Quy định hiện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS không làm triệt tiêu việc áp dụng các biện pháp này với tư cách là các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành được quy định trong các luật về
Trang 1HÀ THỊ THÚY LAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Quang Phúc Các trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được liệt kê đầy đủ, cụ thể Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN
Hà Thị Thúy Lan
Trang 4Biện pháp ĐTTTĐB : Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT 8
1.1 Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của điều tra vụ án hình sự 8
1.1.1 Khái niệm điều tra vụ án hình sự 8
1.1.2 Nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự 8
1.1.3 Ý nghĩa điều tra vụ án hình sự 10
1.2 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong điều tra vụ án hình sự 11
1.2.1 Cơ sở hình thành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 11
1.2.2 Khái niệm biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và vai trò trong điều tra vụ án hình sự 13
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 15
1.3 Các trường hợp áp dụng, thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 18
1.3.1 Các trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 18
1.3.2 Về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 19
1.3.3 Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 21
1.3.4 Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 22
1.4 Các biện pháp cụ thể 22
1.4.1 Ghi âm, ghi hình bí mật 22
1.4.2 Nghe điện thoại bí mật 24
1.4.3 Thu thập bí mật dữ liệu điện tử 25
1.5 Chứng cứ trong áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 31
2.1 Quy định của một số nước về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 31
2.1.1 Pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định về tên gọi và kỹ thuật thể hiện 31
Trang 62.1.2 Pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định về điều kiện áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 34 2.1.3 Pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định về thẩm quyền, trách nhiệm trong việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 35 2.1.4 Pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định về thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 37 2.1.5 Pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định về sử dụng kết quả thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 38
2.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam để hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự 40
2.2.1 Những ưu điểm trong pháp luật tố tụng hình sự của các nước về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt 41 2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57 KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 27 tháng 11 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLTTHS 2015 Bộ luật đã có bổ sung quan trọng trong việc quy định về biện pháp ĐTTTĐB tại chương XVI gồm 06 điều (từ Điều 223 đến Điều 228), đây
là một chế định vô cùng mới, lần đầu tiên được quy định trong BLTTHS
Quy định này xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn khách quan, đặc biệt là trong thời đại phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng như hiện nay, cùng với những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, của xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, tình hình tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua và trong những năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, chưa có chiều hướng giảm Tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt về thủ đoạn, phương thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm Điều tra là một hoạt động trong TTHS được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng khoa học công nghệ cao… thì hầu như không một quốc gia nào lại không cho phép sử dụng các biện pháp điều tra đặc biệt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Biện pháp ĐTTTĐB là những biện pháp thu thập chứng cứ, khi được quy định trong BLTTHS, các biện pháp này sẽ tăng cường hiệu lực và hiệu quả cho công tác điều tra Các chứng cứ được thu thập hợp pháp sẽ không cần phải qua giai đoạn chuyển hóa, mà được sử dụng trực tiếp để chứng minh tội phạm Việc quy định rõ ràng, chặt chẽ biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS vừa bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, nhất là trong lĩnh vực TTHS, đồng thời, cũng là cách để ngăn ngừa sự tùy tiện, lạm dụng các biện pháp này trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Quy định hiện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS không làm triệt tiêu việc áp dụng các biện pháp này với tư cách là các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành được quy định trong các luật về tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan nhà nước (như Luật Công an nhân dân, Luật an ninh quốc gia, Luật hải quan, Luật phòng, chống khủng bố), đồng thời, cũng thể hiện luật hóa chủ trương “Gắn trinh sát với điều tra” trong hoạt động điều tra tội phạm đã được đề cập nhiều lần trong các nghị quyết của Đảng
Theo nguyên tắc Hiến định thì việc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải bằng các quy định của luật do Quốc hội ban hành, nhằm đảm bảo yêu cầu đó
Trang 8thì biện pháp ĐTTTĐB cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật”; tạo cơ sở
pháp lý thực thi những cam kết về luật hóa biện pháp điều tra tố tụng, mở rộng nguồn chứng cứ có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm TTHS của các nước, trong đó có những quốc gia có những thể chế chính trị giống Việt Nam như Trung Quốc, hay quốc gia trước đây có nền tư pháp giống nước ta như Nga, Hungary và cả những quốc gia tiên tiến hơn như Đức, Pháp, Mỹ… Tất cả các quốc gia này đều có quy định biện pháp điều tra đặc biệt Đó là các biện pháp theo dõi bí mật; ghi âm, ghi hình bí mật; chặn và ghi âm các cuộc liên lạc viễn thông; thu thập bí mật dữ liệu điện tử; khám
bí mật chỗ ở; sử dụng trinh sát hoặc cộng tác viên bí mật; kiểm tra giấy tờ; lập chốt giả để kiểm tra giao thông… Hơn nữa, Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước của Liên hợp quốc, trong đó có công ước về đấu tranh chống tội phạm tham nhũng, ma túy, chống tội phạm có tổ chức Chúng ta đã cam kết sẽ luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt này, cho nên việc đưa một chương quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS là một đòi hỏi tất yếu của việc thực hiện các cam kết quốc tế
BLTTHS 2015 với bổ sung quy định tại Chương XVI về các biện pháp ĐTTTĐB đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho CQĐT chủ động thu thập thông tin, tài liệu, bổ sung nguồn chứng cứ quan trọng có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm, xác định đối tượng phạm tội và đồng bọn, ngăn chặn đối tượng bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, truy nguyên tài sản bị tội phạm chiếm đoạt… trong điều tra các vụ án phức tạp, có tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt có tính hai mặt, một mặt quy định sẽ góp phần nâng cao khả năng, hiệu quả phát hiện, điều tra tội phạm của cơ quan có thẩm quyền, nhưng một mặt việc
áp dụng các biện pháp này vẫn được cảnh báo là cần thận trọng để tránh vi phạm quyền con người và đảm bảo giá trị về mặt chứng cứ của các dữ liệu thu được Bởi vậy, việc áp dụng các biện pháp này chỉ giới hạn đối với một số nhóm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, kèm theo là quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục, cũng như có cơ chế kiểm soát như phê chuẩn của VKS hoặc của Tòa án, đồng thời cần được giữ trong một khoảng chừng mực để tránh việc lạm quyền, sử dụng một cách bừa bãi các biện pháp điều tra, xâm phạm tới quyền cơ bản của con người, quyền công dân Vì vậy, việc nghiên cứu về các biện pháp ĐTTTĐB có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong khoa học pháp lí về TTHS, tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật và đảm bảo việc vận dụng hiệu quả trong thực tiễn
Trang 9Vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong luật Tố tụng hình sự: Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn góp phần nhỏ bé
vào việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS Việt Nam về biện pháp ĐTTTĐB - một vấn đề mang tính cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi lựa chọn đề tài và trong quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu tham khảo
để thực hiện đề tài, tác giả đã tìm hiểu và được biết, biện pháp ĐTTTĐB được quy định lần đầu tiên trong BLTTHS 2015, đây là một trong những điểm mới của bộ luật này Trên cơ sở những nghiên cứu, đề xuất trong quá trình xây dựng, góp ý, thông qua và áp dụng Bộ luật này thì các biện pháp ĐTTTĐB đã được đề cập đến
Về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:
- PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (chủ biên) (2016), Công trình Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà
Nội Bài viết Biện pháp ĐTTTĐB của PGS.TS Trần Đình Nhã đã đề cập đến biện pháp ĐTTTĐB và nêu khái quát nội dung của biện pháp này về các trường hợp áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định việc áp dụng, thời hạn áp dụng, về sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp ĐTTTĐB, về hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB
- TS Trần Công Phàn (chủ biên) (2017), Công trình Những nội dung cơ bản của các đạo luật mới về tư pháp hình sự, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội
Bài viết Biện pháp ĐTTTĐB; một số hoạt động hợp tác quốc tế theo quy định của BLTTHS 2015 của Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm đã đề cập đến sự cần thiết quy định về biện pháp ĐTTTĐB và nêu khái quát nội dung của biện pháp này
về thời điểm và trường hợp áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, thời hạn áp dụng, về sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp ĐTTTĐB, về hủy
bỏ việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB
Ngoài ra một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề cập đến biện pháp ĐTTTĐB như:
- Phan Văn Chánh (Số 06/2016), “Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, (48) Bài viết đã phát hiện và có những đề xuất liên quan đến các vấn đề về xây dựng, sử dụng và
Trang 10phối hợp giữa các lực lượng; nguyên tắc áp dụng; căn cứ áp dụng; quy trình tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB
- Đào Anh Tới (Số 11/2017), “Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và một số vấn đề kiểm sát việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”, Tạp chí Kiểm sát, (29) Bài viết đã phát hiện và trình bày nhận thức về biện pháp ĐTTTĐB trên cơ sở những quy định của pháp luật quốc tế, một số quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu đối với pháp luật Việt Nam để tăng cường kiểm sát việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB
- Hoàng Anh Tuyên (Số 03/2018), “Những nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, (03) Bài viết đã trình bày về những nội dung mới của BLTTHS, trong đó trình bày nội dung bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua việc bổ sung quy định về các biện pháp ĐTTTĐB
- Phan Văn Chánh (Số 11/2018), “Đảm bảo quyền con người trong áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”, Tạp chí Kiểm sát, (48) Bài viết đã phát hiện và có những đề xuất liên quan đến các vấn đề đảm bảo quyền con người trong
áp dụng các biện pháp ĐTTTĐB
- Võ Hồng Phượng, Võ Minh Kỳ (Số 05(25)/2018), “Quyền riêng tư của cá nhân và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, (31) Bài viết đã trình bày về quyền riêng tư của cá nhân trong mối quan hệ với các biện pháp ĐTTTĐB, phân tích những hạn chế của biện pháp ĐTTTĐB có thể xâm phạm quá mức đến quyền riêng tư
Bên cạnh đó là các bài viết, các phát biểu thể hiện trên các báo, các website…
đề cập đến biện pháp ĐTTTĐB, góp ý cho việc ban hành và áp dụng BLTTHS 2015 Các công trình trên đã nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau về biện pháp ĐTTTĐB Tuy nhiên, việc nghiên cứu so sánh quy định về biện pháp ĐTTTĐB trong Luật TTHS Việt Nam và đưa ra những kinh nghiệm cho Việt Nam thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện Qua khảo sát, tác giả nhận thấy
đề tài mà tác giả thực hiện là một đề tài mới Do đó, xét thấy tác giả lựa chọn đề tài trên để làm khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ là hợp lý, có cơ sở khoa học và cần thiết
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Một là, nghiên cứu về nhận thức lý luận của biện pháp ĐTTTĐB, trên cơ sở nhận thức rõ lý luận của điều tra vụ án hình sự;
- Hai là, phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật TTHS của các quốc gia khảo sát và Việt Nam hiện hành về các biện pháp ĐTTTĐB Trên cơ sở đó phát hiện, trình bày và đánh giá những ưu điểm trong quy định của pháp luật TTHS các quốc gia về biện pháp ĐTTTĐB;
- Ba là, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định
về biện pháp ĐTTTĐB trong BLTTHS 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
và nước ngoài về biện pháp ĐTTTĐB
Về không gian và thời gian: luận văn nghiên cứu pháp luật TTHS Việt Nam (BLTTHS 2015), các quy định trong pháp luật thực định của các quốc gia khảo sát
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để làm sáng tỏ những nội dung được nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp và thống
kê Các phương pháp nêu trên được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận
Trang 12duy vật lịch sử, duy vật biện chứng và tinh thần cải cách tư pháp của Đảng cộng sản Việt Nam Cụ thể các phương pháp thực hiện ở từng chương như sau:
Chương 1: Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để phân tích những vấn đề lý luận chung về biện pháp ĐTTTĐB theo quy định của pháp luật TTHS các quốc gia khảo sát và Việt Nam, bao gồm khái niệm điều tra vụ án hình sự, nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự, khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa áp dụng biện pháp ĐTTTĐB Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá
để đánh giá nội dung từng chương, từng mục
Chương 2: Phương pháp phân tích, so sánh, kết hợp với phương pháp thống
kê, tổng hợp được sử dụng để phân tích, so sánh và đánh giá những quy định của pháp luật TTHS các quốc gia khảo sát và Việt Nam dựa trên những nội dung như tên gọi và kỹ thuật thể hiện, điều kiện áp dụng, thẩm quyền, trách nhiệm, thời hạn
áp dụng, sử dụng kết quả thu thập được của các biện pháp ĐTTTĐB Bên cạnh đó, phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để đánh giá những ưu điểm của pháp luật TTHS các quốc gia khảo sát trong việc quy định về các biện pháp ĐTTTĐB, từ đó đề xuất những kiến nghị hiệu quả nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về các biện pháp ĐTTTĐB
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh quy định về biện pháp ĐTTTĐB trong luật TTHS Việt Nam với pháp luật TTHS một số quốc gia Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về biện pháp ĐTTTĐB theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
- Nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và các quốc gia khảo sát về biện pháp ĐTTTĐB trên các nội dung cụ thể
- Trên cơ sở phân tích những quy định của pháp luật TTHS của các quốc gia khảo sát, luận văn cũng đã so sánh, đánh giá những quy định đó, để chỉ ra những điểm thiếu sót, hạn chế trong quy định pháp luật TTHS Việt Nam về biện pháp ĐTTTĐB
- Luận văn đã phát hiện, đánh giá được những điểm tiến bộ, ưu việt của pháp luật TTHS một số quốc gia trong việc quy định về biện pháp ĐTTTĐB Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật của Việt Nam về biện pháp ĐTTTĐB
Trang 13Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo luật Luận văn cũng là tài liệu tham khảo bổ ích đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS và cán bộ làm công tác thực tiễn
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1 Nhận thức lý luận về điều tra vụ án hình sự và biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt
Chương 2 Quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của một số nước và
kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT
1.1 Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Để thu thập chứng cứ, trong giai đoạn điều tra, CQĐT được tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra bảo đảm mọi hoạt động điều tra đúng pháp luật Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự Thiếu hoạt động điều tra, VKS không có
cơ sở để truy tố, Tòa án không có cơ sở để xét xử vụ án Để VKS có thể ra bản cáo trạng, truy tố đúng người phạm tội, Tòa án có thể xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều tra phải thu thập đuợc những chứng cứ cơ bản, bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án Nếu giai đoạn điều tra không thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì VKS hoặc Tòa án sẽ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung CQĐT có trách nhiệm điều tra bổ sung đáp ứng yêu cầu của VKS hoặc Tòa án
Như vậy, Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án và tiến hành những giai đoạn TTHS tiếp theo
1.1.2 Nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự
1.1.2.1 Xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội
Tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là những vấn đề cơ bản cần phải làm rõ trong vụ án hình sự Khi ra quyết định khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền khởi tố dựa trên cơ sở nguồn tin ban đầu về tội phạm được gửi tới nên mới có điều kiện xác định có dấu hiệu của tội phạm, còn cụ thể diễn biến của tội phạm ra sao, người nào thực hiện hành vi phạm tội, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không vẫn chưa được làm rõ Tất cả những vấn đề này thuộc về nhiệm vụ của giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định có hay không có việc phạm tội, xem xét, đối chiếu với Bộ luật Hình sự xem hành vi phạm tội thuộc vào điều khoản nào; phải xác định tất cả tội phạm để
Trang 15không bỏ lọt tội phạm và đồng thời không làm oan người vô tội Khi xác định có tội phạm xảy ra, CQĐT phải làm rõ ai là người thực hiện hành vi phạm tội; lỗi của họ trong việc thực hiện tội phạm; động cơ, mục đích phạm tội; nếu là vụ án đồng phạm, phải xác định rõ hành vi, vai trò từng người trong vụ án để làm cơ sở cho Tòa án xét xử được chính xác
1.1.2.2 Xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án
Mỗi tội phạm xảy ra đều để lại một hậu quả nguy hại nhất định cho xã hội Trong giai đoạn điều tra phải xác định đúng những thiệt hại do tội phạm gây ra để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Những thiệt hại cần xác định bao gồm thiệt hại về vật chất, tinh thần và tài sản Để tạo điều kiện cho giải quyết vụ án, nếu xét thấy cần thiết CQĐT phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với những người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc có thể bị tịch thu tài sản hay phạt tiền
1.1.2.3 Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can
Để ra quyết định truy tố và tiến hành xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, VKS và Tòa án phải dựa vào hồ sơ vụ án Hồ sơ điều tra hình sự tập hợp hệ thống các văn bản, tài liệu được thu thập hoặc lập trong quá trình khởi tố, điều tra, được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài Nếu hồ sơ điều tra hình sự không đầy đủ, VKS sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định và yêu cầu hợp lý trong và sau quá trình điều tra như khởi tố bổ sung, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, thay đổi Điều tra viên, ra bản cáo trạng truy tố bị can Hồ sơ điều tra hình sự có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng sẽ làm cho kết quả của hoạt động điều tra không chính xác, Tòa án không có cơ sở để xem xét ra bản án hoặc quyết định cần thiết Vì vậy, việc lập và củng cố hồ sơ điều tra hình sự là một nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn điều tra CQĐT phải lập hồ sơ ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án và thường xuyên củng cố hồ sơ để các tài liệu thu thập được hoặc các văn bản tố tụng được lập ra bảo đảm đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định khi đã có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì CQĐT có nhiệm vụ làm bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những
lý do và căn cứ đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố là cơ sở pháp lý xác định tội phạm và bị can đề nghị truy tố đã được điều tra và có đầy đủ chứng cứ
để chứng minh Căn cứ bản kết luận điều tra, VKS chỉ ra bản cáo trạng truy tố
Trang 16những bị can về các tội phạm đã được điều tra có đủ chứng cứ chứng minh Những tội phạm và bị can chưa được điều tra sẽ không bị truy tố
1.1.2.4 Xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa
Trong giai đoạn điều tra, một trong những nhiệm vụ không kém phần quan trọng là xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để phòng ngừa tội phạm Thực hiện nhiệm vụ này, đối với mỗi tội phạm CQĐT phải tìm ra nguyên nhân và điều kiện thúc đấy việc thực hiện tội phạm Nếu tội phạm phát sinh do thiếu sót của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Qua việc điều tra phát hiện những thiếu sót trong quản lý kinh tế, trong bảo vệ tài sản, trong việc giáo dục thanh, thiếu niên dẫn dến việc phạm tội thì CQĐT yêu cầu các cơ quan có liên quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Các cơ quan, tổ chức được yêu cầu phải chấp hành yêu cầu của CQĐT
1.1.3 Ý nghĩa điều tra vụ án hình sự
Điều tra vụ án là giai đoạn thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Khi tội phạm xảy ra, do mới có một số tài liệu xác định dấu hiệu của tội phạm nên quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền chỉ sơ bộ xác định một tội danh mà chưa xác định được người phạm tội Sau khi khởi tố vụ án, CQĐT được áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng theo quy định của BLTTHS để thu thập tài liệu, chứng cứ Bằng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng và tiến hành các hoạt động điều tra, CQĐT thu thập được đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định có tội phạm xảy ra hay không, nếu có thì đó là tội gì, thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi phạm tội Trong trường hợp xác định được tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn có thêm tội phạm khác thì CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Cũng bằng hệ thống tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, chẳng những CQĐT xác định đúng tội phạm đã xảy ra
mà còn làm rõ người phạm tội đã thực hiện hành vi như thế nào; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động
cơ phạm tội Và cũng qua việc tiến hành điều tra, CQĐT còn có điều kiện làm rõ tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra để làm cơ sở cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại một cách thoả đáng Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đình chỉ vụ án Khi kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định tội phạm và bị can CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố
Trang 17VKS chỉ có thể quyết định truy tố bị can khi vụ án đã được điều tra, có bản kết luận điều tra kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án Nếu vụ án điều tra không đầy đủ mà VKS không có khả năng bổ sung được thì không thể quyết định truy tố bị can và hồ sơ vụ án phải được trả lại để điều tra bổ sung Kết quả điều tra là cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội Tòa án chỉ có thể xét xử vụ án trên cơ sở vụ án đã được điều tra, lập hồ
sơ và có quyết định truy tố bằng bản cáo trạng của VKS Thiếu hoạt động điều tra, không có hồ sơ vụ án, Tòa án không có cơ sở để xét xử Kết quả của hoạt động điều tra càng cụ thể, chính xác, càng thu thập được đầy đủ các chứng cứ bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, cũng như chúng cứ xác định các tình tiết khác của vụ
án thì càng tạo điều kiện cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nếu điều tra chưa thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Tòa án không thể đưa vụ án ra xét xử mà phải trả lại hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung
1.2 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong điều tra vụ án hình sự
1.2.1 Cơ sở hình thành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Trong quá trình đấu tranh chống tội phạm bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, CQĐT sử dụng tổng hợp các loại biện pháp nghiệp vụ khác nhau nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra phát hiện tội phạm
Trong hệ thống các biện pháp được sử dụng đấu tranh chống tội phạm, có thể
phân biệt thành hai nhóm: Thứ nhất, nhóm các biện pháp được tiến hành một cách
công khai, dựa trên những quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để quản lý nhà nước về an ninh trật tự và đấu tranh chống tội phạm, như: tiến hành quản lý hành chính về trật tự xã hội, quản
lý trật tự an toàn giao thông và điều tra vụ án theo trình tự tố tụng… Thứ hai, nhóm
biện pháp được tiến hành một cách bí mật như: sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án trinh sát, khám xét bí mật, nghe điện thoại bí mật, chụp ảnh bí mật, ghi âm bí mật Nhóm biện pháp này qua các thời kỳ có những tên gọi khác nhau như: “biện pháp bí mật”, “biện pháp trinh sát1”, “biện pháp nghiệp vụ trinh sát” Tuy nhiên, nếu tìm hiểu ở góc độ là biện pháp trinh sát thì cần được hiểu từ khái niệm của thuật ngữ Biện pháp được hiểu “cách làm, cách thực thực hiện một công
1
Xem Giáo trình Hoạt động NVTS của lược lượng CSND, Học viện CSND, năm 2006
Trang 18việc2” Biện pháp trinh sát là một trong những biện pháp công tác cơ bản của CQĐT được thực hiện bằng cách sử dụng lực lượng, phương tiện, chiến thuật và thủ đoạn nghiệp vụ để bí mật điều tra, phát hiện, chủ động phòng ngừa và chủ động đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các loại tội phạm.” 3
Hoạt động trinh sát của lực lượng điều tra được hình thành và phát triển theo yêu cầu thực tiễn đấu tranh chống tội phạm của ngành Công an Hoạt động này dần dần được phát triển và hoàn thiện theo một quá trình từ đơn giản tới phức tạp, từ những kinh nghiệm sáng kiến cụ thể trong thực tế đấu tranh đến hoạt động có tính đồng bộ, có kế hoạch phản ánh sự mưu trí, sáng tạo trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm Hoạt động nghiệp vụ trinh sát có tính chất đặc thù rõ nét nhất đó là tính chất bí mật Về nguyên tắc của hoạt động nghiệp vụ trinh sát là bí mật về tổ chức, phương thức hoạt động, đến các phương pháp, biện pháp, thủ đoạn nghiệp vụ cũng như những thông tin tài liệu mà lực lượng trinh sát, lực lượng được giao một
số nhiệm vụ của hoạt động trinh sát tiếp xúc, sử dụng hay khai thác, khám phá từ thực tiễn hoạt động của mình Tuy nhiên, đặc điểm bí mật đó không loại trừ hay mâu thuẫn với yêu cầu tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của cơ quan Nhà nước4
Hoạt động trinh sát được tổ chức thực hiện và thực hiện trên cơ sở của một hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước Căn cứ vào Hiến pháp, BLTTHS, Luật Công an nhân dân, Luật Tổ chức điều tra hình sự, các nghị định của Chính phủ, các quyết định của Bộ Công an, lực lượng trinh sát của CQĐT vận dụng đầy đủ, chính xác vào hoạt động của mình Bên cạnh đó, hoạt động trinh sát của CQĐT đặt dưới
sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, phục vụ Tổ quốc Việt Nam XHCN và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, cơ quan, tổ chức Hiện nay, hoạt động trinh sát đã được thể hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp chiến thuật cụ thể như: Sưu tra quản lý đối tượng, xác minh hiềm nghi, xác lập
và đấu tranh chuyên án, xây dựng cộng tác viên bí mật, sử dụng các phương pháp trinh sát trực tiếp, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát nội tuyến, trinh sát liên hoàn, tiến hành các thủ thuật trong hoạt động trinh sát, như chụp ảnh bí mật, ghi âm bí mật, ghi hình bí mật, bí mật thu thập thông tin dữ liệu điện tử Mỗi loại hình hoạt động
2 Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 2006
3 Công an nhân dân Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa, Nxb CAND, Hà Nội
4
Hồ Trọng Ngũ (1995), Lý luận cơ bản về hoạt động trinh sát của Cảnh sát nhân dân, Nxb CAND
Trang 19đó đều có những đặc điểm riêng về các tình huống sử dụng và cách thức áp dụng trong thực tế
Như vậy, các biện pháp trinh sát của CQĐT bao gồm hệ thống các hoạt động theo dõi, giám sát, phát hiện, thu thập và xử lý các thông tin, tài liệu có liên quan đến hoạt động của tội phạm hình sự, kinh tế, ma túy, môi trường… được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật, theo các quy định chặt chẽ của ngành, do lực lượng trinh sát tiến hành bằng hình thức, phương pháp, chiến thuật, phương tiện bí mật nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, điều tra khám phá tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội
Các biện pháp ĐTTTĐB xuất phát từ hoạt động trinh sát của CQĐT, là cơ sở
để BLTTHS xây dựng và coi đó là một thủ tục đặc biệt trong hoạt động điều tra vụ
án hình sự, tạo điều kiện cho CQĐT vừa hoạt động bí mật, vừa đảm bảo thủ tục tố tụng công khai
1.2.2 Khái niệm biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và vai trò trong điều tra
vụ án hình sự
Do là một trong những điểm mới của BLTTHS 2015 nên hiện nay chưa có văn bản giải thích rõ hơn chế định này Dựa trên cơ sở mối liên hệ có tính hệ thống với điều tra vụ án hình sự, biện pháp điều tra, có thể đưa ra khái niệm biện pháp ĐTTTĐB như sau: Biện pháp ĐTTTĐB là biện pháp điều tra có tính đặc biệt, bí mật do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án
Để làm rõ được khái niệm biện pháp ĐTTTĐB thì cần hiểu được yếu tố đặc
biệt trong khái niệm này Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đặc biệt là tính từ có nghĩa
là khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ”5 Tính đặc biệt trong biện pháp ĐTTTĐB là những yếu tố khác hẳn về tính chất
so với các biện pháp điều tra khác trong BLTTHS
Điểm đặc trưng cơ bản của biện pháp ĐTTTĐB là yếu tố bí mật bao gồm bí mật về phương pháp tiến hành, bí mật về đối tượng áp dụng, bí mật về các thông tin, tài liệu không liên quan… nhưng lại được công khai về chứng cứ phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa biện pháp ĐTTTĐB với biện pháp điều tra tố tụng thông thường hay biện pháp điều tra trinh sát
5
Từ điển Tiếng Việt (2011), Nxb Thanh niên, tr.301
Trang 20Như vậy, yếu tố đặc biệt của biện pháp ĐTTTĐB, có thể nói yếu tố "bí mật"
là dấu hiệu đặc trưng của biện pháp ĐTTTĐB bao gồm bí mật về phương pháp
tiến hành, bí mật về đối tượng áp dụng, bí mật về các thông tin, tài liệu không liên quan… nhưng lại được công khai về chứng cứ phục vụ công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Những biện pháp này đều được tiến hành điều tra một cách bí mật, vừa để đảm bảo bí mật trong quá trình điều tra, vừa giúp quá trình thu thập chứng
cứ diễn ra một cách khách quan, đối phó với những tội phạm có tính chất nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi
Việc quy định biện pháp điều tra tố tụng đặc góp phần thực thi những cam kết
về luật hóa biện pháp ĐTTTĐB trong các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia
mà tiêu biểu nhất là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
Điều 20 của Công ước này quy định về các kỹ thuật điều tra đặc biệt Theo Điều 20 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, biện pháp điều tra đặc biệt được khuyến nghị gồm một nhóm các biện pháp điều tra khác nhau, như: vận chuyển có kiểm soát, các hình thức giám sát, hoạt động sử dụng lực lượng bí mật Đồng thời, tại một số điều, Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia cũng quy định thêm về các vấn đề liên quan xung quanh yêu cầu về việc áp dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt như Điều 24 về bảo vệ nhân chứng, Điều 25 về hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân…
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng: Điều 50 của Công ước
này quy định về kỹ thuật điều tra đặc biệt Theo đó, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cũng đòi hỏi mọi quốc gia phải áp dụng các biện pháp cần thiết,
đủ mạnh và biện pháp này cũng là một biện pháp đặc biệt Các biện pháp điều tra đặc biệt được Công ước nhấn mạnh về tầm quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm, đặc biệt là các tội phạm ma túy, các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và tội phạm tham nhũng Công ước cũng nêu ra các biện pháp điều tra đặc biệt bao gồm kiểm soát vận chuyển (thường áp dụng trong các trường hợp qua biên giới và trong các vụ án ma túy); giám sát, theo dõi điện tử (theo dõi điện thoại, thư điện tử ); giám sát, theo dõi đối tượng (theo dõi đối tượng tình nghi); hoạt động tình báo, hoạt động “chìm”; kiểm tra liêm chính; giám sát giao dịch tài chính và một
số biện pháp khác
Trang 21Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước của Liên hợp quốc và đã cam kết luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt này, cho nên việc đưa một chương quy định biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS là một đòi hỏi tất yếu của việc thực hiện các cam kết quốc tế
Biện pháp ĐTTTĐB cụ thể hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật” Theo quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 thì mọi cá nhân có quyền bất khả xâm phạm và bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Đồng thời, theo quy định tại Khoản 4 Điều 15 Hiến pháp năm 2013, việc thực hiện các quyền trên phải tuân thủ nguyên tắc việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đây là những cơ sở pháp lý quạn trọng trong pháp luật quốc gia để tạo cơ sở cho quy định biện pháp ĐTTTĐB trong BLTTHS 2015 Vì vậy, tại
Khoản 1 Điều 227 BLTTHS 2015 có ghi rõ: “Thông tin, tài liệu thu được bằng biện pháp ĐTTTĐB chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời Nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác”
Biện pháp ĐTTTĐB tạo điều kiện cho CQĐT chủ động thu thập chứng cứ, xác định đối tượng tình nghi phạm tội trong quá trình điều tra các vụ án phức tạp, có
tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng; góp phần đấu tranh chống tội phạm, mở rộng nguồn
chứng cứ có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
- Nguyên tắc: Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”6
, những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước là cơ
sở, phương hướng hoạt động của mọi lực lượng và hoạt động xã hội Phục tùng nghiêm chỉnh đường lối, chính sách và pháp luật sẽ đảm bảo cho mọi lực lượng xã hội và hoạt động xã hội khác nhau, trong đó có hoạt động áp dụng các biện pháp
6
Điều 2 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013
Trang 22ĐTTTĐB cùng hướng tới mục tiêu thống nhất chung trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta
Các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ “Chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật khác và kiến nghị biện pháp khắc phục; tham gia giáo dục đối tượng vi phạm pháp luật tại cộng đồng theo quy định của pháp luật” 7 Với vị trí, chức năng và nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi hoạt động của cơ quan này phải quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Vận dụng biện pháp ĐTTTĐB của CQĐT có tính chất đặc trưng là hoạt động phức tạp và bí mật trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Trong điều kiện như vậy, nếu chúng ta không xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng, không tuân thủ nghiêm túc đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước sẽ dễ dàng dẫn đến hành động sai trái, lệch lạc gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và con người như để lọt đối tượng phạm tội, làm oan sai đối với người vô tội
Vì vậy, vận dụng các biện pháp ĐTTTĐB luôn luôn cần thiết phải tuân thủ, phục tùng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Nguyên tắc: Tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
và chỉ được sử dụng các biện pháp ĐTTTĐB vào mục đích phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Bản chất chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của dân, do dân và vì dân như Hiến pháp đã quy định Nhà nước xã hội chủ nghĩa có tính nhân đạo cao
cả, vì vậy mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân thủ lợi ích của nhân dân, tôn trọng
và bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân Chúng ta có thể tiến hành các biện pháp công tác để phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, thậm chí sử dụng biện pháp mạnh để trấn áp những đối tượng chống đối xã hội; tuy nhiên, chúng ta không được sử dụng các biện pháp xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vận dụng biện pháp ĐTTTĐB mang tính đặc thù phức tạp và bí mật, do vậy việc sử dụng biện pháp này cần phải cân nhắc, tính toán để không xâm hại đến quyền và lợi chính đáng người các cá nhân, tổ chức Đồng thời chỉ tính toán sử dụng biện pháp ĐTTTĐB vào mục đích phòng chống tội phạm, không được tùy tiện
sử dụng vào những công việc khác ngoài mục đích trên
7
Điều 16 Luật Công an nhân dân, năm 2005
Trang 23Nội dung quán triệt nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức và chỉ được sử dụng vào mục đích phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội khi tiến hành biện pháp ĐTTTĐB là:
- Cần phải xác định rõ ràng tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tố chức là nguyên tắc quan trọng khi sử dụng biện pháp ĐTTTĐB Từ đó có thể chi phối chỉ đạo tư tưởng mỗi cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
- Trong khi sử dụng từng biện pháp hay phương tiện hoạt động nghiệp vụ đối với những tình huống cụ thể, con người cụ thể cần phải đề cao giá trị và nhân phẩm của con người, không được dọa nạt, ép buộc những đối tượng mà chúng ta đang tiến hành cần thiết dùng những biện pháp tố tụng đặc biệt
- Khi đánh giá mỗi hành vi từng con người trong quá trình điều tra vụ án phải khách quan, thận trọng, xem xét toàn diện về con người đó trước khi có các kết luận
về bản chất hành vi của họ
- Nguyên tắc: Đảm bảo bí mật
Bí mật là một yêu cầu mang tính đặc trưng trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội Điều đó càng đặc biệt quan trọng đối với việc sử dụng biện pháp ĐTTTĐB Bởi vì sử dụng biện pháp ĐTTTĐB nhằm đến loại đối tượng phức tạp, tinh vi, xảo quyệt, hoạt động ngấm ngầm, tìm mọi cách che giấu ý đồ và hành vi phạm tội Để phòng ngừa và phát hiện hoạt động của chúng cần phải sử dụng đến những lực lượng bí mật như cán bộ chiến sĩ trinh sát, lực lượng công tác bí mật; sử dụng phương pháp, chiến thuật, phương tiện bí mật Khi những lực lượng, phương pháp, phương tiện bị lộ bí mật coi như đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn và không có tác dụng trong công tác đấu tranh, có những trường hợp do lộ bí mật còn ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước
Nội dung nguyên tắc bí mật thể hiện ở những vấn đề sau đây:
- Có biện pháp đảm bảo bí mật tuyệt đối cho những lực lượng trực tiếp tham gia trong điều tra các vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Để đảm bảo bí mật tuyệt đối cho lực lượng cộng tác viên bí mật của CQĐT, cần thiết phải chấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật
- Đảm bảo bí mật về các hình thức, phương pháp và chiến thuật Những vấn đề này thường được tiến hành và sử dụng thường xuyên trong điều tra vụ án hình sự Việc sử dụng biện pháp ĐTTTĐB, nếu không có ý thức đúng đắn dễ dẫn đến lộ bí mật trước mọi người và đối tượng phạm tội
Trang 24Để bảo vệ tốt được bí mật về hình thức, phương pháp và chiến thuật đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ĐTTTĐB khi tiến hành phải có
kế hoạch cụ thể, tỉ mỉ, có sự phê duyệt và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo chỉ huy
- Đảm bảo bí mật về phương tiện, tài liệu thông tin nghiệp vụ khi sử dụng biện pháp ĐTTTĐB Đó là phương tiện kỹ thuật, là các hồ sơ tài liệu, các kế hoạch, các thông tin nhận được từ việc áp dụng các biện pháp ĐTTTĐB, những thông tin này nếu bị lọt ra ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến trong quá trình điều tra vụ án
Ba nguyên tắc nêu trên là những nguyên tắc cơ bản nhất khi sử dụng biện pháp ĐTTTĐB Những nguyên tắc này gắn liền chặt chẽ với nhau làm tiền đề cơ
sở chỉ đạo hướng dẫn những hoạt động cụ thể trong quá trình điều tra vụ án, đảm bảo yêu cầu thực tiễn đấu tranh chống tội phạm Trên cơ sở các nguyên tắc này, có thể phát triển, hình thành những nguyên tắc mang tính chất cụ thể cho mỗi loại biện pháp ĐTTTĐB
1.3 Các trường hợp áp dụng, thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1.3.1 Các trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Vì được coi là biện pháp ĐTTTĐB nên không phải các biện pháp này được áp dụng đối với mọi tội phạm Theo Điều 224 BLTTHS 2015 thì các biện pháp ĐTTTĐB này chỉ áp dụng khi tiến hành điều tra các loại tội phạm: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội khủng bố, tội rửa tiền; các tội phạm về ma túy; tội phạm về tham nhũng Bên cạnh các loại tội phạm kể trên, biện pháp ĐTTTĐB còn
có thể được sử dụng để điều tra bất cứ tội phạm nào khác được thực hiện có tổ chức thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng
Việc quy định về giới hạn các trường hợp được áp dụng biện pháp ĐTTTĐB xuất phát từ lý do để tránh sử dụng tràn lan và đảm bảo hiệu quả cao trong việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB
Những trường hợp áp dụng biện pháp ĐTTTĐB được BLTTHS 2015 quy định cho các tội phạm cụ thể gồm tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền Đây là những loại tội phạm có
tổ chức chặt chẽ, phương thức, thủ đoạn phạm tội và che dấu tội phạm hết sức tinh
vi, xảo quyệt, đối tượng phạm tội thường ngoan cố, chống đối đến cùng, thiếu hợp tác với Cơ quan tố tụng dẫn tới các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả Biện pháp ĐTTTĐB cho phép CQĐT thu thập tài liệu, chứng cứ trực tiếp chứng minh tội phạm, xác định nhanh chóng, chính xác, toàn diện vụ án,
Trang 25chứng minh tội phạm và người phạm tội, truy nguyên tài sản bị tội phạm chiếm đoạt Việc chứng minh được tội phạm, xác định nhanh chóng tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng quá trình tiến hành tố tụng đối với các tội phạm này đặc biệt là đối với những tội phạm có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, xã hội như tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội khủng bố, truy nguyên tài sản bị tội phạm chiếm đoạt như tội phạm về tham nhũng, tội rửa tiền
Ngoài ra, BLTTHS 2015 còn quy định mở rộng thêm trường hợp áp dụng biện pháp ĐTTTĐB đối với tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Khoản 2 Điều 224) Tội phạm có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây ra nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, có sự tham gia của nhiều người, kể cả tham gia của pháp nhân thương mại với tính chất tổ chức chặt chẽ, có sự chỉ đạo, tập trung, thống nhất Có thể thấy, đối với các loại tội phạm
có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB trở nên cấp thiết tương tự như các tội phạm được luật định tại Khoản 1 Điều 224 Với quy định này, các trường hợp áp dụng biện pháp ĐTTTĐB có phạm
vi mở rộng hơn, đáp ứng được yêu cầu áp dụng các biện pháp điều tra trong các hoạt động tố tụng
Như vậy, việc giới hạn biện pháp ĐTTTĐB chỉ được áp dụng đối với loại tội phạm quy định tại Điều 224 BLTTHS 2015 Ngoài các trường hợp nêu trên, biện pháp ĐTTTĐB không được phép áp dụng như là biện pháp điều tra thu thập chứng
cứ trong giai đoạn điều tra
1.3.2 Về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
- Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB:
Trước tiên, Điều 225 BLTTHS 2015 quy định chỉ Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên mới được quyền quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB Cụ thể là: Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Thủ trưởng CQĐT Hình sự Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng
Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng CQĐT VKSND tối cao; Thủ trưởng CQĐT VKS quân sự Trung ương; Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh; Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh; Thủ trưởng CQĐT Hình sự quân khu và tương đương; Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương
Trang 26Về nguyên tắc, Thủ trưởng CQĐT nêu trên căn cứ vào trường hợp quy định tại Điều 224 BLTTHS 2015 để tự mình quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp ĐTTTĐB quy định tại Điều 223 BLTTHS 2015 Tuy nhiên, Điều 225 BLTTHS 2015 cũng quy định thêm là Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, cấp quân khu
có quyền yêu cầu Thủ trưởng CQĐT hữu quan áp dụng biện pháp điều tra TTHS đặc biệt Còn trong trường hợp vụ án thuộc trường hợp quy định tại Điều 224 BLTTHS 2015 đang được thụ lý, điều tra ở cấp huyện, cấp khu vực thì Thủ trưởng CQĐT cấp huyện, cấp khu vưc đề nghị Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB
Như vậy, thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB được quy định cho Thủ trưởng của các CQĐT từ cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên, ngoại lệ đối với trường hợp vụ án đã được thụ lý, điều tra bởi CQĐT cấp huyện, CQĐT quân sự khu vực thì phải đề nghị Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh, Thủ trưởng CQĐT quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng Quy định chặt chẽ về thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB đảm bảo biện pháp này được áp dụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật và yêu cầu đặc biệt trong TTHS
- Về hình thức của quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB:
Biện pháp ĐTTTĐB liên quan đến quyền bí mật đời tư của cá nhân nên không thể áp dụng tràn lan, do vậy Quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa điểm áp dụng, Cơ quan thi hành biện pháp ĐTTTĐB và các nội dung khác của văn bản tố tụng Theo đó, quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB của Thủ trưởng CQĐT có thẩm quyền phải ghi rõ thông tin cần thiết về: tên biện pháp được áp dụng; áp dụng đối với ai; thời hạn và địa điểm áp dụng; cơ quan áp dụng; các nội dung khác theo quy định tại khoản 2 Điều 132 của BLTTHS 2015
Quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Thủ trưởng CQĐT đã ra quyết định có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng và kịp thời đề nghị Viện trưởng VKS đã phê chuẩn hủy bỏ nếu xét thấy không còn căn cứ để tiếp tục áp dụng
Dù Điều 225 không quy định cụ thể về thẩm quyền của Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng VKS quân sự Trung ương trong việc phê chuẩn và quyết định những vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, nhưng khi Luật quy định Viện trưởng VKS cùng cấp thì tương ứng ở cấp Trung ương là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng VKS quân sự Trung ương
Trang 27- Đảm bảo thi hành quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB:
Để đảm bảo thi hành biện pháp ĐTTTĐB, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thành lập Cơ quan chuyên trách tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB Cơ quan chuyên trách được biên chế cán bộ kỹ thuật đảm bảo về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được kiểm duyệt để ghi âm, ghi hình bí mật, nghe lén điện thoại bí mật, thu thập dữ liệu điện tử bí mật
- Đảm bảo yếu tố bí mật trong áp dụng biện pháp ĐTTTĐB:
Tại khoản 4 Điều 225 BLTTHS 2015 cũng yêu cầu Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng VKS có thẩm quyền và người được giao thi hành Quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB phải giữ bí mật về việc áp dụng Yếu tố bí mật là một đặc điểm đặc thù có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho yêu cầu trong thực hiện biện pháp ĐTTTĐB Nếu những thông tin về việc tiến hành biện pháp ĐTTTĐB tới đối tượng
bị áp dụng trong vụ án sẽ khiến chúng cảnh giác, tìm cách đối phó, tạo ra thông tin sai, đánh lạc hướng Cơ quan tố tụng hay có biểu hiện chống đối dẫn tới kiện tụng phiền hà, làm ảnh hưởng đến quá trinh điều tra Vì vậy, những chủ thể có thẩm quyền ra quyết định bao gồm Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng VKS và người thi hành quyết định áp dụng được luật quy định phải giữ bí mật
1.3.3 Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Biện pháp ĐTTTĐB chỉ được tiến hành ở giai đoạn điều tra, sau khi khởi tố
vụ án, để tránh việc lạm dụng hay áp dụng quá lâu ảnh hưởng tới đời tư của cá nhân, BLTTHS 2015 quy định chi tiết về thời hạn áp dụng biện pháp ĐTTTĐB Thời hạn áp dụng biện pháp ĐTTTĐB là khoảng thời gian tối đa mà pháp luật cho phép để tiến hành biện pháp ĐTTTĐB
Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định như sau: thời hạn áp dụng biện pháp ĐTTTĐB không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng VKS phê chuẩn Biện pháp ĐTTTĐB chỉ áp dụng ở giai đoạn điều tra và sau khi khởi tố vụ án nên trong trường hợp vụ án phức tạp đòi hỏi cần thời gian để tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ thì có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của BLTTHS 2015 Luật không quy định thời hạn gia hạn là bao nhiêu, song chỉ giới hạn là việc gia hạn không quá thời hạn điều tra đã được quy định trong BLTTHS tương ứng với từng loại tội phạm Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng CQĐT đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng VKS đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn
Trang 281.3.4 Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Điều luật này quy định, Viện trưởng VKS đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB phải kịp thời hủy bỏ quyết định đó khi: có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng CQĐT đã ra quyết định áp dụng; có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp ĐTTTĐB; không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp ĐTTTĐB Căn cứ để hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB là do Thủ trưởng CQĐT
và Viện trưởng VKSND Căn cứ chủ yếu sẽ là: không còn lý do, không còn cần thiết để tiếp tục áp dụng Việc hủy bỏ áp dụng biện pháp ĐTTTĐB còn là do đã có
vi phạm khi áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, như không đủ thẩm quyền áp dụng,
áp dụng không đúng đối tượng, vi phạm thời hạn, địa điểm hoặc lộ bí mật
Theo quy định trên, Viện trưởng VKS đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB là chủ thể có quyền hủy bỏ, cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp ĐTTTĐB không được tự mình hủy bỏ việc áp dụng chúng, ngay cả khi không còn căn cứ, không còn lý do để tiếp tục áp dụng Viện trưởng VKS hữu quan quyết định hủy bỏ áp dụng dựa trên đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng CQĐT có thẩm quyển; dựa trên việc tự phát hiện ra việc vi phạm trong quá trình áp dụng và khi xét thấy không còn lý do, căn cứ để tiếp tục áp dụng biện pháp ĐTTTĐB Điều luật không quy định hình thức quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB, trong trường hợp này, Viện trưởng VKS có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định hủy
bỏ việc áp dụng biện pháp ĐTTTĐB và yêu cầu Thủ trưởng CQĐT hữu quan thi hành kịp thời
1.4 Các biện pháp cụ thể
Theo quy định tại Điều 223 BLTTHS 2015 thì các biện pháp ĐTTTĐB bao gồm: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật và thu thập bí mật dữ liệu điện tử
1.4.1 Ghi âm, ghi hình bí mật
- Ghi âm bí mật
Ghi âm bí mật là biện pháp do chủ thể có thẩm quyền tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB tiến hành, nhằm ghi lại nội dung của lời hứa, lời tuyên thệ, những yêu cầu đặt ra, cuộc trò chuyện phân vai, phân cấp giữa các đối tượng mà CQĐT đang có nghi vấn về sự chuẩn bị phạm tội, tập hợp lực lượng; Lời hứa, lời yêu cầu, trò chuyện về phân chia lợi ích sau khi phạm tội, xóa dấu vết, hướng giải quyết trách nhiệm của từng đối tượng trong băng, ổ, nhóm Ghi âm bí mật cũng có mục đích là nhằm làm rõ thêm vai trò của từng đối tượng trong vụ án hoặc trong chuyên án
Trang 29Trong công tác phòng, chống tội phạm, máy ghi âm của CQĐT được trang bị gồm 2 loại chính, gồm loại máy ghi âm thông thường (loại máy ghi trực tiếp lên thẻ nhớ, băng từ lắp sẵn trong máy) và loại máy ghi âm thu-phát không dây Tùy theo nhu cầu nhiệm vụ của hoạt động phát hiện, điều tra, tính năng, tác dụng, kiểu dáng của máy ghi âm và tình huống cụ thể mà sử dụng hình thức ghi âm phù hợp Trinh sát viên, Điều tra viên, cán bộ điều tra có thể sử dụng các hình thức như: mang máy theo trong người khi tiếp xúc đối tượng; bí mật lắp đặt máy vào nơi ở, nơi làm vỉệc, phương tiện giao thông, đồ dùng cá nhân hay khu vực hoạt động của đối tượng để thu thập thông tin, tài liệu Ngoài ra có một loại máy được sử dụng trong trường hợp cần ghi âm đối tượng đang ở trong phòng kín, có tường bao bọc, khả năng để đặt máy ghi âm là rất khó khăn, đó là máy xung động tần số âm thanh (hay còn gọi là máy nghe xuyên tường) Loại máy này có cấu tạo đặc thù hơn, gồm bộ phận thu xung động âm thanh và bộ phận phát âm thanh bằng sóng vô tuyến Khoảng cách giữa đầu thu và nghe đảm bảo chất lượng âm thanh tốt nhất là vòng bán kính khoảng từ 100 mét đến 150 mét Khi áp dụng loại máy này, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB gắn đầu thu máy nghe vào tường ngoài của căn phòng các đối tượng đang trao đổi, thỏa thuận hay bàn bạc phương án, kế hoạch phạm tội, còn ngồi để ghi âm thì ở nơi khác thuận lợi và bảo đảm bí mật tốt nhất
- Ghi hình bí mật
Ghi hình bí mật: Là biện pháp do chủ thể có thẩm quyền tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB thực hiện nhằm ghi lại hình ảnh, hiện tượng của đối tượng nghi vấn hoặc đối tượng có dấu hiệu tội phạm nhưng cần chứng minh, làm rõ hơn mức độ, tính chất của hành vi phạm tội Khi tiến hành ghi hình bí mật có thể áp dụng chiến thuật hoặc bí mật về mục đích, công cụ ghi hình và con người thực hiện nhiệm vụ ghi hình; hoặc bí mật về mục đích nhưng có thể công khai về công cụ, con người thực hiện Tuy nhiên khi áp dụng biện pháp này người thực hiện nhiệm vụ tuyệt đối không để lộ về mình như mặc cảnh phục, không đi giày, tất chân hay một biểu hiện nào khác của lực lượng điều tra
Công cụ để ghi hình bí mật có thể là máy ảnh, máy quay Máy ảnh của lực lượng điều tra sử dụng gồm có 2 loại: máy ảnh kỹ thuật số và máy ảnh bán tự động Tùy theo tình hình cụ thể và yêu cầu hóa trang mà lực lượng điều tra có thể lựa chọn loại máy phù hợp Đối với máy kỹ thuật số, do có trọng lượng và kích cỡ nhỏ nên thuận lợi cho việc ghi hình đối tượng, địa điểm cần theo dõi, giám sát Đối với loại máy ảnh bán tự động, thông thường có kích thước và trọng lượng lớn hơn, khi sử dụng có thể gắn các
Trang 30bộ phận phụ kiện như ống tê-lê, ống ngắm hồng ngoại… nên thường dùng để quan sát theo dõi hoạt động của đối tượng ở cự ly xa, hay diễn biến vụ việc ở trên địa điểm có
cự ly xa, trong điều kiện thời tiết, ánh sáng không thuận lợi
Máy quay camera là một loại phương tiện được sử dụng phổ biến trong giai đoạn hiện nay Camera thường được sử dụng để giám sát một tụ điểm phức tạp về
ma túy; một địa điểm mà đối tượng phạm tội thường ra vào, lui tới hoặc ghi hình, giám sát sự di chuyển của đối tượng ngoại tuyến Trong các vụ án, chuyên án về tham nhũng có thể sử dụng máy V-camera, vì loại máy này có thể vừa ghi âm, vừa ghi hình tự động, bộ phận ghi hình, ghi âm trong một hệ thống, phía dưới có gắn USB nhỏ với dung lượng lớn, thời gian ghi âm, ghi hình kéo dài đến 120 phút; hơn nữa loại máy này nhỏ gọn, có thể giống như chiếc bút bi, bút mực thông thường; cũng có loại đầu camera giống như nút áo được đính vào vị trí của nút áo mà lực lượng điều tra mặc, còn trong túi quần hay vị trí bí mật trong áo, quần là ghi âm Hiện nay, có loại máy đặc biệt hơn đó là loại máy ghi âm và ghi hình có chế độ chờ Cấu trúc của nó gồm camera và thẻ sim-card điện thoại di động Camera và thẻ sim card được giấu trong một mẫu vật nhỏ có hình dáng như một vật dụng thường ngày, tùy theo nơi gắn camera mà lựa chọn đầu camera về màu sắc, kiểu dáng nhằm tránh phát hiện Còn đầu ghi hình, ghi âm có thể cách xa vài chục, vài trăm km Khi cần ghi âm, ghi hình thì khởi động tại nơi đặt bộ phận ghi bằng cách bấm số sim-card Thông qua sử dụng camera, lực lượng điều tra thu được các thông tin, tài liệu có gía trị phục vụ cho việc dựng lên một đường dây, ổ, nhóm tội phạm, xác định vai trò của từng đối tượng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của băng, nhóm, của từng đối tượng, từ đó có điều kiện xây dựng kế hoạch đấu tranh có hiệu quà
Tóm lại, máy camera có nhiều chủng loại, kiểu dáng, kích cỡ, song nhìn chung chia làm 2 loại chính: Máy quay camera thông thường bằng kỹ thuật số và loại camera kích cỡ nhỏ vừa ghi âm vừa ghi hình dạng không dây Tùy thuộc vào yêu cầu của nhiệm vụ điều tra và thực tế về không gian, thời gian, thời tiết mà lực lượng điều tra sử dụng cho hợp lý và mang lại hiệu quả cao
1.4.2 Nghe điện thoại bí mật
Nghe điện thoại bí mật là biện pháp do chủ thể có thẩm quyền tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB thực hiện nhằm nghe và có thể ghi lại lời nói của đối tượng nghi vấn hoặc đối tượng có dấu hiệu tội phạm nhưng cần chứng minh, làm rõ hơn mức độ, tính chất của hành vi phạm tội Trong các vụ án, chuyên án về ma túy, tham nhũng, khủng bố hoặc trong những vụ án, chuyên án hình sự, kinh tế có tổ
Trang 31chức, đặc biệt nghiêm trọng thì việc nghe điện thoại bí mật là biện pháp mang lại
hiệu quả cao trong việc phá án
Hiện nay, có rất nhiều cách để nghe điện thoại bí mật Loại được mã hóa chi tiết thiết bị nghe trộm ngay ở trong máy điện thoại di động; loại gắn thiết bị đầu thu
ở phòng làm việc, phòng ở, phòng ngủ hay trên phương tiện của đối tượng nghi vấn Đặc biệt loại phương tiện sử dụng vừa quay camera, ghi âm và định vị -X9, phiên bản X009DZ-FLASH128 32-LBS-01020111116
Việc lắp đặt thiết bị đầu thu để nghe điện thoại bí mật đòi hỏi ở lực lượng điều tra thực sự là nguời có kinh nghiệm và tài năng trong thủ thuật Tùy thuộc vào bàn làm việc, phòng nghỉ, loại xe, nội thất trong xe, thời gian hoạt động của đối tượng nghi vấn mà bố trí gắn đầu thu hợp lý
1.4.3 Thu thập bí mật dữ liệu điện tử
Thu thập bí mật dữ liệu điện tử là biện pháp do chủ thể có thẩm quyền tiến hành các biện pháp ĐTTTĐB thực hiện nhằm thu thập một cách bí mật các dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền
và các nguồn điện tử khác có liên quan đến đối tượng nghi vấn hoặc đối tượng có dấu hiệu tội phạm nhưng cần chứng minh, làm rõ hơn mức độ, tính chất của hành vi phạm tội
Theo đó, để làm rõ về biện pháp thu thập bí mật dữ liệu điện tử, cần làm rõ về
dữ liệu điện tử và nguồn của dữ liệu điện tử là phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác:
Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác Vì vậy, đối với biện pháp
Trang 32thu thập bí mật dữ liệu điện tử thì để thông tin, tài liệu thu được từ việc áp dụng biện pháp này đặt ra điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và vấn đề về chuyển hóa chứng cứ điện tử
+ Điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự: Vì có thể tạo ra một dữ liệu điện tử chứa đựng thông tin theo ý chí chủ quan của người tạo ra nó cá nhân nên để dữ liệu điện tử được sử dụng làm chứng cứ thì cần thiết phải đảm bảo những thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan
Thứ nhất, tính khách quan: Dữ liệu có thật, tồn tại khách quan, có nguồn gốc
rõ ràng, không bị làm cho sai lệch, biến dạng, đã được tìm thấy và đang lưu trên máy tính, điện thoại di động, email, USB, tài khoản trên mạng, trên máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), đang truyền trên mạng
Thứ hai, tính hợp pháp: Chứng cứ phải được thu thập đúng quy định của BLTTHS, sử dụng công nghệ được pháp luật công nhận, trong cả quá trình khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ vật chứng, sao lưu điện tử, chặn thu trên mạng, bảo quản, phục hồi, phân tích, tìm kiếm và giám định dữ liệu và khi sử dụng chứng cứ phải kiểm tra tính hợp pháp của biện pháp thu thập Từng thiết bị điện tử như máy tính, máy điện thoại, máy chủ, máy tính bảng, USB, đĩa CD/DVD phải được ghi cụ thể vào biên bản, niêm phong theo đúng quy định, để dữ liệu không thể
bị can thiệp, tác động làm thay đổi kể từ khi thu giữ hợp pháp Chuyên gia phục hồi
dữ liệu sử dụng công nghệ và phần mềm phục hồi dữ liệu, như thiết bị chống ghi (Read Only ) sao chép dữ liệu điện tử và chỉ sử dụng bản sao này để phục hồi, phân tích, tìm kiếm dữ liệu, chuyển thành dạng đọc được, nghe được, nhìn thấy được Bản gốc phải được bảo quản theo đúng quy định
Thứ ba, tính liên quan của chứng cứ: Dữ liệu thu được có liên quan đến hành
vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nạn nhân, hậu quả , được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ án Tính liên quan thể hiện ở nguyên lý, công nghệ hình thành dấu vết điện tử, thông tin về không gian, thời gian hình thành dữ liệu (logfile, IP, siêu
dữ liệu, hàm hash), địa chỉ lưu trữ, nội dung thông tin, thời gian phạm tội (nguồn gốc và nội dung thư điện tử, chat, tin nhắn, công nghệ tấn công, nạn nhân, thiệt hại, camera ), cookies truy cập
+ Chuyển hóa chứng cứ điện tử là chuyển định dạng dữ liệu thành các tài liệu vật chất, như in ra giấy, ghi ra băng đĩa hình hoặc tiếng để có thể đọc, nghe hoặc
Trang 33nhìn được Nhưng trước đó, phải thực hiện các bước từ tìm kiếm, thu thập, phục hồi, khai thác dữ liệu điện tử
Thứ nhất, cách thu giữ tang vật lưu trữ dữ liệu điện tử: Các thiết bị điện tử hiện nay thường có bộ nhớ kỹ thuật số và chip điều khiển Do đó, để thu thập dữ liệu điện tử, trước hết phải thu giữ được các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số đã được
sử dụng làm phương tiện gây án Trước khi thu giữ máy tính và các thiết bị số, phải triển khai ngay công tác bảo vệ hiện trường Nguyên tắc chung trước khi thu giữ máy tính và các thiết bị, cần phải đánh số thứ tự vị trí các loại thiết bị kỹ thuật số Tiến hành chụp ảnh và ghi hình, vẽ sơ đồ hiện trường, lập biên bản ghi nhận hiện trạng tang vật tại hiện trường Đánh dấu các cổng và dây cáp tín hiệu, giắc cắm nguồn điện ra vào thiết bị Nếu máy in đang chạy thì cho phép hoàn tất quá trình in Không được bật máy tính khi máy đang tắt và phải kiểm tra để đảm bảo chắc chắn rằng máy tính đã tắt Nếu máy đang hoạt động thì phải chụp lại màn hình, ghi nhận hoạt động hiện hành của máy Khi tắt máy không dùng lệnh “Shut down" theo trình
tự, vì làm như vậy sẽ làm mất hết các chương trình đang hoạt động trên DDRAM Rút điện và các thiết bị ngoại vi ra khỏi máy tính khi thu giữ Việc đóng gói, vận chuyển máy tính và các thiết bị số khác phải thực hiện như với hàng hóa dễ vỡ, tránh xa nam châm và các tác nhân nguy hại khác, như nóng, lạnh, ướt, bẩn… Cần bảo quản thiết bị số trong điều kiện khô và mát Khi đóng gói, bảo quản phải dán các mác túi đựng tang vật, chứ không chỉ dán mác cho thiết bị Cần quán triệt nguyên tắc: mọi hoạt động kiểm tra và thu giữ máy tính hay thiết bị số đều phải được lập biên bản theo đúng quy định cúa pháp luật Có thể ghi nhận hoạt động này vào trong biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét hay biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu (theo mẫu), để đảm bảo yếu tố tính hợp pháp của chứng cứ Nếu
bỏ qua hoạt động này, chứng cứ thu được có thể bị bác bỏ trước tòa
Thứ hai, nguyên tắc phục hồi dữ liệu điện tử: Bản chất của quá trình phục hồi chứng cứ điện tử là phục hồi, tìm kiếm, thu thập, phân tích, nghiên cứu đánh giá giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử vào báo cáo kết quả về nội dung và tình trạng của chứng cứ (có chữ ký của đối tượng đã tạo ra dữ liệu và những người tham gia tố tụng) Để đảm bảo các nguyên tắc xác lập chứng cứ điện tử, không làm ảnh hưởng đến tính nguyên trạng của chứng cứ, việc phục hồi dữ liệu điện tử chỉ thực hiện trên bản sao chép (coppy image), không làm tổn hại đến dữ liệu gốc, do các chuyên gia được đào tạo tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật và các phần mềm chuyên dụng
- Nguồn của dữ liệu điện tử:
Trang 34Nguồn của dữ liệu điện tử là nơi thu thập được dữ liệu điện tử, đó là phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác Theo đó, phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án
Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiểm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được
Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của BLTTHS Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử
1.5 Chứng cứ trong áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Điều 86 BLTTHS 2015 quy định chứng cứ là “những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Như vậy, xét về bản chất,
chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho
việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Theo quy định của BLTTHS thì một thông
tin, tài liệu chỉ có thể được coi là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:
+ Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết
của vụ án hình sự đã xảy ra
+ Tính liên quan: Có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án Nhưng
cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhân