ cán bộ có chuyên môn nên đã chưa phát huy hết vai trò cũng như đưa được Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống Đối với những nước Luật Cạnh tranh ra đời, phát triển sớm, họ có khá nhiều kinh nghiệm và rất linh hoạt trong việc thực thi Luật Cạnh tranh Do vậy, Việt Nam còn phải học hỏi nhiều hơn nữa những kinh nghiệm từ các nước Tháng 07 năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu một bước ngoặc trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới Vì vậy, ta cần phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật cạnh tranh để tự bảo vệ mình trước những đối thủ dày dặn kinh nghiệm cũng như tạo một môi trường cạnh tranh công bằng thu hút đầu tư từ
3
Trích theo David Harbord và Georgvon Gravenitz(2004), Định nghĩa thị trường trong các vụ điều tra cạnh
tranh trong thương mại, tài liệu hội thảo, Hà Nội
4
Trích theo David Harbord và Georvon gravenitz(2004), tlđd, tr.1
Trang 7các nước bạn Thị trường liên quan có vai trò rất lớn trong việc xác định những hành vi hạn chế cạnh tranh nào bị cấm theo qui định của pháp luật Cạnh tranh đảm bảo cho việc thực thi Luật Cạnh tranh có hiệu quả, tạo khung pháp lý cho môi trường cạnh tranh Đây là lý do khiến tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Xác định thị trường liên quan và ý nghĩa của nó trong việc thực thi Luật Cạnh tranh”
2 Phạm vi nghiên cứu- Nội dung của đề tài:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những qui định của pháp luật trong phạm vi Luật Cạnh tranh năm 2004 và Nghị định 116/2005/NĐ-CP 5 cùng với các Nghị định
có liên quan như: NĐ 120/2005/NĐ-CP 6, NĐ 05/2006/NĐ-CP 7, NĐ
06/2006/NĐ-CP 8
Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những qui định của pháp luật Cạnh tranh Việt Nam về khái niệm thị trường liên quan cũng như cách xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004
Nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò của thị trường liên quan đối với việc thực thi Luật Cạnh tranh Việt Nam thông qua vai trò của nó đối với việc xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và hành vi tập trung kinh tế Đề tài sẽ không nghiên cứu những qui định của pháp luật cạnh tranh về biểu hiện, đặc diểm, bản chất hay các cách xác định 3 hành vi trên mà chỉ nghiên cứu chúng dưới góc độ làm nổi bậc vai trò của thị trường liên quan.Theo đó, đề tài bao gồm những nội dung chính sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường liên quan và Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004
Chương 2: Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan đối với việc thực thi Luật Cạnh tranh năm 2004
Trang 83 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Pháp luật cạnh tranh còn là một lĩnh vực mới mẽ đối với Việt Nam, thể hiện qua việc Luật Cạnh tranh chỉ mới được ban hành năm 2004 và trước đó chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh về vấn đề này Trong những năm qua, Luật Cạnh tranh chưa đi sâu vào nền kinh tế cụ thể là từ khi Luật Cạnh tranh ra đời và có hiệu lực cho đến nay ta chưa xử lý bất cứ vụ việc cạnh tranh nào Ta hoàn toàn chưa có kinh nghiệm thực thi Luật Cạnh tranh nên việc nghiên cứu đề tài gặp rất nhiều khó khăn Các nghiên cứu, phân tích của tác giả cũng chỉ dựa trên cơ sở lý luận, những dẫn chứng cũng chỉ là kinh nghiệm của các nước trong khi điều kiện thực tế mỗi nước lại không giống nhau Trước đó, có rất nhiều tác giả chọn và nghiên cứu đề tài này, nhưng vấn đề về thị trường liên quan vẫn còn nhiều tranh cãi, những thiếu sót, hạn chế đã được các tác giả phân tích cùng với việc đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn chế định thị trường liên quan, nhưng đây vẫn là vấn đề còn nhiều khó khăn Với đề tài của mình, tác giả hi vọng sẽ làm sáng tỏ các vấn đề xoay quanh thị trường liên quan góp phần đưa Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được tác giả viết bằng các phương pháp sau: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp lôgíc, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh
Trang 9Chương 1
Những vấn đề chung về thị trường liên quan và xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh
tranh năm 2004
1.1 Những vấn đề chung về thị trường liên quan:
1.1.1 Khái quát về thị trường:
Dưới góc độ kinh tế chính trị: “Thị trường là tổng hoà các quan hệ mua bán, do những điều kiện kinh tế, lịch sử, xã hội qui định Thị trường còn hiểu là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế thường xuyên cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ và sản lượng” 9 Thị trường ra đời từ rất sớm, tư liệu sản xuất xuất hiện và được sở hữu tư nhân, cùng với sự phân công lao động đã tạo ra sản phẩm dư thừa trong xã hội Người có nhu cầu sử dụng lại không
có hàng hoá trong tay, người có hàng hoá lại không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết Lúc này có sự trao đổi hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu, thị trường được hình thành Từ đây đã hình thành nên nhiều loại thị trường, chúng được phân loại trên những căn cứ khác nhau, như: dựa vào đối tượng mua bán (thị trường lúa gạo, thị trường dầu mỏ,…), dựa vào vai trò, ý nghĩa của đối tượng của thị trường ( thị trường tư liệu sản xuất, thị trường lao động,…) Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng thể các mối quan hệ cạnh tranh, cung-cầu, giá cả, giá trị mà trong đó giá cả và sản lượng hàng hoá được xác định
Trong mối quan hệ về cung- cầu thì “Cung về một loại hàng hoá hay dịch vụ là tổng số hàng hoá hay dịch vụ đó mà chủ thể kinh tế đưa ra bán trên thị trường ở các mức giá trong một thời gian nhất định, bao gồm cả hàng hoá bán được và chưa bán được Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội về một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định” 10 Giữa cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mục đích của kinh doanh là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận Để đạt được Cầu đó họ phải sản xuất ra những gì mà khách hàng cần Lúc
Trang 10này cầu chi phối cung về số lượng, cơ cấu hàng hoá Ngược lại, cung cũng có sự tác động tới cầu, cung làm kích thích cầu
Giá cả của hàng hoá, dịch vụ là sự thể hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá dịch
vụ đó Giá cả có sự tác động đến quan hệ cung- cầu và chịu sự chi phối của chính quan hệ đó Khách hàng khi mua một loại hàng hoá hay sử dụng một dịch vụ, họ luôn mong muốn sẽ được một hàng hoá, dịch vụ tốt nhất nhưng chi phí phải bỏ ra là nhỏ nhất Trong các loại hàng hoá có sự khác nhau về giá cả nhưng điều có khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, họ sẽ chọn hàng hoá nào giá rẽ hơn những hàng hoá khác, thậm chí họ sẽ chuyển sang sử dụng một hàng hoá rẽ hơn thay thế cho hàng hoá mà họ đang sử dụng Chính vì lẽ đó, các nhà kinh doanh họ không ngừng cạnh tranh nhau để giành được sự ưu ái từ phái khách hàng Các doanh nghiệp tìm cách cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Ta cũng thấy nếu nhu cầu đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó lớn, các doanh nghiệp thường nâng giá hàng hoá, dịch vụ của mình lên Nếu có hàng hoá, dịch vụ khác có thể thay thế và chi phí phải bỏ ra thấp hơn thì người tiêu dùng sẵn sàng bỏ
ra Lúc này cầu về hàng hoá, dịch vụ đó giảm, cung của hàng hoá, dịch vụ thay thế tăng lên Để bán được hàng các doanh nghiệp này hạ giá sản phẩm của mình xuống thấp, khi này cầu lại tăng lên Như vậy vô hình cung và cầu trên thị trường có sư cân bằng nhau và đạt ở một mức giá xác định
Dưới góc độ cạnh tranh: Thị trường là nơi các doanh nghiệp cạnh tranh nhau, là nơi diễn ra các hành vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất hoặc cung ứng cùng một loại hàng hoá, dịch vụ hay các loại hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng bị chi phối bởi quan
hệ cung-cầu và yếu tố giá cả Nhìn nhận thị trường liên cũng giống như nhìn nhận thị trường dưới góc độ cạnh tranh Đây là nơi mà các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau cùng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Nếu các hàng hoá, dịch vụ giống nhau thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ, mỗi một doanh nghiệp phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ phía đối thủ của mình Ở một mức độ nào đó, hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp có thể thay thế cho nhau, họ trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau Để các doanh nghiệp là đối thủ của nhau thì hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp phải thay thế được cho nhau dưới sự nhìn nhận của người tiêu dùng
Nghiên cứu thị trường là khởi điểm tổng quan đầu tiên để nghiên cứu các quan hệ cung- cầu, giá cả, giá trị và quan hệ cạnh tranh Đây là nền tảng đầu tiên để
ta nghiên cứu khái quát về thị trường liên quan và những đặc điểm của nó
Trang 111.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường liên quan:
Khái quát về thị trường liên quan:
Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đã đưa ra khái niệm:
Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Thị trường sản phẩm liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt với các khu vực lân cận
Hầu hết các nước điều cố gắng đưa ra khái niệm về thị trường liên quan.Tuy
nhiên cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nào về thị trường liên quan là hoàn hảo nhất Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng chỉ đưa ra khái niệm mang tính chất chung chung là thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Đây là hai bộ phận cấu thành nên thị trường liên quan Như vậy, để xác định chúng ta phải xác định được thị trường của những hàng hoá, dịch
vụ có thể thay thế cho nhau và khu vực mà ở đó các hàng hoá dịch vụ này có thể thay thế cho nhau với những điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt với các khu vực lân cận Theo nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ, Edward
H.Chamberlin, “Trong kinh doanh mỗi sản phẩm mang lại tính độc đáo bằng đặc điểm riêng có của nó trong việc hình thành như thương hiệu, khác biệt về chất lượng, cung cách phục vụ,…điều này thể hiện khía cạnh độc quyền của nó Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranh của sản phẩm khác, khi đó việc dị biệt hoá đã làm cho cả độc quyền và cạnh tranh cùng có mặt” 11
Xã hội càng phát triển, con người càng ý thức rõ hơn những nhu cầu của mình, nghĩa là nhu cầu càng được nâng cao Thêm vào đó, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp càng trở nên mạnh mẽ cùng với sự phát triển và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, các hàng hoá, dịch vụ ngày càng có sự độc đáo riêng, có điểm đặc biệt riêng Chẳng hạn, cùng là thị trường bột giặt nhưng bột giặt Omo lại có những điểm khác biệt gíúp người sử dụng nhận biết và phân biệt được với bột giặt Viso và Tile Nếu các hàng hoá, dịch vụ hoàn toàn giống nhau thì đây là thị trường đồng nhất và việc xác định thị trường của các sản phẩm này rất dễ dàng Tuy nhiên,
11
Edward H.Chamberlin, The Theory of Monopolistic Competition: Are-orientation of theory of value,
8thed Cambridge, Mass, Harward University, 1962, 63p
Trang 12xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh là thị trường của những sản phẩm không đồng nhất nhau mà có thể thay thế cho nhau Để chiếm được ưu thế là
sự ưu ái chọn lựa hàng hoá, dịch vụ của mình từ phía khách hàng, các doanh nghiệp
đã tìm cách làm cho sản phẩm của mình có tính độc đáo hơn so với các sản phẩm khác Bởi nếu các sản phẩm giống nhau sẽ tạo cho các doanh nghiệp một sức ép cạnh tranh rất lớn Trong điều kiên hiện nay, các sản phẩm đồng nhất với nhau tồn tại ngay càng ít, thị trường đồng nhất gần như không còn tồn tại Lúc này các sản phẩm chỉ còn liên quan đến nhau ở đặc điểm là sự thay thế cho nhau theo sự lựa chọn của khách hàng Khi đó, các sản phẩm có thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” này cạnh tranh với nhau và thị trường diễn ra sự cạnh tranh đó được gọi là thị trường liên quan
Do đó, việc xác định thị trường liên quan là xác định số lượng các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong một khu vực thị trường nhất định Như vậy, xác định thị trường liên quan là xác định xem doanh nghiệp đó đang cạnh tranh với những doanh nghiệp nào Để xác định các doanh nghiệp có cùng thị trường liên quan với nhau hay không chỉ cần xác định các doanh nghiệp đó có cạnh tranh với nhau hay không, nếu có thì chúng cùng thị trường liên quan và ngược lại Chẳng hạn, muốn biết thị trường quần tây và áo sơ mi có phải có cùng thị trường liên quan hay không chỉ cần xem xét giữa quần tây và áo sơmi có sự cạnh tranh nhau không Ở đây ta thấy quần tây và áo sơ mi không thể thay thế cho nhau nên chúng không có cùng thị trường liên quan
Theo đó, thị trường liên quan là khu vực địa lý được giới hạn bởi khoảng không gian mà các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau “Thuộc tính thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ ở hầu hết các nước và cả Việt Nam được xác định thông qua ba yếu tố là đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của hàng hoá, dịch vụ Hai sản phẩm được xem là có thể thay thế cho nhau nếu đáp ứng đủ khả năng thay thế về cả ba yếu tố trên Trong đó, yếu tố thay thế về mục đích sử dụng, giá cả hàng hóa là hai yếu tố quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn đến việc xác định về thuộc tính liên quan giữa các hàng hoá, dịch vụ Cả hai yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào chính
sự lựa chọn của người tiêu dùng-chủ thể mà các doanh nghiệp luôn hướng đến Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là hướng đến nhu cầu của người tiêu dùng, cho nên hai sản phẩm dù có sự khác biệt nhau nhưng cùng đáp ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng thì trong một chừng mực nào đó chúng có thể thay thế cho nhau Chẳng hạn, ô và áo mưa là hai sản phẩm khác nhau, vào mùa nắng chúng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau nhưng trong mùa mưa chúng lại có thể thay thế cho
Trang 13nhau Giá cả cũng là một yếu tố quan trọng, cho dù hai sản phẩm điều giống nhau, cùng đáp ứng cho một nhu cầu củ người sử dụng nhưng sự khác biệt quá lớn về giá
cả cũng làm phân nhóm khách hàng, từ đó hình thành nên các vùng tiêu thụ riêng biệt Theo thông báo của Uỷ ban Châu Âu về định nghĩa về thị trường liên quan trong luật cạnh tranh của Cộng đồng ngày 9/9/1997 thì:
Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan bao gồm tất cả những sản phẩm và (hoặc) dịch vụ được xem là có thể thay đổi hoặc thay thế bởi người tiêu dùng do đặc tính, giá cả và mục đích sử dụng Thị trường địa lý liên quan bao gồm khu vực mà trong đó diễn ra các giao dịch về cung và cầu các sản phẩm hoặc những dịch vụ, trong đó những điều kiện cạnh tranh là đủ đồng nhất và có thể phân biệt được từ những khu vực lân cận vì những điều kiện cạnh tranh này được đánh giá khác nhau tại các khu vực đó 12
Như vậy, cách tiếp cận về thị trường liên quan của Việt Nam giống với cách
tiếp cận của Liên minh Châu Âu Theo cách tiếp cận này thì thị trường liên quan bao gồm hai bộ phận cấu thành là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Đối với Việt Nam, cạnh tranh còn là một lĩnh vực mới mẽ, chưa hề có kinh nghiệm, cụ thể là trước Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa hề có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh lĩnh vực này Với cách tiếp cận như trên là phù hợp thực tế của Việt Nam, bởi theo cách tiếp cận đó thị trường liên quan được thể hiện một cách rõ ràng, chi tiết và cụ thể góp phần rất lớn cho việc hiểu và thực thi Luật Cạnh tranh Trong khi đó, một số nước lại có cách tiếp cận khác với cách tiếp cận trên và thể hiện được vai trò của thị trường liên quan là đánh giá được bản chất của hành vi hạn chế cạnh tranh Chẳng hạn, Luật cạnh tranh của Canada trong hướng dẫn thực
hành sáp nhập tháng 3/1991 đưa ra định nghĩa: “Thị trường liên quan được xác định
là nhóm nhỏ nhất các sản phẩm nhỏ nhất và khu vực địa lý nhỏ nhất liên quan đến những người bán có thể ấn định hoặc duy trì sự tăng giá đáng kể và không nhất thời trên mức độ mà nó có thể có trong trường hợp có sáp nhập” Và theo cuốn sách “Mergers Guidelines” do Bộ tư pháp Mỹ xuất bản: “Một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm và khu vực địa lý nơi sản phẩm đó được bán ra, nếu giá cả của sản phẩm không bị điều tiết mà doanh nghiệp, vốn luôn muốn tìm cách thu lợi nhuận tối đa và hiện và tương lai là nhà cung cấp duy nhất sản phẩm có trên địa bàn đó,
có thể tăng giá nhẹ, nhưng đáng kể và không có tính quá độ” Tuy nhiên, theo cách
12
Tài liệu hội thảo (2004), Hà Nội
Trang 14tiếp cận này không mang tính rõ ràng, cụ thể và với Việt Nam chưa hề có kinh nghiệm, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn thấp nên việc thực thi sẽ rất khó khăn
Luật Cạnh tranh Việt Nam đã chọn cách tiếp cận đơn giản hơn và điều này
đã góp phần làm cho luật cạnh tranh được thực thi dễ dàng hơn Mặc dù vậy, ta cũng nên thận trọng bởi việc xác định thị trường liên quan suy cho cùng là để đánh giá sức mạnh của doanh nghiệp và xác định hành vi hạn chế cạnh tranh chứ không phải cố gắng đưa ra khái niệm và chỉ dừng lại ở việc xác định thị trường liên quan Như vậy, thị trường liên quan là khu vực địa lý mà các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau theo sự lựa chọn của người tiêu dùng Các hàng hoá, dịch vụ
có thể thay thế cho nhau này có thể đang trực tiếp cạnh tranh nhau hoặc là có khả năng cạnh tranh nhau Xác định thị trường liên quan là bước quan trọng đầu tiên trong các cuộc điều tra hành vi hạn chế cạnh tranh Nếu xác định thị trường liên quan sai thì các bước tiếp theo không thể thực hiện hoàn chỉnh được Ts.Phạm Duy
Nghĩa đã nhận định “ Trong chính sách pháp luật cạnh tranh xác định thị trường liên quan là điểm chính yếu nhất vì từ đó mới có thể tính toán được thị phần, toàn
bộ chính sách chống hạn chế cạnh tranh và tập trung quyền lực kinh tế điều được xác định để bảo vệ thị trường liên quan” Và TS.Chakravarthy trong bài viết về thị trường liên quan trong các phân tích về vụ việc cạnh tranh đã khẳng định: “Định nghĩa về thị trường liên quan là trung tâm của việc thực thi một cách có hiệu quả luật cạnh tranh Đối với cơ quan cạnh tranh, định nghĩa như vậy làm rõ được khoảng trống cần được xét xử trong các vụ việc cạnh tranh Đây thực sự là bước đầu tiên trong các phân tích hành vi của những người tham gia thị trường có liên quan” 13
Đặc điểm của thị trường liên quan:
Thị trường liên quan mang tính không gian: Thị trường liên quan có thể là một khu vực địa lý hẹp cũng có thể là một khu vực địa lý được mở rộng Sự bó hẹp hay mở rộng này tuỳ thuộc vào đối tượng điều tra trong một vụ việc cạnh tranh được điều tra Đó là khu vực mà các sản cạnh tranh nhau, liên quan đến nhau theo
sự chọn lựa của người tiêu dùng Nó có thể bị giới hạn trong một huyện, một tỉnh, cũng có thể là cả một quốc gia hay là toàn thế giới, điều này phụ thuộc vào phạm vi
13
Tiến sĩ S Chakravarthy(2005), Thị trường liên quan trong các phân tích vụ việc cạnh tranh, Bộ Thương
Mại- Cục quản lý cạnh tranh, HCN, 25-16/04/2005, tr.1
Trang 15mà ở đó các sản phẩm có thể thay thế cho nhau Chẳng hạn thị trường vàng là thị trường thế giới, trong khi đó thị trường xăng dầu là thị trường khu vực Thị trường liên quan hoàn toàn khác với thị trường trong quản lí kinh tế, khác với khu vực địa
lý trong quản lý nhà nước Nó được xác định dựa trên cơ sở xác định khu vực địa lý
mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau chứ không phải theo ngành nghề hay địa giới hành chính
Đối với mỗi vụ việc hạn chế cạnh tranh thị trường liên quan là khác nhau Không áp dụng thị trường liên quan trong cuộc điều tra này cho cuộc điều tra khác cho dù các vụ việc cạnh tranh có cùng đối tương bị điều tra Trong một vụ việc hạn chế cạnh tranh không phải tất cả các thị trường liên quan điều được xem xét, điều tra mà chỉ thị trường liên quan của của những hàng hoá, dịch vụ bị điều tra Thị trường liên quan chỉ tồn tại khi có vụ việc hạn chế cạnh tranh Chỉ khi điều tra về hành vi của một hoặc một nhóm doanh nghiệp về hành vi hạn chế cạnh tranh thì thị trường liên quan mới được xác định Chính vì vậy khi xác định thị trường liên quan cần xem xét đến ba yếu tố về đối tượng, không gian và thời gian Đối với mỗi vụ việc thì ba yếu tố này là khác nhau nên không thể xác đinh các yếu tố này chung cho tất cả thị trường liên quan
Thị trường liên quan mang tính giả định: Thị trường liên quan chỉ được xác định khi có hành vi hạn chế cạnh tranh Và để xác đinh được thị trường liên quan các số liệu đưa ra để diều tra, tính toán chỉ là mang tính giả định Khi chưa có
vụ việc hạn chế cạnh tranh thì thị trường liên quan của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó không được xác định
Nhận biết được những đặc điểm của thị trường liên quan, khi tiến hành điều tra về hành vi hạn chế cạnh tranh của một hoặc một nhóm doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn, nhanh chống hơn và tránh được những sai lầm có thể xảy ra
Các yếu tố khi xác định thị trường liên quan:
Thứ nhất, về đối tượng điều tra của thị trường liên quan: Khi một hoặc một
số doanh nghiệp có hành vi hạn chế cạnh tranh (hành vi được qui định trong Luật Cạnh tranh nam 2004) đều có đối tượng là hàng hoá, dịch vụ nhất định Trong đó, đối tượng của thị trường liên quan là hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Nhưng không phải mọi hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau đều là đối tượng của thị trường liên quan bị điều tra mà chỉ là những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau là mục đích chính của các hành vi hạn chế cạnh tranh đó Chẳng hạn, một doanh nghiệp kinh doanh nhiều hàng hóa, dịch vụ nhưng hành vi hạn chế cạnh
Trang 16tranh của doanh nghiệp đó chỉ liên quan đến một hàng hoá, dịch vụ Như vậy, xác định đối tượng của thị trường trong vụ việc cạnh tranh chỉ giới hạn ở những hàng hoá dịch vụ mà hành vi hạn chế cạnh tranh hướng đến Đó chính là những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Việc xác đinh khả năng thay thế cho nhau giữa các hàng hoa, dịch vụ dựa vào ba yếu tố: đặc tính của sản phẩm, mục đích sử dụng
và giá cả
Thứ hai, về yếu tố không gian: Đây là yếu tố thị trường địa lý liên quan Yếu tố này trong mỗi vụ việc cạnh tranh là khác nhau Các sản phẩm cạnh tranh nhau thì mới được xem là có chung thi trường liên quan Do đó, khi điều tra cần phải xác định khu vực địa lý mà ở đó các sản phẩm có thể thay thế cho nhau Xác định chính xác đươc yếu tố này sẽ xác định được vị trí của doanh nghiệp có hành vi hạn chế cạnh tranh và cấu trúc thị trường Đây không phải là khoảng không gian theo truyền thống ta vẫn hay xác định là theo ngành nghề hay khu vực địa lý cụ thể
Thứ ba, yếu tố thời gian: Nền kinh tế luôn có sự vận động, theo đó thị trường liên quan cũng có sự thay đổi theo thời gian Các doanh nghiệp không ngừng làm cho sảm phẩm của mình độc đáo hơn các sản phẩm khác, chính đối tượng thị trường cũng có sự biến đổi Cung- Cầu luôn có sư vận động Sự lựa chọn của khách hàng là biểu hiện của thái độ, tâm lý bên trong, nó không ổn định Vào thời điểm này họ có thể dùng sản phẩm này nhưng vào thời điểm khác, sự lựa chọn của họ đã
có sự thay đổi Vị trí của các doanh nghiệp trên thị trường cũng thay đổi Chẳng hạn, trước thời điểm thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh vị trí của doanh nghiệp khác so với thời điểm kết thúc hành vi Thị trường liên quan cũng có sự thay đổi theo thời gian Có những trường hợp hàng hoá, dịch vụ có những chức năng đặc biệt như: dịch vụ xe lửa ngày Tết, bánh mức vào ngày Tết, bánh Trung thu,… Do đó khi xác định thị trường liên quan ta phải xác đinh thị trường vào thời điểm xảy ra hành vi hạn chế cạnh tranh Trong bản án ngày 19 tháng 5 năm 1998 xử vụ France
Telecom-Transpec, Toà phúc thẩm nhắc lại rằng “Theo chỉ thị của Liên minh Châu
Âu số 97/C372/03, thị trường liên quan được xác định tại thời điểm xảy ra hành vi
bị xem xét, cạnh tranh tiềm ẩn không được tính đến bởi lẽ các điều kiện cạnh tranh tiềm ẩn có thể trở thành một sự ràng buộc phụ thuộc vào việc đánh giá một số yếu
tố và hoàn cảnh liên quan đến các điều kiện tham gia thị trường” 14 Chỉ khi xác định dúng thời điểm xảy ra hành vi mới có thể đánh giá đúng sức mạnh thị trường
14
Trích báo cáo hoạt động năm 2001 của Hội đồng cạnh tranh Pháp(2004), Thiên I-Thị trường liên
quan, tài liệu hội thảo, Hà Nội, tr.14
Trang 17
của doanh nghệp cũng như đánh giá chính xác được thiệt hại mà hành vi đã gây ra cho thị trường Đây còn là một vấn đề khó khăn bởi không phải lúc nào hành vi vi phạm cũng được phát hiện kịp thời và xử lý ngay Đôi khi lúc điều tra, cấu trúc thị
trường đã có sự thay đổi Lúc này việc xác định trở nên khó khăn
Trong cả ba yếu tố trên, xác định thị trường liên quan theo đối tượng của thị trường liên quan là khó khăn hơn cả Nó đòi hỏi phải có những phân tích về
“thuộc tính thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ Để có thể phân tích được những thuộc tính đó đòi hỏi có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn kỹ thuật với các phương pháp điều tra khoa học và khách quan
1.2 Xác định thị trường liên quan theo luật cạnh tranh năm 2004:
Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đưa ra khái niệm “thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan” Đây là hai bộ
phận cấu thành nên thị trường liên quan Hầu hết các nước trên thế giới điều xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan là hai bộ phận cấu thành nên thị trường liên quan Theo đó, để xác định thị trường liên quan trước hết phải xác định được những sản phẩm nào có khả năng thay thế cho nhau và những khu vực địa lý mà ở đó người tiêu dùng có thể chuyển sang sử dụng hàng hoá, dịch
vụ khi có sự tăng lên đáng kể về giá cả Luật cạnh tranh năm 2004 đã đưa ra ckhái niệm và cách xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan
Để xác định được thị trường liên quan ta phải xác định được phạm vi của hai thị trường này
1.2.1 Xác định thị trường sản phẩm liên quan:
1.2.1.1 Khái niệm về thị trường sản phẩm liên quan:
“Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ
có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả” 15 Luật Cạnh tranh đưa ra một khái niệm chung chung rằng thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau mà không qui định thế nào là “thuộc tính thay thế cho nhau” Theo đó, để xác định thuộc tính này, Luật đã qui định 3 yếu tố bắt buộc khi xác định là đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của các hàng hóa, dịch vụ Khi phân tích cả ba yếu tố này nếu cả ba điều có thể thay thế được cho nhau thì hàng hoá, dịch vụ đó có thể thay thế được cho nhau Trong thị trường đồng nhất, các sản phẩm là hoàn toàn giống nhau về đặc tính, mục đích sử
15
Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004
Trang 18dụng và giá cả Trong thị trường này các doanh nghiệp phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ phía đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên trong hiện đại sự giống nhau hoàn toàn giữa các sản phẩm là rất hiếm và dường như không tồn tại Lúc này, các sản phẩm chỉ còn liên quan nhau dưới sự nhìn nhận của chính người sử dụng Một sản phẩm được tạo ra nó có những đặc điểm riêng về cấu tạo lý hoá, đặc tính kĩ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng Chính những yếu tố này đã làm nên sự khác biệt giữa các sản phẩm Bởi chính các doanh nghiệp muốn tạo cho các sản phẩm của mình mang tính độc đáo riêng Việc xác định thị trường liên quan chỉ đặt ra đối với các sản phẩm không đồng nhất
Để xác định được “thuộc tính thay thế cho nhau” của các sản phẩm hầu hết các nước phân tích ba yếu tố về đặc tính của sản phẩm, mục đích sử dụng và giá cả Trong đó đặc tính của sản phẩm bao gồm cấu tạo lý hoá, đặc tính kĩ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng Mục đích sử dụng là khả năng mà sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người mua Khách hàng khi sử dụng một hàng hoá, dịch vụ nào đó họ luôn mong muốn chúng mang lại hiệu quả tốt nhất Chính vì vậy mà yếu tố giá cả cũng có vai trò rất lớn trong việc quyết định sự lựa chọn chủa người tiêu dùng Nếu
về cả ba yếu tố trên giữa các sản phẩm có thể thay thế cho nhau thì các sản phẩm đó được kết luận là có chung thị trường liên quan và ngược lại Luật Cạnh tranh năm
2004 qui định ba yếu trên là ba yếu tố bắt buộc khi xác định khả năng thay thế giữa các sản phẩm Việc qui định ba căn cứ này đảm bảo tính thực thi cho luật cạnh tranh
và theo kinh nghiệm các nước thì các căn cứ này đã được nhiều nước áp dụng
1.2.1.2 Các căn cứ xác định thị trường sản phẩm liên quan:
Xác định thị trường liên là việc xác định thị trường của những hàng hóa, dịch
vụ có thể thay thế cho nhau Luật Cạnh tranh không qui định thế nào là “thuộc tính thay thế cho nhau” giữa các hàng hoá, dịch vụ Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đưa ra ba yếu tố bắt buộc khi xác định khả năng thay thế cho nhau giữa các hàng hoá, dịch vụ là đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của hàng hóa, dịch vụ Chỉ khi nào cả ba thuộc tính này của các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau thì chúng mới có chung thị trường sản phẩm và ngược lại nếu một trong ba yếu tố không thể thay thế cho nhau thì chúng không có cùng thị trường sản phẩm liên quan Tuy nhiên, khi xem xét cả ba yếu tố trên nhưng chưa đủ để kết luận thì Cơ quan quản lý có thể xem xét thêm các yếu tố như tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một loại hàng hoá, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá của một loại hàng hoá, dịch vụ
Trang 19khác; Thời gian cung ứng một loại hàng hoá, dịch vụ ra thị trường khi có sự tăng đột biến về giá; Khả năng thay thế về cung;…16
Các cứ đó bao gồm:
Tính chất của hàng hoá, dịch vụ:
Tính chất của hàng hoá, dịch vụ bao gồm hai yếu tố là đặc tính của hàng hoá, dịch vụ và mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ đó Mỗi một sản phẩm đều có đặc tính riêng mà dựa vào đó người tiêu dùng có thể phân biệt với các sản phẩm khác Đặc tính đó bao gồm các đặc điểm về cấu tạo lý hoá (nguyên liệu để tạo ra sản phẩm), đặc tính kĩ thuật để sản xuất ra sản phẩm (cách thức tạo ra sản phẩm), tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ,…các sản phẩm được xem là
có khả năng thay thế cho nhau nếu về đặc tính chúng có những điểm nêu trên giống nhau Chẳng hạn, rượu và bia có thể thay thế cho nhau vì chúng có nhiều đặc tính giống nhau như đều đuợc lên men, chưng cất,có tác dụng phụ giống nhau là đều gây say Tất cả những đặc tính trên tạo nên sự riêng biệt cho các sản phẩm mà những sản phẩm khác không thay thế được cho nó Các Toà án của Pháp và Liên minh Châu Âu đã thừa nhận các đặc tính riêng biệt của sản phẩm là một trong các yếu tố
có thể cho phép xác định mức độ có thể thay thế cho nhau của một số sản phẩm nhất định, để từ đó xác định những sản phẩm có đủ khả năng thay thế cho nhau thì mới được coi là cùng một thị trường Ví dụ, trong bản ý kiến số 01-A-03 về vụ tập đoàn BASF mua các sản phẩm vitamin của công ty Takeda, Hội đồng cạnh tranh cho rằng các loại vitamin khác nhau không thể thay thế cho nhau; mỗi loại vitamin
có đặc tính, thành phần dinh dưỡng, công dụng trị bệnh, công thức hoá học, tác dụng trên cơ thể sống, đặc tính vật lý, sinh lý, chuyển hoá khác nhau 17
Tuy nhiên, nếu chỉ phân tích những đặc điểm trên thì chưa đủ để kết luận giữa các sản phẩm có thể thay thế được mà yếu tố về mục đích sử dụng mới là yếu tố quyết định Bởi cho dù hai sản phẩm có giống nhau về cấu tạo lý hoá, về kĩ thuật sản xuất, nhưng nếu không cùng phục vụ cho cùng một nhu cầu thì sự lựa chọn của khách hàng đối với hai sản phẩm đó vẫn là khác nhau Ngược lại, các sản phẩm cho dù khác nhau hoàn toàn nhưng nếu phục vụ cho cùng một nhu cầu của người tiêu dùng thì chúng vẫn có thể thay thế cho nhau Chẳng hạn như ô che và áo mưa là hai sản phẩm khác nhau nhưng vào mùa mưa chúng vẫn có thể thay thế cho nhau
Trang 20Mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ là yếu tố được xác định hoàn toàn vào sự lựa chọn của khách hàng Tuy nhiên, trong điều kiện hiện đại, sản phẩm rất đa dạng
và đáp ứng cho nhiều nhu cầu (khả năng tối đa hoá lợi ích) thì việc xác định mục đích sử dụng của các sản phẩm là một việc không dễ dàng Theo Khoản 3 Điều 4
NĐ 116/2005NĐ-CP nếu các sản phẩm có nhiều mục đích sử dụng thì mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hoá, dịch vụ đó Ví dụ: Áo len và áo sơmi điều có mục đích che thân nhưng mục đích chính của áo len là giữ ấm Đôi khi việc qui định chỉ dựa vào chính mục đích chính yếu nhất của sản phẩm lại không hoàn toàn chính xác Yếu tố sự lựa chọn của người tiêu dùng vẫn là quan trọng nhất Chẳng hạn, mục đích sử dụng chính của điện thoại di động là đàm thoại nhưng người tiêu dùng vẫn có thể sử dụng
nó đề thay thế cho một chiếc Radio, máy tính bỏ túi hay một cuốn sổ ghi chép,… Như vậy, giữa các sản phẩm có nhiều đặc tính giống nhau và cùng đáp ứng cho cùng một nhu cầu của người sử dụng thì chúng được xem là hai sản phẩm có thể thay thế cho nhau về đặc tính và mục đích sử dụng
Tuy nhiên, để đi đến kết luận là hai sản phẩm đó thay thế được cho nhau là chưa đủ mà còn phải căn cứ vào chính sự lựa chọn của người tiêu dùng Bởi không phải trong mọi trường hợp người sử dụng đều chuyển sang sử dụng một sản phẩm gần gũi, có thể là do thói quen,tập quán,…Do vậy nếu chỉ xác định dựa vào mục đích chính của sản phẩm chưa hoàn toàn cho kết quả chính xác trong mọi trường hợp, nên khi áp dụng không nên cứng nhắc theo qui định của pháp luật mà cần phải
có sự linh hoạt
Giữa các sản phẩm có khoảng cách giá cả quá xa cũng sẽ tạo nên những nhóm khách hàng riêng biệt nhau Phải xem xét thái độ của khách hàng rằng họ có sẵn sàng chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác thay thế cho sản phẩm họ đang sử dụng hay không khi mà sản phẩm đó có giá thành cáo hơn nhiều so với sản phẩm
mà họ đang sử dụng Do đó, ta cần phải xem xét đến yếu tố giá cả của hàng hoá, dịch vụ
Sự thay thế về giá cả: Giá cả được xem là thước đo giá trị và là thước đo
sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm khác thay thế cho sản phẩm họ đang
sử dụng Như ta thấy, sự khác biệt quá xa về giá cả sẽ phân nhóm khách hàng sử dụng và sẽ tạo ra những khu vực thị trường độc lập Lúc này, giữa các sản phẩm không có sự cạnh tranh nhau bởi chúng không thể thay thế cho nhau Chẳng hạn, rượu đế Gò Đen không thể thay thế cho rượu nho của Pháp vì giữa hai loại rượu này
có sự chênh lệch lớn về giá cả mặc dù giữa chúng có đặc tính vá mục đích sử dụng
Trang 21gần giống nhau Khách hàng khi sử dụng một hàng hoá, dịch vụ họ luôn mong muốn đạt được hiệu quả tốt nhất đồng thời chi phí bỏ ra là thấp nhất, phù hợp với thu nhập của họ Do đó, nếu các sản phẩm cho dù cùng đáp ứng nhu cầu của họ là như nhau, họ sẽ chọn hàng hoá, dịch vụ có giá rẽ nhất trong các hàng hoá, dịch vụ
đó Nhưng nếu sản phẩm mà họ đang sử dụng có sự tăng giá đáng kể và có sản phẩm khác thay thế họ sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm khác đó nếu chi phí họ phải bỏ ra để thay thế là thấp hơn sự tăng giá Khi này giữa các sản phẩm mà khách hang lựa chọn để thay thế nhau là các sản phẩm có cùng thị trường liên quan Để xác định các sản phẩm có thể thay thế cho nhau về giá cả, Luật Cạnh tranh năm
2004 xác định dựa vào chính phản ứng của người tiêu dùng đối với sự tăng giá sản phẩm mà họ đang sử dụng Điều 4 NĐ116/2005NĐ-CP qui định:
Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại một khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp
Như vậy, việc điều tra sẽ được tiến hành bằng cách các cơ quan điều tra sẽ
giả định giá của hàng hoá, dịch vụ tăng lên không quá 10% Sau đó, sẽ tiến hành khảo sát thái độ của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng sẵn sang chuyển sang sử dụng một hàng hoá, dịch khác chứng tỏ giá cả giữa hàng hoá, dịch vụ đó có thể thay thế được cho nhau Tuy nhiên, việc điều tra này mang lại kết quả không phải lúc nào cũng chính xác Sự lựa chọn của khách hàng là biể hiện của thái độ tâm lý, không phải khách hàng nào cũng có thái độ chuyển sang sử dụng sản phẩm khác cho dù cùng đáp ứng nhu cầu của họ và có đặc tính giống nhau Bởi sự lựa chọn đó còn có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thói quen tiêu dùng, khả năng nhận thức, sở thích, tập quán,…
Như vậy, các sẩn phẩm được xem là có thể thay thế cho nhau khi cả ba yếu tố đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả có thể thay thế cho nhau Bởi nếu một trong ba yếu tố không thể thay thế được cho nhau thì ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn của khách hàng Trong ba yếu tố trên thì yếu tố giá cả và mục đích sử dụng phụ thuộc rất lớn vào phản ứng của khách hàng, nó dựa trên chính thái độ của người tiêu dùng Việc xác định thuộc tính thay thế cho nhau giưa các sản phẩm là điều hết sức khó khăn đặc biệt là trong điều kiện các sản phẩm trên thị trường ngày càng phong phú
Trang 22và đa dạng Trường hợp phân tích cả ba yếu tố về đặc tính sử dụng, mục đích sử dụng và giá cả chưa đủ để kết luận thuộc tính thay thế cho nhau của các hang hoá, dịch vụ thì có thể xem xét thêm các yếu tố tại Điều 4 NĐ116/2005/NĐ-CP:
a Tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một hàng hoá, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá của một hàng hoá, dịch vụ khác
b Thời gian cung ứng hàng hoá, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng đột biến về cầu
c Thời gian sử dụng của hàng hoá, dịch vụ
d Khả năng thay thế về cung
Và trong trường hợp cần thiết, cơ quan cạnh tranh có thể xem xét thêm nhóm người tiêu dùng sinh sống tại một khu vực địa lý liên quan Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ xem đây là các yếu tố bổ trợ khi xem xét các yếu tố trên không
đủ để kết luận Đây là một vấn đề cần phải xem xét thêm
1.2.1.3 Các phương pháp xác định thị trường sản phẩm liên quan:
Phương pháp khảo sát, thăm dò ý kiến của người tiêu dùng:
Thái độ, tâm lý của người tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định thuộc tính “thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ Người tiêu dùng luôn ý thức về những nhu cầu của mình và biểu hiện bằng sự lựa chọn Họ luôn hướng đến những sản phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu của họ và chi phí phải bỏ ra thấp nhất Do đó, họ sẵn sàng chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác thay thế cho sản phẩm mà họ đang sử dụng nếu sản phẩm họ đang sử dụng có sự tăng giá đáng kể
Theo Điểm C Khoản 5 Điều 4 NĐ116/2005/NĐ-CP để xác định các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về giá cả hay không, các cơ quan điều tra sẽ tiến hành khảo sát ngẫu nhiên trên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại một khu vực nếu hơn 50% người sẵn sàng chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác hoặc có ý định chuyển sang mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng nếu giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên 10% so với giá ban đầu và được duy trì trong 6 tháng liên tiếp Trường hợp số người sinh sống tại một khu vực địa lý liên quan không đủ 1000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng đó Như vậy, phương pháp này được xác định dựa theo chính sự lựa chọn của người tiêu dùng Luật cạnh tranh đã lựa chọn số người để tiến hành khảo sát là
1000 người và mức độ tăng giá là 10%
Trang 23Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến để điều tra khảo sát các vấn
đề liên quan đến xã hội Người tiêu dùng có vai tró rất lớn trong việc đánh giá mức
độ cạnh tranh giữa các sản phẩm thông qua việc đánh giá mức độ thay thế cho nhau giữa các sản phẩm Đây là phương pháp đánh giá đúng vai trò của người tiêu dùng Phương pháp này có ưu điểm là mang tính khách quan cao, không bị ảnh hưởng bởi
ý chí chủ quan của các cơ quan điều tra Phương pháp này được nhìn nhận dưới góc
độ của người tiêu dùng Trong ba yếu tố xác định khả năng thay thế cho nhau của hàng hoá,dịch vụ, khả năng thay thế về mục đích và giá cả chịu ảnh hưởng rất lớn từ phía người tiêu dùng Do đó, việc xác định phải dựa vào chính quan điểm của họ Tuy nhiên, phương pháp này cũng mang nhiều nhược điểm Thứ nhất, do đây
là phương pháp thăm dò, lấy ý kiến của người tiêu dùng đòi hỏi phải tốn nhiều công sức và thời gian (phải khảo sát 1000 người, lập bản câu hỏi, tiến hành lấy ý kiến,…) Thứ hai, kết quả thu được là ý kiến của người tiêu dùng nên nhiều khi mang lại hiệu quả không cao bởi sự phản ứng của người tiêu dùng còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác như: sở thích, thói quen, thị hiếu, tập quán, khả năng nhận thức, tin đồn thất thiệt…Đôi khi phản ứng của người tiêu dùng không phải do
sự tăng giá mà có thể là do những yếu tố khác chi phối Chẳng hạn, khách hàng chuyển sang sử dụng nước tương của các doanh nghiệp khác khi có tin đồn dùng nước tương Chinsu sẽ bị ung thư Đây chỉ là một cuộc khảo, thăm dò để lấy ý kiến
và các số liệu đưa ra chỉ mang tính giả định nên trách nhiệm đối với câu trả lời của người được khảo sát là không cao Mặc dù là ý kiến của người tiêu dùng nhưng cần phải cân nhắc thêm bởi chỉ là phản ứng của người tiêu dùng, không có sự tham gia phân tích của những người có chuyên môn Thứ ba, kết quả thu được còn phụ thuộc rất lớn vào cả một quá trình tiến hành điều tra từ việc xác định đối tượng cho đến việc đặt câu hỏi,…Bởi khảo sát chỉ tiến hành đối với 1000 người tiêu dùng, đôi khi chưa đến 1000 nên phải chọn số khách hàng có khả năng đại diện được cho đại đa
số người tiêu dùng Câu hỏi khảo sát cần khách quan, khoa học, bao quát hết được nội dung cần điều tra, bao hàm được vấn đề
Luật Cạnh tranh xác định mức độ tăng giá đối với sản phẩm là 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp Việc xác định này đòi hỏi phải rất thận trọng Bởi nếu mức độ tăng giá nhẹ chưa đủ để người tiêu dùng phản ứng lại sự tăng giá đó, khi đó ta sẽ không xác định được phản ứng của người tiêu dùng Còn nếu mức tăng giá quá cao, các doanh nghiệp sẽ không thể thu được lợi nhuận bởi lúc này chính sự tăng giá của họ làm triệt tiêu sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm của họ
Phương pháp điều tra về chất của thị trường:
Trang 24Đây là phương pháp được tiến hành điều tra dựa trên những phân tích thị trường dưới góc độ kĩ thuật kinh tế các thông số đã thu thập được để kết luận về tính chất của sản phẩm, cấu trúc của thị trường 18 Điểm a, b khoản 5 Điều 4 NĐ116 /2005/ NĐ- CP qui định:
a Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hoá, dịch vụ có nhiều tính chất về vật lý, hoá học, tính năng kĩ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau
b Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng nếu hàng hoá, dịch vụ đó có mục đích sử dụng giống nhau
Để thực hiện được phương pháp này đòi hỏi các cơ quan cạnh tranh phải thu thập được các số liệu, đánh giá cấu trúc của thị trường, phải có chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ thuật Đôi khi các số liệu có được phải chính từ doanh nghiệp đang bị điều tra và đó là một điều khó khăn Không phải như phương pháp kháo sát, lấy ý kiến từ người tiêu dùng, phương pháp này là việc phân tích và đánh giá các số liệu Do đó,
số liệu và kinh nghiệm của người đánh giá đóng vai trò rất quan trọng để có kết quả tốt nhất Tuy nhiên, phương pháp này lại mang tính chủ quan từ phía cơ quan điều tra mà không đươc nhìn nhận dưới góc độ của người tiêu dùng Do vậy, phương pháp này đôi khi trở nên cứng nhắc Đôi khi kết quả mà các cơ quan điều tra đưa ra lại trái ngược với chính phản ứng của người tiêu dùng Chẳng hạn, khi phân tích về khả năng thay thế cho nhau giữa các sản phẩm có đặc tính, mục đích sử dụng là có thể thay thế cho nhau nhưng dưới sự nhìn nhận của người tiêu dùng chúng lại không được sử dụng để thay thế cho nhau Quá trình phân tích, thu thập số liệu cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặt biệt là trong điều kiện các sản phẩm có nhiều đặc tính và phục vụ cho nhiều nhu cầu
Phương pháp này có ưu điểm hơn các phương pháp khác vì nó mang tính rõ ràng và ít bị chi phối bởi thái độ, tâm lý của người tiêu dung nhưng nó lại mang tính chất rạp khuôn và cứng nhắc vì phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của cơ quan điều tra Mục đích cuối cùng của việc đi tìm khả năng thay thế cho nhau giữa các hàng hoá, dịch vụ là tìm ra thị trường liên quan từ đó xác định năng lực của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan Nếu chỉ dừng lại ở việc điều tra, phân tích về chất chưa hẳn đã mang lại kết quả cuối cùng cần đạt được Tuy nhiên, nếu
18
PGS,TS Nguyễn Như Phát, Th.S Nguyễn Ngọc Sơn(2006), Phân tích và luận giải các qui định của
Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, tr.35.
Trang 25phương pháp này được tiến hành đúng đắn và kết hợp với các phương pháp khác sẽ thu được kết quả chính xác
Phương pháp xác định độ co dãn chéo của cầu:
Đây là phương pháp được xây dựng trên cơ sở lý thuyết độ co dãn chéo của cung cầu của nhà kinh tế học người Anh Alferd Marshall (1842-1924) Theo ông, tính co dãn cuả mức cầu tăng nhiều hay ít tùy theo số được yêu cầu nhiều hay ít đối với sự giảm giá và giảm nhiều hay ít đối với sự tăng giá Marshall cho rằng khi giá của một hàng hoá, dịch vụ giảm thì kéo theo cầu của hàng hoá, dịch vụ đó tăng và ngược lại Từ nguyên lý đó, việc xác định các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau được tính toán và xác định Nếu một hàng hoá, dịch vụ có sự tăng giá, kéo theo lượng cầu của hàng hoá, dịch vụ đó giảm và cầu đối với một loại hàng hoá, dịch vụ khác tăng lên thì kết luận rằng hai loại hàng hoá, dịch vụ này có thể thay thế cho nhau Trong một thị trường liên quan không có loại hàng hoá, dịch vụ nào thay thế thế cho nhau thì không có sự co dãn của cầu theo giá Theo đó, công thức tính toán là:
%
%
Y
X XY
P
Q E
: tỉ lệ phần trăm thay đổi về giá của sản phẩm Y
Nếu EXY tính được là một số dương thì hai sản phẩm có thể thay thế cho nhau Nếu EXY bằng không (EXY= 0) thì hai sản phẩm không thay thế được cho nhau Còn nếu EXY là một số âm thì hai sản phẩm này là hai sản phẩm bổ trợ nhau Một khi sản phẩm người tiêu dùng đang sử dụng có sự tăng giá đáng kể và được duy trì trong một thời gian đủ dài, người tiêu dùng sẽ phản ứng lai việc tăng giá đó bằng cách chuyển sang sử dụng sản phẩm khác có khả năng đáp ứng nhu cầu
19
Trường Đại học kinh tế TP HCM(2007), Maketting căn bản- Khoa Thương mại Du lịch, NXB Lao
Động, Hà Nội
Trang 26của họ với chi phí bỏ ra thấp hơn sự tăng giá Lúc này, cầu đối với hàng hoá, dịch
vụ đó giảm và cầu của hàng hoá dịch vụ khác tăng lên Chính hành vi chuyển sang
sử dụng hàng hoá, dịch vụ khác của khách hàng đã khẳng định giữa các loại hàng hoá, dịch vụ đó có khả năng thay thế cho nhau Phương pháp này được áp dụng để xác định sự thay thế cho nhau của các hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, Marshall khuyến cáo rằng, những người sử dụng phương pháp này phải cân nhắc, xem xét đến các yếu tố khác Bởi phương pháp này có những khuyết điểm Thứ nhất, những
số liệu đưa ra để tính toán chỉ mang tính giả định của cơ quan chức năng cho nên các số liệu đôi khi phản ánh chính xác, đôi khi không Thứ hai, phản ứng của người tiêu dùng đôi khi mang tính nhất thời Thứ ba, thực tế sinh động cho thấy sự tăng nhu cầu đối với một hàng hoá, dịch vụ đồng thời với sự tăng giá của hàng hoá, dịch
vụ khác có thể là sự thay đổi thói quen nhu cầu, sở thích hay do những tin đồn thất thiệt,…20
Điểm a, Khoản 6 Điều 4 NĐ116/2005/NĐ- CP xem đây là phương pháp bổ trợ khi các phương pháp qui định tại Khoản 5 Điều 4 NĐ116/2005/NĐ- CP đã áp dụng nhưng chưa đủ để kết luận thuộc tính thay thế cho nhau giữa các hàng hoá, dịch vụ
Hiện nay hầu hết các nước đang khảo sát và xem xét đưa vào áp dụng phương pháp SSNIP So với các phương pháp khác thì phương pháp này có nhiêù
ưu thế hơn Các phương pháp khác, mặc dù mang lại nhiều kết quả nhưng vẫn còn rất nhiều khuyết điểm Đặc biệt là trong điều kiện hiện đại, các hàng hoá, dịch vụ ngày càng mang tính kĩ thuật cao, đáp ứng nhiều nhu cầu của khách hàng Do vậy, việc xác định thuộc tính thay thế cho nhau của các hàng hoá, dịch vụ càng trở nên khó khăn Trong khi đó, phương pháp khảo sát, xác định độ co dãn chéo của cầu chỉ dựa theo những số liệu giả định, phụ thuộc nhiều vào thái độ của người tiêu dùng Việc phân tích về chất lại mang tính chủ quan của cơ quan điều tra, không dựa trên chính sự biến động của thị trường, thái độ của người tiêu dùng Phương pháp SNIIP
đã được Hoa Kì áp dụng từ những năm đầu Thập niên 80 của Thế kỉ XX Trong cuốn sách Merge Guiderlines của Bộ Tư Pháp Hoa Kì xuất bản đã đưa ra định nghĩa như sau:
Một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm, và khu vực địa lý nơi sản phẩm đó được bán ra, nếu giá sản phẩm không bị điều tiết mà doanh
20
PGS,TS Nguyễn Như Phát, Th.S Nguyễn Ngọc Sơn(2006), tlđd, tr.37.
Trang 27nghiệp là nhà cung cấp duy nhất sản phẩm đó trên địa bàn nói trên có thể tăng giá nhẹ, nhưng đáng kể và không có tính chất nhất thời mà vẫn đảm bảo tăng lợi nhuận
Theo phương pháp này, người ta giả định một thị trường nhỏ nhất có thể và cho là doanh nghiệp đang bị xem xét có vị trí độc quyển Nếu phản ứng của người tiêu dùng trước sự tăng giá đó là người tiêu dùng chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác có khả năng thay thế cho sản phẩm họ đang sử dụng Người ta sẽ kết luận rằng hai sản phẩm này có khả năng thay thế cho nhau Lúc này, các doanh nghiệp tăng giá sẽ không thu đươc lợi nhuận bằng việc tăng giá đó Người ta lại xem xét tiếp thị trường của những sản phẩm thay thế vừa được xác định tương tự như cách trên Đến một lúc nào đó phản ứng của người tiêu dùng trước sự tăng giá
đó là họ buộc phải chấp nhận Khi này không có sản phẩm khác có khả năng thay thế cho sản phẩm đó trên vùng thị trường mình đang xem xét Như vậy, doanh nghiệp này có khả năng thu được lợi nhuận từ việc tăng giá đó Khi đó, ta kết luận trên thị trường đó doanh nghiêp này đang giữ vị trí độc quyền Thị trường lúc này sẽ được xác định bằng giới hạn sản phẩm, số lượng doanh nghiệp và địa bàn có liên quan
Phương pháp này là phương pháp đánh giá khả năng chuyển đổi của cầu trong mối quan hệ vể giá của sản phẩm Bởi nếu gía của sản phẩm tăng, người tiêu dùng chuyển sang sử dụng sản phẩm khác thay thế thì cầu của sản phẩm tăng giá giảm, cầu của sản phẩm thay thế tăng Còn nếu sự tăng gía đáng kể và trong một thời gian đủ dài mà người tiêu dùng không chuyển sang sử dụng sản phẩm khác thay thế thì doanh nghiệp đó là doanh nghiệp duy nhất cung cấp sản phẩm đó Do vậy, phương pháp này chỉ được sử dụng khi quan hệ cung cầu chịu sự điều chỉnh của quan hệ giá cả Một ưu điểm của phương pháp này không chỉ dừng lại ở việc xác định thị trường liên quan mà đã nêu lên được bản chất của hành vi hạn chế cạnh tranh, thể hiện được mục đích cuối cùng là xác định được vị trí của doanh nghiệp Khi sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có sự cân nhắc kĩ Bởi: thứ nhất, cần phải có sự xác định phạm vi nghiên cứu thận trọng Nếu chọn một phạm vi quá hẹp, số lượng người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các sản phẩm ngoài phạm vi và
có thể thay thế cho sản phẩm nằm trong phạm vi lựa chọn Lúc này sẽ làm cho doanh nghiệp trong giả thuyết không thu được lợi nhuận, do đó việc nghiên cứu phải bắt đầu lại bằng việc chọn phạm vi nghiên cứu rộng hơn Việc xác định này được tiến hành cho đến khi nào đạt được kết quả, cho nên nếu việc xác định phạm
vi không chuẩn xác thì công việc phải lập đi lập lại rất nhiều, tốn nhiều thời gian và
Trang 28công sức Thứ hai, việc lựa chọn mức độ tăng giá phải phù hợp Trong cuốn sách
“Mergers Guidelines” xuất bản năm 1984, xác định mức độ tăng giá áp dụng là5%
và được kéo dài trong một năm Nhưng trong quá trình tiến hành điều tra, mức độ tăng giá thường được áp dụng là từ 5%-10% và vẫn được áp dụng trong thời gian một năm Tuy nhiên, việc áp dụng mức độ tăng giá là bao nhiêu và thời gian áp dụng là bao lâu do các nước áp dụng tuỳ theo tình hình thực tế của nước mình Chẳng hạn, luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu qui định là 5%-10%, không qui định thời hạn; Brazil là 5%-15%, thời gian không quá 1năm; New Zealand 5%, thời hạn một năm,…
Tuy nhiên, phương pháp này cũng không phải là một phương pháp hoàn hảo tuyệt đối Mặc dù phương pháp này có nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn nhiều nhược điểm, vì vậy cần phải thận trọng khi áp dụng Về ưu điểm, phương pháp này cho phép ta đánh giá trực tiếp sức mạnh của doanh nghiệp liên quan Cho phép ta tìm được câu trả lời khách quan cho một vấn đề khó giải quyết bằng phương pháp đánh giá về chất Do đó, giải thích được vì sao có một phần của cầu mà hai sản phẩm hoàn toàn không thay thế cho nhau được cho dù vì không phải hai sản phẩm đó không thuộc cùng một thị trường Bởi lẽ, đối với phần còn lại kia của cầu, khả năng thay thế cho nhau giữa hai sản phẩm vẫn tương đối cao, do đó một doanh nghiệp độc quyền không thể thu lợi nhuận một cách tối đa được bằng cách tăng giá từ 5%-10% Nhược điểm, ta chỉ có thể thực hiện phương pháp này khi quan hệ giữa cung cầu là quan hệ giá cả Đòi hỏi phải có dữ liệu vì cần phải có sự đánh giá tổng hợp về cung, cầu Phải đánh giá được khả năng cung và chi phí của doanh nghiệp nên đây
là một khó khăn khi số liệu cần đôi khi số liệu cần từ doanh nghiệp bị điều tra Phương pháp SSINP áp dụng mức giá xem xét cao hơn mức giá cạnh tranh đôi khi
sẽ dẫn đến việc mở rộng thị trường một cách giả tạo và đánh giá thấp sức mạnh thị trường thật sự của doanh nghiệp
Đây là một phương pháp tiến bộ và hiện đang được nhiều nước xem xét và đưa vào áp dụng Tuy nhiên không nên tuỳ tiện mà cần phải có sự cân nhắc kĩ trước khi đưa vào áp dụng Việt Nam chưa có một qui định nào về việc áp dụng phương pháp này Nhưng Việt Nam cũng nên xem xét và áp dụng xem như là một phương pháp bổ trợ để xác định thuộc tính thay thế cho nhau của các sản phẩm
Do sự đa dạng của thị trường hàng hoá, dịch vụ nên việc xác định các hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau phải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau Thực tế cho thấy chưa có phương pháp nào hoàn toàn mang lại kết quả chính xác nhất, luôn tồn tại những khuyết điểm Do đó, khi xem xét xác định có thể sử
Trang 29dụng nhiều phương pháp khác nhau và đối chiếu các kết quả có được Phải xác định hàng loạt các tiêu chí thống nhất chứ không chỉ căn cứ vào một tiêu chí nhất định nào cả Vì vậy, khi tiến hành điều tra cần cân nhắc kĩ và lựa chọn phương pháp phù hợp với từng vụ việc
1.2.2 Xác định thị trường địa lý liên quan:
1.2.2.1 Khái niệm và cách xác định thị trường địa lý liên quan:
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu Thị trường liên quan là thị trường
mà nơi đó các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Thị trường địa lý liên quan là một bộ phận cấu thành nên thị trường liên quan, đó là một khu vục địa lý cụ thể mà ở đó doanh nghiệp bị điều tra thực hiện các hoạt động kinh doanh hay là một khu vực địa lý mà doanh nghiệp bị điều tra chi phối về cạnh tranh Thị trường địa lý liên quan không đồng nghĩa với khu vực địa giới hành chính quốc gia trong quản lý nhà nước mà là khu vực không gian mà ở đó khách hàng sẵn sàng tiêu thụ sản phẩm
để thay thế cho sản phẩm khác Theo đó, “Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”
Hàng hoá, dịch vụ được xem là có cùng thị trường địa lý liên quan khi hàng hoá, dịch vụ giữa các khu vực đó có thể thay thế cho nhau Cần phải xác định được các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, và khả năng người sử dụng chuyển sang sử dụng sản phẩm ở một khu vục khác thay thế cho sản phẩm họ đang sử dụng Nếu người tiêu dùng chuyển sang mua sản phẩm tương tự ở một địa điểm khác khi sản phẩm họ đang sử dụng có sự tăng gia đáng kể trong thời gian đủ dài thì hai địa điểm
đó có cùng thị trường liên quan và ngược lại Việc xác định khu vực địa lý liên quan
là việc đánh giá thái độ, tâm lí của người sử dụng với việc phản ứng trước sự tăng giá đối với sản phẩm mà họ đang sử dụng Do đó, khi xác định các cơ quan điều tra phải dựa vào chính thái độ của người tiêu dùng
Điều 7 NĐ116/2005/NĐ- CP qui định ranh giới khu vực địa lý liên quan bao gồm:
a Khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan
b Cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý lân cận
đủ gần với khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó
Trang 30Để tiến hành điều tra, các cơ quan cạnh tranh sẽ xác định khu vực địa lý có cơ
sở kinh doanh của doanh nghiệp có sản phẩm bị điều tra và những khu vực khác có
cơ sở kinh doanh của các doanh nghiệp khác có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý của doanh nghiệp bị điều tra Suy cho cùng việc xác định này cũng là xác định các sản phẩm liên quan nhau và khu vực địa lý tồn tại những sản phẩm có thể thay thế nhau đó với những điều kiện cạnh tranh tương tự và
có sự khác biệt với các khu vực địa lý lân cận Trong đó, những rào cản có thể là rào cản về kỹ thuật, tài chính, thuế, tập quán hay các chuẩn mực về nghề nghiệp,…(Điều 8 NĐ116/2005/NĐ- CP); các doanh nghiệp có điều kiện cạnh tranh tương tự khi thoả mãn một trong các tiêu chí: chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hoá tăng không quá 10%; có sự hiện diện của một trong các rào cản gia nhập thị trường
Luật qui định chi phí vận chuyển của hàng hoá giữa các khu vực làm cho giá bán lẽ của hàng hoá tăng không quá 10% xuất phát từ chính thái độ của người tiêu dùng Bởi họ có sẵn sàng chuyển sang sử dụng một hàng hoá, dịch vụ ở một khu vục khác khi chi phí mà họ phái bỏ ra để chuyển sang sử dụng cao hơn so với sự tăng giá của sản phẩm họ đang sử dụng hay không Khi đó người tiêu dùng có sự cân nhắc, tính toán sao cho có lợi hơn Chẳng hạn, giá gạo của một địa lý gạo gần nhà tăng giá, khách hàng có chuyển sang mua gạo ở một địa điểm khác hay không thì họ phải cân nhắc đến những chi phí mà họ phải bỏ ra có làm cho giá gạo tăng cao hơn mức tăng giá hay không, nếu chi phí bỏ ra cao hơn so với mức tăng giá, họ
sẽ chấp nhận mua gạo ở địa điểm cũ mà mà không chuyển qua mua ở địa điểm mới
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định thị trừơng địa lý liên quan:
Tập quán, thói quen của người tiêu dùng: Thị trường liên quan được xác định là khu vực mà ở đó các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Do đó, việc xác định thị trường liên quan chịu ảnh hưởng rất lớn từ chính thái độ, phản ứng của người tiêu dùng trước khả năng thay thế cho nhau của các hàng hoá, dịch vụ Thái độ tâm lý đó của người sử dụng là sự biểu hiện những nhu cầu bên trong của
họ nên nó vô cùng phức tạp Nhu cầu được biểu hiện ra bên ngoài thông qua hành vi mua Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra tổng quát quá trình điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá cho hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ Cũng có thể coi hành vi của người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, công sức,…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng
Trang 31hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Do vậy, nếu hai sản phẩm giống
nhau về đặc tính, mục đích sử dụng nhưng nếu khách hàng không sử dụng chúng để thay thế cho nhau thì chúng cũng không thể thay thế được cho nhau
Chính sở thích, thói quen và tập quán tiêu dùng tạo nên những khoảng cách cho các hàng hóa, dịch vụ, làm cho chúng không còn cạnh tranh với nhau Chẳng hạn, người Đức thích giải khát bằng bia, trong khi đó người Châu Á lại có thói quen uống trà Như vậy, trà và bia ở hai khu vực này không thể thay thế cho nhau Ví dụ, dầu thực vật và mỡ động vật có thể thay thế cho nhau, nhưng đối với người xuất gia thì chúng không thể thay thế được cho nhau Có một số thái độ tâm lý có sự thay đổi theo thời gian nhưng cũng có một số thái độ tâm lý không thay đổi, đó hoàn toàn do cách nhìn nhận của mỗi người Đôi khi ở khu vực địa lý này các sản phẩm được xem là có thể thay thế cho nhau nhưng ở khu vực khác thì chúng lại không thể thay thế cho nhau được Chẳng hạn, trong bản ý kiến số 99-A-09 thì gạch được ưu tiên để xây nhà chung cư ở Alsace nên vật liệu này không được coi là có thể thay thế cho đá trộn bê tông của vùng này, trong khi đó ở các vùng khác của Pháp, hai sản phẩm này lại có thể thay thế cho nhau Như vậy, chính thói quen tiêu dùng, tập quán tiêu dùng đã trở thành những rào cản để các sản phẩm tiếp cận nhau, có thể thay thế cho nhau
Khoảng cách địa lý: Trước đây, khoảng cách địa lý là yếu tố ngăn cản sự giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực Nhưng trong điều kiện khoa học kĩ thuật, giao thông phát triển đã kéo gần nền kinh tế các nước lại với nhau Các hàng hoá có thể luân chuyển hầu hết các nước Thị trường tiêu thụ các hàng hoá, dịch vụ cũng đựơc mở rộng Thị trường liên quan của các hàng hoá, dịch vụ là nơi mà các hàng hoá, dịch vụ đó cạnh tranh nhau Yếu tố khoảng cách địa lý đã ngăn cách sự gặp gỡ cạnh tranh giữa các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Theo đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 qui định hai khu vực có hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau nếu chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển không làm cho giá hàng hoá tăng quá 10% Khoảng cách địa lý quá xa nhau, các yếu tố về giao thông, giá trị hàng hoá,…ảnh hưởng đến việc cạnh tranh giữa các hàng hoá Chẳng hạn, thị trường nhà ở ở Chicago, ở Chicago họ tìm nhà ở trong khu vực với phạm vi đi lại cho phép Họ không tìm nhà ở cách xa đến 200 hoặc 300 dặm, ngay cả những ngôi nhà có giá rẽ hơn nhiều Ngược lại, những ngôi nhà cách 200 đến 300 dặm thì không thể chuyển đến Chicago được Thị trường bán lẽ xăng dầu ít bị chi phối về mặt địa lý nhưng vẫn là thị trường khu vực vì chuyên chở xăng đi xa đòi hỏi chi phí
Do đó, thị trường xăng ở miển Nam California khác với thị trường xăng ở miền Bắc
Trang 32Illinois Vàng thì ngược lại, chi phí vận chuyển của vàng nhỏ hơn rất nhiều so với giá trị của nó nên nếu giá vàng ở một nơi nào đó thấp hơn, người ta sẽ mua và bán lại ở nơi giá vàng cao Thị trường của vàng là thị trường toàn thế giới21 Theo báo cáo của Hội đồng cạnh tranh Pháp năm 2001 thì khoảng cách người tiêu dùng phải vượt qua cũng là ràng buộc về mặt vật chất liên quan đến chất lượng của hệ thống đường xá, mức độ thường xuyên của việc vận chuyển hàng hoá, khả năng thu hút của cửa hàng,…22
Rào cản pháp lý: Một số thị trường bị ràng buộc về mặt pháp luật như thuế, hạn ngạch xuất-nhập khẩu, tiêu chuẩn chất lượng,…Hàng hoá lưu thông trên thị trường chịu sự điều chỉnh của pháp luật có liên quan Chính các rào cản này
ngăn cách sự gặp gỡ giữa các sản phẩm có thể thay thế cho nhau “Các qui định pháp luật đặc thù về việc sản xuất, sử dụng sản phẩm hoặc cung cấp, sử dụng dịch
vụ và các chuẩn mực nghề nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến xử xự của người sử dụng, dưới góc độ là nó có thể ảnh hưởng đến giá cả, chất lượng của sản phẩm hoặc cảm nhận của người sử dụng về sản phẩm đó” 23 Chẳng hạn, nhà nước hạn chế nhập khẩu thuốc lá thông qua việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, dịch cúm H5N1, dịch heo tai xanh Nhà Nước có quyết định việc lưu thông các loại hàng hóa này phải được qua kiểm dịch nghiêm ngặt
Thói quen, sở thích, tập quán tiêu dùng, những rào cản về khoảng cách địa lý, pháp lý có sự tác động rất lớn đến thị trường địa lý liên quan Do đó, khi xác định cần phải cân nhắc đến các yếu tố trên Chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc các sản phẩm khi xem xét có liên quan nhau, có cùng thị trường sản phẩm liên quan nhưng không có cùng thị trường liên quan
1.2.3 Xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan:
Như đã trình bày ở trên, Luật Cạnh tranh năm 2004 xem đây như là một nguồn bổ trợ để xem xét thuộc tính thay thế cho nhau giữa các hàng hoá, dịch vụ
Theo Điều 6 NĐ 116/2005/ NĐ-CP “khả năng thay thế về cung là khả năng của một doanh nghiệp đang sản xuất, phân phối một hàng hoá, dịch vụ chuyển sang sản xuất, phân phối một hàng hoá, dịch vụ khác trong một khoảng thời gian ngắn và không có sự tăng lên đáng kể về chi phí trong bối cảnh có sự tăng lên về giá của hàng hoá, dịch vụ khác đó”