Có định nghĩa xuất phát từ quyền con người, có định nghĩa theo nghĩa là một hoạt động tội phạm, nhập cư trái phép, bóc lột sức lao động hay một dạng nô lệ hiện đại.‖ 5 Những văn kiện ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
-oOo -
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
NGÔ TÙNG LÂM
TỘI PHẠM HÓA HÀNH VI BUÔN BÁN NGƯỜI TẠI
VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHỊ ĐỊNH THƯ VỀ PHÕNG
CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI NĂM 2000
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Hình sự
Giảng Viên Khoa Luật Hình Sự
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CƢ năm 2000: Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia năm 2000
NĐT năm 2000: Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn
bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000
BLHS: Bộ Luật Hình Sự
BLHS năm 1999: Bộ Luật hình Sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
GMS: (Greater Mekong Subregion) Tiểu vùng sông Mê kong
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: HÀNH VI BUÔN BÁN NGƯỜI THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM 2000 VÀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN 4
1.1 Buôn bán người – tội phạm phổ biến trên phạm vi toàn cầu 4
1.2 Sự ra đời và mối quan hệ giữa Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 và Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 5
1.3 Hành vi buôn bán người theo Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 9
1.3.1 Định nghĩa về hành vi buôn bán người theo Nghị Định Thư năm 2000 9
1.3.2 Các dấu hiệu pháp lý cụ thể của hành vi buôn bán người theo NĐT năm 2000 12
1.3.2.1 Về hành vi 12
1.3.2.2 Thủ đoạn, phương thức 16
1.3.2.3 Về mục đích bóc lột 21
1.3.3 Phân biệt hành vi buôn bán người và hành vi đưa người di cư bất hợp pháp 26
1.4 Kết luận 28
CHƯƠNG II: TỘI PHẠM HÓA HÀNH VI BUÔN BÁN NGƯỜI 31
2.1 Khái quát hành vi buôn bán người tại Việt Nam 31
2.2 Tội phạm hóa hành vi buôn bán người trong luật hình sự Việt Nam 34
2.2.1 Dấu hiệu pháp lý của Tội mua bán người (Điều 119) và Tội mua bán, đánh tráo
hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) trong sự đối chiếu với quy định của NĐT năm 2000
Trang 4về hành vi buôn bán người 36
2.2.1.1 Về hành vi 37
2.2.1.2 Về thủ đoạn, phương thức……… 41
2.2.1.3 Về mục đích phạm tội 43
2.3 Kết luận 46
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ 48
KẾT LUẬN 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trên phạm vi thế giới và tại Việt Nam, buôn bán người cùng với những tác động tiêu cực của nó là hành vi chà đạp một cách thô bạo lên quyền con người, lên những giá trị nhân văn mà văn minh loài người đã tạo nên và là bước thụt lùi trong quá trình phát triển của giống loài thông minh nhất hành tinh Trong bối cảnh thế giới hiện đại, khi mà nền dân chủ, tự do, bình đẳng đang được các quốc gia nỗ lực xây dựng, bảo vệ thì nỗi đau mà nạn buôn người gây ra đã phủ định lại phần nào những giá trị được tôn vinh là vô giá, không thể bị tước bỏ bởi bất kỳ một thế lực nào và ghi nhận trong các bản tuyên ngôn bất hủ về quyền con người là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Con người tự hạ thấp giá trị của mình thông qua việc định giá cho giá trị sử dụng của chính mình mà cách thức hình thành nên thứ giá trị đó chẳng khác gì so với nền kinh tế trong đó hàng hóa trao đổi là vật vô tri vô giác Sau khi được định giá, những nạn nhân của tội phạm buôn bán người mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em gái bị bóc lột tình dục hoăc bóc lột lao động thậm tệ, nạn nhân là nam giới phải chịu sự bóc lột lao động và bị đánh đập, đối xử như những loài thú vật, thập chí tàn nhẫn hơn bọn buôn người còn lấy đi những bộ phận nội tạng của nạn nhân đem bán Nạn buôn người
để lại những hê lụy khôn lường cho xã hội, làm suy giảm lực lượng lao động trong nước, ảnh hưởng tới an ninh cuộc sống Với tính chất xuyên quốc gia và có tổ chức, tội phạm buôn bán người đã trở thành một thế lực ngầm ghê gớm bao trùm thế giới, làm tái hiện lại những cảnh tượng tàn bạo trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ cách đây hàng ngàn năm và được xem là loại tội phạm mang tính quốc tế.1
[1] Do đó, chống lại tội
1 ―Nhiều chuyên gia nhận định rằng, hoạt động buôn bán con người làm nô lệ đang tạo nên một thế giới ngầm không thể kiểm soát, với quy mô và mức độ ngày càng lớn Trên 50% "nô lệ" hiện bị dồn vào các nhà chứa, 30%
Trang 6phạm buôn bán người cũng chính là bảo vệ những giá trị nhân văn quý báu mà con người đã xây dựng nên đồng thời góp phần quan trọng bảo vệ cuộc sống bình yên trong
lý nền tảng cho hoạt động chống lại tội phạm buôn bán người trên toàn cầu Sau khoảng mười một năm kể từ ngày ký là ngày 13/12/2000, ngày 08/6/2012, Việt Nam
đã chính thức phê chuẩn hai văn kiện quốc tế quan trọng trên [40] Do đó, nhu cầu về xây dựng những quy định pháp luật hình sự về tội phạm buôn bán người vừa đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này vừa phải phù hợp với những quy định trong NĐT năm 2000 và Công ước năm 2000 được đặt ra Tuy nhiên, kể từ lần sủa đổi năm 2009 tới nay, những quy định trong BLHS vẫn chưa có bất cứ sự thay đổi nào về hành vi buôn bán người Do đó, là sịnh viên khoa luật hình sự, tác giả chọn đề
tài “Tội phạm hóa hành vi buôn bán người tại Việt Nam và vấn đề thực thi các quy
định có liên quan đến Nghị định thư về phòng chống tội phạm buôn bán người năm 2000” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình
Đối tƣợng, mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích những quy định về hành vi buôn bán người trong NĐT năm 2000 và các quy định liên quan đồng thời thời đối chiếu với những quy định trong BLHS 1999 về hành vi đó để chỉ ra sự khác nhau và những điểm hạn
làm việc tại các dịch vụ công trong nước, 10% "phơi mặt" trên ruộng đồng và các loại hình kinh doanh sinh lợi khác‖
Trang 7chế của BLHS 1999 so với NĐT năm 2000 trong công tác tội phạm hóa hành vi buôn bán người Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định trong BLHS về hành vi buôn bán người nhằm phục vụ cho việc đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này
Trang 8CHƯƠNG I: HÀNH VI BUÔN BÁN NGƯỜI THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ NĂM
2000 VÀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN
1.1 Buôn bán người – tội phạm phổ biến trên phạm vi toàn cầu
Buôn bán người là tội phạm xảy ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.2 Về phạm
vi, hầu như không một quốc gia nào tránh khỏi sự ảnh hưởng của nạn buôn người, đó
có thể là ―nơi cung cấp người, hoặc là đích đến cuối cùng, hoặc là quốc gia trung chuyển‖ [36- tr 104] Ước tính hiện tại có đến 27.000.000 người hiện đang bị "nô lệ"
là kết quả của nạn buôn người, khoảng 800.000 đến 900.000 người bị buôn bán qua biên giới [36- tr 104] Về giá trị, người ta đã dùng từ ―thịnh vượng‖ (prosperous) [36-
tr 104] không phải để diễn tả sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu hay những phúc lợi xã hội mà con người được hưởng mà để chỉ sự phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc của lĩnh vực tội phạm buôn bán người dựa trên lợi nhuận bất chính mà
nó mang lại Mỗi năm, lợi nhuận thu được từ buôn bán người chỉ đứng sau buôn bán thuốc phiện và vũ khí với khoảng 12 tỷ đô la Mỹ [36- tr 102] Nạn nhân của tội phạm buôn bán người không những bị xâm hại sức khỏe mà còn chịu sự chà đạp lên danh dự, nhân phẩm thậm chí là tính mạng ―Buôn bán người đã trở thành vấn đề pháp lý hình
sự mang tính quốc tế và là cuộc khủng hoảng nhân đạo‖ [36- tr 102] trên toàn thế giới
Do đó, đấu tranh để xóa bỏ việc buôn bán người là việc làm cấp thiết
2
Nhận định này dựa trên các báo cáo của Văn phòng Liên Hợp Quốc về tội phạm và ma túy về tội phạm buôn bàn người trên phạm vi toàn cầu các năm 2006 và 2009, trong đó dữ liệu về tình hình tội phạm buôn bán người năm 2009 được thu thập tại 155 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Xem thêm: [22- tr 2] khẳng định: ―Buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em … là vấn nạn mang
tính toàn cầu và đang có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn thế giới, bất chấp những nỗ lực quốc tế và quốc gia đang được tiến hành Chống buôn bán người hiện nay không còn nằm trong khu vực một quốc gia hay một khu vực nào mà đang được toàn thế giới tích cực phối hợp ngăn chặn”
Trang 91.2 Sự ra đời và mối quan hệ giữa Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 và Công ước
về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000
Ý thức được tầm quan trọng của việc chống lại tội phạm buôn bán người, công đồng quốc tế ngay từ rất sớm đã có những công cụ pháp lý chống lại nó.3 Tuy nhiên, tội phạm buôn bán người chứa đựng những vấn đề phức tạp [22- tr 5] gây ra nhiều khó khăn trong việc xác định các dấu hiệu về bản chất của hành vi một cách chính xác.4 Vì thế, công việc trên đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của cộng đồng quốc tế ở phạm
vi rộng lớn hơn.5
Vào tháng 10 năm 2000, sau mười một phiên thảo luận của ủy ban
3 Đó chính là sự ra đời của hàng loạt các công ước, nghị định thư trong đó phải kể đến:
- Hai Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán nô lệ da trắng năm 1904, và năm 1910 (được sửa đổi bổ sung theo NĐT năm 1948)
- Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán phụ nữ và trẻ em năm 1021 (được sủa đổi theo NĐT năm 1947)
- Công ước về ngăn ngừa việc buôn bán phụ nữ năm 1933
- Công ước về nô lệ năm 1926 (sửa đổi, bố sung theo NĐT năm 1953)
- Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949
- Công ước bổ sung về xóa bỏ chế đô nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể chế thực thể khác tương tự nô lệ năm
1956
- Công ước về quyền trẻ em năm 1989
- Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000
- Nghị định thư ngăn ngừa, phòng chống, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 bổ sung cho Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000
4[22- tr 5] Trước khi NĐT năm 2000 ra đời, ―khái niệm ―buôn bán‖ người được định nghĩa dưới nhiều góc đôk khác nhau phụ thuộc vào yêu cấu của tổ chức hay cơ quan đưa ra định nghĩa Có định nghĩa xuất phát từ quyền con người, có định nghĩa theo nghĩa là một hoạt động tội phạm, nhập cư trái phép, bóc lột sức lao động hay một dạng nô lệ hiện đại.‖
5 Những văn kiện pháp lý quốc tế trước đó đề cập về buôn bán người như: Công ước về nô lệ năm 1926 ra đời khi
tổ chức Liên Hợp Quốc còn chưa được thành lập, và được Hội Quốc Liên với thành phần là các nước tư bản, đế quốc thông qua ngày 25/9/1926; Công ước trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 02/12/1949, lúc đó số lượng thành viên của LHQ mới là 59 thành viên; Nghị Định Thư năm 1953 sửa đổi Công ước về nô lệ năm 1926 với số lượng thành viên của LHQ là 60; Công ước bổ sung về xóa bỏ chế đô nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể chế thực thể khác tương tự nô lệ năm 1956 với số lượng thành viên LHQ là 80; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung công ước về quyền trẻ em
Trang 10Ad-hoc,6 với sự tham gia của hơn 120 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế,
CƯ năm 2000 và hai NĐT bổ sung, trong đó có Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 đã chính thức được thông qua Cho tới nay, CƯ năm 2000 và NĐT năm 2000 là hai văn bản đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại tội phạm buôn bán người.7 Trong đó, CƯ năm 2000 được coi là ―văn kiện pháp lý mang tính bắt buộc đầu tiên của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực tội phạm‖ [22- tr 5] NĐT năm 2000 là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhất, trực tiếp nhất đề cập đến vấn đề buôn bán người và ―thể hiện sự tiến bộ nhất cả về mặt chính trị lẫn pháp lý- là hòn đá tảng cho việc đấu tranh xóa bỏ việc buôn bán người‖ [22-tr 5] Ra đời song hành, đồng thời để bổ sung cho CƯ năm 2000 nên khi giải thích và áp dụng các quy định của NĐT năm 2000 thì những quy định này cần phải được đặt trong mối liên hệ mật thiết với CƯ năm 2000 Cụ thể:
về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 chỉ đề cập tới đối tượng
bị buôn bán là trẻ em
6 Tháng 12 năm 1998, phiên họp toàn thể của Liên Hợp Quốc đã thành lập một ủy ban liên chính phủ: ad hoc
Nhiệm vụ của ủy ban này là phát triển thể chế pháp lý mơi để chống lại tội pham có tổ chức xuyên quốc gia
7 ―Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhận thức được về mối đe dọa của tội phạm xuyên quốc gia gây ra đối vơi an ninh quốc gia và quốc tế (tập trung vào ―an ninh truyền thống‖) đã thúc đẩy hoạt động của Liên Hợp Quốc trong việc tăng cường hợp tác quốc tế chống lại loại tội phạm này Năm 1994, Hội nghị Bộ trưởng thế giới về tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia ở Naples tập trung sự quan tâm vào hiệu quả hơn nữa trong hợp tác song phương và đa phương chống lại tội phạm có tổ chức quyên quốc gia, lần đầu tiên xem xét khả năng ra đời một hoặc các công ước Vấn đề buôn bán người, đặc biệt là ―buôn bán trẻ em‖, và sau đó (rộng hơn) buôn bán phụ nữ và trẻ em, nổi lên như là một phần của chương trình nghị sự xây dựng một Công ước năm 1997 Sau một nỗ lực không thành công để đề xuất một quy ước mới về buôn bán trẻ vị thành niên ngoài Công ước về quyền trẻ em, Argentina giới thiệu các vấn đề buôn bán vào các chương trình tư pháp hình sự của Ủy ban Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm và tư pháp hình sự Trọng tâm ban đầu về buôn bán phụ nữ và trẻ em sau đó đã được mở rộng ra 'buôn bán người' vào giai đoạn khởi đầu quá trình soạn thảo Những nỗ lực của Argentina sau đó đã được bổ sung bằng sự quan tâm của Áo về sự gia tăng những vụ di cư trái phép Tháng 12 năm 1998, một ủy ban liên chính phủ (không hạn chế về số lượng thành viên) đã chính thức được thành lập bởi Đại hội đồng để xây dựng "một công ước quốc
tế toàn diện chống lại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các văn kiện quốc tế giải quyết vấn đề buôn bán phụ
nữ và trẻ em và buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp người di cư Tháng 10 năm 2000, Ủy ban Ad-Hoc cuối cùng hoàn thành nhiệm vụ của mình sau mười một phiên họp, với bản thảo cuối cùng của CTOC và hai Nghị định thư
bổ sung Nghị định thư chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và Nghị định thư chống di cư trái phép Có thể nói rằng việc xây dựng Nghị định thư buôn bán được thúc đẩy bởi mối quan tâm quốc gia "về chủ quyền và vấn đề an ninh, xuất phát từ việc ghi nhận mối liên hệ giữa buôn bán người, buôn lậu người di cư và các nhóm tội phạm có tổ chức.‖ [47- tr 49]
Trang 11Khoản 4, Điều 37 Công ước nêu [12]: Bất kỳ nghị định thư nào của Công ước
này sẽ được giải thích cùng với Công ước, có tính đến mục đích của nghị định thư đó
Điều 1 NĐT năm 2000 [18]: Quan hệ với Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
1 Nghị định thư này bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia Nó sẽ được giải thích cùng với Công ước
2 Các điều khoản của Công ước được áp dụng cho Nghị định thư này với những sửa đổi cần thiết, trừ trường hợp trong nghị định thư này có quy định khác
3 Những hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 5 của Nghị định thư này sẽ được coi là những hành vi phạm tội được quy định trong Công ước
―Những sửa đổi cần thiết‖ quy định tại Khoản 2 tai Điều 1 NĐT năm 2000 còn
được hiểu là là những sửa đổi do hoàn cảnh thực tế đòi hỏi [66- tr 330] Do đó, những quy định trong CƯ năm 2000 khi được áp dụng trong NĐT năm 2000 sẽ được phép sửa đổi hoặc giải thích sao cho các quy định liên quan của CƯ và NĐT có cùng nội dung và hiệu lực như nhau [66- tr 330] Trong mối liên kết với CƯ năm 2000, hành vi buôn bán người được quy định tại Điều 3(a) được coi là một tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tuy nhiên NĐT năm 2000 lại không đưa ra bất kỳ quy định nào giải thích về các yếu tố tính xuyên quốc gia và tính có tổ chức của tội phạm buôn bán người Trong khi đó, CƯ năm 2000 đã quy định những dấu hiệu để xác định những yếu
tố trên Vì vậy, những quy định về tính chất xuyên quốc gia của tội phạm,8
tính có tổ chức9 hay tội phạm nghiêm trọng trong CƯ năm 2000 sẽ được áp dụng đối với hành vi
Trang 12buôn bán người
Nghĩa vụ tội phạm hóa
Một trong những nội dung quan trọng mà NĐT năm 2000 đề cập tới đó chính là nghĩa vụ tội phạm hóa của các quốc gia thành viên Như đã phân tích ở trên, với việc coi buôn bán người là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, NĐT năm 2000 yêu cầu các
quốc gia thành viên phải ―áp dụng những biện pháp lập pháp cũng như các biện pháp
khác khi cần thiết để quy định những hành vi nêu tại Điều 3 Nghị định thư này là những vi phạm hình sự khi những hành vi này được thực hiện một cách cố ý.” (Khoản
―biện pháp khác‖ được hiểu là các biện pháp lập pháp khác kể cả sự thiết lập nên một luật về buôn bán người [42-tr 10]
Qua đó cho thấy, mối quan hệ thống nhất, tương hỗ giữa hai văn bản, trong đó
CƯ năm 2000 đóng vai trò là khung pháp lý nền tảng (cái chung) và NĐT năm 2000 đề cập đến vấn đề pháp lý cụ thể là buôn bán người (cái riêng) đã góp phần xây dựng nên được định nghĩa về khái niệm buôn bán người một cách khá đầy đủ,11
đồng thời phản
10 Sẽ được giới thiệu và phân tích dưới đây
11 Kết luận trên được rút ra dựa trên những phân tích, đánh giá của tác giả Kalen Fredette [36- tr 108-111] Trong
đó, tác giả đã chỉ ra những điểm hạn chế về phạm vi của khái niệm buôn bán người và sự hiểu biết không đầy đủ
về hành vi, hình thức tồn tại của nạn buôn bán người trong một số văn kiên quốc tế, trong đó buôn bán nguời chưa được xem là một tội phạm riêng biệt Sau đó, tác giả đã khẳng định: với rất nhiều văn kiện về buôn bán người trước sự hình thành Nghị Định Thư, thật đáng ngạc nhiên khi Nghị Định Thư là văn bản quốc tế đầu tiên
cung cấp một cách toàn diện, định nghĩa pháp lý về buôn bán người Nguyên văn ―Given the numerous
Trang 13ánh tương đối chính xác những dấu hiệu thuộc về bản chất của hành vi buôn bán người
1.3 Hành vi buôn bán người theo Nghị Định Thư về ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị việc buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000
Thuật ngữ ―buôn bán người‖ (―trafficking in person‖) được sử dụng trong NĐT năm 2000 cho thấy rằng, nạn nhân của hành vi buôn bán người có thể là bất cứ người nào, không chỉ là các đối tượng có tính truyền thống như phụ nữ và trẻ em mà còn bao gồm cả nam giới Sự mở rộng phạm vi về nạn nhân của hành vi buôn bán người như trên là hợp lý Bởi, thực tế đã ghi nhận rất nhiều trường hợp người bị buôn bán là nam giới Bên cạnh sự bổ sung cần thiết này, NĐT vẫn nhấn mạnh sự tập trung ngăn ngừa, trấn áp, trừng trị hành vi buôn bán phụ nữ và trẻ em (―especially women and children‖) Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực trạng tội phạm buôn bán người, bởi trên thực tế phụ nữ và trẻ em là những đối tượng bị buôn bán nhiều nhất Theo báo cáo của Văn phòng ma túy và tội phạm liên hợp quốc năm 2006 thì nạn nhân là phụ nữ chiếm 77%, trẻ em chiếm 14%, nam giới chỉ 9% [59- tr 33] Tới năm 2009 con số này
đã có sự biến đổi, trong đó phụ nữ chiếm 66%, trẻ em là 22%, nam giới chiếm ít hơn 12% [60-tr 11] Phụ nữ và trẻ em chiếm hơn hai phần ba số người bị buôn bán
1.3.1 Định nghĩa về hành vi buôn bán người theo Nghị Định Thư năm 2000
NĐT năm 2000 đã đưa ra định nghĩa về buôn bán người tại Điều 3(a) như sau:[10]
Trong Nghị định thư này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a) "Việc buôn bán người" nghĩa là việc tuyển mộ (mua), vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và tiếp nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe doạ
documents preceding the formation of the Protocol which address trafficking, it is perhaps surprising that the Protocol is the first international document to offer a comprehensive, legal definition of trafficking.‖ [36- tr 113]
Trang 14sử dụng vũ lực hoặc bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát những người khác Hành
vi bóc lột bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy các bộ phận cơ thể;
Quy định trên đã cho thấy, NĐT năm 2000 đã xây dựng khái niệm về tội phạm buôn bán người với mô hình là sự kết hợp của 3 yếu tố: hành vi; phương thức (thủ đoạn) và mục đích bóc lột
Về hành vi, là các hành vi đã được liệt kê một cách rõ ràng tại khoản (a) bao gồm:
tuyển mộ (mua)12, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận (nhận)13
người Khoản (b),14 cho thấy sự đồng ý của nạn nhân thực hiện mục đích đã nêu ra trong định nghĩa không phải là dấu hiệu có ý nghĩa loại trừ trách nhiệm đối với người thực hiện hành vi mà phải xem xét các dấu hiệu về thủ đoạn có được sử dụng hay không
Về thủ đoạn, phương thức: dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; ép buộc; bắt
cóc; lừa gạt; man trá; lạm dụng quyền lực hoặc lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương; đưa, nhận tiền hay lợi ích khác để nhận được sự đồng ý của một người để kiểm soát người khác
Về mục đích bóc lột: trong đó tối thiểu là bóc lột mại dâm hoặc các hình thức bóc
12 , 13 Nguyên văn: ――Trafficking in persons‖ shall mean the recruitment, transportation, transfer, harbouring or
receipt of persons, by means of the threat or use of force or other forms of coercion, of abduction, of fraud, of
deception, of the abuse of power or of a position of vulnerability or of the giving or receiving of payments or benefits to achieve the consent of a person having control over another person, for the purpose of exploitation Exploitation shall include, at a minimum, the exploitation of the prostitution of others or other forms of sexual exploitation, forced labour or services, slavery or practices similar to slavery, servitude or the removal of organs‖
14 b) Việc một nạn nhân của hành vi buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu ra trong khoản (a)
của Điều này sẽ là không thích hợp nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản (a) đã được sử dụng
Trang 15lột tình dục; lao động cưỡng bức, dịch vụ cưỡng bức; làm nô lệ hoặc các hình thức tương tự nô lệ, khổ sai; lấy các bộ phận cơ thể
Trường hợp đặc biệt: buôn bán trẻ em
Khoản (d), Điều 3 NĐT năm 2000 quy định: "Trẻ em" là bất kỳ người nào dưới
18 tuổi Khi đối tượng bị buôn bán là trẻ em thì các dấu hiệu về phương thức, thủ đoạn
không còn có ý nghĩa trong việc xác định hành vi buôn bán người mà chỉ cần chứng minh hai yếu tố còn lại là hành vi và mục đích bóc lột là đủ.15 Tuy nhiên, trong trường hợp lấy nội tạng trẻ em với sự đồng ý của cha me hoặc người giám hộ phù hợp với pháp luật về y học hoặc vì lý do chữa bệnh thì không được coi là bóc lột [67- tr 247] cho nên, đó không phải là hành vi buôn bán người Việc quy định hành vi buôn bán trẻ
em chỉ bao gồm hai yếu tố là hành vi và mục đich bóc lột như trên được xem như là một điều khoản đặc biệt để ngăn chặn việc buôn bán trẻ em và bảo vệ nạn nhân của hành vi đó [23] Trong nội dung này, NĐT năm 2000 chịu sự ảnh hưởng của một số văn bản pháp lý quốc tế trước đó về trẻ em như: Công ước về quyền trẻ em năm 1989 [37- tr 989] và Công ước về cấm và hành động ngay để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 [67- tr 342] Trong đó, hai văn bản đều ghi nhận trẻ
em là người có độ tuổi dưới 18 và khẳng định trẻ em là đối tượng cần phải có sự quan
tâm đặc biệt: ―trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo
vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”
[11] Bên cạnh đó, quy định trên phản ánh thực tế là không một thủ đoạn sai trái nào cần được thực hiện khi đối tượng bị buôn bán là người dưới 18 tuổi [63- tr 270] Trong
quá trình soạn thảo NĐT năm 2000, một đinh nghĩa riêng biệt về buôn bán trẻ em đã được đề xuất với mô hình gồm hành vi và mục đích bóc lột : buôn bán trẻ em là việc
15
c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là
"buôn bán người" ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ một cách thức nào được nói đến trong khoản (a) Điều này
Trang 16tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận trẻ em hoặc là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát một đưa trẻ với mục đích làm nô lệ, cưỡng bức lao động hay nô dịch hoặc cho các mục đích sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào động mại dâm, sản xuất nội dung khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm [67- tr.342] Mặc dù sau đó, khái niệm này đã không được thông qua nhưng nó đã để lại ảnh hưởng với việc hình thành mô hình hành vi buôn bán trẻ em trong NĐT năm 2000
1.3.2 Các dấu hiệu pháp lý cụ thể của hành vi buôn bán người theo NĐT năm 2000
1.3.2.1 Về hành vi
"Việc buôn bán người" nghĩa là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và tiếp nhận người…” NĐT năm 2000 quy định những hành vi trên mà không
đưa ra bất cứ sự giải thích nào
Tuyển mộ: Tuyển mộ được thể hiện trong định nghĩa như là giai đoạn đầu tiên
dẫn tới sự bóc lột (đặc biệt là bóc lột lao động) [47- tr 60] Phần lớn nạn nhân bị buôn bán có nguồn gốc từ việc tuyển mộ Những phương pháp được người phạm tội sử dụng như: tuyển dụng người trong các quán bar, quán cà phê, câu lạc bộ, vũ trường và nơi công cộng khác, tuyển dụng chính thức thông qua gia đình hoặc bạn bè, quảng cáo cung cấp việc hoặc học tập ở nước ngoài, thông qua các cơ quan cung cấp công việc, học tập, kết hôn hoặc du lịch nước ngoài, hôn nhân giả dối, mua trẻ em từ người giám
hộ của họ [62- tr.12] Để có được nạn nhân mọi thủ đoạn đều có thể được thực hiện như dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo, thậm chí bắt cóc, lừa gạt, ép buộc…chủ yếu là lợi dụng
sự nhẹ dạ cả tin [45- tr 11-13] của nạn nhân ―Ví dụ, hàng ngàn gia đình Bangladesh
đã bị sốc khi biết rằng con gái của họ thay vì được cho là gửi đến các nước vùng Vịnh
Trang 17thông qua cơ quan tuyển dụng thì lại bị gửi đến nhà thổ ở Ấn Độ và Pakistan Các bé trai được sử dụng như tay đua lạc đà Trong trường hợp khác, sự tuyệt vọng bởi nghèo đói đã khiến cha mẹ đủ cả tin để chấp nhận số tiền có được từ việc bán con cái của họ Thực tế này xảy ra tại Ấn Độ, Nê-pan, Cộng hòa Benin, Thái Lan và các nước nghèo khác‖ [45-tr 12]
Tuy nhiên, tại các nước GMS (các quốc gia thuộc khu vực tiểu vùng sông Mekong bao gồm: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam) thì tuyển mộ không nhất thiết là khâu đầu tiên, phần lớn các nạn nhân di chuyển theo cách riêng phù hợp đối với họ mà không có sự tuyển mộ [47- tr 61] Sự tuyển mộ trong khu vực GMS phần lớn là không chính thức và mang tính tự nguyện, với việc bạn bè, hàng xóm hoặc các thành viên gia đình đóng vai trò là "người tuyển mộ" hay nói cách khác, người bị buôn bán thường được trợ giúp trong giai đoạn đầu bởi một người quen biết với họ và gia đình của họ [43- tr 108]
Vận chuyển, chuyển giao: dùng để chỉ quá trình di chuyển nạn nhân của của bọn
tội phạm buôn bán người nhằm đẩy nạn nhân vào tình thế bị bóc lột [66- tr 354] Vấn
đề được đặt ra là hành vi vận chuyển trong NĐT năm 2000 có nhất thiết là phải có yếu
tố vượt qua biên giới quốc gia hay không [67- tr 352] Theo quy định tại Điều 4, NĐT
năm 2000: ―Trừ những trường hợp được quy định cụ thể dưới đây, Nghị định thư này
được áp dụng để phòng ngừa, điều tra và truy tố các hành vi phạm tội được quy định theo Điều 5 16
của Nghị định thư này, khi những hành vi phạm tội này có tính chất xuyên quốc gia và liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức cũng như cho việc bảo
vệ các nạn nhân của các hành vi phạm tội này.‖ Theo đó, hành vi vận chuyển người
trong NĐT năm 2000 là việc vận chuyển có ít nhất một trong các yếu tố xuyên quốc
16
Khoản 1, Điều 5 NĐT năm 2000: Mỗi quốc gia thành viên phải thông qua những biện pháp lập pháp và các
biện pháp khác nếu thấy cần thiết để quy định những hành vi nêu tại Điều 3 của Nghị định thư này là những tội phạm hình sự khi những hành vi này được thực hiện có chủ ý
Trang 18gia được quy định tại khoản 2 Điều 3 CƯ năm 200017
và có liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức Trong đó, qua biên giới quốc gia chỉ là một trong các dấu hiệu thể hiện tính chất xuyên quốc gia Hành vi vận chuyển, chuyển giao người có thể xảy ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia vẫn được coi là có yếu tố xuyên quốc gia nếu thỏa mãn một trong các dấu hiệu còn lại18 như: được thực hiện ở một quốc gia nhưng
phần chủ yếu của việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác Tuy nhiên, theo lập luận của tác giả Ann D Jordan, ―pháp luật quốc
gia nên quy định hành vi buôn bán người bao gồm hành vi buôn bán người trong phạm
vi nội địa (không có yếu tố xuyên quốc gia) và cả hành vi buôn bán người có yếu tố xuyên quốc gia cho dù hành vi đó được thực hiện bởi một người hay nhóm tội phạm có
tổ chức Bởi buôn bán người vốn đã nguy hiểm và càng nguy hiểm hơn khi có thêm yếu tố xuyên quốc gia Hơn nữa, từ khía cạnh nạn nhân, sự xâm hại của hành vi buôn bán người trong phạm vi nội địa hay có tính xuyên quốc gia do một người hay nhiều người gây ra là không có sự khác biệt‖ [42- tr 9]
Thực tế, vận chuyển và chuyển giao là giai đoạn mà bọn buôn người sử dụng các phương tiện để vận chuyển người ra nước ngoài, qua quốc gia trung chuyển (thông qua đường bộ bằng ô tô, tàu hỏa, hoặc đi bộ; đường thủy bằng thuyền, phà) hoặc có thể vận chuyển tới điểm cuối cùng (thường là đường không bằng máy bay), phương thức vận chuyển phụ thuộc vào điều kiện địa hình [62- tr 13] Trừ số ít trường hợp đã thỏa
17 Vì mục đích của Khoản 1 điều này, một hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia nếu:
(a) Nó được thực hiện ở nhiều quốc gia;
(b) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng phần chủ yếu của việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác;
(c) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động tội phạm ở nhiều quốc gia; hoặc
(d) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn ở một quốc gia khác
18 Xem thêm: [32]
Trang 19thuận trước, còn phần lớn nạn nhân trong giai đoạn này không biết mình được đưa đi đâu, họ bị bọn buôn người hành hạ, hãm hiếp thậm chí bọn buôn người còn khiến các nạn nhân nghiện ma túy để họ không thể bỏ trốn [36- tr 107] Để không bị phát hiện, chúng kiểm soát những người bị buôn bán rất chặt chẽ, họ thường bị giam giữ kín đáo, lấy hết giấy tờ tùy thân thay vào đó là các giấy tờ giả và tách biệt hoàn toàn với bên ngoài trong quá trình vận chuyển [62- tr.12] Quá trình vận chuyển có thể được thực hiện một cách công khai hoặc bí mật, hợp pháp hoặc bất hợp pháp [62-tr.12]
Chứa chấp, tiếp nhận: Hành vi chứa chấp hoặc tiếp nhận ―trong định nghĩa được
lập luận bao gồm các hành vi của chủ sở hữu, người quản lý và người kiểm soát tại bất
kỳ nơi nào trong chuyến hành trình‖ [38- tr 30] Theo đó, chứa chấp hoặc tiếp nhận có thể được hiểu là việc ―duy trì một người trong tình trạng bị bóc lột‖ [38- tr 30] Nếu đặt hành vi này theo thứ tự liệt kê trong các hành vi theo định nghĩa của NĐT thì sẽ rất
dễ nhầm lẫn đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình mua bán người vì được đặt cuối cùng Nhưng không phải như vây, chứa chấp và tiếp nhận có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình phạm tội chứ không nhất thiết là kết quả cuối cùng [47- tr.60] Kết luận này được đưa ra bởi Hội đồng châu Âu trong hợp tác với Liên Hợp Quốc, trong đó nói rằng ―chứa chấp‖ là cung cấp chỗ ở cho nạn nhân theo bất cứ cách nào, trong cuộc hành trình của họ đến đích cuối cùng hoặc tại nơi bóc lột, ―tiếp nhận‖ không
bị giới hạn là nhận người tại nơi bóc lột mà đó có thể là việc gặp nạn nhân tại những địa điểm đã định trước trên chuyến đi của họ để cung cấp cho họ thêm thông tin về nơi đến hoặc họ phải làm gì Thực tế, chứa chấp, tiếp nhận thường gắn liền với sự giam giữ bất hợp pháp nạn nhân để nạn nhân không thể trốn thoát cũng như không để bị người khác phát hiện (một số được gọi là nhà an toàn ―safe house‖) [65- tr 61] Qua
đó, cho thấy rằng tính nguy hiểm của hành vi này là ở chỗ chúng tạo điều kiện thuận lợi để tội phạm diễn ra một cách trot lọt, an toàn và là một mắt xích quan trọng trong chu trình phạm tội đặc biệt là trong những chuyến đi dài [65- tr 61]
Trang 201.3.2.2 Thủ đoạn, phương thức
“…bằng các hình thức bằng cách sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực hoặc ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát những người khác…”
Những phương thức, thủ đoạn nêu ra trong định nghĩa NĐT đã lột tả được đặc trưng phổ biến trong bản chất của tội phạm đó là sự bât bình đẳng trong mối quan hệ giữa những kẻ phạm tội và nạn nhân - cốt lõi của tội buôn bán người [47- tr 63] Trong
đó, các thủ đoạn như dùng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay ép buộc thể hiện tính trực tiếp của hành vi khi bọn buôn người đã có thể kiểm soát hoàn toàn nạn nhân, còn việc
sử dụng các thủ đoạn như lừa dối, dụ dỗ, man trá thì ít trực tiếp hơn và chúng phải tốn công sức nhiều hơn [38]
Dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; cưỡng ép: là việc đe dọa hoặc gây tổn
hại về thể chất hoặc tâm lý để buộc nạn nhân phải tuân theo mệnh lệnh của bon tội phạm mà không giám phản kháng hoặc trốn chạy thậm chí khiến cho nạn nhân tê liệt
sự phản kháng [31- tr 78] Thủ đoạn cưỡng ép cũng chính là dấu hiệu rõ ràng nhất thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, giúp phân biệt tội buôn bán người với hành vi di cư [67- tr 334] Trên thực tế, một số thủ đoạn của việc cưỡng ép nạn nhân là ―lạm dụng thủ tục pháp lý: tước các giấy tờ tùy thân, đẩy ra đường quốc lộ xa
lạ và nạn nhân sẽ rất lo sợ vì không biết ngôn ngữ của quốc gia đó‖ [15- tr 16]
Bắt cóc, 19 lừa gạt, man trá: Bắt cóc là hình thức thường sử dụng với đối tượng là
trẻ em, phụ nữ và những người có sức chống cự yếu ớt bằng cách dụng, đe doạ hoặc sử dụng vũ lực, lừa dối [44- tr 265] [63- tr 267] Lừa gạt và man trá có thể được hiểu là
19 Mặc dù trong quá trình soạn thảo NĐT, bắt cóc (―abduction‖) là thủ đoạn luôn xuất hiện trong tất cả các bản thảo song nó chưa một lần được định nghĩa (Xem: [66] Điều 3, A Negotiation texts.)
Trang 21bất cứ sự lừa dối nào bằng lời nói hoặc hành vi về: bản chất của công việc hoặc dịch vụ được cung cấp; điều kiện làm việc; mức độ tự do trong việc rời khỏi chỗ ở của một người hoặc những trường hợp khác liên quan tới việc bóc lột một người [69- tr 12] Thực tế, trong những thủ đoạn mà bọn buôn người sử dụng để dụ dỗ, lôi kéo đánh vào
sự nhẹ dạ cả tin và mong muốn có được những lợi ích vật chất lớn của nạn nhân như công việc lương cao, ổn định [69- tr 12] Phương thức phạm tội này còn được lồng
ghép với thủ đoạn ―đưa, nhận tiền hay lợi ích khác để nhận được sự đồng ý của một
người để kiểm soát người khác‖ mà điển hình là việc hứa sẽ cho một người một khoản
tiền để người đó tìm được nguồn người mà nạn nhân trong nhiều trường hợp là hàng xóm, hoặc con cái, anh em trong gia đình của người đó [66- tr 43] Thực tế, rất nhiều người lao động nhập cư mong muốn ra nước ngoài để làm một công việc đã được hứa trước và có thu nhập, cuộc sống sung sướng hơn và họ tin vào điều đó, nên họ tham gia vào quá trình di chuyển một cách tự nguyện [45- tr 11] nhưng khi tới nới họ phải chịu
sự lao động cưỡng bức Họ phải làm việc trong nhiều giờ, không được trả lương hoặc được trả rất ít, không có sự tụ do di chuyển, bị đe dọa thậm chí đánh đập nếu có ý định
bỏ trốn [69- tr 12]
Lạm dụng quyền lực (“abuse of power”): yếu tố này có thể được hiểu như là
quyền lực mà thành viên nam đối với thành viên nữ trong gia đình được quy định trong một số hệ thống pháp luật hoặc quyền thế của cha mẹ đối vơi con cái [66- tr 43].Qua
đó, đề cập tới trường hợp người phạm tội dựa trên sự thuận lợi có sẵn xuất phát từ sự bất bình đẳng với nạn nhân là dựa trên mối quan hệ gần gũi, ruột thịt Tuy nhiên, trên thực tế, cách hiểu về yếu tố lạm dụng quyền lực là không đông nhất và cũng không giống với ý nghĩa trong NĐT nêu trên [57- tr 73] Ở một số hệ thống pháp luật, yếu tố này chỉ liên quan tới hành vi của công chức nhà nước [57- tr 73] Ở những hệ thống pháp luật khác, lạm dụng quyền lực còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn là tất cả những mối quan hệ phụ thuộc như: quan hệ gia đình, quan hệ lao động, giám hộ hay chăm sóc
Trang 22[57- tr 74].Có nước còn không quy định yếu tố này trong pháp luật quốc gia [57- tr 74]
Lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương: được hiểu là hành vi xảy ra đối với người đang
trong tình thế không còn một sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận theo yêu cầu của kẻ phạm tội [69- tr 9] Vị thế dễ bị tổn thương có thể là bất cứ hoàn cảnh nào liên quan tới khía cạnh về thể chất, tâm lý, tình cảm, quan hệ gia đình đến các vấn đề xã hội
và kinh tế của một người [32] [61-tr.2] Nạn nhân dễ dàng bị chúng kiểm soát và vốn không có sự chống cự nào hoặc không thể chống cự Việc lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương xảy ra khi tình huống hay hoàn cảnh dễ bị tổn thương của một người được cố ý
sử dụng hoặc bị lợi dụng để thực hiện các hành vi và nhằm bóc lột nạn nhân theo quy định nêu trong định nghĩa, trong đó người bị lạm dụng tin rằng ý muốn của bọn tội phạm là sự lựa chọn duy nhất đối với họ [61- tr.2] Để xác định đó có phải là sự lựa chon duy nhất cho nạn nhân hay không thì cần xem xét các yếu tố về đặc điểm cá nhân
và hoàn cảnh của họ [61- tr 2] Điều đó có nghĩa rằng, cơ quan điều tra, truy tố phải dựa trên trạng thái tâm lý của người phạm tội cũng như hoàn cảnh của nạn nhân để chứng minh yếu tố lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương như là một thủ đoạn của hành vi buôn bán người [61- tr 80] Có những người bị bán đi bởi những người thân thiết của
họ như cha mẹ hoặc những người đứng đầu cộng đồng Trong những tình thế như vậy, những người bị bán đi không có bất cứ cơ hội nào để từ chối cũng như phản ứng lại, họ chịu khuất phục hoàn cảnh [42- tr.4] Những nhân tố phổ biến khiến cho một người rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương là: nghèo đói, kém phát triển và thiếu cơ hội bình đẳng [52] Ngoài những yếu tố chung quy định tại khoản 1, Điều 9 của NĐT năm 2000 thì
sự tồn tại của yếu tố này ở các quốc gia là không giống nhau như: biến đổi khí hậu, thiếu đất sản xuất ở Campuchia [52]; gia đình tan vỡ, đức tính hiếu thảo ở Việt Nam [52], sự thiếu hiểu biết về pháp luật ở Thái Lan [53- tr 25] Vì thế, để phù hợp với tình hình thực tế, các quốc gia thành viên NĐT năm 2000 đã thiết lập nên những quy định
Trang 23riêng về vị thế dễ bị tổn thương [68- tr.11-12] Định nghĩa cụ thể về vị thế dễ bị tổn thương trong mỗi quốc gia sẽ phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của chính quốc gia đó, thậm chí còn dựa trên mức độ phát triển kinh tế, xã hội [57- tr 18]
Pháp luật của một số quốc gia không quy định thủ đoạn ―lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương‖ (cũng như không quy định yếu tố phương thưc, thủ đoạn nói chung) như là một trong những dấu hiệu để chứng minh tội phạm buôn người như Bỉ và Canada [57-
tr 43, 47] Điều này cũng được tìm thấy trong các đạo luật chống buôn bán người của các quốc gia ở tiểu vùng sông Mekong: Luật Phát triển và Bảo vệ Phụ nữ năm 2004 của Lào; Luật Phòng Chống Buôn Bán Người của Thái Lan không quy định thủ đoạn lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương hoặc ―các hình thức ép buộc khác‖ mà tập trung nhấn mạnh vào sự đồng ý của nạn nhân; Luật Ngăn Chặn Buôn Bán Người và Bóc lột Tình dục năm 2007 của Campuchia không quy định các thủ đoạn đã được quy định trong NĐT mà nhấn mạnh vào thủ đoạn ―dụ dỗ‖ (enticement) và lôi kéo (to induce) với một ngụ ý khác hẳn [47- tr 68]
Qua đó cho thấy, yếu tố lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương được quy định trong NĐT năm 2000 một cách không rõ ràng Việc quy định yếu tố này cùng với yếu tố lạm
dụng quyền lực; đưa, nhận tiền hay lợi ích vật chất khác để đạt được sự đồng ý của một
người nhằm kiểm soát người khác để đảm bảo rằng, mọi thủ đoạn tinh vi và khác nhau được sử dụng để đưa hoặc duy trì một người trong trạng thái bị bóc lột đều bị bắt giữ
và sự quy định không rõ ràng như vậy nhằm đạt được sự đồng thuận của các quốc gia với những quan điểm khác nhau về vấn đề trên [57- tr.25] Tuy nhiên, đến nay, chưa có một văn bản hướng dẫn của NĐT năm 2000 đề cập về giới hạn của yếu tố lạm dụng vị thế dễ bị tổn thương, điều đó gây ra khó khăn cho việc áp dụng yếu tố này trong hoạt động điều tra, truy tố trên thực tế [57- tr.25]
Trang 24 Về sự đồng ý của nạn nhân
NĐT năm 2000 quy định: Việc một nạn nhân của việc buôn bán người đồng
thuận sự bóc lột có chủ ý được nêu ra trong khoản a) của điều này sẽ là không thích hợp nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản a) đã được sử dụng (Điều 3 (b))
Như vậy, sẽ không được coi là đã có sự đồng ý của nạn nhân nếu bất cứ một thủ đoạn nào nêu trên được sử dụng nhằm bóc lột một người Theo tác giả Ann D Jordan,
sự đồng ý một cách thực sự chỉ có thể xảy ra và được thừa nhận là hợp pháp nếu tất cả những chứng cứ liên quan đã rõ ràng và người đó được tự do để đồng ý [42- tr.7] Ý định đặt nạn nhân vào tình thế bị bóc lột của người phạm tội có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong quá trình thực hiện hành vi mà không nhất thiết là phải có ngay từ khâu tuyển mộ hoặc vận chuyển ―Do đó, bị cáo không thể lập luận rằng nạn nhân đã đồng ý làm việc trong điều kiện lao động cưỡng bức, nô lệ, khổ sai nếu chỉ dựa vào việc nạn nhân đồng ý di cư, mang giấy tờ giả, thực hiện công việc một cách bất hợp pháp ở nước ngoài Thậm chí, ngay cả khi nạn nhân đã đồng ý làm việc trong điều kiện rất tồi
tệ với số tiền công ít ỏi, rất ít tự do thì họ vẫn là nạn nhân của hành vi buôn bán người nếu kẻ buôn người có ý định giữ họ làm công để trả nợ hoặc trong điều kiện ép buộc‖ [42- tr.7] Bởi một người không thể nào đồng ý việc mình bị lao động cưỡng bức, nô lệ hoặc khổ sai [34- tr.83] Qua đó thấy rằng, sự đồng ý của nạn nhân không phải là yếu
tố xác định hành vi buôn bán người mà phải dựa vào việc xem xét những phương thức, thủ đoạn có được sử dụng nhằm mục đích bóc lột nạn nhân hay không Một khi những yếu tố của hành vi buôn bán người được chứng minh thì bất kỳ lí lẽ nào về sự đồng ý của nạn nhân là không thích đáng [42- tr.7] Điều đó cho thấy, NĐT năm 2000 tập trung nhấn mạnh trạng thái tâm lý của người phạm tội chứ không phải là của nạn nhân (đối tượng tác động) trong hành vi buôn bán người Quan điểm này cũng được chia sẻ bởi các khuyến nghị của Luật mẫu UNODC, theo đó ưu tiên tập trung vào các trạng
Trang 25thái của tâm lý của thủ phạm đã được ghi nhận [69- tr9]
1.3.2.3 Về mục đích bóc lột
Hành vi bóc lột bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức,
nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy các bộ phận cơ thể;
NĐT năm 2000 chỉ liệt kê những mục đích bóc lột được coi là ―ít nhất‖ (―at a minimum‖) để tội phạm được cấu thành mà không giới hạn phạm vi của yếu tố này Hành vi buôn bán người được vẫn được coi là tội phạm ngay cả khi việc bóc lột chưa diễn ra trên thực tế, chỉ cần chứng minh được ý định đặt một người vào tình trạng bị bóc lột thì tội phạm đã được cấu thành [47- tr 70]
Bóc lột mại dâm và các hình thức tình dục khác: NĐT năm 2000 không định
nghĩa về khái niệm này, theo Luật mẫu của UNODC thì bóc lột mại dâm là việc nhận được lợi ích tài chính hay lợi ích vật chất khác từ việc mại dâm người khác [69- tr 14] [66- tr 334] Việc không đưa ra định nghĩa của hai thuật ngữ đó là kết qủa của quá trình đàm phán về NĐT với sự tham gia của hơn 100 quốc gia trên thế giới, do pháp luật và chính sách khác nhau của các nước liên quan tới hoạt động mại dâm người lớn, các quốc gia lo ngại rằng nếu tham gia NĐT họ sẽ phải thay đổi luật về hoạt động mại dâm của quốc gia mình
Sự không thống nhất về mục đích bóc lột mại dâm được thể hiện thông qua hai luồng quan điểm đối lập nhau của hai khối tổ chức phi chính phủ (NGO: nongovernmental organization) tham dự đàm phán về phạm vi của việc bóc lột mại dâm Luồng quan điểm do Hội Liên Hiệp Chống Buôn Bán Người (CTAW: Coalition Against Trafficking in Persons) đại diện cho rằng, buôn bán người bao gồm mọi hình thức của việc tuyển mộ và vận chuyển người nhằm mục đích hoạt động mại dâm bất kể những hành vi tuyển mộ và vận chuyển ấy được thực hiện bằng thủ đoạn dùng vũ lực
Trang 26hoặc lừa dối hay không [35- tr.21] Đứng ở khía cạnh nạn nhân, họ lập luận rằng, hoạt động mại dâm vốn đã là sự vi phạm nhân quyền vì thế nên bị loại trừ và trừng trị (không phải là việc trừng trị nạn nhân) [34- tr 81] Không một người nào, kể cả người lớn thật sự đồng ý tham gia vào hoạt động mại dâm và việc một người phụ nữ đồng ý tham gia vào hoạt động mại dâm là vô nghĩa, kể cả việc tham gia vào ngành công nghiệp tình dục [34- tr 81] Luồng quan điểm thứ hai do Hội kín về Nhân Quyền (The Human Rights Caucus) đại diện, trái ngược với luồng quan điểm thứ nhất Trên cơ sở xem mại dâm như là một loại công việc (―a form of labour‖) [34- tr 81] quan điểm này cho rằng, buôn bán người bao gồm những công việc hoặc dịch vụ được thực hiện bởi các hình thức như: lao động cưỡng bức, nô lệ hay khổ sai, tuy nhiên không bao gồm việc hoạt động mại dâm và công viêc tình dục khác diễn ra tự nguyện và không có sự
ép buộc [34- tr 81] Điều đó có nghĩa là, hoạt động mại dâm (sex work) và buôn bán người là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau và hành vi buôn bán người nên được xác định dựa trên các yếu tố như: ép buộc, lừa dối, lạm dụng quyền lực hay những hình thức lạm dụng khác liên quan tới việc tuyển dụng hay điều kiện làm việc [34- tr 81] Họ cho rằng nên có sự phân biệt giữa hoạt động mại dâm người lớn (đặc biệt là phụ nữ) với mại dâm trẻ em [35- tr 21] Mọi hoạt động mại dâm trẻ em đều thuộc phạm vi của hành vi buôn bán người mà không cần quan tâm tới các yếu tố như lừa dối hay, cưỡng ép… được sử dụng [34- tr 81] Tuy nhiên, việc buôn bán người không tồn tại trong trường hợp, một người phụ nữ (người lớn) đồng ý để tham gia mại dâm mà không có bất kỳ sự cưỡng ép nào [35- tr 21] Do không đạt được sự thống nhất về vấn đề trên, NĐT đã không đưa ra khái niệm chính thức nào về mục đích bóc lột mại dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác Thay vào đó, mỗi quốc gia thành viên sẽ tự quy định
về vấn đề trên theo quan điểm và chính sách của quốc gia mình [66- tr 347] Điều đó, một mặt có thể khiến cho việc tham gia vào NĐT năm 2000 sẽ trở nên dễ dàng hơn đối với các quốc gia so với việc đưa ra định nghĩa tường minh về hai thuật ngữ đó [42-
Trang 27tr.4] Mặt khác, việc quy đinh như vậy có thể dẫn tới sự tùy tiện trong việc quy định về vấn đề trên ở pháp luật quốc gia [47- tr 72]
Lao động cưỡng bức, dịch vụ cưỡng bức: Với mục đích này, chúng ta có thể tham
khảo khái niệm được định nghĩa tại Khoản 1, Điều 2, Công ước về Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc năm 1930 như sau: ―là chỉ mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe doạ của một hình phạt nào đó và bản thân người
đó không tự nguyện làm‖20 Trong khuôn khổ NĐT năm 2000, yếu tố trên có thể được hiểu là mọi công việc hoặc dịch vụ được thực hiện bởi một người dưới việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, (hoặc cưỡng ép) và với công việc hoặc dịch vụ được đề nghị mà người đó không có sự tự do và sự đồng thuận [66- tr 341] Ngoại trừ một số công việc hoặc dịch vụ như: hình phạt lao động được tuyên bởi tòa án đối với tù nhân, nghĩa vụ quân sự hoặc nghĩa vụ quốc gia đối với những người từ chối nhập ngũ, nghĩa
vụ công dân thông thường [66 - tr.341] Tình trạng bị cưỡng bức lao động được xác định dựa trên bản chất bất của mối quan hệ giữa người làm công và người chủ mà không phải dựa trên tính chất hợp pháp/ bất hợp pháp của công việc hoặc dịch vụ theo pháp luật quốc gia cũng như liệu công việc hay dịch vụ đó có được công nhận là một hoạt động kinh tế hay không [41- tr.6] Như vậy, lao động cưỡng bức bao gồm việc bị cưỡng bức làm việc nhà máy, cưỡng bức mại dâm hoặc các dịch vụ tình dục cưỡng bức khác hay cưỡng bức ăn xin [69- tr 15]
Nô lệ hay các hình thức khác tương tự nô lệ thực chất là nạn nhân bị ép buộc rơi
vào lao động cưỡng bức [69 –tr.15] Mặc dù, NĐT năm 2000 không đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm nô lệ và phạm vi của hình thức khác tương tự nô lệ Tuy nhiên, trong khuôn khổ NĐT năm 2000, định nghĩa về nô lệ và các hình thức khác tương tự như nô lệ được quy định trong Công ước bổ sung về xoá bỏ chế độ nô lệ,
20 ―all work or service which is exacted from any person under the menace of any penalty and for which the said person has not offered himself voluntarily‖
Trang 28buôn bán nô lệ, và các hình thức tương tự như chế độ nô lệ năm 1956 (Công ước 1956)
sẽ được áp dụng [66- tr 342, 347] Theo đó, Nô lệ là một quy chế hay tình trạng của
một người bị (người khác) thực thi một hay tất cả những quyền sở hữu (Điều 1 Công
ước Liên hợp quốc về nô lệ năm 1926 được nhắc lại trong khoản 1, Điều 7 Công ước
bổ sung về xoá bỏ chế độ nô lệ, nô lệ thương mại, và các hình thức tương tự như chế
độ nô lệ năm 1956) Hình thức tương tự như nô lệ được quy định tại Điều 1, Công ước
195621 bao gồm những hình thức sau:22
a Nô lệ gán nợ, nghĩa là vị thế hay tình trạng nảy sinh từ cam kết của người mắc
nợ lấy sự phục dịch của chính họ hoặc của một người phụ thuộc vào họ như là sự bảo đảm cho món nợ của họ với người khác, nếu giá trị của sự phục dịch đó, như được đánh giá hợp lý, không được sử dụng để thanh toán nợ, hoặc thời hạn và tính chất sự phục dịch đó không được giới hạn và xác định;
b Nông nô, nghĩa là tình trạng hay địa vị của một tá điền mà theo luật, tập quán
21
(a) Debt bondage, that is to say, the status or condition arising from a pledge by a debtor of his personal services or of those of a person under his control as security for a debt, if the value of those services as reasonably assessed is not applied towards the liquidation of the debt or the length and nature of those services are not respectively limited and defined;
(b) Serfdom, that is to say, the condition or status of a tenant who is by law, custom or agreement bound to live and labour on land belonging to another person and to render some determinate service to such other person, whether for reward or not, and is not free to change his status;
(c) Any institution or practice whereby:
(i) A woman, without the right to refuse, is promised or given in marriage on payment of a consideration in money or in kind to her parents, guardian, family or any other person or group; or
(ii) The husband of a woman, his family, or his clan, has the right to transfer her to another person for value received or otherwise; or (iii) A woman on the death of her husband is liable to be inherited by another person;
(d) Any institution or practice whereby a child or young person under the age of 18 years, is delivered by either or both of his natural parents or by his guardian to another person, whether for reward or not, with a view to the exploitation of the child or young person
or of his labour
22 Bản dịch tiếng việt tại: [10]
Trang 29hay thỏa thuận, phải sống và lao động trên đất đai thuộc về người khác, và làm những công việc phục vụ nhất định cho người đó, cho dù được trả công hay không và không được tự do thay đổi địa vị của mình;
c Bất kì thể chế hay tập tục nào mà theo đó:
i) Một phụ nữ bị hứa gả hay bị gả để thanh toán một khoản tiền hay hiện vật cho cha mẹ, người giám hộ, gia đình họ hay bất cứ cá nhân hay nhóm nào khác, mà người phụ nữ đó không có quyền từ chối; hoặc
ii) Chồng của một phụ nữ, gia đình hay dòng tộc của người đó có quyền nhưîng người phụ nữ đó cho người khác để lấy tiền hoặc hàng hóa hoặc những thứ khác; hoặc iii) Một phụ nữ khi chồng chết có thể bị buộc phải làm vợ thừa kế của người khác
d Bất kỳ thể chế hay tập tục nào mà theo đó một đứa trẻ hay người dưới 18 tuổi
bị bố mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc cả hai giao cho một người khác, dù có nhận được
sự đền bù hay không, nhằm lạm dụng đứa trẻ hoặc người dưới 18 tuổi đó hoặc nhằm bóc lột sức lao động của họ
Trên thực tế nạn nhân thường được bọn buôn người hứa hẹn sẽ tìm cho một công việc và toàn bộ chi phí do bọn chúng bỏ ra nhưng sau đó nạn nhân bị buộc phải làm việc cật lực để trả món nợ đó, không những thế bọn tội phạm thường tìm cách làm cho
số nợ mà nạn nhân phải trả tăng lên đến mức họ khó có khả năng trả nổi Họ chỉ có hai tới ba tiếng để nghỉ ngơi mỗi ngày và không được ăn uống một cách đang hoàng, vệ sinh bản thân tối thiểu hầu như không có, và phải sống trong những khu nhà xập xệ thậm chí là với gia súc, gia cầm Nếu không tuân theo mệnh lệnh của chủ họ sẽ bị đánh đập, dọa nạt, tra tấn hết sức giã man Thực tế, những nạn nhân may mắn khi được cứu
bị hoảng loạn về tinh thần, sa sút trí tuệ, suy nhược nghiêm trọng về thể chất