Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang; Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam của GS.TS Đào Trí Úc, PSG.TS Nguyễn Như Phát… Và rất nhiều bài viết trên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: ThS Đinh Thị Cẩm Hà Học viên: Nguyễn Ý Ngọc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2014
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN - 1
1.1 Khái niệm về nhà nước pháp quyền - 1
1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền - 1
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền - 4
1.2 Giám sát Hiến pháp và vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền - 6
1.2.1 Khái niệm giám sát Hiến pháp - 6
1.2.2 Vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền - 8
1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp - 11
1.3.1 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp - 11
1.3.2 Những yếu tố cơ bản trong giám sát Hiến pháp - 12
Chủ thể thực hiện giám sát Hiến pháp - 12
Đối tượng xem xét - 13
1.3.3 Hình thức giám sát Hiến pháp và việc xử lý các trường hợp vi phạm Hiến pháp - 14
1.3.3.1 Hình thức giám sát Hiến pháp - 14
1.3.3.2 Kết quả xử lý - 15
1.3.4 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới Ưu và nhược điểm - 15
1.3.4.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung - 15
1.3.4.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung - 18
1.3.4.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp - 22
1.3.4.4 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp 22
CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM - 23
2.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp qua các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 - 23
Trang 32.1.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946 - 24
2.1.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1959 - 25
2.1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1980 - 27
2.1.4 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) - 27
2.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013 - 30
2.2.1 Quốc hội - 30
2.2.2 Ủy ban thường vụ Quốc hội - 32
2.2.3 Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội - 33
2.2.4 Đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội - 34
2.2.5 Chủ tịch nước - 35
2.2.6 Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ - 35
2.2.7 Viện kiểm sát nhân dân - 36
2.2.8 Tòa án nhân dân - 36
2.2.9 Cơ quan nhà nước ở địa phương - 37
2.2.10 Nhân dân Việt Nam - 38
2.3 Những thay đổi trong Hiến pháp năm 2013 – Cơ sở xây dựng cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách - 38
2.4 Đánh giá thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay - 40
2.4.1 Ưu điểm - 40
2.4.2 Hạn chế, bất cập - 41
Chương 3 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP - 44
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền và việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp - 44
3.1.1 Quá trình thay đổi nhận thức về tổ chức, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - 44
3.1.2 Định hướng xây dựng cơ chế giám sát Hiến pháp - 48
3.2 Mục đích hoàn thiện cơ quan giám sát Hiến pháp - 49
3.2.1 Đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - 49
3.2.3 Nhu cầu hội nhập Quốc tế - 50
3.3 Nguyên tắc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay -50
3.3.1 Đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân - 50
3.3.2 Đảm bảo phù hợp với định hướng của Đảng - 51
Trang 43.3.3 Đảm bảo việc kiểm soát hiệu quả các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp 52
3.4 Phương hướng, lộ trình đổi mới và một số kiến nghị - 53
3.4.1 Một số mô hình giám sát đặt ra - 53
3.4.1.1 Tiếp tục giữ nguyên cơ chế giám sát hiện nay Tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật - 54
3.4.1.2 Thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp thuộc Quốc hội - 54
3.4.1.3 Tòa án tối cao thực hiện quyền giám sát - 55
3.4.1.4 Thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập (hoặc Hội đồng bảo hiến) - 56
3.4.1 Lộ trình đổi mới Kiến nghị mô hình trung gian trong giai đoạn hình thành cơ quan giám sát Hiến pháp độc lập - 56
3.4.1.1 Thành lập cơ quan giám sát Hiến pháp thuộc Tòa án tối cao giai đoạn 2016-2010 - 57
3.4.1.2 Thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập trên nền tảng cơ quan thuộc Tòa án tối cao - 60
3.5 Hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp của Quốc hội - 62
3.5.1 Về nhận thức - 62
3.5.2 Về cơ sở pháp lý - 64
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung mang tính phổ biến, sản phẩm chung của nhân loại đạt được trong quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài để hướng đến một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nơi mà người dân có được cuộc sống ấm
no, hạnh phúc và tự do Xây dựng nhà nước pháp quyền là xu hướng chung hiện nay của các quốc gia văn minh trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển
đó Mặc dù nhận thức về một nhà nước quản lý và được quản lý bằng pháp luật ra đời
từ thời kỳ đổi mới nhưng đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, tư tưởng “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” mới được khẳng định Sau đó, lần sửa đổi Hiến pháp năm 2001, nhà nước ta chính thức ghi nhận:
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” Hiến pháp năm 2013 một lần nữa nêu rõ quyết tâm này Đây là cơ sở hiến định cho định hướng phát triển nhà nước đồng thời cũng thể hiện mục tiêu của Đảng, nhà nước và toàn thể nhân dân nhằm đưa nước ta phát triển,
ổn định và vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của nhà nước, giữ vị trí quan trọng trong chính trị và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Đảm bảo vị trí tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội được đánh giá như một yêu cầu, một phần không tách rời trong nhà nước pháp quyền Do đó, nhu cầu thiết lập một cơ chế đảm bảo cho tính hợp hiến của quyền lực nhà nước và của các hành vi xã hội để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, bảo vệ các quyền tự do hiến định của công dân trở thành một nhiệm vụ khi xây dựng nhà nước pháp quyền Ở Việt Nam, mặc dù đã hình thành cơ chế giám sát Hiến pháp nhưng những quy định còn rời rạc, chồng chéo, các chủ thể chưa thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giám sát của mình theo Hiến pháp quy định Định hướng xây dựng một thiết chế giám sát Hiến pháp chuyên trách được xem như một nhiệm vụ được đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006) Tiếp đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (năm 2011) một lần nữa khẳng định quyết tâm chính trị trong quan điểm chỉ đạo đổi mới cơ chế
Trang 6giám sát Hiến pháp ở Việt Nam: “Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm
tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của cơ quan
pháp, như một cơ quan chuyên trách giám sát Hiến pháp Tuy nhiên, mô hình này không được Quốc hội khóa XIII thông qua
Xây dựng cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là mục tiêu và quan điểm khoa học Trong bối cảnh đó, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp góp phần hiện thực hóa quyết tâm chính trị của Đảng trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp không phải là đề tài mới Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề này nhận được sự quan tâm của nhiều chủ thể với nhiều công trình đa dạng về cấp độ nghiên cứu Trong đó có thể kể đến Hội nghị Khoa học bàn về “cơ chế bảo hiến” vào tháng 5.2005 do Ban Công tác lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức Ban Công tác lập pháp cho ra đời cuốn “cơ chế bảo hiến” năm 2006 với những ý kiến của các chuyện gia Luật hàng đầu trong cả nước Năm 2009 diễn ra Hội nghị khoa học quốc tế do Văn phòng Quốc hội phối hợp Văn phòng phối hợp hỗ trợ cải cách tư pháp
và pháp luật tổ chức… Nhiều sách chuyên khảo cũng ra đời trong giai đoạn này như:
Tài phán Hiến pháp của PSG.TS Nguyễn Như Phát; Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người của TS Vũ Văn Nhiêm – ThS Nguyễn Mạnh Hùng –
Lưu Đức Quang; Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp
ở Việt Nam của GS.TS Đào Trí Úc, PSG.TS Nguyễn Như Phát… Và rất nhiều bài viết
trên các tạp chí khác nhau như: Cơ chế giám sát Hiến pháp theo các Hiến pháp Việt
Nam và vấn đề xây dựng tài phán Hiến pháp ở nước ta của PGS.TS Trương Đắc Linh,
tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2007; Bàn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan tài phán Hiến pháp ở Việt Nam của Trần Ngọc Đường, tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 10 năm 2007; Tài phán Hiến pháp và viễn cảnh chủ nghĩa hợp hiến ở Việt
Nam của Bùi Ngọc Sơn, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4 năm 2009; Cơ chế giám sát
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng, 2011, tr.89
Trang 7Hiến pháp – góc nhìn tham khảo của Nguyễn Đức Lam, tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 10 năm 2003…Đề tài này được chọn làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hoàng Vũ (năm 2004), Trương Thị Thu Trang (năm 2009), Phan Thị Ngân (năm 2013)
và luận văn Thạc sĩ của Vũ Đình Lê (năm 2007) Trong các công trình này, tác giả đã nghiên cứu, phân tính những vấn đề mang tính lý luận cũng như đánh giá thực trạng để tìm ra một mô hình giám sát Hiến pháp phù hợp với Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến trong hoạt động
và quyết định của các cơ quan công quyền và cơ chế phán quyết các hành vi vi phạm Hiến phán trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Điều này tiếp tục được ghi nhận là một trong những nhiệm vụ để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 không quy định một mô hình giám sát Hiến pháp chuyên biệt Với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu vai trò của giám sát Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp hiện nay, mục đích đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp và lộ trình xây dựng một cơ quan giám sát Hiến pháp độc lập trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền với tư cách là một nhiệm vụ quan trọng trong mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
- Trình bày lịch sử hình thành và phát triển cơ chế giám sát qua trong lịch sử lập hiến Việt Nam
- Định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền và nhiệm vụ thành lập cơ quan tài phán Hiến pháp theo lãnh đạo của Đảng Đánh giá thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp để xây dựng lộ trình để thành lập Tòa án Hiến pháp trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm thế giới
Trang 85 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Tác giả thực hiện đề tài này trên cơ sở phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để xem xét đánh giá các mặt của vấn đề trong mối liên hệ với nhau và xuyên suốt từ lịch sử đến hiện tại Ngoài ra, tác giả còn dựa trên nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước ta
Phương pháp nghiên cứu: Các biện pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, khái quát giá…được sử dụng xuyên suốt khóa luận, tùy thuộc vào từng nội dung mà mức độ sử dụng khác nhau
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Khái niệm về nhà nước pháp quyền
1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền
Thuật ngữ nhà nước pháp quyền được các học giả dịch từ thuật ngữ The Rule of
Law Hiện nay các học giả trong nước và trên thế giới cũng chưa thống nhất khi đưa ra
khái niệm nhà nước pháp quyền
Từ điển Luật học định nghĩa nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền, nhà
nước lấy pháp luật là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc điều hành mọi mặt hoạt động của nhà nước, của xã hội, của mọi công dân, dùng pháp luật làm chuẩn mực để phân biệt tính hợp pháp và không hợp pháp; việc được làm và không được làm trong thi hành pháp luật của các cơ quan và cán bộ nhân viên nhà nước, trong việc tuân thủ pháp luật của mọi công dân, tóm lại một nhà nước phục tùng một trật tự pháp lí loại trừ tình trạng vô chính phủ và tư nhân phục thù, các quyền dân chủ công dân được đảm bảo”2
PSG TS Nguyễn Đăng Dung cho rằng: “The Rule of Law” dùng để chỉ một xã
hội được tổ chức và vận hành trên cơ sở các quyền của tự nhiên, mọi chủ thể trong đó
có cả nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật, các chủ thể được sử dụng tự do pháp luật để làm lợi cho mình, nhưng không được vi phạm sang các quyền và lợi ích của chủ thể khác”3
GS TS Đào Trí Úc nhấn mạnh: “Ngày nay, nói đến nhà nước pháp quyền,
trước hết người ta nói đến sự ngự trị của pháp luật trong đời sống xã hội và chính trị với tư cách là ý chí của nhân dân, có giá trị phổ biến”4
Dù các định nghĩa không hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng có thể hiểu tinh thần thuật ngữ nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức nền dân chủ theo cách quyền lực nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, lấy pháp luật đó làm trung tâm,
2 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 350
3 Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, tr 26
4
Đào Trí Úc (1995), Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề cơ bản Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp
luật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.110
Trang 10nền tảng cho tổ chức, điều hành bộ máy nhà nước, là thướt đo chuẩn mực của hành vi trong xã hội, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền, lợi ích của mọi công dân
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, lịch sử con người sẽ tuần tự xuất hiện năm hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Không có sự xuất hiện và tồn tại một hình thái nhà nước mang tên nhà nước pháp quyền Điều này có ý nghĩa nhà nước pháp quyền không phải một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội mà là sự phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của quyền lực nhân dân trong xã hội được tổ chức thành nhà nước, nó có thể tồn tại ở hình thái kinh tế - xã hội này đồng thời cũng có thể tồn tại ở hình thái kinh tế - xã hội khác
Học thuyết nhà nước pháp quyền được biết đến gắn liền với cách mạng tư sản thế kỉ XVII – XVIII, ra đời trong cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của giai cấp thống trị Bản thân học thuyết hình thành là kết quả của quá trình chống lại mâu thuẫn trong xã hội nên hoàn toàn lý giải được vì sao nhà nước pháp quyền chỉ có thể có được trong sự xác lập và phát triển nền dân chủ
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ra đời cùng với những tư tưởng phát triển dân chủ Ngay từ thời kỳ cổ đại, các nhà tư tưởng đã nêu ra những quan điểm, tư tưởng
đề cao pháp luật, tổ chức nhà nước để thượng tôn pháp luật
Đầu tiên, có thể nói đến nhà tư tưởng Arokhont Salon, nhiếp chính quan người
Hy Lạp ở La Mã (thế kỷ XI Tr CN) Ông đã xác định một số khía cạnh của dân chủ (giải phóng con người) và quy định một số quyền của các công dân tự do trong mối quan hệ với các quan lại nhà nước đồng thời cho rằng cần có sự kết hợp sức mạnh với pháp luật trong tổ chức Nhà nước Ai Cập cổ đại Tư tưởng của ông về vai trò của pháp
luật được diễn đạt như sau: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp
tưởng, các học giả giai đoạn tiếp theo xây dựng và phát triển học thuyết nhà nước pháp quyền
Tiếp sau, nhà triết học Hy Lạp Platon (427-437 Tr CN) cũng có nhận định:
“Tôi đã nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không
5 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr 294
Trang 11có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó Còn ở nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền chỉ là những nô lệ của pháp luật thì đó tôi thấy được sự cứu thoát của
nét và cụ thể hơn Salon Nếu như Salon chỉ nêu ra vai trò của pháp luật trong tổ chức nhà nước thì Platon đã nhận thấy khả năng lạm quyền của nhà cầm quyền trong quản lý
và đòi hỏi thượng tôn pháp luật để duy trì sự tồn tại của nhà nước
Bên cạnh hai nhà tư tưởng trên, nhiều nhà tư tưởng cổ đại khác như: Aristote (384 – 322 Tr CN), Xixeron (104 - 44 Tr CN)…cũng đã chú trọng tới tính tối cao của luật, pháp luật đồng thời quan tâm đến tổ chức nhà nước, sự phân công quyền lực nhà nước Những nhận định đó dù chỉ mới là những tư tưởng, quan điểm sơ khai về dân chủ, vai trò của pháp luật nhưng giữ vai trò nền tảng để các nhà chính trị tư sản thế kỉ XVII – XVIII như John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J Rousseau (1712 - 1778), I Kant (1724 - 1804), Thomas Jefferson (1743 – 1826) , Thomas Paine (1737 - 1809), John Adams (1735 - 1826), Hegel (1770 - 1831)…phát triển và ngày càng hoàn thiện tư tưởng về nhà nước pháp quyền với tư cách như một thế giới quan pháp lý mới Thế giới quan này khẳng định, nêu cao những tư tưởng nhân đạo, các nguyên tắc tự do và bình đẳng của cá nhân, quyền con người là một quyền bất biến, bất khả xâm phạm, chống lại chế độ độc tài, đả kích chuyên chế độc quyền Qua
đó tìm kiếm không ngừng mô hình tổ chức chính quyền, bộ máy nhà nước để tạo nên một trật tự, thiết chế chống lại sự lạm quyền của nhà nước, sự bất công của xã hội đương thời
Trong giai đoạn này, nhà tư tưởng đầu tiên cần nói đến: Montesquieu, luật gia Pháp (1698 – 1755) Trên tiền đề của John Locke (1632 – 1704), ông đã phát triển, hoàn thiện để tạo thành thuyết phân quyền Theo ông, quyền lực được chia làm ba bộ phận, nên giao cho ba cơ quan khác nhau, độc lập và có vị thế ngang nhau, đó là mối quan hệ Lập pháp (Nghị Viện) – Hành pháp (Tổng thống) – Tư pháp (Tòa án) Phân quyền là cơ sở để các bộ phận quyền lực có thể kiểm soát, đối trọng nhau là điều kiện tiên quyết để tránh xu hướng lạm dụng quyền lực để đảm bảo tôn trọng quyền con người, tự do cá nhân7 Đây là nội dung học thuyết phân quyền đồng thời cũng là cốt lõi
6
Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr 294
7 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr 296
Trang 12trong tư tưởng nhà nước pháp quyền của Montesquieu Tư tưởng này đã có ảnh hưởng rất lớn đến cơ sở lý luận tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước tư sản
Ngoài ra, không thể không nhắc đến I Kant (1724-1804), ông là người lập luận
về mặt triết học cho lý luận về nhà nước pháp quyền tư sản Vậy nên cũng không có gì bất hợp lý khi người ta gắn học thuyết này trước hết cho tên tuổi của ông Quan niệm của Kant về nhà nước là tập hợp những con người cùng chịu sự lãnh đạo của các đạo luật về pháp quyền Mục đích của nhà nước là phải đảm bảo sự thắng lợi của pháp luật
và bản thân của nhà nước cũng phải phục tùng những yêu cầu của pháp luật đó Ông tán thành mô hình nhà nước phân quyền, ông cho rằng ở đâu áp dụng nguyên tắc phân quyền thì ở đó có nhà nước pháp quyền không thì chỉ có tập quyền8 Tuy nhiên nhà nước ông hướng đến phải là nhà nước cộng hòa thuần túy, chân chính, nơi luật ngự trị không phụ thuộc bất kì cá nhân nào
Cuối cùng, nhà tư tưởng Heghen (1770 -1831), ông cũng có những tư tưởng về nhà nước pháp quyền Nhưng khác với các nhà tư tưởng trước, cấu trúc nhà nước pháp quyền của Heghen là thần thánh hóa nhà nước Chủ nghĩa nhà nước của ông là duy
tâm: “Nhà nước là sự du ngoạn của trời trên đất”9
Hệ thống những tư tưởng, quan điểm của các học giả trên đã góp phần định hình
và hoàn thiện học thuyết nhà nước pháp quyền Học thuyết này là tiền đề về mặt lý luận cho việc xác định vai trò của pháp luật cũng như mối quan hệ của nó với phương thức tổ chức, xây dựng và cách thức vận hành nhà nước của các nhà nước xã hội hiện đại được người ta hướng đến, gọi là nhà nước pháp quyền Cần nhấn mạnh rằng tư tưởng về nhà nước pháp quyền là một giá trị chung mà nhân loại đạt được trong xã hội
tư sản, chứ không phải sản phẩm riêng của xã hội tư sản
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền được hình thành trong xã hội dân chủ Xây dựng và hiện thực hóa nền dân chủ, xây dựng một nhà nước mà nhân dân là chủ thể nắm quyền lực chính trị, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền
8
Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr 296
9 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.296
Trang 13Quan điểm của các nhà tư tưởng, nhà lý luận chính trị - pháp lý trong lịch sử phát triển tư tưởng về hình thức tổ chức nhà nước này cũng không giống nhau về cách trình bày Tuy nhiên, phổ quát lại đây là những đặc trưng sau được đề cập nhiều, cũng như nhận được sự đồng tình đa số của các học giả:
Thứ nhất, giá trị khuôn mẫu của pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật trong
nhà nước pháp quyền là chuẩn mực, thước đo để hướng dẫn, điều chỉnh và đánh giá hành vi của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Trong đó, Hiến pháp ở vị trí cao nhất Nhà nước, pháp luật phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
“Chắn chắn bất cứ ai thiết kế các Hiến pháp thành văn đều đặt vấn đề là đạo luật cơ bản và tối cao của quốc gia, thì tất yếu lý thuyết hình thành chính quyền trên nền tảng
Điều khác biệt rõ nét nhất giữa pháp quyền và pháp trị Trong nhà nước pháp trị, pháp luật cũng đóng một vai trò rất lớn trong Điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong nhà nước, tuy nhiên, pháp luật khi đó là một công cụ để giai cấp thống trị cai trị đất nước, nghĩa là giai cấp thống trị đứng trên pháp luật Trong nhà nước pháp quyền lý tưởng, Hiến pháp có vị trí tối cao, dù là cơ quan nhà nước nào cũng không đặt phép tùy tiện có những hành vi, văn bản trái với nội dung, tinh thần Hiến pháp Nghĩa là phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và các luật là rộng khắp, không loại trừ một chủ thể nào trong xã hội
Thứ hai, quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức theo
nguyên tắc dân chủ, phân định rõ ràng, kiểm soát quyền lực được thực hiện triệt để, hiệu quả theo ba chức năng cơ bản của nhà nước là làm luật, thực thi pháp luật và xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi Các nhà tư tưởng ở nhà nước tư sản
cho rằng “bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực, lập
pháp, hành pháp, tư pháp Mỗi quyền lực thực hiện một chức năng riêng, có vị trí ngang nhau để có nhiều khả năng hạn chế, kiềm chế hành vi lộng quyền và lạm quyền
Yêu cầu Tư pháp độc lập cũng là một phần đặc trưng của nhà nước pháp
quyền
10 Dẫn lại từ Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với việc
bảo đảm quyền con người, NXB Giáo dục Việt Nam, TP HCM, tr.13
11
Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr 300
Trang 14Thứ ba, xác định vị trí trung tâm của con người trong nhà nước pháp quyền Lúc
này, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất Một trong những tiêu chí để đánh giá
tính pháp quyền của một chế độ nhà nước là khả năng công dân được thực hiện quyền của mình trên thực tế Bởi lẽ, dân chủ là điều kiện, cơ sở cũng như là mục đích hướng đến của nhà nước pháp quyền Do đó, hoạt động của nhà nước phải bắt nguồn từ sự tôn trọng quyền con người, tạo hành lang pháp lý an toàn để họ thực hiện các quyền của mình theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm
Thứ tư, ở phương diện đối ngoại, nhà nước pháp quyền cần thực hiện đầy đủ
nguyên tắc Pacta sunt servanda (tạm dịch: tận tâm thực hiện cam kết quốc tế) Cam kết
quốc tế cũng được xem là luật chung của các bên tham gia, thực hiện nguyên tắc này nghĩa là quốc gia ký kết, công nhận hoặc thừa nhận điều ước quốc tế, bằng khả năng kinh tế, chính trị của mình hiện thực hóa các cam kết đối với các quốc gia tham gia khác Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với công dân của các quốc gia liên quan, mà còn có ý nghĩa với chính uy tín của quốc gia trên trường quốc tế
Thứ năm, nhà nước pháp quyền gắn với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp
luật phù hợp Bất kì quốc gia nào theo chủ nghĩa Hiến pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, thì đều có cơ chế giám sát Hiến pháp Dù là mô hình giám sát tập trung, chuyên trách hay giao cho cơ quan lập hiến thực hiện, thì các nước cũng đều hướng đến một mục đích chung đó là đảm bảo bảo tính tối cao của Hiến pháp Tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình giám sát nào phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thích hợp của một mô hình với điều kiện chính trị, xã hội, thể chế của từng quốc gia cụ thể Dù vậy, có thể nói, xây dựng và phát triển cơ quan bảo hiến không những trở thành nhu cầu của mỗi quốc gia, mà còn là xu thế chung toàn cầu
1.2 Giám sát Hiến pháp và vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền
1.2.1 Khái niệm giám sát Hiến pháp
Thuật ngữ giám sát Hiến pháp lần đầu tiên được đưa ra trong Hội nghị lập hiến
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787 Theo mô hình của Hoa Kỳ, giám sát Hiến pháp được hiểu là giám sát tư pháp (Judicial review) - thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan hoặc các cấp chính
Trang 15quyền khác Ở châu Âu, thuật ngữ này xuất hiện cùng với mô hình Tòa án Hiến pháp của H Kensel
Theo từ điển Tiếng Việt: “giám sát là hoạt động theo dõi và kiểm tra xem có
được hiểu là hoạt động theo dõi, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan khác về việc thực hiện các quy định của Hiến pháp Ở nước ta hiện nay vẫn chưa thống nhất khái niệm giám sát Hiến pháp
Có học giả cho rằng giám sát Hiến pháp “là tổng hợp các biện pháp giữ gìn,
này, giám sát Hiến pháp được hiểu theo nghĩa rộng đồng thời tương đồng về nghĩa với
thuật ngữ đảm bảo thi hành Hiến pháp Lúc này, giám sát Hiến pháp có nội hàm gồm
tổng hợp các cơ chế nhằm bảo đảm tôn trọng Hiến pháp như cơ chế chính trị, cơ chế pháp lý, cơ chế xã hội Tuy nhiên, có thể thấy nội hàm được hiểu như vậy quá rộng trên thực tế áp dụng thuật ngữ giám sát Hiến pháp trên thế giới hiện nay - Giám sát Hiến pháp được tiến hành chỉ khi có sự vi phạm Hiến pháp của công quyền Như vậy, giám
sát Hiến pháp được vận hành khi đáp ứng có hai điều kiện: thứ nhất, có hành vi vi phạm Hiến pháp xảy ra trên thực tế; thứ hai, hành vi vi phạm này của công quyền, đối
tượng giám sát Hiến pháp chính là công quyền
Nhóm quan điểm còn lại cho rằng giám sát Hiến pháp “là hoạt động của chủ
thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản luật,
Ý nghĩa
giám sát Hiến pháp theo quan điểm này khá chật hẹp: chỉ kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật Thực tiễn giám sát Hiến pháp cũng đã chứng minh các định chế giám sát Hiến pháp ra đời không chỉ để thực hiện xem xét tính hợp hiến hay bất hợp hiến của đạo luật mà còn thực hiện nhiều chức năng khác như giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương, giữa cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương
và địa phương; xem xét tính hợp hiến của cuộc bầu cử nguyên thủ quốc gia…(chẳng hạn Tòa án Hiến pháp của các quốc gia châu Âu)
12 Hoàng Phê (chủ biên)(2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, tr 391
13 Đặng Văn Chiến (chủ biên)(2005), Cơ chế bảo hiến, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.17
14
Hồ Đức Anh(2006), “Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam”, Dân chủ và pháp luật, (06),
tr.32
Trang 16Ngày nay, dựa vào thẩm quyền của giám sát Hiến pháp, có thể thấy giám sát Hiến pháp ngày nay không được sử dụng theo nghĩa rộng Tuy nhiên, cũng ra thoát khỏi sự chật hẹp trong nội hàm nghĩa hẹp Giám sát Hiến pháp thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần Hiến pháp mà không chỉ dừng lại ở xem xét
tính hợp hiến của đạo luật Nhưng, “ý nghĩa cốt lõi của giám sát Hiến pháp vẫn là
kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp”15
Cần phân biệt giám sát Hiến pháp và đảm bảo thi hành Hiến pháp Đảm bảo thi
hành Hiến pháp ra đời từ tư duy của pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm triển khai, thực tế hóa các quy định của Hiến pháp qua tuyên truyền, giáo dục…Còn giám sát Hiến pháp lại là sản phẩm của pháp quyền, với mục tiêu xử lý các vi phạm của công quyền khi thực thi Hiến pháp, hướng tới giám sát quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền và tự
do của con người
1.2.2 Vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền
Một bản Hiến pháp dù cổ điển hay hiện đại đều xác nhận chủ quyền chính trị tối cao của nhân dân Còn bản thân nhà nước pháp quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật - Hiến pháp Nghĩa là một bản Hiến pháp phù hợp được xem như cơ chế vận hành, hoạt động của bộ máy nhà nước và duy trì trật
tự xã hội trong nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, “theo Kant nhà nước là tập hợp
những con người cùng phục tùng các đạo luật pháp quyền”16 Mà con người không
phải lúc nào cũng làm đúng Điều này xảy ra những tình huống:
Một là, các thiết chế quyền lực có thể không xác định đúng phạm vi thẩm quyền
của mình dẫn đến tình trạng tranh chấp trong thực hiện quyền lực, dễ dẫn đến lạm quyền
Hai là, các cơ quan ban hành khi thực thi quyền lực qua áp dụng pháp luật đã
vượt quá thẩm quyền với các biểu hiện như ban hành các văn bản, quyết định trái với Hiến pháp, pháp luật
15 Xem thêm Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với việc
bảo đảm quyền con người, NXB Giáo dục Việt Nam, TP HCM, tr.26
16
Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, NXB Quân
đội, Hà Nội, tr.296
Trang 17Ba là, những đạo luật, hành vi ra đời gây tổn hại cho đời sống xã hội, xâm phạm
các quyền con người hiến định
Trước tiên, giám sát Hiến pháp được trao cho thẩm quyền đầu tiên để giải quyết
các tình huống trên: giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của chính quyền trung ương – địa phương, đặc biệt liên quan đến việc thực thi pháp luật của trung ương hay liên quan đến hoạt động giám sát chính quyền địa phương; tranh chấp khác theo luật công giữa chính quyền trung ương và địa phương hoặc giữa chính quyền địa phương với nhau cũng như trong nội bộ chính quyền địa phương
Thứ hai, giám sát Hiến pháp có vai trò trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của
công dân Khởi nguồn từ quyền khiếu nại Hiến pháp mà giám sát Hiến pháp trở thành công cụ cho công dân thực hiện quyền của mình Có thể xem quy định tại Hiến pháp Liên bang Đức là một ví dụ cho việc này “Mọi người đều có thể khiếu nại tại Tòa án Hiến pháp Liên bang khi họ cho rằng quyền cơ bản của họ hay các quyền tương tự như quyền cơ bản bị vi phạm bởi một văn bản hay quyết định của chính quyền nhà nước”
Ở góc độ này, quyền cơ bản hay tương tự cơ bản của công dân dưới hoạt động của tài phán Hiến pháp mới đảm bảo được thực thi thực thi, trên cơ sở hợp hiến của pháp luật hiện hành chứ không là những tuyên ngôn, lý thuyết mà nhà nước mong muốn hướng tới, tuy nhiên vì nhiều lý do mà chưa thực hiện được
Thứ ba, chức năng được nói tới là chức năng giáo dục Giáo dục với cả công
dân – người khiếu nại, với cả cơ quan nhà nước đưa ra văn bản hoặc có hành vi vi hiến Bản thân công dân, khiếu nại Hiến pháp giúp họ tự chủ được việc bảo vệ quyền của mình trước sự xâm phạm của cơ quan nhà nước Với cơ quan đã đưa ra văn bản, có hành vi vi hiến, giám sát Hiến pháp tác động đến toàn bộ xử sự của hệ thống công quyền, không áp dụng văn bản, hành vi vi hiến cho trường hợp tương tự, cũng như tạo
ra cơ hội mới cho cái nhìn về quy định của Hiến pháp Khi không có chức năng giám sát Hiến pháp, cơ quan công quyền mặc nhiên xem họ đúng, do đó, cái nhìn chưa đúng
về Hiến pháp được duy trì, tiếp tục trong hiện tại và tương lai
Ngoài ra, giám sát Hiến pháp còn thêm chức năng giải thích Hiến pháp, giải quyết các tranh chấp về bầu cử và trưng cầu dân ý Hiến pháp ra đời trên ý chí của nhân dân, hoặc đại diện của nhân dân Tuy nhiên, không phải lúc nào nội dung của Hiến pháp cũng có thể được áp dụng trực tiếp, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thay
Trang 18đổi không ngừng, còn Hiến pháp tĩnh tương đối, ổn định lâu dài, nên thường có tính trừu tượng Cơ quan nhà nước bằng việc ban hành luật, văn bản dưới luật để cụ thể hóa, thực thi các quy định của Hiến pháp khó tránh khỏi hiện tượng xung đột thẩm quyền hay vượt quá tinh thần, nội dung Hiến pháp quy định Nên nhu cầu giải thích Hiến pháp được đặt ra Lời giải thích của cơ quan giám sát Hiến pháp được xem như trọng tài trong trường hợp mâu thuẫn xảy ra giữa các cơ quan nhà nước, các văn bản pháp luật trong quá trình đời sống hóa Hiến pháp
Những chức năng này có được bởi sự đặc biệt của cơ quan giám sát như: cách thức thành lập, tổ chức, tố tụng, sự tác động đến các cơ quan khác Giám sát Hiến pháp theo xu hướng hiện đại được giao cho cơ quan tư pháp Lịch sử hình thành cơ quan tư pháp đã khẳng định sự độc lập của nhánh quyền lực này, không mang tính chính trị như lập pháp và hành pháp, phán quyết của tư pháp chỉ dựa trên pháp luật, công lý, lẽ phải Ngoài ra, dù quá trình để một công dân trở thành thẩm phán ở các quốc gia là khác nhau, nhưng điểm chung đều rất phức tạp và khó khăn Vậy nên, khi trở thành thẩm phán, họ có đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm cũng như bản lĩnh để đưa ra phán quyết đúng đắn nhất
Đây là chức năng phổ biến của các mô hình giám sát trên thế giới, bao gồm các quyền:
- Tuyên bố về sự không hợp hiến của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khi chúng có nội dung không đúng với quy định của Hiến pháp (Từ năm 1787 đến năm 1973, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố 122 đạo luật của Nghị viện Hoa Kỳ là vi hiến (trong tổng số hơn 35.000 đạo luật ban hành), cũng trong thời gian đó, gần 950 đạo luật của Quốc hội các bang bị Tòa án tối cao tuyên bố vi phạm Hiến pháp Liên bang17)
- Giải quyết các tranh chấp liên quan đến hiệu lực, việc áp dụng và giải thích Hiến pháp
- Quyết định về tính hợp hiến của cuộc bầu cử Tổng thống
- Xem xét và quyết định về tính hợp hiến của các cuộc bầu cử vào cơ quan lập pháp, tính hợp hiến của việc tiến hành và kết quả cuộc trưng cầu dân ý
17 Tham khảo Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hiến pháp và các văn bản pháp luật NXB Tiến bộ, Maxcova, 1973, tr
15 (Dẫn lại từ Nguyễn Như Phát (2011), Tài phán Hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc
tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 413)
Trang 19(21.8.2012, Tòa án Hiến pháp Rumani đã ra quyết định không công nhận kết quả cuộc trưng cầu ý dân về luận tội Tổng thống Traian Baxexcu (Traian Basescu) do tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu không vượt mức quá bán (50%+1) để có giá trị theo luật định)18
- Quyết định về vấn đề cách chức quan chức nhà nước đặc biệt (Với phán quyết khẳng định việc thuyên chuyển cán bộ năm 2011 của Thủ tướng Yingluck Shinawatra là vi hiến, Tòa án Hiến pháp Thái Lan ngày 7-5-2014 phế truất cương vị của nữ thủ tướng nước này)19
- Quyết định sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
Chung quy lại, chúng ta cần một cơ quan giám sát Hiến pháp để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp tránh khỏi sự tùy tiện, nguyên thủy hóa thẩm quyền của các thiết chế, bảo hộ quyền tự do của công dân – nội dung cốt lõi của một bản Hiến pháp Vậy nên với vai trò là công cụ duy trì, bảo vệ chế độ nhà nước pháp quyền và nền dân chủ, giám sát Hiến pháp trước hết có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra, đánh giá các văn bản, hành vi của thiết chế quyền lực về tính hợp hiến của nó trên cơ sở làm sáng tỏ tinh thần Hiến pháp, phân tích nội dung, ý chí và mục đích của luật để từ đó đưa ra phán
quyết Giám sát Hiến pháp ra đời để “đảm bảo tính hợp hiến của mọi quyền lực nhà
nước và của các hành vi xã hội”20
1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp
1.3.1 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp
Cơ chế giám sát Hiến pháp là hệ thống những thành tố, hình thức, thiết chế, thủ tục mà qua đó Hiến pháp được bảo vệ Cơ chế giám sát Hiến pháp thực chất là công cụ, phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo quyền lực đó thuộc về nhân dân
Cơ chế giám sát Hiến pháp hình thành nên từ cơ sở một Hiến pháp cương tính Một Hiến pháp không bị thay đổi bởi chủ thể thông thường, thủ tục thông thường, bởi
http://cadn.com.vn/news/92_113951_to-a-a-n-hie-n-pha-p-tha-i-lan-phe-trua-t-thu-tuo-ng-yingluck-shinawatra.aspx (ngày truy cập 17.6.2014)
20 Nguyễn Như Phát (2011) Tài phán Hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng
áp dụng cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 144
Trang 20đạo luật thường người ta mới đặt ra vấn đề giám sát Hiến pháp Ở các quốc gia không
có sự phân biệt giữa Hiến pháp và đạo luật thường thì không có sự mâu thuẫn với nhau Khi mà đạo luật thường có thể sửa đổi được nội dung Hiến pháp, vị trí của Hiến pháp không được đề cao, không chiếm ưu thế trước luật thường, đồng nghĩa việc không thể dùng Hiến pháp để hạn chế quyền lực nhà nước thì giám sát Hiến pháp trở nên vô nghĩa trong chế độ Hiến pháp nhu tính
1.3.2 Những yếu tố cơ bản trong giám sát Hiến pháp
Giám sát Hiến pháp gồm nhiều nội dung Trong đó hai yếu tố chủ thể thực hiện giám sát Hiến pháp và đối tượng của giám sát Hiến pháp giữa vai trò vô cùng quan trọng Xác định đúng đắn chủ thể thực hiện và đối tượng của giám sát Hiến pháp là cơ
sở để định hướng phát triển mô hình giám sát Hiến pháp phù hợp Bởi lẽ khi nắm rõ hai yếu tố này nhà cầm quyền có thể hoạch định để xây dựng nền tảng chính trị, pháp
lý, tâm lý xã hội, cũng như các yếu tố về mặt kỹ thuật để mô hình giám sát Hiến pháp
ra đời mang lại hiệu quả cao nhất
Chủ thể thực hiện giám sát Hiến pháp
Chủ thể giám sát Hiến pháp có sự thay đổi từ thời kì đầu của nền lập hiến đến nay Buổi đầu lập hiến, người ta quan niệm cơ quan dân cử là chủ thể hợp lý cũng như thuận lợi nhất để thực hiện chức năng này Bởi lẽ, Hiến pháp ra đời là kết quả của quá trình đấu tranh dân chủ Cơ quan dân cử đại diện cho ý chí nhân dân nên về mặt thẩm quyền nó cũng là cơ quan có nhiều quyền lực nhất, có thể kiểm soát được sự vi phạm của nhánh hành pháp Là cơ quan thành lập ra Hiến pháp, nên có điều kiện để giải thích Hiến pháp, nhận thấy được khi nào là vi hiến, khi nào là hợp hiến của các đạo luật, các hành vi Ngoài ra, một nhận thức cổ điển nữa, bản thân cơ quan dân cử hình thành nên Hiến pháp nên sẽ tạo ra một quyết tâm cao để bảo vệ tính tối cao của đạo luật đặc biệt này Mới nhìn, có thể thấy lập luận này rất ổn, hợp lý Tuy nhiên, quan niệm này đã trở nên không phù hợp
Lý luận Hiến pháp học phân tích rằng cơ quan chính trị có khuynh hướng xem xét vấn đề trên khía cạnh chính trị hơn là pháp lý Mà kiểm soát tính hợp hiến là một
hành vi mang tính pháp lý chứ không là hành vi chính trị “Một cơ quan chính trị, kiểm
soát dễ sai lạc vì cơ quan này nghĩ đến nhiều đến lợi ích của đạo luật, tính cách hợp
Trang 21thời của nó, cũng như giá trị thực tiễn của nó”21 Trao chức năng giám sát cho tư pháp hợp lý hơn bởi tính chất đặc biệt của nó hơn hai nhánh quyền lực còn lại, độc lập và có chuyên môn pháp lý cao
Mặt khác, lập pháp và hành pháp một nhánh giữ quyền quy định xử sự xã hội, một bên triển khai pháp luật vào đời sống Vì điều này nên có thể khẳng định khả năng lạm quyền của hai nhánh quyền lực trên Trong khi đó, Tòa án qua mô tả của
Hamilton: “Ngành tư pháp, trái lại không có quyền sử dụng vũ lực hoặc kiểm soát tài
chính, không có quyền chi phối tài sản lẫn sức mạnh của xã hội, và cũng không có một quyền quyết định tích cực nào cả Có thể nói được rằng ngành tư pháp vừa không có lực lượng lại vừa không có ý chí, chỉ có trí phán đoán mà thôi, và cần phải dựa trên sự trợ tá của ngành hành pháp mới có thể thi hành được phán quyết của trí phán đoán mình” Nhánh tư pháp không thể đủ điều kiện để lạm quyền Ngoài ra, thiết kế của Tòa
án độc lập tương đối với hai nhánh quyền lực, chức năng là phán xét các hành vi để duy trì sự thống lĩnh của pháp luật trong đời sống
Chính vì vậy mà khi thành lập cơ quan giám sát Hiến pháp, các quốc gia có xu hướng trao quyền này cho nhánh tư pháp hoặc ít nhất là phương thức tổ chức, thực hiện của cơ quan giám sát độc lập với nhánh lập pháp và hành pháp
Đối tượng xem xét
Đối tượng được xem xét trong giám sát Hiến pháp bao gồm:
- Các văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp: luật, văn bản dưới luật, các bản án, quyết định của nhánh tư pháp
- Văn bản hành chính của các tổ chức chính trị được nhà nước trao quyền quản lý
- Điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật quốc gia
- Hành vi vi phạm Hiến pháp của các cá nhân có thẩm quyền
Tùy thuộc vào mô hình giám sát Hiến pháp, phương pháp tổ chức quyền lực, mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực với nhau, mà đối tượng xem xét có thể là một, một số hoặc tất cả các đối tượng trên
21
Xem thêm Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với việc
bảo đảm quyền con người,Nxb Giáo dục Việt Nam, TP HCM, tr.26.
Trang 22Khi thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp, đối tượng được xem xét trước tiên
là các đạo luật, các văn bản ban hành Bởi lẽ đạo luật là cơ sở khuôn mẫu cho xử sự xã hội, trong nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật mà tối cao là Hiến pháp nên đối tượng chủ yếu, quan trọng nhất khi giám sát Hiến pháp là các đạo luật
1.3.3 Hình thức giám sát Hiến pháp và việc xử lý các trường hợp vi phạm Hiến pháp
1.3.3.1 Hình thức giám sát Hiến pháp
Có hai hình thức giám sát Hiến pháp: Giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể Giám sát trừu tượng là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản luật mà không gắn liền với một vụ việc cụ thể Giám sát trừu tượng là phương thức gắn liền với giám sát trước (nghĩa là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của luật trước khi thông qua, có hiệu lực) Giám sát trước xảy ra khi có một trong các chủ thể có thẩm quyền đề nghị xem xét Thông thường các nước giới hạn chủ thể này là tổng thống, chủ tịch hai viện, hoặc một số lượng nghị sĩ nhất định mới có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét Tuy nhiên, cũng có một số nước không giới hạn chủ thể có quyền này (Ví dụ công dân Hungary theo Điều 32A Hiến pháp Hungary) Phán quyết của phương pháp trừu tượng hướng đến chính phủ vì không gắn liền một vụ việc nên pháp quyết không tác động đến người yêu cầu
Hình thức giám sát cụ thể gắn liền với một vụ việc cụ thể, đòi hỏi của hình thức giám sát này đó là việc đưa ra pháp quyết về tính hợp hiến mới có thể giải quyết được
vụ việc Do đó có thể thấy, giám sát cụ thể đa số gặp ở giám sát sau, khi đạo luật đã có hiệu lực trong đời sống và đã tác động đến quyền lợi của công dân Chủ thể thực hiện quyền này thường là pháp nhân và thể nhân – những chủ thể đã trực tiếp chịu tác động của đạo luật đó
1.3.3.2 Kết quả xử lý
Kết quả pháp lý của quá trình giám sát Hiến pháp là kết quả nhận được của một quá trình giải quyết Đạo luật, hành vi bị xem xét có thể chịu một trong những hậu quả:
Trang 23- Nghị viện (Quốc hội) hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản để đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ văn bản được coi là vi hiến (Mô hình cơ quan dân cử thực hiện chức năng giám sát)
- Cơ quan giám sát tuyên bố đạo luật không có giá trị pháp lý, nghĩa là không được áp dụng trên thực tế, còn việc sửa đổi, hay bãi bỏ đạo luật do Nghị viện quyết định (Mô hình giám sát của Hoa Kỳ)
- Cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên bố đạo luật, hành vi là vi hiến (Mô hình tài phán của Anh, Đức)
1.3.4 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới Ưu và nhược điểm 1.3.4.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung
Lịch sử hình thành
Với lý thuyết Hiến pháp tối cao, tại hội nghị lập hiến Philadenphia 1787, những đại biểu thông thái như Jame Madison, George Mason, James Wilson, Gouverneur Moris, Hugh Williamson, Luther Martin và Rufus King đã nhận thấy được vai trò của nhánh tư pháp trong việc giới hạn quyền lực của nhánh hành pháp, nêu ý kiến về việc hình thành chế độ tài phán Hiến pháp của Hoa Kỳ Tuy nhiên các đại biểu trên đã không thuyết phục được hội đồng Do vậy, quyền giám sát của Tòa án đối không được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ và các tu chính sau đó
Trong hệ thống Common Law, án lệ đóng vai trò trong việc tạo ra luật, bổ khuyết cho những quy định của luật thành văn Điều này lại được khẳng định một lần nữa vào năm 1803 Khi ấy, Chánh án Tòa án tối cao Liên bang là John Marshall tạo ra án lệ về việc Tòa án tối cao Liên bang tuyên bố một đạo luật của Nghị viện là vi hiến cũng như xác lập nên học thuyết về tài phán Hiến pháp Hoa kỳ Nội dung phán quyết có thể tóm tắt như sau: Hiến pháp là tối cao, bởi vậy nên đạo luật thường trái với Hiến pháp thì bị coi là vô hiệu Hình thành nguyên tắc là tất cả các luật và hoạt động của chính quyền phải phù hợp với Hiến pháp, bất cứ cá nhân nào tin là các quyền hiến định của mình đang bị vi phạm bởi bất cứ cấp chính quyền nào – Liên bang, bang hay địa phương - đều có thể được phân xử theo trình tự tố tụng thích hợp Chính phán quyết của ông đã tạo nên một cơ chế giám sát Hiến pháp đặc biệt Mô hình giám sát phi tập trung – Thẩm quyền thuộc về hệ thống Tòa án thường
Trang 24Theo gương Hoa Kỳ, các nước Brazil (1891), Uruguay (1917) lần lượt xác lập quyền bảo hiến của toà án
Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mô hình của Hoa Kỳ, các nước như Na Uy, Hy Lạp và một số bang của Thuỵ Sĩ cũng thiết lập quyền giám sát Hiến pháp của toà án
Chủ thể giám sát
Chủ thể giám sát của mô hình này có hai dạng Một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Philippin và các nước Bắc Âu bất kì Tòa án nào cũng có thẩm quyền giám sát Dạng khác thì chỉ các tòa cấp cao nhất như tòa tối cao, hoặc tòa tối cao của bang mới
có thẩm quyền giám sát Hiến pháp Tuy nhiên, vì phương thức tổ chức nên phán quyết của Tòa án tối cao có giá trị pháp lý cao nhất, mang tính chất chung thẩm
Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung là mô hình giao việc giám sát Hiến pháp cho Tòa án trên cơ sở kiềm chế đối trọng trong mối quan hệ giữa tư pháp – hành pháp và lập pháp Vì vậy, mô hình này chỉ áp dụng hiệu quả ở những nước phân quyền mạnh mẽ, thực hiện triệt để quan điểm đảm bảo sự độc lập của ngành tư pháp đối với
lập pháp, hành pháp Charles De Secondat Mongtesquieu, từng viết: “Sẽ không có tự
án lệ cũng là một lợi thế nếu áp dụng mô hình này Bởi phán quyết của Tòa án có giá trị chung theo chiều ngang, và chiều dọc đối với Tòa án tối cao, nên việc tuyên đạo luật không có giá trị pháp lý sẽ dẫn đến kết quả, đạo luật đó mất giá trị pháp lý trên phạm vi
cả nước và sau này
Phương pháp giám sát
Phương pháp của mô hình bảo hiến phi tập trung là giám sát cụ thể Việc kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật bắt đầu khi Tòa án giải quyết vụ việc nhận thấy cần phải xem xét tính hợp hiến của đạo luật trước khi giải quyết đúng đắn vụ án
Đặc điểm mô hình
Mô hình bảo hiến phi tập trung có thể được mô tả bởi những đặc điểm:
22
Mongtesquieu Charles De Secondat(1996) Tinh thần pháp luật (De L.Esprit de lois), NXB Giáo dục, Trường
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Khoa luật, Hà Nội, tr.101
Trang 25- Các Tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Đây là đặc điểm rõ ràng nhất để phân biệt mô hình bảo hiến tập trung hay phi tập trung Nếu như ở mô hình tập trung, xem xét tính hợp hiến của hành vi, văn bản được giao cho một cơ quan duy nhất, cơ quan này cũng chỉ thực hiện chức năng giám sát Hiến pháp thì ở mô hình phi tập trung lại không có cơ quan nào chuyên thực hiện vấn đề này Có thể phân tích mô hình của Hoa Kỳ, việc giám sát Hiến pháp thuộc về thẩm quyền của toàn hệ thống Tòa án
- Quyền bảo hiến gắn với một vụ việc cụ thể
- Tòa án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi nó trái ngược một cách hoàn toàn với Hiến pháp, và việc xem xét tình hợp hiến là điều kiện để giải quyết, nghĩa là nếu thẩm pháp không xem xét tính hợp hiến của đạo luật mà vẫn có thể giải quyết vụ việc làm hài lòng các đương sự thì thẩm phán không được tuyên đạo luật vi hiến Điều này như một sự tôn trọng đối với sản phẩm của
nó không phải là tiền lệ thì sẽ không có giá trị bắt buộc các tòa khác tuân theo mà chỉ nằm ở chừng mực tham khảo cho các thẩm phán khi xảy ra vụ việc tương tự về mặt tình tiết
- Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của đạo luật không có hiệu lực chung thẩm mà có thể bị xem xét lại bởi Tòa án cấp trên Vì hệ thống Tòa án gồm nhiều thứ bậc, đứng đầu là Tòa án tối cao Chỉ có phán quyết của Tòa
án tối cao mới có giá trị chung thẩm, bắt buộc thi hành chung trên toàn lãnh thổ
Trang 26Ưu điểm
Giám sát sau, phương pháp giám sát cụ thể, đồng thời hậu quả pháp lý là tuyên đạo luật không có giá trị pháp lý, không tuyên bãi bỏ, sửa đổi hay đình chỉ đạo luật, thể hiện sự độc lập, không can thiệp vào lĩnh vực lập pháp của Tòa án Không phải mất nhiều thời gian để kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật
Nhược điểm
Nhược điểm của mô hình cũng là nhược điểm của biện pháp giám sát, vì là giám sát cụ thể nên đạo luật có nguy cơ vi hiến vẫn được thông qua và có giá trị thi hành trên thực tế, nó có thể đã tạo ra hậu quả cho xã hội trong thời gian có hiệu lực Ngoài ra, trên cơ sở văn bản vi hiến, trong giờ gian còn hiệu lực pháp luật, có thể cơ quan nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn, điều này dẫn đến việc bác bỏ đạo luật là bác
bỏ toàn bộ hệ thống văn bản đi kèm, gây ra lãng phí, tốn kém không cần thiết
1.3.4.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung
Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung (Concentrated system) được chia thành hai loại: Tòa án Hiến pháp (Constitutional Court) và Hội đồng bảo hiến (Constitutional Council) - Mô hình châu Âu lục địa
Lịch sử hình thành
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước châu Âu đã xây dựng mô hình giám sát Hiến pháp riêng của mình Người khởi xướng ra mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp đó là luật sư người Áo - Hans Kelsen
Quan điểm của H Kelsen đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp nước Cộng hoà Áo 1920 Các học giả Áo đã gắn tên tuổi của H Kelsen với sự xuất hiện trong Hiến pháp Áo năm 1920 thiết chế giám sát tư pháp tính hợp hiến của các đạo luật - Toà án Hiến pháp Tuy nhiên mô hình lại phát triển như một thiết chế tiêu biểu tại cộng hòa Liên bang Đức
Mô hình Tòa án Hiến pháp độc lập vừa phù hợp với lịch sử thói quen coi trọng Nghị viện, khi Tòa án không đủ độc lập và mạnh mẽ để có thể áp dụng mô hình giám sát như của Hoa Kỳ Cùng với những ưu điểm của nó nên tỷ lệ các nước sử dụng mô
Trang 27hình này để giám sát Hiến pháp khá cao (khoảng 37,7% 23 Tính trên tỉ lệ các mô hình Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến, Mô hình hỗn hợp, Tòa án tư pháp đồng thời là
cơ quan giám sát)
Cùng là chế độ Cộng hòa nhưng Pháp lại không thể áp dụng được mô hình bảo hiến của Đức bởi đặc trưng đa đảng không có đảng chiếm ưu thế Năm 1958, Hội đồng bảo hiến được ra đời như sự kết hợp của hai mô hình giám sát cổ điển trên Tuy nhiên, đây không phải là Tòa án mà được thành lập như một thiết chế quyền lực ngang hàng với cơ quan hành pháp, được thành lập để thực hiện chức năng chính trị nhiều hơn chức năng tư pháp
Hội đồng bảo hiến là mô hình đặc biệt kết hợp mô hình Tòa án Hiến pháp của Đức và giám sát phi tập trung của Hoa Kỳ Sản phẩm được tạo ra bởi Tổng thống De Gaulle, được ghi nhận trong Hiến pháp 1958 Thiết chế này tạo ra để phù hợp nền cộng hòa lưỡng tính, chế độ nghị viện hợp lý và đề cao tổng thống
Nếu mô hình của Hoa Kỳ dựa trên học thuyết phân quyền của Montesquieu, thì giám sát tập trung được xây dựng trên nền tảng ý chí tối cao của nhân dân – Rousseau Đây là mô hình phù hợp với các nước cộng hòa, đề cao Nghị viện Bởi lẽ, khi đề cao Nghị viện, nghĩa là thừa nhận vị trí tối cao của Nghị viện trong bộ máy nhà nước, hệ thống tòa án thường ở một vị thế không đủ sức để kiểm soát, đối trọng, càng không đủ thẩm quyền để tuyên vi hiến đạo luật của cơ quan đại diện cho ý chí nhân dân – cơ quan lập pháp Nên việc xây dựng một thiết chế độc lập với các cơ quan nhà nước, đứng ngoài ba nhánh quyền lực truyền thống là cần thiết để đảm bảo hiệu lực của phán quyết
Hơn nữa, ở các nước theo truyền thống dân luật, tôn trọng án lệ là điều không được đề cao Các nước áp dụng nguyên tắc án lệ, một phán quyết mang tính tiền lệ được đưa ra sẽ ràng buộc các Tòa án khác tuân theo Tuy nhiên, điều này không xảy ra với các nước dân luật Mỗi thẩm phán sẽ có một nhận xét khác nhau về tính vi hoặc hợp hiến của đạo luật Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp một đạo luật được thẩm phán này xem hợp hiến nhưng thẩm phán khác xem là vi hiến Một thiết chế độc lập ra đời còn đảm bảo tính thống nhất pháp luật
23 Tính toán dựa vào nguồn: Đặng Văn Chiến (2005), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tư pháp, Hà Nội
Trang 28Chủ thể giám sát
Tòa án Hiến pháp thông thường có 9 đến 15 thẩm phán Những Tòa án Hiến pháp có 9 thẩm phán như Pháp, Italia, Campuchia, 11 thẩm phán như Ba Lan, Thái Lan, 18 thẩm phán như Ukraina và đông nhất là 19 thẩm phán của Liên bang Nga Nhiệm kỳ thường gặp là 9 năm
Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp thường được lựa chọn từ những giáo sư, thẩm phán, luật sư, chính khách có uy tín Thông thường 1/3 số lượng thẩm phán Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm, 1/3 khác do thượng viện bầu, 1/3 còn lại do hạ viện bầu Và quy định các thẩm phán này không phải là thành viên của Chính phủ, Nghị viện hoặc thẩm phán Tòa án tư pháp, Tòa án hành chính…nghĩa là đây là chức vụ không cho phép kiêm nhiệm chức vụ khác
Hội đồng bảo hiến (Pháp, Mozambic, Marocco, Kazakhstan), ban Hiến pháp thuộc Tòa án tối cao (Costa Rica, Burkina Faso), Hội đồng Điều tra giám sát Hiến pháp (Etiopia), trong các công trình nghiên cứu, hầu hết các học giả không tách biệt các mô hình này với Tòa án Hiến pháp
Phương pháp giám sát
- Giám sát văn bản luật trước khi công bố (preventive review)
Một số chủ thể đặc biệt có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của dự luật thông qua nhưng chưa công bố Thông thường chủ thể này là Tổng thống (hoặc vua ở các nước quân chủ lập hiến), Thủ tướng, Chủ tịch thượng viện, Chủ tịch hạ viện, một tỷ lệ nghị sĩ của Nghị viện, Tòa án Tối cao Thời hạn cho quá trình xem xét được ấn định, trường hợp khẩn cấp sẽ ngắn hơn (ở Pháp là 8 ngày) Nếu Tòa
án Hiến pháp tuyên đạo luật vi hiến, việc thông qua sẽ dừng lại, nghĩa là đạo luật không được công bố, không có hiệu lực pháp luật Và ngược lại, Tòa án tuyên bố không vi hiến thủ tục công bố sẽ được tiếp tục
- Giám sát các văn bản luật đã có hiệu lực pháp luật (repressive review)
Bằng việc thụ lí các yêu cầu xem xét, cơ quan tài phán ra phán quyết về một đạo luật đang có hiệu lực có hay không vi hiến (Ví dụ, 16-7-1971 Hội đồng Bảo hiến của
Trang 29Pháp đã tuyên bố một đạo luật của Nghị viện thông qua là vi hiến vì nó trái với quyền hội họp đã được quy định trong Hiến pháp 195824)
Phán quyết của Tòa án có giá trị chung thẩm, có hiệu lực cuối cùng, không bị kháng cáo, kháng nghị, các cơ quan công quyền phải tôn trọng Bởi lẽ, mô hình tập trung chỉ có một cơ quan duy nhất thực hiện thẩm quyền giám sát, không thể có thủ tục kháng cáo, kháng nghị hay yêu cầu xem xét lại Hơn nữa, người ta tôn trọng phán quyết của Tòa án Hiến pháp – Hội đồng bảo hiến bởi nó được tuyên bởi những người
có uy tín, đứng đầu về luật Hiến pháp
Đặc điểm mô hình
Có thể mô tả mô hình bảo hiến tập trung qua các đặc điểm:
- Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến là cơ quan chuyên trách thực hiện quyền xem xét tính hợp hiến của đạo luật, của hành vi Đây là đặc điểm cơ bản
để phân biệt mô hình tập trung và phi tập trung, nếu như ở mô hình phi tập trung, thẩm quyền giám sát giao cho hệ thống tư pháp thì mô hình tập trung chỉ
có một cơ quan duy nhất làm việc này
- Giám sát theo mô hình tập trung không những là giám sát cụ thể mà còn giám sát trừu tượng Giám sát không bắt buộc đi kèm một vụ việc cụ thể mà vẫn có thể phát sinh khi có yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền
- Thủ tục giải quyết tại Tòa án Hiến pháp là thủ tục đặc biệt Bởi thủ tục ở Tòa án thường vì mục đích xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, còn mục đích của giám sát Hiến pháp là hướng đến phía cơ quan hành pháp, tuyên bố một đạo luật hay một hành vi là vi hiến hay hợp hiến
24
Thái Vĩnh Thắng (2009), “Nhu cầu bảo hiến và mô hình bảo hiến phù hợp với Việt Nam”, Nhà nước và pháp
luật, (05), tr 10
Trang 30Nhược điểm
Nhược điểm lớn nhất của mô hình giám sát Hội đồng bảo hiến là nguy cơ chính trị hóa phán quyết của cơ quan tài phán Sự can thiệp sâu vào nhánh hành pháp, cũng như quy định phán quyết của Tòa án có thể sửa đổi, bổ sung đạo luật của Nghị viện biến tư pháp thành cơ quan “lập pháp” thứ hai trong bộ máy nhà nước
1.3.4.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp
Một quốc gia có một đặc trưng xã hội, thể chế riêng nên nếu muốn mô hình giám sát Hiến pháp hoạt động hiệu quả, hầu hết các nước đều có một số thay đổi nhất định với mô hình nguyên thủy để phù hợp với đặc điểm nước mình
Như tên gọi xác định, mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp là sự kết hợp của hai
mô hình trên Thẩm quyền bảo hiến của các quốc gia theo mô hình này được trao cho
cả hệ thống Tòa án và cơ quan chuyên trách Phạm vi giám sát được quy định cụ thể trong Hiến pháp, ngoài ra tất cả các Tòa án khác khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo luật được cho là không phù hợp với Hiến pháp Nên ranh giới quyền của cơ quan chuyên trách và hệ thống Tòa án thường được ghi nhận trong Hiến pháp để tránh vấn
đề chồng chéo về thẩm quyền
1.3.4.4 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp
Ngoài ba mô hình trên, có nhiều quốc gia không thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách, thẩm quyền chuyên trách cũng không giao cho nhánh tư pháp Thẩm quyền này thuộc về Nghị viện, Hội đồng nhà nước hay một cơ quan thuộc Nghị viện
Có thể thấy mô hình này ở Ba Lan, Myama, Brunay, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên…
Không có cơ quan bảo hiến chuyên trách không có nghĩa các quốc gia này không coi trọng việc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp Ngược lại, hầu hết các nước này đề cao hoạt động bảo hiến Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, Lào có điểm chung đó
là đề cao Nghị viện (Quốc hội) Những nước này cho rằng Nghị viện là cơ quan dân
cử, đại diện cho sức mạnh nhân dân, nên quyền lực là thống nhất và cũng không có cơ quan nào được cao hơn Nghị viện Ở vị trí tối cao, Nghị viện có thẩm quyền giám sát toàn bộ hệ thống pháp luật, hành vi trong xã hội, có thể dễ dàng xem xét tính hợp hiến
Trang 31hợp lý của một đạo luật Nếu thành lập một cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách, nghĩa là giám sát hoạt động lập pháp của Nghị viện là mâu thuẫn với nhận thức trên
Như đã phân tích ở trên, tư duy cơ quan dân cử thực hiện giám sát Hiến pháp là một
tư duy đã lỗi thời, bộc lộ nhiều nhược điểm
- Có thể thấy đầu tiên là chủ thể lập hiến, lập pháp là một, nguy cơ sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với luật hoàn toàn có thể xảy ra
- Phán quyết của cơ quan này mang tính chất chính trị chứ không đơn thuần là pháp quyết pháp lý dựa trên cơ sở quy định của Hiến pháp (cơ sở cốt lõi để thực hiện giám sát Hiến pháp)
- Giám sát Hiến pháp thực hiện bởi cơ quan chuyên trách sẽ đảm bảo tính khách quan, cũng như có thủ tục, phương thức hợp lý
Trên thế giới, lịch sử và quá trình hình thành cơ quan giám sát Hiến pháp đã cho thấy xu hướng thành lập một cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách để thực hiện trách nhiệm trên sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, để một mô hình mẫu cổ điển
áp dụng cho tất cả các quốc gia là điều không thể Chính bởi sự khác biệt về kinh tế, văn hóa pháp luật, đặc trưng chính trị, mô hình chính thể…mà mỗi quốc gia đều tìm kiếm cho mình một mô hình giám sát phù hợp, có thể là sự kết hợp những phương thức
để tích hợp được nhiều nhất những ưu điểm của các mô hình
CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM
2.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp qua các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992
Trang 322.1.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với nội dung, bố cục ngắn gọn, súc tích Dù ra đời đã lâu, không còn hiệu lực thi hành nhưng bản hiến này
có nhiều quy định chứa nội dung và tinh thần có thể học hỏi, tiếp thu trong đó có những quy định về giám sát Hiến pháp
Vấn đề giám sát Hiến pháp có những điểm đặc biệt:
Thứ nhất, dù không có bất kỳ điều khoản nào quy định tính tối cao của Hiến
pháp nhưng về bản chất pháp lý Hiến pháp được xem là đạo luật cơ bản của hệ thống pháp luật thể hiện qua những cơ sở
Một là, về chủ thể lập hiến: Lời nói đầu của Hiến pháp long trọng tuyên bố
“được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa” Tiếp đó Điều 21 Hiến pháp năm 1946 quy định “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp” Như vậy, theo bản Hiến pháp này, chủ thể thông qua
Hiến pháp là nhân dân Hiến pháp lúc này là hình thức pháp lý cao nhất thể hiện trực tiếp quyền lực của nhân dân
Hai là, thủ tục sửa đổi Hiến pháp cũng được quy định phức tạp hơn đạo luật của
Nghị viện nhân dân (cơ quan lập pháp) Nghị viện nhân dân có thể được sửa đổi Hiến pháp Nhưng nếu như đạo luật của Nghị viện chỉ cần quá nửa tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận thì được sửa đổi25, chủ thể kiến nghị yêu cầu sửa đổi Hiến pháp phải cần hai phần ba tổng số nghị viên đồng thời chủ thể thông qua cuối cùng những điều thay đổi là toàn dân26
Những quy định về chủ thể ban hành, thông qua Hiến pháp, thủ tục sửa đổi, bổ sung phức tạp trên phù hợp với nguyên tắc được nêu tại Điều 1 Hiến pháp năm 1946,
nội dung như sau: “Tất cả quyền bính trong nhà nước là của toàn thể nhân dân Việt
Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Sự thống
nhất giữa nguyên tắc nêu trên đã khẳng định: Nhân dân là chủ thể có quyền lực cao nhất, quyền lực nhà nước xuất phát từ quyền lực nhân dân, quyền lập hiến của nhân dân tạo ra quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cho các cơ quan của bộ máy nhà nước Vì quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều bắt nguồn từ những quy định của Hiến pháp nên các cơ quan cầm quyền không được có những hành vi, văn bản trái với Hiến pháp
25
Điều 37 Hiến pháp năm 1946
26 Điều 70 Hiến pháp năm 1946
Trang 33Thứ hai, Hiến pháp năm 1946 có quy định về kiểm tra giám sát các cơ quan
công quyền, tuy nhiên những quy định này chưa rõ ràng, cụ thể
Quy định về đạo luật của Nghị viện, Hiến pháp quy định: “Chủ tịch nước Việt
Nam phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri Nhưng trong hạn
ấy, Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố”
27
Chủ tịch nước giữ vai trò công bố luật, cũng là người cuối cùng xem xét tính hợp
hiến của đạo luật trước khi nó được ban hành Tuy nhiên, ở quy định này nếu đạo luật bất hợp hiến mà Nghị viện thông qua sau khi có yêu cầu thảo luận lại của Chủ tịch nước thì đạo luật sẽ được thông qua và có hiệu lực Về những sắc luật của Chính phủ,
Hiến pháp quy định: “Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền: a) Biểu
quyết những dự án sắc luật của Chính phủ Những sắc luật đó phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ”28 Đối với mệnh
lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, Hiến pháp quy định Chính phủ có quyền bãi
bỏ nếu cần29 Cơ sở để bãi bỏ được xác định là “nếu cần”, cách thể hiện này dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện Các quy định trên cũng không nêu rõ căn cứ so sánh, đối chiếu, xử
lý văn bản là trên cơ sở nội dung, tinh thần Hiến pháp
Tóm lại, quy định về giám sát Hiến pháp trong Hiến pháp năm 1946 không nhiều, cũng chưa có cơ sở, cơ chế xử lý cụ thể đối với văn bản và hành vi vi hiến Dù thực tế lịch sử đã không cho phép bầu cử để thành lập Nghị viện nhân dân, Quốc hội lập hiến tiếp tục thực hiện công việc lập pháp nhưng giá trị Hiến pháp năm 1946 mang
lại ở chỗ “đã xác lập được một số nguyên tắc tôn trọng, đề cao Hiến pháp một cách
vai trò bảo vệ tính tối cao văn bản pháp lý quan trọng nhất trong hệ thống văn bản pháp
lý, bảo vệ ý chí và quyền lợi nhân dân
2.1.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1959
27 Điều 31 Hiến pháp năm 1946
28 Điều 36 Hiến pháp năm 1946
29 Khoản d Điều 52 Hiến pháp năm 1946
30
Tào Thị Quyên (2013), “Quy định về bảo hiến trong các bản Hiến pháp Việt Nam và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp năm 1992”, Luật học, (07)
Trang 34Bản Hiến pháp thứ hai của Việt Nam có nhiều sự thay đổi về vấn đề giám sát Hiến pháp so với Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 có những điểm đặc biệt sau:
Thứ nhất, Hiến pháp năm 1959 không kế thừa nội dung quyền lập hiến thuộc về
nhân dân khi bỏ quy định ở Điều 21 và Điều 70 của Hiến pháp năm 1946 Chủ thể ban hành và thông qua Hiến pháp là Quốc hội31 Quy định này tuy không mâu thuẫn
nguyên tắc: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa”32 nhưng không đảm bảo tính thống nhất với nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Thứ hai, điểm khác biệt cơ bản nữa của Hiến pháp năm 1959 so với Hiến pháp
năm 1946 là lần đầu tiên quy định “Quốc hội có quyền giám sát thi hành Hiến pháp”33 Nhưng Quốc hội lại không có thẩm quyền xử lý văn bản của các cơ quan nhà nước trái Hiến pháp mà cơ quan thực hiện xử lý là cơ quan thường trực của Quốc hội (Ủy ban thường vụ Quốc hội) Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh và những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương34 Hiến pháp không chỉ không cụ thể căn cứ xem xét “không thích đáng”, mà bản thân việc Quốc hội giao cho cơ quan do mình bầu ra thực hiện nhiệm vụ giám sát không khắc phục được sự tùy tiện, mặt khác có thể làm vi hiến các
văn bản đó
Thứ ba, Hiến pháp năm 1959 cũng quy định cho các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền kiểm tra, giám sát và xử lý các văn bản “không thích đáng” của cơ quan cấp dưới ban hành35
Thứ tư, Hiến pháp năm 1959 cũng quy định tổ chức hệ thống Viện kiểm sát các
cấp, thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ các bộ trở
xuống góp phần bổ sung thêm một chủ thể mới thực hiện quyền giám sát Hiến pháp
Qua phân tích, chúng ta có thể thấy Hiến pháp năm 1959 đã có những quy định mới trong vấn đề giám sát Hiến pháp so với Hiến pháp năm 1946 Tuy nhiên, những quy định này còn chưa rõ ràng, cụ thể, mang tính chủ quan
31 Điều 112 Hiến pháp năm 1959
32 Điều 43 Hiến pháp năm 1959
33 Khoản 3 Điều 50 Hiến pháp năm 1959
34
Khoản 7 Điều 53 Hiến pháp năm 1959
35 Khoản 4 Điều 73, Khoản 5 Điều 74, Điều 82, Điều 85 Hiến pháp năm 1959
Trang 352.1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là sự kế thừa của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp 1959 Những điểm cần lưu ý về cơ chế giám sát Hiến pháp như sau:
Thứ nhất, vị trí pháp lý của Hiến pháp được ghi nhận rõ ràng và cụ thể bằng quy
định: “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đạo luật cơ bản của
nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”36
Thứ hai, kế thừa Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện giám sát, bảo vệ Hiến pháp37 Cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng nhà nước được trao thẩm quyền
xử lý các văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương trái với Hiến pháp Hội đồng nhà nước còn có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành và sửa đổi, bãi bỏ những văn bản không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương
đương
Thứ ba, các cơ quan nhà nước như Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan của Quốc hội…cũng có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật38
Hiến pháp năm 1980 đã có những quy định cụ thể hơn về giám sát Hiến pháp, chức năng này được giao cho một hệ thống cơ quan từ trung ương đến địa phương nhưng cũng không quy định cơ chế, phương thức xử lý Việc quy định nhiều cơ quan cùng thực hiện chức năng giám sát dẫn đến tình trạng “lắm sãi không ai quét chùa”, chồng chéo với nhau về thẩm quyền
2.1.4 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) trao quyền giám sát Hiến pháp chủ yếu cho các thiết chế: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ
36 Điều 146 Hiến pháp năm 1980
37
Điều 83 Hiến pháp năm 1980
38 Điều 92, Điều 107, Điều 115, Điều 138 Hiến pháp năm 1980
Trang 36Nhiệm vụ giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm:
Một là, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao39
Hai là, phương thức xử lý được quy định là quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ
tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp40
Ba là, phê chuẩn hoặc bãi bỏ Điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký
kết, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các Điều ước quốc tế khác đã ký hoặc gia nhận theo đề nghị của Chủ tịch nước41
Nhiệm vụ, thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong giám sát Hiến pháp:
Một là, giám sát việc thi hành Hiến pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ thi hành văn bản của các chủ thể đó và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ văn bản42
Hai là, bãi bỏ các quyết định sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trong trường hợp cơ quan này làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân43
Nhiệm vụ, thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong giám sát Hiến pháp:
Một là, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư
của bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ44
39
Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
40 khoản 9 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
41 Khoản 13 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
42 Khoản 5 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
43
Khoản 6 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
44 Khoản 4 Điều 114 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
Trang 37Hai là, Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp
Ba là, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
về những nội dung có liên quan đến lĩnh vực, ngành mình phụ trách
Nhiệm vụ, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trong giám sát Hiến pháp:
Hội đồng nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Hội đồng nhân dân giám sát văn bản giám sát văn bản của Ủy ban nhân dân cùng cấp qua biện pháp đình chỉ thi hành, bãi bỏ hoặc đề nghị bãi
bỏ
Nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong giám sát hiến pháp
Giám sát Hiến pháp trong hoạt động của Tòa án thể hiện ở chính chức năng xét
xử của mình Trong quá trình xét xử, Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm phát hiện nhanh chóng và kịp thời những vi phạm Hiến pháp
và pháp luật Bản án, quyết định được đưa ra của Tòa án cũng đòi hỏi đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp Yêu cầu này được thực hiện qua nguyên tắc hai cấp xét xử và giám đốc thẩm bản án, quyết định của tòa
Viện kiểm sát ngoài thực hành quyền công tố còn kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Thẩm quyền kiểm sát bao trùm toàn bộ hoạt động tư pháp với các hình thức như kháng nghị, rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới với mục đích khắc phục và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật của cơ quan này
Qua bốn bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), những quy định về tính tối cao của Hiến pháp, thẩm quyền, biện pháp giám sát Hiến pháp của những Hiến pháp về sau mang tính kế thừa và pháp triển Từ chưa ghi nhận đến ghi nhận, từ ghi nhận đến ghi nhận cụ thể, rõ ràng hơn
Trang 38Tuy nhiên, những quy định này chỉ mới dừng lại ở thẩm quyền, phương thức xử lý, còn rời rạc, chưa có một cơ quan chuyên trách thực hiện nên bất cập còn tồn tại
2.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013
Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định về giám sát Hiến pháp: “Quốc hội, các
cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo
vệ Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”
2.2.1 Quốc hội
Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Nguyên tắc này được quy định lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1946 Qua các bản Hiến pháp, nguyên tắc này được củng cố và quy định rõ ràng Gần đây nhất, Hiến
pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” “Khác với nghị viện tư sản, Quốc hội nước ta đại diện cho ý
Với vị trí và tính chất như trên, Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
Phạm vi giám sát của Quốc hội được ghi nhận tại Điều 69, Hiến pháp năm
2013: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” Quyền giám
sát tối cao của Quốc hội đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1980 Về phạm vi “hoạt
Dù vậy, hầu hết các quan điểm cho rằng giám sát tối cao nghĩa là giám sát đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; bắt đầu từ hoạt động xây dựng pháp luật; hoạt động hành chính, quản lý; và cuối cùng
là hoạt động xét xử Không những giám sát ở trung ương, mà hoạt động giám sát còn bao gồm quyền giám sát hoạt động ở địa phương, ở mọi cấp, ngành, cơ sở
Hiến pháp quy định giám sát Hiến pháp thuộc về nhà cơ quan nhà nước như: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân…Tuy
45 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam(2009), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 355
46
Tham khảo: Trần Thanh Hương (2003), “Đối tượng giám sát của Quốc hội”, Nghiên cứu lập pháp (02) và
Trần Ngọc Đường (2007), “Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan của Quốc
hội”, Nghiên cứu lập pháp, (03)
Trang 39nhiên, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao Giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đã được giao cho Cùng với việc giám sát để đảm bảo những quy định của Hiến pháp, pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm minh và thống nhất Kết hợp hai nội dung giám sát trên sẽ tạo nên một hệ thống cơ quan hoạt động hiệu quả, nhịp nhàng, trên cơ sở hệ thống pháp luật chặt chẽ, tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền
Quốc hội thực hiện việc giám sát thông qua các cơ quan thuộc Quốc hội; thông qua hoạt động xét báo cáo của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đặc biệt là hoạt động chất vấn tại các kì họp của Quốc hội Quốc hội thực hiện chức năng giám sát của mình qua các hình thức:
Thứ nhất, xét báo cáo công tác của cơ quan nhà nước cao cấp của Nhà nước:
Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập47
Thứ hai, thông qua thẩm quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; bãi
bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia48
Thứ ba, bãi nhiệm, miễn nhiệm với các chức danh Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch
nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh,
Hội đồng bầu cử quốc gia Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn49
47
Khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013
48 Khoản 10, khoản 14 Điều 70 Hiến pháp năm 2013
49 Khoản 7, khoản 8 Điều 70 Hiến pháp năm 2013
Trang 40Những hình thức giám sát trên cũng được quy định tại dự thảo Luật tổ chức Quốc hội50 Dự thảo Luật tổ chức Quốc hội quy định Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao trên cơ sở tự mình thực hiện hoặc căn cứ vào hoạt động giám sát của các cơ quan thuộc Quốc hội như Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội51
Nội dung giám sát được Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước52
2.2.2 Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội làm chủ tịch, các phó Chủ tịch làm phó chủ tịch và các ủy viên Những thành viên này không đồng thời thuộc Chính phủ
và có chế độ làm việc chuyên trách Ủy ban thường vụ Quốc hội có các cơ quan chuyên môn gồm Ban Công tác đại biểu, Ban Dân nguyện và Viện Nghiên cứu Lập pháp Với đặc điểm tổ chức trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoạt động thường xuyên,
là thành phần quan trọng của Quốc hội trong việc giám sát, theo dõi việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát với hình thức:
Thứ nhất, giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập53 Nội dung giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội dựa trên đề nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước54
Dự thảo luật này cũng quy định những hoạt động Ủy ban thường vụ Quốc hội được sử dụng khi thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình: Xét báo cáo hoạt động, xem xét các
50 Khoản 3, khoản 4 Điều 9 dự thảo Luật tổ chức Quốc hội 2014
51 Khoản 1 Điều 9 dự thảo Luật tổ chức Quốc hội 2014
52 Khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật tổ chức Quốc hội 2014
53
Khoản 3 Điều 74 Hiến pháp năm 2013
54 Khoản 1 Điều 69 dự thảo Luật tổ chức Quốc hội 2014