1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam

79 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Hoàng Minh Dự
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này thể hiện bằng việc QBC được quy định trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng cũng như được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia như một quyền cơ bản của người bị b

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

HỆ CHÍNH QUY KHÓA 34 (KHÓA HỌC 2009 - 2013)

QUYỀN BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM

SINH VIÊN: HOÀNG MINH DỰ MSSV: 0955020023

LỚP: CHẤT LƯỢNG CAO 34 GVHD: TS VÕ THỊ KIM OANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô, bạn bè đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong thời gian nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Tác giả xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô đã giảng dạy lớp Chất lượng cao Khóa 34, đặc biệt

là TS Võ Thị Kim Oanh, người đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt khóa luận này

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình của riêng cá nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo,

số liệu được sử dụng trong bản luận văn đều được trích dẫn đầy đủ và việc tổng hợp, phân tích là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép từ các công trình

khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 07 năm 2013

Người thực hiện

Hoàng Minh Dự

Trang 4

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm quyền bào chữa 5

1.2 Đặc điểm của quyền bào chữa 8

1.3 Chủ thể của quyền bào chữa và chủ thể có trách nhiệm đảm bảo quyền bào chữa 13

1.4 Nội dung của quyền bào chữa .15

1.5 Vai trò của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự 18

1.6 Điều kiện đảm bảo quyền bào chữa 19

1.7 Lịch sử chế định quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến trước năm 2003 .21

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ QUYỀN BÀO CHỮA 2.1 Pháp luật thực định về chủ thể của quyền bào chữa và chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa 24

2.2 Pháp luật thực định về nội dung quyền bào chữa 26

2.2.1 Pháp luật thực định về quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 26

2.2.2 Pháp luật thực định về quyền nhờ người khác bào chữa 32

2.2.2.1 Việc nhờ người khác bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 32

2.2.2.2 Nội dung quyền nhờ người khác bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 .36

2.2.3 Pháp luật thực định về quyền có người bào chữa chỉ định 39

Trang 5

2.3 Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền bào

chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 43

CHƯƠNG III THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUYỀN BÀO CHỮA VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG VIỆT NAM 3.1 Thực tiễn áp dụng quyền bào chữa từ năm 2007 đến nay 46

3.1.1 Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 46

3.1.2 Những hạn chế trong việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 48

3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện quyền bào chữa 49

3.2.1 Những bất cập của quy định pháp luật 49

3.2.2 Những nguyên nhân trong việc áp dụng pháp luật 56

3.3 Định hướng hoàn thiện quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 60

3.3.1 Cơ sở và định hướng hoàn thiện quyền bào chữa 60

3.3.2 Những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 62

Kết luận 69

Danh mục tài liệu tham khảo 71

Trang 6

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 7

1

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng là một giá trị cao quý, mang tính nhân văn sâu sắc trong lịch sử phát triển của nhân loại Đây là đặc trưng tự nhiên vốn có của mỗi người được pháp luật của những nhà nước văn minh tiến bộ ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm Trong giai đoạn hiện nay, quyền con người được nhận thức đầy đủ và toàn diện như một giá trị cốt lõi trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng pháp luật Gắn liền với quyền con người trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa (QBC) có vị trí vô cùng quan trọng Đây là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền con người và đồng thời cũng là một quyền tự nhiên cần được tôn trọng và bảo vệ của người bị buộc tội Trên bình diện pháp luật quốc tế, QBC được ghi nhận với

tư cách là một chuẩn mực chung, giá trị cao đẹp Điều này thể hiện bằng việc QBC được quy định trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng cũng như được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia như một quyền cơ bản của người bị buộc tội mà Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm

QBC đã được quy định trong Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 với nhiều nội dung tiến bộ Tuy nhiên, trong những năm qua, những quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập cả về mặt quy định lẫn thực tiễn áp dụng nên chưa đáp ứng được vai trò quan trọng của QBC Các chủ thể thực hiện quyền này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, rào cản để phát huy hết khả năng của mình

để bào chữa cho người bị buộc tội Việc áp dụng các quy định về QBC gặp những hạn chế xuất phát từ chính người bị buộc tội, cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và từ người bào chữa (NBC)

Trong điều kiện nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là công cuộc cải cách tư pháp thì quyền con người luôn đặt lên hàng đầu và luôn được xem là vấn đề trọng tâm Do đó, để xây dựng một nền tư pháp dân chủ vững mạnh thì vấn đề tôn trọng và bảo đảm quyền con người phải được coi là mục tiêu then chốt Từ mục tiêu này, việc phát huy hơn nữa hiệu quả của QBC trong quá trình giải

Trang 8

tác giả lựa chọn đề tài: “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm Khóa

luận tốt nghiệp cử nhân Luật niên khóa 2009 – 2013

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, liên quan đên vấn đề quyền bào chữa trong TTHS đã

có một số tác giả nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Đó là Luận Văn Thạc sĩ

luật học “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

trong tố tụng hình sự Việt Nam và Thụy Điển” vào năm 2004 của tác giả Lương Thị Mỹ

Quỳnh Luận văn đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc đảm bảo QBC dưới góc

độ về một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Luận văn Thạc sĩ “Bảo

đảm quyền bào chữa của bị can,bị cáo là người chưa thành niên trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” vào năm 2009 của tác giả Nguyễn Hữu Thế Trạch được phân

tích tập trung vào việc bảo đảm quyền tố tụng cho một nhóm chủ thể đặc biệt là người

bị buộc tội chưa thành niên Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực tiễn bảo đảm quyền có

người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam và những đề xuất hoàn thiện” vào năm

2010 của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh, được khai thác khía cạnh thực tiễn áp dụng và

cơ chế nhằm đảm bảo quyền được nhờ người khác bào chữa và quyền có NBC chỉ định

Luận án Tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – So

sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ” năm 2011 của tác giả Lương Thị

Mỹ Quỳnh, nghiên cứu độ góc độ Luật học so sánh vấn đề đảm bảo quyền được nhờ người khác bào chữa của ba hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Luận án này có phạm vi nghiên cứu rộng hơn so với khóa luận Liên quan trực tiếp đến khóa luận này là Luận

văn “Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam” vào năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hồng Tác giả đã đưa ra

khái niệm, cơ sở cũng như quy định pháp luật về quyền bào chữa một cách tương đối

Trang 9

3

đầy đủ, tuy nhiên phần kiến nghị hướng hoàn thiện của quyền bào chữa vẫn chưa rõ

ràng, toàn diện

3 Phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu khóa luận này được tác giả sử dụng

phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn Ngoài ra, tác giả sử dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người

Đồng thời, sử dụng các phương pháp nghiên cứu điển hình trong lĩnh vực luật học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh

Đối tượng nghiên cứu: một loại quyền năng đặc thù trong TTHS Việt Nam Quyền

năng đặc thù này thuộc về một chủ thể đặc biệt, đóng vai trò trung tâm trong quá trình

tố tụng đó là người bị buộc tội

4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu Mục đích xuyên suốt của Khóa luận này là nghiên cứu thấu

đáo và có hệ thống quyền năng tố tụng đặc thù này để từ đó hoàn thiện chế định QBC trong TTHS Việt Nam Chính vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung

về QBC trong TTHS, phân tích quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tác giả sẽ đưa ra những đề xuất kiến nghị để hoàn thiện QBC trong TTHS Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu Với tên gọi “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam”, khóa luận này có phạm vi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, QBC là một quyền mang tính quốc tế Vì thế khi nghiên cứu những vấn

đề lý luận của quyền này tác giả sẽ phân tích dưới góc độ chung mà không đi sâu vào tìm hiểu pháp luật của một quốc gia cụ thể

Thứ hai, trong phần II của Khóa luận tác giả sẽ tập trung phân tích về pháp luật thực định về QBC trong pháp luật thực định Việt Nam, ngoài ra có liên hệ với một số quy định của pháp luật nước ngoài

Trang 10

4

Thứ ba, trong phần III của Khóa luận tác giả sẽ chỉ phân tích thực tiễn của việc áp dụng QBC từ năm 2007 đến nay để đảm bảo tính tập trung cũng trùng lặp với một số công trình khoa học trước đó

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Khóa luận

Ý nghĩa khoa học: Khóa luận sẽ đưa ra những kiến thức lý luận cơ bản và có hệ

thống về QBC về khái niệm, đặc điểm, các chủ thể có liên quan đến QBC, nội dung, vai trò và lịch sử hình thành và phát triển QBC trong TTHS Việt Nam Đồng thời tác giả sẽ trình bày và phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về QBC từ đó sẽ có cái nhìn toàn diện về chế định này Từ đó, các công trình khoa học tiếp theo có được một nguồn tài liệu tham khảo phù hợp

Ý nghĩa thực tiễn: Trình bày và phân tích để từ đó thấy được việc áp dụng chế định

QBC với những mặt đạt được và chưa được trong thực tiễn Qua đó, đóng góp vào việc sửa đổi các quy định của pháp định hiện hành về QBC

6 Cơ cấu của khóa luận

Ngoài lời nói đầu và kết luận, Khóa luận bao gồm ba chương như sau:

Chương I Nhận thức chung về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự

Chương II Pháp luật thực định về quyền bào chữa

Chương III Thực tiễn áp dụng quyền bào chữa và đề xuất hoàn thiện quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 11

5

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm quyền bào chữa

QBC là một trong những chế định quan trọng và phức tạp, vừa mang tính lí luận, vừa mang tính thực tiễn cao1 Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về QBC do đó nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm QBC Chính vì vậy, việc thống nhất khái niệm

về QBC là một cơ sở để nghiên cứu thấu đáo chế định này Một số quan điểm về khái niệm QBC là:

 Quan điểm thứ nhất cho rằng: “QBC là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của bị can”2 Ngoài ra, cùng chủ thể của QBC là bị can nhưng có ý kiến còn cho rằng mục đích của QBC không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà còn thể hiện thể hiện trong việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can kể cả khi các quyền và lợi ích ấy của bị can không trực tiếp liên quan đến việc giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ

án3

 Quan điểm thứ hai cho rằng: QBC chỉ xuất hiện vào thời điểm hồ sơ vụ án được chuyển sang TA và quyền đó chỉ thuộc về bị cáo Đây là quan điểm được thừa nhận phổ biến ở một số nước theo hệ thống Pháp luật Common Law4 Học giả Philip.L.Reichel nhận định rằng: “QBC chỉ thuộc về bị cáo và bị cáo có quyền im lặng”.5

 Quan điểm thứ ba cho rằng QBC không những thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về những người tham gia tố tụng khác như người bị kết án thậm chí còn là quyền

1 Hoàng Thị Sơn, Về khái niệm QBC và việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học số 05 năm 2000, trang 39

2 Hoàng Thị Sơn, chú thích số 1, trang 39

3 Nguyễn Trọng Phúc, Về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Luật TTHS Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2008, tr.78

Trang 12

 Quan điểm thứ năm cho rằng: QBC là tổng hợp những quyền của người bị bắt, khám xét khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bào chữa nhằm (tự) bảo vệ đương sự khỏi sự buộc tội, kết tội oan, sai của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bằng hành động đưa ra lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự8

Theo quan điểm cá nhân, tác giả không hoàn toàn đồng ý với các quan điểm này ở

ba góc độ dưới đây:

Thứ nhất, về nội hàm của QBC là tập hợp các quyền mà pháp luật dành cho một

số chủ thể nhất định chứ không phải là các hành vi cụ thể Nếu QBC là các hành vi thì

có nghĩa là chủ thể của quyền này bắt buộc phải có những hành vi tố tụng cụ thể để bảo

vệ mình Như vậy, họ không được phép lựa chọn giữa việc có sử dụng hay không sử dụng các quyền của mình Các hành vi cụ thể để hướng tới việc bào chữa là hệ quả của việc thực hiện QBC còn tập hợp của những hành vi này không thể được coi là QBC Nếu đồng ý với quan điểm này thì chúng ta sẽ đi ngược với lý luận chung về khái niệm quyền, nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật Đây là lý do tác giả không đồng ý với quan điểm thứ nhất

Thứ hai, về mục đích của QBC: là để chứng minh sự vô tội của người người bị

buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ Theo ý kiến tác giả, quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba thì đã có sự nhầm lẫn giữa mục đích chung của tất cả các quyền tố tụng của các chủ thể với mục đích riêng biệt của QBC Việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể là mục đích của nhiều quyền năng tố tụng khác nhau Quyền và

6 Hoàng Thị Sơn, chú thích số 1, tr 39 và Lương Thị Mỹ Quỳnh, chú thích số 4, tr 9

7 Hoàng Thị Sơn, chú thích số 1, tr 39

8 Nguyễn Trọng Phúc, chú thích số 3, tr.83

Trang 13

7

lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng rất đa dạng như quyền được suy đoán

vô tội, quyền quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín… Tuy nhiên không phải tất cả những quyền và lợi ích của các chủ thể đều là mục tiêu để hướng đến của QBC Do đó, QBC và quyền được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau Như vậy, cho dù có cùng một chủ thể thể thì hai quyền này cũng tách biệt, độc lập với nhau Mục đích của bào chữa là hoạt động nhằm bảo vệ một cá nhân trước sự buộc tội nhằm tránh oan sai cho cá nhân này Chính vì vậy, mục đích hướng tới của QBC sẽ chỉ nằm trong phạm vi xác định một người không thực hiện hành vi phạm tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội và nhân thân của cá nhân đó

chính xác nhất về QBC Theo tác giả, QBC là một quyền tố tụng đặc biệt và chỉ thuộc

về người bị buộc tội Đối với quan điểm về chủ thể của QBC, tác giả tán thành với ý kiến cho rằng QBC chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và QBC thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội9 Việc xác định chủ thể của quyền này, xuất phát từ mục đích của QBC đó là “chống lại” sự buộc tội không có căn cứ hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội Như vậy, chỉ những người nào đang bị “buộc tội” mới có QBC Các quan điểm ở trên chưa thể hiện hết được sự khái quát về chủ thể của QBC Bản thân QBC là một quyền mang tính quốc tế, vì vậy quy định thế nào về khái niệm

“người bị buộc tội” sẽ tùy thuộc vào quy định pháp luật TTHS của từng nhà nước khác nhau và trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Chẳng hạn, Điều 30 Bộ luật, tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: người bị buộc tội (the accused), người bị tình nghi (the suspect) có quyền được chỉ định luật sư bất cứ lúc nào10 Điều 38, Bộ luật tố tụng hình

sự của chính quyền Sài Gòn trước đây quy định: “Trong giai đoạn điều tra sơ vấn nghi

can bị bắt giữ hoặc bị điều tra phải biết ngay là phạm tội gì và có quyền nhờ luật sư dự

9 Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.26

10 Tham khảo bản Tiếng Anh tại http://www.oecd.org/site/adboecdanti-corruptioninitiative/46814489.pdf, truy cập ngày 28/04/2013

Trang 14

8

kiến”11 Khái niệm “người bị buộc tội” không thống nhất mà sẽ tùy vào quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau của những nhà nước trong quá trình lập pháp TTHS

Từ những phân tích kể trên tác giả cho rằng cần đưa khái niệm QBC như sau:

“Quyền bào chữa là tổng hợp tất cả các quyền mà pháp luật dành cho người bị

buộc tội sử dụng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ”

1.2 Đặc điểm của quyền bào chữa

Thứ nhất, QBC là một quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, quyền con người được thể hiện ở hai góc độ: quyền của con người sống trong xã hội cần được bảo vệ trước hành vi phạm tội; và quyền con người của những người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền của người khác, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ QBC là quyền cơ bản của người bị buộc tội theo góc độ thứ hai Trong quá trình tố tụng, người

bị buộc tội rất dễ bị buộc tội oan sai hay chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với hành

vi phạm tội của họ Để tránh tình trạng đó, QBC phải được ghi nhận như một yêu cầu tất yếu và cũng là phương tiện pháp lý vô cùng quan trọng để mỗi công dân có thể bảo

vệ mình Việc bào chữa là quyền cơ bản chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý của người

bị buộc tội Nắm được nhận thức này sẽ có vai trò quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự Một là việc không sử dụng quyền bào chữa không có nghĩa người bị buộc tội đương nhiên đã thừa nhận hành vi phạm tội Hai là việc sử dụng quyền bào chữa của người bị buộc tội không được coi như bằng chứng về thái độ “ngoan cố”, không chịu nhận tội của người bị buộc tội12

QBC trong TTHS còn là một quyền phòng vệ tự nhiên của con người, bởi mỗi một

cá nhân muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì phải có quyền tự vệ Trong đời sống

xã hội, cá nhân có thể sẽ phải chịu những tác động xấu từ đời sống xã hội bất lợi cho cá nhân mình Những tác động hay cụ thể là những sự “tấn công” này được thể hiện bằng

11 Hoàng Thị Sơn, chú thích số 1, tr.40

12 Trần Quang Tiệp, Về đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.37

Trang 15

9

nhiều cách thức khác nhau về vật chất hay tinh thần Với những tác động tiêu cực như vậy cá nhân phải có những phản ứng phù hợp để có thể tồn tại được Những phản ứng này mang tính phòng vệ để gạt bỏ, chống lại những tác động bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân mình Hoạt động buộc tội là một trong những ảnh hưởng tiêu cực đến cá nhân Bởi khi bị buộc tội, một cá nhân sẽ có nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự, loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của Nhà nước Đó là một hậu quả pháp lý bất lợi

mà anh ta phải chịu tương xứng khi hành vi của anh ta được chứng minh là đã vi phạm pháp luật hình sự Như vậy, để có thể bảo vệ được bản thân mình thoát khỏi hậu quả bất lợi này, một cá nhân phải có quyền bào chữa như một quyền tự nhiên của con người

Thứ hai, QBC có mối quan hệ mật thiết với các quyền khác trong pháp luật TTHS

QBC có mối quan hệ biện chứng với các quyền cơ bản khác của người bị buộc tội: quyền được suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng Đồng thời, QBC được thực hiện thông qua các quyền tố tụng cụ thể của chủ thể thực hiện quyền này

Quyền được suy đoán vô tội là quyền của người bị buộc tội không được coi là có tội cho đến khi có Bản án có hiệu lực của TA kết luận về việc có hành vi phạm tội của

họ Quyền suy đoán vô tội là tiền đề để người bị buộc tội thực hiện được quyền bào chữa của mình Chỉ khi người bị buộc tội được coi là chưa có tội, họ mới có quyền chứng minh chứ không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, đây chính là một trong những cơ sở để họ thực hiện quyền bào chữa của mình13 Ngược lại, QBC đảm bảo pháp

lý cho quyền được suy đoán vô tội Thực hiện QBC tức là cụ thể hóa việc được suy đoán là vô tội của những người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc vi phạm quyền bào chữa tức là vi phạm quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội

Quyền được xét xử công bằng đảm bảo cho việc thực hiện QBC Nếu không được xét xử công bằng thì mọi chứng cứ, yêu cầu của người bị buộc tội và NBC của họ đều không có giá trị Muốn bào chữa, chủ thể thực hiện QBC phải có vị thế bình đẳng với cơ quan buộc tội trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình đồng thời phải được tạo điều kiện để tranh tụng theo đúng nghĩa Vì thế, đảm bảo

13 Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn, Lê Thị Thùy Dương, Quyền được suy đoán vô tội và vấn đề sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Đề tài NCKH, TP.HCM, 10/2012, tr.11

Trang 16

10

được quyền được xét xử công bằng là tạo môi trường để tồn tại và thực hiện QBC Trong khi đó, QBC chính là cơ sở pháp lý để quyền được xét xử công bằng mang tính khả thi và là phương tiện để đạt được mục đích tố tụng công bằng

Cách thức thực hiện QBC đó là thông qua những quyền cụ thể mà pháp luật tố tụng trao cho chủ thể thực hiện QBC Đó là những quyền như: quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ; quyền được thông báo về kết quả của quá trình tố tụng; quyền tranh luận tại phiên tòa Tuy có nội dung khác nhau, nhưng những quyền tố tụng này đều có mục đích cuối cùng là để bào chữa cho người bị buộc tội Những quyền này là một bộ phận không thể tách rời và cũng là cách thức để thực hiện QBC Không có những quyền này thì QBC sẽ không khả thi hay chỉ mang tính hình thức vì thiếu đi phương tiện và cách thức để thực hiện Có thể thấy rằng QBC là vấn đề trung tâm, là hội tụ các quyền

cụ thể khác của người bị buộc tội14 Như vậy, khi nghiên cứu về QBC, chúng ta không chỉ nghiên cứu nội dung của quyền năng tố tụng đặc biệt này mà còn cần nghiên cứu những quyền tố tụng khác có mục đích cuối cùng là để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội

Thứ ba, QBC là một quyền mang tính dân chủ và nhân đạo sâu sắc

Có thể so sánh, TTHS là một cuộc đấu tranh không cân sức giữa các bên đối trọng

về lợi ích15 Bên phía buộc tội là những cơ quan nhà nước có đầy đủ kiến thức pháp luật, chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm Trong khi đó, bên phía người bị buộc tội, họ đang bị yếu thế về mặt tâm lý, về kiến thức pháp luật Chính vì lẽ đó, một quá trình TTHS muốn đảm bảo được sự dân chủ thì bên buộc tội và gỡ tội phải có một vị thế ngang bằng QBC được ghi nhận sẽ tạo điều kiện cho người bị buộc tội những cơ hội để đảm bảo cho vị thế ngang bằng đó Với QBC, người bị buộc tội không chỉ được tự mình thực hiện việc gỡ tội cho mình mà họ còn được nhận được sự trợ giúp từ phía NBC NBC là những người có kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa sẽ là sự trợ giúp đắc lực cho người bị buộc tội để họ bác bỏ những cáo buộc không có cơ sở Tính nhân đạo của

14 Nguyễn Bá Ngừng, Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo - một trong những nguyên tắc quan trọng góp phần bảo đảm quyền con người trong TTHS Việt Nam, trong “Đảm bảo quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2010, trang 124

15 Nguyễn Thái Phúc, Mô hình TTHS Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Khoa học pháp lý,

số 05/2007

Trang 17

11

quyền bào chữa thể hiện ở hai góc độ Đầu tiên, ghi nhận QBC tức là tạo điều kiện cho người đang bị cáo buộc có hành vi chống lại xã hội được bảo vệ những lợi ích thiết thân nhất của mình Như vậy, ngay cả những người bị phát hiện đã có hành vi phạm tội tương đối rõ ràng thì họ vẫn có quyền được bảo vệ cho mình Thứ hai, việc cho phép người bị buộc tội quyền có người khác bào chữa thể hiện tính nhân văn sâu sắc, là việc giúp người đang ở tình thế bất lợi, khó khăn và thể hiện một hành vi cao đẹp thể hiện tính nhân bản của con người

Thứ tư, QBC là một quyền mang tính quốc tế

QBC không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quyền mang tính quốc gia mà còn

là giá trị chung trong lịch sử lập pháp của nhân loại Trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, QBC là một chuẩn mực bắt buộc (jus cogens) trong quyền được xét xử công bằng16 Tầm quan trọng của QBC đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người Tuyên ngôn chung về quyền con người của Liên Hiệp quốc vào ngày

10 tháng 12 năm 1948 đã khẳng định tại Điều 11: “Một người bị buộc tội có hành vi

phạm tội được coi là vô tội cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó”17 Với quy định của Tuyên ngôn, QBC được coi là điều kiện tiên quyết để bảo vệ quyền con người Sau đó, Tại Khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị vào ngày 16 tháng 12 năm 1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng đã khẳng định:

“Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng

một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu sau đây:

a) Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;

b) Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với NBC

Trang 18

12

d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả…”

Những đảm bảo trên là bộ phận cấu thành của QBC – quyền cơ bản của con người Công ước Châu Âu về nhân quyền tại Điều 6 về xét xử công bằng cũng đưa ra những quy định tương tự18

Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, QBC cũng được coi

là một quyền hiến định như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng, QBC thực sự là một thành quả lập pháp của nhân loại, là giá trị chung của nhân quyền

Thứ năm, QBC là một quyền thể hiện sự văn minh tiến bộ

Quá trình phát triển của lịch sử loài người đã trải qua nhiều kiểu nhà nước khác nhau QBC chỉ thực sự được ghi nhận và bảo đảm ở những Nhà nước tiến bộ văn minh, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Trong kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến QBC rất ít khi, thậm chí là không được coi trọng Những người bị buộc tội không có bất

kì phương tiện, cơ sở pháp lý nào để bảo vệ mình trước sự suy đoán có tội của các cơ quan Nhà nước Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến quyền con người của người bị buộc tội bị xâm phạm một cách nghiêm trọng Từ khi có sự ra đời của kiểu nhà nước tư sản, các tư tưởng về quyền con người, quyền công dân bắt đầu có

sự chuyển biến và được chú ý tạo điều kiện để quyền con người thực sự được nhận thức một cách đúng đắn trong các hệ thống pháp luật Cũng từ đó, QBC đã bắt đầu ghi nhận

là một quyền cơ bản của người bị buộc tội và thực hiện đóng góp một phần quan trọng trong việc đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội Đây là một bước tiến trong việc nhận thức về quyền con người trong lịch sử lập pháp của con người Sự tiến bộ còn thể hiện ở chỗ, bất kì ai trong hoàn cảnh nào cũng có cơ hội được chứng minh sự vô tội của mình Điều này thể hiện nhận thức mới mẻ trong việc cân bằng giữa việc xử lý tội

18 Xem thêm, bản tiếng Anh tại, http://conventions.coe.int/treaty/en/Treaties/Html/005.htm truy cập ngày

19/04/2013

Trang 19

lý luận về người bị buộc tội trong pháp luật TTHS Việt Nam, tác giả cho rằng chủ thể của QBC bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nếu cho rằng, QBC chỉ thuộc về bị can hoặc chỉ của bị cáo thì đã thu hẹp phạm vi chủ thể của QBC Vì bị can, bị cáo là đều

là người bị buộc tội nhưng ở hai giai đoạn tố tụng khác nhau Nếu chỉ có một trong hai chủ thể này có QBC thì sẽ không thể bảo vệ quyền con người của họ một cách xuyên suốt, hiệu quả QBC của bị can ở giai đoạn điều tra, truy tố sẽ cần phải được tiếp nối khi

có quyết định đưa vụ án ra xét xử, có như vậy mới đảm bảo được sự bào chữa có hệ thống, khoa học

Tác giả cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng những chủ thể khác tham gia tố tụng như người bị hại, nhân chứng, giám định viên cũng có QBC, bởi việc xác định chủ thể của QBC như vậy là quá rộng Bào chữa nghĩa là hoạt động nhằm thực hiện chức năng “gỡ tội” Chính vì vậy, những chủ thể không bị buộc tội thì tất yếu không thể nào có QBC để “chống lại” sự buộc tội Vì thế, người bị hại, người làm chứng, giám định không thể là những chủ thể có QBC Khi những chủ thể này khi bị thiệt hại trong quá trình tố tụng thì họ sẽ có quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ chứ hoàn toàn không có QBC Đồng thời, tác giả cũng không đồng ý với đề xuất cho rằng người bị kết án (hay còn gọi là bị án19) cũng có thể có QBC Bởi buộc tội

và kết án là hai khái niệm khác nhau Việc buộc tội xem xét một người có phạm tội hay không chỉ tồn tại trước khi có Bản án của TA có hiệu lực tuyên một người là có tội Sau

19 Phan Thương, Tiến Hiểu, Bảo đảm QBC - Bài 3: Bị án cũng có quyền được bào chữa?, Báo Pháp luật TP.HCM điện tử, truy cập ngày 19/04/2013

Trang 20

14

khi có bản án này, thì người này được coi là có tội nên sẽ không còn việc buộc tội nữa20

Vì thế, QBC nhằm “chống lại” sự buộc tội đương nhiên cũng không xuất hiện Đối với những chủ thể là người bị bắt thì họ vẫn không phải là chủ thể bị buộc tội Vì mục đích đầu tiên và chủ yếu để bắt người trong pháp luật TTHS là để ngăn chặn tội phạm hoặc

có căn cứ họ sẽ bỏ trốn chứ không nhằm để buộc tội đích danh người này

Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng chủ thể của QBC còn thuộc về người bị tạm giữ

Có quan điểm cho rằng một người bị tạm giữ không có nghĩa là người đó đã bị buộc tội;

và vì chưa có sự buộc tội nên chưa thể có bào chữa theo cơ chế TTHS21

Tuy nhiên, tác giả không tán thành quan điểm trên vì những lý do được phân tích dưới đây Nếu như sự buộc tội của bị can, bị cáo thể hiện rõ ràng nhất ở những văn bản tố tụng như: quyết định khởi tố bị can, Bản kết luận điều tra, Bản truy tố, Quyết định đưa vụ án ra xét xử… thì sự buộc tội của người bị tạm giữ thể hiện ở việc họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng Khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này tức là các chủ thể này

đã bị nghi ngờ, hay có căn cứ để cho rằng họ đã thực hiện một hành vi phạm tội Người

bị tạm giữ bị hạn chế về tự do thân thể và bị áp dụng một số biện pháp điều tra ban đầu như lấy lời khai, làm rõ nhân thân, thu thập chứng cứ Ví dụ: một người bị bắt quả tang khi đang trộm cắp tài sản của người khác, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giữ Để áp dụng biện pháp tạm giữ người này thì CQĐT phải có căn cứ cho rằng anh ta đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và sau đó tiến hành hoạt động điều tra bước đầu để quyết định có khởi tố vụ án hay không Như vậy, kể thời điểm một người bị tạm giữ thì sự buộc tội đã xuất hiện vì thế tất yếu họ phải có QBC

Qua những phân tích trên có thể rút ra thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc QBC Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự buộc tội và bào chữa phải song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, ở đó có bào chữa22 Chính vì vậy, thời điểm phát sinh QBC là thời điểm bắt đầu có sự buộc tội đối với một cá nhân cụ thể Buộc tội trong TTHS là hành vi

22 Hoàng Thị Sơn, chú thích số 1, tr.41

Trang 21

15

của cơ quan THTT nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trên cơ

sở các chứng cứ đã được xác định tại thời điểm đó23 Do QBC tồn tại song song với sự buộc tội trong quá trình tố tụng nên khi sự buộc tội không còn nữa thì QBC tất yếu cũng

sẽ kết thúc Việc xác định thời điểm nào quá trình buộc tội bắt đầu và kết thúc được căn

cứ vào quy định trong pháp luật TTHS của từng nhà nước

Chủ thể có trách nhiệm bảo đảm QBC của người bị buộc tội cũng không được quy định một cách thống nhất trong pháp luật TTHS của mỗi quốc gia QBC là một quyền năng tố tụng thuộc về người bị buộc tội Vì họ là những chủ thể yếu thế và dễ bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp trong quá trình tố tụng nên cùng với việc quy định về QBC thì pháp luật của mỗi nước sẽ quy định về việc đảm bảo quyền này cho người bị buộc tội Vì thế, vấn đề quy định của chủ thể nào có trách nhiệm bảo đảm QBC của người bị buộc tội có vai trò quan trọng Dựa trên điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở lý luận

và thực tiễn cũng như mô hình tố tụng khác nhau, pháp luật TTHS của từng nước sẽ quy định khác biệt về chủ thể có trách nhiệm bảo đảm QBC Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam, chủ thể có trách nhiệm đảm bảo QBC thuộc về cơ quan THTT Việc đánh giá, phân tích về vấn đề này trong pháp luật thực định Việt Nam sẽ được trình bày trong Chương II của khóa luận

1.4 Nội dung của quyền bào chữa

QBC bao gồm quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa và quyền có NBC trong các trường hợp luật định

Quyền tự bào chữa là là việc người bị buộc tội có thể tự mình sử dụng tất cả các quyền mà pháp luật quy định cho họ để bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội cũng như nhằm làm giảm trách nhiệm hình sự cho mình Quyền tự bào chữa là một quyền năng tố tụng đặc thù của người bị buộc tội Vì chỉ người bị buộc tội mới có quyền này

và cũng chỉ có họ mới được thực hiện các quyền của mình Quyền năng tố tụng đặc thù này là nội dung đầu tiên và cơ bản nhất của QBC Để thực hiện quyền tự bào chữa cho

23 Phạm Hồng Hải, chú thích số 9, tr.27

Trang 22

16

mình người bị buộc tội có thể đề xuất chứng cứ, nhận xét, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu, trình bày ý kiến, tranh luận trước Tòa Việc thực hiện quyền tự bào chữa tức là người bị buộc tội đã vận dụng các khả năng mà pháp luật cho phép để bảo vệ mình Quyền được nhờ người khác bào chữa là việc người bị buộc tội được lựa chọn người khác làm NBC cho mình Nội dung quyền này được thể hiện ở việc NBC sẽ được pháp luật TTHS trao cho những quyền năng tố tụng nhằm mục đích bào chữa cho người

bị buộc tội Việc thực hiện QBC của NBC là một trong những cơ sở để đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội Trong rất nhiều trường hợp, người bị buộc tội không có hiểu biết về pháp luật nên họ không thể tự mình thực hiện QBC một cách đúng đắn và hiệu quả Ngoài ra, họ có thể bị tạm giữ, tạm giam nên họ không thể trực tiếp tham gia vào một số hoạt động bào chữa Đồng thời họ cũng bị ảnh hưởng về tâm lý như hoang mang, lo sợ, ức chế nên việc tự bào chữa sẽ không hiệu quả Do đó, việc tham gia tố tụng của NBC là một sự giúp đỡ rất quan trọng cho người bị buộc tội

Quyền có NBC chỉ định trong một số trường hợp (còn được gọi là quyền có NBC bắt buộc ) Thông thường sự tham gia tố tụng của NBC phụ thuộc vào ý chí của người

bị buộc tội Tuy nhiên trong một số trường hợp luật đặc biệt luật quy định, sự tham gia

tố tụng của NBC không hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của họ Đó là những trường hợp khi người bị buộc tội không lựa chọn NBC hoặc khi họ không có điều kiện

để nhờ NBC mà có yêu cầu thì các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm chỉ định NBC cho họ24 Quyền có NBC chỉ định trong những trường hợp này có đặc điểm như sau: Thứ nhất, cơ sở để người bào chữa tham gia vào vụ án là sự chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm QBC cho người bị buộc tội từ phía các cơ quan Nhà nước thông qua việc chỉ định NBC Thứ hai, quyền từ chối hoặc thay đổi người bào chữa của người bị buộc tội không mang tính tuyệt đối như các trường hợp thông thường Thứ ba, chi phí cho NBC do Nhà nước trả25

Quyền này nhằm đảm bảo trong những trường hợp đó người bị buộc tội phải có một NBC nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ Đây là một

Trang 23

17

nội dung thể hiện sự tiến bộ, văn minh đảm bảo hữu hiệu lợi ích của người bị buộc tội Trong trường hợp này, người bị buộc tội được quyền có NBC chỉ định nhưng họ và người đại diện hợp pháp cho họ vẫn có thể từ chối hay thay đổi NBC Sự bắt buộc thể hiện trong trường hợp này là “bắt buộc” với các cơ quan Nhà nước chứ không bắt buộc đối với người bị buộc tội hay gia đình của họ Do đó những cơ quan này phải có trách nhiệm để mời NBC cho người bị buộc tội

Ba nội dung này của QBC có mối quan hệ biện chứng với nhau Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là cơ sở, tiền đề để phát sinh quyền nhờ người khác bào chữa cũng như quyền có NBC chỉ định Quyền tự bào chữa là quyền năng cơ bản không thể tách rời của người bị buộc tội trong TTHS26 Tính cơ bản của quyền này thể hiện ở chỗ chỉ trên cơ sở của quyền tự bào chữa thì mới phát sinh hai nội dung còn lại của QBC Ngược lại, quyền nhờ người khác bào chữa cũng như quyền có NBC chỉ định có vai trò

hỗ trợ, bổ sung cho quyền tự bào chữa nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội một cách hiệu quả hơn Với hai quyền này, NBC sẽ được tham gia vào vụ án nhằm bảo vệ lợi ích cho người bị buộc tội Những khiếm khuyết, hạn chế của quyền tự bào chữa sẽ được hai quyền này khắc phục Đồng thời, quyền có NBC chỉ định cũng bổ sung cho quyền nhờ người khác bào chữa của người bị buộc tội Sự bổ sung này nhằm đảm bảo trong những trường hợp nhất định có NBC tham gia tố tụng, nhất là trong những trường hợp người bị buộc tội gặp những khó khăn trong việc tự mình mời người bào chữa

Từ những nội dung trên đây của QBC có thể thấy rằng chủ thể của QBC có phạm

vi hẹp hơn so với chủ thể thực hiện QBC Chủ thể thực hiện quyền bào chữa: bao gồm

người bị buộc tội và NBC cho họ (trong trường hợp họ nhờ hoặc được cơ quan nhà nước chỉ định NBC) Vì QBC chỉ thuộc về những chủ thể bị buộc tội nên chỉ người bị buộc tội mới có quyền này Do đó, người bị buộc tội là chủ thể đầu tiên được thực hiện QBC của mình Đồng thời họ có thể nhờ NBC để bảo đảm quyền lợi cho mình Như vậy, để thực hiện việc bào chữa cho người bị buộc tội, NBC cần được pháp luật trao cho những quyền năng nhất định Vì thế, những quyền cụ thể của NBC nhằm bào chữa cho

26 Lương Thị Mỹ Quỳnh, chú thích số 4, tr.49

Trang 24

18

người bị buộc tội phải được coi là một bộ phận không tách rời của QBC, khi nghiên cứu

về QBC không thể không đề cập đến các quyền này Những quyền năng này là công cụ

để NBC thực hiện việc “gỡ tội” của mình Vì thế, việc thực hiện QBC của người bị buộc tội và NBC là thống nhất bổ sung cho nhau, không loại trừ lẫn nhau và cùng song song tồn tại

1.5 Vai trò của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự

QBC có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người và xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự

Đầu tiên, QBC góp phần quan trọng bảo đảm quyền con người Quyền con người

là một giá trị thiêng liêng, sâu sắc trong lịch sử phát triển của nhân loại Trong quá trình

tố tụng, người bị buộc tội là chủ thể trung tâm của quá trình tố tụng, mọi hành vi tố tụng đều xoay quanh việc xác định họ có tội hay không có tội Vì thế, người bị buộc tội cũng

là chủ thể dễ dàng bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp nhất Việc ra bản án oan sai, đặt ra trách nhiệm pháp lý quá nặng đối với họ là một dạng xâm phạm quyền con người nghiêm trọng nhất Bởi khi bị kết tội oan, họ bị coi là đối tượng có hành vi “chống lại”

xã hội khi đã xâm phạm những quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ Nếu phải chịu một trách nhiệm hình sự nặng hơn thì họ sẽ phải bị thiệt hại cả về tinh thần và vật chất Chỉ khi QBC được ghi nhận cho người bị buộc tội thì những hậu quả như vậy mới có thể được phòng ngừa Việc thực hiện QBC có vai trò nhằm đảm bảo thực hiện cũng như

là cơ sở thực tế của các quyền cơ bản của con người trong TTHS như quyền được suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng, quyền được bảo đảm bình đẳng trước Tòa

án Chính vì vậy, QBC của người bị buộc tội phải được ghi nhận với tư cách là một công cụ đầu tiên và hữu hiệu nhất để đảm bảo quyền con người

Quyền bào chữa của người bị buộc tội còn có vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự Muốn tìm ra sự thật khách quan đó, mọi chứng cứ, luận điểm đều phải được được phản biện khoa học, cọ xát giữa hai hoạt động buộc tội và thực hiện QBC nhằm gỡ tội Đây là hai hoạt động có tính đối trọng với

Trang 25

19

nhau: đối trọng về việc tìm kiếm và đánh giá chứng cứ, đối trọng về yêu cầu, về mục đích Không có việc tham gia của hai hoạt động này thì quá trình tố tụng chỉ mang tính một chiều, không khách quan27 Với việc pháp luật TTHS ghi nhận QBC tức là đã trao cho người bị buộc tội và NBC những khả năng thực tế để đảm bảo sự khách quan trong quá trình giải quyết Thực hiện QBC sẽ giúp người bị buộc tội hoặc NBC chỉ ra và bác

bỏ những chứng cứ buộc tội không khách quan, những đánh giá phiến diện, các kết luận chưa đúng đắn và những thiếu sót khác cần phải sửa chữa khi các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội Với tư cách là chủ thể thực hiện QBC, người bị buộc tội và NBC của họ đóng vai trò giám sát, phản biện nhằm đi đến mục đích cuối cùng là đảm bảo được sự thật được tìm ra một cách khách quan, công bằng nhất Sự tồn tại song song của QBC và hoạt động buộc tội là điều kiện và môi trường thuận lợi nhất để TA có điều kiện tìm ra chân lý, sự thật khách quan của vụ án

1.6 Điều kiện đảm bảo quyền bào chữa

Điều kiện về mặt pháp luật: Trước hết, quyền bào chữa phải ghi nhận QBC như

một quyền cơ bản của con người trong TTHS QBC là là một chế định thể hiện sự văn minh, tiến bộ của nhân loại, vì thế nó cần được ghi nhận để đảm bảo quyền con người Thứ hai, QBC cần được quy định một cách cụ thể để có tính khả thi trên thực tế Như đã phân tích, việc thực hiện QBC sẽ được thực hiện thông qua những quyền năng tố tụng

cụ thể Vì thế, những quyền đó cần được quy định một cách cụ thể, có tính khả thi cao,

có như vậy QBC mới không bị coi là quyền chỉ mang tính hình thức

Điều kiện về mặt nhận thức: Về nhận thức của các cơ quan THTT đóng một vai trò

rất lớn Các cơ quan THTT, mà cụ thể là người THTT phải nhận thức việc thực hiện QBC không nhằm mục đích cản trở quá trình giải quyết vụ án Trái lại, việc thực hiện QBC còn góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án Đồng thời, trong một số trường hợp luật định không có sự tham gia bắt buộc của NBC là một căn cứ để xác định vụ án hình sự có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Người THTT cần coi QBC là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm Có như vậy, QBC mới được đảm bảo một cách chặt chẽ

27 Lương Thị Mỹ Quỳnh, Chú thích số 4, trang 24

Trang 26

20

Nhận thức của chính người bị buộc tội Là người đang phải có nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự, người bị buộc tội cần hiểu rằng QBC là quyền tự nhiên của họ QBC là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích thiết thân của mình Sự nhận thức này

có thể xuất phát từ chính bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có hiểu biết về QBC

và cũng có thể thông qua việc họ được cơ quan tiến hành tt giải thích rõ ràng về QBC của mình

Nhận thức của NBC cũng là một điều kiện quan trọng để bảo đảm việc thực hiện quyền bào chữa Những NBC phải nhận thức được rằng việc thực hiện QBC của họ đóng vai trò tích cực trong việc tránh xảy ra oan sai và tìm ra sự thật khách quan của vụ

án hình sự Thực hiện QBC là một nhiệm vụ mang tính nhân văn sâu sắc đồng thời mang trọng trách lớn trong việc bảo đảm quyền con người Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu với NBC là họ phải có sự chủ động trong việc bào chữa, từ việc thu thập, yêu cầu tìm kiếm chứng cứ; việc gặp gỡ, tiếp xúc với người bị buộc tội để tìm hiểu về những người này; việc tìm hiểu các quyết định tố tụng, hồ sơ vụ án, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử để tìm ra căn cứ phản bác lại chứng cứ buộc tội NBC không được tham gia bào chữa một cách thụ động, qua loa, chiếu lệ nhất là trong các trường hợp bào chữa chỉ định

Điều kiện về mặt tổ chức: phải có lực lượng NBC đầy đủ, có chất lượng Như đã

phân tích, việc tham gia thực hiện QBC của NBC có rất nhiều mặt tích cực so với việc

tự bào chữa của người bị buộc tội Trong những chủ thể có thể trở thành NBC, Luật sư

là những NBC chuyên nghiệp có chuyên môn kiến thức và được đào tạo bài bản QBC

sẽ được được thực hiện có hiệu quả khi có một đội ngũ luật sư đáp ứng đủ nhu cầu cả về

số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, một yếu tố không thể thiếu đó là đội ngũ Luật sư phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để không chỉ bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình mà còn góp phần tìm ra chân lý

Trang 27

21

1.7 Lịch sử hình thành và phát triển quyền bào chữa trong tố tụng Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2003.28

Giai đoạn từ 1945 đến 1954: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã

chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cùng với việc củng cố chính quyền cách mạng, công tác xây dựng pháp luật cũng được chú trọng Ngày 13-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33 về

thành lập Tòa án quân sự đã ghi nhận: “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác

bênh vực cho họ” Ngay sau đó, ngày 10-10-1945, Sắc lệnh số 46 về việc quy định tổ

chức các đoàn thể luật sư cũng đã quy định tại Điều thứ 2: “Các luật sư có quyền bào

chữa ở trước tất cả các toà án hàng tỉnh trở lên và trước các toà án quân sự” và Sắc

lệnh số 13/SL ngày 24 tháng 1 năm 1946 về tổ chức TA và ngạch thẩm phán cũng đã

khẳng định tại Điều 46: “Các Luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Toà án trừ

những Toà sơ cấp” Những quy định này thể hiện một bước tiến lớn trong việc xây

dựng nên tư pháp trong một xã hội mới Tuy nhiên, trong thời gian này, QBC chưa được nhận thức một cách đầy đủ bởi nó chỉ được đề cập thông qua chủ yếu là quyền biện hộ của Luật sư chỉ tại phiên tòa xét xử chứ không phải trong mọi giai đoạn của TTHS Ngoài ra, quyền biện hộ của Luật sư cũng chỉ tồn tại ở phiên tòa của TA đệ nhị cấp trở lên và TA quân sự, không có quyền này tại các phiên tòa cấp sơ thẩm

Ngày 14 tháng 2 năm 1946, để khắc phục nhược điểm trên, Sắc lệnh số 21 về tổ

chức các TAND đã quy định cụ thể hơn về QBC tại Điều 5: “bị cáo có quyền tự bênh

vực lấy hoặc nhờ luật sư hoặc người khác bênh vực cho” Như vậy, QBC đã được thể

hiện rõ ràng bằng hai hình thức: tự bào chữa hoặc nhờ người khác là luật sư hoặc khác bào chữa cho mình Cụ thể hóa quy định trên, Nghị định 28/NĐ của Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành ngày 25 tháng 2 năm 1946 đã quy định một số nội dung cơ bản trong việc bào chữa cho bị cáo

28

Tổng hợp và tham khảo các nguồn tài liệu: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có NBC của người bị buộc tội - So sánh giữa luật TTHS Việt Nam, Đức và Mỹ, Luận án Tiến sĩ Luật học, TP.HCM, 2011 Và Nguyễn Trọng Phúc, Về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02/2008

Trang 28

22

Ngày 09-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã quy định tại Khoản 2 Điều

67: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Như vậy, QBC

được ghi nhận là một quyền Hiến định với hai nội dung cơ bản là quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Đây là quy định đặt nền tảng cho sự phát triển và hoàn thiện chế định QBC trong TTHS nước ta sau này Tiếp đó Sắc lệnh 69 ngày 18-06-1949 và Sắc lệnh số 144 ngày 22-12-1949 đã quy định chi tiết hơn về QBC Cụ thể là Sắc lệnh

số 69/SL cho phép bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình trước TA và tại Điều 1 Sắc lệnh số 144 ngày 22-12-1944 đã quy định về thực hiện việc bào chữa tại người bị buộc tội tại các TA thường, TA đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình Trên tinh thần đó, ngày 02-01-1950 Bộ Tư Pháp ban hành Nghị định số 01/NĐ quy định về điều kiện trở thành bào chữa viên nhân dân Với quy định này, bào chữa chữa viên nhân dân tham gia tố tụng sẽ có tư cách như một luật sư

Giai đoạn từ 1954 đến trước 1988: Từ năm 1954 đến 1975 là giai đoạn nước ta

còn bị chia cắt, Miền Bắc thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiếp viện cho chiến trường Miền Nam đang bị xâm lược Cùng với sự thay đổi của quá trình lịch

sử, chế định QBC cũng có sự chuyển biến để đáp ứng với tình hình đất nước Hiến pháp

1959, bản hiến pháp thứ hai của nước ta cũng thêm một lần nữa khẳng định tại Điều

101: “Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo” Trên tinh thần của Hiến pháp 1959,

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 cũng đã quy định về quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình Cụ thể hóa hai quy định trên, ngày 09-09-1967, Tòa

án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 06/TC hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo Thông tư này đã quy định một số quyền cụ thể của người bị buộc tội như quyền được thay đổi người THTT, quyền đề xuất chứng cứ, được phát biểu lời cuối cùng… Đặc biệt, Thông tư còn xác định một số trường hợp bắt buộc phải chỉ định NBC cho bị cáo là: Vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn, vụ án mà bị cáo là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; vụ án mà bị cáo có thể bị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình Đối với những trường hợp khác, nếu bị cáo tha thiết yêu cầu thì TA cũng cố gắng

cử NBC cho họ Ngày 27-08-1974, Thông tư số 16-TATC đã đề cập đến trường hợp bắt buộc phải chỉ định NBC nếu bị cáo là người chưa thành niên Từ năm 1975 đến trước

Trang 29

23

khi Bộ luật TTHS đầu tiên ra đời là quá trình nước ta thống nhất để khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội Những quy định về QBC đã ban hành trước đó có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc Tiếp tục kế thừa quy định của hai bản Hiến pháp

trước đó, Hiến pháp 1980 tiếp tục khẳng định tại Điều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo

được đảm bảo Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý.” Quy định này đã khẳng định vai trò của tổ chức luật sư tỏng việc đảm bảo

QBC của người bị buộc tội Cụ thể hóa quy định này ngày 31-10-1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK về công tác bào chữa toàn quốc

Giai đoạn từ 1988 đến trước năm 2003: Ngày 28-06-1988, Bộ luật TTHS đầu

tiên của nước ta được thông qua, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử lập pháp nói chung và chế định QBC nói riêng Theo đó, Điều 12 của Bộ luật đã ghi nhân một nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo:

“Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan Điều tra,

Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo quyền bào chữa của họ”

Như vậy với nguyên tắc này, QBC không chỉ thuộc về bị cáo mà mở rộng đến đối tượng

là bị can ở giai đoạn điều tra Cùng với Bộ luật TTHS 1988, Hiến pháp 1992, bản hiến

pháp ban hành trong thời kì Đổi mới tiếp tục khẳng định: “Quyền bào chữa của bị cáo

được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” Nhằm đảm bảo

QBC, Luật Tổ chức TAND năm 2002 cũng quy định trách nhiệm của TA trong việc đảm bảo QBC của bị cáo Tuy nhiên, việc quy định QBC nằm trong Chương X về Toà

án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân chưa thể hiện rõ ràng ý nghĩa của QBC với tư cách là một quyền cơ bản và cao quý của con người

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu trong việc đảm bảo QBC của bị can bị cáo nhưng các quy định của Bộ luật TTHS 1988 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, đồng thời công tác

áp dụng pháp luật cũng còn nhiều vướng mắc Chính vì vậy việc sửa đổi, bổ sung các quy định về QBC thực sự là một nhu cầu thiết yếu xuất phát cả từ lý luận và thực tiễn

Trang 30

24

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ QUYỀN BÀO CHỮA

2.1 Pháp luật thực định về chủ thể của quyền bào chữa và chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa

Nguyên tắc đảm bảo QBC của bị can, bị cáo đã được quy định Điều 132 Hiến pháp

1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 Cụ thể hóa quy định tiến bộ đó, BLTTHS 2003 tiếp tục khẳng định đây là một nguyên tắc đặc thù và quan trọng trong quá trình tố tụng Qua nguyên tắc đảm bảo QBC tại Điều 11, BLTTHS năm 2003 đã xác định chủ thể của QBC và chủ thể có trách nhiệm bảo đảm QBC Điều 11 BLTTHS quy định:

“Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào

chữa

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữa, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”

Chủ thể của QBC theo quy định của BLTTHS năm 2003 bao gồm: người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Sự buộc tội đối với người bị tạm giữ được thể hiện qua những căn cứ để tạm giữ và Quyết định tạm giữ đối với họ Việc bổ sung chủ thể của QBC còn là người bị tạm giữ thể hiện một sự tiến bộ của BLTTHS năm 2003 so với

Bộ luật năm 1988 Điều này thể hiện nhận thức tiến bộ về quyền con người của người bị buộc tội nói chung và QBC của người bị tạm giữ nói riêng Ghi nhận QBC cho người bị tạm giữ tức là tạo điều kiện để họ bác bỏ những căn cứ tạm giữ vô lý đối với họ Theo ý kiến cá nhân, tác giả cho rằng đây là một quy định đã tiếp cận được với chuẩn mực chung trong việc đảm bảo quyền con người theo pháp luật quốc tế Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự Sự buộc tội với họ được thể hiện bằng việc tại quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ bị can bị truy tố vì tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm Có thể nói, quyết định

Trang 31

25

khởi tố bị can là sự buộc tội chính thức và trực tiếp đầu tiên đối với người bị buộc tội

Bị cáo là người đã bị TA quyết định đưa ra xét xử Với quyết định đưa vụ án ra xét xử

tư cách bị can sẽ chuyển sang tư cách bị cáo Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ nhân thân bị cáo cũng như tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự mà VKS

áp dụng đối với bị cáo Như vậy, quyết định đưa vụ án ra xét xử là cơ sở để TA xem xét

sự buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa sắp được mở

Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng QBC phát sinh khi một người bị tạm giữ Từ thời điểm đó QBC tồn tại song song với sự buộc tội Thời điểm kết thúc của QBC cũng là thời điểm mà sự buộc tội với một cá nhân chấm dứt Như vậy, thời điểm kết thúc muộn nhất của QBC là thời điểm mà tư cách bị cáo không còn nữa Đó là khi

có bản án có hiệu lực pháp luật của TA

Chủ thể có trách nhiệm bảo đảm QBC của người bị buộc tội là các cơ quan

THTT bao gồm CQĐT, VKS, TA Theo quy định của Điều 10 thì CQĐT, VKS, TA là những cơ quan có trách nhiệm xác định sự thật vụ án Do đó, trong quá trình xác định

sự thật vụ án các cơ quan THTT không những phải tìm hiểu vấn đề liên quan đến tội phạm và không thể bỏ qua những vấn đề có tính gỡ tội đối với người bị buộc tội Bên cạnh nhiệm vụ xác định sự thật vụ án, các cơ quan THTT còn phải tạo điều kiện để các chủ thể khác được thực hiện các quyền tố tụng mà pháp luật đã ghi nhận cho họ Trong những quyền đó, QBC có một vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự được giải quyết một cách khách quan CQĐT là cơ quan đảm nhận một trong những hoạt động đầu tiên và phức tạp nhất trong vụ án hình sự chính vì thế trong điều tra, cơ quan này không chỉ thu thập những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội mà phải tìm kiếm những tình tiết mang tính “gỡ tội” có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án VKS không chỉ là cơ quan giữ quyền công tố mà còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng, vì thế cơ quan này phải đảm bảo QBC cũng như ngăn chặn nhưng hành vi vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến QBC TA với chức năng xét xử của mình thì việc đảm bảo QBC vừa là nhiệm vụ vừa tạo điều kiện tốt nhất để cơ quan này hoàn thành chức năng của mình Bởi khi việc buộc tội và bào

Trang 32

26

chữa xuất hiện cũng như tham gia vào tranh tụng, thì Hội đồng xét xử sẽ có điều kiện để đưa ra những phán quyết công bằng nhất

2.2.1 Pháp luật thực định về quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Như đã trình bày ở chương I, quyền tự bào chữa là việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (gọi chung là người bị buộc tội) tự mình sử dụng các quyền mà pháp luật trao cho

họ để nhằm để bác bỏ một phần hay toàn bộ việc buộc tội cũng như nhằm làm giảm trách nhiệm hình sự cho mình Các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 48, 49, 50 BLTTHS Tuy nhiên trong những quyền này không phải những quyền nào cũng nằm trong phạm vi của QBC Với mục đích bác bỏ sự buộc tội đối với mình, quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thể hiện bằng những nội dung sau đây: Được biết về sự buộc tội đối với mình; được biết mình bị buộc tội từ những chứng cứ nào và được những chủ thể nào thu thập, đánh giá; được hiểu rõ các quyền của mình; trình bày quan điểm về sự buộc tội hoặc về những tình tiết gỡ tội cho mình; được đưa ra những tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thể hiện qua nhiều cấp độ khác nhau, từ việc biết được thông tin đến việc hiểu về quyền

và cuối cùng là sử dụng những hiểu biết này để sử dụng cho việc tự chứng minh của họ Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội bắt đầu phát sinh cũng như tồn tại song song với sự “buộc tội” và được thể hiện rõ ràng nhất tại giai đoạn xét xử

Trước tiên, nhằm tự bào chữa cho mình người bị buộc tội cần được biết về sự buộc tội đối với họ Đây là nội dung đầu tiên của quyền tự bào chữa của người bị buộc tội

Muốn tự bào chữa, họ phải biết được sự buộc tội đối với mình là như thế nào và nguyên nhân của sự buộc tội này Nếu người bị buộc tội không biết mình bị buộc tội và bởi những hành vi nào họ sẽ không thể định hướng được mục tiêu, phương hướng của hoạt động bào chữa và còn cho người bị buộc tội một khoảng thời gian cần thiết để chuẩn bị

Trang 33

27

cho việc bào chữa29 Được biết về thông tin của sự buộc tội là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và là trách nhiệm của các cơ quan THTT Quyền này được thể hiện bằng việc người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ, bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì, bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và được nghe tuyên án cũng như nhận bản án, quyết định sơ thẩm Tuy có những cách quy định khác nhau nhưng đây đều là những quyền thuộc về người bị buộc tội với mục đích thông tin cho họ nắm về sự việc buộc tội với mình Với việc được nắm rõ được việc buộc tội với mình, người bị buộc tội sẽ được tạo điều kiện để đặt mục tiêu tự bào chữa

họ sẽ được cơ quan đã trưng cầu giám định thông báo về nội dung giám định Được nhận kết quả giám định là một quyền có vai trò hỗ trợ việc tự bào chữa của bị can vì bản kết luận giám định là một nguồn chứng cứ có giá trị cao Để đảm bảo sự khách quan trong việc giải quyết vụ án hình sự, thì bị can, bị cáo có quyền yêu cầu thay đổi người THTT – những người thu thập, đánh giá những chứng cứ liên quan đến sự buộc tội, gỡ tội với họ Chẳng hạn, bị cáo biết rằng người THTT đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc những người thân thích của những người này thì họ có quyền yêu cầu thay đổi người THTT theo Điều 43 BLTTHS Bởi nếu người THTT không có sự khách quan trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ thì họ sẽ khiến người bị buộc tội bị oan sai hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với hành vi phạm tội và nhân

29 Nguyễn Bá Ngừng, chú thích số 16, tr.123

30 Nguyễn Bá Ngừng, chú thích số 16, tr.123

Trang 34

“trình bày lời khai”, “đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu” Có thể thấy rằng mức độ “hiểu”

có yêu cầu cao và khắt khe hơn so với mức độ “biết” Người bị buộc tội không thể sử dụng các quyền của mình nếu không hiểu được nội dung các quyền đó Việc được hiểu

rõ các quyền của mình sẽ trang bị một số hiểu biết và tạo cơ sở để người bị buộc tội có thể tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người khác bào chữa

Quyền được trình bày quan điểm về sự buộc tội và các tình tiết gỡ tội để tự bào chữa của người bị buộc tội Đối với người bị tạm giữ, bị can họ có quyền trình bày lời

khai Đối với bị cáo, họ có quyền trình bày ý kiến tại Tòa Cùng với quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu đây là những quyền thể hiện rõ nhất nội dung quyền tự bào chữa người bị buộc tội Với những quyền này, họ được bày tỏ quan điểm của mình về việc chứng minh tình trạng phạm tội của họ, từ đó thể hiện quan điểm bào chữa31 Việc trình bày lời khai, ý kiến của người bị buộc tội là quyền không phải là nghĩa vụ của họ Qua việc trả lời những câu hỏi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, NBC, hoặc tự mình trình bày, người bị buộc tội có thể đưa ra những tình tiết có lợi để chứng minh mình vô tội hoặc hoặc những tình tiết, lý do để giảm trách nhiệm hình sự cho mình Đồng thời, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải khai báo, thừa nhận những căn cứ buộc tội bất lợi cho họ Trong trường hợp, người bị buộc tội từ chối không khai báo thì họ cũng cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi

Trang 35

29

Điều 10 BLTTHS: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị

can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội” Nguyên tắc này

tương đồng với pháp luật TTHS một số nước với nguyên tắc không ai có nghĩa vụ buộc tội chính mình (no man is bound to accuse himself) Cùng xuất phát từ quan điểm này nhưng pháp luật TTHS một số nước quy định, người bị buộc tội có quyền im lặng Tại

Mỹ, quyền im lặng là một trong những quyền phải được thông báo, giải thích cho người

bị buộc tội ngay khi họ bị bắt Việc thông báo về quyền im lặng xuất phát từ án lệ Miranda v Arizona, một trong những án lệ nổi tiếng trong TTHS Mỹ32 Theo ý kiến cá nhân của tác giả, quyền im lặng có nội hàm rộng hơn thể hiện rõ ràng hơn quyền tự bào chữa của người bị buộc tội Quyền im lặng bao gồm hai nội dung: quyền được giữ im lặng không không khai báo và quyền được trình bày ý kiến, lời khai dưới sự tư vấn của NBC khi thấy sự giữ im lặng không còn cần thiết Trong pháp luật tố tụng hình sự Mỹ, quyền im lặng (right to remain silent) có mối liên hệ mật thiết với quyền không phải buộc tội chính mình (right against self- incrimination)33 Khi người bị buộc tội có quyền

im lặng thì anh ta sẽ không có nghĩa vụ trình bày, bởi những lời trình bày đó có thể sẽ được dùng làm bằng chứng buộc tội chống lại chính anh ta Tuy nhiên, với cách quy định về các quyền trình bày lời khai, ý kiến theo BLTTHS 2003 có thể gây ra hiểu lầm rằng quyền của người bị buộc tội chỉ được thể hiện dưới dạng hành động (trình bày lời khai) chứ không đề cập đến quyền ở dạng không hành động (giữ im lặng, không khai báo)

Người bị buộc tội có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu nhằm tự bào chữa cho mình Với mục đích tự bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra các tài

liệu, đồ vật như: sổ sách, hóa đơn, chứng từ, dụng cụ có liên quan đến vụ án Những tài liệu, đồ vật này thường có ý nghĩ gỡ tội nhằm mục đích chứng minh họ không có tội hoặc chứng minh họ có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi người bị buộc tội đưa ra những tài liệu, đồ vật thì CQĐT, VKS, TA có trách nhiệm ghi nhận, kiểm tra, đánh giá các tài liệu, đồ vật đó Nếu các tài liệu, đồ vật mà người bị buộc tội

32 Xem thêm, Miranda v Arizona, 384 US 436, 448–50, 455 (1966)

33 Xem thêm, “Right against self- incrimination” và “Right to remain silent”, Bryan A Garner, Black’s Law dictionary, Seventh Edition, NXB ST.Paul, Minn, 1999, tr.1324, 1327

Trang 36

30

đưa ra có đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ bao gồm: (1) tính khách quan; (2) tính liên quan; (3) tính hợp pháp thì các cơ quan THTT sẽ xác định đây là chứng cứ Theo quy định của BLTTHS 2003, thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có quyền thu thập chứng cứ Vì vậy, họ chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và những tài liệu, đồ vật đó

không đương nhiên được coi là chứng cứ

Việc thực hiện quyền đưa ra yêu cầu là một trong những hình thức tham gia của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vào hoạt động chứng minh Với tư cách là người tham gia tố tụng họ không có quyền thu thập chứng cứ nên quyền được yêu cầu được coi như phương tiện để gián tiếp chứng minh cho việc gỡ tội của mình Các yêu cầu của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường là: lấy lời khai người làm chứng, tiến hành khám xét, yêu cầu giám định, yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật của các cá nhân, tổ chức, yêu cầu xem xét thêm vật chứng… Tuy nhiên, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra các yêu cầu còn việc xem xét tính phù hợp và chấp nhận các yêu cầu đó là trách nhiệm thuộc về các cơ quan THTT Nói tóm lại, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu là quyền

tự bào chữa hữu hiệu và thực tế của người bị buộc tội, nhằm bác bỏ những căn cứ, cơ sở buộc tội

Quyền tự bào chữa của của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Hoạt động xét xử là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự

Bởi vì trong hoạt động này sự buộc tội đối với một cá nhân sẽ được đem ra xem xét một cách công khai trước phiên tòa với sự tham gia của các bên tố tụng34 Vì thế, QBC trong giai đoạn xét xử hội tụ và thể hiện đầy đủ nhất Ngoài những quyền tự bào chữa giống người bị tạm giữ và bị can, quyền tự bào chữa của bị cáo còn thể hiện tính đặc trưng qua các quyền là: quyền tham dự phiên tòa, quyền tranh luận tại phiên tòa, quyền được nói lời sau cùng trước khi nghị án, quyền kháng cáo bản án, quyết định của TA (Điều 50 BLTTHS)

Đầu tiên, bị cáo có quyền tham dự phiên tòa, đây là quyền tiên quyết để bị cáo có thể thực hiện việc tự bào chữa tại phiên tòa Tham dự phiên tòa là quyền của bị cáo vì

họ sẽ được chứng kiến quá trình buộc tội của Kiểm sát viên, quá trình xét hỏi, tranh luận

34 Trần Quang Tiệp, chú thích số 11, tr.72

Trang 37

31

tại phiên tòa.Đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ pháp lý của bị cáo Trong khi dự phiên tòa, bị cáo có quyền được trình bày ý kiến về bản cáo trạng và tranh luận với Kiểm sát viên về các vấn đề trong vụ án Thông qua việc này, bị cáo có thể chỉ ra những điểm thiếu cơ sở trong quá trình buộc tội Tranh luận tại phiên tòa là hoạt động biểu hiện rõ nét nhất của tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Tiếp theo, quyền được nói lời sau cùng là quyền tự bào chữa đặc trưng của bị cáo Việc quy định quyền này nhằm tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội trình bày thái độ, quan điểm cá nhân, nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử ra những quyết định về vụ án Qua lời sau cùng của mình, bị cáo có thể khẳng định thêm một lần nữa về sự vô tội của mình, đưa ra nguyện vọng được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc trình bày về các tình tiết mới của vụ án

Do đó, Điều 220 BLTTHS quy định nếu trong lời sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi Quyền kháng cáo cũng là một quyền đặc thù của bị cáo Khi nhận được bản án, quyết định của TA cấp sơ thẩm và thấy rằng bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp hoặc quá nặng, bị cáo có quyền kháng cáo để bảo vệ mình Việc kháng cáo của

bị cáo là một trong những căn cứ để phát sinh giai đoạn xét xử phúc thẩm, nơi mà họ tiếp tục được hưởng những quyền tự bào chữa cho mình Điều 231 BLTTHS 2003 quy định: bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án cả về trách nhiệm hình sự lẫn bồi thường thiệt hại và một số vấn đề khác của bản án Bị cáo đã được tuyên không phạm tội có quyền được kháng cáo phần lý do của bản án đã tuyên là họ không có tội

Có ý kiến cho rằng, quyền khiếu nại cũng là một bộ phận của quyền tự bào chữa của người bị buộc tội35 Tuy nhiên tác giả cho rằng, quyền này không nằm trong phạm

vi quyền tự bào chữa của người bị buộc tội Chính xác hơn, quyền này là bộ phận của quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể tham gia tố tụng Vì mục đích của quyền tự bào chữa chỉ giới hạn ở việc bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính họ Như đã trình bày ở Chương I của khóa luận, QBC và quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là hai quyền khác nhau Mục đích của quyền khiếu nại là bảo vệ quyền và lợi ích chung cho

35 Phạm Văn Thiệu, Về quyền bào chữa của bị cáo, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/2008, tr.7

Trang 38

32

các chủ thể tham gia tố tụng trước những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng Do đó, quyền khiếu nại không được coi là một bộ phận của QBC nói chung và quyền tự bào chữa nói riêng

2.2.2 Pháp luật thực định về quyền nhờ người khác bào chữa

Bên cạnh quyền tự bào chữa, Điều 11 BLTTHS năm 2003 còn quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa Như đã trình bày ở Chương I của khóa luận, đây là hai nội dung có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và cùng song song tồn tại Việc nhờ người khác bào chữa không làm mất đi quyền được tự mình bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên với cách quy định dùng từ “hoặc” tại Điều 11 có thể dẫn tới sự hiểu sai ý nghĩa của Điều luật Đó là, người bị buộc tội chỉ có thể được sử dụng một trong hai hình thức này Do vậy từ “hoặc” tại Điều 11 phải được hiểu theo nghĩa của liên từ “và”36 Cụ thể hóa nguyên tắc này, tại Điều 48, 49, 50 về

quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều quy định họ có quyền: “Tự bào chữa

hoặc nhờ người khác bào chữa” Do đó, cần phải lưu ý là việc sử dụng từ “hoặc” ở đây

cũng có ý nghĩa của từ “và” như tại Điều 11

2.2.2.1 Việc lựa chọn người bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Trên thực tế, việc tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sẽ không đem lại hiệu quả vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan Chính vì vậy, sự tham gia của NBC có ý nghĩa rất quan trọng đối với vụ án hình sự Ngoài quyền tự bào chữa, QBC còn bao hàm quyền được nhờ người khác bào chữa Do đó, thông thường việc tham gia tố tụng của NBC phụ thuộc vào ý chí của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tại

Khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy định “NBC do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc

người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn” Tuy tại quy định trên nhà làm luật dùng từ

“hoặc” nhưng điều luật này phải hiểu là trong một số trường hợp thì cả người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền lựa chọn NBC Cụ thể hóa quy định của BLTTHS, Nghị quyết 03 – 2004 NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán, TA nhân dân tối cao (Nghị quyết 03 – 2004) đã phân biệt: Đối với bị can, bị cáo

là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì họ và

36 Võ Thị Kim Oanh (Chủ biên), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Hồng Đức, TP.HCM, 2012, tr.68

Trang 39

33

người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền được lựa chọn NBC Đối với bị can, bị cáo là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì chỉ có họ mới có quyền lựa chọn NBC Theo ý kiến của tác giả thì đây là một quy định hợp lý, bởi khi người bị buộc tội là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm

về tâm thần hoặc thể chất thì họ sẽ có những bất lợi về nhận thức, khả năng thực hiện quyền được nhờ NBC cho mình Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS thì những người sau đây có thể được lựa chọn để trở thành NBC: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân

Đối với Luật sư Theo định nghĩa tại Điều 2 Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung

năm 2012 thì luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng

Việc thực hiện quyền được nhờ người khác bào chữa là Luật sư đã được quy định

tương đối rõ ràng trong Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10-10-2011 quy định chi tiết

thi hành các quy định của BLTTHS liên quan đến việc bảo đảm QBC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Bộ Công an (Thông tư 70) Tuy nhiên, do đây chỉ là văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công an nên đối tượng điều chỉnh của Thông tư này chỉ là người bị tạm giữ và bị can còn bị cáo sẽ không điều chỉnh Cụ thể là người bị tạm giữ,

bị can sẽ được Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư, nếu yêu cầu đích danh luật sư bào chữa thì trong thời hạn hai mươi bốn giờ, Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, bị can cho luật sư mà họ nhờ bào chữa bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh Nếu người bị tạm giữ, bị can viết giấy nhờ người thân liên hệ nhờ luật sư bào chữa cho họ thì trong thời hạn hai mươi bốn giờ

kể từ khi có giấy nhờ người thân, Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi giấy đó cho người thân của người bị tạm giữ, bị can bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh (điểm c Khoản 1 Điều 4 Thông tư 70) Qua quy định này, việc nhờ luật sư trở thành NBC đã trở nên rõ ràng hơn, đảm bảo tốt hơn quyền được nhờ luật sư bào chữa của người bị tạm giữ, bị cáo

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) Khác
2. Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 Khác
4. Nghị quyết số 24/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội về việc thi hành BLTTHS Khác
5. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 Khác
6. Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BNV hướng dẫn thi hành một số quy định trong BLTTHS Khác
7. Nghị Quyết 03/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán của TA nhân dân Tối cao hướng dẫn "Những quy định chung&#34 Khác
8. Nghị Quyết 04/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán của TA nhân dân Tối cao hướng dẫn Phần "Xét xử sơ thẩm&#34 Khác
9. Nghị Quyết 05/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán của TA nhân dân Tối cao hướng dẫn Phần "Xét xử phúc thẩm&#34 Khác
10. Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10-10-2011 của Bộ Công an về quy định chi tiết thi hành các quy định của BLTTHS liên quan đến việc bảo đảm QBC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.Tài liệu, sách báoTiếng Việt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w