1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện

62 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 685,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Những nội dung pháp lý cơ bản về khấu trừ thuế GTGT 1.2.1 Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế 1.2.1.1 Công thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

ĐÀO HỒNG DIỄM

PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP KHẤU TRỪ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG - THỰC TRẠNG ÁP

DỤNG VÀ HƯỚNG HÒAN THIỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM – 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT- thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 29/7/2009

Tác giả

Đào Hồng Diễm

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GTGT Giá trị gia tăng

HHDV Hàng hóa, dịch vụ

Luật thuế GTGT năm 2003 Luật số 07/2003/QH 11 ngày 17/6/2003 về sửa đổi

bổ sung một số điều luật thuế GTGT

Luật thuế GTGT năm 2008 Luật số 13/2008/QH 12 ngày 03/06/2008 Luật này

có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009 Luật này thay thế luật thuế GTGT năm 1997, luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế GTGT số 07/2003/QH 11

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục những từ viết tắt

Lời nói đầu 1

Chương 1: Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế trong thuế GTGT 4

1.1 Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT 4

1.1.2 Đối tượng chịu thuế GTGT và người nộp thuế GTGT 7

1.1.2.1 Đối tượng chịu thuế GTGT 7

1.1.2.2 Người nộp thuế GTGT 8

1.1.3 Căn cứ và phương pháp tính thuế GTGT 9

1.1.3.1 Căn cứ tính thuế GTGT 9

1.1.3.2 Phương pháp tính thuế GTGT 12

1.2 Những nội dung pháp lý cơ bản về khấu trừ thuế trong thuế GTGT 14

1.2.1 Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế 14

1.2.1.1 Công thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế 14

1.2.1.2 Khấu trừ thuế GTGT đầu vào 15

1.2.1.3 Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào 19

1.2.2 Đối tượng áp dụng và chế độ hóa đơn, chứng từ áp dụng cho đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế 22

1.2.3 Các trường hợp được hoàn thuế GTGT 25

Chương 2: Thực trạng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT - những vướng mắc và hướng hoàn thiện 29

2.1 Thực trạng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT 29

2.2 Những vướng mắc về phương pháp khấu trừ thuế GTGT và hướng hoàn thiện 34

2.2.1 Những vướng mắc về hóa đơn, chứng từ thuế GTGT và hướng hoàn thiện 34

2.2.2 Những vướng mắc về khấu trừ thuế GTGT và hướng hoàn thiện 42

2.2.3 Hướng hoàn thiện phương pháp khấu trừ thuế GTGT 53

Kết luận 57 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

SVTH: Đào Hồng Diễm 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài:

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), để đất nước phát triển hòa mình vào nền kinh tế thế giới phải thực hiện những chính sách, cải cách khuyến khích đầu tư về thương mại, tín dụng, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ… mà đặc biệt là pháp luật Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế này, chúng ta phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời phải thỏa mãn tính phù hợp và tương đồng với pháp luật thế giới Mà thuế là lĩnh vực quan trọng, là nguồn thu chủ yếu vào ngân sách nhà nước nên mỗi quốc gia đều có những chính sách riêng để thực hiện chúng Việt Nam cũng có những chính sách để phát triển

hệ thống thuế vừa đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước vừa phù hợp với pháp luật thế giới Chính sách đó là phải thực hiện tốt chương trình cải cách hệ thống thuế đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt tại quyết định số 201/2004/QĐ – TTg ngày 06/12/2004 với mục tiêu tổng quát: “xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng

bộ, cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Như vậy, pháp luật thuế là công cụ pháp lý - tài chính quan trọng nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tác động điều tiết nền kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Sau mấy năm triển khai thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế, chúng ta đã đạt được những kết quả khả quan: hoàn thiện Luật xuất nhập khẩu, ban hành Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới thay thế các luật cũ; ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân Vậy, trong bối cảnh như hiện nay, thuế có vị trí lớn trong chiến lược toàn cầu hóa nền kinh tế của Việt Nam

Trong cơ cấu tài chính thuế Việt Nam, thuế GTGT có đóng góp quan trọng Thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng có đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, mỗi năm huy động hơn 30% trong tổng thu ngân sách Thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh

tế, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể, đồng thời gíúp nhà nước kiểm soát được hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ qua việc kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ Trong đó, phương pháp khấu trừ thuế GTGT là một phương pháp có nhiều ưu điểm, được nhà nước khuyến khích áp dụng Nhưng thực tế áp dụng thuế GTGT đã xảy ra tình trạng người nộp thuế lợi dụng phương pháp khấu trừ này để

Trang 6

SVTH: Đào Hồng Diễm 2

chiếm đoạt ngân sách nhà nước thông qua việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT Chúng ta cần

có những giải pháp để ngăn chặn tình trạng này Mặt khác theo thông lệ của các nuớc, thuế GTGT chỉ áp dụng duy nhất phương pháp khấu trừ thuế, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại hai phương pháp tính thuế GTGT Vì vậy, mà Nhà nước nên có những chính sách hoàn thiện pháp luật thuế, đặc biệt là thuế GTGT để thuế GTGT tương đồng với pháp luật thuế GTGT của các quốc gia khác mà nhất là phương pháp khấu trừ thuế GTGT Ngoài ra, Luật thuế GTGT năm 2008 đã có những quy định mới về phương pháp khấu trừ thuế GTGT, những quy định lần này thể hiện được tính minh bạch, đơn giản phù hợp thông lệ quốc tế Lý do vì sao Việt Nam vẫn còn áp dụng hai phương pháp tính thuế GTGT và phương pháp khấu trừ thuế này có ưu, nhược điểm như thế nào, có tầm quan trọng thế nào trong phương pháp tính thuế GTGT, luật thuế GTGT năm 2008 có những quy định mới gì, cần có những chính sách gì để phương pháp này ngày càng hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài : “pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT – thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện”

Tình hình nghiên cứu:

Tính đến hiện nay đã có một số khoá luận tốt nghiệp làm về thuế GTGT Nhưng nhìn chung những đề tài này nghiên cứu một cách rất bao quát tất cả những quy định luật thuế GTGT như:

 Khóa luận tốt nghiệp năm 1999 của Tiền Tú Trinh “Luật thuế GTGT những vướng mắc và hướng hoàn thiện”

 Khóa luận tốt nghiệp năm 2003 của Lê Ngọc Diễm “Pháp luật thuế GTGT, những vướng mắc và hướng hoàn thiện”

 Khoá luận tốt nghiệp năm 2006 của Đào Thuỳ Dương “Pháp luật thuế GTGT những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện”……

Do vậy, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể và chi tiết phương pháp khấu trừ thuế GTGT Phương pháp khấu trừ thuế là một trong những quy định quan trọng của luật thuế GTGT - là cơ sở để Nhà Nước tiến hành thu thuế, khấu trừ thuế và hoàn thuế GTGT Luật thuế GTGT năm 2008 đã có những quy định mới về phương pháp này Với

lý do trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT – thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện” là đề tài vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính thực tiễn cao trong thời điểm hiện nay Cho nên tác giả đã chọn đề tài này làm đề tài khóa luận cho mình

Mục đích nghiên cứu:

Khóa luận nghiên cứu những quy định của pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT, qua quá trình áp dụng tìm những vấn đề còn bất cập; từ đó kiến nghị một

Trang 7

SVTH: Đào Hồng Diễm 3

số biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện phương pháp khấu trừ thuế GTGT Để phương pháp khấu trừ thuế GTGT trở thành phương pháp duy nhất khi tính thuế GTGT, tạo môi trường thuế GTGT bình đẳng giữa những người nộp thuế, đồng thời phù hợp với thông

lệ cuả các nước có áp dụng thuế GTGT

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:

Trên cơ sở văn bản pháp luật thuế GTGT, khóa luận tập trung làm sáng tỏ hai nội dung: pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế trong thuế GTGT và thực trạng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT- những vướng mắc và hướng hoàn thiện Thông qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn phân tích được những vấn đề còn vướng mắc trong quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, qua đó đề xuất giải pháp nhằm góp phần làm cho pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế ngày càng hoàn thiện hơn

Tác giả nghiên cứu khóa luận này trên cơ sở so sánh và phân tích những điểm mới của Luật thuế GTGT năm 2008 với Luật thuế GTGT năm 2003 cùng những văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành về phương pháp khấu trừ thuế GTGT

Phương pháp nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở lý luận chung của CN Mác – Lê Nin về nhà nước và pháp luật, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu đi vào xem xét hệ thống văn bản pháp luật thuế GTGT và thực tế triển khai áp dụng

Kết cấu khóa luận:

Khóa luận gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung được thiết lập thành 2 chương:

Chương 1: Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế trong thuế GTGT

Chương 2: Thực trạng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT - những vướng

mắc và hướng hoàn thiện

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ rất nhiệt tình của thầy Phan Phương Nam cũng như các thầy cô khoa Luật Thương mại, cán bộ Cục thuế TP.HCM Tác giả xin ghi nhận sự giúp đỡ quý báu này với lòng biết ơn sâu sắc

Trang 8

SVTH: Đào Hồng Diễm 4

Chương 1:

PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP KHẤU TRỪ THUẾ TRONG

THUẾ GTGT

1.1 Tổng quan về thuế giá trị gia tăng (GTGT)

1.1.1Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT

Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954 Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajoutée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT) Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được

áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng

Ở Việt Nam, tiền thân của thuế GTGT là thuế doanh thu áp dụng đối với các cơ

sở sản xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể (Điều lệ thuế công thương nghiệp ban hành theo Nghị Quyết 200/NQ - TVQH ngày 18/1/1966) Năm

1990, Quốc Hội ban hành luật thuế Doanh thu áp dụng thống nhất trong cả nước đối với

mọi chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (HHDV) Căn cứ tính thuế của thuế doanh thu là doanh thu tính thuế (là toàn bộ doanh thu phát sinh của mỗi khâu kinh doanh) và thuế suất Vì vậy, hàng hóa càng qua nhiều khâu của quá trình lưu thông, số tiền thuế doanh thu được tính cho hàng hóa đó càng tăng lên một cách đột biến (do đã bao hàm tiền thuế doanh thu gây nên hiện tượng chồng thuế) Từ những bất cập trên mà trong một thời gian dài, thuế doanh thu không phát huy được vai trò của mình và không còn phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy mà thuế GTGT ra đời Do đây là một sắc thuế mới, việc hiểu và vận dụng nó vào thực tiễn

là điều khó khăn, vì vậy việc triển khai áp dụng thuế GTGT được tiến hành qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Căn cứ vào Nghị Quyết của Quốc Hội khóa IX và được sự cho phép của chính phủ, ngày 05/07/1993 Bộ Tài Chính đã có Quyết Định số 468 ban hành chế độ thuế GTGT để thực hiện thí điểm loại thuế này Sau một thời gian thí điểm, nhận thấy những ưu điểm vượt trội so với thuế doanh thu và những hạn chế cần khắc phục trong quá trình hành thu, ngày 10/05/1997 Quốc Hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua luật thuế GTGT chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Tiếp đó, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi vào ngày 17/06/2003 và mới đây tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008 đã thông

Trang 9

bổ sung như đã trình bày ở trên

Theo điều 2 Luật thuế GTGT năm 2008 quy định:” Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Như vậy, xét về bản chất thuế GTGT là loại thuế gián thu1 Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả HHDV Điều này giúp cho cơ quan quản lý, thu thuế tránh được sự phản ánh gay gắt về thuế

Thuế GTGT có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế thu vào HHDV khác nhưng có thể nhận diện thuế GTGT qua những đặc điểm đặc trưng sau:

 Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả HHDV được tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam

Thuế GTGT là loại thuế thu vào từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của hàng hóa dịch vụ, vì vậy về nguyên tắc những hàng hóa dịch vụ nào có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế GTGT

 Thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm của HHDV trong các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Nhằm khắc phục tình trạng thuế thu trùng lắp thuế ở từng khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của HHDV Phần giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng là phần chênh lệch lớn hơn giữa giá đầu ra với giá đầu vào Do đó, phần nào đã thu thuế GTGT rồi sẽ không được tính cho giai đoạn tiếp theo Trên cơ sở đó, số thuế GTGT đã nộp ở giai đoạn trước là cơ sở cho việc khấu trừ số thuế GTGT phải nộp ở giai đoạn tiếp theo để đảm bảo cho thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng

1

Thuế gián thu là thuế thu đối với người tiêu dùng thông qua việc nộp thuế của người sản xuất, kinh doanh (theo

Bộ tư pháp- Viện khoa học pháp lý, từ điển luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa_ NXB Tư Pháp, tr.738)

Trang 10

SVTH: Đào Hồng Diễm 6

hóa, dịch vụ Trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp này sẽ là đầu vào của doanh nghiệp kia Do vậy, để bảo vệ lợi ích của mình, các chủ thể kinh doanh phải luôn yêu cầu bên bán xuất trình hóa đơn đầy

đủ và hợp pháp để làm cơ sở cho việc khấu trừ và hoàn thuế GTGT

 Người tiêu dùng là người cuối cùng phải chịu thuế GTGT tức là số tiền thuế cuối cùng mà Nhà Nước thu được dựa vào giá cung ứng HHDV cho người tiêu dùng

Thuế GTGT là loại thuế gián thu Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người thực tế chịu thuế khác nhau Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, còn người nộp thuế chỉ là người đứng ra nộp thuế thay cho người tiêu dùng, là người sản xuất kinh doanh HHDV

Qua việc phân tích những đặc điểm thuế GTGT, ta phần nào cũng thấy được vai trò thuế GTGT Thuế GTGT tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn, chứng từ, qua đó giúp Nhà Nước kiểm soát được hoạt động sản xuất, nhập khẩu kinh doanh hàng hóa

Thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước, tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới một cách hợp lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu ngay từ khi hàng hóa đó xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam; bên cạnh đó quy định mức thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu là 0% để được hoàn thuế GTGT

Thuế GTGT xóa bỏ được vấn đề thuế đánh chồng lên thuế, ít mang lại phản ứng nặng nề về phía người chịu thuế lẫn người nộp thuế, bởi đánh thuế theo phương pháp này được đánh giá là rất khôn ngoan và tiện lợi, làm đơn giản hóa công tác quản lý thuế của cơ quan thuế

Như vậy, thuế GTGT là loại thuế thu vào HHDV tương đối mới ở Việt Nam, mặc dù trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn song cũng thể hiện được những ưu điểm nhất định của loại thuế này Chúng ta sẽ đi vào phân tích những quy định của pháp luật về thuế GTGT, đặc biệt hơn là tìm hiểu về phương pháp khấu trừ thuế cùng quy định pháp luật hiện hành

Trang 11

1.1.2 Đối tượng chịu thuế GTGT và người nộp thuế GTGT

1.1.2.1 Đối tượng chịu thuế GTGT

Điều 3 luật thuế GTGT năm 2008 quy định: “Hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT” Theo như quy định này, để trở thành đối tượng chịu thuế GTGT, HHDV đó phải có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng ở Việt Nam Vì, luật thuế GTGT không quan tâm đến hành vi tác động vào đối tượng chịu thuế mà chỉ quan tâm đến giá trị tăng thêm của HHDV chịu thuế GTGT Vì vậy bất cứ khi nào, ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam, HHDV có phát sinh giá trị tăng thêm do hành vi tác động của người nộp thuế thì HHDV đó là đối tượng chịu thuế GTGT

Cùng với quy định về đối tượng chịu thuế GTGT, luật thuế GTGT cũng quy định các đối tượng không chịu thuế GTGT Những đối tượng này mặc dù đều có tham gia

vào hoạt động kinh doanh, có phát sinh phần giá trị tăng thêm từ hoạt động sản xuất,

kinh doanh nhưng vì những mục đích khác nhau, pháp luật các nước đã loại trừ đối tượng này khỏi nhóm chịu thuế Luật thuế GTGT của Việt Nam cũng không ngoại lệ, cũng có quy định những đối tượng không chịu thuế GTGT Luật thuế GTGT năm 2008

đã có sự điều chỉnh về một số đối tượng chịu thuế sang đối tượng không chịu thuế GTGT và ngược lại Luật thuế GTGT năm 2003 quy định 28 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT nhưng luật thuế GTGT năm 2008 đã thu hẹp đối tượng không chịu thuế từ 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ xuống còn 25 nhóm (quy định tại điều 5) Cụ thể, luật thuế GTGT năm 2008 đã có sự điều chỉnh sau:

 Chuyển nhóm hàng hoá là thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp sang đối tượng chịu thuế GTGT

 Chuyển “Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5%, chuyển nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt sang thuế suất 5% (trước đây nước sạch căn cứ vào địa bàn khai thác và mục đích sử dụng để xếp vào đối tượng không chịu thuế và chịu thuế với thuế suất 5%)

 Chuyển hoạt động “Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản của Nhà nước” sang thuế suất 10%

 Chuyển “Vận tải quốc tế” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 0%, HHDV cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất tương ứng của từng hàng hoá, dịch vụ Bổ sung “Các dịch vụ tài chính phái sinh”

Trang 12

vào diện không chịu thuế GTGT để đảm bảo bao quát được các dịch vụ mới phát sinh, phù hợp với thông lệ quốc tế

 Bổ sung dịch vụ “Cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng, dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp” vào diện không chịu thuế GTGT Viết lại cụm từ “nhà tình nghĩa” thành “ nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội” để bao quát các trường hợp đối với “duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo”

Những quy định sửa đổi lần này phù hợp với thông lệ quốc tế Do đặc trưng nổi bật thuế GTGT là tính khấu trừ liên hoàn, theo đó doanh nghiệp kinh doanh một loại HHDV thuộc diện chịu thuế GTGT sẽ được Nhà nước hoàn lại số thuế GTGT đầu vào khi mua HHDV dùng cho sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế khấu trừ thuế Do đó, nếu như càng thu hẹp diện HHDV không chịu thuế, mở rộng diện chịu thuế GTGT thì

nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và cả cơ quan quản lý thuế

1.1.2.2 Người nộp thuế GTGT

Điều 4 luật thuế GTGT năm 2008 quy định: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức,

cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ( sau đây là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT ( sau đây gọi là người nhập khẩu)” Quy định này đã được hướng dẫn cụ thể tại TT 129/2008/TT - BTC hướng dẫn một số điều luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành nghị định 123/2008/NĐ - CP Theo đó, người nộp thuế bao gồm:

 Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh Nghiệp) và Luật Hợp tác xã;

 Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác;

 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam;

 Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu

 Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam

Trang 13

Thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng, mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội nếu có hành

vi tiêu dùng HHDV đều phải trả tiền thuế GTGT Nhưng nếu để những đối tượng này tự nộp thuế GTGT vào ngân sách nhà nước sẽ rất khó khăn, đồng thời rất dễ dẫn đến tình trạng trốn thuế và gian lận thuế GTGT Mặt khác, để quản lý lượng người tiêu dùng

phải trả tiền thuế này thì Nhà nước phải huy động đội ngũ cán bộ lớn mới đảm bảo được

công tác hành thu Do vậy, luật thuế GTGT mới quy định các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT là người nộp thuế GTGT Đây là quy định cần thiết sẽ giúp Nhà nước thu thuế được dễ dàng hơn, công tác hành thu thuận lợi hơn nhiều

1.1.3 Căn cứ và phương pháp tính thuế GTGT

1.1.3.1 Căn cứ tính thuế GTGT

Theo quy định của luật thuế GTGT, căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất Căn cứ vào điều 7 luật thuế GTGT năm 2008 và Thông tư 129/2008/TT- BTC thì giá tính thuế GTGT được quy định như sau:

 Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa

có thuế GTGT Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá HHDV mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp vào ngân sách nhà nước Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán, chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm, đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng

 Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu; trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm

Giá tính thuế đối với HHDV bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ

giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế2 Giá tính thuế đối với các trường hợp còn lại được hướng dẫn cụ thể tại điều 4 NĐ 123/2008/NĐ-

2

Xem khoản 3 điều 7 luật thuế GTGT năm 2008

Trang 14

CP và mục I phần B TT 129/2008/TT-BTC hướng dẫn một số điều luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành nghị định 123/2008/NĐ-CP

“Thuế suất thuế GTGT có thể xem là mức thuế phải thu do Nhà nước quy định”3 Thuế suất thuế GTGT là một khoản độc lập với chi phí sản xuất cấu thành nên giá cả của HHDV chịu thuế GTGT Trong 2 căn cứ tính thuế GTGT thì thuế suất là căn

cứ mà qua đó Nhà Nước thực hiện được quyền chủ động điều chỉnh mức thuế GTGT phải nộp Điều này có ý nghĩa lớn đối với Nhà Nước trong việc thực hiện những chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, giúp Nhà Nước thực hiện tốt vai trò quản lý của mình

Thuế GTGT có phạm vi tác động rất rộng, ảnh hưởng rất lớn đến giá cả HHDV Luật thuế GTGT năm 1997 quy định 4 mức thuế suất khác nhau (0%, 5%, 10%, 20%) nhưng đến năm 2004 Việt Nam áp dụng 3 mức thuế suất (0%, 5%, 10%) theo luật số 07/2003/QH11 ngày 17/06/2003 về sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế GTGT Quy định này một mặt giải quyết yêu cầu về khoảng cách giữa các mức thuế suất đồng thời được coi là bước đệm cho việc tiến tới áp dụng một mức thuế suất duy nhất trong giai đoạn tới

Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với HHDV xuất khẩu không phân biệt đối tượng

và hình thức xuất khẩu (bao gồm cả hàng hóa gia công xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và các công trình doanh nghiệp chế xuất; hàng hóa bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu)

Mức thuế suất 5%: áp dụng đối với HHDV ưu đãi, khuyến khích phát triển đầu

tư Các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm công nghiệp nặng hoặc công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng đều nằm trong diện ưu đãi áp dụng mức thuế suất 5% Các đối tượng áp dụng mức thuế suất này được ghi nhận tại khỏan 2 Điều 8 luật thuế GTGT năm 2003

Mức thuế suất 10%: đây có thể coi là mức thuế suất chuẩn, mức thuế suất này xác định theo theo phương pháp liệt kê đầy đủ, tất cả những hàng hóa, dịch vụ không chịu mức thuế suất 0%, 5% thì chịu thuế suất 10%

Luật thuế GTGT năm 2008 cũng có quy định 3 mức thuế suất thuế GTGT, nhưng

có một số thay đổi so với luật hiện hành, những thay đổi này đảm bảo được tính công khai minh bạch, đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp thông lệ quốc tế

Đối với mức thuế suất 0%: ngoài HHDV xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0%

3

Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), từ điển luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa_ NXB Tư Pháp

Trang 15

còn bổ sung thêm đối tượng là vận tải quốc tế (chuyển từ nhóm đối tượng không chịu thuế sang đối tượng áp dụng thuế suất 0%) nhưng trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài, dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến, để khuyến khích phát triển hoạt động vận tải quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và phù hợp thông lệ quốc tế Vận tải quốc tế theo quy định luật trước đây thuộc diện không chịu thuế GTGT, điều đó đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp vận tải không được khấu trừ thuế đầu vào, chi phí tăng khó cạnh tranh với vận tải nước ngoài Do vậy, việc đưa dịch vụ vận tải quốc tế vào diện áp dụng thuế suất 0% sẽ khắc phục được nhược điểm trên, đồng thời tận dụng vốn đầu tư, tái đầu tư mở rộng, khuyến khích tăng tỷ trọng doanh thu vận tải quốc tế

Đối với mức thuế suất 5%: theo luật hiện hành có 21 nhóm HHDV nhưng theo luật GTGT năm 2008 có 15 nhóm HHDV áp dụng thuế suất 5% chủ yếu áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp Luật thuế GTGT mới đã bổ sung thêm vào nhóm thuế suất 5% hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim, nhập khẩu, phát hành và chiếu phim (theo luật hiện hành thuộc nhóm không chịu thuế GTGT)

Đối với mức thuế suất 10%: Để thuận tiện cho việc tra cứu, thực hiện Luật thuế GTGT lần này đưa ra quy định không cần liệt kê danh mục nhóm HHDV áp dụng mức thuế suất 10% mà xác định theo phương pháp loại trừ, tức bất kỳ HHDV nào trong sản xuất kinh doanh không nằm trong danh mục thuế suất 0%, 5% thì đều được áp dụng thuế suất 10% Đây là phương pháp trình bày đơn giản, rõ ràng và minh bạch Đồng thời cũng chuyển một số nhóm hàng hóa, dịch vụ từ thuế suất 5% sang áp dụng thuế suất 10% (được quy định cụ thể trong khỏan 2 điều 8 luật thuế GTGT năm 2008), chuyển một số HHDV trước đây thuộc nhóm không chịu thuế GTGT sang nộp thuế GTGT với thuế suất 10% là điều tra, thăm dò, địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản của Nhà Nước

Như vậy, với tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay và những năm tới, chúng

ta chưa thể chuyển toàn bộ HHDV sang mức thuế suất đơn nhất là 10% (trừ thuế suất 0% được hoàn thuế GTGT trong nội địa), vì làm như vậy giá thành sẽ tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; một số HHDV phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân

sẽ giảm Do đó, trước mắt vẫn phải giữ nguyên 3 mức thuế suất như hiện nay: 0%, 5%, 10% Cách giải quyết này cũng phù hợp với Chiến lược cải cách đến năm 2010 đã được

Bộ Chính Trị thông qua, phù hợp với thực tiễn hiện tại của nước ta và cam kết với

Trang 16

WTO4 Cho nên, những quy định của luật thuế GTGT năm 2008 về giá tính thuế và mức thuế suất lần này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

1.1.3.2 Phương pháp tính thuế GTGT

Thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, việc xác định số thuế GTGT nộp qua mỗi khâu phải dựa trên điều kiện thực tế của chủ thể kinh doanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu thu đúng, thu đủ vào ngân sách nhà nước Dựa vào đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và đầu vào tương ứng, phương

án khả thi để xác định số thuế phải nộp là tính theo phần chênh lệch qua các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông (phương pháp khấu trừ thuế), hoặc tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm phát sinh do chủ thể nộp thuế tạo ra (phương pháp tính trực tiếp trên thuế GTGT) Như vậy, thuế GTGT có hai phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên thuế GTGT Mỗi phương pháp tính thuế có

ưu, khuyết điểm riêng tùy từng trường hợp mà áp dụng phương pháp tính thuế cho hợp

 Phương pháp tính trực trực tiếp trên thuế GTGT là phương pháp tính thuế mà

theo đó số thuế phải nộp bằng giá trị gia tăng của HHDV bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT5 Mà giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng Như vậy, phương pháp này xác định theo hiệu số kết quả kinh doanh của chủ thể nộp thuế Đối tượng áp dụng phương pháp này là: các cơ sở kinh doanh, cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý6 Khi nộp thuế theo phương pháp này sẽ dẫn đến 3 trường hợp: nếu giá trị gia tăng của HHDV là một số âm (-) thì cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT đã nộp ở khâu trước; nếu giá trị gia tăng của HHDV bằng 0 thì cơ sở kinh doanh không phải nộp thuế GTGT vì đã không phát sinh thuế GTGT trong khâu này; nếu giá trị gia tăng của HHDV là một số dương (+) thì cơ sơ kinh doanh phải nộp thuế theo quy định của pháp luật

Chủ thể nộp thuế theo phương pháp này chiếm tỷ lượng lớn do đặc điểm đặc thù

Trang 17

của Việt Nam còn nhiều các chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ (như các cá nhân kinh doanh, tiểu thương…) nhưng việc yêu cầu các chủ thể này phải sử dụng chế độ hóa đơn, chứng

từ là điều hết sức khó khăn Cho nên tổng thu thuế GTGT của các đối tượng nộp thuế theo phương pháp này không cao, chi phí quản lý lớn so với phương pháp khấu trừ thuế GTGT – đây là phương pháp tính thuế có nhiều ưu điểm, được nhà nước khuyến khích

áp dụng

 Phương pháp khấu trừ thuế GTGT xác định số thuế GTGT phải nộp trên cơ sở

số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ 7 Điểm đặc biệt cần lưu

ý, đối với phương pháp này, số thuế được xác định một cách trực tiếp là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất lưu thông mà không phải phần giá trị gia tăng được xác định trực tiếp qua các khâu Do đó, để thực hiện phương pháp này phải đảm bảo những điều kiện nhất định:

 Đối tượng nộp thuế phải sử dụng đầy đủ hệ thống hóa đơn, chứng từ để chứng minh được số thuế GTGT đầu vào và đầu ra

 Không được rơi vào trường hợp bắt buộc phải nộp thuế theo phương pháp trực tiếp

Như vậy, phương pháp khấu trừ thuế có những ưu điểm vượt trội mà phương pháp tính thuế trực tiếp không có Phương pháp này xác định đúng số thuế phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế chống được thất thu thuế đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng Đồng thời, nó làm đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế, do người nộp thuế theo phương pháp này sử dụng đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ Dựa vào đây người nộp thuế có thể tự mình tính và kê khai số thuế phải nộp được chính xác, kịp thời; cơ chế khấu trừ giúp người nộp thuế thực hiện đúng nghĩa vụ của mình vì được hoàn trả lại số thuế tạm nộp nên việc tính thuế trong một năm tài chính tương đối chính xác Do đó phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho cơ quan thuế Chính từ những ưu điểm này mà pháp luật các nước đang áp dụng phương pháp khấu trừ thuế khi tính thuế GTGT phải nộp Ngoài ra, phương pháp này còn thúc đẩy các tổ chức kinh tế tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật Vì vậy, phương pháp khấu trừ thuế GTGT là một trong những quy định quan trọng của luật thuế GTGT - là cơ sở để Nhà Nước tiến hành thu thuế, khấu trừ thuế, và hoàn thuế GTGT Luật thuế GTGT năm 2008 có những quy định mới về phương pháp này như: điều kiện khấu trừ, các trường hợp hoàn thuế…Vì thế, khóa luận sẽ tập trung phân tích những quy định của pháp luật về phương pháp khấu trừ, cũng như những điểm mới của phương pháp này Từ đó thấy được ưu điểm cũng như hạn chế mà tìm ra giải pháp để

7

Xem điểm a khỏan 1 điều 10 luật thuế GTGT năm 2008

Trang 18

hoàn thiện phương pháp này, để nó trở thành phương pháp được áp dụng duy nhất khi tính thuế GTGT phải nộp

1.2 Những nội dung pháp lý cơ bản về khấu trừ thuế GTGT

1.2.1 Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế 1.2.1.1 Công thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế

Theo khoản 1 điều 10 luật thuế GTGT năm 2008 số thuế GTGT phải nộp được xác định là số chênh lệch giữa số thuế GTGT đầu ra và số thuế GTGT đầu vào

sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế xác định theo quy định tại điểm k khoản 1 điều 7 luật thuế GTGT năm 2008, tức giá tính thuế theo trường hợp này được xác định như sau:

Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán

1+ thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%)

Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của

Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại Điểm 1.10, Mục I, Phần B Thông tư 129/2008/TT-BTC để xác định giá không có thuế và thuế GTGT đầu vào

Ví dụ: Trong kỳ, Công ty A thanh toán dịch vụ đầu vào được tính khấu trừ là loại đặc thù

Tổng giá thanh toán 110 triệu đồng (giá có thuế GTGT), dịch vụ này chịu thuế là 10%, số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tính như sau:

110 triệu

Trang 19

- x 10% = 10 triệu đồng

1 + 10%

Giá chưa có thuế là 100 triệu đồng, thuế GTGT là 10 triệu

 Khi nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, đối tượng nộp thuế GTGT sẽ rơi vào 3 trường hợp:

Nếu số thuế GTGT đầu vào nhỏ hơn số thuế GTGT đầu ra thì người nộp thuế

sẽ được khấu trừ thuế đầu vào tức là người nộp thuế chỉ phải nộp tiền thuế cho phần chênh lệch giữa số thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vào đã nộp;

 Nếu số thuế GTGT đầu vào đã nộp bằng số thuế GTGT đầu ra phát sinh thì người nộp thuế không phải nộp thuế GTGT vì số thuế phải nộp bằng 0;

 Nếu số thuế GTGT đầu vào đã nộp lớn hơn số thuế GTGT đầu ra thì người nộp thuế sẽ được hoàn lại phần chênh giữa thuế đầu vào và đầu ra

1.2.1.2 Khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Theo quy định tại Điều 12 luật thuế GTGT năm 2008, cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

 Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ

 Thuế GTGT đầu vào của HHDV sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của HHDV dùng cho sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT Cơ

sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ

lệ (%) giữa doanh số chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của HHDV bán ra

 Theo quy định của luật thuế GTGT trước đây, thuế đầu vào đối với tài sản cố định lớn thì được khấu trừ dần hoặc hoàn thuế theo quy định của pháp luật8 Quy định này chưa hướng dẫn một cách chi tiết việc khấu trừ đối với tài sản này Vì việc khấu trừ

và hoàn thuế GTGT của tài sản cố định là vấn đề khá phức tạp vì bản thân nó là một hàng hóa đặc biệt - tham gia vào nhiều chu trình sản xuất, có giá trị lớn, đa dạng tính năng9 Việc khấu trừ và hoàn thuế GTGT đối với tài sản cố định đã sửa đổi nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sai sót Việc khấu trừ thuế GTGT đối với tài sản cố định trước

Trang 20

đây được áp dụng theo thông tư TT 32/2007/TT – BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn chi tiết thi hành thuế GTGT Đã có những vướng mắc phát sinh từ những quy định này Cụ thể:

Thông tư 32/2007/TT - BTC có quy định: “cơ sở kinh doanh không được khấu trừ

và hoàn thuế GTGT đầu vào của HHDV sử dụng cho sản xuất, kinh doanh HHDV thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT… mà phải tính vào nguyên tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh10” Hoặc quy định: “Riêng đối với tài sản cố định dùng cho sản xuất, kinh doanh HHDV thì được khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT đầu vào Đối với tài sản cố định đầu tư mua sắm hoặc được tặng, cho để sử dụng vào các mục đích dưới đây thì thuế GTGT tương ứng ghi trên hoá đơn, chứng từ mua HHDV tạo thành tài sản cố định đó không tính vào thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định chuyên dùng để sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh…”11 Như vậy, nếu thực hiện theo các quy định trên thì trong trường hợp tài sản cố định dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT, thì sẽ gặp khó khăn trong việc khấu trừ Để giải quyết vướng mắc này, luật thuế GTGT năm 2008 có quy định tại điểm 1b, điều 12 rằng: ”Trường hợp thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.” Như vậy, luật ban hành lần này đã một phần nào giải quyết được vướng mắc hiện nay trong việc xác định được số thuế khấu trừ của tài sản cố định được

sử dụng chung, vừa khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư mua sắm tài sản cố định vào hoạt động kinh doanh Việc khấu trừ đối với tài sản cố định được quy định cụ thể trong điểm c.3, khỏan 1, mục III, phần B TT 129/2008/TT- BTC hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT và NĐ 123/2008/ NĐ - CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều luật thuế GTGT:

 Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản cố định là nhà làm trụ sở văn phòng và các thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường học; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách

Trang 21

sạn

 Thuế GTGT đầu vào của HHDV hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh

và nhà ở, trạm y tế cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ

 Tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6

tỷ đồng không được khấu trừ

 Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn ở trong kho Trước đây theo luật thuế GTGT năm 2003, thời gian kê khai chậm nhất là 03 tháng kể

từ thời điểm kê khai thuế của tháng phát sinh Nhưng luật thuế GTGT năm 2008 đã nâng thời hạn tối đa được kê khai thuế GTGT đầu vào là 06 tháng Tức trường hợp cơ

sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ còn sót hoá đơn hoặc chứng từ nộp thuế chưa kê khai, khấu trừ thì được kê khai, khấu trừ bổ sung Thời gian để kê khai, khấu trừ bổ sung tối đa là 06 (sáu) tháng, kể từ tháng phát sinh hoá đơn, chứng từ bỏ sót Sự bổ sung này phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 34, Luật Quản

lý thuế “Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được kê khai bổ sung hồ sơ khai thuế” Mặt khác, quy định điều này là hợp lý, thời gian đủ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT nếu phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ còn sót hoá đơn hoặc chứng từ nộp thuế chưa

kê khai, khấu trừ

Ví dụ: Cơ sở kinh doanh A có 01 hoá đơn GTGT mua vào lập ngày 10/2/2009 Trong kỳ kê khai thuế tháng 2/2009, kế toán của cơ sở kinh doanh bỏ sót không kê khai hoá đơn này thì cơ sở kinh doanh A được kê khai và khấu trừ bổ sung tối đa là kỳ kê khai tháng 7/2009

 Thuế GTGT đầu vào của HHDV sử dụng cho sản xuất, kinh doanh HHDV không chịu thuế GTGT thì không được khấu trừ, trừ trường hợp thuế GTGT của HHDV

mà cơ sở kinh doanh mua vào để sản xuất, kinh doanh HHDV cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viên trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại thì được khấu trừ toàn bộ; và trường hợp thuế GTGT đầu vào của HHDV sử dụng cho hoạt động

Trang 22

tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí được khấu trừ toàn bộ12

 Trường hợp văn phòng tổng công ty, tập đoàn không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế GTGT đầu vào của HHDV mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này13

Ví dụ: Văn phòng Tổng công ty A không trực tiếp sản xuất, kinh doanh, sử dụng kinh phí do các cơ sở trực thuộc đóng góp để hoạt động nhưng Văn phòng Tổng công ty

có cho thuê nhà (văn phòng) phần không sử dụng hết thì Văn phòng Tổng công ty phải hạch toán, kê khai nộp thuế riêng cho hoạt động cho thuê văn phòng Thuế GTGT đầu vào của HHDV phục vụ cho hoạt động của Văn phòng Tổng công ty không được khấu trừ hay hoàn thuế Văn phòng Tổng công ty phải sử dụng kinh phí nộp cấp trên để thanh toán

 Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá tài sản cố định theo quy định của pháp luật

Như vậy, để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào, thì người nộp thuế đã nộp thuế GTGT đầu vào và phải phát sinh thuế GTGT đầu ra Trường hợp, người nộp thuế không phải nộp thuế GTGT đầu vào, nhưng có phát sinh thuế đầu ra cũng không được khấu trừ Tương tự, nếu người nộp thuế nộp thuế GTGT đầu vào nhưng không phát sinh số thuế GTGT đầu ra thì cũng không được hoàn thuế Người nộp thuế phải đáp ứng theo điều kiện của Nhà Nước đặt ra mới được khấu trừ và hoàn thuế GTGT Quy định này một phần cũng làm giảm bớt hiện tượng gian lận thuế, làm hóa đơn giả để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT Do vậy, người nộp thuế phải thỏa mãn điều kiện khấu trừ thuế GTGT mới được khấu trừ

1.2.1.3 Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

Để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, người nộp thuế phải thỏa những điều kiện được khấu trừ Theo luật thuế GTGT trước đây khấu trừ thuế GTGT đầu vào căn cứ vào hóa đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu

Trang 23

Nay theo quy định luật thuế GTGT năm 2008, ngoài điều kiện nêu trên (có hóa đơn GTGT) phải có thêm chứng từ thanh toán qua ngân hàng Cụ thể, có hoá đơn GTGT hợp pháp của HHDV mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và

cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam; có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với HHDV mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT14

Trước đòi hỏi của thực tiễn, Thủ tướng Chính Phủ đã có Quyết định số 291/2006/QĐ-TT ngày 29/12/2006 phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 202015 Thanh toán qua ngân hàng là điều rất bình thường ở nhiều quốc gia nhưng ở nước ta còn chưa phổ biến do đã quen thanh toán qua tiền mặt Quy định này nhằm triển khai đề án trên, đồng thời cũng giúp cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong kinh doanh và tuân thủ pháp luật Qua quy định này doanh nghiệp vừa có thể kiểm soát được hành vi giao dịch của nhân viên, vừa kiểm soát được các giao dịch mua, bán HHDV đầu vào của các nhà cung cấp tránh tình trạng hóa đơn GTGT đầu vào ghi nội dung sai lệch thực

tế Hơn bất kỳ bằng chứng nào, việc thanh toán qua ngân hàng sẽ đảm bảo khách quan minh chứng cho khoản chi thực tế của doanh nghiệp Vì vậy, việc thanh toán qua ngân hàng rất tiện lợi, nhưng tính đến thực trạng chất lượng của các ngân hàng và thói quen của doanh nghiệp, nên trong thời gian đầu luật chỉ quy định mức thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên mới thanh toán qua ngân hàng

Theo quy định luật thuế GTGT năm 2008, NĐ 123/2008/NĐ - CP, TT 129/2008/TT - BTC và công văn công văn số 3046/BTC - TCT ngày 20-3-2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thêm về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng, để được khấu trừ hoàn thuế GTGT, HHDV mua vào từng lần theo hóa đơn từ 20 triệu đồng (giá

đã có thuế GTGT) nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT Về nguyên tắc, thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo có của bên bán về số tiền đã nhận được từ tài khoản của bên mua

14

điểm 1.3 khỏan 1, mục III, phần B TT 129/2008/TT- BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT

và hướng dẫn thi hành NĐ 123/200/NĐ- CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT

15

Ths Nguyễn Văn Phụng phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (2008), “Luật thuế GTGT, luật thuế TNDN sửa đổi:

Điểm nhấn trong quá trình cải cách thuế”, Tạp chí tài chính tháng 7/2008 (525), tr 18

Trang 24

ủy nhiệm chi - chuyển tiền, ủy nhiệm thu, thư tín dụng…

Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, mua vào HHDV có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên có hóa đơn GTGT hợp pháp, muốn được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì phải mở tài khoản tại ngân hàng Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên 20 trịêu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng

từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ Đối với những hóa đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục riêng trong bảng kê hóa đơn, chứng từ HHDV mua vào Việc thanh toán qua ngân hàng được hướng dẫn cụ thể trong thông tư 129/2008/TT- BTC ngày 26-12-2008 của Bộ Tài chính, như sau:

 Đối với HHDV mua trả chậm, trả góp có giá trị HHDV mua trên hai mươi triệu đồng, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua HHDV, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của HHDV mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hóa đơn, chứng từ HHDV mua vào Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hóa không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Ví dụ: Tháng 1/2009, Công ty A mua một lô hàng của Công ty B để phục vụ sản xuất kinh doanh, tổng giá trị hợp đồng là 330 triệu đồng (bao gồm cả thuế GTGT theo thuế suất 10%), theo thoả thuận trong hợp đồng đến tháng 5/2009 Công ty A mới thanh toán tiền hàng cho Công ty B

Trong trường hợp này Công ty A được tạm kê khai thuế GTGT đầu vào vào kỳ

kê khai của tháng 1/2009 là 30 triệu đồng Đến thời hạn thanh toán tháng là 5/2009 Công ty A phải cung cấp chứng từ thanh toán qua ngân hàng có giá trị là 330 triệu đồng, nếu Công ty A không cung cấp được chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì số thuế GTGT đã tạm khấu trừ (30 triệu đồng) của tháng 1/2009 phải bị kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT được khấu trừ vào kỳ kê khai tháng 5/2009

Trường hợp đến thời điểm thanh toán là tháng 5/2009, Công ty A cung cấp được chứng từ thanh toán quan ngân hàng nhưng số tiền ghi trên chứng từ thanh toán này có giá trị 275 triệu đồng thì Công ty A chỉ được chấp nhận khấu trừ thuế GTGT 25 triệu đồng, đồng thời Công ty A phải điều chỉnh giảm số thuế GTGT được khấu trừ vào của

kỳ kê khai tháng 5/2009 là 5 triệu đồng

Trang 25

 Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị HHDV mua vào với giá trị hàng hóa bán ra; bù trừ công nợ; thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng mà các phương thức thanh toán này được quy định

cụ thể trong hợp đồng cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng; Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Khi kê khai hoá đơn thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh ghi rõ phương thức thanh toán được quy định cụ thể trong hợp đồng vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ HHDV mua vào

 Trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị trên hai mươi triệu đồng thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Đối với loại hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu muốn được khấu trừ và hoàn thuế GTGT phải có đủ các điều kiện và thủ tục được quy định tại tiết c, điểm 1.3, khoản 1, mục III, phần B TT 129/2008/TT- BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành NĐ 123/200/NĐ- CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT Cụ thể như sau:

 Hợp đồng bán hàng hoá, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu là hợp đồng ủy thác xuất khẩu và biên bản thanh lý hợp đồng ủy thác xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu có ghi rõ: số lượng, chủng loại sản phẩm, giá trị hàng ủy thác đã xuất khẩu; số, ngày hợp đồng xuất khẩu của bên nhận ủy thác xuất khẩu ký với nước ngoài; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng với nước ngoài của bên nhận ủy thác xuất khẩu; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán của bên nhận ủy thác xuất khẩu thanh toán cho bên ủy thác xuất khẩu; số, ngày tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu của bên nhận ủy thác xuất khẩu

 Tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu có xác nhận đã xuất khẩu của cơ quan hải quan

 Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập

Trang 26

khẩu Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận ủy thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân hàng

Như vậy, so với điều kiện khấu trừ thuế của luật thuế GTGT trước đây, luật thuế GTGT năm 2008 đã bổ sung thêm điều kiện thanh toán qua ngân hàng mới được khấu trừ thuế đầu vào Quy định điều kiện thanh toán qua ngân hàng đã áp dụng đối với việc khấu trừ và hoàn thuế của HHDV xuất khẩu, nó đã chứng tỏ tính ưu việt trong việc ngăn ngừa các gian lận về thuế Chính vì vậy, việc mở rộng quy định này đối với việc khấu trừ thuế GTGT cho các họat động sản xuất, kinh doanh trong nước là hợp lý Ngoài tác dụng ngăn ngừa các gian lận vế thuế, quy định này góp phần thúc đẩy thanh toán qua ngân hàng, hạn chế sử dụng tiền mặt trong các giao dịch Qua đó giúp Nhà nước kiểm soát việc sử dụng hóa đơn GTGT để hạn chế tình trạng mua bán hóa đơn, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để giảm thuế GTGT đầu ra và tăng thuế đầu vào được khấu trừ nhằm chiếm đoạt ngân sách nhà nước qua hoàn thuế GTGT

1.2.2Đối tượng áp dụng và chế độ hóa đơn, chứng từ áp dụng cho người nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế

Qua việc phân tích điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào, ta thấy không phải đối tượng nào cũng được áp dụng phương pháp này, mà chỉ áp dụng cho những đối tượng thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và có đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế

Theo quy định tại điểm 1 mục III phần B TT 129/2008/TT-BTC hướng dẫn một

số điều luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành nghị định 123/2008/NĐ-CP, quy định

“Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ

kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp” Như vậy, đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ là các chủ thể có hoạt động kinh doanh ổn định, chấp hành chế độ hạch toán, kế toán, sử dụng đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ để chứng minh được số thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào và có đăng ký với cơ quan thuế, được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế

Phương pháp khấu trừ thuế là phương pháp tính thuế dựa vào hóa đơn, chứng từ

Do đó hóa đơn, chứng từ có ý nghĩa quan trọng đối với phương pháp này Hóa đơn có thể được hiểu là ”chứng từ được in sẵn thành mẫu in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà Nước, xác nhận khối lượng, giá trị của HHDV mua,

Trang 27

bán, trao đổi, quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi HHDV16” Như vậy, hóa đơn là chứng từ xác nhận quan hệ mua, bán, trao đổi HHDV thanh toán, quyết toán tài chính, xác định chi phí hợp lý Trong việc thực hiện Luật thuế GTGT thì hóa đơn, chứng từ là căn cứ xác định số thuế GTGT đầu vào, đầu ra của HHDV, xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm hay phải nộp, hoàn lại trong

kỳ tính thuế Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn, chứng từ ở cả khâu mua và bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ, hóa đơn hay tiếp nhận chứng từ, hóa đơn có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan chức năng trong việc tính số thuế phải nộp cũng như quản lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển với các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh phong phú và đa dạng thì vấn đề hóa đơn, chứng từ ngày càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết Để thực hiện tốt việc quản lý hóa đơn đòi hỏi pháp luật phải có những quy định thật chặt chẽ Ở nước ta hệ thống hóa đơn, chứng từ hợp pháp được hình thành từ hai nguồn: do Bộ Tài Chính phát hành; do các cơ sở kinh doanh tự in Các quy định về hóa đơn và thủ tục quản lý hóa đơn đã được thể chế hóa trong nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 7/2/2002 và thông tư 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 Các văn bản này quy định rất cụ thể đối tượng, phạm vi áp dụng, hình thức, nội dung hóa đơn, những quy định về in, phát hành, sử dụng hóa đơn cũng như trách nhiệm của các

cá nhân, tổ chức nhận in hóa đơn, thủ tục mua hóa đơn, đăng ký sử dụng hóa đơn tự in

Vì vậy, để tăng cường công tác quản lý, hạch toán kinh doanh đồng thời tạo điều kiện cho cơ quan thuế kiểm tra việc kê khai tính thuế thì các người nộp thuế phải thực hiện tốt việc mua, bán HHDV có hóa đơn, chứng từ một cách đầy đủ Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ là điều kiện cần thiết để tính thuế GTGT cũng như khấu trừ và hoàn thuế GTGT

Theo quy định luật thuế GTGT cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn GTGT Khi lập hóa đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hóa đơn Đối với hóa đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán17, trừ trường hợp sử dụng chứng từ đặc thù (những đối

Trang 28

tượng kinh doanh HHDV có tính chất đặc thù như tem bưu chính, vé cước vận tải, vé số kiến thiết, được dùng hóa đơn chứng từ đặc thù giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT) Hóa đơn dùng để khấu trừ và hoàn thuế GTGT, tính chi phí hợp lý, thanh toán tiền phải

là hóa đơn mua HHDV Hóa đơn này phải là hóa đơn gốc, liên 2 (liên giao cho khách hàng), hóa đơn phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu và nội dung theo quy định của pháp luật và còn nguyên vẹn; số liệu, chữ viết đánh máy hoặc in trên hóa đơn phải rõ ràng, đầy đủ, chính xác theo đúng quy định không bị tẩy xóa, sửa chữa Đối với tổ chức, cá nhân đã mua hóa đơn nhưng sử dụng bất hợp pháp (bỏ trốn) thì hóa đơn đó không được chấp nhận kê khai để tính khấu trừ thuế GTGT hoặc hoàn thuế GTGT và không được tính vào chi phí hợp lý

Đặc biệt, theo luật thuế GTGT năm 2008 thì để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT thì ngoài có hóa đơn GTGT hợp pháp phải có thêm chứng từ thanh toán qua ngân hàng Đây là quy định mới, theo đó chế độ hóa đơn, chứng từ cũng có một số thay đổi so với trước đây TT 129/2008/TT- BTC đã quy định rất cụ thể việc sử dụng chế độ hóa đơn chứng từ trong từng trường hợp cụ thể, đối tượng nộp thuế sẽ căn cứ vào đó mà thực hiện cho đúng

Vậy chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ phải thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn chứng từ và theo hướng dẫn của TT 129/2008/TT- BTC Nhằm mục đích tránh thất thu thuế, hóa đơn chứng từ phải

là hóa đơn do Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế phát hành hoặc hóa đơn do các cơ sở kinh doanh tự in nhưng phải đáp ứng theo đúng mẫu mà mà các cơ quan này cho phép Có thể khẳng định rằng hóa đơn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT, đảm bảo tính chính xác và chống thất thoát tiền Ngân sách nhà nước, là tiền đề của phương pháp khấu trừ thuế GTGT

1.2.3 Các trường hợp được hoàn thuế GTGT

Hoàn thuế GTGT là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế GTGT đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế Như vậy, nếu người nộp thuế có số thuế GTGT đầu vào đã nộp lớn hơn số thuế GTGT đầu ra thì sẽ được hoàn lại phần chênh lệch giữa thuế đầu vào và đầu ra Đây cũng chính là lý do tại sao chỉ những chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ mới được hoàn thuế GTGT Vì nộp thuế theo phương pháp này,

cơ quan thuế sẽ xác định được số thuế đầu vào và số thuế GTGT đầu ra trên cơ sở hóa đơn, chứng từ, dựa vào đó mà tiến hành khấu trừ và hoàn thuế GTGT cho người nộp thuế Vì vậy, quy định về hoàn thuế GTGT có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp

Trang 29

khấu trừ thuế, nó đảm bảo lợi ích chính đáng cho người nộp thuế Đồng thời, góp phần khuyến khích người nộp thuế hướng tới thực hiện một phương pháp tính thuế duy nhất

là phương pháp khấu trừ thuế theo quyết định phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 của Nhà nước

Các trường hợp được hoàn thuế GTGT theo quy định luật thuế GTGT năm 2008 như sau:

 Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế GTGT nếu trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế

Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu vào, đầu ra như sau: (đơn vị tính : triệu đồng)

Tháng kê khai

thuế

Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng

Thuế đầu ra phát sinh trong tháng

Thuế phải nộp

Lũy kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ

 Đặc biệt luật thuế GTGT mới có bổ sung thêm trường hợp cơ sở kinh doanh

đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của HHDV mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết và có số thuế còn lại từ hai trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT Quy định mới này được hướng dẫn cụ thể trong Thông tư 129/2008/TT- BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành NĐ

Trang 30

123/200/NĐ- CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT:

 Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng

ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu

tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của HHDV sử dụng cho đầu tư theo từng năm Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của HHDV mua vào sử dụng cho đầu tư từ

200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT

 Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh phải kê khai bù trừ số thuế GTGT của HHDV mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mới cùng với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện Sau khi bù trừ nếu có số thuế GTGT của HHDV mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư

Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động (trừ các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành) thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu

tư cơ sở sản xuất mới tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế GTGT của HHDV mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với trường hợp này

 Cơ sở kinh doanh trong tháng có HHDV xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng18 Quy định này nhằm hạn chế tình trạng ứ đọng vốn cho các cơ sở kinh doanh

 Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được hoàn thuế GTGT khi chuyển đổi sỡ hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế GTGT nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết19

 Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân

Trang 31

đạo20 Chủ dự án hoặc nhà thầu chính được hoàn lại số thuế GTGT đã trả trong giá mua HHDV cho dự án (dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại); chủ dự án hoặc nhà thầu chính được hoàn lại số thuế GTGT đã trả khi nhập khẩu và mua HHDV trong nước sử dụng cho dự án

 Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh

về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua HHDV tại Việt Nam được hoàn thuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT21

Tóm lại, luật thuế GTGT ban hành lần này có những quy định mới tạo ra những chuyển biến tích cực lớn, bảo đảm tính công khai, minh bạch, đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp thông lệ quốc tế, nhất là quy đinh thanh toán qua ngân hàng Qua việc phân tích phương pháp khấu trừ thuế GTGT, ta thấy nộp thuế theo phương pháp này người nộp thuế sẽ được đảm bảo quyền lợi của mình là được khấu trừ và hoàn thuế GTGT Vì thế, đây được xem là phương pháp tối ưu khi tính thuế GTGT, nó sẽ đảm bảo được lợi ích hài hòa giữa người nộp thuế và Nhà nước Luật thuế GTGT ngày càng có những quy định để hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế GTGT để thực hiện một phương pháp tính thuế duy nhất là phương pháp khấu trừ thuế

để phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, mặc dù phương pháp này có nhiều ưu điểm đến đâu đi nữa cũng bộc lộ những bất cập trên thực tế Chương 2 của khóa luận sẽ trình bày thực trạng áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, những vướng mắc và phương hướng hoàn thiện, để phương pháp này trở thành phương pháp tối ưu nhất khi tính thuế GTGT

20

Xem khỏan 6 mục IV phần C T 129/2008/TT- BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành NĐ 123/200/NĐ- CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT

21

Xem khỏan 7 mục IV phần C T 129/2008/TT- BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành NĐ 123/200/NĐ- CP ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật thuế Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2007
3. PGS.TS Trần Đình Hảo, TS Nguyễn Thị Thương Huyền (2003), “Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS Trần Đình Hảo, TS Nguyễn Thị Thương Huyền
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2003
4. Huỳnh Viết Tấn (2000), “Hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại thuế khác, hoá đơn chứng từ”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại thuế khác, hoá đơn chứng từ
Tác giả: Huỳnh Viết Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Huỳnh Viết Tấn (2001), “Ứng dụng hoá đơn chứng từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trong kinh doanh và hoạch toán”, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng hoá đơn chứng từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trong kinh doanh và hoạch toán
Tác giả: Huỳnh Viết Tấn
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2001
6. Giảng viên Tiến sĩ Phan Hiển Minh, Tô Văn Yên (2007), “Pháp luật về thuế”, NXB LĐ-XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về thuế”
Tác giả: Giảng viên Tiến sĩ Phan Hiển Minh, Tô Văn Yên
Nhà XB: NXB LĐ-XH
Năm: 2007
7. Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp, “Tìm hiểu pháp luật hỏi đáp về luật Tài chính Việt Nam”, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu pháp luật hỏi đáp về luật Tài chính Việt Nam”
Nhà XB: NXB TP.HCM
8. Bộ Tư Pháp- Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB từ điển Bách Khoa – NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Nhà XB: NXB từ điển Bách Khoa – NXB Tư pháp
9. Ts. Lê Xuân Trương (2008), “Dự thảo sửa đổi Luật thuế GTGT: Minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế”, tạp chí tài chính, tháng 3/2008 (521) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo sửa đổi Luật thuế GTGT: Minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế”, "tạp chí tài chính
Tác giả: Ts. Lê Xuân Trương
Năm: 2008
10. Huỳnh Huy Quế (2008), “Sửa đổi luật thuế GTGT và luật thuế TNDN tạo ra những chuyển biến tích cực hơn”, tạp chí tài chính tháng 4/2008 (522) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi luật thuế GTGT và luật thuế TNDN tạo ra những chuyển biến tích cực hơn”, "tạp chí tài chính
Tác giả: Huỳnh Huy Quế
Năm: 2008
11. Ths.Nguyễn Văn Phụng phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (2008), “Luật thuế GTGT, luật thuế TNDN sửa đổi: Điểm nhấn trong quá trình cải cách thuế”, Tạp chí tài chính tháng 7/2008 (525) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế GTGT, luật thuế TNDN sửa đổi: Điểm nhấn trong quá trình cải cách thuế”, "Tạp chí tài chính
Tác giả: Ths.Nguyễn Văn Phụng phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế
Năm: 2008
12. Nguyễn Bá Phú, Cục thuế Thanh Hóa (2008), “Luật thuế GTGT 2008: Một số lưu ý trong hướng dẫn thi hành”, tạp chí tài chính tháng 9/2008 (527) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế GTGT 2008: Một số lưu ý trong hướng dẫn thi hành”
Tác giả: Nguyễn Bá Phú, Cục thuế Thanh Hóa
Năm: 2008
13. Tiền Tú Trinh (1999), khóa luận “Luật thuế GTGT những vướng mắc và hướng hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền Tú Trinh (1999), khóa luận “"Luật thuế GTGT những vướng mắc và hướng hoàn thiện
Tác giả: Tiền Tú Trinh
Năm: 1999
14. Lê Ngọc Diễm (2003), khóa luận “Pháp luật thuế GTGT, những vướng mắc và hướng hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Ngọc Diễm (2003), khóa luận “"Pháp luật thuế GTGT, những vướng mắc và hướng hoàn thiện
Tác giả: Lê Ngọc Diễm
Năm: 2003
15. ĐàoThùy Dương (2006), khóa luận “Pháp luật thuế GTGT những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐàoThùy Dương (2006), khóa luận “"Pháp luật thuế GTGT những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: ĐàoThùy Dương
Năm: 2006
1. Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
2. Luật của Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam số 07/2003/QH 11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 về sửa đổi bổ sung một số điều luật thuế GTGT Khác
4. Nghị định 123/2008/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT Khác
5. Nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 7/2/2002 về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn Khác
6. Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành nghi định số 123/2008/NĐ - CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT Khác
7. Thông tư 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn chi tiết thi hành luật thuế GTGT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w