Tính cấp thiết của đề tài Ở nước ta, cùng với các Tòa án nhân dân, các Tòa án quân sự được pháp luật quy định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
MAI THỊ THANH TRÚC
THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-
MAI THỊ THANH TRÚC
THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Độ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung Luận văn do bản thân tôi tự nghiên cứu hoàn thiện, không sao chép của người khác Nếu có gian dối trong nghiên cứu, tôi xin nhận mọi hình thức xử lý do nhà trường quy định
Người cam đoan
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
SỐ
01
Biểu đồ 1 Số liệu án Sơ thẩm, Phúc thẩm, Giám đốc thẩm, Tái thẩm và
chuyển vụ án để xét xử đúng thẩm quyền của ngành Tòa án quân sự từ năm
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án 5
1.1.1 Khái niệm chung thẩm quyền xét xử về hình sự của Tòa án 5
1.1.2 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự 9
1.2 Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền xét xử 11
1.3 Những căn cứ để phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án 13
1.3.1 Căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm 15
1.3.2 Căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng, vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng… 17
1.3.3 Căn cứ vào năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm và những người tiến hành tố tụng 18
1.3.4 Căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền xét xử với các chế định khác của tố tụng hình sự 20
1.3.5 Căn cứ vào hiệu quả kinh tế của hoạt động xét xử và các hoạt động tố tụng khác 21
1.3.6 Căn cứ vào việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và những người tham gia tố tụng nói riêng 23
1.3.7 Căn cứ vào tình hình tội phạm, yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong những giai đoạn nhất định 24
1.3.8 Căn cứ vào đặc điểm lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức nơi tội phạm xảy ra hoặc hành vi phạm tội gây thiệt hại 25
1.4 Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự 26
1.5 Lịch sử thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự ở Việt Nam qua các thời kỳ 28
1.5.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960… 29
Trang 71.5.2 Thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự giai đoạn từ năm 1960 đến
năm 1986… 33
1.5.3 Thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2003 35
Chương 2 THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN 2.1 Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án quân sự theo quy định của pháp luật hiện hành 38
2.1.1 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng 38
2.1.2 Thẩm quyền xét xử theo việc 42
2.1.3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ 46
2.1.4 Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử 49
2.2 Thẩm quyền xét xử cụ thể của các Tòa án quân sự 50
2.2.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực 50
2.2.2 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương 54
2.2.3 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Trung ương 60
2.3 Thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự 61
2.3.1 Kết quả thực hiện 61
2.3.2 Một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và nguyên nhân 64
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 3.1 Mục tiêu và ý nghĩa của việc hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 68
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 72
3.2.1 Yều cầu hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự 72
3.2.2 Các kiến nghị cụ thể 72
KẾT LUẬN 85
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, cùng với các Tòa án nhân dân, các Tòa án quân sự được pháp luật quy định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức trong Quân đội Trong phạm vi chức năng của mình, các Tòa án quân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác Bằng hoạt động của mình, các Tòa án quân sự góp phần giáo dục quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng trung thành với Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của Quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
Trong tố tụng hình sự, việc phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án nói chung và của Tòa án quân sự nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, thẩm quyền xét xử được phân định càng rõ ràng, khoa học, càng sát với thực tế bao nhiêu thì càng đảm bảo cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự cho thấy tùy thuộc vào tình hình phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự được quy định khác nhau và có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn xã hội Việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự trong điều kiện đất nước ta hiện nay góp phần tích cực trong quá trình
thực hiện mục tiêu hướng tới “… xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân
chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao…” đúng như Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị đã xác định Bên cạnh việc góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp chung của đất nước thì với thẩm quyền xét xử mà Nhà nước giao cho, các Tòa án quân sự còn thể hiện sức mạnh bảo vệ công lý trong phạm vi đặc thù của mình nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cải cách tư pháp được đề cập trong Nghị Quyết 49-NQ/TW có liên quan
trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Tòa án quân sự là: “Nghiên cứu, xác định
Trang 9hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ
án liên quan đến bí mật quân sự…”
Các Tòa án quân sự là một thiết chế đặc biệt nên bản thân nó có những đặc điểm riêng biệt nhất định Trong tình hình hiện nay và lâu dài, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang tìm cách phá hoại Quân đội, trong đó đưa ra các lập luận nhằm thu hẹp thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự để từng bước làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, tiến tới phi chính trị hóa Quân đội Do vậy, việc củng cố và tăng cường các thiết chế quân
sự, chính trị, trong đó có các cơ quan tư pháp quân sự là đặc biệt cần thiết trong tình hình hiện nay
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của các Tòa án quân sự gắn liền với sự phát triển của Quân đội và là nhân tố không thể thiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ của Quân đội Việc xác định đúng thẩm quyền còn đảm bảo cho các Tòa án quân sự bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, chống lại các quan điểm mập mờ, phá hoại Quân đội của các thế lực thù địch nhằm thu hẹp thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Đồng thời việc xác định đúng đắn thẩm quyền của Tòa án quân sự còn góp phần giúp các Tòa án quân sự thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết về việc lãnh đạo thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp
trong Quân đội đến năm 2020 là: “giữ nghiêm pháp luật Nhà nước, phục vụ tốt yêu
cầu, nhiệm vụ Chính trị, góp phần tăng cường kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội Đồng thời góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước”
Chính do đó, cần phải hiểu rõ thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự để phân biệt với các Tòa án nhân dân nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết các vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác đáp ứng yêu cầu về kinh tế, chính trị và xã hội, đáp ứng yêu cầu bí mật quân sự trong hệ thống Quân đội Đồng thời, việc nghiên cứu hoàn thiện thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự là một trong những yêu cầu của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính Trị Với ý nghĩa đó, tác
giả đã chọn Đề tài: “Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trong tố tụng hình sự
Việt Nam” để làm đề tài tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu cho thấy, thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự là một vấn đề quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn Đó còn là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp Có nhiều tác giả đã nghiên cứu như:
Trang 10- Luận án tiến sĩ “Thẩm quyền trong tố tụng hình sự” – Trường Đại học Luật
Hà Nội năm 2000 của Nguyễn Văn Huyên;
- Luận văn thạc sĩ “Thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự” – Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1998 của Đàm Văn Dũng;
- Luận văn thạc sĩ “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án” – Tp.HCM năm 2007 của Nguyễn Văn Trí;
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam – Tp HCM năm 2008 của Nguyễn Thị Loan
Ngoài ra còn có một số bài báo của một số tác giả viết về vấn đề này
Tuy nhiên, đa số các tác giả chỉ đề cập đến thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trong công trình chung nghiên cứu về thẩm quyền của Tòa án, nên chưa có
độ sâu nhất định Một số bài báo thì chủ yếu phân biệt thẩm quyền Tòa án quân sự với thẩm quyền Tòa án nhân dân trên cơ sở pháp luật hiện hành Có Luận văn thạc
sĩ của Đàm Văn Dũng nghiên cứu tương đối toàn diện về thẩm quyền Tòa án quân
sự, nhưng được thực hiện đã tương đối lâu, trước khi có chiến lược cải cách tư pháp, nên kết quả còn những hạn chế Nhiều vấn đề như căn cứ quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, giải quyết những vướng mắc cụ thể trong thực tiễn …hầu như còn bỏ ngõ về mặt khoa học
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đề tài góp phần bổ sung kiến thức về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
sự - cơ quan xét xử của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức trong Quân đội, một vấn đề mà còn ít có tác giả quan tâm đến Ngoài ra, Đề tài còn có mục đích góp phần hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo
đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong thời gian tới của đất nước
- Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: + Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự;
+ Khái quát lịch sử và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự;
+ Nghiên cứu thực tiễn chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự;
Trang 11+ Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện và nâng cao thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo tinh thần cải cách tư pháp cũng như theo đề án đổi mới tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Quân đội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích, tham khảo chuyên gia
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn
- Về mặt lý luận, với kết quả khiêm tốn mà người nghiên cứu đặt ra ban đầu
và đạt được qua việc nghiên cứu đề tài có thể góp vào lý luận về thẩm quyền xét xử của Tòa án nói chung và thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nói riêng
- Về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với những người làm công tác điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao nhận thức, rút kinh nghiệm về những bất cập, vướng mắc về thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự…
6 Cơ cấu của Luận văn
Trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra và các yêu cầu của một luận văn thạc sĩ Tác giả nghiên cứu thực hiện luận văn với bố cục gồm: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
Phần nội dung gồm 03 chương:
- Chương 1: Nhận thức chung về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
- Chương 2: Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo pháp luật hiện hành
và những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn
- Chương 3: Phương hướng hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Ngoài ra, luận văn còn có phần cam kết của tác giả, danh mục từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án
1.1.1 Khái niệm chung thẩm quyền xét xử về hình sự của Tòa án
Muốn nghiên cứu một vấn đề nào đó, trước hết, chúng ta phải bắt nguồn từ việc tìm hiểu các khái niệm cơ bản Bởi lẽ, lịch sử xã hội đã chứng minh sự phát triển của khoa học phải gắn liền với việc xây dựng hệ thống các khái niệm Khái niệm chính là kết quả của tư duy khoa học và nó cũng là phương tiện để tư duy Do
đó, khi nghiên cứu thẩm quyền xét xử (TQXX) của Tòa án quân sự (TAQS), chúng
ta cũng phải bắt đầu từ việc nghiên cứu TQXX của Tòa án nói chung
Ở bất kỳ một Nhà nước nào, mỗi cơ quan Nhà nước được thành lập ra đều được trao thực hiện những chức năng và nhiệm vụ trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định, phù hợp với những quy định mà pháp luật cho phép Việc các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong khuôn khổ đã xác định được xem là thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Sự phân định thẩm quyền có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thực hiện quyền lực của chính cơ quan, tổ chức
đó Đồng thời, sự phân định thẩm quyền còn có ý nghĩa rất to lớn, ở chỗ nó còn là điều kiện cần thiết đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước đồng bộ, nhịp nhàng, không trùng lấp và không chồng chéo nhau
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Thẩm quyền là quyền xem xét, quyết
định, thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, tư cách về chuyên môn để xem xét, quyết định, người có thẩm quyền khoa học”1 Định nghĩa này cho chúng ta hiểu
thẩm quyền là quyền xem xét, quyết định một vấn đề
Trong tự điển Luật học thì thẩm quyền được ghi nhận là: “quyền chính thức
được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề”2 Như vậy, theo định nghĩa này thì thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho các chủ thể nhất định Các chủ thể đó có thể là cơ quan Nhà nước, người nắm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nhất định trong các cơ quan Nhà nước để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình
Trang 13Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa: “Thẩm quyền là quyền chính thức
được quy định về một vấn đề gì, đưa bản thảo cho nhiều bạn đọc có thẩm quyền”.3
Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Thẩm quyền là quyền kết luận và
định đoạt một vấn đề theo pháp luật Thẩm quyền xét xử của một cấp Tòa án, đề án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tư cách về chuyên môn được thừa nhận để
có ý kiến có tính chất quyết định về một vấn đề, có thẩm quyền về kỹ thuật, hỏi ý kiến những nhà chuyên môn có thẩm quyền”.4
Từ các khái niệm về thẩm quyền được ghi nhận như trên, chúng tôi đồng ý với cách hiểu chung nhất về thẩm quyền như sau: Thẩm quyền là quyền của một người, một cơ quan, tổ chức được xem xét, quyết định, kết luận một vấn đề nào đó thuộc phạm vi nhất định mà pháp luật cho phép5
“Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”6 Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân định một cách rành mạch Theo đó, quyền tư pháp là quyền rất rộng, bao gồm: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án… Các hoạt động thực hiện quyền tư pháp được Nhà nước giao cho các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án … Trong hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp thì Tòa án là nơi thể hiện tập trung nhất quyền lực đó Sự tập trung quyền tư pháp ở Tòa án được chứng minh qua chức năng xét xử của Tòa án Có nghĩa là, kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng do pháp luật quy định, từ đó Tòa án sẽ ra những phán quyết cuối cùng mang tính quyền lực Nhà nước Văn bản pháp quy có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp, theo đó Hiến pháp Việt Nam quy định, việc xét xử chỉ do Tòa án thực hiện Tòa án nhân dân (TAND) tối cao, các Tòa án địa phương, các TAQS và các Tòa án khác do pháp luật quy định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mặc khác, một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình
sự đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 là: “Không ai bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
Trang 14luật” 7 Như vậy, cơ quan Tòa án đã được Nhà nước giao cho nhiệm vụ trung tâm
trong việc thực hiện quyền tư pháp Để thực hiện được vai trò trung tâm đó, Tòa án
đã xác định chức năng chính của mình là xét xử để bảo vệ pháp luật, đảm bảo sự công bằng cho xã hội Do đó, Tòa án có TQXX các vụ án Đây là chức năng đặc thù của Tòa án8 Chỉ có Tòa án mới được thực hiện chức năng xét xử và đưa ra các phán quyết mang tính bắt buộc chung mà không có một cơ quan, tổ chức hoặc người có chức vụ quyền hạn nào có quyền thực hiện hoạt động đó
Xuất phát từ các đặc điểm trên nên TQXX của Tòa án được xem là quyền xem xét quyết định trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật
Như vậy, TQXX của Tòa án được hiểu là quyền chuyên biệt chỉ được trao riêng cho Tòa án Đây là thẩm quyền hoàn toàn khác với thẩm quyền của các cơ quan khác
TQXX là thẩm quyền chung của các Tòa án không phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ Còn TQXX của Tòa án được hiểu là thẩm quyền riêng của từng Tòa
án cụ thể được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, dưới nhiều góc độ, nhưng các tác giả đều thừa nhận khái niệm về TQXX của Tòa án bao gồm các quyền khác nhau của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án Theo tính chất, có thể phân thẩm quyền của Tòa án thành TQXX về hình thức và TQXX về nội dung Đây là hai yếu có mối quan hệ chặt chẽ
và tác động qua lại với nhau một cách biện chứng tạo nên thẩm quyền của Tòa án Theo đó:
TQXX về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét (giới hạn của xét xử) của Tòa án9
TQXX về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét10 Để đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét
xử, Nhà nước trao cho Tòa án nhiều quyền năng pháp lý Đó là khả năng mà pháp luật cho phép Tòa án giải quyết các vụ án Hình sự, Dân sự, Kinh doanh – Thương mại, Lao động, Hành chính Tòa án thực hiện quyền xét xử đối với các lĩnh vực trên, bởi lẽ, pháp luật quy định chỉ có duy nhất Tòa án mới có chức năng xét xử
Trang 15Khi thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn trong thẩm quyền của mình, Tòa án có quyền đưa ra các phán quyết Các phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
Trong lĩnh vực hình sự, quy định về TQXX của các Tòa án ở mỗi quốc gia cũng khác nhau TQXX phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: bộ máy tổ chức của các cơ quan tư pháp, năng lực Thẩm phán, điều kiện kinh tế xã hội… Ở nước ta hiện nay, các Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ nên việc phân định TQXX cũng có sự phụ thuộc Theo đó, pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định: TAND cấp huyện và TAQS khu vực chỉ có TQXX sơ thẩm còn các TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu vừa có TQXX sơ thẩm, vừa có TQXX phúc thẩm, và thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Đối với TAND tối cao và TAQS Trung ương thì chỉ có TQXX phúc thẩm và thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm So với quy định của một số nước trên thế giới, đặc biệt là pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và
hệ thống pháp luật án lệ thì quy định về TQXX ở Việt Nam và các nước có sự khác nhau Mặc dù, có sự khác nhau cơ bản trong việc quy định TQXX của Tòa án trong luật tố tụng hình sự của mỗi nước, nhưng nhìn chung việc quy định TQXX điều phải căn cứ vào một số dấu hiệu nhất định của vụ án Thông thường, các nhà làm luật căn cứ vào nhiều nhóm dấu hiệu để phân định TQXX của Tòa án Có thể tổng hợp các dấu hiệu đó thành những nhóm sau11:
- Nhóm những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm:
những dấu hiệu này được đánh giá ở cả hai góc độ của luật hình sự lẫn luật tố tụng hình sự Theo nội dung nhóm dấu hiệu này cho thấy, tội phạm càng nghiêm trọng, càng phức tạp thì đòi hỏi cấp Tòa án và người xét xử phải có năng lực Nhóm dấu hiệu này còn gọi là TQXX theo việc Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt thẩm quyền của TAND cấp huyện với TAND cấp tỉnh và TQXX của TAQS khu vực với TAQS cấp quân khu
- Nhóm những dấu hiệu về không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm:
như địa điểm thực hiện tội phạm hay hành vi tố tụng Nhóm dấu hiệu này còn gọi là TQXX theo lãnh thổ Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt TQXX của các Tòa án cùng cấp
- Nhóm những dấu hiệu liên quan đến người phạm tội: theo nhóm dấu hiệu
này thì tùy theo người phạm tội là quân nhân hay dân thường mà phân biệt TQXX
11
Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr 107
Trang 16của TAQS hay TAND Nhóm dấu hiệu này còn được gọi là TQXX theo đối tượng hay là TQXX theo người phạm tội Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt TQXX giữa TAQS và TAND, giữa TAQS các cấp với nhau và xác định thẩm quyền của Tòa án đặc biệt
Để xác định TQXX của Tòa án nói chung và TQXX của TAQS nói riêng bắt buộc chúng ta phải xác định đồng thời ba nhóm dấu hiệu nêu trên Bởi vì, chỉ trên
cơ sở xem xét kỹ từng nhóm dấu hiệu, mới có thể xác định TQXX được chính xác Nếu bỏ qua một dấu hiệu nào mà không được xem xét tới thì có thể dẫn đến xét xử sai thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự
Ngoài ra, để xác định TQXX của Tòa án theo các cấp xét xử khác như: xét
xử phúc thẩm, giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm… cần phải căn
cứ vào tính pháp lý của thủ tục xét xử đó
Dựa trên các khái niệm về thẩm quyền, khái niệm về TQXX của Tòa án, các nhóm dấu hiệu để phân định TQXX vụ án hình sự trong tố tụng hình sự, TQXX
hình sự của Tòa án có thể được hiểu như sau: TQXX về hình sự là quyền của Tòa án
được xét xử vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trên cơ sở về tính nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, tính phức tạp của vụ án, không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng hoặc đặc điểm nhân thân của người phạm tội
1.1.2 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
Hiện nay, pháp luật nước ta chỉ quy định cho TAQS được xét xử các vụ án hình sự Các vụ án liên quan mà có đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết của TAQS nhưng không phải là các vụ án hình sự thì cũng không thuộc thẩm quyền của TAQS Có nghĩa là, các TAQS không có TQXX các vụ án Dân sự, Kinh doanh – Thương Mại, Lao động, Hành chính Với đặc điểm riêng như thế nên các TAQS chỉ
có TQXX các vụ án hình sự Do đó, việc tìm hiểu thế nào là TQXX của các TAQS phải căn cứ trên cách hiểu TQXX về hình sự của Tòa án đã được trình bày ở phần trên
Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức TAQS thì: “Các Tòa án quân sự là
những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thuộc hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức trong Quân đội”12 Vì vậy, xác định thẩm quyền của TAQS không nằm ngoài các tiêu chí để xác định TQXX về hình sự của Tòa án nói chung Dựa trên các cơ sở xác định TQXX về hình sự của Tòa án nói
12
Điều 1 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002
Trang 17chung kết hợp với các dấu hiệu đặc trưng về đặc điểm nhân thân của người phạm tội
và tính chất thiệt hại do tội phạm gây ra cho Quân đội, chúng ta có thể hiểu TQXX của TAQS
Để xác định được TQXX của TAQS, trước hết cần tìm hiểu các dấu hiệu làm căn cứ quan trọng cho việc phân biệt TQXX giữa TAQS với TAND cũng như giữa các TAQS với nhau Các căn cứ cụ thể là:
- Căn cứ vào chức năng xã hội của người phạm tội, nhà làm luật phân biệt TQXX chung của TAQS với TAND Có nghĩa là, các TAQS có TQXX các vụ án
hình sự mà người phạm tội là: “quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc
phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị Quân đội trực tiếp quản lý” 13
- Căn cứ vào cấp bậc, chức vụ của người phạm tội, nhà làm luật phân biệt TQXX của các TAQS các cấp khác nhau Đây có thể xem là một điểm đặc trưng về TQXX của TAQS mà các TAND không có Ví dụ: TAQS khu vực chỉ có TQXX về những tội phạm theo quy định của Bộ Luật hình sự (BLHS) mà bị cáo khi phạm tội
có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống
- Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội hoặc hậu quả của tội phạm, nhà làm luật cũng phân biệt TQXX chung của TAQS với TQXX chung của TAND Điều này có nghĩa là, tội phạm do bất kỳ đối tượng nào thực hiện mà liên quan đến
bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội đều thuộc TQXX của TAQS
Tóm lại, dựa trên khái niệm TQXX về hình sự của Tòa án nói chung, những đặc điểm mang tính đặc thù của TAQS như đã phân tích, TQXX của TAQS có thể
được hiểu như sau: TQXX của TAQS là quyền của TAQS được xét xử vụ án hình sự
do quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị Quân đội trực tiếp quản
lý, những người phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội
13
Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002
Trang 181.2 Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền xét xử
Nghị quyết của Bộ Chính Trị đã đánh giá tình hình công tác tư pháp trong thời gian qua, xác định quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Trong đó xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án là:
“Khi xét xử Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật,
có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” 14 Đây là cơ sở nhằm tạo
ra sự chuyển biến quan trọng trong tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp Để phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng nhu cầu của công cuộc cải cách kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quán triệt quan điểm của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Ban Chấp hành Trung ương
đã xác định mục tiêu cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW như sau:
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” 15 Do đó, việc xác định đúng về TQXX của các Tòa án có ý
nghĩa rất quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp Phân định hợp lý TQXX của các Tòa án nói chung và TQXX của TAQS có các ý nghĩa sau:
- Thứ nhất, xác định đúng TQXX sơ thẩm vụ án hình sự của các Tòa án nói chung và của các TAQS nói riêng là tiền đề để xác định TQXX theo các thủ tục tố tụng khác Bởi vì, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là lần đầu tiên vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ của người thực hiện hành vi phạm tội, người bị hại, người làm chứng và những người có liên quan khác16 Trên những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, Tòa án là cơ quan đại diện
14
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 2 tháng 1 năm 2002 Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp thời gian tới
Trang 19Nhà nước xem xét đánh giá, những chứng cứ đã có, đồng thời Tòa án thu thập thêm các chứng cứ cần thiết khác qua hoạt động xét xử tại phiên tòa để từ đó Tòa án ra bản án và quyết định phù hợp đúng với quy định của BLHS và Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Đây là lần đầu tiên vụ án được đưa ra giải quyết nên có thể một
số phán quyết về vụ án sẽ không đáp ứng được yêu cầu của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng Vấn đề xét xử phúc thẩm và giải quyết bằng các thủ tục khác như: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm sẽ được đặt ra Khi xác định đúng TQXX cấp sơ thẩm sẽ tiền đề quan trọng để xác định TQXX phúc thẩm và thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm Bởi lẽ, pháp luật tố tụng hiện nay quy định TQXX phúc thẩm và thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định cho các Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án xét xử cấp sơ thẩm tiến hành Có nghĩa là, bản án sơ thẩm của TAQS khu vực bị kháng cáo, kháng nghị thì TAQS cấp quân khu có TQXX phúc thẩm Đối với những bản án sơ thẩm của TAQS khu vực đã có hiệu lực pháp luật nếu bị kháng nghị thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc về Ủy ban Thẩm phán TAQS cấp quân khu Tương tự, TAQS Trung ương có TQXX phúc thẩm vụ án hình
sự mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật của TAQS cấp quân khu và tương đương
bị kháng cáo, kháng nghị Đồng thời, TAQS Trung ương có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những vụ án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
- Thứ hai, xác định đúng TQXX thuộc về Tòa án nào thì sẽ xác định đúng thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra, thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát17 Bởi vì, trong hoạt động tố tụng, TQXX của Tòa án có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác Mối quan hệ này được thể hiện rõ nhất thông qua các hoạt động điều tra
vụ án hình sự Có thể nói, TQXX là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra và thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát Vì Pháp lệnh điều tra hình
sự quy định TQXX của TAQS là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra trong Quân đội Như vậy, chỉ khi xác định được TQXX thuộc về Tòa
án nào thì mới có thể xác định được thẩm quyền điều tra và thẩm quyền truy tố Với cách suy ngược này cho thấy TQXX của Tòa án nói chung và TQXX của TAQS nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự
- Thứ ba, để xác định đúng đắn TQXX của một vụ án hình sự, chúng ta phải kết hợp rất nhiều tiêu chí làm căn cứ cho việc xác định TQXX, đảm bảo cho hoạt động tố tụng có hiệu quả Kết hợp các tiêu chí như: TQXX theo việc, TQXX theo
17
Mai Văn Lư (2003), “Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự”, Tạp chí Kiểm sát, (Số 7)
Trang 20đối tượng, TQXX theo lãnh thổ… để xác định TQXX giữa TAQS và TAND, đồng thời còn phân biệt TQXX của TAND các cấp cũng như phân biệt TQXX của TAQS các cấp Điều này đảm bảo cho hoạt động xét xử của các Tòa án hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả tránh sự rối loạn, chồng chéo lẫn nhau
- Thứ tư, xác định TQXX hợp lý, đúng đắn còn thúc đẩy nhanh các tiến trình
tố tụng tiết kiệm thời gian, không để xảy ra tình trạng một vụ án hình sự kéo dài thời gian do xác định sai thẩm quyền phải hủy án để xét xử lại… Ngoài ra, còn tránh việc bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các quy phạm pháp luật khác Bên cạnh đó, xác định TQXX chính xác, khoa học còn giảm chi phí cho Nhà nước
- Thứ năm, xác định đúng TQXX đảm bảo cho các Tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ mà Nhà nước đã giao cho Từ đó, giúp cho các Tòa án xét xử đúng đắn, khách quan vụ án18, bảo vệ chế độ, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản Nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Riêng đối với các TAQS ngoài các ý nghĩa trên, việc xác định đúng thẩm quyền còn đảm bảo cho các TAQS bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, chống lại các quan điểm mập mờ, phá hoại Quân đội của các thế lực thù địch nhằm thu hẹp TQXX của TAQS Đồng thời việc xác định đúng đắn thẩm quyền của TAQS còn góp phần giúp các TAQS thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết về việc lãnh đạo thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp trong
Quân đội đến năm 2020 là:“giữ nghiêm pháp luật Nhà nước, phục vụ tốt yêu cầu,
nhiệm vụ Chính trị, góp phần tăng cường kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội Đồng thời góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước” 19
1.3 Những căn cứ để phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án
Dưới góc độ lập pháp, nhà làm luật căn cứ vào rất nhiều tiêu chí để phân định TQXX của Tòa án nói chung và TQXX của TAQS nói riêng Qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trực tiếp
Trang 21hoặc gián tiếp nghiên cứu về vấn đề những căn cứ để phân định TQXX của Tòa án
Đa số các ý kiến thường dựa vào các căn cứ để lập luận cho việc kiến nghị về hoàn thiện TQXX của Tòa án các cấp như:
- Tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm;
- Tình hình tội phạm, thực tiễn xét xử và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm;
- Trình độ chuyên môn và năng lực xét xử của người tiến hành tố tụng;
- Hiệu quả kinh tế của hoạt động tố tụng;
- Sự đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng…
Có thể nhận định, TQXX của Tòa án các cấp được quy định không phù hợp
sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực như: hạn chế chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự, số lượng án phân bổ không đồng bộ dẫn đến tồn đọng, chí phí hoạt động tư pháp cao, thậm chí vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân… Đối với các Tòa án trong Quân đội có thể làm suy giảm kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, làm ảnh hưởng đến bí mật quân sự… Vì vậy, việc nghiên cứu các tiêu chí
để từ đó xác định đúng đắn TQXX của TAND và TAQS có ý nghĩa quan trọng
Đã có nhiều căn cứ đưa ra, nhưng đa số các ý kiến tập trung vào căn cứ trình
độ, năng lực của Thẩm phán, số lượng án tồn đọng hàng năm ở Tòa án các cấp để
đề nghị phân định thẩm quyền Thiết nghĩ, việc phân định TQXX chỉ dựa trên cơ sở
về tổ chức, con người thôi là cần thiết nhưng chưa đầy đủ mà còn phải căn cứ trên nhiều yếu tố khác nữa Trên cơ sở các căn cứ này nhà làm luật căn nhắc để tìm ra một phương án tối ưu kết hợp được tính hợp lý của các căn cứ để phân định TQXX của Tòa án20 Bởi lẽ, các căn cứ càng cụ thể, càng chi tiết thì việc phân định TQXX càng chính xác
Khi phân định thẩm quyền của các TAQS ngoài việc dựa vào các căn cứ phân định TQXX của Tòa án nói chung, các nhà làm luật còn phải dựa vào các đặc điểm có tính đặc thù của Quân đội nói riêng Trên cơ sở đó việc phân định TQXX của các TAQS mới chính xác
Có thể dựa vào các căn cứ sau đây để phân định TQXX:
20
Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr 108
Trang 221.3.1 Căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
Trong BLTTHS hiện nay, các nhà làm luật đã xây dựng TQXX theo hướng căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm Có nghĩa là, vụ án hình sự càng nghiêm trọng thì đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có năng lực càng cao Đánh giá tính nghiêm trọng của tội phạm được xem xét ở hai khía cạnh:
- Về mặt thực tế: tội phạm đã gây ra hậu quả gì cho xã hội hoặc đe dọa gây ra hậu quả gì?
- Về mặt xã hội: tính nghiêm trọng đó được xem xét trong những hoàn cảnh điều kiện xã hội của từng giai đoạn nhất định
Hành vi tội phạm xâm hại đến những quan hệ xã hội, khách thể quan trọng càng gây nguy hại lớn cho xã hội thì tội phạm càng nghiêm trọng Tính nghiêm trọng của tội phạm được thể hiện qua mức độ chế tài quy định với tội phạm đó21 Có nghĩa là, tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc Do đó, quy định cho Tòa án và Thẩm phán có năng lực cao giải quyết những vụ án thuộc loại nghiêm trọng là hoàn toàn phù hợp và có cơ sở
Cùng với việc căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm, khi phân định TQXX còn phải căn cứ vào tính phức tạp của từng loại tội phạm Theo đó, tính phức tạp của tội phạm được xem xét cả dưới góc độ luật hình sự và luật tố tụng hình
sự Dưới góc độ luật hình sự tính phức tạp của tội phạm được xem xét ở khách thể tội phạm và đường lối xử lý đối với tội phạm đó Còn dưới góc độ tố tụng hình sự, tính phức tạp của tội phạm được xem xét ở khả năng điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Thông thường thì tội phạm nghiêm trọng là phức tạp, tội phạm ít nghiêm trọng là đơn giản Tuy nhiên, cũng có trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng lại phức tạp Có thể thấy tính nghiêm trọng và tính phức tạp của tội phạm là hai khái niệm không đồng nhất Do đó, việc phân định TQXX phải đồng thời căn cứ vào tính nghiêm trọng và tính phức tạp của tội phạm
Tính phức tạp của tội phạm được xem xét ở nhiều khía cạnh:
- Về chủ thể tội phạm: Đối với những tội phạm do chủ thể đặc biệt thực hiện như: tội phạm do người nước ngoài, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện, việc xét xử nhiều phức tạp nên cần phải quy định thuộc TQXX của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp quân khu; phạm tội do những người có cấp bậc, chức vụ cao trong Quân đội thực hiện phải do TAQS cấp cao xét xử…
21
Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.108
Trang 23- Về khả năng chứng minh tội phạm và người phạm tội: Đó là những tội phạm có ranh giới rất gần với các tội đặc biệt nghiêm trọng Ví dụ: tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Khi xét xử các tội trên nếu có sự sai sót trong đánh giá chứng
cứ, đánh giá các tình tiết của vụ án thì có thể chuyển sang tội giết người có khung hình phạt cao nhất là tử hình Hoặc những trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho Quân đội, phạm tội trong các khu vực cấm, liên quan đến bí mật Quân sự thì việc chứng minh tội phạm có liên quan nhiều đến Quân đội không nên để TAND xét xử
mà thuộc TQXX của TAQS Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002, đã quy định thường dân phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội thuộc TQXX của TAQS22 Vì thế, các tội này phải do các cơ quan tiến hành tố tụng có khả năng, điều kiện trong chứng minh tội phạm, đánh giá chứng cứ mới đảm bảo tính chính xác, khách quan của vụ án
So sánh các quy định trong BLHS của nước ta qua các thời kỳ cho thấy: Điều 145 BLTTHS năm 1988 quy định về TQXX không dựa trên căn cứ vào việc phân loại tội phạm mà dựa trên quy định hình phạt trong BLHS để xác định Theo
đó, TQXX của TAND cấp huyện và TAQS khu vực là những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ bảy năm tù trở xuống… Điều 170 BLTTHS hiện hành thì khi quy định về TQXX có sự thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức Điều này
có nghĩa là, tính nghiêm trọng và tính phức tạp của tội phạm là căn cứ để quy định TQXX, loại tội phạm trong BLHS Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các nhà làm luật đã chia tội phạm thành
4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức thì quy định TQXX cũng cần dựa vào sự phân loại tội phạm trong BLHS
Pháp luật tố tụng hình sự nước ta hiện nay đã căn cứ vào tính nghiêm trọng
và phức tạp của tội phạm được thể hiện trong các điều luật của BLHS để quy định TQXX cho Tòa án các cấp Tuy nhiên, cũng không loại trừ những trường hợp nhà làm luật chưa dự liệu hết tính phức tạp của một vụ án cụ thể trong các quy định chung Ví dụ, các vụ án có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều cấp, nhiều ngành;
vụ án mà người thực hiện tội phạm là cán bộ chủ chốt cấp huyện, là người có chức sắc trong tôn giáo hoặc uy tín cao trong dân tộc ít người, là người nước ngoài… là những vụ án phức tạp khi xét xử Vì vậy, đồng thời với việc quy định TQXX căn cứ
22
Điều 3 Pháp lệnh Tổ chức TAQS năm 2002
Trang 24vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm đã được thể hiện trong luật hình sự, BLTTHS cũng quy định cho Tòa án cấp trên có quyền lấy vụ án thuộc TQXX của Tòa án cấp dưới lên để xét xử
1.3.2 Căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung, các
cơ quan tư pháp nói riêng, vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng
BLTTHS hiện nay căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan Nhà nước, các
cơ quan tư pháp, vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng để quy định TQXX của Tòa án là hoàn toàn phù hợp Bởi các lý do sau:
- Nhà nước ta hiện nay được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyền lực Nhà nước là thống nhất không phân chia, nhưng có phân công rành mạch giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây là sự phân công hợp lý nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, lẫn lộn giữa ba quyền, đảm bảo hoạt động nhịp nhàng, đồng
bộ của cả bộ máy Nhà nước thực hiện quyền lực tập trung của Nhà nước Trong nội
bộ bộ máy Nhà nước có sự phân công rành mạch Đó là sự phân công cho cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các
cơ quan này đều do Quốc hội hoặc cơ quan quyền lực địa phương bầu ra Tất cả các
cơ quan này hợp thành hệ thống cơ quan Nhà nước và được tổ chức từ Trung ương đến địa phương Hiến pháp năm 1992 quy định các đơn vị hành chính của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: “Nước chia thành
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh
và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường;…” 23 Dựa theo sự phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ, cơ quan quyền lực và hành chính được tổ chức từ Trung ương đến cấp xã (phường) Riêng hệ thống cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra) chỉ tổ chức đến cấp huyện, quận mà không xuống đến cấp xã (phường) Theo cách tổ chức này các Tòa án bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện Ngoài ra, ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, ngoài hệ thống Tòa án chung, các TAQS cũng được tổ chức trong thời chiến cũng như trong thời bình Hiện nay, bên cạnh hệ thống TAND còn có các TAQS Các TAQS được tổ chức trên cơ sở cách tổ chức hệ thống TAND Theo đó, các TAQS bao gồm: TAQS Trung ương, TAQS cấp quân khu và tương đương, TAQS khu vực Các TAQS với cách tổ chức cũng cơ bản theo đơn vị hành chính lãnh thổ quân sự Tuy nhiên, do
23
Điều 118 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trang 25tính đặc thù của Quân đội và khách thể mà các TAQS bảo vệ nên cách tổ chức các TAQS Hải quân chỉ đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc đơn vị hành chính quân sự mà chưa đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc lãnh thổ Cũng do tính đặc thù Quân đội mà cách thức tổ chức các TAQS cũng có những đặc trưng riêng rất đáng chú ý Điều này có nghĩa là, ở một góc độ nào đó các TAQS khu vực đã được tổ chức không chỉ theo nguyên tắc lãnh thổ hành chính quân sự, mà còn theo nguyên tắc khu vực Các TAQS khu vực đảm nhận việc xét xử trên địa bàn nhiều tỉnh đối với các vụ án do nhiều Cơ quan điều tra, nhiều Viện kiểm sát khác nhau điều tra, truy tố Xuất phát
từ chức năng hoạt động, các Tòa án mặc dù được tổ chức theo đơn bị hành chính lãnh thổ, nhưng quan hệ giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới chỉ được xem xét dưới góc độ hành chính tổ chức còn về góc độ tố tụng thì quan hệ giữa TAND tối cao với các Tòa án cấp tỉnh, giữa Tòa án cấp tỉnh với TAND cấp huyện, giữa TAQS Trung ương với TAQS cấp quân khu, giữa TAQS cấp quân khu và tương đương với TAQS cấp khu vực là quan hệ theo thẩm quyền do luật định Tòa án cấp trên hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Tòa án cấp dưới, nhưng không có quyền bắt buộc Tòa án cấp dưới về việc xét xử đối với một vụ án cụ thể Theo quyền hạn của mình, các Tòa án có TQXX và ra bản án, quyết định một cách độc lập Các bản án hoặc quyết định có thể bị kháng cáo, kháng nghị sẽ được xét xử lại theo trình tự xét
xử phúc thẩm, hoặc theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Với cách tổ chức và mối quan hệ giữa các Tòa án như trên, đảm bảo cho các Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
TQXX của Tòa án được coi là cơ sở tiền đề để xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra và thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát Mỗi vụ án có được xét xử tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào kết quả điều tra Vì vậy, quy định TQXX phải tính đến khả năng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để có
sự phù hợp về thẩm quyền giữa ba cơ quan tiến hành tố tụng
1.3.3 Căn cứ vào năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm và những người tiến hành tố tụng
Việc xét xử ở Tòa án được tiến hành bởi Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án là
cơ quan Nhà nước được thành lập để bảo vệ công lý, bảo vệ sự công bằng xã hội Vì thế, cán bộ ngành Tòa án, trong đó đặc biệt là Thẩm phán và Hội thẩm cần đáp ứng yêu cầu về lập trường chính trị Họ phải là người nắm vững đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, là những người có trình độ chuyên môn về pháp luật cũng như đạo đức nghề nghiệp Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngành Tòa án là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng xét xử
Trang 26các vụ án hình sự, là yếu tố đảm bảo việc thực thi đúng các quy định của pháp luật vào thực tiễn
Thẩm phán là những người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử Trong hoạt động xét xử, để đưa ra được một phán quyết phù hợp với pháp luật đáp ứng được sự mong đợi của người tham gia tố tụng và của xã hội nói chung, đòi hỏi người Thẩm phán phải tinh thông về nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết rộng và có khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống Ngoài các kiến thức sâu rộng về mặt pháp lý, người Thẩm phán còn cần các kiến thức về tâm sinh lý của con người và các kiến thức về kinh tế, văn hóa, ngoại ngữ, tin học để có năng lực trình độ toàn diện mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ Đội ngũ Thẩm phán là một bộ phận của đội ngũ tư pháp và là bộ phận của đội ngũ công chức nước ta Do đó, đội ngũ Thẩm phán luôn mang bản lĩnh chính trị của người cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và có tinh thần kiên quyết đấu tranh bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý Chỉ có một trình độ chuyên môn nhất định, Thẩm phán mới độc lập trong xét xử, không chịu một tác động nào từ bên ngoài mà vẫn có niềm tin nội tâm để căn cứ vào pháp luật ra những phán quyết đúng đắn Trình độ chuyên môn cùng với kinh nghiệm thu được từ thực tiễn xét xử tạo thành năng lực của người Thẩm phán Những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp cần phải giao cho những người xét xử có trình độ, năng lực cao, có kinh nghiệm24 Đối với đội ngũ Thẩm phán trong các TAQS, ngoài các tiêu chuẩn chung về bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sạch, có năng lực và kinh nghiệm chuyên môn tốt, hiểu biết nhiều lĩnh vực còn phải am hiểu về kiến thức quân sự Điều này đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Nhà nước và nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm trong Quân đội
Thẩm phán là người trực tiếp tiến hành các hoạt động xét xử, là người nhân danh Nhà nước đưa ra những phán quyết quan trọng ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị của một con người cụ thể Vì thế, có thể nói, hoạt động xét xử vụ án hình
sự của Tòa án tốt hay xấu, có chất lượng cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn của Thẩm phán Do vậy, việc căn cứ vào trình độ năng lực của cán bộ làm công tác xét xử để phân định TQXX của Tòa án là một trong những căn cứ cơ bản cần được coi trọng
24
Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.108
Trang 27Theo pháp luật nước ta hiện nay, khi quy định tiêu chuẩn về chức danh Thẩm phán, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 phân biệt Thẩm phán các cấp căn cứ vào thâm niên công tác và năng lực xét xử Thẩm phán sơ cấp phải có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực xét xử các
vụ án thuộc thẩm quyền của TAND huyện, TAQS khu vực25 Để được bổ nhiệm Thẩm phán trung cấp, thì người đó phải là Thẩm phán sơ cấp ít nhất là năm năm trở lên, có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của TAND tỉnh, TAQS cấp quân khu26 Trình độ chuyên môn, năng lực của Thẩm phán quan hệ khăng khít với TQXX của từng cấp Tòa án Không thể giao cho những Thẩm phán trình độ chuyên môn thấp, năng lực yếu xét xử những vụ án nghiêm trọng, phức tạp Thực tế hiện nay cho thấy, Thẩm phán ở các cấp được đào tạo theo một quy trình như nhau, chỉ khác nhau ở thâm niên công tác, kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, năng lực xét xử của các Thẩm phán ở Tòa án các cấp không
có sự phân biệt một cách rõ rệt
Cùng với chức danh Thẩm phán, các chức danh Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng được quy định rõ trong Pháp lệnh tổ chức Điều tra hình sự và Pháp lệnh về Kiểm sát viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Việc tiêu chuẩn hóa các chức danh của những người tố tụng là điều kiện cần thiết để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ Căn cứ vào trình độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên hiện tại và khả năng công tác của họ mà TQXX của Tòa án các cấp cần được pháp luật quy định cho phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp
Bên cạnh đó, việc phân định TQXX cũng phải căn cứ vào thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện của ngành Tòa án Bởi lẽ, hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện làm việc đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ
án từ khâu điều tra, truy tố đến xét xử, nâng cao hiệu quả, chất lượng làm việc của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng Đặc biệt trong xu thế hội nhập thì việc trang bị tối tân các trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các Tòa án một cách đồng bộ là cấp thiết và tất yếu
1.3.4 Căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền xét xử với các chế định khác của tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, các chế định pháp lý có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Sự hình thành, phát triển của một chế định này luôn tác
Trang 28động đến những chế định khác Là một chế định quan trọng của tố tụng hình sự nên TQXX của Tòa án có liên quan đến nhiều chế định khác Do đó, khi thay đổi TQXX
sẽ tác động đến những chế định đó Sự tác động này có thể theo chiều thúc đẩy nhưng cũng có thể làm hạn chế việc thực hiện các chế định khác, như thẩm quyền điều tra, truy tố, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, sự có mặt của những người tham gia tố tụng khi được triệu tập, thời hạn trong tố tụng… Vì thế, quy định TQXX phải xem xét có thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, cũng như thực hiện các chế định khác hay không Ví dụ: nếu một vụ án thuộc TQXX của TAQS khu vực nhưng được thay đổi thành TQXX của TAQS cấp quân khu và tương đương thì vụ án đó cũng sẽ thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu và thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu Trường hợp này, khi thực hiện các hoạt động tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên sẽ khó khăn hơn Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu phải tiến hành các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ vật chứng ở một địa điểm cách xa trụ sở Cơ quan điều tra rất nhiều lần so với việc Cơ quan điều tra quân sự cấp dưới điều tra
Việc triệu tập người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng khó khăn hơn Vì xa xôi, đi lại mất nhiều thời gian nên có thể họ vắng mặt, Cơ quan điều tra phải triệu tập đến lần thứ hai hoặc phải đến chỗ ở của họ để lấy lời khai Cũng vì xa xôi nên sự tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức xã hội và công dân có hạn chế Nếu vụ án được xét xử ở TAQS khu vực thì sẽ đảm bảo sự tham gia của những người này Vụ án được xét xử ở cấp quân khu, thường có hiện tượng những người làm chứng, người đại diện cho các cơ quan, tổ chức xã hội và một số người tham gia tố tụng khác vắng mặt dẫn đến kéo dài thời gian gây khó khăn cho xét xử Nếu vụ án này thuộc TQXX của TAQS khu vực thì việc đảm bảo sự có mặt của những người tham gia tố tụng sẽ tốt hơn, các thời hạn
tố tụng sẽ có điều kiện thực hiện đúng hơn so với vụ án thuộc TQXX của Tòa án cấp quân khu và tương đương Vì vậy, khi quy định TQXX của Tòa án phải căn cứ vào mối liên hệ với các chế định pháp lý khác của tố tụng hình sự để các chế định đảm bảo tính hiệu quả, khả thi
1.3.5 Căn cứ vào hiệu quả kinh tế của hoạt động xét xử và các hoạt động tố tụng khác
“Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội là nhiệm vụ của tố tụng
Trang 29hình sự”27 Để đạt mục đích này, các cơ quan tiến hành tố tụng được quyền tiến
hành các hoạt động tố tụng Khi tiến hành các hoạt động tố tụng phải tính toán đến hiệu quả kinh tế sao cho vẫn đạt được kết quả nhưng chi phí xã hội thấp Chi phí xã hội bao gồm chi phí của Nhà nước và chi phí của công dân Yêu cầu này được đặt ra ngay khi xây dựng các quy phạm pháp luật Như đã phân tích, TQXX của Tòa án là điều kiện tiên quyết để xác định thẩm quyền điều tra, truy tố nên khi quy định TQXX của Tòa án chẳng những phải tính đến hiệu quả kinh tế của hoạt động xét xử
mà còn phải tính cả hiệu quả kinh tế của hoạt động điều tra, truy tố Có thể xem xét hiệu quả kinh tế của các hoạt động tố tụng trên những vấn đề sau:
- Một là, chi phí cho các hoạt động điều tra Nếu vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện hoặc Cơ quan điều tra hình sự ở khu vực điều tra thì tốn kém ít, nếu do
Cơ quan điều tra cấp quân khu điều tra thì chi phí nhiều hơn;
- Hai là, chi phí cho hoạt động xét xử Nếu vụ án được xét xử ở TAND cấp huyện hoặc TAQS khu vực sẽ chi phí thấp hơn xét xử ở TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu và tương đương Vụ án xét xử ở TAQS khu vực khi có kháng cáo, kháng nghị sẽ do TAQS quân khu xét xử phúc thẩm Việc xét xử phúc thẩm có thể được tiến hành tại trụ sở Tòa án quân khu đó, có thể được xét xử lưu động tại địa bàn nơi xảy ra tội phạm Khoảng cách từ tỉnh hoặc quân khu xuống nơi xảy ra tội phạm cũng không xa nên chi phí đi lại tổ chức phiên tòa xét xử cũng không lớn Nhưng vụ án này nếu do TAQS cấp quân khu xét xử sơ thẩm thì khi có kháng cáo hoặc kháng nghị sẽ do TAQS Trung ương xét xử phúc thẩm Hiện nay, TAQS Trung ương đảm nhận việc xét xử phúc thẩm ở tất cả các quân khu nên chi phí xét
xử sẽ rất tốn kém;
- Ba là, chi phí cho việc đi lại của những người tham gia tố tụng, tổ chức xã hội tham gia vào tố tụng hình sự Vụ án được xét xử ở cấp dưới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những người tham gia tố tụng tham gia phiên tòa
Từ những vấn đề trên đây, có thể thấy rằng vụ án càng được xét xử ở Tòa án cấp thấp hơn thì càng giảm được chi phí của Nhà nước cho các hoạt động điều tra, xét xử cũng như giảm phần chi phí của những người tham gia tố tụng, các tổ chức
và công dân tham gia tố tụng hình sự
27
Điều 1 BLTTHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Trang 301.3.6 Căn cứ vào việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và những người tham gia tố tụng nói riêng
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là do con người, vì con người Do vậy, việc hướng đến mục tiêu giải phóng con người, tôn trọng và bảo vệ con người chính là mục đích nội tại của Đảng và Nhà nước ta Hiến pháp của nước
ta đã khẳng định: “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về
mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân” 28 Vì thế, trước hết cần khẳng định rằng, hệ thống pháp luật Việt
Nam nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, từ việc xây dựng, ban hành,
tổ chức thực hiện, Nhà nước nói chung và từng cơ quan Nhà nước nói riêng đã tính toán đến cơ chế, biện pháp và các yếu tố để tôn trọng và bảo vệ quyền con người Nói cụ thể hơn, khi thiết kế và xây dựng pháp luật tố tụng hình sự, một trong những tiêu chí mà Quốc hội và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác xem xét là bảo
vệ quyền con người Cũng như vậy, trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, Chính phủ, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các cơ quan Nhà nước có liên quan đã áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo quyền con người Cũng thế, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án đều hướng tới mục đích bảo vệ quyền con người Bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một yêu cầu quan trọng khi xây dựng pháp luật Trong tố tụng hình sự, phạm vi các chủ thể cần được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp rất lớn Đó không chỉ là những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án mà còn là những người tham gia tố tụng khác nữa
Khi xây dựng các quy định của BLTTHS nói chung, các quy định TQXX của Tòa án nói riêng cũng phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người Việc quy định một vụ án thuộc TQXX của Tòa án cấp này hay Tòa án cấp khác đều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Chẳng hạn một vụ án nếu quy định thuộc TQXX của Tòa án cấp huyện hoặc TAQS khu vực thì những người tham gia tố tụng có điều kiện tham gia vào các hoạt động tố tụng, có thể ngay ở giai đoạn điều tra Vì không phải đi lại xa, không phải chi phí nhiều nên thường có mặt trong các hoạt động điều tra, xét xử Tại đây họ sẽ trình bày lời khai, đưa ra tài liệu, đồ vật, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Nếu không
28
Điều 3 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trang 31đồng ý với quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, họ có điều kiện khiếu nại ngay các quyết định đó Vì vậy, quyền, lợi ích hợp pháp của họ được đảm bảo hơn Nếu quy định vụ án thuộc TQXX của Tòa án cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu thì việc tham gia các hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng sẽ khó khăn hơn Một số người do nghĩa vụ pháp lý phải tham gia vào vụ án như người giám định, người làm chứng cũng có thể vắng mặt tại phiên tòa Nếu Tòa án vẫn xét xử thì không đảm bảo sự thật vụ án, nếu hoãn phiên tòa thì kéo dài thời gian xét xử ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
Mối liên hệ giữa TQXX với việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng không chỉ đơn thuần là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác mà ở một khía cạnh khác đó là việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động nhạy cảm liên quan đến quyền con người Hơn ở đâu hết, quyền con người trong tố tụng hình sự, nhất là quyền của bị can, bị cáo, dễ bị xâm phạm nhất và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất nghiêm trọng cả về vật chất, thể chất và tinh thần29 Và trong thời đại ngày nay, khi phán xét về quyền con người của một quốc gia, thì ngoài việc xem xét nó trong bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể ra, cộng đồng thế giới còn quan tâm ở vấn đề: trên thực tế, quốc gia đó đã quan tâm đến việc bảo vệ chúng bằng pháp luật như thế nào? Nhà nước đã ghi nhận về mặt hành pháp và bảo vệ về mặt tư pháp ra sao?30 Do đó, bảo vệ quyền con người nói chung và quyền bị can, bị cáo nói riêng trong tố tụng hình sự là vấn đề mang tính sống còn của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, là đại lượng xác định mức độ dân chủ của pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, pháp luật Việt Nam nói chung
Vì vậy, quy định TQXX của Tòa án không thể không tính đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và người tham gia tố tụng nói riêng có được đảm bảo hay không
1.3.7 Căn cứ vào tình hình tội phạm, yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong những giai đoạn nhất định
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội có quan hệ chặt chẽ biện chứng với các hiện tượng xã hội khác Cũng như mọi hiện tượng xã hội, tình hình tội phạm
29
Trần văn Độ (2010), “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự, 97- 119
30
Lê Văn Cảm (2010), “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực
tư pháp hình sự”, Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự, 5-26
Trang 32không ở trạng thái tĩnh tại, bất biến mà thường xuyên biến đổi31 Sự biến đổi về tình hình tội phạm đó làm cho số lượng vụ án thuộc TQXX của các cấp Tòa án cũng thay đổi, có thể tăng lên hoặc giảm đi Ví dụ: qua mỗi giai đoạn cách mạng, tình hình tội phạm nói chung, tội phạm xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói riêng diễn biến với những đặc điểm phức tạp khác nhau Thời kỳ đầu kháng chiến, tội phạm phổ biến là những phần tử cách mạng câu kết với đế quốc xâm phạm nền độc lập dân tộc, âm mưu chống phá chính quyền dân chủ nhân dân Khi cuộc kháng chiến phát triển đến giai đoạn cao, rất ác liệt, các loại tội biểu hiện của
sự dao dộng như sợ gian khổ, hy sinh dẫn đến đầu hàng địch, kháng lệnh hành hung cấp trên, tự ý rút lui trước quân địch không có lý do chính đáng, tự hủy hoại thân thể để trốn tránh nhiệm vụ… lại xuất hiện nhiều Trong điều kiện xây dựng hòa bình những hành vi xâm phạm vũ khí, khí tài, phương tiện kỷ thuật quân sự vì mục đích tư lợi, các dạng tội tham nhũng, buôn lậu xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản của công dân, các tội xâm phạm mối quan hệ nội bộ, quan hệ quân dân phát triển với tính chất phức tạp, nghiêm trọng hơn
Vì vậy, quy định TQXX cũng phải căn cứ vào diễn biến của tình hình tội phạm Chính căn cứ này, cộng với những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà yêu cầu đấu tranh, chống và phòng ngừa tội phạm cũng khác nhau Yêu cầu này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh với tội phạm để phục vụ kịp thời cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Vì thế, khi quy định TQXX của Tòa án phải căn cứ vào các yêu cầu đó Ví dụ: trong thời kỳ đất nước chiến tranh thì các tội phạm phản cách mạng được phân cho các TAQS xét xử, và các TAQS có TQXX theo trình tự sơ thẩm đồng thời chung thẩm để bảo đảm hiệu lực nhanh chóng của bản án phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ thời chiến32
1.3.8 Căn cứ vào đặc điểm lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức nơi tội phạm xảy ra hoặc hành vi phạm tội gây thiệt hại
Đặc điểm lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức nơi tội phạm xảy ra hoặc hành vi tội phạm gây thiệt hại có tác động lớn đến khả năng thực hiện hiệu quả, khách quan hoạt động tố tụng và bảo đảm các lợi ích khác của Nhà nước, của xã hội Ví dụ: tội phạm do bất kỳ ai thực hiện có liên quan đến bí
Tòa án quân sự Trung ương (2005), Lịch sử 60 năm Tòa án quân sự Việt Nam (1945-2005), Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội
Trang 33mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội đều thuộc TQXX của TAQS Điều này
là hoàn toàn hợp lý, bởi vì, các tội phạm này liên quan đến việc bảo vệ bí mật quân
sự bảo đảm an ninh, quốc phòng của Nhà nước ta
Những căn cứ nêu trên liên quan mật thiết và có mối liên hệ qua lại lẫn nhau Những căn cứ đó có thể bổ sung cho nhau nhưng cũng có thể trái ngược nhau Ví dụ: xét về khả năng những người tiến hành tố tụng thì vụ án càng được Tòa án cấp cao hơn xét xử thì càng đảm bảo tính đúng đắn Bởi lẽ, theo các Pháp lệnh quy định
về chức danh Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm thì các cơ quan tiến hành tố tụng cấp cao đòi hỏi đội ngũ những người tiến hành tố tụng có năng lực cao hơn Thế nhưng xét về khía cạnh hiệu quả kinh tế thì vụ án càng được xét xử ở Tòa án cấp thấp hơn càng ít tốn nhiều chi phí
Trên đây là những căn cứ cơ bản để phân định TQXX của Tòa án các cấp hiện nay Các căn cứ này có liên quan mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Những căn cứ đó có thể bổ sung cho nhau nhưng cũng có khi trái ngược nhau Vì vậy, vấn
đề quan trọng là tìm ra được sự kết hợp hợp lý nhất giữa các căn cứ nêu trên để tìm
ra phương án tối ưu nhất trong hoạt động lập pháp Và theo chúng tôi, mục tiêu được ưu tiên trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án các cấp vẫn là thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Điều 1 BLTTHS là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Đối với các TAQS, khi xác định TQXX của các TAQS ngoài những vấn đề chung được nghiên cứu còn phải xuất phát từ đặc điểm của tổ chức và hoạt động của các TAQS nói riêng và của Quân đội nói chung Việc phân định TQXX càng rõ ràng, càng khoa học, càng dựa vào những phân tích nêu trên chừng nào thì nó sẽ là đòn bẩy thúc đẩy trách nhiệm giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới cũng như tránh được sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các Tòa án33
1.4 Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
Bất kỳ quốc gia nào cũng có lịch sử phát triển nhất định với một hệ thống bộ máy Nhà nước và lực lượng Quân đội sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ lợi ích quốc gia Mỗi quốc gia trên thế giới đều có một chế độ chính trị khác nhau với mô hình tổ chức các cơ quan Nhà nước khác nhau, cũng như vai trò và vị trí của Quân đội trong hệ thống chính trị ở mỗi nước cũng khác nhau Vì thế, khi nghiên cứu TQXX của TAQS các nước, chúng ta thấy rằng, ở mỗi nước, TQXX của TAQS được quy
33
Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.110
Trang 34định có sự khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi quốc gia và đặc biệt là việc xác định vai trò, vị trí của Quân đội trong hệ thống chính trị của mỗi nước Theo đó, TQXX của TAQS các nước được xác định theo hai khuynh hướng sau:
- Khuynh hướng quy định thẩm quyền rộng: Có nghĩa là,TQXX của TAQS là
TQXX theo đối tượng Theo đó các đối tượng là: quân nhân, đối tượng khác do Quân đội quản lý, hoặc những đối tượng phạm tội liên quan đến quốc phòng – an ninh thuộc TQXX của TAQS So sánh với các quy định của pháp luật nước ta về TQXX của TAQS cho thấy TQXX của TAQS nước ta có điểm tương đồng với TQXX của TAQS các nước có khuynh hướng quy định thẩm quyền rộng Đại diện cho khuynh hướng này là các nước Trung Quốc, Lào và Cu Ba Những nước có chế
độ chính trị giống với chế độ chính trị ở Việt Nam TQXX của TAQS các nước được quy định như sau:
+ TAQS Trung Quốc có TQXX những vụ án hình sự mà người phạm tội là quân nhân trong quân ngũ, người được hưởng lương từ nguồn ngân sách của Quân đội và các vụ án hình sự khác mà TAND tối cao giao cho TAQS giải quyết Những
vụ án mà TAND tối cao giao cho TAQS giải quyết thường là các vụ án liên quan đến quốc phòng – an ninh Đặc biệt, các TAQS Trung Quốc còn có TQXX các vụ
án dân sự mà đương sự là quân nhân Nhìn lại, pháp luật Việt Nam, vấn đề xét xử các vụ án dân sự mà đương sự là quân nhân được pháp luật quy định thuộc về TQXX của các TAND Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ giao cho TAQS có TQXX các vụ án hình sự, còn các vụ án Dân sự, Hành chính, Lao động, Kinh doanh – Thương mại được giao cho các TAND Đây cũng là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau Đa số các ý kiến đều đồng ý với quan điểm giao cho TAQS thêm thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính trong thời gian tới
+ TAQS Cu Ba có TQXX các quân nhân phạm tội, bao gồm: các quân nhân thuộc lực lượng vũ trang cách mạng và cán bộ, chiến sĩ thuộc Công an và những người khác liên quan đến quốc phòng và an ninh Khi chiến tranh xảy ra thì các TAND sẽ sáp nhập vào TAQS và khi đó TAQS sẽ là cơ quan xét xử duy nhất đảm nhiệm việc xét xử các vụ án với mọi đối tượng phạm tội Các quy định trên cho thấy TQXX của TAQS Cu Ba rất rộng So sánh với TQXX của TAQS Việt Nam, đối tượng là Công an phạm tội thì không thuộc TQXX của TAQS Việt Nam ngoại trừ trường hợp đối tượng là Công an thực hiện tội phạm liên quan bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; còn với Cu Ba thì ngược lại, đối tượng là Công an dù cho phạm bất cứ tội gì cũng thuộc TQXX của TAQS
Trang 35+ TAQS Lào có TQXX giống như TQXX của TAQS Việt Nam Tuy nhiên, các TAQS Lào còn có TQXX các vụ án về bất cứ tội phạm nào được thực hiện trong doanh trại Quân đội
- Khuynh hướng quy định thẩm quyền hẹp: Đại diện cho khuynh hướng này
là các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa Ở các nước này, TAQS chỉ xét xử những quân nhân phạm tội Cụ thể như TAQS Mỹ, TAQS Thái Lan, TAQS Myanmar có TQXX các vụ án hình sự mà bị cáo là sĩ quan, quân nhân thuộc lực lượng vũ trang Tuy nhiên, TQXX của Vương Quốc Anh cũng khá rộng Ngoài những người thuộc biên chế trong lực lượng vũ trang Vương Quốc Anh đóng quân trong nước cũng như ở nước ngoài phạm tội, TAQS Vương Quốc Anh có TQXX cả một số thành phần là dân sự ở ngoài lãnh thổ Vương Quốc Anh như: nhà thầu quân sự, các thành viên của gia đình quân nhân đi cùng đóng quân ở nước ngoài phạm tội
Ngoài ra, ở nhiều nước như Anh, Mỹ, Đức, Nam Phi, Australia… các TAQS còn có thẩm quyền xét kỷ luật đối với quân nhân vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm điều lệnh kỷ luật của Quân đội
Nghiên cứu TQXX của TAQS các nước trên thế giới và so sánh với TQXX của TAQS Việt Nam cho thấy các nước tương đồng về chế độ chính trị với Việt Nam đều quy định TQXX như Việt Nam Thậm chí có nước còn quy định TQXX của TAQS rộng hơn, như Trung Quốc, Cu Ba Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện TQXX của TAQS Việt Nam cần thiết nên tham khảo TQXX của TAQS các nước nêu trên
1.5 Lịch sử thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự ở Việt Nam qua các thời kỳ
Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, khi chính quyền của một giai cấp được hình thành thì việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu Trong đó, việc ban hành pháp luật nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền cùng với việc xây dựng hệ thống Tòa án đóng vai trò rất quan trọng
Ở Việt Nam, trải qua nhiều triều đại, nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, các chính quyền được thành lập đã ban hành pháp luật và tổ chức, hoạt động của Tòa án với những quy mô và đặc điểm khác nhau Sự hoàn thiện của Bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật, các Tòa án ở nước ta nói chung và các TAQS nói riêng ngày càng được cũng cố, tăng cường và phát triển thành một hệ thống thống nhất trong hệ thống Tòa án cả nước Lịch sử TQXX của TAQS ở Việt Nam gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của TAQS Có thể chia TQXX của TAQS thành ba giai đoạn phát triển cơ bản sau đây:
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960;
Trang 36- Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1986;
- Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2003
1.5.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á
Chỉ mười ba ngày sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 13 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 13C/SL thành lập các TAQS trong phạm vi cả nước Sự ra đời của các TAQS trong thời kỳ này đã góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, bảo vệ nền độc lập dân tộc, an ninh chính trị và trật tự xã hội
trước thù trong giặc ngoài Theo Sắc lệnh 13C/SL thì: “Tòa án quân sự sẽ xử tất cả
các người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trừ khi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo đạo luật” 34
Sắc lệnh số 13C/SL thành lập các TAQS là một trong những Sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ lâm thời và là căn cứ cho việc tổ chức các TAQS cách mạng của chính quyền dân chủ nhân dân Trước khi ban hành Sắc lệnh này, việc xử lý những người vi phạm các quy định của Chính phủ lâm thời được giao cho lực lượng giải phóng quân căn cứ vào quân luật xét xử Từ khi ban hành Sắc lệnh số 13C/SL thì việc xử lý những người vi phạm pháp luật đã có một cơ quan của Chính phủ giải quyết, đó chính là các TAQS Ở thời điểm này TAQS là cơ quan xét xử duy nhất, trừng trị kịp thời những phần tử phản cách mạng ngoan cố chống lại chính quyền của nhân dân, đồng thời răn đe những người có hành vi vi phạm pháp luật; đảm bảo cho các Sắc lệnh, quy định của Chính phủ đã được ban hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh
Để kịp thời ngăn chặn những hành động vi phạm, ngày 25 tháng 3 năm 1946 Chính phủ ra Sắc lệnh số 34/NV quy định tổ chức Bộ Quốc Phòng Điều 14 của Sắc
lệnh quy định: “Quân pháp Cục có nhiệm vụ tổ chức các Tòa án Binh và các Tòa
án quân sự” Ngày 22 tháng 5 năm 1946 Chính phủ ra Sắc lệnh số 71/SL ấn định
quy tắc tổ chức Quân đội quốc gia gồm 62 điều Sắc lệnh số 71 chính là cơ sở pháp
lý để hình thành các Tòa án Binh Điều này đã đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra là
34
Điều II, Sắc lệnh 13C/SL ngày 13 tháng 9 năm 1945
Trang 37kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội
Ngày 23 tháng 8 năm 1946 Chính phủ ra Sắc lệnh 163/SL thành lập Tòa án
Binh lâm thời: “Trong khi chờ đợi Sắc lệnh tổ chức Tòa án Binh chính thức được
ban hành, nay lập một Tòa án Binh lâm thời, trụ sở đặt ở Hà Nội” Theo Sắc lệnh
thì Tòa án Binh lâm thời có TQXX các quân nhân và thường dân phạm bất cứ tội gì gây thiệt hại cho Quân đội được quy định trong luật hình chung và các tội được quy định trong Điều thứ 7 Sắc lệnh 163, TQXX cụ thể như sau:
- Thẩm quyền xét xử về đối tượng:
+ Các quân nhân phạm bất kỳ tội gì, trừ những tội vi cảnh thuộc TQXX của Tòa án tư pháp và những thường tội thuộc quyền nghị phạt của các cấp chỉ huy Quân đội;
+ Nhân viên các chuyên ngành chuyên môn trong Quân đội, những người làm cho Quân đội như công nhân, chủ thầu, khi phạm pháp có liên can đến Quân đội;
+ Những người thuộc bất cứ hạn nào mà phạm pháp ở các đồn trại; quân y viện, nhà đề lao binh hoặc một cơ quan nào của Quân đội, hoặc phạm pháp gây thiệt hại đến Quân đội
+ Tự ý rút lui trước quân địch không có cớ chính đáng
+ Tự ý phá hủy cơ quan hoặc vũ khí không có chỉ thị của cấp trên hoặc không phải trong trường hợp bất đắc dĩ
+ Lạm quyền uy hiếp các cơ quan hoặc nhân viên trong các ngành khác của Chính phủ
+ Tuyên truyền để chia rẽ nội bộ
+ Phá hoại việc quốc phòng
Trang 38+ Thông với địch…
Sự ra đời của các Tòa án Binh lâm thời phản ánh sự phát triển của các TAQS Sắc lệnh thành lập các Tòa án Binh lâm thời là cơ sở pháp lý hình thành các Tòa án Binh cũng như các TAQS sau này phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu chiến đấu, xây dựng của Quân đội
Chiến tranh ngày càng lan rộng và ác liệt, chiến trường chia cắt, giao thông liên lạc khó khăn Hoạt động của Tòa án Binh lâm thời không đáp ứng yêu cầu xét
xử kịp thời các vụ án xảy ra trong toàn quân, trong khi tội phạm xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội xảy ra nhiều và đa dạng hơn Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm phải kịp thời, nhất là tại khu vực có chiến sự do yêu cầu chiến đấu rất khẩn trương Việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu phải nghiêm túc, sáng tạo để tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng Vì thế, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội Vụ, Bộ Tư Pháp căn cứ vào Điều 7 Sắc lệnh số 163 ra các Thông tư liên bộ số
11 ngày 26 tháng 12 năm 1946; số 31 ngày 16 tháng 2 năm 1947 và số 60 ngày 28 tháng 5 năm 1947 quy định tổ chức và thẩm quyền của các Tòa án Binh tại mặt trận Theo quy định của các Thông tư này thì các Tòa án Binh tại mặt trận chỉ có TQXX những người phạm tội quả tang (bao gồm quân nhân và dân thường) trong khu vực đang tác chiến về những loại tội: phản quốc, gián điệp, cướp bóc, nhũng nhiễu dân chúng35 Cũng theo quy định của các văn bản này thì các Tòa án Binh tại mặt trận
có TQXX sơ thẩm đồng thời là chung thẩm, có nghĩa là các bản án của Tòa án Binh tại mặt trận sau khi tuyên được đem thi hành ngay, kể cả án tử hình
Theo quy định của pháp luật, cấp trung đoàn trưởng trở lên có quyền lập ra Tòa án để xét xử, nhưng từ cấp trung đoàn trưởng trở lên vi phạm thì chưa có Tòa
án nào giải quyết Do đó, ngày 25 tháng 4 năm 1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 45/SL thành lập Tòa án Binh tối cao Theo đó, Tòa án Binh tối cao có TQXX các quân nhân từ cấp trung đoàn trưởng trở lên và các quân nhân thuộc cơ quan Trung ương phạm vào các tội đã được quy định ở hình luật chung và những tội có tính cách nhà binh được quy định ở Điều 7 Sắc lệnh số 163
Ngày 5 tháng 7 năm 1947 Chính phủ ra Sắc lệnh số 59/SL thành lập Tòa án Binh Khu Trung ương được đặt tại Bộ Quốc Phòng và một nhân viên Bộ tổng chỉ huy làm Hội thẩm, một lục sự Tòa án Binh Khu Trung ương có TQXX các nhân viên phạm pháp thuộc các cơ quan của Bộ Quốc phòng và Bộ tổng chỉ huy, kể cả
35
Tòa án quân sự Trung ương (1997), Lịch sử ngành Tòa án quân sự Việt Nam (1945-1995), Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội
Trang 39các Trung đoàn trưởng trở lên phạm pháp trong địa bàn khu Trung ương36 Sắc lệnh
số 59 quy định hủy bỏ Điều 3 của Sắc lệnh số 45/SL ngày 25 tháng 4 năm 1947 Căn cứ vào điều luật này thì từ khi Sắc lệnh Tòa án Binh Khu Trung ương có hiệu lực, Tòa án Binh tối cao chỉ xét xử các quân nhân từ Trung đoàn trưởng trở lên
Ngày 16 tháng 12 năm 1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 19 thành lập các Tòa
án Binh Khu Theo quy định của Sắc lệnh, ở mỗi khu sẽ thành lập một Tòa án Binh, nhưng xét nếu cần, Bộ trưởng Quốc phòng có thể ký nghị định lập thêm trong khu một hay nhiều Tòa án Binh ở những nơi Quân đội đóng Tòa án Binh Khu có TQXX những quân nhân phạm vào một hay nhiều tội định ở hình luật chung, một hay nhiều tội có tính cách nhà binh được quy định tại Điều 7 Sắc lệnh số 163 ngày
23 tháng 8 năm 1946 Sắc lệnh còn quy định: “Nếu trong một vụ phạm pháp có cả
quân nhân, cả dân thường, việc ấy sẽ do Tòa án Binh hoặc Tòa án quân sự xét xử tùy theo trường hợp về tính cách việc phạm pháp” Đặc biệt trong Sắc lệnh này
thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định và quy định lại, theo đó, TQXX về lãnh thổ được quy định cho phù hợp với tổ chức của các khu vực được Chính phủ quy định Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn, các Tòa án Binh tại mặt trận, các Tòa
án Binh Khu, các Tòa án Binh tối cao, các Tòa án Binh Khu Trung ương đã được thành lập Điều này đã đánh dấu bước phát triển rất quan trọng của cơ quan bảo vệ pháp luật trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của các đơn vị, địa phương trong cả nước Các Tòa án Binh được thành lập gồm ba cấp: Tòa án Binh tối cao, Tòa án Binh Khu và các Tòa án Binh tại mặt trận Các Tòa án Binh này không phải là cơ quan xét xử thường trực, chuyên trách mà chỉ được thành lập khi có vụ việc xảy ra khi có quyết định của người chỉ huy có thẩm quyền Hệ thống Tòa án Binh được tổ chức theo các văn bản pháp luật trên được duy trì cho đến khi ban hành Luật Tổ chức TAND năm 1960
Trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, các Tòa án Binh đã có những kết quả và đóng góp to lớn để bảo vệ thành quả cách mạng, cũng cố và tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước, Nhà nước thành lập các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa đầy đủ và đồng bộ Pháp luật ban hành chưa đầy đủ, cán bộ Tòa án phần lớn là kiêm nhiệm, thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm xét xử nên chất lượng xét xử còn hạn chế và bọc lộ nhiều hạn chế trong hoạt động thực hiện TQXX của mình:
36
Tòa án quân sự Trung ương (1997), Lịch sử ngành Tòa án quân sự Việt Nam (1945-1995), Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội
Trang 40- Một số Tòa án chưa nắm vững TQXX, có vụ lẽ ra thuộc thẩm quyền của Tòa án Binh Khu nhưng Tòa án Binh tại mặt trận xét xử
- Một số Tòa án Binh tại mặt trận xét xử cả những người phạm tội không phải trong trường hợp phạm tội quả tang ở địa điểm đang tác chiến Có vụ đúng ra thuộc thẩm quyền của TAQS nhưng Tòa án Binh lại xét xử và ngược lại
- Chánh án Tòa án Binh đồng thời là người chỉ huy các đơn vị, nên chưa nắm vững các quy định của pháp luật về TQXX Do đó, còn nhầm lẫn giữa thẩm quyền
về xử lý kỷ luật hình chính với thẩm quyền xử lý về hình sự
1.5.2 Thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1986
Trong giai đoạn trước năm 1960, các Tòa án Binh được đánh giá là giữ vững
và phát triển lên một bước nên hiệu quả hoạt động ngày càng cao góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Trên cơ sở Hiến pháp năm
1959, để tăng cường hệ thống chuyên chính, xây dựng nền pháp chế dân chủ nhân
dân, các cơ quan tư pháp được tổ chức lại Hiến pháp năm 1959 quy định: “Tòa án
nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong hệ thống Tòa án nhân dân” Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức
TAND năm 1960 là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng các TAQS trong thời kỳ mới, khẳng định rõ chức năng, vị trí, nhiệm vụ và hệ thống tổ chức riêng Có thể nói, Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu một bước phát triển mới về chất trong tổ chức và hoạt động của Tòa án Binh
Thi hành Hiến pháp và luật đã ban hành, cuối năm 1960, Tổng Quân ủy quyết định tổ chức hai ngành: TAQS và Viện kiểm sát quân sự thay cho hệ thống quân pháp – Tòa án Binh trước đó Theo đó, các TAQS thực hiện chức năng nhiệm
vụ riêng theo các nguyên tắc mà Hiến pháp và Luật tổ chức TAND đã quy định Hoạt động điều tra, công tố trong Quân đội do các ngành bảo vệ, kiểm sát quân sự đảm nhiệm
Giai đoạn này, hệ thống TAQS trong Quân đội được thành lập ở hai cấp, bao gồm: TAQS Trung ương xuống các quân khu, Quân chủng, binh chủng, sư đoàn, lữ đoàn trực thuộc xét cần thiết và ở những nơi cần thiết lập Tòa án cấp tương đương TAQS Trung ương được thành lập để thay thế Cục quân pháp đảm nhiệm công tác xét xử và công tác hành chính tư pháp Tòa án Binh Khu không còn gọi là Tòa án Binh như trước mà gọi là TAQS TAQS quân khu có TQXX giống như các Tòa án