1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế những vấn đề pháp lý và thực tiễn

73 74 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 765,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động công chứng nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng, từ đó phác họa tổng thể những vấn đề chung cũng n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH



SVTH: PHAN THỊ THÙY MSSV: 3050118

CÔNG CHỨNG VĂN BẢN KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005

BLTTDS: Bộ luật Tố tụng Dân sự được Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2004

CCV: Công chứng viên

CHXHCNVN: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

HĐBT: Hội đồng bộ trưởng

LCC: Luật Công chứng 2000 được Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006

TTLT số 91: Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 17 tháng 10 năm 2008

huớng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng

TTLT số 93: Thông tư liên tịch số 93 /2001/TTLT/-BTC-BTP ngày 21 tháng 11 năm 2001

hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng

TT 03: Thông tư số 03/2001/TT-BTP ngày 04 tháng 3 năm 2001 của Bộ Tư pháp huớng

dẫn thi hành Nghị định 75/2000/NĐ-CP của chính phủ về công chứng chứng thực

TA: Toà án

UBND: Uỷ ban nhân dân

VNDCCH: Việt Nam dân chủ cộng hoà

Trang 3

MỤC LỤC

- -

Trang Lời nói đầu 1

Chương 1: Những vấn đề chung về công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 1.1 Khái niệm công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 4

1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế và văn bản khai nhận di sản thừa kế 4

1.1.1.1Khái niệm di sản thừa kế 5

1.1.1.2Khái niệm văn bản khai nhận di sản thừa kế 14

1.1.2 Khái niệm công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 15

1.1.2.1Khái niệm công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 15

1.1.2.2Mục đích, ý nghĩa, vai trò của công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 22

1.2 Trình tự thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 25

1.2.1 Phạm vi và thẩm quyền công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 31

1.2.2 Trình tự thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 33

1.2.3 Thời gian, địa điểm, lệ phí công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 39

Chương 2: Thực trạng công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế và một số kiến nghị 2.1 Thực trạng công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế 42

2.1.1 Thực trạng về pháp luật 42

2.1.2 Thực trạng về phạm vi, thẩm quyền 45

2.1.3 Thực trạng về trình tự thủ tục 46

2.2 Nguyên nhân của thực trạng 62

2.3 Một số kiến nghị 65

Kết luận 70

Phụ lục

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT

Hoạt động công chứng từ khi ra đời đến nay đã thể hiện được vai trò rất lớn trong việc phòng ngừa tranh chấp, đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch, đồng thời góp phần quản lý xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các giao lưu dân sự không ngừng phát triển cả chất và lượng trên nhiều lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại…Bên cạnh đó, khi Việt Nam trở thành viên của tổ chức WTO, yêu cầu tất yếu của hợp tác đa phương và song phương càng đòi hỏi phải hoàn thiện pháp luật có liên quan trong các lĩnh vực, đặc biệt là các hoạt động bổ trợ tư pháp để tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền của đương sự Trong đó, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật công chứng nói riêng phải hoàn thiện, phát triển tương xứng Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật về hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế cũng như thực tiễn thực hiện còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn

Bên cạnh đó, hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế có ý nghĩa rất lớn đối với người thụ hưởng di sản, hạn chế tình trạng gian dối, bỏ sót đồng thừa kế (đặc biệt là đồng thừa kế định cư ở nước ngoài), góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người có quyền thừa hưởng di sản cũng như bên thứ ba có liên quan Đồng thời, hoạt động này còn giúp Nhà nước trong việc quản lý, cân bằng lợi ích xã hội, hạn chế tranh chấp, tạo môi trường pháp lý bình đẳng cho các bên khi tham gia giao dịch

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động công chứng nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng, từ đó phác họa tổng thể những vấn đề chung cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hoạt động này, tác giả đã lựa chọn

đề tài: “Công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế – Những vấn đề pháp lý và thực tiễn” làm khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình Khóa luận này như là lời bình luận

thêm cho lĩnh vực mang tính chất đặc thù này trong hoạt động công chứng chung ở nước

ta

Trang 5

2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung làm sáng tỏ những vấn

đề công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế, đánh giá thực trạng hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế thuộc thẩm quyền công chứng của Phòng công chứng và Văn phòng công chứng ở một số địa phương hiện nay, chủ yếu là tại TP Hồ Chí Minh Đồng thời phân tích những thiếu sót, hạn chế trong thực trạng hoạt động công chứng văn bản khai nhận thừa kế hiện nay, từ đó tác giả kiến nghị một số biện pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện tốt hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế trong thời gian sắp tới

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA CỦA KHOÁ LUẬN

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã vận dụng những kiến thức lý luận pháp lý từ các môn học chuyên ngành, khảo sát thực tiễn về hoạt động công chứng, từ đó vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài này

Một vài kiến nghị của tác giả tổng kết trong khóa luận mang ý nghĩa hoàn thiện các quy định của pháp luật, mặt khác có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm việc thực hiện tốt hoạt động công chứng nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng trong thời gian sắp tới

4 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN

Với mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu như trên, ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của khóa luận được tác giả trình bày gồm hai chương Cụ thể như sau:

 Chương 1: Những vấn đề chung về công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

 Chương 2: Thực trạng công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế và một số kiến nghị

Đây là một đề tài tuy không mới trong lĩnh vực công chứng nhưng không kém phần lý thú

vì tính chất phức tạp và đặc biệt của nó Góp phần tìm hiểu kỹ hơn về loại việc này trong thực tiễn nhằm từng bước hoàn thiện một phần các quy định pháp luật về công chứng văn

Trang 6

bản khai nhận di sản thừa kế ở nước ta hiện nay là mong muốn của tác giả khi triển khai thực hiện đề tài này Vì vậy, để đề tài này thực sự có những kiến nghị khả thi, đi vào cuộc sống, khái quát các vấn đề toàn diện hơn, tác giả mong muốn được chia sẻ với những người quan tâm để các vấn đề nêu lên trong khóa luận có những đánh giá thật sự khách quan và khóa luận trở thành tài liệu tham khảo có giá trị

Để hoàn thành khóa luận, tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp thông tin và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của Công chứng viên các Văn phòng công chứng, Phòng công chứng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VĂN BẢN KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ

1.1 KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG VĂN BẢN KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ

1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế và văn bản khai nhận di sản thừa kế

Các quan hệ xã hội luôn luôn là những quan hệ vô cùng đa dạng và phức tạp Trong xã hội loài người, sự tồn tại các quan hệ xã hội giữa nhiều loại chủ thể khác nhau là một tất yếu khách quan Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các quan hệ xã hội vốn đã đa dạng và phức tạp nay càng đa dạng và phức tạp hơn Nó không chỉ dừng lại ở các quan hệ về nhân thân - mối quan hệ giữa người với người trong xã hội

mà ngoài ra đó còn là các mối quan hệ nhân thân có gắn với tài sản Để đấu tranh sinh tồn, ngay từ khi xuất hiện, con người đã biết tạo ra của cải vật chất và tham gia vào các quan

hệ trao đổi các sản phẩm do mình làm ra Tuy nhiên, các giao dịch còn mang tính chất nhỏ

lẻ, tạm thời Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày nay các giao dịch về tài sản ngày càng gia tăng với quy mô và tính chất phức tạp hơn nhiều Các giao dịch này không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu của con người mà còn chứa đựng nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, cá nhân đó phải có tài sản và quyền về tài sản Quyền về tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng Vì về nguyên tắc, ai là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản thì có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhưng không được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chủ thể khác, lợi ích

chung, trong đó có quyền dùng tài sản thuộc sở hữu của mình (và được phép giao dịch) để lại thừa kế cho người khác (khi cá nhân đó qua đời)

Để đảm bảo cho các giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại trong xã hội diễn ra thuận lợi, tránh tình trạng tranh chấp xảy ra, ngay từ thời xa xưa con người đã biết nhờ người

khác làm chứng, chứng kiến khi giao dịch diễn ra (thường là những người có uy tín trong

cộng đồng xã hội) Khi xã hội càng phát triển, các giao dịch diễn ra ngày càng nhiều với

quy mô rộng lớn thì sự làm chứng này dần mất đi tính hiệu lực của nó do không thể định

ra các chế tài hoặc các biện pháp cưỡng chế nếu một trong các bên không thực hiện cam

kết của mình Do đó, họ đã nhờ “công quyền” đứng ra thay thế “tư quyền” để bảo vệ

Trang 8

quyền và lợi ích hợp pháp của họ Sự làm chứng do nhà nước thực hiện trở nên có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội

Với ý nghĩa trên, hoạt động công chứng có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm cho việc thực thi các giao dịch về dân sự, thương mại và đối với các giao dịch liên quan đến tài sản – là đối tượng của quan hệ thừa kế thì hoạt động công chứng còn có ý nghĩa hơn nữa Những văn bản xác lập, thực hiện các quyền về tài sản này khi được công chứng, nó

có giá trị pháp lý cao hơn, ràng buộc hiệu lực đối với các bên từ đó góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, hạn chế tranh chấp, vi phạm pháp luật đồng thời cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp

1.1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế

Ở nước ta, chế định thừa kế là một trong những chế định pháp luật cơ bản nhằm bảo đảm quyền của công dân đối với quyền tài sản được ghi nhận trong BLDS nước ta Theo đó, quyền thừa kế được quy định thành một phần riêng biệt – Phần thứ tư với 4 chương quy

định cụ thể quyền, nghĩa vụ và các hình thức thừa kế (từ Điều 631 đến Điều 687) Tuy

nhiên, để hiểu một cách đầy đủ khái niệm về thừa kế là một việc làm hết sức khó khăn

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Thừa kế là hưởng của cải của người đã chết để lại (thừa

kế gia sản ông cha - quyền thừa kế )”1

Dưới góc độ pháp lý, thừa kế được hiểu là sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản có hoặc

không có gắn liền với các nghĩa vụ của người chết là cá nhân (gọi tắt là người để lại di

sản) cho người khác là cá nhân hoặc tổ chức theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định

Việc chuyển dịch tài sản nói trên được thực hiện theo hai hình thức, đó là: thông qua việc định đoạt tài sản bằng cách lập di chúc chỉ định người thừa hưởng di sản hoặc là tài sản được chuyển dịch cho những người thừa kế theo pháp luật 2

BLDS tuy không có điều khoản định nghĩa trực tiếp về thừa kế mà chỉ gián tiếp đề cập

quyền thừa kế của cá nhân tại Điều 631: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài

sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo

di chúc hoặc theo pháp luật”

1

Từ điển Tiếng Việt, Tái bản lần thứ V (2008), NXB Thanh Niên, tr 715;

2 Nguyễn Ngọc Điệp, “Một số điều cần biết về Quyền thừa kế”, NXB Phụ nữ, năm 2001, tr 7,8

Trang 9

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của con người Cá nhân có quyền sở hữu tài sản, quyền định đoạt tài sản của mình khi còn sống và sau khi qua đời

Theo nghĩa rộng, thì quyền thừa kế là một hình thức của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm tổng hợp các quyền và nghĩa vụ về tài sản được chuyển giao từ người chết sang cho

người sống (tức các chủ thể của quyền thừa kế)

Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế là quyền của cá nhân lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng khách thể của quyền thừa kế là sự chuyển dịch toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết và quyền tài sản mà người chết để lại Tài sản này được gọi là di sản thừa kế Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người chết như quyền trợ cấp hưu trí, mất việc, cấp dưỡng… không được coi là di sản thừa kế

Có thể thấy rằng, ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người biết tạo ra nhiều thứ vật dụng để phục vụ cho sản xuất và đời sống của mình Ban đầu, người ta tạo ra nhiều thứ vật dụng thô sơ như rìu bằng đá, quần áo bằng vỏ cây, vải sợi, tiếp theo là các vật dụng phát triển hơn như dao, cuốc bằng đồng rồi bằng sắt… Ngoài những tài sản do con người tạo ra, xã hội loài người còn được thụ hưởng các sản vật có sẵn từ thế giới tự nhiên như trái cây rừng, thịt thú rừng, vàng trong hầm mỏ… những thứ đó được gọi là tài sản Tài sản là một khái niệm rộng, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Khái niệm

tài sản theo nghĩa thông thường là một từ Hán – Việt, ghép bởi hai từ là chữ “tài” và chữ

“sản” Theo cách tách từ, chia nghĩa để hiểu thì “tài” có nghĩa là tiền bạc, của cải vật chất

có giá trị kinh tế, còn“sản” có nghĩa là sự sinh sôi, sản sinh Như vậy, trong bối cảnh diễn

đạt vấn đề cụ thể có gắn với quyền sở hữu, sử dụng của con người đối với những thứ mà mình tạo lập ra thì tài sản có nghĩa là sự sinh ra các lợi ích Theo nghĩa thông thường, tài sản là tiền bạc, của cải, lợi ích vật chất có giá trị kinh tế và khả năng sinh lợi, là tất cả những dạng vật chất tồn tại ở thể hữu hình hoặc vô hình được tích cóp trong quá trình lao động sinh sống của con người

Trang 10

Từ điển Tiếng Việt đã giải thích về tài sản như sau: “Tài sản là của cải vật chất hoặc tinh

thần có giá trị đối với chủ sở hữu”3 Việc giải thích như thế này xét về phạm vi là tương

đối rộng, bởi lẽ giá trị tinh thần là thứ khó có thể xác định, cân, đo, đong, đếm được Theo định nghĩa của Từ điển Triết học, tài sản là một bộ phận của thế giới vật chất, là một dạng vật chất tồn tại trong tự nhiên và xã hội, có giá trị kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu của con người và do con người kiểm soát, khai thác

Theo Từ điển Luật học, khái niệm tài sản được hiểu như sau: “Tài sản là các vật có giá trị

bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao gồm: vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản”

4

Dưới góc độ kinh tế – pháp lý, khái niệm tài sản còn có nhiều cách hiểu Theo nghĩa hẹp,

tài sản là các vật, tiền, các lợi ích vật chất có giá trị và giá trị sử dụng mà con người có thể cầm nắm, quản lý, khai thác và có thể chuyển dịch được từ chủ thể này đến chủ thể khác Do đó, Điều 163 BLDS khi đề cập đến tài sản đã khẳng định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Như vậy, tài sản với nghĩa là di sản thừa kế khi

người sở hữu nó chết đi và để lại sẽ bao gồm những dạng theo quy định tại Điều 163 nói trên Hiểu cụ thể hơn, đó là:

Thứ nhất: “Vật có thực” Vật có thực chính là những vật tồn tại hiện

hữu trong thế giới tự nhiên (đất đai, rừng núi, hải sản, lâm sản…) và những sản phẩm do lao động con người tạo ra (nhà cửa, máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) tồn tại trong thực tế ở các thể trạng vật lý cụ thể (rắn, lỏng, khí) mà con người có

thể sờ mó, cầm nắm được, đo lường được bằng việc cân, đo, đong, đếm Tài sản

có thể là đồ vật (nhà xe, ti vi…), con vật (gia súc, gia cầm…), cây trái (vườn hoa,

cây cảnh…) Như vậy, vật ở đây phải là những thứ mà con người nhìn thấy, cầm

và nắm giữ được

Thứ hai: “Vật hình thành trong tương lai” Vật hình thành trong

tương lai có thể được hiểu là tài sản đó chưa thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cá

3

Từ điển Tiếng Việt Phổ thông (2002), Viện ngôn ngữ học, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 811;

4 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, tr 443

Trang 11

nhân; vật đó cũng chưa có tại thời điểm xác lập những giao dịch dân sự

Thứ ba: “Vật chắc chắn sẽ có” Điều 175 BLDS đã xác định loại tài

sản (hay vật) chắc chắn sẽ có này là: hoa lợi, lợi tức5 Ở góc độ xác lập thời điểm hình thành thì vật chắc chắn sẽ có cũng có thể được xếp chung vào dạng vật hình thành trong tương lai

Về quyền tài sản, Điều 181 BLDS khi quy định về quyền tài sản đã quy định: “Quyền tài

sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Qua định nghĩa trên cho thấy, quyền tài sản là một loại quyền về tài

sản Quyền này không phải là một vật có thực mà là những quyền yêu cầu, cách ứng xử của con người với nhau liên quan đến tài sản, có giá trị và có thể chuyển dịch được Trong quyền tài sản bao giờ cũng hàm ý tập trung quyền kiểm soát cho người này hay giới hạn hoặc loại trừ quyền kiểm soát của người kia đối với một tài sản hay quyền lợi vật chất

Ngoài ra, trong định nghĩa tại Điều 163 ở đây còn bao hàm cả loại “Tài sản vô hình” là

quyền sở hữu trí tuệ 6

Tài sản – dưới góc độ nghiên cứu của quan hệ sở hữu cũng như trong quan hệ thừa kế - là đối tượng của quan hệ thừa kế có những đặc trưng làm cho nó khác với khái niệm vật chất trong triết học hay khái niệm hàng hoá trong kinh tế – chính trị học hoặc khái niệm đồ vật trong đời sống xã hội Những đặc trưng đó là:

Thứ nhất, phải có giá trị kinh tế Đã là một tài sản thì phải có giá trị kinh tế nhất định, vì

khi ta cầm trên tay một tài sản, ta có thể lượng hoá nó được về mặt kinh tế hay tiền tệ, tức xác định được nó giá trị bao nhiêu tiền hay tương đương với một giá trị nào khác

Thứ hai, tài sản phải có giá trị sử dụng Suy cho cùng xét về mặt xã hội, tài sản phải phục

vụ cho một nhu cầu nào đó của con người, tức là phải có công dụng nhất định nào đó Công dụng của tài sản thể hiện ở sự cần thiết của tài sản đối với việc thoả mãn các nhu cầu khác của con người ví dụ: nhà để ở, xe cộ để đi lại…

Thứ ba, phải có thể chiếm giữ, kiểm soát bởi con người Trước hết, tài sản phải là những

5 Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà sản phẩm mang lại;

Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản;

6 Phần thứ 6 BLDS

Trang 12

thứ có thật, tồn tại thực trong đời sống của xã hội chứ không phải là những vật chỉ do trí tưởng tượng hay tồn tại trong truyền thuyết Mặt khác, các đồ vật hay tài sản đó có thể tồn tại ở dạng này hay dạng khác (lỏng, khí hay rắn), nhưng chúng phải là những thứ con người có thể chiếm giữ, quản lý, kiểm soát được Cầm nắm, kiểm soát được có thể bằng nhiều cách khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp bởi con người, bằng công cụ thô sơ hay bằng các thiết bị hiện đại… Tài sản được tạo ra hay kiếm được là để phục vụ cho nhu cầu của con người, phải thuộc về ai đó nên khả năng có thể cầm nắm, quản lý, kiểm soát, chiếm hữu được bởi con người là thuộc tính quan trọng của tài sản

Thứ tư, tài sản phải là những thứ có thể được chuyển dịch từ chủ thể này sang chủ thể khác Cũng bởi tính giá trị và giá trị sử dụng cũng như nhu cầu muốn làm chủ, khai thác,

hưởng dụng đồ vật mà tài sản phải là những thứ mà con người có thể dịch chuyển được cho nhau để duy trì quyền sở hữu trên tài sản đó Bởi lẽ, tài sản vốn là những lợi ích kinh

tế, có khả năng sinh lợi thông qua sự trao đổi, chuyển dịch của con người Người chủ tài sản có thể chuyển dịch tài sản của mình cho người khác có nhu cầu sử dụng tài sản đó, để lại thừa kế hay dùng làm vật trao đổi để nhận lại các lợi ích khác theo nhu cầu của mình

Vì thế, khả năng có thể chuyển dịch được cũng là một thuộc tính bắt buộc của tài sản Hiện nay, trong hệ thống pháp luật thành văn nói chung thì tài sản khi được xem là di sản thừa kế thường được chia thành hai loại: Động sản và bất động sản Hệ thống pháp luật nước ta hiện nay là hệ thống pháp luật thành văn nên trong các quy định pháp luật liên quan về tài sản cũng thể hiện quan điểm chung về việc phân chia tài sản thành hai loại như trên Cụ thể Điều 174 BLDS quy định: Tài sản được chia thành hai loại động sản và bất động sản

Trong đó, bất động sản bao gồm các tài sản: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định;

Còn động sản là những tài sản không phải là bất động sản

Ngoài ra, trong từng quan hệ pháp luật chuyên ngành có thể thấy còn có sự phân chia tài

sản căn cứ vào tính xác định của nó (nắm giữ được của chủ sở hữu, sử dụng) đó là tài sản

vô hình và tài sản hữu hình

Trang 13

Tóm lại, qua các phân tích trên cho thấy tài sản - với những đặc trưng cơ bản, cá biệt, là đối tượng của quan hệ thừa kế Một quan hệ về thừa kế chỉ phát sinh khi cá nhân nắm giữ

tài sản đó chết “Chết” được xác định theo hai cách: đó là “chết về mặt thực tế” và “chết

về mặt pháp lý”

Thứ nhất: Chết về mặt thực tế Được xác định khi cá nhân đó tim ngừng đập, não ngừng

hoạt động Người có quyền lợi liên quan phải làm giấy chứng tử cho người chết

Thứ hai: Về mặt pháp lý, một cá nhân được xem là đã chết khi có quyết định tuyên bố

chết của TA Điều 81 BLDS quy định: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu

tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:

(a) Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

(b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

(c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa đó chấm dứt mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác

(d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”

Như vậy, kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người chết Mặc dù, trên thực tế họ vẫn còn sống ở đâu đó Quan hệ về tài sản của người bị tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa

kế (Điều 82 BLDS)

Việc xác định chính xác thời điểm “chết” của cá nhân có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng có liên quan đến quan hệ thừa kế này

Một điều rất thực tế rằng, bất kì một cá nhân dù sống trong xã hội nào thì trong suốt cuộc đời lao động của mình đều muốn tích lũy tài sản và khi chết đi tài sản của họ được để lại cho thân nhân hoặc tổ chức, cá nhân khác một cách hợp pháp Quyền định đoạt này của cá

Trang 14

nhân được nhà nước tôn trọng và bảo hộ cụ thể là được ghi nhận tại Điều 197 BLDS 7

Quyền chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu hợp pháp sang người khác sau khi chết chính là quyền để lại thừa kế Công dân có quyền để lại thừa kế mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình, Nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế của công dân trong phạm vi tài sản thuộc sở hữu của họ và được phép chuyển dịch Song có loại trừ một số

tài sản (quyền về tài sản hay nghĩa vụ về tài sản) gắn liền với nhân thân người chết (tức là

quyền dân sự không thể di chuyển cho người khác được- Điều 24 BLDS)8, thì không phải

là di sản thừa kế của người đó

Do đó, để đưa ra một khái niệm cụ thể chính xác về di sản thừa kế là một việc làm rất khó

khăn Theo cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt về di sản thừa kế thì: “Di sản là tài sản

của người chết để lại” 9 Từ việc tiếp cận về khái niệm tài sản ở trên tác giả thấy rằng, đây

là một định nghĩa tương đối rộng Quy định như vậy mặc dù người tiếp cận dễ dàng hiểu được di sản là gì, song nếu đi sâu vào thế giới vật chất và quy định của pháp luật hiện hành sẽ vấp phải nhiều vướng mắc bởi từ điển chỉ là những giải thích theo những quan điểm thông thường, nó không có những tính chất pháp lý, không có tính bắt buộc, ràng buộc đối với các đối tượng có liên quan, trong khi đó pháp luật đòi hỏi phải có tính chất này trong định nghĩa, quan điểm được nêu

Dưới khía cạnh pháp lý, việc quy định về khái niệm di sản thừa kế trong nội dung của BLDS của nước ta trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định về khái niệm di sản thừa kế Tại Điều 634 BLDS chỉ quy định di sản bao gồm: Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác

Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và đương nhiên nó cũng được để lại thừa kế theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, vì đây là đối tượng đặc biệt nên nó được quy định

hẳn tại một phần riêng biệt đó là phần thứ 5 của BLDS (từ Điều 733 cho đến Điều 735)

Có thể thấy rằng, các loại tài sản mà người chết để lại (là di sản thừa kế) gồm nhiều loại

và xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau do đó, việc xác định, thống kê đầy đủ phần tài

Trang 15

sản của người chết để lại là hết sức khó khăn phức tạp Với một ý nghĩa như vậy, theo tác giả, xác định đúng và chính xác di sản thừa kế là vô cùng quan trọng, là một trong những yếu tố pháp lý cần thiết, là bước khởi đầu quan trọng cho các bước giải quyết tranh chấp sau này, bởi chỉ có như vậy thì TA mới có thể đảm bảo được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của những đối tượng có liên quan Vì vậy, việc nghiên cứu để xác định di sản thừa kế về

mặt lý luận cũng như thực tiễn là việc làm rất cần thiết

Đối với việc phân loại di sản thừa kế, theo Từ điển Luật học có những cách phân loại sau: Một là: Tài sản mà người đã chết chủ sở hữu, gồm có tài sản riêng, tài sản của người đã chết trong khối tài sản chung và những quyền về tài sản do người chết để lại

Hai là: Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (thừa kế quyền sử dụng đất) 10 Theo quy định của BLDS, di sản bao gồm: Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của

người chết trong tài sản chung với người khác (Điều 634)

Như vậy, tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng làm sản xuất kinh doanh, các dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu, cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đó…

Ngoài ra, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác còn là phần

tài sản được xác định trong khối tài sản chung (phần vốn đóng góp trong việc tạo dựng sở

hữu chung theo phần, phần được tặng cho, được thừa kế chung với người khác…) Khi

một trong các đồng sở hữu chủ của khối tài sản chung chết, thì di sản của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung hợp pháp không phân chia thì khi có người chết, phần của họ tương ứng với phần của những người khác, nếu là vợ chồng thì tài sản chung được chia đôi Vì vậy, khi vợ hoặc chồng chết trước thì một nửa khối tài sản chung

đó là tài sản của người chết và được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật

10 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, tr 131;

Trang 16

Đối với quyền về tài sản do người chết để lại bao gồm các quyền dân sự phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi thường thiệt hại mà trước khi chết người để lại di sản

đã tham gia vào quan hệ này ví như quyền đòi nợ, đòi lại tài sản cho thuê, cho mượn… Ngoài ra luật cũng quy định quyền tài sản của những văn bằng bảo hộ các đối tượng thuộc

sở hữu công nghiệp; quyền tác giả trong thời hạn văn bằng có hiệu lực

Trong trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất phải tuân thủ những quy định riêng về người

để lại di sản, người hưởng di sản thừa kế được quy định tại các Điều 733, 734, 735 của BLDS

Tóm lại, có thể hiểu được các loại tài sản mà người chết để lại gồm: hiện vật, tiền, giấy tờ

có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu riêng của người chết có trong phần chung với

người khác, tất cả là những lợi ích mà người chết dành cho người thừa kế (Điều 163

BLDS) Tuy nhiên khi nghiên cứu về di sản thừa kế, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng di

sản thừa kế nên bao gồm cả nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại theo cách giải thích

của Từ điển Bách Khoa Việt Nam: “…Người chết không những để lại các quyền về tài

sản (như quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe…)

mà còn có thể để lại cả những nghĩa vụ về tài sản như phải trả nợ, phải trả công lao động hoặc bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà mình đã nhận được”11

Bởi lẽ, việc xác định khối di sản của người chết

thực tế là nhằm hướng đến tài sản hiện còn của người chết để phân chia cho những người

thừa kế (theo di chúc hay theo pháp luật), để xác định hiệu lực của di sản dùng vào việc

thờ cúng, di tặng…Ngoài ra, quy định như trên nhằm đảm bảo tối ưu nhất về quyền lợi cho người có quyền trong quan hệ dân sự trước đó đã tham gia với người chết Thêm vào

đó, hiểu di sản không bao gồm nghĩa vụ dẫn đến vòng vo không xác định được di sản một cách chính xác dẫn đến mất thời gian tốn kém trong việc giải quyết quan hệ thừa kế Một

số trường hợp hiểu không đúng của những người thừa kế, không biết di sản được chia hay không Hơn nữa, nếu di sản không bao gồm nghĩa vụ thì việc thanh toán nghĩa vụ của người chết để lại là không có cơ sở Xuất phát từ những nguyên nhân nêu trên, tác giả xin

đưa ra một khái niệm về di sản thừa kế như sau: “Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc

11

Từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995), Quyển 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Hà Nội, tr 667;

Trang 17

sở hữu hợp pháp của người chết để lại bao gồm cả các quyền về tài sản và nghĩa vụ về tài sản của người đó ”

1.1.1.2 Khái niệm văn bản khai nhận di sản thừa kế

Văn bản có thể được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, văn bản được hiểu là một phương tiện để ghi nhận và truyền đạt các thông tin, quyết định từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng một ký hiệu hay ngôn ngữ

nhất định nào đó Ví dụ: Các văn bản pháp luật, các công văn, tài liệu, giấy tờ

Theo nghĩa hẹp thì văn bản được hiểu là các tài liệu, giấy tờ có giá trị pháp lý nhất định, được sử dụng trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị -

xã hội, các tổ chức kinh tế

Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Văn bản là bản viết hoặc in, mang nội dung là

những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng chứng” 12

Từ các khái niệm trên, có thể diễn đạt về khái niệm di sản thừa kế như sau: “Văn bản khai

nhận di sản thừa kế là một bản viết hoặc in mà trong đó chứa đựng nội dung thông tin về người để lại di sản, phần di sản và những người có quyền thụ hưởng di sản, thể hiện ý chí chuyển dịch tài sản của người có tài sản, có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với phần di sản họ được hưởng hợp pháp theo quy định pháp luật, là cơ sở để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được hưởng thừa kế”

Như vậy, việc xác lập văn bản để thể hiện ý chí là rất cần thiết và quan trọng khi người để lại di sản qua đời Việc tiến hành kê khai di sản thừa kế một cách đầy đủ, chính xác và nhanh chóng không những bảo vệ quyền sở hữu của người để lại tài sản mà còn bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho những người được thụ hưởng di sản của người chết để lại

1.1.2 Khái niệm công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

1.1.2.1 Khái niệm công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

Hoạt động công chứng ở Việt Nam xuất hiện từ khi người Pháp xâm lược vào nước ta (khoảng nửa cuối thế kỷ XIX) Nhưng mãi đến năm 1937, mới có văn bản chính thức quy

12 Từ điển Tiếng Việt phổ thông (2002), Viện ngôn ngữ học, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 1013

Trang 18

định về tổ chức công chứng Ngày 28/4/1937, Tổng thống pháp ra Sắc lệnh quy định về tổ

chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương ngày 7/10/1931 của Toàn quyền Đông

Dương P.Pasquies) Có thể nói mô hình tổ chức công chứng ở Việt Nam thời bấy giờ

được phỏng hoàn toàn theo mô hình công chứng của Pháp Mục đích chủ yếu của thể chế công chứng thời kỳ này là phục vụ cho người Âu và những người Việt Nam được hưởng quy chế người Âu để họ có thể biện hộ trước Tòa án Pháp, còn đối với người bản xứ thì

họ có thể theo thể thức công chứng hoặc theo tập quán bản xứ

Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, do hoàn cảnh lịch sử và với cơ chế quản

lý hành chính bao cấp tập trung, tổ chức và hoạt động công chứng không còn, một số vụ việc cụ thể cần công chứng, chứng thực như: chứng thực hợp đồng kinh tế, chứng thực một số giao dịch dân sự, chứng thực chữ ký…do các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện

theo hình thức “thị thực hành chính”

Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường hàng hóa nhiều thành phần Các quan hệ kinh tế giao lưu dân sự không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, không bó hẹp trong phạm vi một địa phương, một quốc gia nữa mà ngày càng mở rộng đòi hỏi thể chế công chứng phải được thiết lập và phát triển tương xứng Trước đòi hỏi khách quan đó cộng với nhu cầu về sự tăng cường quản lý Nhà nước, thiết lập trật tự cho các bên tham gia giao dịch, đảm bảo ổn định xã hội, hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích công cộng và của Nhà nước Luật công chứng năm 2006 đã ra đời

Trong xã hội hiện nay, công chứng là một hoạt động không thể thiếu, do đó việc xác định khái niệm công chứng một cách rõ ràng, cụ thể, chính xác là vấn đề cần thiết, quan trọng,

là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng bởi lẽ khi xác định được khái niệm công chứng là gì thì vấn đề về bản chất, mục đích cũng như nội dung của hoạt động công chứng

sẽ được làm sáng tỏ

Thuật ngữ “công chứng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh (Notarius), phiên âm tiếng Pháp là

Notariat, tiếng Anh là Notary và dịch ra có nghĩa chung là chép, lập văn bản

Trong ngôn ngữ Việt Nam, “công” có nghĩa là chung (public), trái nghĩa với “tư” (có

nghĩa là riêng), còn “chứng” hay “làm chứng” có nghĩa là xác nhận sự thực, cho nên công

Trang 19

chứng được hiểu là sử dụng quyền chung của xã hội mà chứng nhận tính xác thực một việc gì đó13

Điều 6 LCC quy định rõ: “Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên

quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng giao dịch có thỏa thuận khác Văn bản công chứng có giá trị là chứng cứ; những tình tiết sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố vô hiệu”

Xuất phát từ khái niệm công chứng nói chung đã được LCC quy định, có thể rút ra một

khái niệm cụ thể hơn về công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế Đó là: “Công

chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của văn bản khai nhận di sản thừa kế mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng ”

Trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động công chứng đang bước đầu được hình thành và tạo điều kiện phát triển ở nước ta, thì ngoài tính pháp lý của khái niệm này, ở góc độ xã hội, công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế còn được hiểu đó là sự chứng nhận một cách minh bạch và công khai việc hưởng di sản thừa kế theo yêu cầu của đương sự Tính minh bạch ở đây đã bao hàm cả tính pháp lý và hợp lý của hoạt động công chứng trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật

Thêm vào đó, hiện nay, pháp luật công chứng thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều được xây dựng và vận hành theo những nguyên tắc mang tính đặc trưng của nó

Những nguyên tắc này cũng là những nguyên tắc chung cho việc công chứng Bao gồm :

 Nguyên tắc tôn trọng tối đa sự tự thoả thuận của các bên trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội;

 Nguyên tắc trung thực, khách quan và giữ bí mật trong hoạt động công chứng;

13 Pháp luật TP HCM, số 08 tháng 8 năm 2001

Trang 20

 Nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá

nhân (bao gồm cả trách nhiệm vật chất) khi thực hiện công chứng

Các nguyên tắc kể trên xuất phát từ quy định của Điều 3 LCC

Ngoài việc tuân thủ theo những nguyên tắc trên thì trong hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế phải bảo đảm tính xác thực Vì tính xác thực là tiêu chuẩn quan trọng đem lại những giá trị pháp lý, độ tin cậy cao cho văn bản công chứng, làm cho nó có

giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ (Điều 6 LCC) Yêu cầu về tính xác thực của một văn

bản công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đó là:

 Thứ nhất: Đó là việc ghi nhận thông tin kê khai, sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch là một sự kiện có thực, xảy ra trên thực tế;

 Thứ hai: Người yêu cầu công chứng phải là người đáp ứng đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, tiêu chuẩn để thực hiện công việc công chứng;

 Thứ ba: Đó là tính xác thực về thời điểm (thời gian và địa điểm) thực hiện việc công chứng nhằm xác định hiệu lực của văn bản công chứng

Như vây, theo pháp luật Việt Nam, văn bản khai nhận di sản thừa kế khi đã công chứng

có hai giá trị pháp lý cơ bản sau:

Một là: Giá trị chứng cứ không phải chứng minh trước Tòa án

Chứng cứ là vấn đề mấu chốt, là cái không thể thiếu trong việc xác định quyền, lợi ích hợp pháp hoặc là để xác định một sự kiện pháp lý Trong hoạt động tố tụng, chứng cứ đóng vai trò quyết định trong việc làm sáng tỏ các yêu cầu của nguyên đơn, cũng như nhận định của TA trong việc giải quyết các vấn đề đó BLTTDS có định nghĩa về chứng

cứ như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá

nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do tòa án thu thập được theo trình

tự thủ tục do Bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự” 14

.

Văn bản khai nhận di sản thừa kế khi đã công chứng được thừa nhận là chứng cứ xuất

14 Điều 81 BLTTDS

Trang 21

phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, về thể thức lập văn bản, văn bản khai nhận di sản thừa kế tuân theo một thể

thức nhất định do pháp luật quy định (phải hợp pháp về mặt hình thức)

Thứ hai, văn bản đó được công chứng viên xác nhận tính xác thực của nó

Tính xác thực của các tình tiết sự kiện trong văn bản khai nhận di sản thừa kế là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng minh Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực của các tình tiết, sự kiện khách quan được coi là chứng cứ Sở dĩ, pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị là chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết sự kiện về di sản thừa kế, đối tượng hưởng di sản thừa kế, thời điểm xác lập quyền thừa kế…trong văn bản đó CCV khi công chứng loại văn bản này, luôn tôn trọng tính khách quan, xác thực của các tình tiết, sự kiện và ý chí của đương sự Việc khai nhận di sản thừa kết đó phải hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện không bên nào được cưỡng ép, đe dọa bên nào Nói cụ thể hơn đó là tính xác thực về mặt

nội dung Ngoài ra, văn bản công chứng còn phải đảm bảo chính xác về thời gian (ngày,

tháng, năm), địa điểm lập văn bản…

Văn bản công chứng – là một loại chứng cứ không phải chứng minh trước TA nghĩa là khi một tranh chấp xảy ra liên quan nội dung của văn bản khai nhận di sản thừa kế đã được công chứng thì văn bản đó mặc nhiên trở thành chứng cứ Bên nào muốn bác bỏ giá trị của nó thì phải chứng minh So với quy định của NĐ 75 về giá trị công chứng của văn bản

công chứng: “Văn bản công chứng, văn bản chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường

hợp được thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo qui định tại Nghị định này hoặc bị Toà án tuyên bố là vô hiệu”15 thì LCC đã đề cao vai trò của hoạt động công chứng và văn bản công chứng vì ở NĐ 75 văn bản công chứng không được coi là chứng

cứ mặc nhiên trước TA, bên nào đưa ra thì bên đó phải chứng minh Trong khi đó, LCC

khẳng định: “Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn

bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu”16

Điều này phù hợp quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 80 quy định của BLTTDS: “Những

tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp” thì

15

Điều 14 khoản 2 NĐ 75

16 Điều 6 khoản 2

Trang 22

không phải chứng minh Cơ sở của quy định này là xuất phát từ việc thừa nhận chức năng của CCV về chứng nhận tính xác thực của văn bản khai nhận di sản thừa kế như đã nêu ở trên Tính xác thực do CCV chứng nhận biến các tình tiết sự kiện có trong văn bản khai nhận di sản thừa kế đó trở thành chứng cứ mặc nhiên trước tòa Bởi lẽ, công chứng viên

(dù là CCV làm việc trong Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng) là một chức

danh bổ trợ tư pháp được nhà nước giao thẩm quyền công chứng, chứng nhận các hợp đồng, giao dịch Do đó, khi có yêu cầu TA giải quyết, đương sự phải tự mình cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nhưng thực tế hiện nay, trình độ dân trí ở nước ta còn ở mức thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế do đó họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ cũng như chứng minh các chứng cứ đã cung cấp là đúng pháp luật, hợp pháp Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự đối với TA, đơn giản hóa các thủ tục đối với các đương sự trong việc chứng minh các yêu cầu của mình, tôn trọng tối đa các thỏa thuận hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của các bên trong văn bản đã được công chứng, pháp luật tố tụng dân

sự đã quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong quá trình giải quyết

vụ việc

Như vậy, có thể thấy rằng, quy định giá trị chứng cứ của văn bản công chứng không phải chứng minh đã thể hiện rõ nét tinh thần của pháp luật tố tụng dân sự đồng thời không vi phạm nguyên tắc về quyền đánh giá chứng cứ của TA vì trong trường hợp có chứng cứ ngược lại thì TA có thể bác bỏ và tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu Bên cạnh đó, việc nâng giá trị pháp lý của văn bản công chứng từ chỉ có giá trị chứng cứ trước Toà lên thành có giá trị chứng cứ đương nhiên trước Toà góp phần nâng cao ý thức của người dân

về vai trò và tác dụng của việc công chứng, thể hiện rõ vai trò phòng ngừa của công chứng bởi lẽ, ngay từ khi lập văn bản khai nhận di sản thừa kế, các bên đã củng cố chứng

cứ về việc ký kết văn bản khai nhận di sản thừa kế đó, đề phòng các tranh chấp về sau, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với các giao dịch, hợp đồng

Hai là: Văn bản công chứng có giá trị thi hành

Theo cách hiểu thông thường thi hành có nghĩa là thực hiện Giá trị thi hành của văn bản công chứng nghĩa là những đã thỏa thuận trong văn bản công chứng phải được các bên tôn trọng một cách tuyệt đối, có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên giao kết cũng

Trang 23

như đối với bên thứ ba Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa các bên khi tiến hành khai nhận di sản thừa kế thì hiển nhiên là những gì họ đã cam kết trong đó thì họ có nghĩa vụ thực hiện, không được bội ước Đó là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự17 Mặt khác xét trong mối quan hệ với người thứ ba thì văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt buộc đối với người thứ ba phải tôn trọng và thi hành Ví dụ: Một văn bản khai nhận di sản thừa

kế liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất khi đã được công chứng sẽ chuyển quyền sở hữu cho người có quyền thụ huởng di sản đó thì các cơ quan (tài nguyên – môi trường; thuế…) và các cá nhân có liên quan cũng phải công nhận và làm các thủ tục liên quan (Ví dụ: trước bạ sang tên) Điều này cũng là xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do sở hữu, định đoạt của chủ thể

Giá trị thi hành của văn bản công chứng còn thể hiện ở chỗ, nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đã được giao kết thì bên kia có quyền yêu cầu

TA giải quyết theo thủ tục tố tụng và quyền lợi của các bên được bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế của thi hành án

Pháp luật quy định, văn bản khai nhận di sản thừa kế khi đã công chứng có giá trị hành là xuất phát từ giá trị chứng cứ Khi tiến hành khai nhận di sản thừa kế theo quy định pháp luật, đương sự luôn mong muốn quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến việc khai nhận di sản được thực hiện trên thực tế, biến quyền và nghĩa vụ của các bên về mặt pháp lý, trên giấy tờ trở thành hiện thực

Nói tóm lại, giá trị thi hành và giá trị chứng cứ của văn bản công chứng là một trong những nội dung có ý nghĩa rất lớn thể hiện vai trò phòng ngừa, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên trong văn bản khai nhận di sản thừa kế, đồng thời hạn chế được rất nhiều các vụ kiện tụng ra tòa án, gây tốn kém, lãng phí

1.1.2.2 Mục đích, ý nghĩa, vai trò của công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

Hoạt động công chứng ra đời với mục đích cơ bản là chứng nhận, xác nhận tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch và các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Nhằm đảm

bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân khi yêu cầu công chứng (vì văn bản công

chứng có giá trị là chứng cứ không phải chứng minh tại tòa và giá trị thi hành như đã

17 Điều 4 BLDS năm 2005

Trang 24

phân tích ở trên), đảm bảo an toàn pháp lý cho các quan hệ, giao dịch, phòng ngừa các vi

phạm pháp luật, hạn chế tranh chấp vì khi có yêu cầu công chứng các bên ý thức được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các cam kết Hoạt động công chứng còn nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân, hỗ trợ cho họ trong việc thực hiện các giao dịch đồng thời nó cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho người dân

Ngoài ra, hoạt động công chứng còn nhằm mục đích giúp cho các cơ quan nhà nước quản

lý, nắm bắt được sự phát triển của các quan hệ xã hội, thông qua hoạt động công chứng nhà nước tiếp cận thực tế, biết được xu hướng phát triển của xã hội, cũng như những vấn

đề mới phát sinh, từ đó có định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế đó Bởi lẽ, trong hoạt động quản lý xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công

cụ khác nhau để quản lý và một trong các công cụ đó là pháp luật trong đó, pháp luật công chứng có ý nghĩa quan trọng Hoạt động công chứng đã được xã hội thừa nhận như một tất yếu của nền kinh tế thị trường ở nước ta Công chứng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân, doanh nghiệp khi tham gia vào các quan hệ xã hội và quan hệ thị trường Do đó, vai trò to lớn của hoạt động công chứng trong đời sống xã hội là không thể phủ nhận Nó là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và các tổ chức, để bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại bằng cách tạo lập văn bản công chứng – một loại công chứng thư – một loại chứng cứ mà không thể phản bác Đối với hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế cũng vậy Xuất phát từ bản chất của hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế là một hoạt động Bổ trợ tư pháp nhằm xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của những thông tin, nội dung về thừa

kế mà pháp luật bắt buộc hoặc đương sự tự nguyện yêu cầu công chứng Cụ thể hơn, bằng

sự tinh thông nghề nghiệp của CCV, với trình tự thủ tục chặt chẽ nghiêm ngặt trong quá trình lập văn bản công chứng, công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đã đảm bảo được sự bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí, khách quan của các bên khi tham gia vào quan

hệ này Đồng thời hạn chế tình trạng lừa dối, đe dọa, cưỡng ép lẫn nhau, tránh sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng trong giao kết…, tránh tình trạng bỏ sót đồng thừa kế, gian dối trong việc hưởng thừa kế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế cũng như những người có quyền lợi liên quan, giảm thiểu đến mức thấp nhất các tranh chấp có thể xẩy ra đặc biệt là trong lĩnh vực thừa kế di sản là quyền sử dụng đất có hoặc

Trang 25

không có gắn liền với tài sản

Bên cạnh đó, hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế cũng giúp các cơ quan quản lý Nhà nước dễ dàng trong việc quản lý các tài sản thừa kế (là di sản) có phải thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế hay không, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai vì đây

là lĩnh vực đặc biệt phức tạp, dễ dẫn đến tranh chấp nhất

Trong những năm gần đây, sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đã làm cho các mối quan hệ trong xã hội rất phát triển trong đó các giao dịch về thừa kế ngày càng gia tăng Các giao dịch này nếu không có sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước sẽ lộn xộn, các tranh chấp, vi phạm sẽ xảy ra nhiều, gây khó khăn thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước Thực tiễn thực hiện cho thấy, các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế, đến di sản thừa kế, tư cách thừa hưởng di sản thừa kế ngày càng tăng, vụ việc càng phức tạp, trong đó có nguyên nhân là do không có chứng cứ xác thực Do vậy, hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đã góp phần tạo sự

ổn định trong quan hệ này Bởi lẽ, văn bản công chứng khai nhận di sản thừa kế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo chứng cứ Một văn bản khi được công chứng sẽ có giá trị pháp lý cao hơn khi chưa được chứng nhận Khi có tranh chấp liên quan đến nội dung của bản khai nhận di sản thừa kế này thì văn bản được công chứng sẽ là chứng cứ tại tòa một

cách đương nhiên mà không phải chứng minh (trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố vô hiệu)

Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong việc thực hiện quy định của pháp luật

Ngoài ra, văn bản khai nhận di sản thừa kế khi được công chứng nó sẽ có giá trị thi hành Đây là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện vai trò, ý nghĩa rất lớn của hoạt động này trên thực tiễn Bởi, khi một người dân đi yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế không chỉ đó là do có quy định của pháp luật mà còn do bản thân họ có mong muốn rằng quyền hưởng di sản thừa kế của mình sẽ được thực hiện, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Trên tinh thần đó, văn bản khai nhận di sản thừa kế khi đã được công chứng nó sẽ có giá trị thi hành ngay đối với các bên liên quan Đây có thể xem là vai trò quan trọng nhất của văn bản công chứng khai nhận di sản thừa kế

Trong xã hội đang ngày càng phát triển hiện nay thì tuyên truyền pháp luật là cần thiết, song tăng cường hơn nữa các biện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật cũng cần

Trang 26

thiết không kém Hoạt động công chứng nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng là một hợp phần quan trọng trong các hoạt động bổ trợ tư pháp, một thiết chết hỗ trợ đắc lực cho hoạt động của tư pháp trong nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh, pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử

sự theo đúng pháp luật

Không chỉ có vậy, hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế còn đóng vai trò to lớn trong việc phòng ngừa tranh chấp một cách có hiệu quả ở cả hai khía cạnh: Tạo cho công dân ý thức tôn trọng pháp luật, có trách nhiệm hơn trong việc thể hiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội khi tham gia vào các giao dịch Đồng thời nếu xảy ra tranh chấp trong các quan hệ pháp lý đó thì đã có tranh bị những cơ sở pháp lý

chắc chắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (vì văn bản công chứng có giá

trị là chứng cứ không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố vô hiệu)

Ngoài các vai trò quan trọng kể trên, trong điều kiện kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền, quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt được khẳng định

và đảm bảo thực hiện, vai trò công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày càng được khẳng định Trong điều kiện này, công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế còn

là một trong các thiết chế đảm bảo quyền dân chủ, đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, thúc đẩy quyền con người, làm lành mạnh hóa đời sống dân sự, tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt hơn quyền thừa kế, quyền sở hữu, quyền tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cũng như tài sản được hưởng thừa kế, đảm bảo các nguyên tắc của kinh tế thị trường

Như vậy, vai trò của hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế được xem xét ở cả bình diện công dân và bình diện Nhà nước Ở bình diện công dân thì văn bản công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định trong quan hệ dân sự, tài sản Ở bình diện Nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một chứng cứ xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là vô hiệu Điều này giúp Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình là quản lý xã hội

Trang 27

1.2 TRÌNH TỰ THỦ TỤC CÔNG CHỨNG VĂN BẢN KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ

Văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về công chứng tài sản nói chung

và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng đó là Luật công chứng được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2006, có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2006 Cấu trúc của LCC bao gồm: 8 Chương, 67 Điều

Điều 50 LCC, quy định như sau: “Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc

những người cùng được hưởng di sản nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản Đối với di sản là bất động sản Luật

có quy định rõ về trình tự thủ tục công chứng: “Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng

đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế Trong trường hợp thừa kế theo

di chúc, người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình di chúc Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, Công chứng viên tiến hành xác minh”

Văn bản khai nhận di sản thừa kế đã được công chứng là một trong những căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản

Đây là một quy định tương đối rõ ràng và cụ thể đối với trường hợp công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế trong trường hợp di sản là bất động sản Với quy định này, LCC đang dần công khai hóa, minh bạch hóa các thủ tục, các loại giấy tờ cần thiết để khi đến công chứng, người dân biết rõ người yêu cầu công chứng phải làm gì, CCV phải làm gì,

Trang 28

tránh tình trạng CCV gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng đồng thời tiết kiệm thời gian, tiền của cho người dân

Đối với trường hợp di sản là động sản, LCC không quy định, do đó khi tiến hành công chứng loại này sử dụng các quy định chung về công chứng

Có thể khẳng định rằng, Luật Công chứng đã tạo hành làng pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức công chứng Tuy nhiên, bên cạnh đó, yêu cầu chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giao dịch dân sự trong đời sống xã hội còn chịu sự điều chỉnh của rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành Hoạt động công chứng nói chung và hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng hiện nay chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật sau:

Thứ nhất: Bộ luật Dân sự năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCNVN khoá XI, kỳ họp

thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 trong đó có 23 điều nói đến công chứng bao gồm: 124, 310, 316, 343, 362, 401, 423, 450, 459, 463, 467, 492, 642, 650, 652, 657, 658,

659, 660, 661, 665, 672 và 689

Khi tiến hành công chứng nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế nói riêng, các CCV phải sử dụng các quy định của bộ luật này để xem xét về điều kiện của

người yêu cầu công chứng, như: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Điều 14 đến Điều

20), mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22), hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23),

các quyền về nhân thân (Điều 24), các quy định về xác định nơi cư trú (từ Điều 52 đến

Điều 57)…Đồng thời, để xem xét về giá trị pháp lý, cũng như trình tự thủ tục của các vấn

đề liên quan đến tài sản: Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều

168), các loại tài sản (từ Điều 174 đến Điều 181), di sản (Điều 634), người thừa kế (Điều 635), hàng thừa kế… Tất cả những quy định này được sử dụng nhằm để xác định những

yếu tố hợp pháp về mặt pháp lý như người khai nhận có đầy đủ năng lực hành vi dân sự,

người để lại tài sản có thực sự là người có quyền về tài sản (thuộc sở hữu hợp pháp của

người để lại thừa kế) hay không, xác định thời điểm quan hệ thừa kế phát sinh trên thực tế

một cách chính xác, xác định nơi cư trú để thực hiện hoạt động niêm yết văn bản khai nhận di sản cũng như hoạt động công chứng một cách chính xác

Tuy nhiên, qua tìm hiểu cụ thể các quy định BLDS thì tác giả nhận thấy rằng không có

Trang 29

điều khoản nào trực tiếp quy định một cách cụ thể về việc công chứng văn bản khai nhận

di sản thừa kế

Ngoài ra, khi đề cập đến di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, BLDS đã dành ba điều để

quy định, đó là Điều 733, 734 và 735 Theo đó, quyền sử dụng đất được xác định: “Là

việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của

Bộ luật này và pháp luật về đất đai”, “cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”, “hộ gia đình được Nhà nước giao đất nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”

Và tất nhiên, khi thực hiện thủ tục khai nhận đối với loại di sản này pháp luật bắt buộc

phải công chứng (khoản 1 Điều 119 NĐ 181/2004/NĐ - CP ngày 29 tháng 10 năm 2004

về thi hành luật Đất đai)

Thứ hai: Trong lĩnh vực Đất đai, gồm có những văn bản sau:

Luật Đất đai năm 2003 có 7 Điều nói đến vấn đề công chứng: 122, 126, 127,128, 129, 130

Trong lĩnh vực thừa kế, quyền thừa kế quyền sử dụng đất Luật Đất đai năm 2003 không quy định thành một điều khoản riêng biệt mà nằm rải rác trong các quy định về quyền của người sử dụng đất Ví như tại Điều 106, có quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất khi hội đủ các điều kiện như: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không

có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, trong thời hạn

Trang 30

sử dụng đất Đối với hộ gia đình khi được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Trong trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc

trường hợp được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam (khoản 1 Điều

121) thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nếu không thì chỉ được hưởng giá trị của

phần thừa kế đó18 Luật Đất đai 2003 cũng quy định rõ về trình tự thủ tục khi thực hiện các quyền này tại Điều 129 và tại Điều 119 của Nghị định 181, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có quy định về việc chứng nhận của công chứng nhà nước đối với các loại văn bản, giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện quyền để lại thừa kế của mình:

“Điều 119 Việc chứng nhận của công chứng nhà nước, chứng thực của Ủy ban nhân dân

xã, phường, thị trấn đối với hợp đồng hoặc văn bản khi người sử dụng đất thực hiện các

quyền

1 Hợp đồng hoặc giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định sau:

a) Đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước;

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất;

c) Trường hợp thực hiện các quyền của người sử dụng đất mà một bên tham gia thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này và bên còn lại thuộc đối tượng quy định tại điểm b khoản này thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất”

Thứ ba: Trong lĩnh vực Nhà ở

Luật Nhà ở năm 2005 quy định rất rõ về quyền để lại thừa kế đối với tài sản là nhà ở

thuộc sở hữu của người để lại thừa kế (Mục 7) Khi thực hiện quyền này, các cá nhân

tham gia trong quan hệ thừa kế phải thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp

luật, trong đó có thủ tục công chứng Khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở quy định: “Hợp đồng

về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông

18 Khoản 5 Điều 103 Luật Đất đai năm 2003

Trang 31

thôn” Đồng thời, Luật cũng có quy định rất cụ thể các trường hợp, điều kiện để được sở

hữu nhà ở tại Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 126)1919 Các trường hợp chỉ được để thừa kế quyền sở hữu nhà ở cho các trường hợp luật định, cụ thể: Điều 129 quy định quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài chỉ được để thừa kế nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam Trường hợp để thừa kế cho các đối tượng khác thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó20… Điều này đã tạo cơ sở pháp lý, giúp các CCV khi thực hiện hoạt động công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế được linh hoạt, nhanh chóng trong việc xử lý theo đúng tinh thần của pháp luật hiện hành

Thứ tư: Trong lĩnh vực kinh tế

Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 cũng đã quy định việc xử lý tài sản của thành viên công

ty sau khi thành viên đó chết tại Điều 45 khoản 1: “Trong trường hợp thành viên là cá

nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty” Có nghĩa rằng, khi một cá nhân

góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, trở thành thành viên của công ty thì khi cá nhân đó chết đi phần vốn góp của họ được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thụ hưởng sẽ đương nhiên có tư cách thành viên của công ty Đây

là trường hợp thừa kế quyền tài sản gắn với nhân thân

Điều 134 khoản 1 điểm h, quy định: “Trường hợp thành viên hợp danh chết hoặc bị tòa

án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận” Trường

hợp này, tư cách thành viên của công ty hợp danh đối với cá nhân nhận thừa kế là không đương nhiên

19

Điều 126: “ Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

2 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ”

20 Khoản 2 điều 129

Trang 32

Thứ năm: Trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm

Nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm có 2 điều qui định

về việc công chứng: Điều 4 và Điều 6

Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất

Tóm lại, có thể thấy rằng, tuy chưa phải là nhiều và chi tiết nhưng đối với thủ tục khai nhận di sản thừa kế và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đã có một hành lang pháp lý điều chỉnh cho từng nhóm quan hệ trong lĩnh vực thừa kế như tác giả đã khái lược ở trên

1.2.1 Phạm vi và thẩm quyền công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

Theo Từ điển Luật học21

: “Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động,

quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định” Như vậy, thẩm quyền công chứng là tổng hợp các quyền, nghĩa vụ của các cơ

quan, tổ chức mà theo quy định của pháp luật được quyền thực hiện hoạt động công chứng Trong phạm vi thẩm quyền, các cơ quan thực hiện hoạt động công chứng phải thực hiện đầy đủ hai yếu tố đó là quyền và nghĩa vụ, hai yếu tố này phải đi đôi với nhau Thứ nhất, thực hiện hoạt động công chứng là quyền của các cơ quan được pháp luật trao quyền chứng nhận các giao dịch dân sự - đó có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương Thứ hai, nghĩa vụ thể hiện ở việc pháp luật quy định các cơ quan này phải thực hiện hoạt động công chứng đối với các loại việc pháp luật có quy định bắt buộc phải công

chứng hoặc trong trường hợp đương sự có yêu cầu (không trái pháp luật, trái đạo đức xã

hội) Quy định đó xuất phát từ nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật

không cấm

Về phạm vi, thẩm quyền công chứng hiện nay, được quy định trong Luật Công chứng năm 2006 như sau:

Một là, về phạm vi công chứng được quy định tại Điều 2 của LCC, thì CCV phải công

chứng những hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng và những hợp

21 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội, tr 459

Trang 33

đồng, giao dịch mà pháp luật không quy định phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu Ngoài ra, LCC cũng giới hạn phạm vi thẩm quyền công chứng theo đơn

vị hành chính cấp tỉnh nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở đối với các văn bản khai nhận di sản thừa kế liên quan đến di sản là bất động sản22

Hai là, về thẩm quyền công chứng, những cơ quan, tổ chức sau có thẩm quyền công

chứng:

Theo quy định tại Điều 23 của LCC thì thẩm quyền công chứng trong nước thuộc về các

tổ chức hành nghề công chứng là: Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng

Theo quy định của LCC, Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp thuộc sở tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, thực hiện hoạt động công chứng và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Việc thực hiện công chứng ở các phòng công chứng phải do các CCV thực hiện theo trình tự thủ tục luật định

Văn phòng Công chứng do CCV thành lập, được tổ chức và hoạt động theo loại hình

doanh nghiệp tư nhân (hoặc công ty hợp danh), có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng,

được tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác23 Được nhà nước trao quyền xác nhận tính xác thực, hợp pháp của các hợp đồng giao dịch trong trường hợp pháp luật bắt buộc hoặc các đương sự tự nguyện yêu cầu công chứng

Các CCV hành nghề tại Phòng công chứng hay Văn phòng Công chứng đều phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 13 LCC

Tổ chức có thẩm quyền công chứng ở nước ngoài là: Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ

quan Lãnh sự của Nước CHXHCNVN ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện

ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài) thực hiện những hành vi công chứng quy định tại

Điều 24 Pháp lệnh lãnh sự 1990 ngày 13 tháng 11 năm 1990 và thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 25 tại Pháp lệnh này Tuy nhiên, theo quy định của LCC thì thẩm quyền công chứng văn bản khai nhận di sản của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bị hạn

22

Điều 37, khoản 1 LCC

23 Điều 26 LCC;

Trang 34

chế trong trường hợp văn bản khai nhận di sản là bất động sản24

Như vậy, căn cứ LCC thẩm quyền công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế thuộc về

tổ chức công chứng ở trong nước (Phòng công chứng và Văn phòng Công chứng) và cơ quan đại diện ngoại giao theo Pháp lệnh lãnh sự 1990 ngày 13 tháng 11 năm 1990

Tóm lại, LCC không có sự thay đổi quy định về phạm vi công chứng so với Nghị định 75 Nhưng quy định về thẩm quyền thì có sự thay đổi rất lớn, theo hướng thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức trong việc lựa chọn tổ chức công chứng khi có nhu cầu công chứng cho các loại hợp đồng, giao dịch dân sự nói chung và công chứng văn bản khai nhận di sản thừa

kế nói riêng

1.2.2 Trình tự, thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế

Trình tự, thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế được thực hiện theo quy định chung về thủ tục công chứng tại Điều 35,36 và quy định riêng về công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế tại Điều 49, 50 của LCC Trường hợp công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đối với loại tài sản là bất động sản còn được thực hiện theo quy định tại TTLT số 04 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất bao gồm những bước sau:

Bước thứ nhất: Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm

các giấy tờ sau đây:

- 01 Phiếu yêu cầu công chứng ( theo mẫu) + tờ khai về thừa kế

Phiếu này được sử dụng trong thủ tục công chứng nói chung Được dùng để tiếp nhận

thông tin của người yêu cầu công chứng (họ tên, năm sinh, địa chỉ…) Tờ khai về thừa kế

là loại giấy tờ chỉ sử dụng trong trường hợp công chứng các việc liên quan đến lĩnh vực thừa kế, dùng để ghi các thông tin về người để lại di sản, người thụ hưởng di sản đó, các loại di sản mà người chết để lại…;

- Bản sao giấy tờ về di sản thừa kế: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo qui định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 Trường hợp trong thời hạn theo qui định tại Điều 184 của NĐ số 181/2004/NĐ-CP ngày

24 Điều 65 khoản 1

Trang 35

29/10/2004 của CP về thi hành Luật Đất đai, nếu người đang sử dụng đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có bản sao trong một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai; trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính thì phải có xác

nhận bằng văn bản (bản sao) của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất; bản sao Giấy

chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo qui định của NĐ

số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ; bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

và quyền sử dụng đất ở, bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo qui định của pháp luật về nhà ở; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng được cấp theo qui định của NĐ số 95/2005/NĐ-CP

ngày 15/07/2005 của CP (gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với

đất) Trong trường hợp người có bất động sản không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2

và 5 Điều 50 của Luật Đất đai hoặc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hiện trạng

sử dụng đất biến động so với nội ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Phòng Công chứng phải gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin địa chính (Mẫu số 03/PY-CC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về thửa đất Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có dấu hiệu đã bị sửa chữa hoặc giả mạo, nếu thấy cần thiết thì Phòng công chứng gửi Phiếu yêu cầu (Mẫu số 03/PY-CC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin vể thửa đất Thời gian cung cấp thông tin về thửa đất của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không tính vào thời hạn công chứng; sổ tiết kiệm, đăng ký xe ôtô, cổ phiếu, giấy chứng nhận cổ phần…;

- Bản sao giấy chứng tử của những người sau đây: Người chết để lại di sản; Trong số những người gồm bố mẹ hoặc vợ, con của người để lại di sản có người đã chết;

Thủ tục khai tử được tiến hành ngay sau khi cá nhân đó chết và trong thời hạn 01 ngày kể

từ khi tiếp nhận thông tin về việc cá nhân đó đã chết thì ngày UBND xã, phường nơi cư trú cuối cùng của người chết sẽ tiến hành cấp giấy chứng tử theo yêu cầu của những người

có quan hệ thân thích (quan hệ hôn nhân và quan hệ quyết thống) với người đã chết;

- Bản sao hộ khẩu của người chết để lại di sản;

- Bản sao giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống của những người

Trang 36

sau đây: Người chết để lại di sản, nếu quan hệ hôn nhân không được thể hiện trên giấy tờ

sở hữu; Con của người chết để lại di sản, nếu người con đó đã chết sau người để lại di sản;

- Bản sao giấy chứng minh nhân dân/hộ chiếu, hộ khẩu của những người sau đây: Vợ hoặc chồng của người chết để lại di sản; bố mẹ của người chết để lại di sản nếu còn sống (bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi); con của người con đó (tức là cháu của người chết để lại di sản) nếu người con chết trước người để lại di sản; vợ của người con đó nếu người con đó đã chết sau người để lại di sản;

- Bản sao giấy khai sinh của những người sau đây: Các người con của người để lại di sản; Người chết để lại di sản; con của những người con đã chết (cháu của người để lại di sản);

- Bản sao lý lịch có xác nhận của một trong những người thuộc diện thừa kế có ghi đầy đủ những người thuộc diện thừa kế

Các loại giấy tờ này nhằm xác định tài sản đúng là thuộc sở hữu hợp pháp của người để lại di sản, những người thụ hưởng đúng là những người có quyền thừa kế đối với các tài sản do người chết để lại đó

Song, cũng cần lưu ý thêm rằng, đối với các trường hợp sau đây thì CCV sẽ trực tiếp hướng dẫn đương sự bổ sung các loại giấy tờ theo yêu cầu đặc thù của loại việc đó, chủ yếu là giấy tồ chứng minh quan hệ nhân thân

- Thứ nhất: Khai nhận thừa kế đồng thời mua bán, tặng cho Trong trường hợp này, người

yêu cầu công chứng ngoài việc đáp ứng các giấy tờ nói chung đối với trường hợp khai nhận di sản còn phải cung cấp hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho giấy tờ tùy thân của người đã tham gia vào hợp đồng đó Trong trường hợp có đồng thừa kế ở nước ngoài tặng cho phần thừa kế di sản là bất động sản của mình cho đồng thừa kế ở trong nước thì phải trực tiếp về nước hoặc uỷ quyền cho người thứ ba không phải là đồng thừa kế trong nước nhận phần thừa kế rồi mới tặng cho, không được ủy quyền Nếu hồ sơ hợp lệ, CCV sẽ tiến hành công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế trước rồi mới tiến hành công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho

- Thứ hai: Người nhận thừa kế định cư ở nước ngoài Trong trường hợp này pháp luật bắt

buộc đồng thừa kế ở nước ngoài đó phải làm giấy ủy quyền, được Cơ quan đại diện ngoại

giao, Cơ quan lãnh sự ở nước ngoài hợp pháp hóa lãnh sự (hợp pháp hóa lãnh sự là việc

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w