1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở việt nam

111 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Quang Thuần
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Hữu Nghị
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 853,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thể chế, Luật Xây dựng 2003 đã từng bước hoàn thiện theo hướng qui định rõ quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được quán xuyến xuyên suốt từ khâu khảo sát, thiết kế, thi c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỖ QUANG THUẦN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH

XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60.38.50

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHẠM HỮU NGHỊ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Đỗ Quang Thuần, học viên lớp Cao học khóa 9 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và thông tin nêu trong luận văn là trung thực Các dữ liệu, luận điểm được trích dẫn đầy đủ nếu không thuộc ý tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân tôi

Tác giả luận văn

ĐỖ QUANG THUẦN

Trang 3

1.4 Công trình xây dựng và bảo hành công trình xây

1.2.1 Các quan hệ phát sinh trong quá trình bảo hành công trình xây

dựng và nhu cầu điều chỉnh pháp

Trang 4

3.2.1.Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công việc

bảo hành công trình xây

dựng

70

3.2.2 Sửa đổi và bổ sung việc phân cấp công trình xây dựng theo qui

định của Luật xây

dựng

72

3.2.3 Sửa đổi, bổ sung việc qui định mức tiền bảo hành công trình cho

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hoá đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu phục vụ đời sống của con người Hàng năm, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 20 - 25% GDP Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm vì nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người nhất là khi công trình đã được nghiệm thu, đưa vào khai thác sử dụng

Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đã có nhiều tiến bộ Chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi đạt chất lượng cao, góp phần quan trọng vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, chất lượng cao cũng còn không ít các công trình không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, gây tốn kém cả về kinh phí lẫn thời gian cho việc sửa chữa, khắc phục

Chất lượng công trình xây dựng vì vậy phải được đặt lên hàng đầu Về

mặt thể chế, Luật Xây dựng 2003 đã từng bước hoàn thiện theo hướng qui định rõ quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được quán xuyến xuyên suốt từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp, bảo hành và bảo trì công trình Trong đó bảo hành công trình xây dựng là sự yêu cầu bắt buộc theo luật pháp đối với nhà thầu thi công xây dựng hoặc cung ứng thiết bị công trình trong một thời gian tối thiểu nhất định (gọi là thời hạn bảo hành) về chất lượng của sản phẩm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Nhà thầu có nghĩa vụ thực hiện sửa chữa các hư hỏng do mình gây ra trong thời hạn bảo hành Theo Luật Xây dựng 2003 1 nhà thầu thi công xây dựng công trình có trách nhiệm bảo hành công trình; nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm bảo hành thiết bị công trình Nội dung bảo hành công trình bao

1

Luật Xây dựng số 11/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội

Trang 7

gồm khắc phục, sửa chữa, thay thế thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết hoặc khi công trình vận hành, sử dụng không bình thường do lỗi của nhà thầu gây ra Thời gian bảo hành công trình được xác định theo loại và cấp công trình và do Chính phủ quy định cụ thể

Việc hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng sẽ góp phần quản lý chất lượng công trình xây dựng từ lúc lập dự án đầu tư đến lúc đưa dự

án vào vận hành, khai thác Chủ đầu tư cũng như nhà thầu thi công sẽ phải chịu trách nhiệm rõ ràng hơn, với mức chi phí hợp lý hơn và thời hạn bảo hành công trình an toàn hơn, phù hợp với các điều kiện kỹ thuật và mức đầu

tư giá trị công trình Đây là một thay đổi rất quan trọng về luật pháp nhằm tạo

ra sự thay đổi về nhận thức Chất lượng công trình xây dựng là yếu tố quan trọng trước hết, không chỉ mang đến sự hài lòng cho người thụ hưởng mà còn bảo đảm bền vững cho sự phát triển

Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng qui định chặt chẽ không chỉ đơn thuần mang lại lợi ích về kinh tế, mà hơn thế là vì con người Như sự hài lòng của người sử dụng, sự đảm bảo cho việc phát triển bền vững của môi trường, vẻ đẹp công trình và đô thị tất cả yếu tố đó của pháp luật bảo hành công trình xây dựng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.2

Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về bảo hành công trình

xây dựng ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu về bảo hành công trình, nhất

là về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam Ở góc độ này hay góc độ khác, mới chỉ có một vài bài viết về các khía cạnh pháp lý của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng có liên quan đến bảo hành công trình

Trong nhận thức của nhiều người, khái niệm "chất lượng" chỉ hạn hẹp

xoay quanh tính bền vững của công trình Cách hiểu về chất lượng như vậy là

không sai nhưng hoàn toàn chưa đầy đủ Sự tồn tại trong nhận thức của không

ít người dân, thậm chí ở cả một số người làm công tác quản lý nhà nước về

2

Cục Giám định nhà nước về Chất lượng Công trình xây dựng (2007), “Quản lý chất lượng công

trình - Cần thay đổi từ nhận thức”, Trang web Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng - http://cucgiamdinh.gov.vn

Trang 8

xây dựng tại các Bộ, ngành, địa phương đang là một thực tế Do vậy ở một số nơi, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng mới tập trung vào từng công đoạn mà thiếu một cái nhìn bao quát

Nội hàm của quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm nhiều tiêu chí xuất hiện xuyên suốt trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, từ khâu chuẩn

bị dự án đến thi công xây lắp, kể cả công tác bảo hành, bảo trì trong thời gian

sử dụng 3

Vì vậy trong thời gian qua, nhất là kể từ khi Luật Xây dựng ra đời năm

2003 đã có một số bài viết, đề tài liên quan đến vấn đề quản lý chất lượng công trình xây dựng hoặc đề câp những vấn đề liên quan đến pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng, giám sát thi công,… Tuy nhiên, các công trình đó chưa nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống những vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng, cũng như pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam, những nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hành công trình xây dựng, nhất là chưa có công trình nào đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hành công trình xây dựng, để trên cơ sở đó chỉ ra các yêu cầu, điều kiện, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hành công trình xây dựng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng và thực tiễn của việc bảo hành các công trình xây dựng ở Việt Nam do Luật Xây dựng Việt Nam năm 2003 điều chỉnh Trên cơ sở đối chiếu thực tiễn áp dụng với quy định của pháp luật về vấn đề thời hạn bảo hành, mức tiền bảo hành và trách nhiệm các bên về bảo hành công trình xây dựng,

đề tài xác định những vấn đề cần làm sáng tỏ và hoàn thiện

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng Từ đó đề xuất những

3

PGS TS Trần Chủng (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng Nền

tảng để hội nhập quốc tế”, Tạp chí Xây dựng (1), tr 15

Trang 9

giải pháp hoàn thiện những qui định về bảo hành công trình xây dựng nhằm nâng cao việc quản lý chất lượng công trình xây dựng, bảo đảm lợi ích hợp pháp cho chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng lẫn nhà thầu thi công xây dựng công trình; đồng thời tạo môi trường pháp lý hoàn thiện để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đảm bảo ổn định xã hội, tăng cường sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế và chất lượng cuộc sống của con người

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Tiếp cận cơ sở lý luận của việc bảo hành công trình xây dựng, các yếu

tố chi phối pháp luật bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam;

- Tiếp cận những quy định của pháp luật hiện hành về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam, những vấn đề thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng và những vấn đề bất cập đặt ra;

- Đưa ra một số giải pháp tổng thể và các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hành công trình xây dựng trong hoạt động xây dựng ở đất nước ta

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được viết trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và những chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước là bảo vệ chất lượng công trình xây dựng nhằm mục tiêu phát triển bền vững;

Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn đã sử dụng phương pháp suy luận, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu để nghiên cứu đề tài

Ngoài ra phương pháp kế thừa cũng được sử dụng như một cách thức nhằm tiếp thu một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu về pháp luật bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam trong điều kiện nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Các kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể được sử dụng làm tài liêu tham khảo trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào pháp luật về bảo hành công trình xây dựng Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham

Trang 10

khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng, pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng và pháp luật về quản lý và đầu tư xây dựng ở Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và ứng dụng các quy định về bảo hành các công trình xây dựng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được bố trí trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng và pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

1.1 Công trình xây dựng và bảo hành công trình xây dựng

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của

con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế

Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác 4

Bảo hành công trình là sự yêu cầu bắt buộc theo luật pháp đối với nhà

thầu xây dựng công trình trong một thời gian tối thiểu nhất định (gọi là thời hạn bảo hành) về chất lượng của sản phẩm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Nhà thầu xây dựng bao gồm nhà thầu thi công xây dựng công trình có trách nhiệm bảo hành công trình; nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm bảo hành thiết bị công trình, các nhà thầu này có nghĩa vụ thực hiện sửa chữa các hư hỏng do mình gây ra trong thời hạn bảo hành 5

Theo Luật Xây dựng năm 2003 và Điều 29, Chương 4 của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành hướng dẫn về quản lý chất lượng công trình xây dựng quy định việc bảo hành công trình xây dựng được thực hiện tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng đã hoàn thành để đưa vào sử dụng và được quy định:

 Thời gian bảo hành công trình xây dựng:

- Các loại công trình đặc biệt, cấp I được bảo hành không ít hơn 24 tháng

- Các loại công trình còn lại được bảo hành không ít hơn 12 tháng

Trang 12

 Mức tiền bảo hành công trình xây dựng được quy định:

Nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm nộp tiền bảo hành vào tài khoản của chủ đầu tư với:

- Mức 3% giá trị hợp đồng đối với công trình hoặc hạng mục công trình xây dựng thuộc loại công trình cấp đặc biệt, cấp I;

- Mức 5% giá trị hợp đồng đối với công trình hoặc hạng mục công trình xây dựng đối với các loại công trình xây dựng còn lại

Nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình chỉ được hoàn trả tiền bảo hành công trình:

- Sau khi kết thúc thời hạn bảo hành

- Được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành

 Trách nhiệm của các bên trong việc bảo hành công trình được quy định: Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm:

- Kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng để yêu cầu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng sửa chữa, thay thế

- Giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa của nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng

- Xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình Nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm:

- Tổ chức khắc phục ngay sau khi có yêu cầu của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình;

- Phải chịu mọi phí tổn khắc phục;

- Từ chối bảo hành công trình xây dựng và thiết bị hư hỏng khi không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ hay sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành.6

6

Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Trang 13

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

1.2.1 Các quan hệ phát sinh trong quá trình bảo hành công trình xây dựng và nhu cầu điều chỉnh pháp luật

Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện

dưới tác động điều chỉnh của các qui phạm pháp luật Quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở qui phạm pháp luật, mà nội dung của qui phạm pháp luật phản ánh ý chí của nhà nước 7

Nhằm đảm bảo cho các hoạt động xây dựng có trật tự, theo định hướng của nhà nước và để quản lý có hiệu quả hoạt động xây dựng, Luật Xây dựng quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng mà các tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng phải tuân theo.8 Theo đó, căn cứ điều 72 của Luật xây dựng 2003 một trong các điều kiện để khởi công xây dựng công trình là phải có hợp đồng xây dựng

Trong hoạt động xây dựng, hợp đồng xây dựng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng

Hợp đồng xây dựng là văn bản pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng; Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký kết có hiệu lực pháp luật; Các tranh chấp chưa được thoả thuận trong hợp đồng thì giải quyết trên cơ sở qui định của pháp luật có liên quan 9

Quan hệ pháp luật nảy sinh khi các bên gồm tham gia vào quan hệ hợp đồng bao gồm bên giao thầu là chủ đầu tư hoặc tổng thầu hoặc nhà thầu chính

và bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là chủ đầu tư; là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính

Trang 14

Tùy theo qui mô, đặc điểm, tính chất của từng công trình, từng gói thầu, từng công việc và từng loại hợp đồng xây dựng cụ thể mà hợp đồng xây dựng

có thể bao gồm toàn bộ hay một phần các nội dung cơ bản sau:

 Thông tin về hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng;

 Các định nghĩa và diễn giải; luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng;

 Loại tiền thanh toán;

 Khối lượng công việc;

 Giá hợp đồng xây dựng;

 Tạm ứng hợp đồng xây dựng;

 Thanh toán hợp đồng xây dựng;

 Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng;

 Tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành công việc;

 Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng;

 Quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận thầu;

 Quyền và nghĩa vụ chung của bên giao thầu;

 Nhà thầu phụ do chủ đầu tư chỉ định (nếu có);

 Quản lý chất lượng công trình xây dựng;

 Nghiệm thu các công việc hoàn thành;

 Bảo hiểm và bảo hành công trình;

 Bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ;

 Điện, nước và an ninh công trường;

 Trách nhiệm đối với các sai sót;

 Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi bên giao thầu và bên nhận thầu;

 Rủi ro và trách nhiệm;

 Bất khả kháng;

 Thưởng, phạt vi phạm hợp đồng ;

 Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng;

 Quyết toán hợp đồng xây dựng;

Trang 15

 Thanh lý hợp đồng xây dựng 10

Điều 76 Luật Xây dựng 2003 qui định quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thi công xây dựng công trình, trong đó có nghĩa vụ là bảo hành công trình xây dựng

Như vậy nghĩa vụ bảo hành công trình là điều khoản bắt buộc trong tất

cả các hợp đồng xây dựng, được xác định từ khi ký kết hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu 11

Nhờ thông qua quan hệ hợp đồng mà nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng của chủ thể ký kết hợp đồng là bên nhận thầu được xác lập gắn với điều kiện đảm bảo chất lượng công trình sau khi đưa vào sử dụng

Khi hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng, chủ đầu

tư và nhà thầu xây dựng phải tiến hành nghiệm thu hạng mục công trình hoặc

công trình xây dựng để đưa vào sử dụng Tại thời điểm này, biên bản nghiệm

thu hạng mục công trình hoặc nghiệm thu công trình xây dựng để đưa vào sử dụng là căn cứ để phát sinh quan hệ pháp luật bảo hành công trình

Biên bản nghiệm thu hạng mục công trình hoặc nghiệm thu công trình xây dựng đóng vai trò trung gian giữa quy phạm pháp luật với quan hệ pháp luật Ở đây, biên bản nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng không làm nhiệm vụ cá biệt hoá quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể mà làm nhiệm vụ xác nhận sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí làm căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể Đương nhiên hoạt động áp dụng pháp luật

đó lại làm xuất hiện quan hệ pháp luật cụ thể khác là trách nhiệm bảo hành công trình khi chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng và yêu cầu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng sửa chữa, thay thế Mặt khác, văn bản đó cũng có thể làm nhiệm vụ cá biệt hoá quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể ngay cả khi nó không là văn bản áp dụng pháp luật

Trang 16

Vì vậy ngay cả trong việc bảo hành công trình xây dựng cũng cần đòi hỏi qui định rõ trong hợp đồng xây dựng giữa bên giao thầu là chủ đầu tư và bên nhận thầu là các nhà thầu thi công xây dựng các điều khoản liên quan đến việc bảo hành công trình xây dựng, nó thể hiện ý chí của các chủ thể hợp đồng, nhưng các thõa thuận giữa các chủ thể đòi hỏi phải tuân thủ qui phạm

pháp luật điều chỉnh về việc bảo hành công trình xây dựng ghi tại Điều 82

Luật Xây dựng 2003 và cụ thể hóa bằng Điều 29, Chương 4 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành hướng dẫn về quản lý chất lượng

công trình xây dựng

Theo đó, qui định: Bên nhận thầu xây dựng công trình bao gồm: nhà thầu thi công xây dựng công trình có trách nhiệm bảo hành công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm bảo hành thiết bị công trình, các nhà thầu này có nghĩa vụ thực hiện sửa chữa các hư hỏng do mình gây ra trong thời hạn bảo hành và được quyền từ chối bảo hành công trình xây dựng

và thiết bị hư hỏng khi không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc chủ đầu tư

vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo

dỡ hay sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành 12

Như vậy khi chủ đầu tư kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng

để yêu cầu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng

sửa chữa, thay thế thì đồng thời cũng phải xác định tình trạng công trình xây

dựng và thiết bị hư hỏng phải do lỗi của nhà thầu gây ra

Điều 80 Luật Xây dựng 2003 qui định về việc Nghiệm thu, bàn giao công trình xây dựng:

1 Việc nghiệm thu công trình xây dựng phải thực hiện các quy định sau đây:

a) Tuân theo các quy định về quản lý chất lượng xây dựng công trình;

b) Nghiệm thu từng công việc, từng bộ phận, từng giai đoạn, từng hạng mục công trình, nghiệm thu đưa công trình vào sử

12

Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Trang 17

dụng Riêng các bộ phận bị che khuất của công trình phải được nghiệm thu và vẽ bản vẽ hoàn công trước khi tiến hành các công việc tiếp theo;

c) Chỉ được nghiệm thu khi đối tượng nghiệm thu đã hoàn thành

và có đủ hồ sơ theo quy định;

d) Công trình chỉ được nghiệm thu đưa vào sử dụng khi bảo đảm đúng yêu cầu thiết kế, bảo đảm chất lượng và đạt các tiêu chuẩn theo quy định

……

4 Chủ đầu tư xây dựng công trình có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu, tiếp nhận công trình xây dựng Người tham gia nghiệm thu, bàn giao công trình phải chịu trách nhiệm cá nhân

về sản phẩm do mình xác nhận trong quá trình thi công xây dựng công trình và bàn giao công trình xây dựng.”

Luật Xây dựng 2003 đã qui định khá chặt chẽ công tác quản lý chất lượng công trình Theo tinh thần của Luật Xây dựng 2003 thì công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được quán xuyến xuyên suốt từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp, bảo hành và bảo trì công trình 13

Do các qui định khá chặt chẽ trong Luật Xây dựng 2003 nhằm đảm bảo quản lý chất lượng công trình nên trong thực tế, khi công trình bị hư hỏng sau một thời gian đưa dự án vào khai thác sử dụng, các nhà thầu thi công và nhà thầu cung ứng thiết bị thường vin vào lý do công trình xây dựng đã được

nghiệm thu đưa vào sử dụng khi bảo đảm đúng yêu cầu thiết kế, bảo đảm chất lượng và đạt các tiêu chuẩn theo quy định nên tình trạng công trình xây dựng

và thiết bị hư hỏng không phải do lỗi của nhà thầu gây ra

Ngược lại chủ đầu tư thì cho rằng việc quản lý chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công xây lắp là do nhà thầu thi công chịu trách nhiệm Nhà thầu phải tự xây dựng kế hoạch chất lượng để tự giám sát chất lượng thi công Họ phải kiểm tra chất lượng vật liệu, chất lượng sản phẩm

13

TS Bùi Ngọc Toàn (2006), “Chất lượng và quản lý chất lượng giai đoạn trước thi công dự án

xây dựng công trình”, Tạp chí Giao thông vận tải, (12)

Trang 18

Chỉ khi nào nhà thầu khẳng định chất lượng thi công đảm bảo theo thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật thì mới yêu cầu tổ chức nghiệm thu Như vậy nhà thầu là người chịu trách nhiệm chính và trước tiên về chất lượng công việc mình hoàn thành Yêu cầu của quy định mới về quản lý chất lượng công trình xây dựng đòi hỏi nhà thầu phải tổ chức lại để quản lý tốt hơn về chất lượng tránh mọi rủi ro xảy ra để không bị chi phí đền bù, không gây những thiệt hại sinh mạng và giữ được uy tín cho đơn vị

Việc xác định vị trí của quan hệ pháp luật trong cơ chế điều chỉnh pháp luật sẽ chính xác và đầy đủ hơn nếu xem xét quan hệ pháp luật ở sự thống nhất giữa hình thức pháp lí với nội dung thực tế Hiểu theo nghĩa này, vị trí của quan hệ pháp luật bảo hành công trình xây dựng được lí giải như một mắt xích, một khâu giữa quy phạm pháp luật về bảo hành công trình xây dựng và các quan hệ thực tế do quy phạm pháp luật điều chỉnh Những quan hệ về bảo hành công trình xây dựng đòi hỏi phải được chi tiết hoá một cách đầy đủ hơn

về trách nhiệm của các bên trong việc bảo hành công trình Do các quan hệ thủ tục (quan hệ hình thức) đòi hỏi phải chính xác mới bảo đảm tính đúng đắn cho quan hệ nội dung nên việc pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ là hết sức cần thiết, như việc xác định lỗi do nhà thầu gây ra khi công trình xây dựng bị hư hỏng thường không qui định chặt chẽ trong các văn bản qui phạm pháp luật về bảo hành công trình xây dựng nên việc bảo hành công trình thường xác định không rõ ràng, xảy ra tranh cãi và kéo dài giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng, thậm chí nếu giá trị sửa chữa bảo hành công trình xây dựng cao hơn số tiền bảo hành công trình bị giữ lại thì các nhà thầu xây dựng tìm cách từ chối bảo hành công trình, chấp nhận “bỏ của chạy lấy người” Việc này thường làm cho việc khắc phục, sửa chữa bảo hành công trình kéo dài, gây thiệt hại đến lợi ích của người thụ hưởng sản phẩm xây dựng và lợi ích của cả cộng đồng

Vì vậy nhu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

phù hợp với sự phát triển hiện nay là một nhu cầu bức thiết

Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo hành công trình xây dựng xuất phát

từ những nguyên nhân chủ yếu là sự bùng nổ về kinh tế, từ yêu cầu của sự

Trang 19

phát triển không ngừng cả về lượng và chất của ngành xây dựng góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn trên toàn quốc, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từ xu thế phát triển để hội nhập quốc tế và từ sự bất cập của hệ thống các quy định pháp luật về quản

lý chất lượng công trình xây dựng và bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam

1.2.2 Mô hình điều chỉnh pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

Điều chỉnh pháp luật là việc nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật,

sử dụng các phương tiện pháp lý đặc thù để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các quan hệ xã hội theo phương hướng nhất định Điều chỉnh pháp luật là hoạt động của nhà nước thực hiện trong việc định ra luật, ban hành luật pháp để đáp ứng nhu cầu mà pháp luật cần điều chỉnh 14

Hệ thống các biện pháp pháp luật tác động đến quan hệ xã hội, bao gồm toàn bộ những mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành: chủ thể pháp luật, quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lí Thông qua đó, các

bộ phận cấu thành của quá trình điều chỉnh pháp luật liên kết với nhau trong quan hệ pháp luật cụ thể với những quyền và nghĩa vụ nhất định Nếu pháp luật là một hiện tượng tĩnh, thì cơ chế điều chỉnh pháp luật là một trạng thái động, cho phép thấy rõ các quan hệ pháp luật được hình thành và được thực hiện như thế nào

Cơ chế điều chỉnh pháp luật không thể thiếu quan hệ pháp luật với tính cách là yếu tố hiện thực hoá nội dung, yêu cầu của quá trình điều chỉnh pháp luật Việc ban hành quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội đã làm cho quan hệ xã hội mang tính pháp lí, nghĩa là tạo ra cho các bên tham gia quan hệ đó các quyền và nghĩa vụ pháp lí Nội dung của quy phạm thể hiện rõ nội dung, yêu cầu và mục đích của quá trình điều chỉnh Với tính cách là hình thức đặc thù của việc thực hiện quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật có vai trò làm cho nội dung quy phạm có tính thực tế Thông qua hành vi thực hiện

14

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.432.

Trang 20

quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể quan hệ pháp luật, các quy định pháp luật đi vào đời sống hiện thực 15

Bảo hành công trình là sự yêu cầu bắt buộc theo luật pháp đối với nhà

thầu xây dựng công trình trong một thời gian tối thiểu nhất định (gọi là thời

hạn bảo hành) về chất lượng của sản phẩm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng

vì vậy cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hành công trình xây dựng chính là điều chỉnh pháp luật về quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn công trình xây dựng đã được nghiệm thu hoàn thành và đưa vào sử dụng

Nhìn chung nội dung điều chỉnh pháp luật thể hiện ở ba khả năng: cho phép, bắt buộc hoặc cấm đoán đối với chủ thể Nội dung điều chỉnh pháp luật

về bảo hành công trình xây dựng theo Luật Xây dựng 2003 và qui định tại Điều 29, Chương 4 của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành hướng dẫn về quản lý chất lượng công trình xây dựng mang tính bắt buộc có thể diễn ra dưới hai khả năng:

1 Buộc chủ thể là nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình phải xác lập hành vi mới:

- Tổ chức khắc phục ngay sau khi có yêu cầu của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình;

- Phải chịu mọi phí tổn khắc phục;

2 Buộc hành vi đã thiết lập trong quan hệ pháp luật phải đảm bảo những yêu cầu nhất định:

- Từ chối bảo hành công trình xây dựng và thiết bị hư hỏng khi không phải

do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ hay sử dụng thiết

bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành

Đối với khả năng thứ nhất, chủ thể là nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình không được từ chối mà phải chủ động thực hiện bảo đảm tính hợp pháp cả về nội dung, hình thức vì đó là nghĩa vụ pháp lí Việc thi hành pháp luật của chủ thể sẽ làm nảy sinh quan hệ pháp luật trên

15

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.443.

Trang 21

thực tế Đối với khả năng thứ hai thì vai trò của quan hệ pháp luật đã được

nhận diện, nghĩa là nội dung điều chỉnh pháp luật đã được hiện thực hoá

thông qua quan hệ pháp luật Như vậy đối với hai khả năng trên, quan hệ pháp

luật có vai trò khác nhau một cách căn bản trong việc hiện thực hoá nội dung,

yêu cầu điều chỉnh pháp luật

Quan hệ pháp luật có vai trò định hướng, hỗ trợ việc xác lập trật tự và

bảo đảm cho sự vận động và phát triển của các quan hệ xã hội trong đời sống

Cơ chế điều chỉnh pháp luật không tồn tại ngoài cơ chế điều chỉnh xã hội

Trong quá trình tác động tới các quan hệ xã hội, các yếu tố của cơ chế

điều chỉnh pháp luật cần tìm ra sự tương hợp với các phương tiện điều chỉnh

khác nhằm nâng cao vai trò định hướng các hoạt động xã hội

Thông qua sự tồn tại, vận động của quan hệ pháp luật, các quan hệ xã hội

khác cũng có thể được bảo vệ khỏi bị xâm hại và phát huy được giá trị xã hội

đích thực của mình Vì vậy, ghi nhận các nguyên tắc pháp lí cơ bản nhằm

định hướng cho việc thiết lập các quan hệ pháp luật có vai trò tích cực là sự

đòi hỏi quan trọng không chỉ bảo vệ chính hệ thống quan hệ pháp luật mà còn

bảo vệ cả hệ thống quan hệ xã hội nói chung

Thi công xây dựng

Tự giám sát của nhà thầu xây dựng Giám sát và nghiệm thu của chủ đầu tư Giám sát tác giả của nhà thiết kế

Khai thác công trình

Bảo hành công trình:

Chủ đầu tư kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng và giám sát nghiệm thu

Trang 22

công việc khắc phục, sửa chữa (Xem phụ lục: Biểu đồ quan hệ giữa các bên trong thi công công trình xây dựng)16

1.3 Các yếu tố chi phối pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

Pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, do vậy, pháp luật sẽ bị chi phối bởi những đặc trưng của các quan hệ xã hội mà nó điều

chỉnh Trong quan hệ bảo hành công trình xây dựng có nhiều yếu tố ảnh

hưởng đến hoạt động bảo hành công trình, có thể tổng hợp các yếu tố này thành 2 nhóm chủ yếu là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong

1.3.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài

Bao gồm nhu cầu của hoạt động bảo hành công trình và sự phát triển hội nhập quốc tế của ngành xây dựng

1.3.1.1 Nhu cầu của hoạt động bảo hành công trình xây dựng

Hoạt động bảo hành công trình xây dựng là hoạt động đảm bảo chất lượng công trình xây dựng khi công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho thị trường lại không yêu cầu đảm bảo chất lượng Do vậy ở bất cứ công trình xây dựng nào, với mục đích

sử dụng gì chất lượng công trình bao giờ cũng là yêu cầu cần có trong mọi hoạt động thi công xây dựng, cần có trong mọi quan hệ hợp đồng thi công xây dựng Dù cấp và loại công trình nào đi nữa, thì công việc bảo hành công trình xây dựng cũng phải tuân theo các qui định của pháp luật do Nhà nước ban hành

Các thỏa thuận về bảo hành công trình giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng thông qua bản hợp đồng thi công giữa hai bên đều phải tuân theo Luật Xây dựng và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng đã ban hành

Bước chuyển quan trọng đầu tiên cần nhắc tới là nhận thức của xã hội về

vị trí hàng đầu của chất lượng công trình xây dựng Luật Xây dựng và các văn

16

PGS TS Cao Duy Tiến, TS Nguyễn Hồng Hà (2006), “Các phương thức về quản lý chất lượng

công trình”, Tạp chí Khoa học Công nghệ XD, (2).

Trang 23

bản hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng thể hiện rõ sự biến chuyển nhận thức

đó

Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành hướng dẫn về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối với chất lượng công trình xây dựng Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng dần dần đi vào nề nếp Nhận thức trong toàn

xã hội là đảm bảo chất lượng công trình nhất là trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác sử dụng, chủ đầu tư phải kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng, yêu cầu nhà thầu thi công khắc phục sửa chữa, đồng thời giám sát nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa Nhà nước phải tạo được môi trường pháp lý và kỹ thuật để chủ đầu tư thực hiện đầy đủ các quyền của mình Việc kiểm tra phải được thực hiện theo đúng nội dung và thẩm quyền nhằm cưỡng chế các chủ thể thực hiện đầy đủ về nội dung và trình tự quy định trong công tác bảo đảm chất lượng công trình xây dựng theo pháp luật

Từ nhiệm vụ cụ thể đó, phương thức quản lý của chính quyền tuân theo nguyên tắc là người "xây dựng luật, hướng dẫn và giám sát cuộc chơi" Để thực thi chức năng của cơ quan quản lý nhà nước, cùng với tiến trình cải cách hành chính, lĩnh vực quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng đã được đổi mới và xác định rõ hai cấp quản lý ở trung ương và ở các địa phương

1.3.1.2 Sự phát triển và hội nhập quốc tế của ngành xây dựng

Năm 2007 là năm đầu nền kinh tế nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, hội nhập đầy đủ, toàn diện vào nền kinh tế thế giới tạo ra những cơ hội mới, thuận lợi mới cũng như những thử thách mới, sức cạnh tranh mới Việt Nam đã chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới là cơ hội nhưng cũng là những thử thách rất khó khăn đối với ngành xây dựng

Những kết quả mà ngành xây dựng đạt được là: quản lý nhà nước rõ ràng, minh bạch hơn; diện mạo đô thị đã thay đổi, theo hướng văn minh, hiện đại hơn; khoa học công nghệ xây dựng tiên tiến, trên một số lĩnh vực đã đạt trình độ quốc tế và khu vực, bước đầu hình thành thị trường khoa công nghệ xây dựng;

Trang 24

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, 4 tháng đầu năm 2008 có 210

dự án đầu tư nước ngoài (FDI) được cấp mới với tổng số vốn đăng ký 7,22 tỷ USD, tăng gần 53% so với cùng kỳ năm trước Thêm vào đó, có 64 lượt dự án tăng thêm vốn đầu tư, nâng tổng vốn đầu tư nước ngoài vào VN xấp xỉ 7,6 tỷ USD Trong số đó, đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm 8,9% với nhiều dự án đầu tư xây dựng qui mô lớn có giá trị từ vài trăm triệu USD lên đến 1 tỷ USD17

Với yêu cầu phát triển và đổi mới để hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi chúng ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, ngày 11/12/2007 vừa qua, Bộ Xây dựng đã ban hành Chương trình hành động của ngành để thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới Trong Chương trình hành động này, Bộ đã đề ra các công việc cụ thể cho từng đơn vị trong

Bộ và địa phương thực hiện từ nay cho đến năm 2012 xoay quanh các nội dung trọng tâm về:

- Xây dựng, rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật của ngành Xây dựng cho phù hợp với thông lệ quốc tế;

- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về WTO trong toàn ngành; rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của ngành để khắc phục sự chồng chéo, không phù hợp với các cam kết WTO;

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, các tiêu chuẩn, quy chuẩn ngành Xây dựng cho phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với qui mô các dự án, công trình đầu tư tài chánh lớn lẫn kỹ thuật tiên tiến

Một trong các thay đổi lớn về công tác giám sát công trình xây dựng đối với các công trình xây dựng có quy mô lớn là sử dụng đội ngũ giám sát công trình chuyên nghiệp thông qua các công ty tư vấn giám sát xây dựng.18

Trang 25

Cơ chế sử dụng tổ chức tư vấn chuyên giám sát thi công xây dựng đã được Luật Xây dựng 2003 quy định là chế độ bắt buộc và những người tham gia công tác giám sát thi công xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề đã hình thành một nghề mới trong danh mục nghề của ngành xây dựng

Năm 2003, Mạng kiểm định chất lượng công trình xây dựng được hình thành Từ ngày hình thành mạng (26/10/2003), các thành viên mạng kiểm định đã từng bước hoàn thiện mô hình hoạt động và thống nhất nội dung phương thức kiểm định chất lượng "đầu vào", đánh giá chất lượng "đầu ra"

Vì lẽ đó, mô hình chuyên nghiệp hoá công tác giám sát thi công xây dựng có ý nghĩa như chìa khoá cho mô hình quản lý chất lượng theo thông lệ quốc tế Và với mô hình quản lý chất lượng này, chủ đầu tư không còn trực tiếp kiểm tra phát hiện các hư hỏng và giám sát việc sửa chữa mà hợp đồng giao cho các công ty tư vấn giám sát chịu trách nhiệm thực hiện phần việc này trong suốt thời hạn bảo hành công trình theo luật định

1.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong

Nhóm các yếu tố bên trong là các yếu tố trong phạm vi của việc quản lý chất lượng công trình liên quan đến bảo hành công trình xây dựng sau này Đây là các yếu tố cơ bản quyết định đến việc quản lý chất lượng của một công trình xây dựng Các yếu tố bao gồm:

- Kiểm tra tình trạng công trình, phát hiện hư hỏng

để yêu cầu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng sửa chữa, thay thế

Trang 26

- Giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa của nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng

- Xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình

Nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết

bị công trình có trách nhiệm:

- Tổ chức khắc phục ngay sau khi có yêu cầu của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình;

- Phải chịu mọi phí tổn khắc phục;

- Từ chối bảo hành công trình xây dựng và thiết bị

hư hỏng khi không phải do lỗi của nhà thầu gây ra

hoặc chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ

quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ hay sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành

Đối với hoạt động bảo hành công trình, nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình chỉ có trách nhiệm bảo hành công trình khi công trình xây dựng hoặc thiết bị hư hỏng do chính lỗi của nhà thầu gây ra

và có quyền từ chối bảo hành công trình khi chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ quan nhà nước buộc tháo dở hay sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành

Việc xác định lỗi trong bảo hành công trình là rất khó khăn do quy trình của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng hết sức chặt chẽ Theo tinh thần của Luật Xây dựng thì công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được quán xuyến xuyên suốt từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp, bảo hành và bảo trì công trình

Đặc biệt trong giai đoạn thi công xây lắp, nhà thầu phải tự xây dựng kế hoạch chất lượng để tự giám sát chất lượng thi công Công tác quản lý chất lượng giai đoạn xây lắp thể hiện thông qua công tác nghiệm thu chặt chẽ

Trang 27

Trong công tác nghiệm thu, Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định 3 bước nghiệm thu là: 19

Bước 1: Nghiệm thu công việc xây dựng Xong công việc trước mới

triển khai tiếp công việc sau

Ví dụ, khi muốn đổ sàn bê tông công trình phải trải qua các bước nghiệm thu: nghiệm thu ván khuôn sàn xong mới gia công thép sàn; gia công thép sàn xong sẽ tổ chức nghiệm thu phần gia công thép sàn; đồng thời phải kiểm tra vật liệu, vật tư để chuẩn bị đổ bê tông; trước khi đổ bê tông cần kiểm tra thí nghiệm bê tông đạt cường độ theo thiết kế mới cho đổ bê tông sàn; nghiệm thu sàn bê tông xong mới cho gia công sắt cột và ván khuôn cột; kiểm tra và nghiệm thu sắt cột và ván khuôn cột đồng thời kiểm tra vật liệu đổ bê tông cột xong mới cho đổ bê tông cột; sau đó gia công ván khuôn sàn tầng trên xong,

tổ chức kiểm tra nghiệm thu ván khuôn xong mới gia công thép sàn tầng này và cứ thế chu trình cứ lặp đi, lặp lại một cách chặt chẽ như trên

Bước 2: Nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây

dựng (gọi tắt là nghiệm thu bộ phận - giai đoạn): xong bộ phận công trình trước, giai đoạn thi công xây dựng trước mới triển khai bộ phận công trình sau, giai đoạn thi công sau,

Ví dụ, việc lập biên bản nghiệm thu giai đoạn xây dựng hoàn thành đối với công trình xây dựng cầu, đường như sau:

a) Hạng mục công trình là công trình thành phần của dự án đầu tư xây dựng Giai đoạn xây dựng của từng công trình (hạng mục công trình) là phần công trình đã hoàn thành theo chiều cao từ nền, móng trở lên Bởi vậy không nên nhầm lẫn giữa hạng mục công trình và giai đoạn xây dựng

b) Phụ lục số 3 của Thông tư số 12/2005/TT-BXD ngày 15/7/2005 của Bộ Xây dựng “Hướng dẫn một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng và điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng”

đã nêu các giai đoạn xây dựng của công trình cầu và đường như sau:

- Đối với công trình cầu, các giai đoạn xây dựng bao gồm:

19

Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Trang 28

Bước 3: Nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào khai thác sử dụng

Công việc nghiệm thu do chủ đầu tư chủ trì và sự tham gia của các bên cũng được quy định phù hợp

- Đối với cơ quan chức năng quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được phân cấp có nghĩa vụ hướng dẫn chủ đầu tư thực hiện đúng quy định và họ có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản

lý chất lượng công trình của chủ đầu tư và các chủ thể khác Họ thực hiện việc kiểm tra đột xuất và định kỳ Định kỳ được quy định trong việc nghiệm thu chuyển giai đoạn ở một số công trình quan trọng và kiểm tra công tác nghiệm thu của chủ đầu tư ở giai đoạn hoàn thành công trình Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về chất lượng theo phân cấp có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận sự thưc hiện đúng quy định của chủ đầu tư về mặt pháp

lý và kỹ thuật Công việc này của cơ quan quản lý nhà nước hướng tới việc bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ đầu tư và cũng yêu cầu chủ đầu tư đảm bảo các lợi ích của con người thụ hưởng sản phẩm xây dựng và lợi ích của cả cộng đồng

Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình là căn cứ cho phép chủ đầu

tư đưa công trình vào sử dụng thực hiện việc quyết toán và đăng ký sở hữu

- Đối với trường hợp chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ

quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ hay sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành

20

Thông tư số 12/2005/TT-BXD ngày 15 tháng 07 năm 2005 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng và điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng.

Trang 29

Pháp luật được thực hiện trong cuộc sống thông qua các hành vi của các chủ thể pháp luật, về cơ bản, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thể thực hiện một cách tự nguyện và đầy đủ Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đời sống xã hội vẫn xảy ra hiện tượng các chủ thể đã có những hành vi không phù hợp với yêu cầu của pháp luật

Những hành vi của chủ thể không tuân thủ các quy định của pháp luật là hành vi trái pháp luật Song không phải hành vi trái pháp luật nào cũng bị coi

là vi phạm pháp luật Chỉ hành vi trái pháp luật nào mà do lỗi của chủ thể mới

được coi là vi phạm pháp luật

Việc xem xét một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, và mức độ vi phạm nhiều hay ít là hết sức quan trọng Bởi vì, vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý làm phát sinh một quan hệ pháp lý đặc biệt - gọi

là trách nhiệm pháp lý Có bốn căn cứ, dựa vào đó, để xét một hành vi có là vi phạm pháp luật hay không Khoa học pháp lý gọi đó là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật.21

Thứ nhất, mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những dấu hiệu biểu

hiện ra bên ngoài có thể nhận biết được, bao gồm:

- Hành vi trái pháp luật, là những hành động hoặc không hành động của

các chủ thể mà không phù hợp với pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ Không thể coi những ý nghĩ, tư tưởng, nhận thức, ý chí của con người nếu không biến thành hành vi cụ thể là vi phạm pháp luật Tính chất trái pháp luật của hành vi thể hiện ở xử sự không phù hợp với pháp luật, dưới hình thức hành động là đã có hành động làm điều luật cấm, hoặc không đúng điều luật cho phép; dưới hình thức không hành động là

đã không thực hiện nghĩa vụ pháp luật quy định

Trong đầu tư xây dựng công trình hành vi trái pháp luật của chủ đầu tư là hành vi vi phạm Luật Xây dựng và các nghị định hướng dẫn thi hành Thông thường việc quản lý đầu tư xây dựng đã có một cơ chế chặt chẽ giám sát thi hành các thủ tục pháp lý về đầu tư và quản lý chất lượng công trình xây dựng

21

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.412.

Trang 30

Các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được phân cấp có nghĩa vụ hướng dẫn chủ đầu tư thực hiện đúng quy định và

họ có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư và các chủ thể khác Họ thực hiện việc kiểm tra đột xuất và định kỳ Định kỳ được quy định trong việc nghiệm thu chuyển giai đoạn ở một số công trình quan trọng và kiểm tra công tác nghiệm thu của chủ đầu tư ở giai đoạn hoàn thành công trình Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về chất lượng theo phân cấp có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận sự thưc hiện đúng quy định của chủ đầu tư về mặt pháp lý và kỹ thuật Công việc này của cơ quan quản lý nhà nước hướng tới việc bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ đầu tư và cũng yêu cầu chủ đầu tư đảm bảo các lợi ích của con người thụ hưởng sản phẩm xây dựng và lợi ích của cả cộng đồng

- Hậu quả của hành vi, mọi hành vi trái pháp luật đều xâm phạm trật tự

pháp luật, gây thiệt hại chung cho xã hội, hoặc thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần cho từng thành viên cụ thể của xã hội ở những mức độ khác nhau, các hành vi trái pháp luật đều gây nguy hại cho xã hội Sự nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được biểu hiện mức độ thiệt hại thực tế cho xã hội hoặc nguy cơ xảy ra thiệt hại đối với xã hội do hành vi đó gây ra

Hậu quả của hành vi là dẫn đến hư hỏng các công trình lân cận, có thiệt hại thực tế đến các thành viên khác trong xã hội hoặc có nguy cơ xảy ra thiệt hại đối với xã hội do hành vi đó gây ra trong thời gian đầu tư xây dựng công trình

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả của nó là

sự thiệt hại Phân tích mối quan hệ này rất có ý nghĩa trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lý; hậu quả thực tế xảy ra phải có nguyên nhân trực tiếp, là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật

- Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm, cách thức và phương tiện liên quan

đến vi phạm cũng là dấu hiệu trong mặt khách quan cần phải xem xét

Thứ hai, khách thể của vi phạm pháp luật: là các quan hệ xã hội được

pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới Tính chất

Trang 31

của khách thể có ý nghĩa quan trọng để xác định mức độ vi phạm của hành vi

vi phạm pháp luật

Thứ ba, mặt chủ quan của vi phạm pháp luật được đặc trưng bởi yếu tố

lỗi, có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm

pháp luật

Lỗi là thái độ chủ quan của con người, là trạng thái tâm lý phản ánh thái

độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình cũng như đối với hậu quả của hành vi đó Hành vi trái pháp luật mà không có lỗi thì không phải là vi phạm pháp luật Lỗi được phân biệt thành các loại lỗi cố ý và vô ý như sau:

 Lỗi cố ý trực tiếp, chủ thể vi phạm pháp luật thấy trước thiệt hại cho xã hội

do mình gây ra, nhưng vẫn mong muốn điều đó xảy ra Thông thường rất khó xác định lỗi cố ý trực tiếp trong đầu tư xây dựng công trình

 Lỗi cố ý gián tiếp, chủ thể vi phạm pháp luật thấy trước thiệt hại cho xã

hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho

nó xảy ra

 Lỗi vô ý do quá tự tin, chủ thể nhận biết được hậu quả thiệt hại do hành vi

của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không thể xảy ra

 Lỗi vô ý cẩu thả, chủ thể vi phạm do khinh xuất, cẩu thả mà không nhận

thấy trước hậu quả thiệt hại do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể nhận biết và cần phải nhận biết trước

Động cơ và mục đích có liên quan đến lỗi Động cơ là lý do thúc đẩy chủ

thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Mục đích là kết quả mà chủ thể

muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm Trong nhiều trường hợp, việc xác định rõ động cơ, mục đích có ý nghĩa rất quan trọng để xác định mức độ của lỗi, từ đó xác định chính xác tính chất của hành vi vi phạm pháp luật, xác định trách nhiệm pháp lý đúng đắn

Tuy nhiên theo nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới, theo đó nếu phải sử dụng chứng cứ gián tiếp là công trình bị hư hỏng nhằm suy đoán hành

vi thì chỉ có thể là suy đoán theo hướng vô tội Điều này cũng làm cho việc xác định chủ thể vi phạm pháp luật vô cùng khó khăn

Trang 32

Thứ tư, chủ thể vi phạm pháp luật, chủ thể vi phạm pháp luật là cá nhân,

tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Hành vi trái pháp luật, có lỗi mới coi là vi phạm pháp luật Bởi vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực hành vi để nhận thức và quyết định xử sự của mình, có khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp lý Năng lực hành vi của chủ thể là cá nhân

có liên quan đến độ tuổi trưởng thành, tùy theo tính chất của loại quan hệ xã hội, pháp lụật quy định cụ thể điều kiện về năng lực hành vi Năng lực hành vi không đặt ra với chủ thể là tổ chức Người mất trí không có năng lực hành vi Người không có năng lực hành vi dù có hành động trái pháp luật cũng không

bị coi là vi phạm pháp luật.22

Ngoài ra chủ thể vi phạm pháp luật về hoạt động xây dựng phải bị chế

tài với các mức độ:

- Bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc tháo dỡ, hoặc

- Sử dụng thiết bị công trình xây dựng sai quy trình vận hành trong thời hạn bảo hành công trình

Theo Điều 120 Luật Xây dựng 2003, công trình xây dựng sai với giấy phép được cấp thì phải bị phá dỡ toàn bộ hoặc phá dỡ phần vi phạm Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng qui định rất rõ về hành vi thi công không đúng qui chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình hoặc gây sự cố sẽ bị phạt tiền từ 40 triệu - 50 triệu đồng Nghị định số 126/2004/NĐ-CP cũng nêu rõ về các biện pháp khắc phục hậu quả, tại khoản 3 Điều 5 qui định: buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ bộ phận công trình xây dựng vi phạm

Nhưng thông thường công trình sau khi đã nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào khai thác sử dụng để bước vào giai đoạn bảo hành công trình, rất hiếm khi phát hiện vi phạm pháp luật xây dựng sai với giấy phép được cấp

22

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.416.

Trang 33

hoặc có hành vi thi công không đúng qui chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình hoặc gây sự cố công trình 1.3.2.2 Yếu tố kỹ thuật liên quan chất lượng công trình

Thời gian gần đây, với sự phát triển về kinh tế-xã hội thì nhu cầu xây dựng ngày càng nhiều, đã có nhiều công trình xây dựng được nghiệm thu đạt yêu cầu đưa vào sử dụng Tuy nhiên, sau khi đưa vào khai thác sử dụng một thời gian thì xảy ra nhiều hư hỏng, ảnh hưởng đến chất lượng công trình đòi hỏi các nhà thầu phải khắc phục, sửa chữa

Một trong các nguyên nhân mau làm các công trình hư hỏng trong thời gian bảo hành công trình là do không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật Giải pháp kỹ thuật là yếu tố quyết định tính ổn định của công trình Nếu giải pháp

kỹ thuật đúng sẽ giúp công trình bền vững, trường tồn, giải pháp kỹ thuật không chuẩn xác sẽ làm công trình sớm hư hỏng hoặc hư hỏng ngay sau khi vừa hết thời hạn bảo hành công trình

Mặt khác, có những yếu tố kỹ thuật đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định mới có thể đánh giá chất lượng công trình do vậy thời gian bảo hành công trình phải căn cứ các yếu tố kỹ thuật mới có thể xác định và đo lường tương đối chính xác tính ổn định của công trình

Đặc biệt đối với đất nước ta, từ các khu vực châu thổ Bắc Bộ, Thanh - Nghệ Tĩnh, ven biển Trung Bộ, đến đồng bằng Nam Bộ đều có những vùng đất yếu và đa số các khu vực châu thổ ven sông này là nơi tập trung đông dân

cư, nơi có tốc độ đô thị hóa cao và là nơi tập trung các công trình xây dựng từ giao thông, đường sá đến các công trình dân dụng công nghiệp Những thành phố ở Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh đều nằm trên lưu vực đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông Đây là khu vực có tầng đất phù

sa khá dày và tập trung là nền đất yếu

Xây dựng đường giao thông và các công trình trên nền đất yếu là một bài toán kỹ thuật đa dạng và phức tạp Các công trình xây dựng trên nền đất yếu, thời gian tắt lún thông thường lớn hơn thời gian thi công công trình Trong xây dựng hiện nay vấn đề ước lượng độ biến dạng tức thời và lâu dài của nền

Trang 34

công trình là vấn đề quan trọng, nó liên quan đến quá trình cố kết (consolidation) và thời gian cố kết của nền công trình

Ví dụ, các vấn đề kỹ thuật về phần móng của đường bộ, đường sắt, nhà cửa và các dạng công trình khác đặt trên nền đất yếu liên quan chất lượng ổn

định của công trình thường bao gồm:

+ Độ lún: Độ lún có trị số lớn, ma sát âm tác dụng lên cọc do tính nén của nền đất

+ Độ ổn định: Sức chịu tải của móng, độ ổn định của nền đắp, ổn định mái dốc, áp lực đất lên tường chắn, sức chịu tải ngang của cọc Bài toán trên phải được xem xét do sức chịu tải và cường độ của nền không đủ lớn

+ Thấm: Cát xủi, thẩm thấu, phá hỏng nền do bài toán thấm và dưới tác động của áp lực nước

+ Hoá lỏng: Đất nền bị hoá lỏng do tải trọng của tầu hoả, ô tô và động đất

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, các vấn đề thực tế sau đây đang được quan tâm:

- Xây dựng công trình đường giao thông, thuỷ lợi, đê điều và công trình cơ sở trên nền đất yếu

- Xử lý và gia cường nền đê, nền đường trên nền đất yếu hiện đang khai thác

và sử dụng cần có công nghệ xử lý sâu

- Xử lý trượt lở bờ sông, bờ biển và đê điều

- Lấn biển và xây dựng các công trình trên biển

- Xử lý nền cho các khu công nghiệp được xây dựng ven sông, ven biển

- Xử lý nền đất yếu để chung sống với lũ tại đồng bằng sông Cửu Long

Vì vậy yếu tố kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét về thời gian để công trình ổn định và thời gian bảo hành công trình, đa số các công trình xây dựng trên nền đấy yếu, trên nền đất san lấp, thời gian tắt lún của công trình thường kéo dài trên 24 tháng Hiện nay theo Nghị định số 209/2004/NĐ-CP thời hạn bảo hành đối với một công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp 1 giá trị thông thường đến hàng trăm tỷ đồng chỉ qui định không ít hơn

Trang 35

24 tháng, còn các công trình xây dựng thông thường khác chỉ qui định không ít hơn 12 tháng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thi công xây dựng thiếu trách nhiệm trong quản lý chất lượng công trình xây dựng, khi sửa chữa bảo hành cố tình trì hoãn kéo dài hết thời hạn bảo hành để “phủi tay” trách nhiệm đối với Chủ đầu tư

1.3.2.3 Yếu tố quản lý

Quản lý là yếu tố không thể thiếu và là quan trọng nhất trong mọi hoạt động kinh tế xã hội Đối với hoạt động bảo hành công trình, yếu tố quản lý và kiểm tra chất lượng công trình sau khi đưa dự án công trình vào khai thác sử dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đảm bảo việc kiểm tra tình trạng công trình được tiến hành tuân theo đúng chuyên môn nghề nghiệp, phát hiện các

hư hỏng do các nhà thầu thi công hoặc các nhà thầu cung ứng thiết bị công trình gây ra để yêu cầu nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng sửa chữa, thay thế Đồng thời chủ đầu tư còn phải tiến hành giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa của nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng và xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình

Hoạt động bảo hành công trình là hoạt động quản lý chất lượng công trình khi đưa công trình vào khai thác sử dụng Để bắt kịp các yêu cầu của công tác quản lý chất lượng trong tình hình phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế của ngành xây dựng phải đổi mới phương thức quản lý về chất lượng công trình xây dựng

Đổi mới nội dung và phương pháp quản lý về chất lượng công trình xây dựng trước tiên là sự đổi mới phương thức quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng nhằm từ bỏ phương pháp quản lý cứng nhắc, can thiệp trực tiếp quá sâu về chuyên môn trong quá trình hoạt động xây dựng mà thường không chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, trong khi đó nhiệm vụ phải làm như hướng dẫn, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật và nắm tình hình chất lượng công trình xây dựng lại chưa được coi trọng Do can thiệp quá sâu, mất nhiều thời gian vào một số khâu cụ thể trong khi năng lực

Trang 36

công chức và số lượng còn hạn chế dẫn đến thái độ cửa quyền của đội ngũ công chức

Nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi và mối quan hệ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng Khi xây dựng một công trình lớn, có rất nhiều chủ thể tham gia, và ai cũng có thể can thiệp vào công việc chuyên môn cả, từ chủ đầu tư, nhà tư vấn lập dự án đầu tư, lập dự án thiết kế, đơn vị giám sát thậm chí cả các nhà tài trợ Việc quy trách nhiệm chỉ nên tính đến khi đã tìm ra được nguyên nhân cụ thể Nhưng nếu muốn tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với loại và cấp công trình Mà năng lực của chủ đầu tư với đại diện là Ban quản lý dự án phải

có năng lực hoạt động xây dựng phù hợp với các điều kiện quy định đối với

tư vấn quản lý dự án Tất nhiên, chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được quyền quản lý sử dụng vốn, nếu không trực tiếp quản lý dự án thì họ không cần đáp ứng yêu cầu về năng lực Các chủ đầu tư này chỉ thành lập Ban quản

lý dự án khi có năng lực, còn nếu không đủ thì thuê tư vấn quản lý dự án Hiện nay có rất nhiều công trình lớn đã đấu thầu tư vấn quản lý dự án mà các ứng viên đều là các tổ chức tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp của nước ngoài

Ngoài ra việc hình thành cơ chế quản lý chất lượng trong cơ chế chung của quản lý dự án Cơ chế quản lý chất lượng sẽ đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích của chủ đầu tư và các nhà thầu thi công công trình xây dựng và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng Cơ chế kiểm tra, quản lý chất lượng hữu hiệu sẽ đảm bảo cho sự phát triển có chất lượng và hiệu quả của hoạt động bảo hành công trình xây dựng

Tóm lại, những đặc trưng cơ bản của bảo hành công trình chính là những

yếu tố chi phối quy định của pháp luật về bảo hành công trình Nếu các nhà làm luật phân tích đúng bản chất của bảo hành công trình được thể hiện thông qua những đặc trưng của chúng sẽ giúp cho việc ban hành các quy phạm pháp luật về bảo hành công trình được chuẩn xác hơn Bởi vì, bảo hành công trình

Trang 37

có quan hệ rất chặt chẽ với pháp luật bảo hành công trình, thể hiện, đặc thù của quan hệ bảo hành công trình, là cơ sở để hình thành nên các quy phạm pháp luật bảo hành công trình

1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng

Năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt 2 miền Nam, Bắc Miền Bắc thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế 1955-1957, cần có lực lượng để đảm đương nhiệm vụ xây dựng miền Bắc XHCN hậu phương vững chắc chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngày 07/1/1957 Bộ Tài chính ban hành văn bản “Điều lệ tạm thời về cấp phát kiến thiết cơ bản” để cung cấp kịp thời vốn kiến thiết cơ bản, theo dõi việc sử dụng vốn được hợp lý, đôn đốc các ngành kiến thiết cơ bản trong khi hoàn thành nhiệm vụ kiến thiết cơ bản theo kế hoạch Nhà nước đã quy định, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, hạ giá thành công trình, tiết kiệm vốn kiến thiết cho Nhà nước Tất cả những công trình kiến thiết cơ bản của các đơn vị

xí nghiệp quốc doanh và của các đơn vị sự nghiệp đã được ghi trong kế hoạch kinh tế quốc dân đều do bộ máy cấp phát kiến thiết cơ bản thuộc Bộ Tài chính (sau này gọi tắt là bộ máy cấp phát, chiếu theo điều lệ này mà cấp phát) Với đặc điểm là nền kinh tế kế hoạch, công trình xây dựng khi hoàn thành sẽ được kết toán và cấp vốn đầy đủ theo dự toán ban đầu được duyệt, cơ quan chịu trách nhiệm cấp phát cấp trả căn cứ con số kiểm tra về cấp vốn kiến thiết cơ bản hàng năm, trong phạm vi hạn mức cấp phát Thời kỳ này chưa có khái niệm bảo hành công trình xây dựng Công trình khi hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ được thanh toán vốn đầu tư theo hạn mức đã được duyệt ban đầu Trong quá trình sử dụng nếu có hư hỏng sẽ sử dụng vốn duy tu sửa chữa được duyệt theo hạn mức kế hoạch hàng năm

Ngày 5 tháng 8 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg về biện pháp tăng cường quản lý công tác kiến thiết cơ bản với nhận thức: “Muốn phát triển nhanh chóng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phải tăng không ngừng tài sản cố định trong các ngành kinh tế quốc dân, phải

354-mở rộng quy mô công tác kiến thiết cơ bản Công tác kiến thiết cơ bản ngày

Trang 38

càng trở thành quan trọng bậc nhất trong toàn bộ công tác kinh tế Tất cả những tư tưởng, hành động coi nhẹ công tác kiến thiết cơ bản phải được sửa chữa kịp thời… Có những công trình cần làm gấp, nên vừa thiết kế, vừa thi công Kết quả là: chất lượng kém, giá thành cao và có công trình không hoàn thành đúng thời hạn.”

Vì vậy để tăng cường quản lý và kiểm tra công tác xây dựng cơ bản, Thủ tướng qui định: Các “đơn vị kiến thiết” cần thành lập ngay sau khi bản nhiệm

vụ thiết kế được phê chuẩn

Điều 8.- “Đơn vị kiến thiết” là một đơn vị tổ chức cơ sở của

ngành có công trình xây dựng, có trách nhiệm:

a) Quản lý số vốn kiến thiết cơ bản đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ ghi trong dự toán, bảo đảm cho các giấy tờ cần thiết (như các văn kiện về kế hoạch hàng năm, thiết kế, dự toán, kế hoạch tài vụ và các giấy tờ cho phép xây dựng…) được phê chuẩn kịp thời

b) Lập dự thảo hợp đồng và ký những hợp đồng cho thầu theo

ủy nhiệm của Cục hay Phòng kiến thiết cơ bản

c) Gửi cho Ngân hàng kiến thiết bản chính thức thứ 2 của hợp đồng thầu khoán và những tài liệu đã quy định trong điều lệ cấp phát

d) Giám đốc và kiểm tra về chất lượng công trình, tiến độ xây dựng công trình và chất lượng của nguyên vật liệu xây dựng; giám đốc và kiểm tra việc sử dụng hợp lý nguyên vật liệu đ) Kiểm nhận công trình khi làm xong theo đúng quy định và bàn giao cho cơ quan quản lý sản xuất

e) Kết toán với xí nghiệp nhận thầu

Trong thời kỳ này các đơn vị nhận thầu xây, lắp không có trách nhiệm phải bảo hành công trình sau khi công trình được “kiểm nhận” và bàn giao cho cơ quan quản lý sản xuất đưa vào sử dụng

Quốc hội thông qua kế hoạch 3 năm (1958-1960) do Chính phủ trình bày đưa công cuộc phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá tiến lên theo

Trang 39

một tốc độ nhanh và mạnh; căn bản hoàn thành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể và thành phần kinh tế tư bản tư doanh trong thời gian từ 2 đến 3 năm tới, đồng thời ra sức mở mang xây dựng cơ bản, phát triển lực lựơng của thành phần kinh tế quốc doanh

Ngày 28 tháng 4 năm 1958, ngành Xây dựng Việt Nam ra đời làm nhiệm

vụ xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế tập trung bao cấp đưa miền Bắc tiến thêm một bước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà

Pháp luật bảo hành công trình thời kỳ này bắt đầu xuất hiện trong Thông

tư số 139-TTg ngày 28 tháng 6 năm 1960 về việc ban hành thể lệ tạm thời về

giao nhận hợp đồng thi công xây dựng cơ bản giữa đơn vị kiến thiết giao thầu công trình và cơ quan xây lắp nhận thầu, kèm theo Thông tư này nhằm mục đích bảo đảm thực hiện đầy đủ những nguyên tắc của chế độ hạch toán kinh tế của công trình xây dựng cơ bản, tăng cường trách nhiệm đối với Nhà nước trong việc thực hiện những điều đã ký kết về hợp đồng giao nhận thi công xây dựng cơ bản giữa đơn vị kiến thiết giao thầu công trình và cơ quan xây lắp nhận thầu

Thể lệ tạm thời về hợp đồng giao nhận thầu thi công xây dựng cơ bản, là thể lệ chung áp dụng cho việc ký kết hợp đồng đối với công trình xây dựng cơ bản về công nghiệp , dân dụng, công trình giao thông, công trình thủy lợi Các

Bộ Kiến trúc, Giao thông và Bưu điện, Thủy lợi căn cứ những nguyên tắc chung của thể lệ tạm thời này, có Thông tư hướng dẫn cụ thể cho thích hợp với tính chất hợp đồng giao nhận thầu thi công xây dựng cơ bản của ngành mình, để thực hiện được kết quả tốt hợp đồng thi công xây dựng cơ bản thuộc từng ngành

Thời gian bảo hành công trình lúc bấy giờ được gọi là “thời gian bảo

Trang 40

- Đối với công trình xây lắp, lắp điện nước thời gian bảo đảm

là sáu tháng

Trong thời gian này, nếu xảy ra hư hỏng mà xét thấy:

- Do thi công làm không tốt, hị hư hỏng thì bên B sửa chữa và chịu mọi phí tổn

- Do quản lý sử dụng không tốt, bị hư hỏng thì bên A tự sửa chữa lấy

Nếu trong thời gian dài sau này, công trình bị rạn nứt hay sụp, bên A phải mời bên B, Hội đồng Trọng tài đến xác nhận Tuy tình hình cụ thể lúc bấy giờ, Chính phủ sẽ quyết định kỷ luật đối với bên phạm khuyết điểm

Bản thể lệ tạm thời cũng qui định rõ trách nhiệm các bên các bên trong

“thời gian bảo đảm công trình” Và nếu xảy ra hư hỏng, hai bên A, B và hội đồng trọng tài cùng xem xét và kết luận nguyên nhân và mức độ hư hỏng để bên có lỗi sửa chữa và chịu mọi chi phí

Điều 36 – Sau khi nghiệm thu, trong thời gian bảo đảm quy

định ở điều 20 nói trên nếu xảy ra hư hỏng mà xét thấy:

- Do thi công làm không tốt, thì bên B phải sửa chữa và chịu mọi phí tổn, kể cả những thiệt hại do việc ngừng sản xuất để sửa chữa gây ra

- Do quản lý sử dụng không tốt, thì bên A tự sửa chữa lấy

Cả hai trường hợp trên, nếu kết luận là có hư hỏng và mức độ

hư hỏng, phải được Hội đồng trọng tài và hai bên A và B xác nhận

Trong những năm Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngành Xây dựng cả nước chuyển hướng hoạt động đưa lực lượng cán bộ, công nhân làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, chống chiến tranh phá hoại, xây dựng các công trình quốc phòng và cử một bộ phận chi viện cho chiến trường miền Nam

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đặt ra cho miền Bắc những nhiệm

vụ hết sức cấp bách về hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định sản xuất và

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Phương Anh (2005), “Thực thi Luật Xây dựng: Công trình nào cũng vướng”, trang web của Bộ Giao thông- Vận tải http://giaothongvantai.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi Luật Xây dựng: Công trình nào cũng vướng
Tác giả: Phương Anh
Năm: 2005
21. Lê Thùy An (2003), “Quốc hội tìm cách kiểm soát chất lượng công trình xây dựng”, Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội tìm cách kiểm soát chất lượng công trình xây dựng”
Tác giả: Lê Thùy An
Năm: 2003
22. Ngọc Ẩn (2005), “Cầu Văn Thánh 2 sụt lún: ai chịu trách nhiệm? ”, Báo Tuổi trẻ online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cầu Văn Thánh 2 sụt lún: ai chịu trách nhiệm? ”
Tác giả: Ngọc Ẩn
Năm: 2005
23. Ngọc Ẩn (2008), "Khai quật" cầu Văn Thánh 2: Thấy gì?”, Báo Tuổi trẻ online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật" cầu Văn Thánh 2: Thấy gì
Tác giả: Ngọc Ẩn
Năm: 2008
24. Võ Hồng Quỳnh, Ngọc Ẩn (2006), “ Sau hầm, đường lún, đến... cầu sụt?”, Báo Tuổi trẻ online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sau hầm, đường lún, đến... cầu sụt?”
Tác giả: Võ Hồng Quỳnh, Ngọc Ẩn
Năm: 2006
25. PGS. TS Trần Chủng, Nguyễn Quốc Việt (2001), “Rủi ro trong thiết kế kết cấu công trình bê tông cốt thép”, Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị khoa học toàn quốc lần 1 về sự cố công trình và các nguyên nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro trong thiết kế kết cấu công trình bê tông cốt thép”
Tác giả: PGS. TS Trần Chủng, Nguyễn Quốc Việt
Năm: 2001
26. PGS. TS Trần Chủng (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng. Nền tảng để hội nhập quốc tế”, Tạp chí Xây dựng (1), tr.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng. Nền tảng để hội nhập quốc tế”, "Tạp chí Xây dựng
Tác giả: PGS. TS Trần Chủng
Năm: 2007
27. PGS. TS Trần Chủng (2007), “Vấn đề bảo trì công trình xây dựng ở Việt Nam”, Tạp chí Xây dựng (3), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo trì công trình xây dựng ở Việt Nam”, "Tạp chí Xây dựng
Tác giả: PGS. TS Trần Chủng
Năm: 2007
28. Cục Giám định nhà nước về Chất lượng công trình xây dựng (2007), “Quản lý chất lượng công trình - Cần thay đổi từ nhận thức”, Trang web Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng - http://cucgiamdinh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng công trình - Cần thay đổi từ nhận thức
Tác giả: Cục Giám định nhà nước về Chất lượng công trình xây dựng
Năm: 2007
29. Trịnh Việt Cường, Phạm Quyết Thắng và nnk (2001), “Đánh giá nguyên nhân hư hỏng một công trình do tác động của tải trọng lân cận”, Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị KH toàn quốc lần 1 về sự cố công trình và các nguyên nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguyên nhân hư hỏng một công trình do tác động của tải trọng lân cận”
Tác giả: Trịnh Việt Cường, Phạm Quyết Thắng và nnk
Năm: 2001
30. LS. Nguyễn Trí Dũng (2007), “Một số vấn đề về hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Xây dựng, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài”, "Tạp chí Xây dựng
Tác giả: LS. Nguyễn Trí Dũng
Năm: 2007
31. Khánh Hưng - Anh Dũng (2008), “Ngành Xây dựng trên đường đổi mới và hội nhập”, Báo Xây dựng online Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Ngành Xây dựng trên đường đổi mới và hội nhập”
Tác giả: Khánh Hưng - Anh Dũng
Năm: 2008
32. Gia Dũng (2006), “Ngành xây dựng trước thềm WTO”, Báo Tài chính Việt Nam online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành xây dựng trước thềm WTO”
Tác giả: Gia Dũng
Năm: 2006
33. Trần Duy (2004), “Cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh (TP.HCM): hai chưa", Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh (TP.HCM): hai chưa
Tác giả: Trần Duy
Năm: 2004
34. Trần Duy (2006), “Các chuyên gia "bó tay" với cầu Văn Thánh 2”, Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên gia "bó tay" với cầu Văn Thánh 2
Tác giả: Trần Duy
Năm: 2006
35. Hồ Hải Hiền (2005), “Chất lượng công trình, bên A cũng có trách nhiệm lớn”, Báo Phú Yên online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng công trình, bên A cũng có trách nhiệm lớn”
Tác giả: Hồ Hải Hiền
Năm: 2005
36. ThS. Nguyễn Thị Lê Hoa (2006), “Một số vấn đề về tư vấn trong quản lý xây dựng hiện nay”, Tạp chí Công nghiệp, tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tư vấn trong quản lý xây dựng hiện nay”, "Tạp chí Công nghiệp
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Lê Hoa
Năm: 2006
37. Hoàng Huy (2005), “Thứ trưởng Bộ Xây dựng: Để xây và chống có hiệu quả..”, Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thứ trưởng Bộ Xây dựng: Để xây và chống có hiệu quả..”
Tác giả: Hoàng Huy
Năm: 2005
38. Hoàng Huy (2007), “Thiếu kinh nghiệm về cơ học đất: 70% công trình hỏng”, Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu kinh nghiệm về cơ học đất: 70% công trình hỏng”
Tác giả: Hoàng Huy
Năm: 2007
39. Phó Giáo sư Lê Kiều (2005), “Thi công xây dựng: Ai giám sát, giám sát thế nào?”, Báo VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi công xây dựng: Ai giám sát, giám sát thế nào?”
Tác giả: Phó Giáo sư Lê Kiều
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w