1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

83 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa luật hành chính, Đại học Luật Tp.HCM, đăng trên tạp chí khao học pháp lý số 1/2001; Một số vấn đề về biện pháp ngăn ch n trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam 2003 Đăng trên websit

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn: TS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH

Giảng viên Khoa Luật Hình sự

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PLTTHS : Pháp luật tố tụng Hình sự TTHS : Tố tụng Hình sự

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng NTHTT : Người tiến hành tố tụng BLTTHS : Bộ luật tố tụng Hình sự

Trang 3

MỤC LỤC

Lời nói đầu 3 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC “TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN” TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1 1.1.Khái niệm về nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 1 1.1.1.Khái niệm về quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự 1 1.1.2.Khái niệm về nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 4 1.2.Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc quy định quy định nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 6 1.3.Ý nghĩa và vị trí của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong mối liên hệ với một số nguyên tắc cơ bản khác trong Tố tụng Hình

sự 7 1.3.1.Ý nghĩa của việc quy định nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 7 1.3.2.Vị trí của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong mối liên hệ với một số nguyên tắc cơ bản khác trong Tố tụng Hình sự 8 1.4.Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong các văn bản pháp lý quốc tế 14 1.5.Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 22 1.5.1.Một số quy định của Bộ Luật Hồng Đức có liên quan đến nguyên tắc:“Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS 23 1.5.2.Giai đoạn từ 1955 đến 1988 24 1.5.3.Giai đoạn từ 1989 đến nay 25

Trang 4

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PH P LUẬT VỀ NGUY N TẮC: “TÔN TRỌNG V BẢO VỆ C C QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN” TRONG TTHS VIỆT NAM – THỰC TI N P DỤNG V M T SỐ IẾN NGHỊ HO N THIỆN PH P LUẬT 27 2.1 Đánh giá về thực trạng quy định pháp luật TTHS VN về nguyên tắc: “Tôn trọng

và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” 27 2.1.1 Những thành tựu đạt đư c 27 2.1.1.1 Các quy định về thủ tục tố tụng trong hoạt động hởi tố, điều tra, truy

tố và x t xử 28 2.1.1.2 Các quy định về việc áp dụng các biện pháp ngăn ch n 35 2.1.1.3 Các quy định về hiếu nại, tố cáo, háng cáo 41 2.1.1.4 Các quy định về trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền công dân trong TTHS từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành Tố tụng 47 2.1.2 Những vướng mắc c n tồn tại về các quy định của PLTTHS liên quan đến nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS 51 2.1.2.1 Các quy định về thủ tục tố tụng trong hoạt động hởi tố, điều tra, truy

tố và x t xử 51 2.1.2.2 Các quy định về việc áp dụng các biện pháp ngăn ch n 53 2.1.2.3 Các quy định về hiếu nại, tố cáo, háng cáo 54 2.1.2.4 Các quy định về trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền công dân trong TTHS từ phía các Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng 56 2.1.3 Nguyên nhân của những bất cập trong quy định của PLTTHS liên quan đến Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS 58 2.1.3.1 Nguyên nhân chủ quan 58 2.1.3.2 Nguyên nhân hách quan 58 2.2 Thực tiễn áp dụng Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS 59 2.2.1 Những kết luận đạt đư c từ việc áp dụng pháp luật 59 2.2.2 Những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật 60

Trang 5

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng nguyên tắc 62 2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan 62 2.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 62 2.3 Một số iến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS về Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo

vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS 62 2.3.1 Các yếu tố bảo đảm thực hiện nguyên tắc 62 2.3.2 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định liên quan đến Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự 64 KẾT LUẬN 1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là giá trị của nhân loại Khi xã hội phát triển thì các quyền của con người cũng ngày càng đư c chú trọng, mở rộng và hoàn thiện hơn Xuất phát

từ nguồn gốc của quyền con người, quyền công dân cũng hông phải là một ngoại lệ

Ch ng ta có thể nhận ra sự khác biệt rất rõ ràng giữa các hình thức tổ chức Nhà nước thông qua các quyền cơ bản mà công dân của quốc gia họ đư c hưởng Như vậy, quyền cơ bản của công dân cũng đã góp phần thể hiện phần lớn ý chí của quốc gia hay ý chí của gia cấp thống trị trong mỗi Nhà nước đó Tuy nhiên, hông phải cứ Nhà nước quy định cho công dân của họ nhiều quyền l i thì sẽ đư c coi là một xã hôi phát triển mà việc tạo ra một cơ chế như thế nào bảo đảm cho việc thực hiện các quyền cơ bản đó một cách đạt hiệu quả mới là vấn đề quan trọng Việc bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của công dân dựa trên nền tảng của quyền con người luôn là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa lớn không chỉ ở môt quốc gia mà còn liên quan tới

cả nhân loại Bởi lẽ, nếu trật tự xã hội không đư c sắp xếp một cách có quy củ, có trên có dưới thì con người rất dễ đối xử với nhau như c n ở thời nguyên thủy và hưởng chế độ của một nhân loại chưa hề tồn tại “ánh sáng m t trời”

Việt Nam đang tiến hành sửa đổi hoàn thiện Hiến pháp 1992, một trong những điều đ c biệt cần đư c chú trọng sửa đổi đó là sửa đổi chương V quy định về các quyền cơ bản của công dân, cụ thể là Điều 50 trong Hiến Pháp 1992 Như vậy, sau hơn 20 năm ể từ khi Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời – Hiến pháp Việt Nam dân chủ Cộng h a 1946, Nhà nước VN đã dần có cách nhìn mới về việc chú trọng tới các quyền cơ bản của dân để kịp thời sửa đổi, bổ sung sao cho phù h p với hoàn cảnh, điều kiện hiện tại và đ c biệt là để dễ dàng bắt kịp cái nhìn mới, hiện đại của các nước phát triển mạnh trên thế giới và dễ dàng hơn trong việc hội nhập toàn cầu hóa hiện nay Không những thế, dưới góc độ pháp luật thì việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự nói riêng và toàn bộ lĩnh vực luật pháp nói chung cũng đang là một vấn đề mang tầm hết sức quan trọng

Trang 7

Thực tế cho thấy, việc giải quyết các vụ án trong các giai đoạn TTHS vẫn còn tồn tại những vướng mắc nhất định liên quan đến việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, đ c biệt là quyền và l i ích pháp lý của người bị buộc tội, quyền khiếu nại,

tố cáo vẫn chưa đư c bảo đảm một cách trọn vẹn và trong nhiều trường h p những quyền l i đó đôi hi c n bị xâm phạm một cách nghiêm trọng Thực trạng đó chứng

tỏ ch ng ta chưa thực hiện tốt những tư tưởng chỉ đạo mà nguyên tắc đ t ra, vẫn còn tồn tại những cách hiểu chưa thống nhất về nội dung, tinh thần của nguyên tắc giữa các nhà làm luật M t hác, dù đây hông phải là vấn đề mới, nhưng từ lâu, vấn đề này chỉ mới đư c tiếp cận một cách rất chung chung, các bài viết chỉ tiếp cận nguyên tắc trong một phạm vi và mức độ giới hạn, hầu như chưa đề cập đến nguyên tắc này

về lý luận, thực tiễn cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc Nhận thức đư c rằng việc nghiên cứu nguyên tắc này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các bài nghiên cứu trước đó dù đã

đề cập nhưng vẫn cần đư c nghiên cứu sâu hơn, đồng thời bảo đảm quyền cơ bản của công dân nói chung cũng đang là vấn đề cấp thiết đư c chú trọng trong giai đoạn đang tiến hành sửa đổi Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho nên tác giả

đã chọn đề tài “Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS

là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa rất quan trọng mà việc thực hiện tốt tinh thần của nguyên tắc trong các hoạt động Tố tụng Hình sự sẽ đem lại những hiệu quả nhất định Chính vì vậy mà từ lâu, việc nghiên cứu nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS cũng đư c rất nhiều các nhà luật học quan tâm Qua tìm hiểu đã có nhiều bài viết, bài bình luận, trao đổi khoa học về vấn đề này Thực tế việc tiếp cận một cách trọn vẹn tinh thần của nguyên tắc này vẫn còn sự hạn chế Tuy nhiên, đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu tiếp cận nguyên tắc:

“Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS một cách gián tiếp như: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật Tố tụng hình sự (Nguyễn Ngọc Chí, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2007; Tăng cường việc bảo đảm quyền

tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự (Tạp chí nghề luật, Học viện

Trang 8

Tư pháp, Tạp chí số 4/2006); Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự – những đề xuất sửa đổi, bổ sung ( Nguyễn Ngọc Chí Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội); Tăng cường bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong các giai đoạn

tố tụng (đăng trên website luatminh hue.vn); Các nguyên tắc của Tố tụng Hình sự trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền( Nguyễn Cảnh H p, TS Khoa luật hành chính, Đại học Luật Tp.HCM, đăng trên tạp chí khao học pháp lý số 1/2001); Một số vấn đề về biện pháp ngăn ch n trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

2003 (Đăng trên website Eboo edu.vn); Bảo đảm quyền khiếu nại của công dân trong pháp luật Việt Nam hiện nay (Nguyễn Băng Thanh, Luận văn thạc sĩ 2007);… Những kết quả nghiên cứu trên phần nào đã góp phần làm rõ nội dung cũng như ý nghĩa của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu tinh thần của nguyên tắc trong các quy định của pháp luật TTHS Thực tiễn cho thấy, nguyên tắc: “ tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS tuy chưa thực sự là đối tư ng chính của nhiều nghiên cứu đồng thời, các nghiên cứu trước đây cũng chưa dành sự chú ý thích đáng tới nguyên tắc này thế nhưng cũng đã đư c nghiên cứu dưới nhiều góc độ và mức độ hác nhau và đem lại những giá trị nhất định nhưng chưa thực sự toàn diện,

có những vấn đề c n chưa đư c nghiên cứu và dù đã đề cập nhưng vẫn cần có sự nghiên cứu sâu hơn Thực tế đó đã mở ra hướng nghiên cứu và nhiệm vụ của khóa luận này

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề lý luận của “Nguyên tắc tôn

trọng các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự” nói chung, pháp luật Tố tụng Hình sự Việt nam và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về nguyên tắc này nói riêng; thực tiễn áp dụng “Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự” ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khóa luận này nghiên cứu dưới góc độ luật

TTHS nói chung, trong đó nói đến pháp luật TTHS một số nước trên thế giới Đ c biệt, chú trọng tới pháp luật TTHS Việt Nam có liên quan đến nguyên tắc này Do việc tiếp cận nguồn thông tin về số liệu còn hạn chế và g p nhiều hó hăn nên hóa luận chỉ nghiên cứu việc thực hiện những quy định liên quan đến nguyên tắc ở Việt

Trang 9

Nam tại mốc thời điểm quan trọng là thời Lê sơ – thời điểm Bộ luật Hồng Đức ra đời

và một số giai đoạn điển hình như 2 giai đoạn chính: Giai đoạn từ 1955 đến 1988 (trước khi BLTTHS có hiệu lưc); Giai đoạn từ 1989 đến nay (giai đoạn từ khi BLTTHS 2003 ra đời) Ngoài ra, do thời gian có hạn, kiến thức sinh viên còn nhiều hạn chế, đồng thời, phạm vi tác động, chi phối của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS rất rộng, liên quan đến nhiều đối tư ng khác nhau nên tác giả xin ph p đư c nghiên cứu vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS nói chung và đ c biệt tập trung nghiên cứu việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của đối tư ng đ c biệt cần đư c bảo vệ là người bị buộc tội trong TTHS

Về mặt lý luận: Đề tài có những đóng góp nhất định về m t lý luận trong việc

nghiên cứu, phân tích và lý giải các quy định của pháp luật TTHS liên quan đến đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, đồng thời đưa ra một số khái niệm pháp lý và

đ c trưng liên quan trong TTHS

Về mặt thực tiễn: Khóa luận đã góp phần làm rõ, phân tích những tồn tại, hạn

chế, các quy định liên quan đến việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân cũng như các nguyên nhân của hạn chế đó Từ đó, đưa ra những đóng góp góp phần hoàn thiện hơn các quy định của Pháp luật TTHS theo hướng đảm bảo một cách có hiệu quả các quyền, l i ích của công dân trong TTHS thông qua việc học hỏi, nghiên cứu các quy định của pháp luật của một số nước trên thế giới có liên quan đến vấn đề mà khóa luận đang nghiên cứu

Trong khóa luận cử nhân này tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết h p với phương pháp phân tích tổng h p, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, bình luận…để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc

6 Những kết quả đạt được và những điểm mới khi nghiên cứu

Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, khóa luận đã thu đư c những kết quả nhất định cũng như hoàn thành mục đích và yêu cầu đề ra Kết quả nghiên cứu và những giải pháp đư c đề xuất trong khóa luận có ý nghĩa quan trọng đối với việc đấu

Trang 10

tranh phòng, chống tội phạm nói chung, bảo vệ các quyền và l i ích h p pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS nói riêng thông qua việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của PLTTHS về “Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của công dân” trong tố tụng hình sự ở Việt Nam và những biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện tốt nguyên tắc này Đồng thời, với việc đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS về việc áp dụng các biện pháp ngăn ch n cũng như quyền khiếu nại, tố cáo, kháng cáo, kháng nghị tác giả cũng đã phần nào làm rõ tinh thần của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS đã đư c cụ thể hóa qua các quy định có ý nghĩa bảo vệ quyền cơ bản của công dân ở mức cao nhất như thế nào để rồi có thể rút ra câu trả lời cho câu hỏi:

“ Nhà nước và pháp luật đã thực sự chú trọng tới việc tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự hay chưa?” Ngoài ra, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về các mô hình Tố tụng Hình sự trên thế giới và tiếp cận hướng

đi, hướng phát triển mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam đã gi p tác giả phần nào

có thể đưa ra những nhận định về cách thức mà mỗi mô hình Tố tụng Hình sự quy định để bảo vệ cho công dân các quyền cơ bản, chính đáng

M c dù đã cố gắng nhưng do đề tài nghiên cứu là một vấn đề khá phức tạp và rộng, trong khi kiến thức sinh viên còn hạn chế, thời gian và tài liệu nghiên cứu ít và

g p nhiều hó hăn nên hóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Rất mong nhận đư c sự nhận xét, phê bình, góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để em có thể khắc phục đư c những hạn chế đó và phát triển khóa luận ở tầm nghiên cứu cao hơn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của khóa luận đư c trình bày trong hai chương:

- Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về Nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự

- Chương 2 Quy định của pháp luật về nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC

“TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN”

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

của công dân” trong Tố tụng Hình sự

“ hái niệm là một đối tư ng trong suy nghĩ trừu tư ng, một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù lôgic, ho c một sự diễn xuất – bằng suy nghĩ – về các đối tư ng và hiện tư ng trong tâm lý học Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự vật, quá trình, hiện

tư ng” [34] Việc đi tìm hiểu những khái niệm có liên quan trước hi đi vào tìm hiểu một vấn đề cụ thể sẽ gi p ch ng ta có đư c những tư duy đ ng đắn, hướng đi chính xác và có những hiểu biết cụ thể rõ ràng hơn về vấn đề mà ch ng ta đang nghiên cứu Chính vì vậy, để hiểu thế nào là khái niệm “quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự” trước hết, ta cần tìm hiểu một số khái niệm sau:

1.1.1 Khái niệm về quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự

- Quyền là gì?

Trong thực tế và cả trong pháp luật, khái niệm “quyền” đư c sử dụng rất phổ biến “Quyền” đư c hiểu là “điều mà pháp luật ho c xã hội công nhận cho đư c hưởng, đư c làm, đư c đ i hỏi” như: “quyền công dân, quyền đư c tự do và mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng”… hay là “Cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay

lẽ phải cho ph p hưởng thụ, vận dụng, thi hành và, khi thiếu đư c yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đ i hỏi để giành lại…”[35] Trong xã hội, định nghĩa “quyền”

đư c hiểu rất rộng Đôi hi “quyền” là những việc, những điều mà một thực thể, một

cá nhân, công dân có đư c, đư c công nhận và đư c thực hiện một cách tự nhiên trên thực tế, nhưng đôi hi “quyền” lại là những điều mà pháp luật của mỗi Nhà nước quy định cho mỗi công dân của mình M t khác, với ý nghĩa mở rộng, “quyền” c n

đư c định nghĩa là “sức mạnh đư c vận dụng khi thực hiện chức năng trong một lĩnh vực nhất định” [36] hi ấy, “quyền” sẽ đư c mở rộng là quyền lực, quyền hạn…thể

Trang 12

hiện “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về m t chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy” “quyền theo cương vị, chức vụ cho ph p”

- Quyền cơ bản của công dân là gì?

Công dân: Khi nhắc đến “công dân” và “cá nhân” nhiều người thường nhầm

tưởng hai khái niệm đó là một nhưng hông phải vậy Cá nhân và công dân giống nhau ở chỗ đều chỉ những con người riêng rẽ, nhưng nếu đ t trong mối quan hệ với nhà nước thì họ là công dân, c n đ t trong mối quan hệ với xã hội nói chung thì họ là

cá nhân Khái niệm công dân là khái niệm gắn với Nhà nước, gắn với pháp luật, là khái niệm hẹp hơn hái niệm cá nhân, bởi cá nhân bao gồm cả những người là công dân và không phải là công dân Đồng thời, khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch, quốc tịch là mối liên hệ bền vững của một thể nhân với một nhà nước nhất định, một cá nhân có thể là có một hay nhiều quốc tịch, cũng có thể không

có quốc tịch của bất kỳ Nhà nước nào… Như vậy, thuật ngữ cá nhân và công dân không hề tách bạch nhau nhưng cũng hông phải là đồng nhất Chính vì vậy mà với mỗi tư cách hác nhau thì họ sẽ đư c hưởng những quyền l i nhất định

Quyền công dân: Khái niệm về quyền công dân cũng ra đời từ lâu trong lịch sử,

đư c sử dụng rộng rãi trong xã hội Tư sản “ hái niệm quyền công dân không phải dùng để chỉ các quyền cụ thể của công dân là quyền nào mà là khái niệm có tính chất

là tiêu chí đánh giá, hàm ý chỉ rằng Nhà nước đã ghi nhận và bảo đảm cho công dân, quyền con người như thế nào trong các quyền và trong các nghĩa vụ cụ thể của công dân Tính cụ thể của khái niệm chỉ là chỗ nó không tồn tại độc lập như hái niệm quyền con người mà phải gắn với các quy định của pháp luật, phải qua việc xem các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của một hệ thống pháp luật như thế đã phản ánh quyền công dân như thế nào Thông qua quyền công dân trong một hệ thống pháp luật, người ta có thể biết nó đã thể hiện quyền con người như thế nào”[27] Như vậy, khác với quyền con người, quyền công dân là do luật pháp quy định, bao gồm các quyền: bầu cử, ứng cử, quyền quốc tịch, quyền học tập, quyền lập hội, quyền kinh doanh, quyền hành nghề… Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng của mỗi nước mà số lư ng, phạm vi quyền công dân

ở các nước khác nhau thì khác nhau

Trang 13

- Quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự là gì?

Tố tụng Hình sự đư c hiểu là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đ ng pháp luật Hoạt động TTHS mang tính khách quan tồn tại trong tất

cả các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó là đ i hỏi tất yếu của Nhà nước khi trừng

trị kẻ phạm tội

Quyền cơ bản của công dân:

Quyền cơ bản của công dân khác với quyền công dân “Cơ bản” nghĩa là nền tảng “coi như nền gốc, trọng yếu nhất”[35], là “cái làm cơ sở cho những cái khác trong toàn bộ hệ thống” [36] Như vậy, quyền cơ bản của công dân là những quyền mang tính chất cơ sở, làm nền tảng cho những quyền khác và nó chính là “tập h p con” của quyền công dân Quyền cơ bản của công dân đư c ghi nhận trong các bản Hiến pháp, nó mang tính chất cụ thể chỉ các l i ích cơ bản mà pháp luật ghi nhận cho công dân trong các quy định cụ thể Như tác giả Trương Hồng Quang trong bài viết:

“Quyền công dân và mối quan hệ với quyền con người” của mình đã nhận định:

“Trong hoa học pháp lý, toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của công dân, đư c chia ra làm hai loại: các quyền và nghĩa vụ cơ bản và các quyền và nghĩa vụ hông cơ bản

Và quyền và nghĩa vụ đư c quy định trong Hiến pháp của các nước đư c quan niệm

là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Nó chỉ là một bộ phận của quyền và nghĩa

vụ của công dân, nhưng là bộ phận cơ bản có ý nghĩa thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của họ”[27]

Như vậy, ta có thể hiểu “Quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự” là những quyền của công dân đư c Hiến pháp và pháp luật Tố tụng Hình sự quy định Theo đó, mỗi công dân khi tham gia Tố tụng Hình sự, cụ thể trong từng giai đoạn cũng như các hoạt động của Tố tụng Hình sự như: hởi tố, điều tra,… công dân sẽ

đư c pháp luật TTHS trao cho những quyền nhất định mang tính chất nền tảng và làm cơ sở cho việc quy định và đảm bảo các quyền khác của họ

Trang 14

1.1.2 Khái niệm về nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự

Trong các nguyên tắc của luật TTHS, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự đư c hầu hết các nhà nước trên thế giới thừa nhận là nguyên tắc cơ bản Trước hết, để làm sáng tỏ khái niệm của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự, ta cần làm rõ các câu hỏi:

- Nguyên tắc là gì?

Nguyên tắc là một thuật ngữ đư c sử dụng phổ biến trong đời sống thực tiễn và

lý luận, chi phối nhiều lĩnh vực, quá trình hoạt động của con người Nguyên tắc theo nghĩa chung nhất có nghĩa là “điều cơ bản đã đư c qui định để dùng làm cơ sở cho các mối quan hệ xã hội, điều cơ bản rút ra từ thực tế hách quan để chỉ đạo hành động”[34] hay đư c coi là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”[32] Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và pháp luật thì nguyên tắc của pháp luật là nguyên lý, tư tưởng chủ đạo cơ bản, có tính xuất phát điểm, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt, thấm nhuần toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ thống pháp luật, là cơ sở chỉ đạo toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ thông pháp luật, là cơ sở chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật Như vậy, nguyên tắc có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, là kim chỉ nam cho các hoạt động đi theo những hướng chung nhất định đã đư c định ra, nhằm đạt mục tiêu và đem lại hiệu quả cao như yêu cầu đã đề ra

- Nguyên tắc cơ bản trong TTHS là gì?

Cũng giống như “Quyền công dân” và “Quyền cơ bản của công dân”, hái niệm “Nguyên tắc” và “Nguyên tắc cơ bản” hông thể là hai khái niệm đồng nhất Nguyên tắc là khái niệm chung bao gồm cả “Nguyên tắc cơ bản” và “Nguyên tắc hông cơ bản” Như vậy, không phải mọi nguyên tắc đều đư c coi là nguyên tắc cơ bản, bởi lẽ “Cơ bản” nghĩa là nền tảng “coi như nền gốc, trọng yếu nhất” , là “cái làm

cơ sở cho những cái khác trong toàn bộ hệ thống” và nguyên tắc cơ bản là những quy định mang tính cơ bản, có hiệu lực bắt buộc đối với một người, một tập thể khi làm một việc nào đó Một nguyên tắc nói chung sẽ đư c coi là nguyên tắc cơ bản khi nó

Trang 15

thỏa mãn ít nhất ba điều kiện, đó là: tính hách quan, tính chủ quan và tính quy phạm Cụ thể, trong TTHS thì một nguyên tắc đư c coi là nguyên tắc cơ bản khi nó thỏa mãn những điều kiện sau:

Tính khách quan: Nguyên tắc trong TTHS mang tính khách quan, khoa học là

“hiện thân của những quy luật khách quan tồn tại trong hoạt động TTHS đư c PLTTHS điều chỉnh Sự tồn tại của các nguyên tắc này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chúng ta, dù muốn hay không, sự tồn tại của chúng là tất yếu”[28]

Tính chủ quan: Nguyên tắc trong TTHS là nguyên tắc mang những tư tưởng,

định hướng của hoạt động TTHS thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với quá trình giải quyết vụ án là dân chủ, kỉ cương và theo định hướng XHCN “Nguyên tắc trong TTHS là sản phẩm của hoạt động nhân thức của nhà làm luật về sự tồn tại khách quan của chúng, là những yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử những vụ án hình sự Điều này là nền tảng định hướng cơ bản trong việc tổ chức, hoạt động, xây dựng mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động TTHS”[28] Những nguyên tắc cơ bản đư c xây dựng trên cơ sở đ c ết kinh nghiệm của quá trình giải quyết vụ án hình sự và những kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý Tố tụng Hình sự Những nguyên tắc cơ bản của TTHS đư c pháp luật TTHS Việt Nam ghi nhận chi phối toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự ho c một số các giai đoạn của hoạt động TTHS chứ không chỉ chi phối một giai đoạn nhất định nào đó

Tính quy phạm: Nguyên tắc trong TTHS đư c ghi nhận rõ ràng trong các văn

bản luật, là nguyên tắc của một nguồn luật độc lập trong hệ thống pháp luật và đư c gọi tên thành một điều luật cụ thể ho c hông đư c gọi tên thành một điều luật cụ thể nhưng trong nội dung của các điều luật của ngành luật đó, tinh thần của nguyên tắc

đư c ghi nhận một cách gián tiếp xuyên suốt và chi phối các hoạt động TTHS

Như vậy, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS đư c hiểu một cách khái quát là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, là cơ sở cho việc xây dựng và áp dụng PLTTHS tôn trọng, giữ gìn các quyền mang tính nền tảng của công dân, bảo đảm thực hiện các quyền đó một cách đ ng đắn nhất, hiệu quả nhất trong thực tiễn nhằm ngăn ch n những hành vi vi

Trang 16

phạm, tác động xấu tới việc thực hiện nguyên tắc trong TTHS Đồng thời, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS cũng đư c coi là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của ngành luật TTHS bởi nó thỏa mãn ba tiêu chí Đó là tính hách quan (đ i hỏi hách quan trong quá trình chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ vấn đề vụ án); tính chủ quan (mức độ nhận thức quy luật hách quan của nhà làm luật về định hướng của ngtắc trong hoạt động TTHS) và tính quy phạm (đư c ghi nhận trong văn bản pháp luật, cụ thể là

đư c ghi nhận trong pháp luật TTHS và các bản Hiến pháp của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam)

Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự

- Cơ sở lý luận: Quyền con người – là quyền tự nhiên kể từ hi đư c sinh ra

bất ì ai cũng đư c hưởng, quyền đó đư c tôn trọng không chỉ bởi trong phạm vi của một quốc gia mà c n đư c thừa nhận, tôn trọng và đư c bảo vệ trên toàn thế giới Trên thực tế đã có rất nhiều công ước, điều ước quốc tế đư c kí kết xây dựng nhằm bảo vệ một cách tối đa nhất quyền của con người Với tính chất đư c hình thành từ nền tảng là quyền con người, quyền công dân và vấn đề bảo vệ quyền công dân cũng

đư c đ c biệt quan tâm, chú trọng trong phạm vi mỗi quốc gia, trở thành mục tiêu quan trọng, chính yếu cho tất cả các hoạt động trong xã hội và pháp luật, đ c biệt là

lĩnh vực TTHS

- Cơ sở thực tiễn: TTHS đư c xem là lĩnh vực nhạy cảm mà khi các hoạt động

TTHS đư c diễn ra rất dễ ảnh hưởng đến quyền và l i ích của công dân Khi tham gia tố tụng, các chủ thể như: cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng luôn

là những người ưu thế về địa vị pháp lý, là người nắm trong tay cán cân công lý, có chức năng nhiệm vụ đư c Nhà nước trao cho nhằm bảo vệ công lý một cách triệt để Trong hi đó, những người tham gia tố tụng, đ c biệt là người bị buộc tội dường như luôn có vị thế yếu hơn rất nhiều nên họ rất cần đươc bảo vệ những quyền l i chính đáng Từ những ý nghĩa quan trọng đó, các nhà làm luật đã đ c biệt quan tâm tới việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS, và nhận thấy việc khái quát tinh thần đó thành một nguyên tắc cơ bản với tính chất định hướng, chỉ đạo cho toàn bộ quá trình TTHS là điều thực sự cần thiết

Trang 17

1.3 Ý nghĩa và vị trí của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân” trong mối liên hệ với một số nguyên tắc cơ bản khác trong

có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khoa học pháp lý TTHS, trong thực tiễn đấu tranh , phòng chống tội phạm Đây là nguyên tắc mang tính chất quyết định, có ý nghĩa xuyên suốt, chi phối toàn bộ hoạt động Tố tụng Hình sự, đ c biệt là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng…

Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự không chỉ giúp cho quyền l i của công dân hi tham gia TTHS đư c đảm bảo mà bên cạnh đó, việc thực hiện tốt nguyên tắc cũng góp phần nâng cao uy tín cho cho pháp luật trong lòng dân Khi quyền l i của họ đư c đảm bảo, họ sẽ có lòng tin vào pháp luật, lòng tin vào công lý, tính dân chủ đư c thể hiện một cách sâu sắc Bảo đảm mọi người, trước hết là cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tuân thủ một cách triệt để Hiến pháp và pháp luật, đối xử một cách có chừng mực, trong giới hạn mà pháp luật cho ph p, hông đư c l i dụng quyền hạn, chức vụ để coi thường, chủ quan và xâm hại tới những quyền l i chính đáng mà công dân phải

đư c hưởng.Việc thực hiện tốt nguyên tắc cũng phần nào hạn chế đư c tối ưu những trường h p cơ quan tiến hành tố tụng lơ là, thiếu trách nhiệm dẫn đến làm những việc trái pháp luật hay không làm những việc mà đáng lẽ phải làm để bảo vệ quyền l i

h p pháp của công dân Với đ c trưng TTHS luôn là lĩnh vực mà quyền l i của công dân dễ bị xâm phạm, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” đã thể hiện thái độ trân trọng số phận của con người, hạn chế sai lầm tư pháp, làm oan công dân Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS góp phần xác lập, củng cố, bảo vệ quyền tự do của công dân, đ c

Trang 18

biệt đảm bảo pháp lý cần thiết cho quyền công dân của những người bị áp dụng biện pháp ngăn ch n như người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo Việc nắm vững bản chất, nội dung của nguyên tắc sẽ giúp những người thực thi pháp luật tránh đư c những sai sót vi phạm quyền con người đư c cụ thể hóa trong các quyền cơ bản của công dân Từ đó, tính nhân dân trong hoạt động Tố tụng Hình sự sẽ đư c đề cao phù

h p với l i ích chính đáng của nhân dân và tránh đư c sự vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng – những người đư c Nhà nước trao quyền và nắm trong tay cán cân công lý Đây là điều kiện tiên quyết để đạt đến sự công bằng, dân chủ, văn minh trong pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật Tố tụng Hình sự nói riêng nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội

Đối với hoạt động lập pháp, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” với tư cách là những tư tưởng chủ đạo, định hướng cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện các chế định, các quy định TTHS Là một nguyên tắc không thể thiếu trong hệ thống những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong mối quan hệ gắn bó sâu sắc với những nguyên tắc khác trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản đó đã tạo thành một chỉnh thể thống nhất tư tưởng hoạt động chủ đạo của tất cả các hoạt động tố tụng hình sự, gi p cho “bộ máy” TTHS Việt Nam vận hành một cách quy củ, có hệ thống và đạt đư c những hiệu quả tốt đẹp Khi trật tự xã hội

ổn định thì các quyền cơ bản của công dân cũng đư c đảm bảo, cuộc sống của nhân dân cũng như đất nước có tiền đề phát triển vững chắc

1.3.2 Vị trí của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong mối liên hệ với một số nguyên tắc cơ bản khác trong Tố tụng Hình sự

Các nguyên tắc của Luật TTHS là những tư tưởng chủ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của pháp luật TTHS vào đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự xã hội và bảo vệ cuộc sống của nhân dân Một ngành luật

đư c tập h p bởi nhiều nguyên tắc, những nguyên tắc này tạo thành một hệ thống các nguyên tắc Mỗi nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của pháp luật

Tố tụng Hình sự đều có những chức năng, nhiệm vụ nhất định trong một số ho c toàn bộ các giai đoạn tố tụng Những nguyên tắc này tồn tại độc lập và đư c ghi nhận

Trang 19

cụ thể tại các điều luật riêng rẽ Thế nhưng, ch ng lại có những mối liên hệ nhất định Mối liên hệ đó mang những ý nghĩa quan trọng bởi sự phối h p nhịp nhàng của các nguyên tắc đó góp phần không nhỏ trong việc “vận hành bộ máy” Tố tụng Hình

sự Sự tương tác, đan xen lẫn nhau tạo thành một hệ thống tư tưởng chủ đạo ch t chẽ,

h p lý và thống nhất Và nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS cũng hông nằm ngoài mối quan hệ đó Việc làm rõ mối quan

hệ nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS với các nguyên tắc khác của luật TTHS có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng tốt nguyên tắc đó trong luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

- Mối liên hệ giữa nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân” trong Tố tụng Hình sự với nguyên tắc xác định sự thật vụ án

Xác định sự thật vụ án không chỉ là nguyên tắc của luật Tố tụng Hình sự mà còn là mục đích của quá trình giải quyết vụ án hình sự, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và l i ích của công dân Điều 10 Bộ luật TTHS 2003 quy định, các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp h p pháp để xác định sự thật vụ

án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng hông buộc phải chứng minh mình vô tội Như vậy, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tuy nhiên, bị can,

bị cáo vẫn có quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu chứng minh mình không có tội

để góp phần bảo vệ các quyền và l i ích h p pháp của mình Để đảm bảo xác định

đư c sự thật khách quan của vụ án thì trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là rất lớn, điều quan trọng nhất là phải hách quan, vô tư, hông đư c để tình cảm cá nhân, riêng tư ảnh hưởng đến công việc Đ c biệt, phải tôn trọng một cách nghiêm ng t sự thật khách quan, phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù h p để thực hiện đ ng chức năng, quyền hạn của mình Pháp luật TTHS cũng quy định rất ch t chẽ những trường h p cần thiết phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo các căn cứ quy định tại Điều 42, 44, 45,46 và 47 Bộ luật Tố tụng Hình sự Đây là những quy định thực sự cần thiết để tránh tình trạng người tiến hành tố tụng hông hách quan, vô tư hi làm nhiệm vụ dễ dẫn đến những vi phạm

Trang 20

phạm pháp luật tố tụng, ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án, hi đó, các quyền và l i ích của công dân cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Như vậy, xác định

sự thật khách quan của vụ án là một nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS Việt Nam, có mối liên hệ ch t chẽ hăng hít với nguyên tắc:

“Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS Bởi lẽ, nếu sự thật khách quan của vụ án hông đư c tôn trọng một cách triệt để, việc xác định sự thật khách quan không tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật Tố tụng Hình sự nói riêng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không vô

tư, hách quan trong hi làm nhiệm vụ thì quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự cũng sẽ bị xâm phạm và việc thực hiện nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS trên thực tế sẽ g p hó hăn, hông đư c bảo đảm, đồng thời các hoạt động TTHS sẽ hó mà đem lại những hiệu quả thực sự Nguyên tắc xác định sự thật vụ án chính là cơ sở đảm bảo cho việc vận dụng tốt nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS

- Mối liên hệ giữa nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân” trong Tố tụng Hình sự với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tổng h p tất cả các quyền mà pháp luật dành cho người bị giam giữ, bị can, bị cáo sử dụng để chống lại

sự buộc tội ho c làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ Quyền bào chữa là một quyền hiến định (Điều 132 HP 1992) Quyền này đư c bộ luật TTHS ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản định hướng đối với hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng Quyền bào chữa là tổng h p các hành vi tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù h p với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra những chứng cứ để bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng Đồng thời, các quyền đó phải đư c bảo đảm thực hiện, đó cũng là nhiệm vụ đ t

ra đối với T a án, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Đảm bảo thực hiện quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, người bị tạm giữ là một điều kiện cần thiết gi p cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách hách quan, đ ng người, đ ng tội

và đ ng pháp luật Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa cũng đ t ra những yêu cầu nhất định:

Trang 21

Quyền bào chữa chỉ đ t ra đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người bị buộc tội trong quá trình TTHS Theo đó, họ có thể tự thực hiện quyền bảo chữa ho c nhờ người khác bào chữa cho mình Pháp luật hoàn toàn không bắt buộc là người đó phải tự bào chữa hay phải nhờ người khác bào chữa mà phụ thuộc vào mong muốn của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ Nếu họ là những người hiểu biết về pháp luật, có thể vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền l i của mình như chứng minh

sự vô tội ho c giảm nhẹ tội của mình thì họ hoàn toàn có quyền Còn nếu như họ là những người không có hiểu biết về pháp luật, không thể tự mình thực hiện quyền bào chữa thì họ có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Và hi đư c cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận thì những người đó đư c gọi là người bào chữa Đây là một đảm bảo rất quan trọng để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể vận dụng để bảo vệ một cách tối đa việc bảo đảm quyền l i của mình Ngoài ra, pháp luật TTHS còn quy định quyền có người bào chữa trong một số trường h p luật định Đó là các trường

h p bào chữa bắt buộc đư c quy định tại Khoản 2, Điều 57 bộ luật TTHS Tuy nhiên, vấn đề bào chữa bắt buộc đư c đ t ra đối với cơ quan tiến hành tố tụng là yêu cầu hách quan, c n đối với bị can, bị cáo và đại diện h p pháp của họ là những quyền mang tính chất chủ quan, thực hiện quyền này là phụ thuộc vào ý chí của họ, không bắt buộc họ thế nhưng thông qua quy định này, ta có thể nhận thấy sự quan tâm đ ng mức của Nhà nước tới các quyền l i của con người, quyền của công dân,

đ c biệt là đối với những nhóm người dễ tổn thương trong xã hội như: người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi và năng lực pháp luật

Như vậy, quyền bào chữa có ý nghĩa tr giúp pháp lý cho những người tham gia tố tụng hình sự cần đư c bảo đảm về quyền và l i ích một cách chính đáng Đ c biệt, trong trường h p họ là những người không có hiểu biết gì về pháp luật mà quyền l i đang phải đ t trong thế đối diện với việc áp dụng các biện pháp ngăn ch n trong TTHS hay các biện pháp chế tài nghiêm ng t Chính vì vậy, nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là nền tảng cơ bản, là sự hỗ

tr đắc lực cho việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo

vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự trong thực tiễn

Trang 22

- Mối liên hệ giữa nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân” trong Tố tụng Hình sự với nguyên tắc Không ai bị coi là có tội khi chưa

có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

Nguyên tắc “ hông ai bị coi là có tội hi chưa có bản án kết tội của T a án đã

có hiệu lực pháp luật” trong hoa học luật TTHS c n đư c gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc đ c biệt quan trọng của một nền tư pháp hình sự dân chủ Nguyên tắc khẳng định, quyền phán quyết cuối cùng về sự có tội hay không có tội của công dân thuộc thẩm quyền của Tòa án Chính vì vậy, hi chưa có bất kì một bản án kết tội nào của Tòa án thì không ai có thể bị coi và bị đối xử như người có tội Một người chỉ bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt hi T a án đã xem x t, đánh giá chứng cứ chính thức tại phiên t a và có đủ cơ sở để kết luận hành vi của họ đã cấu thành tội phạm theo các điều, khoản của bộ luật hình sự bằng bản án có hiệu lực pháp luật Nguyên tắc này đ i hỏi thái độ tôn trọng và bảo vệ các quyền, l i ích h p pháp của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm một khi họ chưa bị Tòa án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Việc quy định nguyên tắc này đã hắc phục đư c sự định kiến của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo, đồng thời còn tạo điều kiện để bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình Nội dung của nguyên tắc không chỉ nhằm hướng đến bảo vệ các quyền cơ bản của con người mà trên cơ sở bảo vệ quyền con người đó, các quyền của công dân trong mối quan hệ với nhà nước cũng đư c quan tâm đ c biệt Thực hiện tốt tinh thần của nguyên tắc cũng đồng nghĩa với việc quyền và l i ích cơ bản, thiết thực nhất của công dân đư c đảm bảo Qua đây, ta có thể thấy rõ sự gắn bó hăng khít giữa nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS Nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế những suy nghĩ, chính iến chủ quan của cơ quan tiến hành TT, người tiến hành tố tụng trong khi giải quyết vụ án Ngăn ch n một cách nghiêm chỉnh các hành vi áp dụng hình phạt (biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất mà nhà nước chỉ áp dụng đối với người phạm tội) cho bị can, bị cáo hi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của T a án Ý nghĩa trên là cơ sở, nên tảng cho việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS Hai nguyên tắc trên có mối quan

Trang 23

hệ đan xen, hỗ tr nhau trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS Việt Nam

- Mối liên hệ giữa nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân” trong Tố tụng Hình sự với nguyên tắc: “Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc Hiến định

đư c quy định tại Điều 12 Hiến Pháp 1992 cũng là một nguyên tắc của luật TTHS

đư c ghi nhận tại điều 3 BLTTHS Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật Việt nam nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng Sự tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN là sự tuân thủ triệt để Hiến pháp, các quy định pháp luật của các cơ quan, tổ chức và của mọi công dân Chính vì thế nguyên tắc này đã đ t ra những yêu cầu nhất định:

- Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân theo các quy định của luật Hiến pháp là luật Hình sự

- Mọi hoạt động Tố tụng Hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải đư c tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003

- Các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và công dân có liên quan đến vụ án phải triệt để tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự

Từ những yêu cầu trên ta thấy, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là

cơ sở đảm bảo cho việc vận dụng tốt nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong Tố tụng Hình sự thông qua việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự Bởi lẽ, hi Nhà nước ra đời thì kéo theo đó là sự ra đời của pháp luật Sự ra đời của pháp luật là một quy luật khách quan, một điều tất yếu để hình thành và bảo đảm trật

tự xã hôi Pháp luật công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình nhằm bảo đảm cho công dân trong xã hội những quyền tự nhiên vốn có và bất

kì sự xâm phạm cũng như hông tuân thủ pháp luật nào cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều tới quyền l i của công dân M t khác, hoạt động Tố tụng Hình sự là những hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn có tính phức tạp mà khi thực hiện sẽ động chạm rất nhiều đến quyền tự do và dân chủ của công dân Vì vậy, việc đ t ra các chuẩn mực

Trang 24

chung cho xã hội hay những quy định của pháp luật là điều có ý nghĩa sâu sắc để bảo đảm trật tự xã hội và việc thực hiện tốt những quy định ấy là tiền đề quan trọng cho việc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Bởi lẽ, một trong những mục tiêu chung

và cơ bản nhất của Hiến pháp và cụ thể là pháp luật Tố tụng Hình sự cũng là muốn hướng đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản đó của công dân Và mọi hành

vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật gây ảnh hưởng tới quyền cơ bản của công dân đều

sẽ bị nghiêm trị Điều này đư c thể hiện rất rõ ngay tại điều 12 của Hiến Pháp 1992:

“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm l i ích của Nhà nước, quyền và l i ích h p pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” và ngay từ việc xác định nhiệm vụ của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã thể hiện rõ, việc tôn trọng và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự là một nhiệm vụ quan trọng: “Bộ luật Tố tụng Hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ l i ích của Nhà nước, quyền và l i ích h p pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật

xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”

trong các văn bản pháp lý quốc tế

Trong thực tiễn cũng như trong hoa học pháp lý thì việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân luôn là một vấn đề thực sự cần thiết và luôn đư c đ t lên hàng đầu cùng với những vấn đề cấp thiết khác Với bản chất đư c hình thành dựa trên những quyền cơ bản của con người, quyền cơ bản của công dân trong TTHS nói riêng và trong các lĩnh vực hác nói chung đều có nguồn gốc sâu xa từ các văn bản pháp lý quốc tế đư c hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận và thể chế hóa trong pháp luật của quốc gia mình nhằm bảo đảm các quyền đó đư c thực hiện trong thực tế Sự cam kết cùng thực hiện và đảm bảo thực hiện đó đư c thể hiện rất cụ thể trong các cam kết quốc tế như: Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966;

Trang 25

Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên H p Quốc, Công ước Châu âu về quyền con người, Hiến Chương Châu Phi về quyền Công dân và các dân tộc Bên cạnh đó, nội dung tinh thần của nguyên tắc c n đư c thể hiện một cách trực tiếp ho c gián tiếp trong các bản Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật TTHS của một số quốc gia như: Hiến Pháp Liên bang Nga, Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên Bang Nga 2006, Hiến pháp của H p Chủng quốc Hoa Kỳ, các nguyên tắc liên bang

về TTHS (2006) bao gồm cả sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2006 của

H p chủng quốc Hoa kỳ; Bộ Luật TTHS Cộng Hòa Pháp, Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền Cộng H a Pháp 1789;… Thông qua việc tuân thủ và thực hiện một cách nghiêm ng t, triệt để hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật TTHS của quốc gia mình, các thẩm phán, và các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của mỗi quốc gia trong phạm vi, quyền hạn của mình và phạm vi pháp luật quốc tế đã đưa ra những phán quyết, quyết định phần nào thể hiện rõ ràng rằng việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS luôn là vấn đề thực sự quan trọng và đáng nhận đư c sự quan tâm thích đáng

Trải qua nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự càng ngày càng đư c các quốc gia trên thế giới thừa nhận và chính thức ghi nhận về m t pháp lý, điều đó đánh dấu sự trưởng thành về m t nhận thức pháp luật cũng như sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp TTHS của nhân loại Cùng với thời gian, nguyên tắc này ngày càng có tính quốc tế và đư c thể hiện rất rõ ràng trong các điều ước quốc tế Điển hình, trong Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên H p Quốc tuy nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự hông đư c ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng tại một hay một số điều của Tuyên Ngôn nhưng tinh thần của nguyên tắc đã dần đư c thể hiện một cách gián tiếp qua một số điều như:

“Điều 10 Mọi người đều bình đẳng về quyền đư c xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và hách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của

họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”

“Điều 7 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và đư c pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào Mọi người đều có quyền

Trang 26

đư c bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn này, và chống lại bất kỳ sự ích động phân biệt đối xử nào như vậy”

“Điều 8 Mọi người đều có quyền đư c các Toà án quốc gia có thẩm quyền bảo

vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã đư c Hiến pháp hay luật pháp quy định”

Với bản chất quyền công dân đư c hình thành và phát triển dựa trên quyền con người, các quyền cơ bản của công dân trong quan hệ TTHS cũng cần phải đư c dựa trên nền tảng của những quy định về quyền con người Theo đó, trong mối quan hệ của công dân với nhà nước thông qua quan hệ TTHS, công dân cần đư c tôn trọng

và bảo vệ những điều thuộc về giá trị căn bản Nhà nước hay pháp luật không bao giờ và không thể nào có thể dựa vào quyền lực của mình để vi phạm ho c hạn chế một cách tùy tiện các quyền đó Các quyền cơ bản này không chỉ đư c ghi nhận trong tuyên ngôn với tính chất là “thước đo chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc, và cho cả mọi cá nhân trong xã hội” mà các quyền đó c n đư c tôn trọng, đư c bảo đảm thực hiện trên thực tế bằng “các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã đư c hiến pháp hay pháp luật quy định” (Điều 8 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế, 1948) Ngoài ra, Công ước quốc tế

về các quyền dân sự và chính trị cũng đã thừa nhận việc ghi nhận một số quyền cơ bản quan trọng của công dân trong công ước là điều thực sự cần thiết dù nó mới chỉ dừng lại ở việc quy định tinh thần của nguyên tắc: “ Tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự Đó là những quyền yêu cầu về các biện pháp khắc phục sẽ đư c bảo đảm thực hiện “sẽ đư c các cơ quan tư pháp, hành pháp

ho c lập pháp có thẩm quyền ho c bất kỳ cơ quan nào hác có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền l i cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp” điều 2b Công ước quốc tế

về các quyền dân sự và chính trị Ngoài ra “Bất cứ người nào bị bắt ho c bị giam giữ

vì một tội hình sự phải đư c sớm đưa ra toà án ho c một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải đư c xét xử trong thời hạn h p lý ho c

đư c trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử hông đư c đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều

Trang 27

kiện để bảo đảm họ sẽ có m t tại Toà án để xét xử vào bất cứ hi nào và để thi hành

án nếu bị kết tội” ( hoản 3 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị)

Với những giá trị trên, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự là nguyên tắc đư c hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới thừa nhận và ghi nhận tại các văn bản pháp lý quan trọng với những mức độ pháp lý khác nhau trên tinh thần chung cho tất cả các quốc gia đã đư c hai bản tuyên ngôn lớn nhất về nhân quyền trên thế giới ghi nhận

Như vậy, ta có thể thấy rằng việc các điều ước quốc tế và pháp luật TTHS của các quốc gia trên thế giới có ghi nhận tinh thần của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS một cách gián tiếp hay trực tiếp đều có

ý nghĩa thực sự đ c biệt nhưng quan trọng hơn nữa là cách thức mà các nhà làm luật

đ t ra để bảo đảm việc thực hiện các quyền đó trên thực tế, phù h p với điều kiện, hoàn cảnh chính trị, hoàn cảnh của đất nước thông qua các hình thức chế tài mang tính chất xử phạt nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật mà làm ảnh hưởng đến quyền và l i ích của công dân Bởi lẽ, một quy định đư c đ t ra nếu hông đư c bảo đảm thực hiện trên thực tế, hông có quy định ràng buộc và những chế tài thích

h p thì cũng chỉ là những quy định tồn tại trên giấy và không có giá trị thực hiện Vì vậy, việc quy định quyền luôn phải đi đôi với việc quy định các biện pháp đảm bảo thực hiện quyền

M t khác, không chỉ là các quốc gia theo mô hình Tố tụng tranh tụng hay mô hình Tố tụng thẩm vấn mà việc thừa nhận nguyên tắc này đang ngày càng phổ biến

và dần trở thành nguyên tắc quan trọng không thể thiếu trong Tố tụng Hình sự của các quốc gia trên thế giới như:

Ở Liên bang Nga: Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân” trong Tố tụng Hình sự đư c ghi nhận tại Điều 2 Hiến pháp năm 1993 với nội dung đề cao: “Việc thừa nhận, tuân thủ và bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân là bổn phận của Nhà nước” Ngoài ra, trách nhiệm của những người tiến hành Tố tụng Hình sự và một số quyền công dân cũng đư c ghi nhận một cách cụ thể với mục đích quyền cơ bản của công dân luôn đư c quan tâm, bảo đảm:

Trang 28

“1 Toà án, iểm sát viên, Dự thẩm viên, Điều tra viên có nghĩa vụ giải thích cho người bị tình nghi, bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người khác tham gia tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của

họ, đồng thời bảo đảm khả năng thực hiện các quyền của những người này

2 Trong trường h p người đư c hưởng quyền miễn trừ đồng ý khai báo thì Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Toà án có nghĩa vụ thông báo trước cho những người này biết rằng những lời khai của họ có thể đư c sử dụng làm chứng

cứ trong quá trình tố tụng đối với vụ án

3 Khi có đủ căn cứ để cho rằng người bị hại, người làm chứng ho c những người khác tham gia vào Tố tụng Hình sự, cũng như họ hàng thân thích, họ hàng

ho c người thân thích của những người này bị đe doạ đến tính mạng, bị dùng vũ lực,

bỉ huỷ hoại ho c làm hư hỏng tài sản, cũng như bị áp dụng những biện pháp nguy hiểm trái pháp luật khác thì Toà án, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Cơ quan điều tra ban đầu và Điều tra viên trong phạm vi thẩm quyền của mình đư c áp dụng những biện pháp bảo vệ những người này theo quy định tại khoản 9 Điều 166; khoản 2 Điều 186; khoản 8 Điều 193; điểm 4 khoản 2, Điều 241 và khoản 5, Điều 278 của Bộ luật này

4 Thiệt hại do Toà án và những người có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng gây

ra xâm phạm đến những quyền và tự do của người khác phải đư c bồi thường trên cơ

sở những căn cứ và theo thủ tục do Bộ luật này quy định” ( Điều 11 Bộ luật TTHS Nga năm 2006)

Trong pháp luật Liên Bang Nga, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” nói chung và trong Tố tụng Hình sự nói riêng với tính chất là nguyên tắc Hiến định, đư c chính thức ghi nhận tại điều luật cụ thể với bốn nội dung theo huynh hướng chỉ đạo chung đã phần nào có bước tiến bộ, mở rộng các quyền cơ bản của công dân hơn so với các quy định quốc tế trên Điều đó, thể hiện rằng, pháp luật Liên bang Nga đ c biệt là hoạt động TTHS của họ đã đư c pháp luật TTHS ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng, thể hiện bước phát triển của khoa học pháp lý TTHS của quốc gia này theo hướng bảo đảm dân chủ, quyền con người ngày càng tích cực hơn M t khác, Hiến pháp Liên bang Nga cũng hẳng định bất kì một đạo luật nào ở Liên bang Nga hi đư c ban hành cũng phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp

Trang 29

một cách triệt để, đ c biệt là các quy định về các quyền cơ bản của con người và công dân “ hông đư c ban hành những đạo luật tước bỏ ho c xem nhẹ các quyền và

tự do của con người và công dân” ( hoản 2 Điều 55 Hiến pháp Liên Bang Nga 1993)

Ngoài ra, các quyền cơ bản của công dân không chỉ đư c gọi tên thành một điều luật mà một số quyền quan trọng khác của công dân trong TTHS cũng đư c thể hiện thành những điều luật riêng rẽ mang tính cụ thể cao nhằm bảo vệ một cách triệt

để, trực tiếp hơn việc thực hiện các quyền đó như trường h p người bị kết án sẽ đư c bảo vệ quyền l i một cách tối đa nhất khi họ “có quyền đư c xem xét lại bản án bởi tòa án cấp cao hơn theo trình tự do pháp luật Liên Bang quy định, cũng như đề nghị

ân xá ho c giảm mức hình phạt” ( hoản 3 Điều 50 Hiến Pháp Liên Bang Nga năm 1993)

Ở Hoa Kỳ: Tuy rằng nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công

dân” trong Tố tụng Hình sự hông đư c ghi nhận một cách cụ thể trong Hiến Pháp như Liên Bang Nga cũng như chưa đư c gọi tên trong một văn bản pháp lý cụ thể nhưng tinh thần của nguyên tắc cũng đã đư c thể hiện một cách gián tiếp thông qua một số điều luật cụ thể Theo đó, các quyền cơ bản của công dân trong TTHS của

h p chủng quốc Hoa kỳ đã đư c pháp luật TTHS của họ ghi nhận qua các điều luật tương ứng với từng giai đoạn tố tụng Trong giai đoạn tố tụng sơ bộ, tại nguyên tắc 5

“trình diện thủ tục ban đầu” nếu bị cáo bị buộc vào một tội nghiêm trọng, thẩm phán phải có trách nhiệm thông báo cho bị cáo những vấn đề cần thiết để bị cáo có thể hiểu rõ lý do vì sao mình bị bắt và mình sẽ có những quyền l i như thế nào trong tố tụng hình sự Đó là các quyền đư c có người bào chữa (mục d.1.B nguyên tắc 5); quyền có thể đư c tam tha trước khi xét xử (mục d.1.C nguyên tắc 5); quyền của bị cáo đư c giữ im l ng (mục d.1.E nguyên tắc 5) và đ c biệt tại mục d.2 nguyên tắc 5 quyền của bị cáo đư c bao quát hơn cả đó là “Thẩm phán phải cho phép bị cáo có cơ hội h p lý để hỏi ý kiến người bào chữa” (Các nguyên tắc Liên Bang về Tố tụng Hình sự (bao gồm cả sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2006) của H p chủng quốc Hoa Kỳ Đây dường như là một trong những quyền quan trọng nhất mà

bị cáo có đư c khi tham gia Tố tụng Hình sự Bởi lẽ, bị cáo có thể là những người không hiểu biết gì về pháp luật ho c có hiểu biết nhưng sự hiểu biết còn hạn chế

Trang 30

trong khi những người bào chữa lại luôn là những người có hiểu biết sâu sắc về pháp luật Chính vì vậy, nhờ vào sự tr giúp của những người bào chữa, bị cáo sẽ có nhiều

cơ hội hơn để có thể bảo vệ tốt quyền l i của mình

Ở Pháp: Cộng h a Pháp là “quê hương” của bản Tuyên ngôn nhân quyền và

dân quyền năm 1978 hông chỉ có ý nghĩa là cơ sở pháp lý quan trọng trong Hiến pháp và pháp luật Pháp mà c n có ý nghĩa là dẫn chứng quan trọng trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt nam dân chủ cộng h a năm 1945 Chính vì vậy, ngay từ lời nói đầu của Hiến Pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 đã hẳng định: “Tuyên bố thiết tha gắn bó với các quyền con người và các nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân như đã đư c quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1978” Đây cũng

là nguyên nhân lý giải vì sao các quy định của Hiến pháp Cộng h a Pháp đ c biệt chú trọng đến việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người, của công dân Và cũng không phải là một ngoại lệ Cụ thể: “Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật không phân biệt nguồn gốc xuất thân, sắc tộc, tôn giáo” và hi đã thành niên thì “mọi công dân Pháp, không phân biệt giới tính, đư c hưởng đầy đủ các quyền dân sự và chính trị…”(Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa Pháp) Cụ thể hóa tinh thần đó của Hiến Pháp, Bộ luật TTHS Cộng H a Pháp cũng đ c biệt chú trọng tới việc quy định các điều luật đảm bảo các quyền cơ bản của công dân như những tư tưởng chung mang tính định hưởng và chỉ đạo: “Tố tụng hình sự phải công bằng và tranh tụng, duy trì sự cân bằng về quyền giữa các bên” ngoài ra, các biện pháp cưỡng chế - là những biện pháp khi áp dụng sẽ để lại những hậu quả ảnh hường nhất định đến quyền cơ bản của công dân “cũng phải đư c tiến hành bởi ho c dưới sự kiểm soát hiệu quả của cơ quan tư pháp” Như vậy, m c dù cả trong Hiến pháp và Bộ luật

Tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS chưa đư c ghi nhận tại một điều luật cụ thể Thế nhưng, thông qua các quy định của hai văn bản pháp lý quan trọng trên ta có thể dễ dàng nhận thấy các quyền cơ bản của con người và công dân luôn đư c các nhà lập pháp quan tâm sâu sắc và cũng đã thừa nhận việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS là nội dung quan trọng thông qua các quy định cụ thể

KẾT LUẬN: Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công

dân” là một nguyên tắc cơ bản, đư c gọi tên thành một điều luật rõ ràng trong Hiến

Trang 31

pháp cũng như trong Bộ luật TTHS Việt Nam Là nguyên tắc có tính định hướng, chỉ đạo cho các hoạt động TTHS diễn ra một cách phù h p, nhanh chóng, đ ng quy định

và trình tự của pháp luật Tinh thần của nguyên tắc cũng đã đư c thể chế hóa rất chi tiết trong từng văn bản pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và các hoạt động tố tụng hình sự nói riêng nhằm hướng tới mục đích quan trọng là các quyền của công dân đư c bảo đảm một cách tối ưu nhất Sự thể chế hóa

đó đư c bắt nguồn từ các văn bản pháp lý quốc tế, các điều ước quốc tế đư c Việt Nam cùng nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và gia nhập Thông qua việc nghiên cứu một số quy định của pháp luật quốc tế có liên quan đến nguyên tắc: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS Việt Nam, tác giả nhận thấy, pháp luật của một số quốc gia đại diện cho hai mô hình tố tụng điển hình là mô hình

tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn hầu hết đã ghi nhận nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân thành một điều luật cụ thể trong cả Hiến pháp và pháp luật TTHS của quốc gia mình, nhìn nhận đây là một nguyên tắc quan trọng và sự cần thiết phải tuân thủ sẽ đem lại những kết quả nhất định Bên cạnh đó, cũng có những quốc gia chưa đ t tên một thành một nguyên tắc cụ thể cho việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS như Hoa ỳ, Cộng h a Pháp Dù chưa thừa nhận một cách trực tiếp, nhưng họ cũng đã gián tiếp thừa nhận việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết, mang những tư tưởng định hướng chỉ đạo cho hoạt động tố tụng hình sự của quốc gia họ ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau Điều này là hoàn toàn h p lý, bởi lẽ, một hoạt động xã hội nói chung và mỗi hoạt động TTHS nói riêng chỉ có thể đạt đư c mục đích cao nhất khi các quyền và l i ích của công dân không bị xâm phạm, đư c tôn trọng và bảo vệ một cách tốt nhất Có như vậy thì trật tự xã hội mới đư c ổn định, cuộc sống của nhân dân đư c bảo đảm Đó cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một quốc gia nói chung

và pháp luật của mỗi quốc gia nói riêng Ở Việt Nam, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo

vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS đư c ghi nhận tại chương V Hiến pháp 1992 đã đư c sửa đổi bổ sung ngày năm 2001, và Điều 4 Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 Điều đó thể hiện rằng pháp luật Việt Nam nhìn nhận việc tôn trọng

Trang 32

và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng, cần tuân thủ là hoàn toàn phù h p với xu thế chung của thế giới

bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự

Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam là một quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với các giai đoạn của lịch sử dân tộc từ trong thời kì phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc đến các giai đoạn phát triển của Cách Mạng Việt Nam Qua rất nhiều những thăng trầm của lịch sử, pháp luật Việt Nam

đ c biệt là pháp luật về TTHS cũng trải qua rất nhiều những thay đổi Tuy nhiên nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự vẫn luôn là tư tưởng mang tính chỉ đạo xuyên suốt lịch sử của tố tụng hình

sự Việt Nam qua các thời kỳ M c dù sau mỗi lần thay đổi lớn, cách thức tổ chức, cách thức thể hiện, việc ghi nhận cũng như vị trí của nguyên tắc có phần hác đi nhưng nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự vẫn mang những giá trị với tầm quan trọng, tầm ảnh hưởng không thể thiếu trong TTHS Việt Nam Sự phát triển không ngừng của pháp luật nói chung đã kéo theo sự phát triển hơn nữa tinh thần mà nguyên tắc muốn thể hiện, đồng thời, các quyền cơ bản của công dân trong TTHS qua mỗi thời ì cũng càng ngày càng đư c quan tâm, chú trọng và mở rộng hơn Đi từ những quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự vẫn còn rất thô sơ trong lịch sử, khoảng thời gian mà pháp luật nói chung chưa thực sự đư c phân thành những ngành luật độc lập, thế nhưng, mỗi thời đại đều

đã hình thành cho mình những quy định chung để dễ dàng quản lý và ổn định trật tự

xã hội Chính vì vậy, pháp luật đã đư c ra đời từ rất lâu, bởi lẽ sự ra đời của nhà nước đã o theo sự ra đời của pháp luật Đỉnh cao của nền lập pháp cách đây hàng trăm năm đó là Bộ luật Hồng Đức của thời Lê Sơ đư c ra đời năm 1483 Chính vì vậy để hiểu thêm phần nào bản chất, vị trí cũng như minh chứng cho sự phát triển của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự , chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu lịch sử phát triển của nguyên tắc không chỉ qua

2 giai đoạn chính là: Giai đoạn từ 1955 đến 1988 (trước khi BLTTHS có hiệu lưc); Giai đoạn từ 1989 đến nay mà việc nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hồng Đức

có liên quan đến nguyên tắc trên cũng là điều thực sự có ý nghĩa để thấy rằng những

Trang 33

tư tưởng của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong

Tố tụng Hình sự không chỉ mới tồn tại trong các bản Hiến Pháp của Việt Nam, các

Bộ luật TTHS 1988 hay Bộ luật TTHS 2003 mà nó đã đư c tồn tại từ cách đây rất

đư c triển khai một cách gián tiếp và có ý nghĩa đ c biệt Bắt người để đảm bảo việc xét xử là trả lại lẽ công bằng cho người vô tội, là bổn phận mà các cơ quan x t xử phải làm Bắt người là việc quan trọng vì nó xâm phạm vào quyền tự do thân thể của người khác Vì vậy, để tránh việc lạm quyền của nhà chức trách, BLHĐ đã có nhiều quy định về việc bắt người như ra quyết định về việc bắt người, đi bắt người và giam giữ người Ngoài ra, Bộ luật Hồng Đức cũng có những quy định ch t chẽ về thủ tục

tố tụng trong giam giữ và trông coi tội phạm Đ t ra những yêu cầu về chức năng và nhiệm vụ phải thực hiện nghiêm t c Đó cũng là tiền đề quan trọng để quyền công dân đư c đảm bảo một cách tối đa Như vậy, ta có thể thấy, những quy định này của

Bộ luật Hồng Đức không chỉ có ý nghĩa thể hiện một cách gián tiếp các quy định về

Trang 34

tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong TTHS mà còn là tiền đề quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử, nền tảng cho các quy định về bắt người để tạm giam cũng như thủ tục tố tụng trong giam giữ người phạm tội trong pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành Là những quy định quan trọng đư c đ t ra trong TTHS mà khi

ch ng đư c thực thi trên thực tế một cách nghiêm chỉnh thì cũng có nghĩa là quyền

cơ bản của công dân cũng đư c đảm bảo một cách tối ưu

“Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân”, bảo đảm quyền công dân đư c thực thi trong thực tế và có những chế tài thích h p xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, ta có thể thấy, dù trải qua các thời kì khác nhau, với những biến động khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhưng sự quan tâm đến các quyền và

l i ích của công dân luôn đư c chú trọng và là một trong những nhiệm vụ cần thiết phải đạt đư c Bên cạnh đó, Hiến pháp luôn đư c coi “là văn bản pháp luật tối cao khởi thủy cho mọi văn bản pháp luật hác” [25] chính vì vậy, mỗi khi pháp luật đư c ban hành thì những tinh thần của Hiến pháp luôn đư c tuân thủ một cách nghiêm

ng t và đư c thể chế hóa một cách cụ thể trong từng điều luật Đ c biệt, những quy

Trang 35

định của pháp luật TTHS thời kỳ đó hi đư c ban hành cũng cần phải đư c triển khai chi tiết dựa trên tinh thần chỉ đạo chung của bản Hiến Pháp

1.5.3 Giai đoạn từ 1989 đến nay

Đây là giai đoạn có ý nghĩa lịch sử cực kì quan trọng bởi vì, trong khoảng thời gian từ 1989 đến nay có nhiều văn bản pháp luật liên quan đến nguyên tắc:“Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự đư c ra đời

để sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản đã hình thành từ giai đoạn trước Điển hình

đó là sự ra đời của Hiến pháp 1992 thay thế bản Hiến pháp 1980 trước đó; sự sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 ngày 25/12/2001; sự ra đời của của Bộ luật TTHS đầu tiên năm 1988 và gần đây nhất chính là Bộ luật TTHS 2003 (hiện đang có hiệu lực)

ra đời thay thế Bộ luật TTHS 1988 Sự ra đời kịp thời của các văn bản quy phạm pháp luật để sửa chữa, bổ sung, thay thế những quy định trước đó nay đã hông c n phù h p là thực sự cần thiết đã góp phần hạn chế đư c những thiếu sót của các quy định trước và đảm bảo tốt hơn sự phù h p giữa pháp luật với xã hội đồng thời các quyền l i của công dân cũng đư c hoàn thiện và mở rộng hơn cùng với những cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền l i đó ch t chẽ hơn

KẾT LUẬN CHƯƠNG I:

Nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự là nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS có ý nghĩa bảo đảm một cách tối ưu nhất các quyền của công dân khi tham gia hoạt động tố tụng hình sự - là một trong những hoạt động nhạy cảm mà quyền l i của công dân lại dễ dàng bị xâm phạm nhất Đư c ra đời từ rất sớm với cách thức thể hiện ban đầu là thông qua việc quy định một cách gián tiếp tinh thần của nguyên tắc trong các điều luật của các bộ luật hay văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, kể từ khi Hiến pháp Việt Nam 1946

ra đời cho đến bản Hiến pháp 1992 hiện hành, thì việc tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân nói chung đã đư c ghi nhận thành chương riêng trong mỗi bản Hiến pháp đó Đồng thời, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự chính thức đư c ghi nhận một cách cụ thể tại Điều

3 Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Bộ luật TTHS 1988 “ hi tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân trong phạm

Trang 36

vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng các quyền và l i ích h p pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính h p pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ ho c thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật ho c không còn cần thiết nữa” và cụ thể hơn nữa tại Điều 4 Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Bộ luật TTHS 2003 “ hi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và

l i ích h p pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính h p pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ ho c thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật ho c không còn cần thiết nữa”

Bên cạnh đó, tinh thần của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự cũng đư c rất nhiều các Điều ước quốc tế cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và đư c thừa nhận rộng rãi, coi như một chuẩn mực chung cho xã hội loài người Tuy nhiên, quyền con người là quyền đư c thừa nhận chung trên thế giới dù bạn có ở đâu nhưng quyền công dân – quyền đư c hình thành

và phát triển trên nền tảng là quyền con người lại do mỗi quốc gia quy định Chính vì vậy, với mỗi quốc gia, mỗi xã hội, mỗi nhà nước, công dân của họ sẽ đư c thừa nhận

và bảo đảm thực hiện những quyền khác nhau M c dù vậy, nhưng tựu chung lại, pháp luật các quốc gia trên thế giới vẫn luôn cố gắng để đến đư c một cái đích chung

đó là việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân đ c biệt là trong TTHS – một trong những lĩnh vực nhạy cảm mà quyền cơ bản của công dân dễ bị xâm phạm nhất Một minh chứng đó chính là pháp luật của Liên Bang Nga họ cũng thừa nhận nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” là nguyên tắc cơ bản không chỉ là trong Hiến Pháp hiện hành mà còn trong cả Tố tụng Hình sự

Là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS, nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong Tố tụng Hình sự luôn đư c đ t trong mối quan hệ hăng hít gắn bó với các nguyên tắc còn lại, hoạt động dựa trên tinh thần thống nhất chung giữa các nguyên tắc chứ không tồn tại riêng rẽ nhằm mục đích “vận hành tốt bộ máy TTHS” để rồi từ đó, các quyền l i của công dân sẽ đư c bảo đảm một cách tối ưu và trọn vẹn hơn

Trang 37

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC: “TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN” TRONG TTHS VIỆT NAM – THỰC TI N ÁP DỤNG VÀ M T SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

1 Đánh giá về thực trạng quy định pháp luật TTHS VN về nguyên tắc:

“Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân”

1 1 Những thành tựu đạt được

Kể từ khi tiến hành cuộc cải cách tư pháp vào năm 2002, hoạt động xây dựng pháp luật trong lĩnh vực TTHS càng ngày càng đư c chú trọng Trước hết, phải kể đến việc sửa đổi, bổ sung bộ luật TTHS năm 2003 với nhiều bước tiến đáng ể, đảm bảo tốt hơn quyền l i của công dân thông qua việc quy định rõ ràng, chi tiết hơn các quyền cơ bản đó của công dân thành những điều luật cụ thể đối với những quyền mang tính chất quan trọng như quyền khiếu nại, tố cáo (điều 31 và chương XXXV

Bộ luật TTHS 2003); quyền đư c bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan ho c người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30 Bộ luật TTHS 2003), quyền háng cáo (Điều 231 Bộ luật TTHS)…Ngoài ra, pháp luật TTHS cũng đ c biệt chú trọng tới việc đ t ra một khung pháp lý nghiêm ng t cho việc áp dụng các biện pháp ngăn ch n trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến quyền và l i ích của công dân Tất cả những quy định đó đều có mục đích ngăn ch n, hạn chế quyền lực cũng như sự vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng để đảm bảo một cách tối ưu nhất quyền và l i ích của công dân trong TTHS Cụ thể, những thành tựu về m t lập pháp trong việc thực hiện cũng như thể chế hóa tinh thần của nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS đã đư c thể hiện rất rõ ràng thông qua các quy định sau đây:

Trang 38

1 1 1 Các quy định về thủ tục tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và t ử

Bộ luật TTHS năm 2003 ra đời đã phần nào khắc phục đư c những bất cập, những quy định thiếu tính phù h p với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của bộ luật TTHS năm 1988 trước đó Những kết quả mà bộ luật TTHS 2003 đạt đư c khi chính thức có hiệu lực đư c thể hiện rõ nét nhất đó là những quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 đã rất quan tâm đến việc thể chế hóa tinh thần của các nguyên tắc chỉ đạo, định hướng trong TTHS vào các điều luật cụ thể Đ c biệt, việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong các giai đoạn TTHS cũng rất đư c chú trọng

Cụ thể:

• Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự:

Với tính chất là giai đoạn mở đầu, khởi tố vụ án hình sự có những ý nghĩa rất quan trọng trong cả quá trình tố tụng Đây là giai đoạn mở đầu cho các giai đoạn tiếp theo, là giai đoạn quyết định xem có cần tiến hành tố tụng hay không Mọi hoạt động

Tố tụng Hình sự (trừ một số trường h p đ c biệt), chỉ có thể đư c tiến hành khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự “ hởi tố vụ án hình sự một cách kịp thời, có căn cứ

và đ ng pháp luật là một trong những bảo đảm để mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện nhanh chóng, tạo điều kiện thuận l i cho việc điều tra tội phạm Ngư c lại, khởi

tố vụ án hình sự một cách thiếu căn cứ, không kịp thời, hông đ ng pháp luật có thể dân đến những sai làm nghiêm trọng: một m t tội phạm không bị phát hiện, người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, các hoạt động tố tụng hông đư c tiến hành đ ng hướng, m t khác, có thể dẫn đến việc bắt tạm giữ, tạm giam người trái pháp luật, hám x t người, đồ vật, chỗ ở một cách vô căn cứ, thậm chí dẫn đến xét xử oan người vô tội” [31- 215] Như vậy, khởi tố vụ án có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Quyết định khởi tố là một quyết định quan trọng giúp xác định có tồn tại hay không dấu hiệu tội phạm làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo sau Khởi tố vụ án hình sự liên quan ch t chẽ tới việc bảo đảm pháp chế xã hội, đảm bảo các quyền hiến định của công dân Chính vì vậy, pháp luật TTHS Việt Nam đã đ t ra những quy định rất ch t chẽ và thực sự cần thiết cho giai đoạn này nhằm hạn chế một cách tối đa nhất việc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến pháp chế xã hội, ảnh hưởng đến quyền và l i ích của công dân

Trang 39

Cũng giống như quy định của Bộ luật TTHS năm 1988, Bộ luật TTHS năm

2003 cũng đề ra những cơ sở và căn cứ cụ thể để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

ho c quyết định không khởi tố vụ án hình sự Đó là những căn cứ chung nhất, mà chỉ khi xuất hiện một trong những căn cứ đó thì người có thẩm quyền mới có thể tiến hành ra một trong hai loại quyết định trên Ngoài ra, các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự cũng đư c đ c biệt chú trọng bởi tính chất quan trọng của nó Việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng là cơ sở để không tiếp tục thực hiện các giai đoạn Tố tụng Hình sự tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự đồng thời người tham gia tố tụng điển hình là bị can, bị cáo sẽ không bị áp dụng các biện pháp ngăn ch n có ảnh hưởng trực tiếp các quyền cơ bản của mình, đó là hoạt động dựa trên những căn cứ xác thực đư c cụ thể hóa tại Điều 79 Bộ luật TTHS 2003 Một trong những căn cứ quan trọng nhất đó là việc thể hiện không tồn tại sự việc phạm tội (Khoản 1 Điều 107 Bộ luật TTHS) Nếu đã hông có sự việc phạm tội thì có nghĩa là hông có người phạm tội và vì vậy không có lý gì họ phải chịu những chế tài cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật trong các giai đoạn tiếp theo Những căn cứ và cơ sở khởi tố và căn cứ không khởi tố vụ án hình sự đã phần nào thể hiện hướng chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời dựa trên những cơ sở pháp lý xác thực góp phần bảo vệ quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật TTHS về thẩm quyền, trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự cũng là một cách bảo đảm tối ưu quyền

và l i ích của công dân

• Giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố vụ án hình sự:

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn của Tố tụng Hình sự trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra do pháp luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của T a án Đây là giai đoạn thu thập chứng cứ để xác định tội phạm, người thực hiện tội phạm cũng như phát hiện những nguyên nhân, điều kiện phạm tội và xác định đư c tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra tạo cơ

sơ cho T a án x t xử và quyết định mức bồi thường thiệt hại đư c chính xác Với nhiệm vụ và tính chất quan trọng như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự đã có

Trang 40

những quy định phân định rõ ràng thẩm quyền, phạm vi điều tra của các cơ quan điều tra không chỉ trong chương IX Bộ luật TTHS 2003 mà c n thông qua các văn bản pháp lý hác như: Pháp lệnh tổ chức điều tra; thông tư 12/2004/TT – BCA quy định thẩm quyền cụ thể trong nội bộ Cơ quan điều tra cấp huyện đư c sửa đổi bằng Thông

tư số 04/2007/TT – BCA (V19) ngày 21/5/2007 của Bộ trưởng Bộ công an Pháp luật TTHS đã quy định thẩm quyền điều tra đối với từng cơ quan điều tra và các cơ quan hác đư c giao nhiệm vụ tiến hành điều tra Sự phân chia thẩm quyền và phạm vi hoạt động tiến hành tố tụng của các cơ quan điều tra đã tạo thuận l i cho việc điều tra

đư c diễn ra một cách nhanh chóng, đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ cũng như

sự hiểu biết về địa bàn mà mình quản lý để có thể có những hiệu quả tốt nhất, đảm bảo hoạt động điều tra vụ án hình sự diễn ra nhanh chóng, không bị trì trệ Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện thuận l i trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ thì việc ủy thác điều tra trong nước cũng như ủy thác nước ngoài cũng đư c quan tâm chú ý, pháp luật cũng đ t ra những hành lang pháp lý rất ch t chẽ với những quy định về ủy thác Bên cạnh đó, với nhiệm vụ quan trọng chung của pháp luật TTHS đư c thể hiện thông qua các nguyên tắc của luật TTHS đ c biệt là nguyên tắc: “Tôn trọng và bảo

vệ các quyền cơ bản của công dân” trong TTHS thì việc quy định thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam để điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung và điều tra lại cũng đem lại những ý nghĩa nhất định, giúp hạn chế đư c những sai sót, những vấn đề cần điều tra chưa đư c thực hiện một cách hoàn chỉnh đồng thời làm rõ các tình tiết mới của vụ án trong quá trình điều tra của các cơ quan điều tra để có thể giải quyết đ ng đắn vụ án, bảo đảm quyền và l i ích của công dân

Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, những người tham gia tố tụng cũng có quyền đưa ra những yêu cầu để tự bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của mình ho c

để đảm bảo cho họ thực hiện nhiệm vụ “ hi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả Trong trường h p không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra ho c Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do Nếu hông đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra

ho c Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đư c thực hiện theo quy định tại Chương XXXV của Bộ luật

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trần Xuân Hoài - Hành trình hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn hoa học. Đăng trên cổng thông tin điện tử của báo Tia sáng ngày 11/01/2013, xem tại:http://tiasang.com.vn Link
26. Nguyễn Thị Hương, hiếu nại tố cáo trong TTHS Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật. Theo http://tainguyenso.vnu.edu.vn Link
27. Trương Hồng Quang – Quyền công dân và mối quan hệ với quyền con người. Đăng trên trang thông tin điện tử của Viện hoa học pháp lý, xem tại : www.http://vienkhpl.ac.vn/ Link
1. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 và năm 2003 Khác
2. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên Bang Nga năm 2006 Khác
4. Các nguyên tắc liên bang về TTHS (2006) bao gồm cả sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2006 của H p chủng quốc Hoa kỳ Khác
5. Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 Khác
6. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 Khác
10. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Khác
14. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về chiến lƣ c cải cách tƣ pháp đến năm 2020 Khác
15. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 Khác
16. Thông tƣ liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo Khác
18. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên H p Quốc Khác
19. Tuyên ngôn nhân Quyền, dân Quyền Cộng Hòa Pháp 1789. II. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
20. Báo cáo tổng ết công tác năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành T a án nhân dân tỉnh Ninh Bình Khác
21. Báo cáo tổng ết công tác năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 của ngành T a án nhân dân Khác
23. Nguyễn Ngọc Chí (2007). Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự - Tạp chí hoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, inh tế - Luật số 23 năm 2007 Khác
24. Nguyễn Sơn Hà (2013). Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng bảo đảm quyền của bị can, bị cáo. Tạp chí nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật số 2 năm 2013 Khác
28. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2004). Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam và Thụy Điển - Luận văn thạc sĩ luật học Khác
29. Lương Văn Tấn (2008). Những giá trị đương đại của bộ luật Hồng Đức, Luận văn thạc sĩ luật học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w