1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nghiên cứu so sánh pháp luật new zealand và việt nam

120 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bình luận trong hệ thống giáo trình, sách dành cho các cơ sở đào tạo luật học như: - Các giáo trình: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Trường Đại học Luật Hà Nội,1 Giáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN HOÀN

CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ CHO HÌNH PHẠT

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT

NEW ZEALAND VÀ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ & TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 10/2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ CHO HÌNH PHẠT

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT

NEW ZEALAND VÀ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Tuệ Phương

Học viên: Nguyễn Văn Hoàn – Khóa 22

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 10/2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của TS Hoàng Thị Tuệ Phương

Các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được nêu rõ nguồn gốc

Các kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất

cứ công trình khoa học nào trước đây

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Hoàn

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CÁC MÔ HÌNH TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI 10

1.1 Các mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên trên thế giới 10

1.2 Mô hình tư pháp người chưa thành niên của New Zealand 18

1.3 Mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam 27

Kết luận Chương 1 39

CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NEW ZEALAND VÀ VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ CHO HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 41

2.1 Quy định của pháp luật New Zealand về biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 41

2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 54

2.3 So sánh các quy định của pháp luật New Zealand và Việt Nam về biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 59

Kết luận Chương 2 62

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT NEW ZEALAND TRONG VIỆC QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP THAY THẾ CHO HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 64

3.1 Một số kinh nghiệm của New Zealand trong việc quy định các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 64

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và việc áp dụng các biện pháp này 68

Kết luận Chương 3 77

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là thế hệ tương lai của mỗi quốc gia nói riêng, của nhân loại nói chung

Vì vậy, vấn đề chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, trở thành những con người có ích cho xã hội luôn được các quốc gia quan tâm Nhiều văn bản pháp lý quốc tế và khu vực về chăm sóc và bảo vệ thế hệ trẻ đã được ban hành như: Tuyên bố Geneva về quyền trẻ em năm 1924; Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về quản lý

tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) năm 1985; Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm 1990… Tuy nhiên, do đặc điểm tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện và tác động tiêu cực từ môi trường sống, tình trạng người chưa thành niên phạm tội vẫn xảy ra ở các nước như một vấn

đề tất yếu Người chưa thành niên phạm tội là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm và luôn có những nỗ lực để phòng ngừa, xử lý các hành vi đó theo những cách phù hợp với đặc điểm của người chưa thành niên

Ở Việt Nam, tình hình người chưa thành niên phạm tội trong những năm gần đây có diễn biến phức tạp và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ngày càng tăng Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ em, Việt Nam đã tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên để phù hợp với Công ước này và các chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, hệ thống

tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên của nước ta còn một số bất cập như: các quy định của pháp luật về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên nằm rải rác tại nhiều đạo luật (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành

án hình sự…); đội ngũ người trực tiếp thực thi tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên (nĐiều tra viên, Kiểm sát viên, thẩm phán, đại diện pháp luật cho người chưa thành niên ) chưa có những hiểu biết đầy đủ về sự phát triển tâm sinh lý, thể chất và xã hội của người chưa thành niên, cũng như nhu cầu đặc biệt của người chưa thành niên; vai trò của cộng đồng trong việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội cũng như cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội còn hạn chế… Điều này làm giảm hiệu quả phòng ngừa, giáo dục người chưa thành niên phạm tội, gây khó khăn đối với người thực thi và người giám sát; khó khăn cho cả

Trang 7

việc áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc biện pháp thay thế hình phạt trong pháp luật hình sự

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên thì việc nghiên cứu, so sánh và tiếp thu kinh nghiệm của các nước có hệ thống tư pháp hình sự đối với

người chưa thành niên hiệu quả là cần thiết Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài ―Các

biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội - Nghiên cứu so sánh pháp luật New Zealand và Việt Nam” làm đề tài luận

văn thạc sĩ luật học Tác giả lựa chọn New Zealand để nghiên cứu bởi vì:

Thứ nhất, cũng giống như Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới, New

Zealand cũng phải đối mặt với tình hình người chưa thành niên phạm tội Để giải quyết vấn đề này, New Zealand đã xây dựng và phát triển hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên khá hoàn thiện (trong đó có lĩnh vực hình sự), từ hệ thống pháp luật đến các cơ quan chuyên trách về tư pháp hình sự người chưa thành niên

Hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên của New Zealand trong thời gian qua được đánh giá là khá hiệu quả trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội

Hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên của New Zealand đã thu hút được

sự chú ý rộng rãi của quốc tế và đã được chấp nhận áp dụng bởi các khu vực pháp

lý khác nhau

Thứ hai, tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam và New Zealand nói chung và

tình hình người chưa thành niên phạm tội nói riêng cũng có một số nét tương đồng

Cả hai quốc gia đều là thành viên của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và đều ý thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc và bảo vệ người chưa thành niên nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng Do đó, có thể giả định rằng những kinh nghiệm của New Zealand trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội có thể được học hỏi để áp dụng ở Việt Nam

Thứ ba, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về các biện pháp

thay thế hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam hiện hành trong mối quan hệ so sánh với pháp luật của New Zealand Vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ là một sự bổ sung cần thiết và góp phần hoàn thiện các biện pháp này trong Luật Hình sự Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được nghiên cứu,

Trang 8

bình luận trong hệ thống giáo trình, sách dành cho các cơ sở đào tạo luật học như:

- Các giáo trình: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Trường

Đại học Luật Hà Nội,1 Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,2 Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung

của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh3 … Nội dung các giáo trình này

đã phân tích scác vấn đề pháp lý về các biện pháp giám sát, giáo dục và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, làm cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu lý luận về các biện pháp thay thế hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam

- Về bình luận khoa học và sách thì có một số công trình tiêu biểu như: Bình

Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ

Trong các sách bình luận này, các tác giả đi sâu phân tích các quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng như những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Trong đó, có các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS, các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Các tác giả cũng liên hệ thực tiễn áp dụng quy định về tội phạm này Những nội dung phân tích này giúp chúng tôi có nhìn nhận sâu sắc hơn về các quy định của BLHS về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này Từ

đó, có nhận định, đánh giá chính xác hơn về các biện pháp này trong luận văn

Đối với đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ luật học: có một số công trình

có đề cập đến các biện pháp thay thế hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam:

1

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

2 Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung),

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

3 Trường Đại học Luật TP HCM (2016), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức,

TP HCM

4 Đinh Văn Quế (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, NXB Lao động, Hà Nội

5 Nguyễn Đức Mai (Chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm

2009, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

6

Nguyễn Thị Phương Hoa - Phan Anh Tuấn (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Những điểm mới

của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Hồng Đức, TP.HCM

Trang 9

- Luận văn: ―Các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp đối với

luận văn: ―Các biện

pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ

Trong các luận văn này, các tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 Các tác giả cũng nghiên cứu đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp này Tuy nhiên, trong các luận văn này, các tác giả không nghiên cứu so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp này với pháp luật của New Zealand Đối với các luận văn này, chúng tôi kế thừa một số vấn đề lý luận về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, làm cơ sở cho việc

so sánh với pháp luật New Zealand và đưa ra kiến nghị hoàn thiện

- Luận văn: ―Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa

Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội Qua luận văn này, chúng tôi kế thừa một số vấn đề lý luận về người chưa thành niên phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

- Luận án: ―Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt

Trong luận án này, tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và triển khai thực hiện các chính sách này đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay Qua luận án này, chúng tôi có cái nhìn tổng quát về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay; từ đó làm cơ sở để kiến nghị hoàn

7

Trần Hồng Nhung (2017), Các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp đối với người dưới 18

tuổi phạm tội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

8 Trần Ngọc Lan Trang (2017), Các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên

phạm tội trong Bộ luật Hình sự 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP HCM

10 Lưu Ngọc Cảnh (2010), Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm

tội theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

11

Hoàng Minh Đức (2016), Chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay, Luận

án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 10

thiện quy định về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Qua tìm hiểu, tác giả nhận hấy có một số công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến đề tài nghiên cứu luận văn như sau:

- ―Rethinking Youth Justice: A comparative analysis, human rights and

international research evidence” của Goldson và Muncie:12 bình luận về hai hệ thống pháp luật đối với người chưa thành niên: một bên là ở các quốc gia có hệ thống tư pháp kiểm soát và trừng phạt đối với người chưa thành niên phạm tội; ngược lại, ở các quốc gia có hệ thống pháp luật trong đó nhấn mạnh quyền con người và đặt trọng tâm cho các giải pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên Qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa những ưu điểm và hạn chế của hai hệ thống pháp luật này, từ đó làm cơ sở cho những phân tích, đánh giá kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

- ―Juvenile Justice: A comparison between the Laws of New Zealand and

Luận văn tập trung so sánh về hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand và Đức Theo đó, luận án so sánh nền tảng xã hội, pháp lý, lịch sử và văn hóa của New Zealand và Đức; sự phát triển của các hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở cả hai nước Luận án này tiếp tục cung cấp một đánh giá về hiệu quả thiết thực của hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand, đã xác định điểm mạnh cũng như điểm yếu của hệ thống tư pháp người chưa thành niên hiện tại ở New Zealand Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu về mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của New Zealand đã không còn phù hợp theo các quy định hiện hành Ngoài ra, công trình này cũng không nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam Đối với công trình nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa một số kết quả nghiên cứu về các mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên trên thế giới, mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của New Zealand, từ đó cập nhật những nội dung mới và so sánh với pháp luật Việt Nam

12 Goldson, B and Muncie, J (2006), Rethinking Youth Justice: Comparative Analysis, International Human

Rights and Research Evidence Youth Justice, 6 (2) pp 91-106 ISSN 1747-6283

Nguồn: http://yjj.sagepub.com/content/6/2/91.full pdf

13

Katja Kristina Wiese (2007), Juvenile Justice: A comparison between the Laws of New Zealand and

Germany, A thesis for the Degree of Masters of Laws in the University of Canterbury – New Zealand

Trang 11

- ―Family, Victims and Culture, Youth Justice in New Zealand” của G

Maxwell and A Morris:14 Công trình này nghiên cứu về các hội nghị nhóm gia đình

ở New Zealand vào năm 1990 và phỏng vấn gia đình, nạn nhân và người chưa thành niên phạm tội tham gia Kết quả cho thấy rằng việc cho những người chưa thành niên, gia đình và nạn nhân có cơ hội quyết định cách tốt nhất để khắc phục hậu quả

và phục hồi cuộc sống của những người liên quan có thể có nhiều hiệu quả tích cực hơn trong hệ thống tư pháp truyền thống Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

- ―Diverted from Counsel: Filling the Rights Gap in New Zealand’s Youth

Justice Model” của Ziyad Hopkins:15 Nghiên cứu về các cách tiếp cận khác nhau đối với những người chưa thành niên phạm pháp, hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand và Massachusetts – Hoa Kỳ Đối với công trình nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa một số kết quả nghiên cứu về mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của New Zealand, từ đó nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên về cơ bản đã làm sáng tỏ những quy định của BLHS Việt Nam về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, hệ thống tư pháp và các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội của New Zealand Tuy nhiên, các công trình này không hướng đến nghiên cứu so sánh các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật của New Zealand và Việt Nam để có những nhận xét, đánh giá và từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn diện pháp luật Việt Nam Vì vậy, luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sĩ Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là phù hợp

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội của pháp luật New Zealand và Việt Nam,

14 G Maxwell and A Morris (1993), Family, Victims and Culture, Youth Justice in New Zealand, Social

Policy Agency and Institute of Criminology, Victoria University of Wellington

15

Ziyad Hopkins (2015), Diverted from Counsel: Filling the Rights Gap in New Zealand’s Youth Justice

Model, Published by Fulbright New Zealand, August 2015

Trang 12

đề tài sẽ đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định này trong pháp luật hình sự Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu những mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên trên thế giới, mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của New Zealand và Việt Nam

để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong mục đích tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên của hai quốc gia

- Khái quát tình hình người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam, New Zealand trong thời gian gần đây trong mối quan hệ so sánh để thấy được phần nào hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự của hai quốc gia trong phòng ngừa, giáo dục cải tạo đối với người chưa thành niên phạm tội

- Làm sáng tỏ nội dung các quy định hiện hành của pháp luật hình sự Việt Nam và New Zealand về các biện pháp thay thế cho hình phạt trong sự so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm

và đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quan điểm khoa học và các quy định của pháp luật New Zealand và Việt Nam về các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) của Việt Nam và Đạo luật Trẻ em, Thanh thiếu niên và Gia đình

(The Children, Young Persons, and Their Families (Oranga Tamariki) Act - CYPFA) năm 1989 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) của New Zealand

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình

sự đối với người dưới 18 tuổi

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 13

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng để tiến hành phân tích và tổng hợp một cách khái quát các nội dung cần nghiên cứu trong luận văn Trong đó, các vấn đề có liên quan về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội của New Zealand và Việt Nam được phân tích thành từng vấn đề cụ thể để tìm hiểu; sau đó, tiến hành tổng hợp các vấn

đề đã phân tích để rút ra kết quả nghiên cứu

- Phương pháp so sánh luật học là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu này Thông qua phương pháp so sánh chỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật Việt Nam về các biện pháp thay thế cho hình phạt với pháp luật của New Zealand, từ đó rút ra được những kinh nghiệm của New Zealand Kết quả nghiên cứu so sánh được vận dụng cho phần kiến nghị của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Vì đề tài có liên quan đến yếu tố nước ngoài nên tác giả cố gắng tiếp cận các tài liệu từ tiếng Anh Phần lớn các thông tin

có liên quan đến quốc tế và New Zealand được nghiên cứu tổng hợp từ các văn bản luật, các công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài nghiên cứu, giải quyết một cách tương đối có hệ thống và đầy đủ về các biện pháp thay thế cho hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Đề tài có ý nghĩa khoa học như sau:

- Khái quát hóa các mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên phạm tội trên thế giới, của New Zealand và Việt Nam

- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật New Zealand và Việt Nam về các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội và các biện pháp thay thế cho hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên trong sự đối chiếu so sánh

- Rút ra được một số kinh nghiệm của New Zealand trong việc quy định các biện pháp thay thế cho hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam về các biện pháp này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm của New Zealand

Với những ý nghĩa khoa học nêu trên, đề tài góp phần phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà khoa học, các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu

Trang 14

sinh chuyên ngành tư pháp hình sự và cán bộ thực tiễn (luật sư, kiểm sát viên, điều

tra viên…) trong nghiên cứu và công tác thực tiễn

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết như sau:

Chương 1: Các mô hình tư pháp người chưa thành niên trên thế giới

1.1 Các mô hình tư pháp người chưa thành niên trên thế giới

1.2 Mô hình tư pháp người chưa thành niên của New Zealand

1.3 Mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam

Chương 2 So sánh quy định của pháp luật New Zealand và Việt Nam về các biện pháp thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

2.1 Quy định của pháp luật New Zealand về biện pháp thay thế cho hình phạt

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp thay thế cho hình phạt

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

2.3 So sánh các quy định của pháp luật New Zealand và Việt Nam về biện pháp

thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Chương 3 Một số kinh nghiệm của pháp luật New Zealand trong việc quy định các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị đối với Việt Nam

3.1 Một số kinh nghiệm của New Zealand trong việc quy định các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các biện pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và việc áp dụng các biện pháp này

Trang 15

CHƯƠNG 1 CÁC MÔ HÌNH TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Người chưa thành niên phạm tội là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm

và luôn có những nghiên cứu về những hành vi phạm tội của người chưa thành niên

và hướng xử lý các hành vi đó theo những cách khác nhau (như giáo dục, lao động hoặc hình phạt) Tuy nhiên, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện có xu hướng tăng trên toàn thế giới Ngày nay, gần như mọi hệ thống pháp luật trên thế giới đều thừa nhận rằng người chưa thành niên khác với người đã thành niên và họ không nên chịu trách nhiệm về những hành vi phạm tội giống như người đã thành niên Tuy nhiên, có những khác biệt rất lớn về cách các quốc gia khác nhau xử lý người chưa thành niên phạm tội, từ việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đến việc xác định hành vi phạm tội và cách xử lý hành vi đó… Do đó, việc nghiên cứu các mô hình tư pháp người chưa thành niên sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có được cái nhìn tổng quát về việc xử lý người chưa thành niên phạm tội của các quốc gia trên thế giới

1.1 Các mô hình tư pháp người chưa thành niên trên thế giới

Các mô hình tư pháp người chưa thành niên hiện nay đã được phát triển dựa trên các lý thuyết, mục tiêu và nguyên tắc xử lý khác nhau Trong thực tế, các mô hình này thường có sự cải biến Một dạng thuần túy của một trong các mô hình này không tồn tại trong thực tế; thay vào đó, hầu hết các hệ thống tư pháp người chưa thành niên hiện tại có sự pha trộn của các mô hình này Chẳng hạn như các nguyên tắc của mô hình chuyển hướng và mô hình tư pháp phục hồi có thể được áp dụng rộng rãi cùng với một mô hình tư pháp người chưa thành niên khác

Hiện nay, về mặt lý luận chung, các nhà nghiên cứu luật học thừa nhận có các

mô hình tư pháp người chưa thành niên cụ thể sau:

1.1.1 Mô hình phúc lợi

Mô hình phúc lợi có một lịch sử lâu dài Năm 1790, ―Hội Philantropic‖ được thành lập ở Mỹ Hiệp hội này được thành lập để ngăn chặn trẻ em nghèo phạm tội hình sự và để bảo vệ chúng khỏi những ảnh hưởng được cho là độc hại Những người được gọi là ―người bảo vệ trẻ em‖ này không tán thành việc bỏ tù các tội phạm vị thành niên trong nhà tù dành cho người lớn bởi vì họ tin rằng các điều kiện

Trang 16

hiện hành không thích hợp cho việc phục hồi những người phạm tội trẻ tuổi.16 Như một hệ quả của xã hội, lần đầu tiên hành vi phạm tội của những người chưa thành niên đã được công nhận là một vấn đề xã hội Sự phát triển này đã dẫn đến việc ban hành các đạo luật tư pháp vị thành niên đầu tiên và thành lập tòa án thanh thiếu niên đầu tiên ở Illinois vào năm 1899.17

Đạo luật Trẻ em của Mỹ năm 1908 xác định từ

bỏ mô hình kiểm soát tội phạm và hướng đến xây dựng mô hình phúc lợi hơn với nhu cầu của trẻ em Để đạt được mục tiêu này, các thẩm phán đặc biệt được bổ nhiệm, người được dự kiến sẽ quản lý tư pháp liên quan đến thanh thiếu niên và nhu cầu của họ.18

Mô hình phúc lợi dựa trên lý thuyết cho rằng hành vi phạm tội là một hệ quả của rối loạn cơ bản sau bệnh lý cá nhân, gia đình tan vỡ, cách ly khỏi cộng đồng hoặc bất lợi về kinh tế hoặc xã hội Theo đó, người ta tin rằng những người chưa thành niên phạm tội là do các ảnh hưởng bất lợi bên ngoài; người phạm tội không

có sự lựa chọn về việc có thực hiện tội phạm hay không Do đó, trọng tâm của việc

xử lý người chưa thành niên vi phạm là tìm ra những điều kiện bất lợi gây ra hành

vi tội phạm và khắc phục chúng, thay vì trừng phạt cá nhân Người ta tin rằng việc phát hiện và khám phá nguyên nhân của hành vi phạm pháp giúp ngăn ngừa và kiểm soát hành vi đó (ngăn ngừa tái phạm).19

Những người theo mô hình phúc lợi cũng lập luận rằng không nên có sự phân biệt giữa trẻ em và thanh thiếu niên phạm tội, bởi vì tất cả trẻ em và thanh thiếu niên có cùng nhu cầu cơ bản, hành vi phạm tội chỉ là một biểu hiện của các vấn đề

xã hội hoặc gia đình, và những đối tượng này cần được chăm sóc và bảo vệ Trọng tâm của tư pháp vị thành niên là về người phạm tội hơn là về hành vi phạm tội và về phúc lợi của những người chưa thành niên hơn là về hình phạt hoặc trách nhiệm của

họ đối với hành vi phạm tội.20 Do đó, cách xử lý tốt nhất cho người chưa thành niên phạm tội được coi là cải thiện điều kiện làm việc cá nhân, liệu pháp gia đình, nhóm

Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.36

19 M P Doolan (1993), ―Youth Justice- Legislation and Practice‖ in B J Brown and F W M McElrea (eds),

The Youth Court in New Zealand: A New Model of Justice, tr.18

20 N M C Bala and R J Bromwich (2002), ―Introduction: An International Perspective on Youth Justice‖, in:

NMC Bala, J P Hornick, N Howard and J J Paetsch, J J (eds), Juvenile Justice Systems: An International

Comparison of Problems and Solutions, tr.6

Trang 17

và công việc cộng đồng để dẫn đến việc phục hồi của người chưa thành niên.21 Các biện pháp xử lý phải đáp ứng ―lợi ích tốt nhất‖ và ―nhu cầu phúc lợi‖ của cá nhân (hoặc gia đình).22 Ngoài ra, những người ủng hộ mô hình phúc lợi cho rằng ―sự can thiệp sớm hơn, việc xử lý sẽ được hiệu quả hơn‖

Cách tiếp cận phúc lợi duy trì sự can thiệp và xử lý không có tác dụng phụ có hại Hơn nữa, những người ủng hộ tin rằng việc xử lý đó không nhất thiết phải là tự nguyện và việc xử lý không tự nguyện đó không phải là hình phạt.23 Cách xử lý hiệu quả đối với hành vi phạm tội đòi hỏi các nhà chức trách có thể sử dụng bất kỳ thông tin nào liên quan đến những người chưa thành niên trong việc xác định nhu cầu và lợi ích tốt nhất của họ và áp dụng rộng rãi đối với các trường hợp phạm tội.24

Vì vậy, trong khi cố gắng đạt được hiệu quả xử lý tốt nhất cho những người chưa thành niên phạm tội, các thủ tục nhằm bảo vệ các quyền hợp pháp được coi là gây cản trở, ảnh hưởng đến việc xử lý theo định hướng phúc lợi Hơn nữa, việc cân nhắc

áp dụng thủ tục cũng thường được xem là kéo dài thời gian xử lý

Mô hình phúc lợi có những hạn chế nhất định Những người phản đối mô hình này cho rằng một loạt các hành vi lạm dụng được che dấu dưới vỏ bọc của thuật ngữ ―phúc lợi‖ Trước hết, những người phản đối không chấp nhận sự hạn chế về các thủ tục và quyền lợi hợp pháp của giới trẻ.25 Thứ hai, việc áp dụng rộng rãi đối với các trường hợp phạm tội của các nhà chức trách có thể dẫn đến sự bất bình đẳng

và có thể phân biệt đối xử do chủ quan trong việc ra quyết định và có thể có hiệu ứng mở rộng mạng lưới kiểm soát của Nhà nước thông qua các tổ chức phúc lợi.26Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng trẻ em bị đưa ra khỏi gia đình và được đặt trong một tổ chức vì mục đích phúc lợi có nhiều khả năng tái phạm hơn trẻ em được nuôi trong gia đình của mình.27 Mặc dù có những hạn chế này, rất ít khu vực pháp lý đã

từ bỏ hoàn toàn ý tưởng phúc lợi, vẫn nỗ lực giải quyết vấn đề của người chưa thành niên phạm tội bằng cách cung cấp các biện pháp và đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ

21 M P Doolan (1988), From Welfare to Justice - Towards new Social Work Practice with Young Offenders:

An Overseas Study Tour Report, tr.1

22 M P Doolan (1988), tlđd(21), tr.2

23

M P Doolan (1988), tlđd(21), tr.1-2

24 G Maxwell and A Morris (1993), tlđd(14), tr.165

25 N M C Bala and R J Bromwich (2002), tlđd (20), tr.6

26 G Maxwell and A Morris (1993), tlđd (14), tr.166

27

M Norris and R Lovell (1988), Patterns of Juvenile Offending in New Zealand: No 5, Summary Statistics

for 1981-1985, Research Section Department of Social Welfare

Trang 18

1.1.2 Mô hình công lý

Mô hình phúc lợi và mô hình công lý thường được mô tả là ―hai cực trên một

lý thuyết liên tục của các mô hình có thể có của chế độ tư pháp người chưa thành niên‖.28

Một số nguyên tắc của mô hình công lý là hoàn toàn trái ngược với mô hình phúc lợi

Mô hình công lý giải thích hành vi tội phạm như một hành động tự do ý chí; mỗi người là một cá nhân và họ có thể xem xét và kiểm soát các hành động của riêng họ mà không phụ thuộc vào các yếu tố xã hội hoặc môi trường Do đó, hành

vi phạm tội là sự lựa chọn của cá nhân, ngay cả khi họ có vấn đề về xã hội hoặc cá nhân

Việc xử lý hành vi phạm tội của mô hình công lý dựa trên sự công bằng, có nghĩa là cách xử lý nên được tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.29 Cả người chưa thành niên và người đã thành niên đều phải tuân theo pháp luật nên khi một hành vi phạm tội đã được thực hiện thì cần phải được chứng minh bởi cơ quan tư pháp và là cơ sở cho sự trừng phạt sau khi tội lỗi của cá nhân được chứng minh Hành vi phạm tội là trọng tâm chính của việc ra quyết định, trong khi phục hồi là mục tiêu thứ yếu hoặc tùy chọn.30 Thẩm quyền xét xử thuộc về tòa

án và thẩm phán hình sự Thủ tục tố tụng hình sự đối với người phạm tội (người chưa thành niên và người đã thành niên) phải chính thức và các thẩm phán có nghĩa

vụ tuân thủ đúng thủ tục cũng như các quyền pháp lý của người phạm tội Do đó, việc xử lý với hành vi phạm tội không phải là trách nhiệm của các cơ quan phúc lợi

xã hội

Mô hình công lý cũng cho rằng hành vi phạm tội là một phần bình thường khi con người lớn lên và tự động kết thúc khi các cá nhân có việc làm, ít bị ảnh hưởng bởi nhóm đồng đẳng của họ và khi họ có con cái.31 Chỉ có một vài cá nhân trở thành tội phạm nghiêm trọng Do đó, sự trợ giúp xã hội nên được trì hoãn càng lâu càng tốt, bởi vì nó có thể đưa người đó vào các tổ chức có khả năng làm cho việc phạm tội nghiêm trọng hơn, chứ không phải cải thiện việc phạm tội Hơn nữa, sự trợ giúp

xã hội có thể giải quyết được một số vấn đề nhưng ảnh hưởng của nó đối với hành

28 N M C Bala and R J Bromwich (2002), tlđd (20), tr.6

29 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.39

30

G Maxwell and A Morris (1993), tlđd (14), tr 167

31 M P Doolan (1988), tlđd(21), tr 9

Trang 19

vi phạm tội thì hạn chế.32 Nếu cần có sự trợ giúp xã hội thì việc trợ giúp phải được thực hiện trong phạm vi thích hợp theo quy định pháp luật

Ngày nay, các yếu tố của mô hình công lý được tìm thấy trong nhiều hệ thống luật pháp quốc gia như: hình phạt được xác định rõ ràng, sự tham gia rộng rãi của người đại diện pháp lý và các hình phạt giam giữ bị hạn chế, việc sử dụng các biện pháp thay thế hình phạt hoặc các biện pháp xử lý chuyển hướng được khuyến khích.33

Tuy nhiên, mô hình công lý cũng có các hạn chế như: không giải quyết được nguyên nhân của hành vi phạm tội và bỏ qua những thiếu sót, bất lợi của xã hội đối với người phạm tội; việc áp dụng hình phạt phải tương xứng hành vi phạm tội mà không tính đến nhu cầu cụ thể của cá nhân sẽ dẫn đến sự không linh hoạt và đôi khi bất công đối với các trường hợp phạm tội cụ thể Hơn nữa, việc nhận thức chưa đầy

đủ về các quy định của pháp luật tuân thủ thủ tục tố tụng chính thức sẽ ngăn cản việc đưa ra các quyết định linh hoạt.34

1.1.3 Mô hình kiểm soát tội phạm

Tình hình tội phạm và bạo lực gần đây tăng lên ở nhiều nước đã dẫn đến sự trở lại các khía cạnh kiểm soát tội phạm trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên Nguyên tắc chính của mô hình kiểm soát tội phạm tập trung vào phòng ngừa chung thông qua sự ngăn chặn và làm mất khả năng phạm tội.35 Do đó, mô hình kiểm soát tội phạm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ công chúng bằng cách trừng phạt những kẻ phạm tội càng nhiều càng tốt, tốt nhất là với các án giam giữ Tương tự mô hình công lý, mô hình kiểm soát tội phạm cho rằng người phạm tội là một cá nhân có tự do ý chí để có thể chọn có phạm tội hay không Nếu đã chọn phạm tội, người đó phải chịu trách nhiệm về việc làm sai trái của mình, bất kể tuổi của họ Mục đích chính của việc trừng phạt người phạm tội là để bảo vệ xã hội Những người theo mô hình kiểm soát tội phạm ủng hộ chiến lược ―không thương xót‖ đối với việc phạm tội, trái ngược với các mô hình khác được cho là tha thứ cho tội phạm và thông cảm với người phạm tội.36

32 Bradford Juvenile Justice Unit, cited in: M P Doolan, tlđd(21), tr 1

33 G Maxwell and A Morris (1993), tlđd (14), tr.167

34 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.40-41

35

Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.41

36 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.41

Trang 20

Việc thực hiện các nguyên tắc kiểm soát tội phạm được ở một số khu vực pháp lý như: xét xử người chưa thành niên phạm tội tại các tòa án dành cho người

đã thành niên; áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn; giảm tuổi trách nhiệm hình sự; hoặc bãi bỏ tư pháp người chưa thành niên và áp dụng luật hình sự chung cho những người chưa thành niên phạm tội

Mô hình kiểm soát tội phạm cũng có nhiều hạn chế Mô hình này ủng hộ các hình phạt khắc nghiệt và giam giữ Cách xử lý này đối với người chưa thành niên phạm tội không chỉ bỏ qua những thiếu sót và bất lợi của xã hội mà còn bỏ qua những ảnh hưởng bất lợi từ các hình phạt giam giữ, đặc biệt là đối với những người chưa thành niên Hơn nữa, nghiên cứu đã chứng minh rằng các hình phạt giam giữ dẫn đến tỷ lệ tái phạm cao hơn nên mô hình kiểm soát tội phạm có khả năng làm tăng tội phạm hơn là giảm tội phạm.37

Ngoài ra, việc áp dụng các hình phạt giam giữ tăng lên dẫn đến chi phí giam giữ tăng cao hơn Trong mô hình này, lợi ích cá nhân hoặc biện pháp xử lý thay thế không tồn tại và quy trình pháp lý cũng như quyền hợp pháp có thể bị bỏ qua dưới vỏ bọc bảo vệ lợi ích công cộng

1.1.4 Mô hình chuyển hướng

Nhằm hỗ trợ cho kiểm soát tội phạm và đối xử bình đẳng với những người chưa thành niên phạm tội, hạn chế sự kỳ thị dẫn đến khả năng làm tăng tái phạm,

mô hình chuyển hướng ra đời Mô hình này dựa trên ―lý thuyết dán nhãn‖ - được thiết lập vào những năm 1960 và sau đó nổi lên như một khuôn khổ lý thuyết hàng đầu cho các nhà tư pháp người chưa thành niên

Lý thuyết dán nhãn đề cập đến phản ứng của những người khác đối với những người bị gán nhãn (hoặc kỳ thị) là tội phạm Trọng tâm của dán nhãn và kỳ thị thông qua tố tụng hình sự chính là nó ảnh hưởng lớn đến tính cách của một người

―Nhãn‖ là giả thuyết được đưa ra để gây ra thay đổi vai trò cho những người được dán nhãn, sao cho những người được gắn nhãn là sai lệch có thể nội tâm hóa rằng

họ thực sự sai lệch và là tội phạm, do đó họ thực sự có thể trở thành tội phạm.38Điều này có ý nghĩa sâu xa đối với quan điểm cá nhân của người đó Vì vậy, một người phạm tội, và sau đó bị coi là phạm nhân thông qua tố tụng hình sự và tuyên

37

F Schaffstein and W Beulke, Jugendstrafrecht (14th ed 2002), § 44, tr 278

38 E M Schur (1971), Labeling Deviant Behavior, tr 12

Trang 21

án chính thức, rất có khả năng tái phạm vì mọi người (kể cả người đó) tin rằng họ là tội phạm.39

Để tránh những người chưa thành niên bị dán nhãn là tội phạm thì phải bỏ qua các thủ tục tố tụng chính thức và việc giam giữ bất cứ lúc nào có thể Do đó, mô hình tư pháp phát triển từ lý thuyết dán nhãn được gọi là ―mô hình chuyển hướng‖, bởi vì sự chuyển hướng theo nghĩa đen có nghĩa là ―bỏ qua‖ Vì vậy, việc chuyển hướng ―thực sự‖ theo nghĩa này là sự chuyển hướng từ Cảnh sát, bởi vì các hành động của Cảnh sát được áp dụng trước khi tố tụng hình sự chính thức được bắt đầu nên nếu được chuyển hướng từ Cảnh sát thì người chưa thành niên phạm tội thực sự

―bỏ qua‖ thủ tục tố tụng chính thức Tuy nhiên, trong nhiều khu vực pháp lý ngày nay, các biện pháp xử lý ―chuyển hướng‖ thường được áp dụng để xử lý với người chưa thành niên phạm tội sau khi thủ tục tố tụng chính thức được bắt đầu và sau đó thì họ mới thực sự được ―chuyển hướng‖ Những cách xử lý này (như loại bỏ hoặc chấm dứt thủ tục tố tụng) có nghĩa đen là không trừng phạt - được gọi là ―chuyển hướng‖ vì chúng ngăn cản việc người chưa thành niên bị kết án hình sự

Hơn nữa, phần lớn người chưa thành niên chỉ phạm tội ít nghiêm trọng nên chuyển hướng người chưa thành niên phạm tội khỏi thủ tục tố tụng hình sự chính thức là phù hợp Các hành vi vi phạm phổ biến của người chưa thành niên như: trộm cắp vặt, vi phạm giao thông, gây thiệt hại tài sản nhỏ, gây thương tích thể chất nhỏ Tương tự mô hình công lý, những người ủng hộ mô hình chuyển hướng cho rằng hành vi phạm tội xuất hiện nhiều lần và thường tự động dừng khi các cá nhân rời nhà trường, tìm việc làm, ít bị ảnh hưởng bởi nhóm đồng đẳng của họ và bắt đầu một gia đình Do đó, thủ tục tố tụng chính thức hầu như không cần thiết vì người chưa thành niên thường ngừng phạm tội sau khi trưởng thành

Tuy nhiên, những người chưa thành niên phạm tội được chuyển hướng khỏi thủ tục tố tụng chính thức thường được áp dụng một số biện pháp xử lý đối với hành vi phạm tội của họ Ngày nay, hầu hết các hệ thống pháp luật về tư pháp người chưa thành niên đều có quy định các biện pháp phi chính thức, chẳng hạn như cảnh báo hoặc lao động cộng đồng, thường được áp dụng đồng thời với hoạt động chuyển hướng Những biện pháp này, tùy thuộc vào hệ thống tư pháp người chưa thành niên, được áp dụng bởi Cảnh sát, cơ quan truy tố hoặc tòa án

39 E M Lemert (1972), Human Deviance, Social Problems and Social Control

Trang 22

Ngày nay, xử lý chuyển hướng có lẽ là xu hướng hàng đầu trong tư pháp người chưa thành niên Nó được áp dụng để giảm kỳ thị và bảo vệ người chưa thành niên khỏi những hậu quả tiêu cực của việc xét xử chính thức, khỏi những tác động bất lợi của tố tụng hình sự và giam giữ và những ảnh hưởng tiêu cực của ―xử lý phúc lợi‖ Ngoài ra, chuyển hướng có thể đáp ứng sớm hơn và tốt hơn cho người chưa thành niên vi phạm.40

Tuy nhiên, mô hình chuyển hướng cũng có một số hạn chế Một là, các biện pháp thay thế được áp dụng đồng thời với việc chuyển hướng có khả năng mở rộng mạng lưới kiểm soát xã hội Bởi vì các biện pháp thay thế không phải là các biện pháp xử lý chính thức, sẽ tác động sớm hơn đối với những người chưa thành niên phạm tội và việc chuyển hướng đòi hỏi phải có nhiều ngành, nhiều cấp tham gia thực hiện.41 Hai là, việc chuyển hướng được cho là có khả năng dẫn đến phân biệt đối xử trong việc ra quyết định áp dụng bởi vì những quy trình hoạt động đa ngành

có thể sử dụng các tiêu chí lựa chọn mang tính phân biệt đối xử mà không thể kiểm soát hoàn toàn.42 Cuối cùng là mối quan ngại về việc đảm bảo quy trình khi áp dụng chuyển hướng Các biện pháp xử lý thay thế được áp dụng đồng thời với việc chuyển hướng, thường dựa trên các quyết định rộng rãi tùy ý Đặc biệt khi các biện pháp xử lý thay thế không có cơ sở pháp lý, rất khó cho các cơ quan bên ngoài quan sát việc áp dụng và thực thi chúng Hơn nữa, trong một số hệ thống tư pháp người chưa thành niên, việc áp đặt các biện pháp xử lý thay thế có thể chỉ dựa trên cáo buộc đơn thuần và người chưa thành niên thường không nhận được sự trợ giúp pháp

lý nào trước khi bị thẩm vấn.43

1.1.5 Mô hình hòa giải và tư pháp phục hồi

Trong những năm gần đây, sự tham gia của nạn nhân trong tố tụng hình sự ngày càng được chú trọng hơn Mô hình hòa giải và tư pháp phục hồi khác với tất cả các

mô hình tư pháp hình sự được trình bày nêu trên: họ nhấn mạnh việc xử lý và giảng hòa thông qua hòa giải liên quan đến nạn nhân Tất cả các mô hình nêu trên chủ yếu

là xử lý với người phạm tội và hành vi phạm tội đã thực hiện, trong khi gần như hoàn

40 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.45-46

41 F Schaffstein and W Beulke, tlđd(37), § 37, tr.239

42

G Maxwell and A Morris (1993), tlđd (14), tr.170

43 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.47

Trang 23

toàn không tính đến nạn nhân.44 Sự nhấn mạnh về tội phạm này dựa trên triết lý cơ bản của luật hình sự ngày nay, đó là hành vi phạm tội gây hại cho xã hội, nghĩa là cho toàn bộ tập thể Vì vậy, Nhà nước và các cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm truy tố hình sự vì lợi ích công cộng Tuy nhiên, triết lý này gần như là bỏ qua thực tế rằng tội phạm thường là gây hại cho những cá nhân cụ thể Vì vậy, người phạm tội thường không nhận ra tác động thực sự của những gì họ đã làm, trong khi nạn nhân vẫn là một người vô hình ngoài thủ tục tố tụng hình sự và chỉ biết rằng người phạm tội ở một nơi nào đó đang chịu một hình phạt nào đó mà các cơ quan chức năng coi là cần thiết

Mô hình hòa giải và tư pháp phục hồi cho rằng tội phạm hình sự là một sự vi phạm của các cá nhân với mối quan hệ của họ Khi một hành vi phạm tội được thực hiện, mối quan hệ giữa hai cá nhân thường bị ảnh hưởng nhiều và bị tổn hại như toàn thể xã hội Do đó, ý tưởng chính của mô hình tư pháp phục hồi là tạo ra các nghĩa vụ để đặt mọi thứ trở lại đúng vị trí của nó.45 Vì lý do này, các nạn nhân, người phạm tội và cộng đồng phải tham gia vào việc tìm kiếm các giải pháp cho phép hòa giải, sửa chữa các mối quan hệ và khắc phục hậu quả Như vậy, mô hình

tư pháp phục hồi xác định lại tội phạm bằng cách xem nó gây tổn hại cho cá nhân khác chứ không phải là gây tổn hại cho xã hội, nhà nước và pháp luật Do đó, mô hình tư pháp phục hồi ủng hộ một sự chuyển từ hình phạt thông qua Nhà nước sang thỏa thuận và hòa giải giữa các bên bị ảnh hưởng, từ trừng trị người phạm tội đến khắc phục hậu quả cho nạn nhân, và từ xa lánh và khắc nghiệt đến hòa nhập cộng đồng.46

Mô hình này đặc biệt có giá trị từ quan điểm giáo dục: cải thiện sự hiểu biết giữa các bên; buộc người chưa thành niên phạm tội chịu trách nhiệm về hành động của mình; làm cho người chưa thành niên phạm tội nhận ra rằng mình đã làm tổn hại người khác và dẫn đến mối liên hệ giữa ―hình phạt‖ (dưới hình thức lời xin lỗi trực tiếp và hành động để bù đắp thiệt hại gây ra) và hành vi vi phạm Hơn nữa, hòa

44 M H Boys (1998), ―Foreword‖, in H Bowen and J Consedine (eds) Restorative Justice, Contemporary

Themes And Practice, tr.7

45 H Bowen (1998), ―Making Justice Work‖, in H Bowen and J Consedine (eds) Restorative Justice,

Contemporary Themes And Practice, tr 17

46 J Consedine (1993), Restorative Justice, Healing the Effects of Crime, tr 11

Trang 24

giải trong tư pháp người chưa thành niên có thể tránh được sự xuất hiện của tòa án,

hồ sơ tội phạm và các án giam giữ cùng với các tác động có hại của chúng.47

Mô hình hòa giải và tư pháp phục hồi cũng có một số hạn chế: có thể dẫn đến việc thiếu quy trình pháp lý trong việc hòa giải và vi phạm quyền của bên yếu hơn; hòa giải luôn mang nhiều nguy cơ cho nạn nhân; hiệu quả của hòa giải phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của các hòa giải viên, những người có thể thao túng hoặc ép buộc các bên hòa giải và do đó ảnh hưởng đến kết quả; kết quả và thỏa thuận hòa giải có thể thiên vị hoặc có thể không cân xứng với hành vi phạm tội; không có sự

kiểm soát bên ngoài của quá trình hòa giải…

1.2 Mô hình tư pháp người chưa thành niên của New Zealand

1.2.1 Một số đặc điểm về hệ thống pháp lý và tình hình người chưa thành niên phạm tội của New Zealand

1.2.1.1 Một số đặc điểm về hệ thống pháp lý của New Zealand

Do đặc điểm lịch sử, các cấu trúc cơ bản của hệ thống tư pháp của New Zealand dựa trên luật pháp của nước Anh New Zealand không có một bản hiến pháp thành văn duy nhất Các quy định của Hiến pháp nằm rải rác trong nhiều văn bản cùng với các tiền lệ pháp của New Zealand cấu thành hiến pháp quốc gia Các văn bản quan trọng trong hiến pháp của nước này bao gồm Luật Hiến pháp 1986, Điều luật về các quyền của New Zealand 1990, Luật Bầu cử 1993, Thỏa ước Waitangi và quy định về thứ bậc trong Hạ viện

Hệ thống luật pháp của New Zealand bắt nguồn từ hệ thống luật của Anh và gồm hai nguồn cơ bản: (1) Thông luật, đây là một bộ phận luật hình thành từ các quyết định do nước Anh và New Zealand đưa ra; (2) Luật hiến định, luật này do Nghị viện soạn thảo.48

Hệ thống Toà án ở New Zealand được tổ chức thành 4 cấp: Toà án cấp cơ sở, Toà án cấp cao, Toà án cấp phúc thẩm và Toà án tối cao Toà án cấp cơ sở giải quyết 95% số vụ án xảy ra ở New Zealand, đó là các vụ án hình sự do một thẩm phán xét

xử, thẩm phán Toà án này có thẩm quyền xét xử đến 20 năm tù, các tranh chấp dân

sự dưới 250.000 đô la New Zealand Toà án cấp cao xét xử các vụ án có bồi thẩm đoàn và các tranh chấp dân sự có giá trị trên 250.000 đô la New Zealand; Toà án cấp

47 G Maxwell and A Morris (1993), tlđd (14), tr 171

48 Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, ―Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về chế độ công chức, công vụ của New Zealand‖, http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/803/language/vi-VN/Bao-cao-k-t- qu-nghien-c-u-kh-o-sat-v-ch-d-cong-ch-c-cong-v-c-a-New-Zealand.aspx, truy cập ngày 26/8/2018

Trang 25

phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị của Toà án cấp cao; Toà án tối cao xét xử những vụ án có kháng cáo, kháng nghị của Toà án cấp dưới nhưng có liên quan đến việc giải thích pháp luật và các bản án đó trở thành khuôn mẫu án lệ cho Toà án cấp dưới áp dụng trong hoạt động xét xử.49 Tòa án Tối cao được thành lập vào năm 2004, sau khi Đạo luật Tòa án Tối cao được New Zealand thông qua vào năm

2003 và chấm dứt quyền kháng cáo của công dân lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh

Tòa án hình sự đặc biệt duy nhất là Tòa án người chưa thành niên – một bộ phận của Tòa án cấp cơ sở, chịu trách nhiệm xử lý các trường hợp liên quan đến trẻ

em và thanh thiếu niên dưới 17 tuổi Thủ tục tại Tòa án người chưa thành niên mang tính không chính thức và hỗ trợ hơn là trừng phạt người chưa thành niên Theo hệ thống tư pháp hình sự người chưa thành niên hiện tại được thành lập theo CYPFA, phần lớn những người chưa thành niên phạm tội bị xử lý bên ngoài hệ thống tòa án chính thức bằng cách chuyển hướng hoặc một quy trình tư pháp không chính thức có sự tham gia rộng rãi của gia đình, cộng đồng và nạn nhân Tòa án người chưa thành niên không thể ra phán quyết hoặc ra quyết định trước khi một

Hội nghị nhóm gia đình (Family Group Conference – FGC) đã được tổ chức và khi

ra phán quyết phải tính đến kế hoạch và khuyến nghị được xây dựng bởi FGC

1.2.1.2 Tình hình người chưa th nh ni n phạm tội ở New Zealand

Theo một báo cáo kết quả nghiên cứu của Bộ Phát triển Xã hội của New Zealand công bố năm 2016,50 ước tính trong hai mươi trẻ em New Zealand thì có một

em phạm tội trước tuổi 14 Ước tính có khoảng 5% trẻ em từ năm 1995 đến năm

1999 được Cảnh sát ở New Zealand triệu tập vì đã phạm tội trước khi lên 14 tuổi Các

bé trai (7%) có khả năng phạm tội cao gấp 2 lần nữ (4%)

Số lượng người phạm tội trẻ em đã giảm đáng kể Đã có một sự sụt giảm đáng

kể (34%) về số trẻ em từ 10 -13 tuổi được Cảnh sát chú ý vì vi phạm trong năm năm (từ 5.097 năm 2009 còn 3.374 trong năm 2013) Tỷ lệ vi phạm trên 1.000 trẻ em trong độ tuổi từ 10 - 13 tuổi cư trú tại New Zealand giảm gần bằng cùng một giá trị (33%) trong giai đoạn 2009 - 2013, cho thấy rằng những thay đổi dân số không phải

là nguyên nhân chính làm giảm số trẻ em phạm tội

Trang 26

Trẻ em người Maori có khả năng phạm tội cao hơn gấp ba lần so với trẻ em không phải người Maori ở tuổi 14 Sự khác biệt lớn hơn giữa trẻ em trai người Maori so với trẻ em trai không phải người Maori Trẻ em người Maori chiếm hơn một nửa tổng số người phạm tội trẻ em Trong năm 2013, trẻ em người Maori chiếm 59% số trẻ em phạm tội so với 56% trong năm 2009 Về tỷ lệ điều chỉnh dân

số do trẻ em từ 10 - 13 tuổi vi phạm, trẻ em Maori có khả năng bị bắt vào năm 2013 cao gấp 6 lần so với trẻ em châu Âu /trẻ em khác, và gần gấp 5 lần trẻ em Thái Bình Dương Những sự chênh lệch này đã tăng lên một chút trong vòng 5 năm (2009 – 2013)

Trộm cắp, đặc biệt là trộm cắp vặt, là loại hành vi phạm tội thường gặp nhất của trẻ em, theo sau là đột nhập trộm cắp và cướp tài sản Trộm cắp có sự sụt giảm

số lượng lớn nhất giữa năm 2009 và 2013 (898 hoặc 43%) Các hành vi bạo lực của trẻ em đã giảm trong năm năm qua: phạm tội liên quan đến cướp tài sản giảm một nửa, trong khi các hành vi nhằm mục đích gây thương tích giảm 25% Tội phạm tình dục là loại tội phạm duy nhất không giảm số lượng trong năm năm qua Số trẻ

em từ 10 - 13 tuổi bị Cảnh sát xử lý là những người phạm tội lần đầu giảm 41% (1.344) trong giai đoạn 2009 – 2013 (nhiều hơn so với mức giảm của những người tái phạm tội trong cùng thời kỳ (21% hoặc 379))

Hơn một nửa số trẻ em phạm tội tái phạm trong vòng hai năm Chỉ hơn một phần ba số trẻ em phạm tội trong năm 2009 tái phạm trong vòng 12 tháng kể từ khi

bị Cảnh sát bắt giữ, trong khi hơn một nửa tái phạm trong vòng hai năm Trong vòng bốn năm kể từ khi bị bắt giữ vào năm 2009, hai phần ba số trẻ em đã tái phạm Các bé trai có nhiều khả năng tái phạm hơn các bé gái bất kể thời gian theo dõi Điều này cũng đúng đối với trẻ em người Maori so với tất cả các nhóm dân tộc khác Tỷ lệ tái phạm thường cao hơn ở những đứa trẻ lớn tuổi hơn Trẻ em bị bắt vì tội trộm cắp và có liên quan trộm cắp nhiều khả năng sẽ tái phạm Những trường hợp trẻ em đã tái phạm có khả năng tiếp tục tái phạm nhiều hơn những người phạm tội lần đầu Người chưa thành niên tái phạm có khả năng bị áp dụng các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc hơn và những người thường xuyên phạm tội trong quá khứ càng có nhiều khả năng họ sẽ tái phạm trong tương lai

Trang 27

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp New Zealand năm 2017,51 số thanh thiếu niên ra tòa năm 2017 vẫn ở mức thấp 1.884 trẻ em và thanh thiếu niên đã bị kết tội tại tòa vào năm 2017 (bao gồm Tòa án người chưa thành niên, Tòa án cấp cơ

sở và Tòa án Cấp cao) Con số này thấp hơn khoảng 105 (5%) so với năm 2016 nhưng tương đương với năm 2015 Trước năm 2015, số thanh thiếu niên tại tòa án

đã giảm đáng kể mỗi năm (năm 2017 có ít hơn 25% so với năm 2013 và ít hơn 63%

so với năm 2007) Thanh thiếu niên chiếm dưới 3% tổng số người tại tòa vào năm

2017

Nhiều thanh thiếu niên Maori ra tòa hơn các dân tộc khác Người Maori chiếm khoảng 64% tổng số thanh thiếu niên bị buộc tội trong năm 2017, hơn tất cả các dân tộc khác (1.197 người Maori) so với 426 người châu Âu, 174 người Thái Bình Dương,

30 người khác và 57 dân tộc không rõ) Trong khi số lượng thanh thiếu niên trong tất

cả các dân tộc khác tiếp tục giảm thì số lượng thanh thiếu niên Maori trong năm 2017 vẫn tương tự như con số trong năm 2014 Số lượng thanh thiếu niên Maori phạm tội trong năm 2017 đã giảm so với năm 2016 (6%) xuống còn 1.266, sau mức tăng 8% trong năm 2016 Số thanh thiếu niên Châu Âu giảm 2% trong năm 2017 xuống 426, số lượng thanh thiếu niên Thái Bình Dương giảm theo tỷ trọng lớn nhất (17%) Tỷ lệ thanh thiếu niên Maori ra tòa án đã tăng khoảng 49% so với năm 2008 Mặc dù số lượng thanh thiếu niên Maori ra tòa án trong 10 năm qua giảm (từ 2.421 năm 2008 đến 1.197 vào năm 2017), người Maori chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong số thanh thiếu niên tại tòa án vì tỷ lệ giảm chậm hơn nhiều so với thanh thiếu niên Châu Âu và Thái Bình Dương

Hầu hết thanh thiếu niên tại tòa án là nam giới và hầu hết là 15 hoặc 16 tuổi Trong số tất cả thanh thiếu niên tại tòa vào năm 2017, 80% là nam giới Tỷ lệ này vẫn không thay đổi nhiều kể từ năm 1992 Đây là một tỷ lệ tương tự như người lớn tại tòa án Trong năm 2017, 1.392 (74%) thanh thiếu niên ra tòa án là 15 hoặc 16 tuổi; 60% thanh thiếu niên ra tòa là nam giới từ 15 đến 16 tuổi Số trẻ em 14 và 16 tuổi giảm so với năm 2016 (8% đối với trẻ ít hơn 14 tuổi và 9% đối với trẻ ít hơn 16 tuổi), trong khi số trẻ em 12 - 13 tuổi tăng (không có thay đổi về số trẻ em tuổi 15) Tội phạm về tài sản vẫn còn phổ biến nhưng số vụ cướp đã tăng lên Vào năm

2017, thanh thiếu niên thường bị buộc tội đột nhập trộm cắp (25%), trộm cắp (19%) hoặc cướp (15%) được xem là những hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất Đây là

51 Ministry of Justice (2017), Youth prosecution statistics (Data highlights for 2017)

Trang 28

lần đầu tiên số lượng thanh thiếu niên bị buộc tội cướp đã vượt quá số lượng thanh thiếu niên bị buộc tội tấn công

Số thanh niên có hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất là cướp tiếp tục tăng trong năm 2017 (tăng 36% từ 207 năm 2016 lên 282 trong năm 2017), sau khi giảm đều đặn từ năm 2006 đến năm 2015 (từ 321 năm 2006 xuống còn 174 vào năm 2015) Ngược lại, có một sự giảm 11% số thanh thiếu niên có hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất là đột nhập trộm cắp (từ 525 đến 465 thanh thiếu niên) hoặc trộm cắp (từ 405 đến 360 thanh thiếu niên), so với năm 2016 Điều này phù hợp với xu hướng giảm chung của các hành vi phạm tội này trong 10 năm qua

Tóm lại, có thể nói rằng thanh thiếu niên phạm tội ở New Zealand không tăng đáng báo động Thay vào đó, có xu hướng giảm và tương đối ổn định từ năm 2007

1.2.2 Hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand

Khi người chưa thành niên bị cáo buộc phạm tội ở New Zealand, họ thường được xử lý bởi hệ thống tư pháp người chưa thành niên Hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở New Zealand dựa vào pháp luật dành riêng cho người chưa thành niên CYPFA là đạo luật chính của New Zealand liên quan đến tư pháp người chưa thành niên, điều chỉnh quá trình tố tụng đối với người chưa thành niên trước Tòa án người chưa thành niên và bao gồm nhiều biện pháp pháp lý khác nhau để xử lý những người chưa thành niên phạm tội

- Về đối tượng của hệ thống tư pháp người chưa thành niên:

Theo khoản 1 Điều 21 của Đạo luật Tội phạm năm 1961 (Crimes Act 1961), chỉ

truy cứu TNHS đối với người từ 10 tuổi trở lên Theo khoản 1 Điều 2 của CYPFA, người dưới 14 tuổi được gọi là ―trẻ em‖, người từ 14 tuổi đến dưới 17 tuổi được gọi

là ―thanh thiếu niên‖ Như vậy, hệ thống tư pháp người chưa thành niên của CYPFA chỉ áp dụng cho các cá nhân trong độ tuổi từ 10 đến dưới 17 Các đối tượng cụ thể của hệ thống tư pháp hình sự người chưa thành niên:52

+ Người từ 10 tuổi đến dưới 14 tuổi phạm tội thuộc các trường hợp:

 Người từ 10 tuổi đến dưới 14 tuổi phạm tội giết người hoặc ngộ sát

 Người từ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi tái phạm hoặc phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt tối đa cho tội phạm này là từ 10 năm tù trở lên

52 http://youthlaw.co.nz/rights/the-youth-justice-system/, truy cập ngày 16/9/2018

Trang 29

Ngoài các trường hợp này, người từ 10 tuổi đến dưới 14 tuổi phạm tội sẽ được

xử lý theo hệ thống chăm sóc và bảo vệ, có thể được xử lý qua hội nghị nhóm gia đình và Tòa án Gia đình

+ Người từ 14 tuổi đến dưới 17 tuổi phạm tội Ngoại trừ các tội phạm nghiêm trọng như tội giết người, ngộ sát, gây hỏa hoạn có thể bị buộc tội tại các tòa án dành cho người đã thành niên

- Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội:

+ Hạn chế áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN phạm tội:53

Các nguyên tắc này dựa trên lý thuyết là hệ thống tư pháp cho cả người đã thành niên và người chưa thành niên không thể chấm dứt các hành vi phạm tội và tố tụng hình sự không nên được áp dụng nếu có biện pháp thay thế Bởi vì việc tiếp xúc với hệ thống tư pháp hình sự có thể làm tăng khả năng tái phạm thông qua các yếu tố như ghi nhãn hoặc tập hợp tiếp xúc với những người phạm tội khác, trong khi chuyển hướng khỏi tố tụng hình sự không làm tăng tỷ lệ tái phạm và có khả năng giảm bớt chúng Các biện pháp xử lý dựa vào cộng đồng có thể được lên kế hoạch và có khả năng tập trung tốt hơn vào hành vi phạm tội

Theo các nguyên tắc này thì người chưa thành niên phạm tội nên được giải quyết bằng các biện pháp khác hơn là tố tụng hình sự, trừ khi lợi ích công cộng có yêu cầu khác và cũng không nên áp dụng thủ tục tố tụng hình sự kể cả là vì mục đích phúc lợi; người chưa thành niên nên được ở cùng với cộng đồng càng lâu càng tốt Theo CYPFA, các biện pháp khác có thể là nhắc nhở, cảnh cáo và kế hoạch chuyển hướng trong cộng đồng

+ Khuyến khích sự tham gia của gia đình, nạn nhân trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội:54

Các nguyên tắc này dựa trên tầm quan trọng sự tham gia của gia đình vào các quyết định ảnh hưởng đến trẻ em hoặc thanh thiếu niên và tầm quan trọng của việc duy trì và tăng cường mối quan hệ gia đình đã được công nhận Nó đã được thừa nhận rằng các gia đình có quan tâm đến lợi ích và hạnh phúc của con cái họ và hầu hết có thể và sẵn sàng giúp đỡ con cái sữa chữa lỗi lầm thông qua các tác động đến hành vi của chúng Bên cạnh đó là trao quyền cho các nạn nhân, bởi vì tội phạm trực tiếp tác động đến cá nhân cụ thể nên sự tham gia trực tiếp của nạn nhân vào quá

53

Khoản a, b, d Điều 208 của CYPFA

54 Khoản c, g Điều 208 của CYPFA

Trang 30

trình xử lý tội phạm sẽ giúp tập trung vào việc ―xử lý đúng‖ hơn là ―trừng phạt‖ người phạm tội

Các nguyên tắc này khuyến khích gia đình, người thân và nạn nhân tham gia vào quá trình quyết định cách xử lý người chưa thành niên phạm tội Sự tham gia của gia đình, người thân và nạn nhân được tạo điều kiện bởi việc tổ chức Hội nghị nhóm gia đình (FGC), một cơ chế tư vấn được triệu tập bởi một Điều phối viên tư pháp người chưa thành niên ở các giai đoạn khác nhau của thủ tục tố tụng

+ Phải phù hợp và bảo đảm sự phát triển của người chưa thành niên:55

Các nguyên tắc này dựa trên đặc điểm chưa phát triển toàn diện của người chưa thành niên và tính dễ bị tổn thương của họ trong các hoạt động tố tụng Nguyên tắc (fa) được bổ sung năm 2010 cho phép một cách tiếp cận phúc lợi nhiều hơn (mặc dù vẫn còn hạn chế) của CYPFA

Theo các nguyên tắc này bất kỳ biện pháp xử lý nào đối với người chưa thành niên phải phù hợp với độ tuổi, có hình thức hạn chế nhất, phù hợp với hoàn cảnh của họ và có tính đến nhu cầu nuôi dưỡng sự phát triển của người phạm tội trong gia đình Bên cạnh đó, người chưa thành niên phạm tội được bảo vệ đặc biệt trong bất kỳ cuộc điều tra nào liên quan đến hành vi phạm tội: Trước khi bị thẩm vấn, người chưa thành niên phải được thông báo về các quyền của mình56

như: quyền giữ im lặng, tư vấn luật sư và yêu cầu sự hiện diện của một người đã thành niên được đề cử theo CYPFA.57 Các quyền này phải được giải thích cho người đó theo cách thức và ngôn ngữ phù hợp với tuổi và mức độ hiểu biết của họ.58 Ngoài ra, cha

mẹ hoặc người giám hộ phải được thông báo khi người chưa thành niên bị bắt.59Nếu không tuân thủ các biện pháp bảo vệ này, bất kỳ lời khai nào của người chưa thành niên đều không được chấp nhận làm chứng cứ.60

Như vậy, có thể thấy các nguyên tắc của CYPFA về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phù hợp với tinh thần của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em Các nguyên tắc này nhấn mạnh quá trình xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội, bảo vệ họ trong quá trình điều tra tội phạm nhưng đồng thời cũng thể hiện sự chú trọng vào việc buộc người chưa thành niên chịu

55

Khoản e, f, fa, h Điều 208 của CYPFA

56 Điều 215 của CYPFA

57 Điều 215, 221, 222, 227, 228 của CYPFA

58 Điều 215A, 217 - 220 của CYPFA

59

Điều 229 đến 232 của CYPFA

60 Điều 221 đến 226 của CYPFA

Trang 31

trách nhiệm về hành vi phạm tội Các nguyên tắc này cũng thể hiện sự khuyến khích sự tham gia của gia đình, nạn nhân vào quá trình ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

- Về thẩm quyền và biện pháp xử lý:

Ba cơ quan chính trực tiếp tham gia các hoạt động tư pháp người chưa thành niên phạm tội theo CYPFA là: Cảnh sát New Zealand (NZP); Bộ phận Trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình (CYF)61 của Bộ Phát triển Xã hội; Tòa án người chưa thành niên trong Bộ Tư pháp của New Zealand

+ NZP chịu trách nhiệm về việc điều tra tội phạm và trình bày cáo buộc tại tòa

án Sau khi xác định người chưa thành niên phạm tội, NZP có các lựa chọn: Bắt giữ người chưa thành niên (đối với người từ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi sẽ có thêm một số hạn chế bắt giữ) và trực tiếp cáo buộc tại Tòa án người chưa thành niên; đề nghị CYF tổ chức FGC để xác định xem trường hợp đó có thể được giải quyết hoặc phải đưa ra Tòa án người chưa thành niên; áp dụng các biện pháp thay thế đối với người chưa thành niên phạm tội (được thực hiện bởi bộ phận Youth Aid của NZP); đưa ra một nhắc nhở hoặc cảnh cáo đối với người chưa thành niên.62

+ CYF chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch liên quan đến cộng đồng cho trẻ em

và thanh thiếu niên có liên quan đến pháp luật, các cơ sở giam giữ, cũng như tổ chức các Hội nghị nhóm gia đình (FGC) bởi các điều phối viên tư pháp người chưa thành niên FGC sẽ thảo luận và xây dựng một kế hoạch xử lý người chưa thành niên phạm tội, trong đó bào gồm các nội dung mà người chưa thành niên phải thực hiện như: xin lỗi, bồi thường cho nạn nhân, làm việc cho nạn nhân hoặc cộng đồng, quyên góp cho các tổ chức từ thiện, tham dự các chương trình đào tạo tư vấn… + Tòa án người chưa thành niên xử lý các trường hợp liên quan đến người chưa thành niên phạm tội bị truy tố chính thức Riêng các trường hợp người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, ngộ sát, cướp, hiếp dâm… thì tòa án người chưa thành niên chỉ tiến hành các phiên điều trần ban đầu, sau đó chuyển cho tòa án cấp cơ sở hoặc tòa án cấp cao xử lý Tòa án người chưa

61 Từ tháng 04/2017, CYF được thay thế bởi Bộ Trẻ em có thể bị tổn thương (the Ministry for Vulnerable Children)

62 Ziyad Hopkins (2015), ltlđd(15), tr.17

Trang 32

thành niên cũng không xử lý các trường hợp phạm tội liên quan đến giao thông.63Tòa án người chưa thành niên có thể áp dụng các biện pháp xử lý người chưa thành niên như: cảnh cáo; buộc bồi thường thiệt hại; tịch thu tài sản; phạt tiền; buộc tham

dự một chương trình phục hồi chức năng hoặc tư vấn; lao động cộng đồng; tước bằng lái xe hoặc tịch thu phương tiện (các trường hợp liên quan đến giao thông); các biện pháp giám sát; đưa vào cơ sở giáo dục…

Ở New Zealand không có cơ quan Công tố độc lập mà Nhà nước phối hợp cùng với các Văn phòng Luật sư để trao cho các Văn phòng này thực hành quyền công tố tại phiên toà hình sự ở các Toà án, từ Toà án cấp Cơ sở đến Toà án Tối cao.64

Như vậy, có thể thấy rằng hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand chứa đựng cả hai cách tiếp cận phúc lợi và công lý Theo CYPFA, quyền tài phán liên quan đến chăm sóc, bảo vệ (phúc lợi) và các vấn đề công lý đối với người chưa thành niên bây giờ được chia rõ ràng Theo đó, vấn đề phúc lợi hay công lý được đưa ra trong hoàn cảnh của hành vi phạm tội và người chưa thành niên chịu trách nhiệm về hành vi của họ theo một hệ thống sáng tạo, gồm một diễn đàn ra quyết định mới - FGC và Tòa án người chưa thành niên.65

Hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand cũng chứa đựng nhiều yếu tố của mô hình chuyển hướng và mô hình hòa giải và tư pháp phục hồi nhằm mục đích bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên ra khỏi hệ thống tư pháp hình sự chính thức, trong khi cũng đồng thời buộc họ trách nhiệm và khuyến khích họ chịu trách nhiệm về những gì họ đã làm Tuy nhiên, CYPFA cung cấp khả năng chuyển một số người chưa thành niên phạm tội đến Tòa án cấp Cơ sở hoặc Tòa án Cấp cao để xét xử hoặc kết án nghiêm trọng hơn nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định Điều này cho thấy, hệ thống tư pháp người chưa thành niên của New Zealand đã giữ lại một số khía cạnh của mô hình kiểm soát tội phạm

1.3 Mô hình tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam

63 Từ ngày 01/07/2019, Tòa án người chưa thành niên sẽ được xử lý hầu hết các trường hợp 17 tuổi bị buộc tội, trừ các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (chẳng hạn như vụ cướp lớn) có thể được chuyển đến Tòa án cấp cơ sở Nguồn: ―Youth Court overview‖, https://www.youthcourt.govt.nz/about-youth-

court/overview/, truy cập ngày 16/9/2018.

64 ―Cơ quan Công tố và việc tranh tụng tại các nước Australia và New Zealand‖, khoa-hoc/chi-tiet/119/623, truy cập ngày 26/8/2018

http://tks.edu.vn/thong-tin-65 Katja Kristina Wiese (2007), tlđd(13), tr.331

Trang 33

1.3.1 Một số đặc điểm về hệ thống pháp lý và tình hình người chưa thành niên phạm tội của Việt Nam

1.3.1.1 Một số đặc điểm về hệ thống pháp lý của Việt Nam

Các nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam cho thấy hệ thống pháp luật XHCN tại Việt Nam kế thừa nhiều đặc điểm của truyền thống pháp luật XHCN khởi nguồn từ Nhà nước Nga Xô viết Hệ thống pháp luật Việt Nam bị thống trị bởi

03 học thuyết quan trọng: Pháp chế XHCN, tập trung dân chủ và làm chủ tập thể

Ba học thuyết này đã đưa ra 04 nguyên tắc cơ bản của pháp luật XHCN tại Việt

Nam: thứ nhất, luật pháp khởi nguồn từ nhà nước và không cao hơn nhà nước; thứ

hai, Đảng và Nhà nước sở hữu những đặc quyền dùng chính sách thay pháp luật; thứ ba, tuy pháp luật hoạt động nhưng không kiểm soát quyền lực nhà nước; thứ tư,

những quyền pháp lý cá nhân phải dành sự ưu tiên cho lợi ích tập thể công cộng66 Trong giai đoạn đổi mới, một số lý luận nhà nước và pháp luật của Việt Nam đã được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Những bổ sung và phát triển nổi bật trong thời gian đổi mới tại Việt Nam cần phải

kể đến là sự thừa nhận yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, chấp nhận và phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm, vai trò của xã hội dân sự trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được nhìn nhận, từng bước minh bạch vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của nhà nước, nhận thức được yêu cầu xây dựng và phát triển một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai

và minh bạch.67

Hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có mối quan hệ nội tại hữu cơ, nội dung của văn bản có hiệu lực pháp lý thấp không được trái với nội dung của văn bản có hiệu lực pháp lý cao Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các đạo luật tố tụng thì khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự; bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự phải được giải quyết như nhau

66 Nguyễn Xuân Tùng, ―Truyền thống pháp luật XHCN tại Việt Nam: Đôi điều suy ngẫm‖,

http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1468, truy cập ngày 25/8/2018

67 Nguyễn Xuân Tùng, tlđd(66)

Trang 34

Cấu trúc tòa án của Việt Nam hiện nay theo Luật Tổ chức TAND năm 2014 gồm bốn cấp (không tính đến hệ thống tòa án quân sự) Đầu tiên là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết sơ thẩm các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của luật tố tụng Tiếp theo là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, xét xử sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền theo quy định của luật tố tụng; phúc thẩm bản án, quyết định của TAND huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng

Cấp thứ ba là Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm

của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật vị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật

tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng Cấp cao nhất là Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án các cấp đã có hiệu lực bị kháng nghị theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, đối với giải quyết các vụ án hình sự còn có Tòa gia đình và người chưa thành niên là tòa chuyên trách trực thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh;

có thẩm quyền giải quyết các vụ việc như sau: Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự

hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác.68 Tòa án gia đình và người chưa thành niên được thành lập lần đầu tiên tại Việt Nam theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Tòa gia đình và người chưa thành niên được thiết lập với mục tiêu đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và người chưa thành niên, trong đó tập trung quan tâm đến trẻ em, người chưa thành niên vi phạm pháp luật và trẻ em, người chưa thành niên là nạn nhân của những hành vi phạm tội, xung đột và mâu

68 Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao quy định việc tổ chức các tòa

chuyên trách tại tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương

Trang 35

thuẫn trong gia đình.69 Tuy nhiên, tính đến tháng 6/2018, trên cả nước mới chỉ có hai địa phương thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên là Thành phố Hồ Chí Minh (3/2016) và tỉnh Đồng Tháp (6/2018) Điều này cho thấy phần lớn người chưa thành niên phạm tội vẫn phải trải qua quá trình xét xử tại các tòa án người đã thành niên

1.3.1.2 Tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về vấn đề nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, lao động… liên quan đến người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, do những tác động tiêu cực từ mặt trái của của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã làm cho tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội diễn biến ngày càng phức tạp Mặc dù số vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện có giảm về số vụ và số đối tượng nhưng tính chất, mức độ phạm tội lại nguy hiểm hơn trước đây với hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, ma túy Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự, trong 5 năm (2011 - 2015), toàn quốc phát hiện 37.675 vụ phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện; số vụ án do người dưới 18 tuổi tái phạm lần thứ hai trở lên vẫn chiếm trên 45%.70

Theo kết quả của cuộc khảo sát 2.009 người chưa thành niên phạm tội được thực hiện vào năm 2012 tại 4 trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an71 cho thấy:

- Đặc điểm nhân thân người chưa thành niên vi phạm pháp luật: nam giới

chiếm đa số (96,3%) Về độ tuổi, 84,6% thuộc nhóm 15-18, 12,9% dưới 14 tuổi Có 91,2% người dân tộc Kinh, dân tộc thiểu số chiếm 8,8%

- Các nhóm tội phạm phổ biến: trộm cắp tài sản; nhóm xâm phạm trật tự công

cộng (bao gồm gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích); nhóm tội phạm nghiêm trọng (bao gồm giết người, cướp tài sản và hiếp dâm); nhóm các tội phạm khác (đánh bạc, buôn bán sử dụng ma túy) Trộm cắp tài sản là tội phạm phổ biến

69 Nguyên Anh, ―Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam‖,

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/299083?pers_id=1751941&folder_id=&item_id=185438473&p _details=1, truy cập ngày 16/9/2018.

70 ―Gia tăng người chưa thành niên phạm tội‖, toi-6457.html, truy cập ngày 26/8/2018

http://kinhtedothi.vn/gia-tang-nguoi-chua-thanh-nien-pham-71 Nguyễn Ngọc Hải (2012), ―Nguyên nhân của tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt

Nam qua khảo sát tại 4 trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an‖, huy n đề h ng tin ội phạm học, số

1/2015, Tạp chí Cảnh sát nhân dân

Trang 36

nhất với tỷ lệ trung bình là 70,9% Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng chiếm trung bình 20%, trong khi nhóm tội phạm nghiêm trọng chỉ chiếm 6,4% Theo số liệu của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an) tổng kết từ báo cáo của Công an các địa phương, trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước xảy ra 2.258 vụ vi phạm pháp luật do 3.340 người dưới 18 tuổi gây ra Đặc biệt, phạm tội lần đầu chiếm tỷ lệ đa số với 3.009 đối tượng; phạm tội lần thứ 2 trở lên là 331 đối tượng.72 Cụ thể:

- Về tội danh: giết người: 36 vụ, 63 đối tượng; cướp tài sản: 59 vụ, 103 đối tượng; cố ý gây thương tích: 302 vụ, 574 đối tượng; trộm cắp tài sản: 896 vụ, 1.200 đối tượng…

- Về lứa tuổi: dưới 14 tuổi: 174 đối tượng (5,2%); từ 14 đến dưới 16 tuổi: 818 đối tượng (24,5%); từ 16 đến dưới 18 tuổi: 2.348 đối tượng (70,3%)

- Về trình độ văn hóa: không biết chữ: 121 đối tượng (3,6%), tiểu học: 556 đối tượng (16,6%), trung học cơ sở: 1.765 đối tượng (52,8%), phổ thông trung học: 898 đối tượng (26,9%)

- Về kết quả xử lý: hình sự: 833 vụ, 1.067 đối tượng; hành chính: 1.425 vụ, 2.273 đối tượng…

Tóm lại, có thể nói rằng tình hình người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam trong thời gian qua tuy đã được kiềm chế những vần còn diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao Nếu những năm trước đây, người chưa thành niên chủ yếu phạm tội ít nghiêm trọng như trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích… thì trong thời gian gần đây, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nguy hiểm hơn với các hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, các tội phạm về ma túy… Thậm chí, một số trường hợp còn thực hiện cùng một lúc nhiều hành vi đặc biệt nguy hiểm như cướp của, giết người, hiếp dâm… Bên cạnh đó là tình trạng bỏ nhà,

tụ tập hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức, gây án ở phạm vi rộng, trên địa bàn tỉnh và liên tỉnh… gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

1.3.2 Hệ thống tư pháp hình sự người chưa thành niên của Việt Nam

72 Phú Lữ - Ðức Mừng, ―Trẻ em phạm tội ngày càng vượt quá giới hạn của độ tuổi‖,

http://cstc.cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Tre-em-pham-toi-ngay-cang-vuot-qua-gioi-han-cua-do-tuoi-461802/, truy cập ngày 23/2/2018

Trang 37

Thời gian qua Việt Nam có nhiều nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách tư pháp đối với người chưa thành niên, phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, khác với New Zealand, Việt Nam tách riêng tư pháp hành chính và tư pháp hình sự Mặc dù hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam đã có nhưng không được quy định trong một đạo luật riêng mà lại nằm rải rác tại nhiều đạo luật như BLHS, BLTTHS, Luật Thi hành án hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, quy định về các biện pháp xử lý và điều chỉnh quá trình tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội Cùng với quy định hành văn, từ năm 2014 đến nay, Việt Nam cũng bắt đầu sử dụng án lệ trong việc xử lý liên quan đến những người phạm tội chưa thành niên

Mục tiêu của hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên ở Việt Nam là nhằm mục đích chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Với mục tiêu này, hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên ở Việt Nam xoay quanh một số vấn đề sau:

- Về đối tượng của hệ thống tư pháp hình sự người chưa thành niên:73

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội được quy định trong BLHS + Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150,

151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,

290, 299, 303 và 304 của BLHS

- Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội:

+ Nguyên tắc xử lý chung đối với người chưa thành niên phạm tội74:

 Phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên:

Đây là nguyên tắc mới được ghi nhận trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Theo nguyên tắc này, lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên phải được ưu tiên xem xét trong mọi quyết định cũng như hoạt động có liên quan đến người chưa thành niên Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải xem xét một cách nghiêm túc hệ quả đối với người chưa thành niên trước khi chính thức hành động Nguyên tắc này không có nghĩa là bỏ qua các lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác mà là

73

Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

74 Khoản 1 Điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 38

khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với người chưa thành niên phải lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất, tốt nhất đối với người chưa thành niên

 Chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội:

Đây là nguyên tắc thể hiện rõ mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội và mục đích này khác với mục đích xử lý người đã thành niên phạm tội Mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp

đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; trong khi đó, mục đích của việc xử lý người đã thành niên phạm tội là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo.75

Theo nguyên tắc này, khi áp dụng các biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là áp dụng các biện pháp mang tính giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; không nên áp dụng các biện pháp mang tính trừng trị trong trường hợp không thật sự cần thiết

 Phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm:

Nguyên tắc này xuất phát từ nhận thức chung của thế giới về đặc điểm phát triển của người chưa thành niên là thuộc đối tượng ―còn non nớt về thể chất và trí tuệ…‖,76 hành động của họ chịu nhiều sự tác động từ các yếu tố bên ngoài Theo nguyên tắc này, trong quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội, phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,

vì người khả năng nhân thức của người chưa thành niên còn hạn chế mà khả năng nhân thức là một trong những căn cứ xác định tính nguy hiểm cho xã hội của hành

vi Ngoài ra, do sự hình thành nhân cách và đặc điểm nhân thân của người chưa thành niên bị ảnh hưởng rất lớn từ sự giáo dục của gia đình, xã hội và nhà trường nên cũng phải tìm hiểu kĩ về nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm

+ Các nguyên tắc xử lý cụ thể đối với người chưa thành niên phạm tội:

 Chỉ truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp cần thiết:77

75 Khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

76 Lê Thị Sơn (2015), ―Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và sự thể hiện trong Bộ luật

Hình sự‖, Tạp chí Luật học, số 3/2015, tr.55-64

77 Khoản 2, 3 Điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 39

Theo nguyên tắc này, căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của người chưa thành niên, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm mà xác định có truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên hay không Theo đó, người chưa thành niên phạm tội phải được ưu tiên xem xét các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục; việc truy cứu TNHS chỉ được thực hiện khi không thõa mãn các điều kiện này

Theo nguyên tắc này, khi xét xử, Tòa án ưu tiên xét miễn trách nhiệm hình sự

và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp phải truy cứu TNHS - là những biện pháp chủ yếu mang tính chất giáo dục, phòng ngừa đối với người chưa thành niên phạm tội Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như

là biện pháp sau cùng nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp đã nêu không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa Trong trường hợp phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì không áp dụng các hình phạt nghiêm khắc nhất (tù chung thân, tử hình) và hình phạt bổ sung; hạn chế áp dụng hình phạt tù và hình phạt tiền…

 Hạn chế hậu quả mang án tích do bị kết án đối với người chưa thành niên phạm tội:79 Nguyên tắc này xác định đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội thì bản án đã tuyên không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Qua phân tích trên cho thấy, các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội của Việt Nam phù hợp với các quy tắc của Liên Hợp Quốc liên quan đến người chưa thành niên Các nguyên tắc xử lý nêu trên là các nguyên tắc chủ đạo, chi phối quá trình xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội Tinh thần chung, xuyên suốt các nguyên tắc này là đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên phạm tội, mục tiêu giáo dục người chưa thành niên phạm tội, giúp họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh; ưu tiên áp dụng biện pháp xử lý phi hình sự (biện pháp giám sát, giáo dục) và biện pháp xử lý hình sự mang tính chất giáo dục (biện pháp tư pháp); không áp dụng các hình phạt nghiêm khắc nhất (tù chung thân, tử hình) và

78

Khoản 4, 5, 6 Điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

79 Khoản 7 Điều 91 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 40

hình phạt bổ sung; hạn chế áp dụng hình phạt tù và hình phạt tiền, hạn chế hậu quả mang án tích do bị kết án đối với người chưa thành niên phạm tội.80

- Về thẩm quyền và biện pháp xử lý:

Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.81

+ Cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.82

Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra tội phạm và lập hồ sơ, đề nghị truy tố; yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm.83

Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.84

Tòa án có thẩm quyền xét xử, thực hiện quyền tư pháp.85 Tòa gia đình và người chưa thành niên là tòa chuyên trách trực thuộc Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các vụ việc như sau: Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ

về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác.86

+ Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các

cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan, các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.87 Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều

80

Lê Thị Sơn (2015), tlđd(76), tr.55-64

81 Điểm a khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015

82 Khoản 1 Điều 34 BLTTHS năm 2015

83 Điều 8 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015

84

Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

85 Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

86 Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao quy định việc tổ chức các tòa

chuyên trách tại tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương

87 Khoản 1 Điều 35 BLTTHS năm 2015

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm