Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các quy định pháp lý liên quan đến thương mại nói chung và mua bán hàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-o0o -
ĐINH THỊ TỐ QUYÊN
VẤN ĐỀ GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM – NHỮNG THÁCH THỨC VỀ MẶT PHÁP LÝ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
VẤN ĐỀ GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM –
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm tòi và nghiên cứu một cách nghiêm túc, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để hoàn thành công trình này, em đã nhận được sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo tận tình từ tất cả mọi người
Trước hết, em xin gửi lời tri ân, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy
Vũ Duy Cương – Giảng viên Khoa Luật Quốc tế trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, đã tận tính hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Luật Quốc tế nói riêng và toàn thể các quý thầy cô trường Đại học Luât nói chung đã tận tâm giảng dạy, trang bị cho cho hành tranh kiến thức trong học tập và nghiên cứu để em có khả năng hoàn thành khóa luận của mình
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh chị, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên, khuyến khích để em có thể hoàn thành tốt khóa luận của mình Trong quá trình thực hiện đề tài, do trình độ hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự chỉ bảo thêm từ phía các thầy, cô và các bạn sinh viên để giúp em khắc phục
Em xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày 21 tháng 7 năm 2015
Sinh viên Đinh Thị Tố Quyên
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
International Sale of Goods – Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
International Trade Law - Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, các quan
hệ bang giao kinh tế với nước ngoài cũng ngày càng trở nên sôi động Do đó, các hoạt động liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng trở nên phức tạp
và chứa đựng nhiều rủi ro hơn cho các doanh nghiệp trong nước Chính vì mong muốn giảm thiểu những rủi ro này nói riêng cũng như nhằm tăng cường hoạt động thương mại quốc tế nói chung, Việt Nam đang nỗ lực thực hiện những bước đi cần thiết để gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Gia nhập Công ước chính là trang bị một công cụ pháp lý hữu hiệu để cho doanh nghiệp Việt Nam có thể thành công trên thương trường thế giới Đồng thời, đây cũng chính
là một trong những bước tiến quan trọng Việt Nam trong quá trình hội nhập, khẳng định vị thế của Việt Nam trên đấu trường quốc tế
Tuy nhiên, việc gia nhập Công ước Viên 1980 không phải là một bước đi dễ dàng Việt Nam sẽ có thể phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp lý, kinh tế, chính trị… Do đó, cần phải có những chuẩn bị đầu tiên, nhận diện và tìm cách hóa giải những khó khăn, vướng mắc này để đảm bảo quá trình tham gia Công ước sẽ thành công tốt đẹp
Thực tiễn cho thấy, nền pháp lý Việt Nam hiện nay, đặc biệt là về lĩnh vực thương mại, vẫn còn nhiều bất cập, chưa đuổi kịp những thay đổi nhanh chóng của thị trường, chưa hoàn toàn nắm bắt được xu thế chung của thế giới Chính vì lý do
đó, một trong những vấn đề cần được quan tâm, chú ý hàng đầu chính là những thách thức về mặt pháp lý mà Việt Nam sẽ gặp phải khi gia nhập Công ước Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào toàn diện, chuyên sâu về các thách thức
về mặt pháp lý này Một số nghiên cứu khác chỉ mang tính lẻ tẻ, chưa hệ thống hoặc nghiên cứu chủ yếu về mặt kinh tế chứ chưa thực sự quan tâm nhiều về khía cạnh pháp lý Do đó, còn nhiều điểm bất cập của Công ước Viên cũng như khác biệt về quy định của Việt Nam so với Công ước vẫn chưa được làm rõ và xem xét một cách
toàn diện Xuất phát từ nhu cầu nêu trên, em chọn đề tài này – “Vấn đề gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam - Những
Trang 6thách thức từ mặt pháp lý”, tổng hợp và thể hiện được một số quan điểm về các vấn
đề chưa được làm rõ về mặt pháp lý liên quan đến Công ước Viên
2 Mục tiêu của đề tài
Xuất phát từ các yêu cầu nêu trên, khóa luận sẽ tập trung làm rõ những vấn
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp để hóa giải những khó khăn, thách thức gặp phải
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các quy định pháp lý liên quan đến thương mại nói chung và mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng của pháp luật Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình áp dụng Công ước Viên 1980 từ khi có hiệu lực áp dụng đến nay ở các quốc gia thành viên và những ảnh hưởng của Công ước đến các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam, các lợi ích và khó khăn khi áp dụng Công ước Viên tại Việt Nam sau khi gia nhập
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về cả mặt thực tiễn và lý luận Nghiên cứu về mặt lý luận về các quy định của Công ước và Việt Nam về vấn đề mua bán hàng hóa quốc
tế, khả năng áp dụng Công ước vào tình hình kinh tế Việt Nam Nghiên cứu thực tiễn về tình hình áp dụng và tầm ảnh hưởng của Công ước Viên 1980 đối với các quốc gia thành viên và Việt Nam, thực tiễn áp dụng của các quy định trong nước về vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 7Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp liệt kê; phương pháp diễn giải…
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo kèm theo, nội dung khóa luận bao gồm 2 chương:
Chương I: Vấn đề Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam
Chương II: Những điểm bất cập cần lưu ý khi Việt Nam gia nhập CISG
Trang 8MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
I VẤN ĐỀ GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG) CỦA VIỆT NAM 1
1 Khái quát chung về CISG 1
1.1 Lịch sử hình thành 1
1.2 Nội dung chính của CISG 3
2 Việt Nam gia nhập CISG 5
2.1 Sự cần thiết và những lợi ích từ việc gia nhập CISG 5
2.1.1 Việt Nam cần và nên gia nhập CISG 5
2.1.2 Những lợi ích cụ thể cho Việt Nam từ việc gia nhập CISG 7
2.2 Thực tiễn gia nhập CISG của một số quốc gia trên thế giới – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 11
2.2.1 Hoa Kỳ 13
2.2.2 Trung Quốc 14
2.2.3 Châu Âu 16
2.2.4 Nhật Bản 19
II NHỮNG ĐIỂM BẤT CẬP VỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý KHI VIỆT NAM GIA NHẬP CISG 22
1 Những bất cập từ chính CISG 22
2 Tồn tại một số khác biệt về mặt pháp lý giữa Việt Nam và CISG 26
2.1 Khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế 27
2.2 Hình thức hợp đồng 29
2.3 Chào hàng và chấp nhận chào hàng 31
2.4 Chuyển rủi ro 33
Trang 92.5 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 35
3 Kiến nghị một số chuẩn bị về mặt pháp lý trước khi gia nhập CISG 41
3.1 Các sửa đổi cần thiết và lựa chọn các điều khoản bảo lưu 41
3.2 Nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến CISG 44
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn lực áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ XX bởi Unidroit (Insitute International pour l`Unification des Droits Privé - Viện nghiên cứu quốc tế
về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Haye tại Pháp vào
năm 1964 Trong đó, một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình” điều chỉnh quá trình hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng); Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình” điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của
người mua, người bán khi thực hiện hợp đồng và các biện pháp xử lý khi có vi
hiếm khi được sử dụng trong thực tế vì nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan (mà lý do có thể nói là cơ bản theo sự phân tích từ các chuyên gia chính là vì: Hội nghị La Haye được tổ chức chỉ có sự góp mặt của 28 quốc gia với rất ít đại diện từ các nước Xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển, vì thế người ta tin rằng các Công ước này được soạn thảo có lợi hơn cho các nước tư bản, việc tham gia Công ước này sẽ không đảm bảo sự công bằng)
Do đó, vào năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp
Quốc về một khuôn khổ mới với “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế
1
Theo Bản thuyết minh Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 tr.1
Trang 11~2~
chính trị khác nhau”, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước
thống nhất về pháp luật nội dung sẽ áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964 Đó chính là Công ước Viên
1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà gọi tắt là CISG Mặc dù, có thể nói CISG được soạn thảo dựa trên hai Công ước La Haye đã có từ trước (mà có những khuyết điểm nhất định khiến việc áp dụng gặp khó khăn) nhưng CISG đã có những đổi mới, hoàn thiện cơ bản được thực hiện bởi sự đóng góp, bổ sung từ các học viện, tổ chức, thương nhân, nhà ngoại giao và luật sư từ hơn 61 quốc gia trên thế giới CISG được chính thức thông qua tại Viên (Áo) vào ngày 11 tháng 4 năm
1980 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1988 khi có 10 quốc gia phê chuẩn (theo Điều 99 của Công ước)
Hiện nay, CISG là một trong những Công ước quốc tế về thương mại được
sách 83 quốc gia thành viên của Công ước Viên 1980, có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục Và ước tính trong năm 2015, CISG đã tham gia điều chỉnh hơn 3000 các tranh chấp liên quan đến hoạt động giao
chung, CISG thực sự đã rất thành công kể cả từ số lượng thành viên cho đến quy
mô áp dụng Nguyên nhân có thể được xem là quan trong nhất của sự thành công này chính là các điều khoản của CISG thể hiện được sự thống nhất, hài hòa các quy phạm khác nhau trong pháp luật của các quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia này, thực sự thể hiện được mục tiêu ban đầu của Công ước
Trang 12~3~
1.2 Nội dung chính của CISG
Là Công ước được đưa ra nhằm giải quyết các xung đột trong giao dịch thương mại quốc tế bằng một khung pháp lý thống nhất, áp dụng được đối với mọi quốc gia bất kể thể chế chính trị, văn hóa hay trình độ phát triển kinh tế, nội dung của CISG vừa phải đảm bảo tính bao trùm, toàn diện và đồng thời cũng vừa phải đảm bảo được tính cân bằng bằng việc kết hợp hài hòa pháp luật các nước trên thế giới Số lượng điều khoản sử dụng của CISG hiện tại bao gồm 101 điều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:
Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1 đến Điều 13)
Phần này quy định điều kiện áp dụng CISG cũng như nêu ra các nguyên tắc
cơ bản của Công ước như nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi, xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng… Bên cạnh đó, CISG cũng nhấn mạnh và thể hiện sự tôn trọng đối với vai trò của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế của các quốc gia áp dụng Công ước
Phần 2: Giao kết hợp đồng (thủ tục, trình tự ký kết hợp đồng) (Điều 14 đến Điều 24)
Phần hai quy định về các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế CISG đã định nghĩa chào hàng, nêu các đặc điểm của chào hàng cũng như phân biệt chào hàng với các lời mời chào hàng Các vấn đề
về hiệu lực của chào hàng, thu hồi, hủy bỏ chào hàng và các quy định có liên quan khác đến vấn đề chào hàng cũng như như thế nào là sự chấp nhận chào hàng hay từ chối chào hàng đã được nêu rất chi tiết và cụ thể trong Công ước
Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 đến Điều 88)
Đây là phần chiếm số lượng điều khoản lớn nhất trong CISG, quy định về các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Số lượng điều khoản lớn này góp phần khẳng định tầm quan trọng của các nội dung được quy định so với các chương phần khác của Công ước Phần này được chia làm 5 chương với các nội dung cơ bản sau:
- Chương I: Những quy định chung
Trang 13~4~
- Chương II: Nghĩa vụ của người bán;
- Chương III: Nghĩa vụ của người mua;
- Chương IV: Chuyển rủi ro;
- Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua
Đối với nghĩa vụ của người bán, Công ước quy định rõ ràng nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ, đặc biệt là nghĩa vụ bảo đảm tính phù hợp của hàng hóa được giao theo sự giao kết trong hợp đồng, người mua có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng hóa được giao (quy định từ Điều 30 đến Điều 52) Tương ứng với nghĩa vụ của người bán là nghĩa vụ của người mua, bao gồm nghĩa vụ chính là nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng được quy định cụ thể tại các điều từ Điều 53 đến Điều 60
Về vi phạm hợp đồng, CISG không trực tiếp phân thành một chương riêng
mà thay vào đó đã lồng ghép trong nội dung của các chương còn lại (I, II, V) Các biện pháp mà CISG cho phép người bán và người mua áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng bao gồm 4 biện pháp chính: biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng Ngoài ra còn có các biện pháp không
có tính chất chế tài hay nhằm mục đích trừng phạt bên vi phạm như biện pháp giảm giá (Điều 50), biện pháp bên bị vi phạm gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng (Khoản 1 Điều 47) hay những biện pháp mà bên vi phạm có thể đưa ra nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm mà mình gây ra (Khoản 1 Điều 48) như một điều kiện mở cho các bên có thể thỏa thuận với nhau nhằm giảm thiểu thiệt hại của sự vi phạm hợp đồng Công ước cũng nêu rõ trong các trường hợp vi phạm cụ thể nào thì các bên tham gia sẽ được áp dụng một hoặc một số biện pháp xử lý tương ứng
Chương IV quy định về điều kiện chuyển rủi ro, người bán hay người mua sẽ chịu trách nhiệm trước sự mất mát hay hư hỏng của hàng hóa Nội dung được quy định cụ thể từ Điều 66 đến Điều 70
Chương V quy định về vấn đề tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao
Trang 14Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 đến Điều 101)
Phần này quy định các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm có hiệu lực của Công ước và một
số vấn đề về mặt thủ tục khác
2 Việt Nam gia nhập CISG
2.1 Sự cần thiết và những lợi ích từ việc gia nhập CISG
2.1.1 Việt Nam cần và nên gia nhập CISG
Thống nhất và hài hòa hóa luật pháp quốc tế về hợp đồng thương mại là một
xu hướng phát triển tất yếu của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế hiện nay
đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế thế giới Việc giảm thiểu chi phí giao dịch quốc tế là một mục tiêu quan trọng của tất cả các chính phủ cũng như các doanh nghiệp, trong đó một biện pháp hữu hiệu là đơn giản hóa giao thương quốc tế bằng cách xóa bỏ các rào cản pháp lý và tăng cường tính ổn định pháp luật của giao
thương mại quốc tế hoặc các Công ước quốc tế (tiêu biểu như CISG) sẽ mang lại rất nhiều lợi ích không thể bàn cãi
Những năm gần đây, Việt Nam – một quốc gia đang phát triển tại khu vực Đông Nam Á từng bước vững chắc, mở rộng hoạt động thương mại và tiến vào thị trường quốc tế Ngày 11 tháng 01 năm 2007, chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một trong những bước tiến lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập Tuy nhiên, gia nhập WTO chỉ là những bước đi đầu tiên, vẫn còn nhiều mục tiêu mà Việt Nam cần thực hiện trong quá trình
Trang 15càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia thành viên của CISG Điều này cũng là đương nhiên vì hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều đã gia nhập Công ước Viên, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc…Các công ty, doanh nghiệp của các nước này đã áp dụng và
đã quen áp dụng Công ước Viên cho các hợp đồng mua bán hàng hoá khi ký kết với các đối tác nước ngoài Trong điều kiện như vậy, nếu không chủ động tìm hiểu về CISG khi tham gia ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu nhiều rủi ro lớn do sự thiếu hiểu biết về pháp lý mà hai bên
sẽ áp dụng
Ngoài ra, chi phí của những giao dịch quốc tế như đã được đề cập ở đây cũng
là một vấn đề cần phải giảm thiểu Trong các tranh chấp quốc tế, sự dùng dằng kéo dài thời gian tranh chấp – mà một trong các lý do quan trọng là sự bất đồng về luật
áp dụng hoặc tòa án giải quyết tranh chấp – sẽ dẫn đến rất nhiều chi phí phát sinh mới Sự xa cách về mặt địa lý cũng là một nguyên nhân gây ảnh hưởng nhiều đến chi phí giải quyết tranh chấp hợp đồng Vì vậy, để xóa bỏ những rào cản về mặt pháp lý, thúc đẩy phát triển quan hệ quốc tế nói chung cũng như tối ưu hóa các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng thì lựa chọn gia nhập CISG của Việt Nam là hết sức cần thiết
Do đó, ngày 20 tháng 8 năm 2010, Bộ Công thương đã có đề nghị trình lên Chính phủ về việc nghiên cứu khả năng tham gia Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Ngày 22 tháng 10 năm 2010, Văn phòng Chính phủ đã
có công văn chỉ đạo việc Nghiên cứu khả năng tham gia Công ước Viên 1980 về
5
VIAC – Số liệu thống kê giai đoạn 1993-2010 của Báo cáo nghiên cứu Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - VICC
Trang 16tương lai, quá trình gia nhập CISG của Việt Nam là hoàn toàn chắc chắn, những vấn
đề còn lại chủ yếu chỉ mang hình thức thủ tục Tuy nhiên, các cơ quan chức năng cũng như những nhà nghiên cứu vẫn cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu, tìm hiểu, so sánh CISG với Việt Nam nhằm tìm kiếm các giải pháp để tối ưu hóa các lợi ích cũng như giảm thiểu nhiều nhất các bất cập khi Việt Nam trở thành thành viên của CISG
2.1.2 Những lợi ích cụ thể cho Việt Nam từ việc gia nhập CISG
Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế, trong đó thương mại hàng hóa vẫn là hoạt động sôi động nhất, là động lực và từ lâu đã đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong nước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Với tính chất là một văn bản thống nhất luật, Công ước Viên 1980 đã thống nhất hoá được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Vì vậy, khi Việt Nam gia nhập CISG, Việt Nam cũng sẽ được hưởng nhiều lợi ích do văn bản thống nhất luật này mang lại
Trang 17đó, CISG mặc dù là một Công ước quốc tế nhưng được soạn thảo không bằng ngôn ngữ chuyên ngành pháp lý mà ngược lại hết sức dễ hiểu ngay cho cả những người chưa nghiên cứu nhiều về luật Các bên khi cùng sử dụng CISG, doanh nghiệp Việt Nam sẽ không cần tốn thêm các khoản chi khác khi tìm hiểu, áp dụng các quy định này Chính vì lý do đó, việc gia nhập CISG sẽ làm giảm các chi phí pháp luật liên quan cũng như từ đó, thay đổi được sự bất ổn về lợi nhuận do các chí phí pháp luật này ảnh hưởng đến mà các chủ thể tham gia có thể nhận phải
- Tạo sự công bằng cho các doanh nghiệp trên thị trường thế giới, tăng cường hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam:
Gia nhập CISG, các bên sẽ có cùng một bộ luật chung để đàm phán, ký kết các hợp đồng Quá trình ký kết đó đương nhiên sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn khi không còn tồn tại sự khác biệt về pháp lý như trước đó Đồng thời, cũng không còn xuất hiện vấn đề lựa chọn luật áp dụng, không có sự áp đặt của bên có quyền lực hơn đối với bên yếu thế hơn trong sự lựa chọn này Tính công bằng khi đó sẽ được đảm bảo tối đa Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài sẽ cùng chung “tiếng nói”, cùng chung vị trí trên bàn đàm phán hợp đồng, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối quan hệ mua bán hàng hóa sẽ gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng mở hơn nữa và quan trọng nhất, chính là tránh được tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng tới mức thấp nhất
Trang 18~9~
- Cải thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quốc gia đang có các vấn đề yếu kém:
Với nền kinh tế mới phát triển và mở cửa chưa lâu, sự thiếu sót về mặt pháp
lý đặc biệt là trong vấn đề thương mại của Việt Nam là hoàn toàn dễ hiểu Các quy định hiện tại vẫn còn nhiều thiếu sót, lỗ hổng nhất định chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng Trong khi đó, đối với CISG, quá trình đàm phán soạn thảo phải trải qua rất nhiều khó khăn do sự khác biệt tất yếu giữa các quốc gia tham gia soạn thảo, nhằm mục đích cuối cùng tạo ra một Công ước có tính
xem xét đầy đủ đến các yêu cầu, tập quán thương mại của hầu hết các quốc gia tham gia soạn thảo Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá CISG là một tập hợp các quy phạm khá hiện đại, thể hiện được sự bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Do đó, CISG chính là một trong những nguồn luật quốc tế bổ sung hữu ích nhất cho hệ thống quy định của Việt Nam hiện nay, giúp các quy định liên quan đến lĩnh vực này có thể trở nên ổn định, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn hơn, đồng thời cũng đi theo xu hướng pháp lý chung của thế giới
- Dễ dàng cho việc tiếp cận và sử dụng các quy định của CISG cho các chủ thế liên quan:
Vì Việt Nam thuộc hệ thống pháp luật civil law nên vệc tiếp cận CISG của Việt Nam chắc chắn sẽ có nhiều sự tương thích hơn so với các quốc gia thuộc hệ thống common law – đặc biệt là lợi thế không cần xem xét đến các án lệ trước đây trong quá trình đưa CISG vào áp dụng Do đó, Việt Nam không cần phải trải qua một thời gian dài để chờ đợi việc áp dụng CISG trở nên quen thuộc mà có thể đưa vào áp dụng rộng khắp ngay trong những thời điểm đầu tiên
8
Ví dụ như một chào hàng có bắt buộc phải có giá xác định trước hay không? Đây là câu hỏi mà các đại diện của civil law và common law đã có những tranh cãi rất gay gắt Đại diện của Pháp và CHLB Đức cho rằng giá cả cần phải được xác định trước hoặc có thể xác định trước (có các yếu tố
để xác định giá) Trong khi đó, theo luật các nước common law (Anh, Hoa Kỳ), nếu bên chào hàng chưa đưa ra giá trong hợp đồng thì điều này không ảnh hưởng đến hiệu lực của chào hàng Giá của hợp đồng sẽ được xác định theo giá hợp lý trên thị trường vào thời điểm giao hàng
Trang 19cả hai bên trong quan hệ hợp đồng đã là thành viên của CISG thì vấn đề này sẽ hoàn toàn được giải quyết CISG sẽ trở thành nguồn luật được áp dụng mà không cần trải qua sự lựa chọn nào
- Có thể thường xuyên áp dụng ngay khi có một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không phải là thành viên của CISG:
Khi Việt Nam gia nhập CISG, ngay cả khi đối tác trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không phải là một thành viên của CISG thì luật của CISG vẫn có thể được áp dụng (theo quy định tại Điều 1 CISG) nếu có sự đồng thuận của bên còn lại Trong trường hợp đó, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thể đạt được nhiều lợi thế hơn về mặt pháp lý Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy, trong số các án lệ có liên quan đến CISG có rất nhiều phán quyết của trọng tài quốc tế Các trọng tài quốc tế thường được quyền suy đoán tự do hơn các tòa án quốc gia trong việc lựa chọn luật
áp dụng để giải quyết tranh chấp (đặc biệt trong các trường hợp không có quy định hoặc không quy định rõ ràng về luật áp dụng cho tranh chấp) Sự ủng hộ của các trọng tài quốc tế đối với CISG trong nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thể hiện chủ yếu thông qua việc dẫn chiếu CISG như một lựa chọn ưu tiên cho việc giải quyết các tranh chấp này khi các bên không lựa chọn luật áp dụng
Vì vậy, trong thực tiễn, khả năng được áp dụng của CISG là rất cao, đặc biệt là trong môi trường pháp lý hiện nay, khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được áp dụng hết sức rộng rãi, là lựa chọn hàng đầu của các bên khi xảy ra các tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
Các lợi ích khác
Trang 20~11~
Hội nhập – trong đó có hội nhập về kinh tế đã và đang là xu hướng tất yếu chung của toàn thế giới đương đại Gia nhập những Công ước quốc tế chính là một trong những bước đi cụ thể của quá trình hội nhập của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Có thể nói, gia nhập CISG đã thực hiện được mục đích hội nhập chung, đồng thời tăng cường vị thế của Việt Nam trên thế giới, có ý nghĩa tích cực về mặt chính trị, ngoại giao Khi gia nhập, Việt Nam sẽ thể hiện cũng như khẳng định được quyết tâm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, cho thấy Việt Nam đã hoàn toàn sẵn sàng làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế bất kể chế độ chính trị - văn hóa – kinh tế, tích cực phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển của nhân loại Điều đó trước mắt sẽ tạo được niềm tin nhất định ở các quốc gia và các doanh nghiệp ngoài nước, thu hút thêm nhiều sự quan tâm từ phía cộng đồng quốc tế Hơn nữa, cũng thay đổi tích cực sự đánh giá của các nước bạn về Việt Nam nói chung và hệ thống pháp lý thương mại của Việt Nam nói riêng
Hơn thế nữa, CISG vốn là Công ước được xây dựng dựa trên sự hài hòa về mặt pháp lý giữa các nước phương Đông và phương Tây, giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, đảm bảo được vị thế công bằng giữa các bên trong một hợp đồng – là một trong những Công ước thể hiện thành công mục đích phát triển hòa bình, bình đẳng nhất Việt Nam nếu trở thành một thành viên của CISG, tiếng nói của các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ được đánh gia cao hơn trên đấu trường quốc tế Đồng thời, sự đảm bảo về mặt pháp lý cụ thể trong quan hệ về kinh tế cũng như sẽ góp phần tăng cường sự tín nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài đối với hệ thống chính trị, pháp luật, xã hội trong nước
2.2 Thực tiễn gia nhập CISG của một số quốc gia trên thế giới – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Kể từ khi ký kết từ năm 1980 đến nay, CISG đã trải qua gần 35 năm với nhiều dấu mốc trong việc mở rộng số lượng các nước thành viên Có thể tạm chia các làn sóng gia nhập vào CISG của các quốc gia trên thế giới làm 4 giai đoạn lớn như sau:
Trang 21~12~
- Giai đoạn từ năm 1980 – 1988: Đây là giai đoạn 10 quốc gia đầu tiên phê chuẩn CISG để CISG chính thức có hiệu lực 10 quốc gia này là: Ai Cập, Argentina, Cộng hòa Ả Rập, Syrian, Hoa Kỳ, Hungary, Italy, Lesotho, Pháp, Trung Quốc, Zambia Có thể thấy, 10 quốc gia này phân bố ở rộng khắp trên thế giới, thể hiện rõ
được mục tiêu ban đầu của CISG: “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế chính trị khác nhau”
- Giai đoạn từ năm 1989 – 1993: Giai đoạn này là làn sóng thứ 2 gia nhập Công ước, với 29 quốc gia mà đa số là các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, lần lượt hoàn tất các thủ tục cần thiết để chính thức là thành viên của CISG Đáng chú ý trong làn sóng gia nhập này là sự xuất hiện của hai quốc gia thuộc hệ thống common law: Úc và Canada Sự tham gia của hai quốc gia này chính là sự mở đầu cho việc các quốc gia thuộc hệ thống common law khác chú ý đến những hoạt động của Công ước
- Giai đoạn từ năm 1994 – 2000: Giai đoạn này là giai đoạn của những quốc gia đang phát triển thuộc Châu Phi và Châu Mỹ tham gia vào Công ước Một số những quốc gia Châu Âu còn lại cũng tiếp tục hoàn tất các thủ tục để gia nhập Mới
mẻ nhất chính là sự tham gia của đại diện Đông Nam Á: Singapore – một quốc gia phát triển chủ yếu dựa trên nền tảng thương mại quốc tế Điều này đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của CISG trên thế giới
- Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: Là giai đoạn mà có sự thay đổi lớn lao về
vị trí của các cường quốc hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là sự nổi lên của các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ Sự xung đột lợi ích giữa các quốc gia mới nổi cùng với các quốc gia đã phát triển và các quốc gia đang phát triển khiến quá trình gia nhập CISG chậm lại Chỉ có vài quốc gia tham gia CISG vào giai đoạn này Mãi cho đến năm 2009, khi Nhật Bản chính thức trở thành thành viên của CISG, đánh dấu một bước ngoặt mới cho sự phát triển của Công ước, báo hiệu cho làm sóng gia nhập sắp tới của các quốc gia khác thuộc khu vực Châu Á mà đặt biệt là các quốc gia ASEAN
Thực tiễn gia nhập Công ước Viên 1980 của một số quốc gia tiêu biểu sẽ được tìm hiểu dưới đây bao gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, một số nước Châu Âu và
Trang 22~13~
Nhật Bản sẽ được đề cập sau đây sẽ cho thấy được những chặng đường một cách thực tế mà các quốc gia thành viên sẽ phải trải qua khi tham gia bước đầu vào Công ước Trong đó, Hoa Kỳ - nền kinh tế hàng đầu thế giới, Trung Quốc ở Châu Á và các nước Châu Âu là một trong những thành viên đầu tiên của CISG, đồng thời còn
là những bạn hàng lớn của Việt Nam; còn Nhật Bản – cũng là một cường quốc về kinh tế, lại là quốc gia có vị trí địa lý khá gần gũi với Việt Nam và cũng là quốc gia tiêu biểu nằm trong loạt sóng gia nhập gần đây nhất Các quốc gia này có thể thể hiện rõ ràng những vấn đề có thể gặp phải cũng như một số lợi ích nhất định trong nhiều điều kiện kinh tế, chính trị, pháp lý hoàn toàn khác nhau
2.2.1 Hoa Kỳ
Là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia CISG nhưng quá trình thực thi Công ước này sau khi gia nhập tại Hoa Kì lại hoàn toàn không suôn sẻ như cách khởi đầu trước đó Đây là một trường hợp rất đáng lưu ý trong khi xem xét đến những khả năng có thể gặp phải khi Việt Nam gia nhập CISG
Mặc dù là cường quốc lớn nhất thế giới về kinh tế và thương mại quốc tế, trong suốt 12 năm đầu thực hiện Công ước Viên 1980, Hoa Kỳ chỉ đóng góp vào
thương mại của quốc gia này Đáng lưu ý trong số đó rất nhiều trường hợp các tòa
án Hoa Kỳ viện dẫn Điều 6 của CISG để từ chối áp dụng Công ước10 Tương tự, hầu hết các luật sư và nhà tư vấn pháp lý tại Hoa Kỳ đều khuyến khích khách hàng
Ngoài ra, trong những trường hợp khác khi CISG được áp dụng, các thẩm phán Hoa
Kỳ thường có xu hướng sử dụng các khái niệm của UCC để diễn giải Công ước, điều này hoàn toàn trái với yêu cầu về tính quốc tế luôn được đặt ra hàng đầu của
nó Lý do chính cho việc này chính là sự phát triển lấn át của Bộ luật thương mại
Monica Kilian, „CISG and the Problem with Common Law Jurisdictions‟ (2001) 10 J
Transnational Law & Policy tr 217, 227
Trang 23~14~
thống nhất - UCC trong pháp luật Hoa Kì từ trước đến nay Chính phủ Hoa Kỳ đã giành nhiều thời gian để hoàn chỉnh bộ luật này một cách phù hợp nhất đối với tình hình kinh tế của Hoa Kì, các thương nhân đã quen sử dụng bộ luật này, ngược lại CISG lại còn rất mới và chưa thực sự được phổ biến ngay cả trong giới luật sự hay thẩm phán Hoa Kỳ Thậm chí khi so sánh lựa chọn giữa luật thương mại của từng bang và CISG, các thương nhân Hoa Kỳ vẫn thích lựa chọn pháp luật bang hơn như một sự đảm bảo về mặt pháp lý cho chính họ Đây là điểm chung dễ thấy đối với hệ thống common law như Hoa Kỳ nói riêng và các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này nói chung, do đó việc ít sử dụng các quy định của CISG trong những thời gian đầu là hoàn toàn dễ hiểu
Tuy nhiên, do áp lực từ cộng đồng quốc tế từ chính sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng thành viên của CISG, đồng thời nhận thấy các lợi ích từ việc áp dụng các quy định của Công ước, tình hình áp dụng các quy định của Công ước Viên tại Hoa Kỳ đã được cải thiện một cách rõ rệt đặc biệt là từ năm 2005 đến nay Có thể nhận thấy từ năm 2000 đến 2010, số lượng án lệ áp dụng quy định của CISG đã
Có thể nói rằng, mặc dù không thuận lợi trong những bước đầu ở Hoa Kỳ, nhưng thực tiễn sau nhiều năm cho thấy việc áp dụng các quy định của CISG là phù hợp với xu hướng chung của thế giới
2.2.2 Trung Quốc
Năm 1988, 10 quốc gia đầu tiên tham gia CISG và CISG chính thức có hiệu lực Có thể thấy trong số 10 nước thành viên đầu tiên, Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai thành viên rất đáng chú ý, vì Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên của Châu Á tham gia CISG Hơn thế nữa, hiện nay Trung Quốc đang trở thành nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, lại là láng giềng gần gũi với Việt Nam, sức ảnh hưởng về mặt thương mại của Trung Quốc đến Việt Nam là rất lớn Do đó, có thể thấy thực tiễn trước và sau quá trình gia nhập CISG của Trung Quốc là ví dụ tiêu biểu nhất để làm kim chỉ nam cho quá trình gia nhập của Việt Nam
12
Xem chi tiết các án lệ tại UNILEX
<http://www.unilex.info/dynasite.cfm?dssid=2376&dsmid=13354>
Trang 24~15~
Hiện nay, các phán quyết của các trọng tài Trung Quốc mà áp dụng các quy
này, có thể thấy rõ được vai trò của CISG đối với nền ngoại thương của Trung Quốc, CISG đã góp phần điều chỉnh các vấn đề bất cập mà pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung Quốc còn vướng phải
Trước năm 1978 – năm “Cải cách mở cửa” của Trung Quốc, với nền kinh tế
nhà nước nghiêm ngặt, thậm chí Trung Quốc còn chưa tồn tại pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung một cách có hệ thống Tuy nhiên, ngay sau những năm đề nghị được gia nhập CISG (1986), Trung Quốc đã ban hàng một loạt quy định liên quan đến lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài nói riêng Từ đó có thể thấy sự chuẩn bị tìm hiểu kĩ lưỡng về mặt pháp lý và cả các thay đổi về kinh tế của Trung Quốc trước thềm gia nhập Đây là các bước đệm pháp lý cần thiết mà Việt Nam cần học hỏi áp dụng trong việc chuẩn bị gia nhập CISG và cho cả việc tham gia các Công ước khác trong tương lai
Theo nhận định của những nhà phân tích, kể từ khi gia nhập, CISG đã thể hiện vai trò hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy một cách tích cực hoạt đông ngoại thương, xóa bỏ những rào cản pháp lý đối với hoạt động này của Trung Quốc, đặt biệt là vào những năm 90 của thế kỉ trước – thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngoại thương Trung Quốc Dần dần, các nhà lập pháp của Trung Quốc đã chuyển hóa các nguyên tắc chung và một số quy định cụ thể của CISG vào quy định quốc gia khi nhận thấy tính áp dụng rộng rãi của các quy định đó Mà một ví dụ tiêu biểu
là đầu năm 2013, Trung Quốc đã thống nhất áp dụng Điều 11 (về hình thức hợp đồng) theo CISG trong pháp luật quốc gia14
Bởi vì sau khi ban hành Luật hợp đồng, bãi bỏ Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Luật hợp đồng kinh
tế nước ngoài được ban hành vào năm 1999, hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung
13
Claude Witz, L‟essor de la Convention de Vienne en Asie (Sự bành trướng của Công ước Viên
1980 tại Châu Á), Recueil Dalloz, 2009, tr.280.
14
Theo trang
<http://english.mofcom.gov.cn/article/newsrelease/significantnews/201302/20130200038302.shtml
>
Trang 25~16~
Quốc đã không còn bắt buộc phải ký kết bằng văn bản như trước đây mà có thể sử dụng các hình thức khác Điều này đã làm giảm thiểu các trở ngại cuối cùng về pháp lý của Trung Quốc trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế - vấn đề hình thức hợp đồng, giải quyết những xung đột cuối cùng của pháp luật nội địa Trung Quốc với các quy định của Công ước
Ngoài ra, hiện nay, thậm chí một số trọng tài Trung Quốc còn áp dụng CISG cho cả những quan hệ thương mại mà có hai bên là doanh nghiệp đều có trụ sở tại
Điều này cho thấy, việc áp dụng CISG ở Trung Quốc là rất thuận lợi, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế của Trung Quốc Có thể nói, CISG càng ngày càng chứng tỏ vị trí không thể thay thế trong pháp luật hợp đồng thương mại Trung Quốc
2.2.3 Châu Âu
Các nước Tây Âu là nơi khởi nguồn ý tưởng thành lập một Công ước quốc tế thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tiền thân của CISG, Công ước
La Haye 1964 đều có sự xuất hiện của các đại diện đến từ Tây Âu như Pháp, Đức,
Ý Các quốc gia này cũng có những đóng góp nhất định vào hoạt động xây dựng, soạn thảo CISG nên không có gì đáng ngạc nhiên khi 2 trong 10 quốc gia đầu tiên góp phần đưa CISG vào hoạt động là hai nước Pháp và Ý Sau đó, đặc biệt mạnh
mẽ là trong giai đoạn từ năm 1989 cho đến năm 1993, các quốc gia Châu Âu khác cũng lần lượt trở thành thành viên của CISG như Hungari (1988), Thụy Điển (1989), Đức (1991)… Hiện này, 33 trên tổng số 43 quốc gia của Châu Âu là thành viên của Công ước này
Trong các quốc gia Châu Âu, Đức có thể xem là nơi mà CISG có dấu ấn rõ nét nhất với khối lượng khổng lồ các án lệ áp dụng quy định của CISG đã được thống kê Điều này cũng không đáng ngạc nhiên khi Đức thuộc hệ thống pháp luật civil law, việc áp dụng CISG sẽ gặp ít trở ngại như các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật common law Đồng thời, là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia
Trang 26~17~
vào CISG, các án lệ của Đức có số lượng lớn nhất cũng là điều có thể dự đoán
Một học giả Đức, giáo sư Ulrich Magnus đã tổng kết rằng: “Công ước Viên là Công ước duy nhất về luật tư pháp mà Đức đã tham gia và Công ước này vẫn đang có
nghiên cứu ở Đức đều cho thấy được sự phổ biến cũng như tầm ảnh hưởng rộng rãi
và 100% các luật sư, thẩm phán được phỏng vấn đều có những hiểu biết nhất định
về CISG dù không phải tất cả họ đều hoạt động trong lĩnh vực này CISG cũng được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua Luật về các nghĩa vụ năm 2002 theo khuôn mẫu CISG) trong rất nhiều hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa ở Đức
Có thể nói, CISG có một ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến pháp luật Đức Tuy nhiên, cũng chính nhờ điều này, mà các án lệ mà tòa án Đức sử dụng quy định của CISG cũng tạo nên ảnh hưởng nhất định đến CISG và việc áp dụng nó của các quốc gia khác Ví dụ, vào năm 2000, một phần ba các án lệ của CISG mà CLOUT96 báo cáo
là quyết định của Đức Do đó, các quyết định của Đức được tất cả các quốc gia khác học hỏi cũng như ảnh hưởng đến việc giải thích quy định của Công ước trong các phiên xét xử sau này.18
Pháp là quốc gia đứng thứ 2 sau Đức có số lượng án lệ khổng lồ về CISG ở Châu Âu Là quốc gia có ngôn ngữ thuộc trong 6 thứ tiếng chính thức được CISG
sử dụng, Pháp ngay từ đầu đã có những lợi thế nhất định so với các thành viên khác của Công ước Tuy nhiên, việc áp dụng CISG tại Pháp ban đầu lại vấp phải nhiều khó khăn xuất phát từ những khác biệt về quy định giữa CISG và pháp luật về mua bán hàng hóa tại Pháp Do đó, trong thời kì này, nhiều quyết định của tòa án Pháp liên quan đến CISG bị chỉ trích do không diễn giải đúng quy định của Công ước bởi
sự ảnh hưởng nặng nề của pháp luật quốc gia lên quan điểm của các thẩm phán Tuy
Trang 27~18~
nhiên, cùng với thời gian, khi các học giả lên tiếng bình luận các bản án thì chất lượng bản án liên quan đến CISG của Pháp cũng ngày càng được nâng cao Hơn nữa, các quy định của CISG thậm chí còn có những phản hồi tích cực đối với pháp luật quốc gia Pháp (ví dụ: Theo pháp luật Pháp, các hợp đồng mua bán hàng hóa đều phải có điều khoản ấn định giá Tuy nhiên, quy định của CISG lại cho phép để giá mở Thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp, hiện nay quy định giá mở này đã được các thẩm phán Pháp chấp nhận trên thực tế) Có thể thấy, tương tự như ở Đức, Công ước cũng đóng một vai trò nhất định trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia của Pháp Đồng thời, việc áp dụng tích cực các quy định của CISG này cũng góp phần mở rộng sự ảnh hưởng của CISG vào pháp luật thế giới nói chung và các quốc gia Châu Âu nói riêng
Một trong những trường hợp đặc biệt của Châu Âu chính là Vương quốc Anh Là một cường quốc về kinh tế, Vương quốc Anh – không giống như các quốc gia khác lại hoàn toàn đứng ngoài cuộc và chưa có động thái chính thức nào về việc tham gia CISG Lý do được sử dụng nhiều nhất để giải thích cho vấn đề này của các nhà chức trách Anh chính là: Việc gia nhập CISG không phải là một vấn đề cần ưu tiên trong lĩnh vực pháp lý của quốc gia, Nghị viện không có đủ thời gian để giải quyết các vấn đề khác và việc gia nhập này phải đợi cho đến khi các vấn đề ưu tiên khác đã được giải quyết xong19
Hầu hết các luật sư cũng như giới doanh nghiệp (mà tiêu biểu là các tập đoàn lớn tại Anh như ICI, BP, Shell…) đều cho rằng việc gia nhập CISG là một động thái có thể làm giảm tầm ảnh hưởng của pháp luật Anh trên trường quốc tế mặc dù nhìn chung, thực tiễn hiện nay đã chứng minh vốn dĩ không tồn tại nhiều khác biệt mang tính đối kháng giữa quy định về pháp luật mua bán hàng hóa quốc tế của Anh và CISG Thực ra, nguyên nhân lớn nhất và được các nhà nghiên cứu giải thích phổ biến hơn cả của việc không gia nhập CISG của Anh chính là: Luật mua bán hàng hóa 1979 là một văn bản pháp lý có ảnh hưởng rất lớn trong mua bán hàng hóa quốc tế và là niềm tự hào của người Anh từ trước đến nay, việc thừa nhận một văn bản pháp lý khác có giá trị cao hơn không phải là điều họ mong muốn Ngoài ra, trở ngại về ngôn ngữ cũng được xem là một nguyên nhân đáng kể cho việc từ chối tham gia Như đã nói ở trên, quy phạm pháp lý quốc gia
19
Theo Sally Moss “Why the United Kingdom has not ratified the CISG”
Trang 28~19~
hiện hành tại Vương quốc Anh và các điều khoản của Công ước 1980 không hoàn toàn giống nhau Vì vậy chỉ cần một cách diễn đạt hay lối hành văn bị hiểu sai là có thể dẫn đến sự tổn thất nghiêm trọng cho hệ thống Luật quốc gia Vì thế, cho dù giữa CISG và Luật mua bán hàng hóa 1979 không tồn tại nhiều sự đối kháng và việc gia nhập có thể mang lại rất nhiều lợi ích cho một quốc gia vốn dĩ đã có nền kinh tế hết sức phát triển như Vương quốc Anh, nhưng có thể thấy, CISG vẫn khó
có thể trở thành văn bản thay thế cho Luật mua bán hàng hóa 1979 ở Vương quốc
này Có thể nói rằng, chính sự “bảo thủ” và “truyền thống” của nước Anh đã ngăn
cản họ tham gia CISG
2.2.4 Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những thành viên mới nhất CISG trong khoảng thời gian gần đây (Nhật bản chính thức trở thành thành viên thứ 72 của Công ước vào ngày 01 tháng 8 năm 2009) Không giống với Vương quốc Anh, Nhật Bản không có bất kì vấn đề “truyền thống” pháp lý nào ngăn cản việc gia nhập Công ước Tuy nhiên, phải đến gần đây Nhật Bản mới thực sự chính thức là thành viên của Công ước này Lý do nào cho sự chậm trễ đó là một trong những vấn đề đáng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Một cách chính xác, nỗ lực đầu tiên của Nhật Bản trong việc gia nhập CISG đã được xúc tiến vào năm 1989, điều này cho thấy tầm nhìn của các nhà chính trị Nhật Bản lúc bấy giờ cũng đã rất chiến lược Nhưng những nỗ lực này đã bị đình chỉ bởi sự thờ ơ của các doanh nghiệp trong nước20
Lý do này hết sức dễ hiểu do vào năm 90 của thế kỉ XX, Nhật Bản vẫn đang đối mặt với khủng hoảng, mục tiêu hàng đầu của các nhà chức trách là giải quyết tình hình đang căng thẳng trong nước Đồng thời số lượng thành viên của CISG còn rất ít, sức mạnh của Công ước vẫn chưa hề rõ ràng, việc gia nhập hay không không phải là một vấn đề cấp bách Và cho đến gần đây, khi những nghiên cứu về CISG của Nhật Bản đã được thực hiện nhiều hơn; Công ước cũng đã thể hiện rõ vị thế của mình trên thế giới, hơn nữa còn có những tác động rõ rệt đối hoạt động ngoại thương trong nước của Nhật Bản, tâm trạng e dè của Nhật Bản mới không còn nữa,
do đó việc gia nhập là hoàn toàn tất yếu
20
Hiroo Sono, Sapporo “Japan‟s Accession to the CISG: The Asia Factor” tr 1
Trang 29~20~
Có thể nói, ngay cả trước khi chính thức gia nhập, CISG cũng đã có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Nhật Bản Tiêu biểu nhất là sự gia tăng nhanh chóng của mối quan hệ thương mại giữa Nhật
Hoa Kì, cũng là một thành viên của CISG, hai quốc gia này chiếm tới 40% thị trường Do đó, các tranh chấp có liên quan đến Nhật Bản đã áp dụng các quy định của CISG vốn đã xuất hiện trước cả khi gia nhập như một lẽ tất nhiên mặc dù hầu hết là xuất hiện trong các bản án của các trọng tài, tòa án các quốc gia khác chứ không trực tiếp thuộc về tòa án của Nhật Bản Các thương gia chính là những người nhận thức rõ nhất lợi ích của việc tham gia CISG như giảm chi phí khi sử dụng một
bộ luật thống nhất cho các giao dịch quốc tế, hay có thể cắt giảm chi phí cho việc đàm phán bộ luật điều chỉnh hợp đồng Một cách hiển nhiên, Nhật Bản có thể thấy trước được các lợi thế mà mình có thể nhận được khi trở thành một thành viên chính thức Công ước Viên 1980
Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, số lượng các tranh chấp có sử dụng đến các quy định của CISG tại Nhật Bản vẫn chưa tăng lên theo thống kê của trang web
1 trường hợp áp dụng quy định của CISG từ những năm 1999 Có lẽ vẫn cần một thời gian nữa tòa án và trọng tài Nhật Bản mới thực sự tìm được thói quen trong áp dụng các quy định này đồng thời cũng cần thời gian để chờ đợi những thống kê chính xác hơn của các trang thông tin chính thức
Trang 30~21~
Tóm tắt chương I
Lịch sử hình thành cho thấy, CISG đã có một bề dày lịch sử với những sự đóng góp vào thương mại quốc tế rất đáng được ghi nhận cùng số lượng thành viên hết sức đông đảo và có chiều hướng gia tăng một cách rõ rệt – với các quốc gia đang phát triển, có điều kiện tương tự như Việt Nam Việc gia nhập CISG chắc chắn sẽ đem lại nhiều lợi ích, trước hết và quan trọng nhất là về mặt kinh tế và cả mặt về mặt pháp lý Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại những khó khăn ban đầu Qua phân tích, có thể chắc chắn rằng, thực tiễn gia nhập CISG của mỗi quốc gia đều
có những đặc trưng riêng phụ thuộc vào hoàn cảnh gia nhập, tình hình pháp lý, chính trị, kinh tế của mỗi nước, Việt Nam cũng cần phải có những chuẩn bị nhất định Thông qua việc thấy được những thuận lợi, khó khăn mà mỗi quốc gia gặp phải, Việt Nam có thể dựa vào đó để tìm kiếm một vị trí phù hợp nhất cho mình, có những sự chuẩn bị chu đáo nhất, tránh khỏi những vướng mắc, đặc biệt là về mặt pháp lý không cần thiết cũng như phát huy tối đa các lợi ích mà việc gia nhập CISG
có thể mang lại