Xác định được mục đích, vai trò và tầm quan trọng của công tác này, những năm qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc thực hiện các chế độ, chính sách cho phạm nhân, nhằm giúp họ có t
Trang 1
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 - NĂM 2019
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ HUỲNH TẤN DUY
Học viên: HUỲNH QUỐC CƯỜNG, Lớp Cao học Luật Khóa 3 – Tiền Giang
TP.HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 – NĂM 2019
Trang 3Luật học “Chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân theo Luật Thi hành án hình sự Việt Nam” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề
tài khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Huỳnh Tấn Duy Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Huỳnh Quốc Cường
Trang 41.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân 6 1.2 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân 12 1.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân và nâng cao hiệu quả thực hiện 18
1.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân 18 1.3.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23 CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC Y TẾ CỦA PHẠM NHÂN 24 2.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân 24 2.2 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân 36 2.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân và nâng cao hiệu quả áp dụng 39
2.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân 39 2.3.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù chung thân, tù có thời hạn; vì
đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nên họ bị áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc, đi kèm với đó là sự hạn chế một số quyền con người Tại kỳ họp thứ
7, Quốc hội khóa XII, ngày 17/6/2010, Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12
đã được thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011, việc ban hành luật
đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạt động lập pháp của nhà nước nói chung, lĩnh vực Thi hành án hình sự nói riêng, thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người chấp hành án, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự,
an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của công dân theo Hiến pháp Sau một thời gian dài áp dụng, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã phát huy được tác dụng tích cực, nhất là việc điều chỉnh các mối quan hệ trong Thi hành án hình sự và các chế độ cho phạm nhân Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành có những hạn chế, thiếu sót nhất định, chưa theo kịp sự phát triển của xã hội Bên cạnh đó, vào năm
2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua 04 đạo luật quan trọng bao gồm: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam Các đạo luật này đã có hiệu lực vào ngày 01/01/2018, cũng có nghĩa một số quy định của Luật Thi hành án hình sự năm
2010 trở nên thiếu đồng bộ hoặc mâu thuẫn Do đó, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, ngày 14/6/2019, Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 đã được thông qua và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2020 góp phần khắc phục những thiếu sót của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và phát huy hơn nữa hiệu quả công tác Thi hành án hình sự Hiện nay, theo số liệu thống kê của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (nay là Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và Thi hành án hình sự tại cộng đồng), cả nước có 172.856 phạm nhân đang chấp hành án ở 53 trại giam, 83 trại tạm giam, 734 nhà tạm giữ Quá trình chấp hành án ở trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ (cơ sở giam giữ) việc bảo đảm chế độ liên lạc và chăm sóc y
tế cho phạm nhân là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với lực
Trang 6lượng trực tiếp quản lý can phạm nhân Qua đó, giúp cho phạm nhân thấy được sự quan tâm, cảm thấy không bị phân biệt đối xử mà an tâm cải tạo, tuân thủ nội quy giam giữ, không vi phạm kỷ luật trong thời gian chấp hành án, không bỡ ngỡ khi tái hòa nhập cộng đồng Xác định được mục đích, vai trò và tầm quan trọng của công tác này, những năm qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc thực hiện các chế
độ, chính sách cho phạm nhân, nhằm giúp họ có tư tưởng ổn định, an tâm học tập cải tạo trong thời gian chấp hành án; các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đã thực hiện tốt chế độ liên lạc và chăm sóc y tế cho phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật Thi hành án hình sự Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo đảm chế độ liên lạc và chăm sóc y tế cho phạm nhân vẫn còn những hạn chế nhất định, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó, có cả khách quan lẫn chủ quan, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh, trật tự, giảm đi tính nghiêm minh của pháp luật thi hành án hình sự Chế độ liên lạc và chăm sóc y tế cho phạm nhân đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do thành phần đối tượng, thời gian liên lạc và chăm sóc ý tế rất đa dạng, nhất là phạm nhân là người nước ngoài, dân tộc ít người, phạm nhân mắc bệnh AIDS, lao, xơ gan và nghiện ma túy hàng năm đều tăng, làm tăng áp lực công việc và quá tải cho cán bộ y tế; số phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia luôn tỏ thái độ bất hợp tác, tìm mọi thủ đoạn để gây khó khăn cho công tác quản lý giam giữ như: Tuyệt thực, tìm mọi cách đánh lừa y, bác sĩ để được nằm bệnh xá thời gian dài… Mặt khác, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc liên lạc và chăm sóc y tế chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nhiều nơi đã xuống cấp, thiếu buồng bệnh cách ly và trang thiết bị y tế thiết yếu; cán bộ trực tiếp làm công tác này còn thiếu, trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế,
ít va chạm thực tiễn, trình độ chuyên ngành chưa đồng đều, chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm đối với công việc được phân công do chế độ chính sách chưa thỏa đáng
Ngoài ra, còn một nguyên nhân khác phải kể đến đó là các quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân chưa
cụ thể, rõ ràng, còn chung chung và chưa phù hợp với thực tiễn phát sinh, gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng Xuất phát từ những hạn chế, bất cập nêu trên, tác
giả quyết định chọn đề tài “Chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân theo Luật Thi hành án hình sự Việt Nam” để viết luận văn thạc sĩ Thông qua
công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đưa ra cái nhìn thật sự khách quan,
toàn diện những vướng mắc, bất cập theo quy định của Luật Thi hành án hình sự
Trang 7năm 2010, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và các văn bản hướng dẫn pháp luật
có liên quan việc thực hiện chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân theo Luật Thi hành án hình sự Việt Nam Tuy nhiên, đã có một số công trình hội thảo quốc tế góp ý dự thảo sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và các luận văn thạc sĩ, các
bài viết chuyên đề về chế độ liên lạc và chăm sóc ý tế đối với phạm nhân như:
- Nguyễn Hoàng Em (2018), “Chế độ gặp thân nhân và chăm sóc ý tế của
phạm nhân nữ theo luật Thi hành án hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh
- Lê Huỳnh Tấn Duy (2018), “Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Thi hành án hình sự về những quy định chung và thi hành án tử hình”, Hội thảo quốc tế “Góp ý dự thảo sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án
hình sự”, Trường Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/6/2018
- Lê Hữu Trí (2018), “Góp ý sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ ăn,
mặc, ở, sinh hoạt và chăm sóc y tế đối với phạm nhân”, Hội thảo quốc tế “Góp ý dự
thảo sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án hình sự”, Trường Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/6/2018
- Lê Thị Anh Nga (2018), “Chế độ thăm gặp, liên lạc, nhận quà của phạm
nhân dưới góc độ quyền con người”, Hội thảo quốc tế “Góp ý dự thảo sửa đổi một
số điều của Luật Thi hành án hình sự”, Trường Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/6/2018
- Võ Thị Kim Oanh và Trịnh Duy Thuyên (2018), “Góp ý dự thảo sửa đổi
một số điều của Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng”, Hội thảo
quốc tế “Góp ý dự thảo sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án hình sự”, Trường
Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/6/2018
- Nguyễn Văn Mười (2018), “Chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động
của phạm nhân”, Hội thảo quốc tế “Góp ý dự thảo sửa đổi một số điều của Luật Thi
hành án hình sự”, Trường Đại học Luật, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/6/2018
Các công trình trên chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận; phân tích những khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị sửa đổi một số quy định riêng lẻ
Trang 8trong từng lĩnh vực, mà chưa nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu theo định hướng ứng dụng về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân theo pháp luật Thi hành án hình sự Việt Nam Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá và có giá trị cho việc viết luận văn của tác giả
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá quy định của pháp luật thi hành án hình sự; làm sáng tỏ thực trạng thực hiện chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân, luận văn đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hai chế độ trên đối với phạm nhân trong thực tiễn nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau :
- Làm rõ một số vấn đề nhận thức về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân;
- Phân tích, đánh giá quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và
2019 về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân;
- Trình bày và nhận xét về thực tiễn thực hiện chế độ liên lạc và chăm sóc y
tế đối với phạm nhân;
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc, chăm sóc y tế đối với phạm nhân và các giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định này trong thực tế
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và 2019 về chế độ liên lạc, chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân và thực tiễn thực hiện Các chế độ khác như ăn, mặc, ở; lao động, học văn hóa, học nghề… không thuộc nội dung nghiên cứu của luận văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chế độ liên lạc và chăm
sóc y tế đối với phạm nhân tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ như: Trại giam Châu Bình, Bộ Công an; Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre và Tiền Giang; Nhà tạm giữ Công an các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trang 9Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn
thực hiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và một số văn bản hướng dẫn thi hành về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, so sánh để luận giải các quy định của Luật Thi hành án hình
sự năm 2010, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và những văn bản luật có liên quan; phương pháp thống kê để phân tích các số liệu liên quan đến việc thực hiện chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân; phương pháp khảo sát thực tiễn
ở các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ nhằm tạo cơ sở để phân tích, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những quy định của pháp luật về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân, kết hợp với công tác khảo sát thực tiễn, luận văn đưa ra những vướng mắc, bất cập; từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật Thi hành án hình sự năm 2019
về chế độ liên lạc và chăm sóc y tế đối với phạm nhân
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tư liệu tham khảo để tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự năm 2019, phục vụ cho việc thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với phạm nhân, bảo đảm quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm hai chương:
Chương 1 Chế độ liên lạc của phạm nhân
Chương 2 Chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân
Trang 10CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ LIÊN LẠC CỦA PHẠM NHÂN
1.1 Quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân
Thi hành án hình sự là hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa
án do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, buộc người bị kết tội phải chấp hành hình phạt theo bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật1 Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm mục đích cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động, làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội; mặt khác, góp phần răn đe, ngăn ngừa chung Trên cơ sở đó, hoạt động thi hành án hình sự đã được tổ chức, thực hiện có hiệu quả, bảo đảm sự nghiêm minh và thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta trong giáo dục, cải tạo người phạm tội, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Về nhận thức, thi hành án hình sự bản chất là tước bỏ, hạn chế một số quyền nhất định của người chấp hành án Đối với phạm nhân, dù trong thời gian chấp hành
án họ bị hạn chế một số quyền con người, quyền công dân nhưng họ vẫn được đảm bảo một số quyền con người như: Quyền bất khả xâm phạm về mặt thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm… Hiến pháp năm 2013
quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”2 Do đó, phạm nhân vẫn có một số quyền khác như quyền
được chăm sóc y tế và quyền được liên lạc, thăm gặp thân nhân,…
“Phạm nhân” là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân3
“Thân nhân” là những người có quan hệ chặt chẽ về họ hàng, gia đình và tình cảm4
1 Nguyễn Văn Sơn, Thi hành án hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn
2 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
3 Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự Việt Nam
4
Xem thêm: https://vi.m.wikionary.org/wiki/thân_nhân
Trang 11“Liên lạc” là truyền tin cho nhau để giữ mối liên hệ5 Liên lạc có hai hình thức là liên lạc trực tiếp và liên lạc gián tiếp, thông qua điện thoại, thư tín Liên lạc trực tiếp là việc phạm nhân được gặp trực tiếp người thân Đó là chế độ gặp thân nhân của phạm nhân được quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự năm 2010
và Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 Liên lạc gián tiếp là liên lạc bằng điện thoại, thư tín, điện tín Trong phạm vi luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung phân tích, nghiên cứu chế độ liên lạc của phạm nhân được quy định tại Điều 47, 53 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019
Liên lạc với thân nhân là việc phạm nhân và người thân của mình liên hệ, truyền tin cho nhau để giữ mối liên hệ với nhau Nghiên cứu cho thấy chế độ liên lạc của phạm nhân có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, như đã trình bày, mặc dù trong quá trình chấp hành án phạm nhân
bị hạn chế một số quyền nhất định, song họ vẫn được đảm bảo các quyền khác như quyền chăm sóc y tế, quyền được thông tin, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm; trong đó có quyền được liên lạc với thân nhân Đây là một trong số các chế
độ được pháp luật thi hành án hình sự ghi nhận và đảm bảo thực hiện cho phạm nhân và cũng là một trong những quyền cơ bản, thiết yếu của con người, nhất là những người đang chấp hành án phạt tù Chế độ này được ghi nhận tại Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/2/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân
Thứ hai, những quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2010, 2019 và
Thông tư số 07/2018/TT-BCA quy định rõ chủ thể có trách nhiệm thực hiện chế độ này cho phạm nhân là những nơi chịu trách nhiệm tổ chức thi hành việc giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân như trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thi hành án hình sự đối với phạm nhân Luật cũng quy định rõ cá thể được áp dụng chế độ này là người đang chấp hành án phạt tù chung thân hoặc có thời hạn; đồng thời, quy định từng nội dung cụ thể trong việc thực thi chế độ liên lạc cho phạm nhân, bao gồm việc thăm gặp thân nhân, nhận, gửi thư, nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân; các vấn đề này đã được triển
5
Xem thêm: https://vi.m.wikionary.org/wiki/liên_lạc
Trang 12khai quy định cụ thể, rõ ràng trong các điều luật và thông tư có liên quan, bảo đảm được thực thi một cách hiệu quả và theo đúng quy định của pháp luật
Thứ ba, có sự phân hóa trong quy định về chế độ liên lạc cho một số phạm
nhân đặc biệt Cụ thể, Luật Thi hành án hình sự năm 2010, 2019 và Thông tư số 07/2018/TT-BCA đã có quy định riêng về chế độ liên lạc cho phạm nhân dưới 18 tuổi và phạm nhân là người nước ngoài thông qua quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án hình sự năm 2010; khoản 2 Điều 76 Luật Thi hành án hình sự năm 2019;
khoản 2 Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA
Việc ghi nhận chế độ liên lạc cho phạm nhân trong pháp luật thi hành án hình sự đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong thực thi các chế độ cho phạm nhân, cũng như đảm bảo các quyền con người, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước và thực hiện theo đúng tinh thần các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết Tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Thi hành án hình sự
năm 2019 nêu rõ phạm nhân có các quyền sau: “Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc,
đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án” Đây cũng là điểm hoàn toàn mới trong Luật Thi hành án hình sự năm
2019 so với Luật Thi hành án hình sự năm 2010, điều này thể hiện rõ quan điểm tôn trọng, bảo đảm thực thi các quyền con người của phạm nhân, đây cũng là chủ trương, chính sách xuyên suốt, nhất quán, mang tính cốt lõi trong công tác lập pháp
và hành pháp của Đảng và Nhà nước ta
Bên cạnh việc thực thi quyền con người thiết yếu cho phạm nhân thì việc quy định cụ thể các vấn đề liên quan chế độ thông tin liên lạc đóng một vai trò không nhỏ trong quá trình thi hành án hình sự và cải tạo phạm nhân Bởi lẽ, với môi trường khép kín tại các cơ sở giam giữ, phạm nhân bị hạn chế tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài, thông tin, hoạt động của gia đình, người thân và các vấn đề về xã hội sẽ rất hạn chế Do đó, việc phạm nhân được liên lạc với người thân qua điện thoại góp phần không nhỏ vào quá trình cải tạo phạm nhân Người thân của phạm nhân đóng vai trò như một cầu nối thông tin, qua việc liên lạc giúp phạm nhân nắm bắt được các hoạt động của đời sống xã hội, cũng như các vấn đề khác liên quan gia đình, người thân,… Việc thông tin liên lạc giúp phạm nhân nắm bắt kịp nhịp sống
xã hội, tránh bỡ ngỡ khi tái hòa nhập cộng đồng sau chấp hành án Mặt khác, quá trình thi hành án hình sự, cán bộ cơ sở giam giữ thường xuyên thực hiện công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao ý thức cho phạm nhân Cùng với đó, thông qua việc
Trang 13liên lạc, phạm nhân sẽ có điều kiện chia sẻ những tâm tư, tình cảm, khó khăn trong quá trình giáo dục, cải tạo; từ đó, người thân phạm nhân sẽ động viên, tác động tư tưởng để phạm nhân chấp hành nghiêm nội quy, quy định cơ sở giam giữ và các hoạt động khác trong quá trình cải tạo, góp phần tạo điều kiện để quá trình thi hành
án hành sự diễn ra thuận lợi, phạm nhân sớm ngày tái hòa nhập cộng đồng
Chế độ liên lạc của phạm nhân được quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, cụ thể sau:
“1 Phạm nhân được gửi mỗi tháng hai lá thư; trường hợp cấp bách thì được gửi điện tín Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư, điện tín mà phạm nhân gửi và nhận
2 Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng một lần, mỗi lần không quá 05 phút Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này
3 Chi phí cho việc liên lạc của phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả.”
Đối với Luật Thi hành án hình sự năm 2019, chế độ liên lạc của phạm nhân được quy định tại Điều 54, cụ thể như sau:
“1 Phạm nhân được gửi mỗi tháng 02 lá thư Giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm nhân gửi và nhận
2 Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng
01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách Giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này
3 Chi phí cho việc liên lạc của phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả”
Theo đó, chế độ liên lạc của phạm nhân được quy định tại Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì mỗi tháng phạm nhân được gửi hai lá thư, gọi điện thoại một lần cho người thân trong thời gian không quá 5 phút, trường hợp cấp bách, phạm
Trang 14nhân được gửi điện tín6 Phạm nhân tự chịu chi phí liên lạc với người thân của mình gồm cước điện thoại, phí gửi thư tín, điện tín,… Như vậy, một phạm nhân bình thường, mỗi tháng được liên lạc (liên lạc gián tiếp) với người thân của mình 3 lần gồm nói chuyện điện thoại và gửi thư Việc liên lạc với người thân là chế độ của phạm nhân được quy định trong Luật Thi hành án hình sự và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 9 và Điều 13 của Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật
và liên lạc điện thoại với thân nhân (Thông tư số 07/2018/TT-BCA)
Tại Luật Thi hành án hình sự năm 2019, nhìn chung chế độ liên lạc của phạm nhân đã được quy định thoáng hơn, mở rộng hơn về mặt thời gian liên lạc qua điện thoại Theo đó, phạm nhân được liên lạc điện trong nước với thân nhân mỗi tháng
01 lần, mỗi lần không quá 10 phút (Luật Thi hành án hình sự 2010 quy định không quá 05 phút) Bên cạnh đó, luật cũng mở rộng hơn về trường hợp được xem xét liên lạc qua điện thoại và thời gian liên lạc với quy định “trừ trường hợp cấp bách”, vấn
đề này do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành
án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này; có thể hiểu trường hợp cấp bách là các vấn đề mang tính đột xuất, bất ngờ, thiết yếu phải cho phạm nhân liên lạc với thân nhân qua điện thoại; trong trường hợp này, số lần liên lạc và thời gian liên lạc có thể được nâng lên tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể và do chủ thể có thẩm quyền quyết định
Đối với những trường hợp khác, thì chế độ thông tin liên lạc đối với từng hệ loại đối tượng sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp Đối với phạm nhân là người dưới
18 tuổi, chế độ liên lạc được quy định cụ thể như sau:
Điều 53 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 nêu rõ: “Phạm nhân là người
chưa thành niên được gặp thân nhân không quá ba lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 24 giờ Phạm nhân được liên lạc với thân nhân qua điện thoại mỗi tháng không quá bốn lần, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam
và tự chịu chi phí”
Khoản 2 Điều 76 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định rõ: “Phạm
nhân là người dưới 18 tuổi được liên lạc bằng điện thoại trong nước với thân nhân
6
Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010
Trang 15không quá 04 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam và tự chịu chi phí”
Tại khoản 2, Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA quy định: “Phạm nhân
là người dưới 18 (mười tám) tuổi được liên lạc với thân nhân qua điện thoại theo quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án hình sự” Cơ quan thi hành án phạt tù có
trách nhiệm kiểm tra thư tín, điện tín của phạm nhân trước khi gửi đi, đồng thời giám sát quá trình phạm nhân nói chuyện điện thoại với người thân Phạm nhân chỉ được liên hệ, gọi điện thoại trong nước với thân nhân, không được phép gọi điện thoại ra nước ngoài7 Các cơ sở giam giữ có trách nhiệm lắp điện thoại cố định (điện thoại bàn) Cụ thể, Điều 13 Thông tư 07/2018/TT-BCA quy định:
“1 Các cơ sở giam giữ phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông địa phương lắp đặt máy điện thoại bàn (cố định) và tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thoại với thân nhân Cước phí gọi điện thoại được tính theo giá của cơ quan bưu chính viễn thông và do phạm nhân chi trả từ tiền lưu ký theo hình thức ký sổ
2 Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân theo quy định tại khoản 2, Điều 47 Luật Thi hành án hình sự Phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy của cơ sở giam giữ, có thành tích trong lao động, học tập thì tăng thêm mỗi tháng 01 lần liên lạc điện thoại với thân nhân Phạm nhân là người dưới
18 (mười tám) tuổi được liên lạc với thân nhân qua điện thoại theo quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án hình sự Khi liên lạc điện thoại với thân nhân, phạm nhân phải liên lạc đúng số điện thoại và nội dung đã đăng ký; sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, trừ phạm nhân là người dân tộc thiểu số và là người nước ngoài không biết tiếng Việt Trường hợp khi phạm nhân có đề nghị cần phải trao đổi với thân nhân để giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì được liên lạc với thân nhân theo các nội dung đã đăng ký
3 Phạm nhân thường xuyên vi phạm Nội quy của cơ sở giam giữ bị giam riêng; phạm nhân đang bị thi hành kỷ luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình
sự Công an cấp huyện có thể hạn chế việc liên lạc điện thoại với thân nhân nhưng không quá 3 (ba) tháng
4 Phạm nhân đang có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về những hành vi phạm tội
7
Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010; khoản 2 Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA
Trang 16khác hoặc có liên quan đến những vụ án khác đang được xem xét, xử lý, thì không được liên lạc điện thoại với thân nhân
5 Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành
án hình sự Công an cấp huyện bố trí buồng gọi điện thoại có thiết bị giám sát và cử cán bộ giám sát chặt chẽ nội dung trao đổi của phạm nhân với thân nhân khi liên lạc điện thoại Nếu phát hiện nội dung trao đổi không đúng với đăng ký thì phải dừng cuộc gọi, trường hợp xét thấy cần thiết phải lập biên bản, đề xuất xử lý kỷ luật
6 Cán bộ giám sát phải có sổ theo dõi, cập nhật thông tin về việc tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thoại với thân nhân.”
Các cơ sở giam giữ có trách nhiệm và phải liên hệ, phối hợp với cơ quan Bưu chính viễn thông để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phạm nhân thực hiện chế
độ liên lạc của mình Trong quá trình phạm nhân thực hiện chế độ liên lạc, các cơ
sở giam giữ có trách nhiệm cử cán bộ giám sát chặt chẽ các nội dung liên lạc để tránh trường hợp phạm nhân trao đổi những vấn đề không đúng với nội dung đã đăng ký, gây khó khăn cho quá trình thi hành án
Luật thi hành án hình sự Việt Nam quy định phạm nhân được liên lạc điện thoại, được gửi và nhận thư tín, điện tín là một trong những giải pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng mà Đảng và nhà nước ta rất quan tâm hiện nay Đây là một trong những biện pháp chuẩn bị về mặt tinh thần cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng của phạm nhân Thông qua việc liên lạc điện thoại, gửi và nhận thư tín, điện tín sẽ gắn kết mối quan hệ giữa phạm nhân với người thân bên ngoài xã hội, góp phần xóa bỏ mặc cảm, tự ty trong tâm lý của phạm nhân Mặt khác, thông qua việc liên lạc điện thoại, nhận và gửi thư tín, điện tín, phạm nhân có thể tiếp nhận các thông tin về những thay đổi bên ngoài xã hội, từ đó không bỡ ngỡ sau khi chấp hành xong án phạt tù trở về tái hòa nhập cộng đồng
1.2 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân
Thời gian qua các trại giam thuộc Bộ Công an đều đảm bảo việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
Về đối tượng: Các trại giam thuộc Bộ Công an đều thực hiện đúng quy định
về đối tượng phạm nhân được gọi điện thoại, nhận và gửi thư tín, điện tín là ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột, dâu, rể;
Trang 17anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột8 Mỗi tháng phạm nhân được gửi tối đa hai lá thư và được gọi điện thoại cho người thân một lần, mỗi lần gọi không quá 5 phút; các cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc thân nhân khác ngoài những người nêu trên được nói chuyện điện thoại với phạm nhân trong một số trường hợp Giám thị trại giam xét thấy phù hợp với lợi ích hợp pháp của phạm nhân
và yêu cầu công tác phòng, chống tội phạm, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân
Về thực hiện chế độ: Các trại giam thuộc Bộ Công an đều tổ chức cho phạm
nhân được gọi điện thoại cho người thân mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 5 phút9 Đối với những phạm nhân chấp hành tốt nội quy, tích cực lao động cải tạo, được khen thưởng thì đều cho phép họ được gọi điện thoại cho thân nhân thêm 01 lần trong tháng10 Một số trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
có đề nghị được liên lạc điện thoại, gửi hoặc nhận thư tín, điện tín của phạm nhân, Giám thị trại giam xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật nếu thấy việc nói chuyện điện thoại, nhận và gửi thư tín, điện tín đó có tác dụng tích cực trong việc học tập, cải tạo của phạm nhân Đối với trường hợp phạm nhân là người chưa thành niên, các trại giam cũng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về chế độ liên lạc của phạm nhân theo Điều 53 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 như cho phép phạm nhân được nói chuyện điện thoại với người thân không quá bốn lần trong 01 tháng, mỗi lần nói chuyện không quá 10 phút, có sự giám sát của cán
bộ trại giam và tự chịu phí liên lạc11
Về trình tự, thủ tục thực hiện chế độ liên lạc điện thoại: Giám thị các trại
giam thuộc Bộ Công an tùy theo điều kiện thực tế của các trại đã phối hợp với các
cơ quan bưu chính viễn thông địa phương tổ chức lắp đặt điện thoại cố định (điện thoại bàn) cho phạm nhân được liên lạc, nói chuyện điện thoại với người thân theo quy định của pháp luật, đồng thời bố trí cán bộ trực tiếp giám sát, theo dõi quá trình nói chuyện điện thoại, nhận và gửi thư của phạm nhân và người thân theo đúng quy định của pháp luật12
8 Điều 9, Chương III Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân
9 Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010
10 Khoản 2 Điều 13 Chương IV Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018
11 Điều 53 Luật Thi hành án hình sự năm 2010
12
Khoản 1 và 5 Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA
Trang 18Hình thức
Năm
Liên lạc qua thƣ (đơn vị tính: lá thƣ)
Liên lạc qua điện thoại
Liên lạc qua điện thoại
Liên lạc qua điện thoại
Trang 19Hình thức
Năm
Liên lạc qua thƣ (đơn vị tính: lá thƣ)
Liên lạc qua điện thoại
Đa số phạm nhân và người thân của phạm nhân có chấp hành tốt các quy định của pháp luật, nội quy của trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ trong quá trình liên lạc với người thân Chế độ liên lạc của phạm nhân cơ bản phát huy được tính tích cực hiệu quả trong động viên, khích lệ tinh thần phạm nhân trong việc phấn đấu học tập, lao động, cải tạo tốt để sớm trở về tái hòa nhập với cộng đồng, gia đình và
xã hội Ngoài ra, trong quá trình gửi thư, nói chuyện điện thoại với người thân, phạm nhân có điều kiện cập nhật một số thông tin có liên quan về xã hội bên ngoài
để tránh những bỡ ngỡ, bất ngờ trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng sau này
Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chế độ liên lạc của phạm nhân vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế sau đây:
Trang 20Một là, số lượng, thời gian liên lạc điện thoại với người thân quá ngắn
Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định về chế độ liên
lạc điện thoại trong nước đối với thân nhân: “Phạm nhân được liên lạc điện thoại
trong nước với thân nhân mỗi tháng một lần, mỗi lần không quá 05 phút” Theo
quan điểm của tác giả, mỗi tháng phạm nhân chỉ được liên lạc điện thoại với người thân một lần là quá ít; đồng thời, mỗi lần không quá 05 phút là khoảng thời gian quá ngắn để có thể đủ trao đổi thông tin hai chiều; bởi lẻ, thông qua gọi điện thoại không chỉ là hỏi thăm sức khỏe, tình hình gia đình mà còn chính người thân của phạm nhân sẽ trực tiếp giáo dục, động viên, khích lệ tinh thần cho phạm nhân chấp hành án tốt, cố gắng lao động, học tập cải tạo tốt, nhanh chóng trở về trong vòng tay của gia đình và xã hội Do đó, cần tăng số lần và số phút được nói chuyện, đồng thời đối với phạm nhân chấp hành tốt nội quy có thành tích, có công cũng cần được khen thưởng tăng số lần gọi, số phút nói chuyện qua điện thoại như quy định tại Điều 47 của Bộ luật (cần quy định cụ thể trong luật)
Hai là, việc quy định kiểm tra thư tín, điện tín chưa rõ ràng, gây khó khăn
trong công tác thực hiện
Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì:
“Phạm nhân được gửi mỗi tháng hai lá thư; trường hợp cấp bách thì được gửi điện tín Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư, điện tín mà phạm nhân gửi và nhận”
Theo quy định của luật thì thư, điện tín mà phạm nhân gửi và nhận đều phải được kiểm tra, kiểm duyệt Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản cụ thể quy định về quy trình, chế độ kiểm duyệt thư, điện tín của phạm nhân; điều này gây khó khăn trong quá trình thực hiện Việc kiểm tra nội dung thư, điện tín được tiến hành như thế nào, có cần người chứng kiến hay không và phải lập biên bản không; trường hợp nào được xem là nội dung thư, điện tín không phù hợp; nếu phát hiện nội dung thư, điện tín không phù hợp thì xử lý như thế nào,… Do đó, để việc thực hiện công tác này đạt hiệu quả theo đúng quy định của pháp luật, cần phải ban hành điều luật cụ thể hoặc thông tư hướng dẫn chi tiết về vấn đề này
Ba là, việc quy định tính giá cước cuộc gọi còn nhiều bất cập, cụ thể:
Khoản 1 Điều 13 Thông tư 07/2018/TT-BCA quy định:
“1 Các cơ sở giam giữ phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông địa phương lắp đặt máy điện thoại bàn (cố định) và tổ chức cho phạm nhân liên lạc
Trang 21điện thoại với thân nhân Cước phí gọi điện thoại được tính theo giá của cơ quan bưu chính viễn thông và do phạm nhân chi trả từ tiền lưu ký theo hình thức ký sổ”
Trong thực tế, điện thoại bàn của các cơ sở viễn thông (bưu điện) được điều khiển bởi một hệ thống máy chủ thông qua mạng máy tính liên kết trực tiếp với các máy điện thoại, hệ thống mạng máy tính này được lập trình để tính toán thời gian liên lạc và số tiền phải chi trả cho từng cuộc gọi; đồng thời, mỗi nhà mạng lại có bảng giá riêng, không thống nhất (giá gọi nội mạng, ngoại mạng, điện thoại di động, điện thoại bàn sẽ khác nhau theo từng cách thức liên lạc) Theo quy định thì các cơ
sở giam giữ phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông địa phương lắp đặt máy điện thoại bàn (cố định) và tổ chức cho phạm nhân liên lạc điện thoại với thân nhân15 Quy định này đã tạo điều kiện cho phạm nhân và thân nhân trò chuyện, trao đổi thông tin cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, cũng như tạo điều kiện cho thân nhân động viên phạm nhân cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội
Tuy nhiên, việc liên kết giữa cơ sở giam giữ với cơ quan bưu chính viễn thông địa phương, cũng như hình thức tính cước cho từng cuộc gọi còn tồn tại một
số hạn chế nhất định Các cơ sở giam giữ địa phương, điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều yếu kém, chưa được trang bị đầy đủ những máy móc, thiết bị để phục vụ cho việc tính thời gian gọi và giá cước; trong khi đó, hầu hết các điện thoại bàn không hiển thị thời gian gọi và giá cước phải chi trả cho mỗi cuộc gọi Do đó, chỉ khi nhà mạng tiến hành tổng kết tiền thuê bao hàng tháng thì cơ sở giam giữ mới xác định được mỗi phạm nhân đã gọi bao nhiêu phút, số tiền phải chi trả trên thực tế Bên cạnh đó, quy định về hình thức ký sổ còn chưa phù hợp với việc tính giá cước, thời lượng gọi, vì phạm nhân cũng như cơ sở giam giữ chưa xác định được số tiền chi trả
là bao nhiêu sau mỗi lần liên lạc Vì vậy, ký sổ với định lượng như thế nào là điều chưa rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân
Bốn là, công tác giám sát quá trình liên lạc đối với phạm nhân là người nước
ngoài và người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn
Khoản 2 Điều 13 Thông tư số 07/2018/TT-BCA quy định: “ Khi liên lạc
điện thoại với thân nhân, phạm nhân phải liên lạc đúng số điện thoại và nội dung
đã đăng ký; sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, trừ phạm nhân là người dân tộc thiểu số
và là người nước ngoài không biết tiếng Việt…”
15
Khoản 1 Điều 13 Chương IV Thông tư số 07/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018
Trang 22Thực tế tại Trại giam Châu Bình, Bộ Công an; Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre, Trại tạm giam Công an tỉnh Tiền Giang và 09 Nhà tạm giữ Công an các huyện, thành phố, Công an tỉnh Bến Tre hiện nay, trình độ của một số cán bộ, chiến
sĩ chưa đáp ứng được yêu cầu công tác trong tình hình mới, nhất là năng lực sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình công tác Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ có trình độ, năng lực ngoại ngữ còn hạn chế, điều này gây khó khăn cho việc tiếp xúc, trao đổi với phạm nhân trong quá trình thi hành án hình
sự nói chung và quá trình liên lạc với thân nhân nói riêng của những phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số
1.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân và nâng cao hiệu quả thực hiện
1.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân
Một là, đề nghị gia tăng thời gian được liên lạc điện thoại với thân nhân và
được tăng thêm một lần gọi điện thoại nếu phạm nhân chấp hành tốt các quy định tại trại giam, có thành tích tốt hoặc lập công được quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 Đây được xem như là một phần thưởng khuyến khích phạm nhân tích cực cải tạo, học tập, lao động và tạo động lực cho phạm nhân chấp hành nội quy, quy định của cơ sở giam giữ
Tại Luật Thi hành án hình sự năm 2019, chế độ liên lạc qua điện thoại của
phạm nhân được quy định tại khoản 2 Điều 54, cụ thể: “Phạm nhân được liên lạc
điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút,
trừ trường hợp cấp bách Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng
cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này”
So với Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì Luật Thi hành án hình sự năm
2019 đã có điều chỉnh mở rộng về mặt thời gian phạm nhân được liên lạc qua điện
thoại với gia đình và người thân, cụ thể thời gian lạc từ 05 phút đã được tăng lên 10 phút16, giúp phạm nhân và thân nhân có thể trao đổi nhiều hơn về vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt, cải tạo hàng ngày, cũng như các biến động của đời sống xã hội Bên cạnh việc tăng thời gian liên lạc, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 còn bổ sung
thêm trường hợp phạm nhân được xem xét về thời gian liên lạc, đó là “trừ trường
16
Khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019
Trang 23hợp cấp bách” Có thể thấy rằng, việc quy định trường hợp cấp bách cho thấy việc
thực hiện chế độ liên lạc đối với phạm nhân được mở rộng hơn rất nhiều Trường hợp cấp bách có thể hiểu là những vấn đề mang tính cấp thiết, nguy cấp, xét thấy cần xem xét tăng số lần, thời gian liên lạc, thể hiện tính linh hoạt, chủ động trong việc xem xét thực hiện chế độ cho phạm nhân
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quan, tác giả nhận thấy rằng, thời gian liên lạc mỗi tháng là một lần, một lần không quá 10 phút vẫn còn quá ít, chưa đủ để phạm nhân và gia đình, người thân trao đổi hết thông tin cần thiết, chưa phát huy tối đa tác dụng của việc liên lạc trong giáo dục, cải tạo để phạm nhân yên tâm chấp hành
án, học tập tốt, sớm ngày trở về với vòng tay của gia đình và xã hội Bên cạnh đó, mỗi tháng phạm nhân chỉ được thực hiện việc liên lạc qua điện thoại với thân nhân một lần, theo khảo sát thực tế thì vấn đề này vẫn còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu chính đáng của phạm nhân Xuất phát từ thực tế, tác giả kiến nghị sửa đổi,
bổ sung khoản 2 Điều 54 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 như sau: “Phạm nhân
được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng hai lần, mỗi lần không quá 15 phút, trừ trường hợp cấp bách, phạm nhân được khen thưởng thì được
liên lạc thêm một lần trong tháng Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ
trưởng cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này”
Hai là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật liên quan đến việc
kiểm tra, kiểm duyệt nội dung thư, điện tín của phạm nhân
Như đã đề cập, trong thực tế, do chưa có các quy định cụ thể liên quan đến hoạt động này, nên quá trình áp dụng còn nhiều lúng túng, hạn chế nhất định Việc xác định nội dung nào là không phù hợp; quá trình kiểm tra, kiểm duyệt cần phải bảo đảm những tiêu chí gì, quy định cụ thể ra sao; có cần người chứng kiến và phải lập biên bản không; trường hợp phát hiện nội dung sai phạm thì xử lý thư, điện tín
đó như thế nào, hình phạt đối với phạm nhân ra sao? Thiết nghĩ, tất cả những điều nói trên cần phải được quy định cụ thể, rõ ràng hơn trong luật hoặc ban hành một thông tư hướng dẫn vấn đề này Đây cũng là một nội dung rất quan trọng để bảo đảm quyền con người và việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân được chặt chẽ hơn Do đó, tác giả kiến nghị ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành công tác này trong thực tế, một mặt bảo đảm việc thực hiện chức năng của cơ sở giam giữ diễn ra minh bạch, theo đúng trình tự, quy định của pháp luật; mặt khác, bảo đảm thực hiện tốt chế độ liên lạc của phạm nhân
Trang 24Ba là, việc bảo đảm chế độ liên lạc cho phạm nhân là người nước ngoài cần
được quy định cụ thể trong luật nhằm hạn chế sự lúng túng, thiếu sót trong quá trình thực hiện
Nhiều trường hợp phạm nhân là người nước ngoài không biết sử dụng tiếng Việt, điều này gây khó khăn trong quá trình giám sát việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân Bên cạnh đó, thân nhân của phạm nhân là người nước ngoài có thể
là người Việt Nam, sinh sống tại Việt Nam hoặc có thể là người nước ngoài không sinh sống tại Việt Nam Vì vậy, việc khác nhau về múi giờ sinh hoạt là điều tất yếu Mặt khác, phạm nhân là người nước ngoài sẽ được chính phủ các nước mà phạm nhân mang quốc tịch quan tâm đến quá trình chấp hành án của công dân nước họ
Do đó, việc quy định chế độ liên lạc của phạm nhân là người nước ngoài và phạm nhân là người Việt Nam vào chung một khoản trong một điều luật là chưa hợp lý, vấn đề này sẽ gây khó khăn và phát sinh một vài hạn chế nhất định như đã trình bày
Chính vì vậy, tác giả đề xuất phải có một khoản riêng trong Điều 54 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định cụ thể, rõ ràng quy trình giám sát, cũng như việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân là người nước ngoài Quy định cụ thể vấn đề này không những giúp việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân là người nước ngoài diễn ra thuận lợi mà còn bảo đảm thực hiện tốt công tác ngoại giao giữa nước ta và các nước khác trên thế giới Ngoài ra, cần thường xuyên phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam cho phạm nhân là người nước ngoài Tổ chức cho phạm nhân là người nước ngoài tham gia lao động, sản xuất, giúp họ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thông qua đó để cải tạo họ trở thành người lao động chân chính
1.3.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật thi
hành án hình sự về chế độ liên lạc của phạm nhân
Thứ nhất, tạo điều kiện, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam
giữ và gia đình phạm nhân trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân chấp hành
Trang 25cao Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ và gia đình phạm nhân trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân cần chú ý đến các nội dung sau: Kết hợp chặt chẽ bằng nhiều hình thức với gia đình phạm nhân để động viên, khích lệ
họ phấn đấu lao động cải tạo tốt; phối hợp với gia đình phạm nhân để nắm bắt các đặc điểm lai lịch, nhân thân, hoàn cảnh gia đình để từ đó có hình thức và phương pháp quản lý, giáo dục cho phù hợp đối với từng phạm nhân, tranh thủ sự ủng hộ của thân nhân gia đình phạm nhân trong việc khuyên giải, giáo dục họ học tập, lao động tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội; thường xuyên liên lạc với gia đình phạm nhân, thông báo kết quả quá trình chấp hành án của phạm nhân trong từng tháng, từng quý để gia đình nắm được… Mặt khác, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ
sở giam giữ với gia đình phạm nhân sẽ bảo đảm việc tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan trong quá trình liên lạc; gia đình phạm nhân sẽ được cơ sở giam giữ hướng dẫn cụ thể các quy định của pháp luật về việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân, tránh xảy ra các trường hợp vi phạm gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chấp hành án, cũng như các chế độ khác có liên quan của phạm nhân
Thứ hai, kiến nghị đề xuất mở các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ,
năng lực chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác quản lý can phạm nhân, nhất là năng lực sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình công tác
Theo khảo sát thực tế, cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác quản lý can phạm nhân có trình độ còn hạn chế, điều này gây khó khăn không nhỏ trong quá trình công tác Thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khi mọi thứ đều được mã hóa và liên kết với nhau thông qua mạng máy tính toàn cầu, con người có thể dễ dàng liên kết với nhau ở bất cứ đâu thông qua một vài thao tác đơn giản; cùng với đó, công tác quản lý phạm nhân cũng được ứng dụng các tiến bộ của khoa học, nhất là quản lý thông qua hệ thống phần mềm chuyên dụng Mặt khác, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; vị thế của nước ta trên trường quốc tế từng bước nâng lên, được bạn bè thế giới đánh giá là quốc gia
có tiềm lực phát triển vượt bậc Song, một vấn đề luôn tồn tại tính hai mặt, bên cạnh
sự phát triển do hội nhập mang lại, thì vấn đề tội phạm có yếu tố nước ngoài gia tăng đột biến và có nhiều diễn biến phức tạp Do đó, để áp ứng thực tiễn công tác trong tình hình mới cần phải nâng cao trình độ, năng lực của lực lượng thực hiện công tác quản lý can phạm nhân, nhất là khả năng ứng dụng và sử dụng ngoại ngữ, các tiến bộ khoa học công nghệ trong quá trình công tác Vì vậy, tác giả kiến nghị
Trang 26đề xuất Bộ Công an mở các lớp tập huấn toàn diện, chuyên sâu, nâng cao năng lực
sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin của lực lượng Thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp Bên cạnh đó, phối hợp với các đơn vị quốc tế mở các hội nghị giao lưu kinh nghiệm công tác quản lý can phạm nhân, giúp lực lượng chuyên trách học hỏi kinh nghiệm, ứng dụng vào quá trình công tác thực tiễn một cách hiệu quả
Thứ ba, kiến nghị đề xuất đầu tư, trang cấp các trang thiết bị cần thiết,
chuyên dụng phục vụ công tác quản lý phạm nhân, cũng như bảo đảm các chế độ cho phạm nhân; trong đó, có chế độ liên lạc với người thân
Cơ sở giam giữ những năm gần đây tuy đã được quan tâm đầu tư xây dựng, nhưng do tình hình số lượng phạm nhân tiếp tục tăng, cơ sở giam giữ thiếu, một số đơn vị công trình giam giữ xuống cấp, chưa được cải tạo sửa chữa kịp thời Nhiều công trình giam giữ của trại tạm giam, trại giam, nhà tạm giữ bị xuống cấp, hư hỏng nên không đảm bảo cho công tác giam giữ Qua khảo sát tại các nhà tạm giữ, trại giam, trại tam giam thì cơ sở vật chất, các trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho quá trình quản lý, cũng như thực hiện các chế độ cho phạm nhân còn chưa đảm bảo, nhất là việc thực hiện chế độ liên lạc của phạm nhân Do thiếu máy móc, trang thiết
bị cần thiết, nhiều cơ sở giam giữ chưa đầu tư được các loại máy điện thoại mới phục vụ việc liên lạc của phạm nhân; đồng thời, do không có hệ thống mạng máy tính quản lý việc thực hiện cuộc gọi của phạm nhân nên công tác giám sát, tính toán cước phí sau mỗi cuộc gọi còn gặp nhiều khó khăn Thời đại công nghiệp 4.0, việc liên lạc Facetime, Videocall (liên lạc thấy hình ảnh, hoạt động trực tiếp trên không gian mạng) không còn xa lạ; tuy nhiên, vấn đề này chưa được nghiên cứu áp dụng trong các cơ sở giam giữ; việc thực hiện liên lạc thông qua Videocall sẽ giúp phạm nhân và gia đình gần nhau hơn, việc truyền tải cảm xúc cũng dễ dàng hơn; đồng thời, gia đình, người thân có thể động viên phạm nhân một cách tốt hơn, phát huy tối đa tác dụng của việc liên lạc trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân Chính
vì vậy, tác giả đề xuất Bộ Công an tiếp tục quan tâm, đầu tư cơ sở hạ tầng, trang cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ có hiệu quả công tác bảo đảm chế độ cho phạm nhân, trong đó có chế độ liên lạc