Những năm gần đây, có một số bài viết, công trình liên quan như: Kiện đòi tài sản, một phương thức bảo vệ quyền sở hữu, khóa luận tốt nghiệp của Đào Thị Cẩm Loan năm 2006; Tạp chí Tòa án
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
- -
HỒ THỊ THẢO MSSV : 3130139
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
GV HƯỚNG DẪN: Th.s NGUYỄN XUÂN QUANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
- -
HỒ THỊ THẢO MSSV : 3130139
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
GV HƯỚNG DẪN: Th.s NGUYỄN XUÂN QUANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
- BLDS : Bộ luật Dân sự
- BTTH : Bồi thường thiệt hại
- XHCN : Xã hội chủ nghĩa
- TAND : Tòa án nhân dân
- UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ BẢO VỆ
QUYỀN SỞ HỮU 1
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu 1
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu 1
1.1.2 Đặc điểm quyền sở hữu 9
1.1.3 Căn cứ xác lập quyền sở hữu 10
1.2 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu theo quy định Bộ luật Dân sự 14
1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu 15
1.4 Giới hạn của việc bảo vệ quyền sở hữu 18
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 21
2.1 Phương thức tự bảo vệ 21
2.1.1 Đặc trưng của phương thức tự bảo vệ so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác 22
2.1.2 Các hình thức tự bảo vệ quyền sở hữu 24
2.2 Phương thức kiện dân sự 25
2.2.1 Kiện đòi lại tài sản 27
2.2.2 Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đố với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp 35
2.2.3 Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản 37
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 46
3.1 Tình hình xâm phạm quyền sở hữu 46
Trang 53.2 Thực trạng pháp luật dân sự về bảo vệ quyền sở hữu 47 3.2.1 Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản 47 3.2.2 Thực trạng của phương thức kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt
hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu,
quyền chiếm hữu hợp pháp 49 3.2.3 Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện yêu cầu bồi
thường thiệt hại 54 3.3 Nguyên nhân của thực trạng bảo vệ quyền sở hữu, những giải pháp và
kiến nghị 57 3.3.1 Những nguyên nhân trong thực trạng áp dụng các quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền sở hữu 57 3.3.2 Những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự về bảo vệ quyền sở hữu 59
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật với những thuộc tính của mình đã trở thành một công cụ quản lý xã hội không thể thiếu ở bất kỳ một Nhà nước nào Trong hệ thống pháp luật, sau Hiến Pháp, Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) giữ vị trí đặc biệt quan trọng, điều chỉnh các quan hệ dân sự giữa cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Thông qua BLDS, các chủ trương chính sách của Đảng, chính sách của Nhà nước đã được thể chế thành các quy phạm pháp luật Đồng thời BLDS cũng đã cụ thể hóa các quyền
cơ bản của con người được khẳng định trong Hiến pháp như: quyền tự do hợp đồng, tự do kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, quyền thừa kế và quan trọng hơn cả
là quyền sở hữu và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế Đây là một quyền có ý nghĩa sâu sắc gắn với cuộc sống hằng ngày của người dân, tác động trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển xã hội
BLDS năm 1995 ra đời về cơ bản đã thực sự đi vào đời sống xã hội, tạo chuẩn mực pháp lý cho các chủ thể ứng xử khi tham gia quan hệ sở hữu góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Theo quy luật tự nhiên cùng với sự phát triển không ngừng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, BLDS năm 1995 đã bộc lộ những quy định lạc hậu chưa tương thích với
sự thay đổi khách quan về các quan hệ sở hữu Do đó, việc ra đời BLDS năm 2005 trên cơ sở rà soát, sửa đổi bổ sung những quy định bất hợp lý là cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật dân sự về bảo vệ quyền sở hữu BLDS 2005 quy định
cụ thể, đầy đủ hơn các quyền sở hữu của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, phù hợp với điều kiện tình hình mới của đất nước
Sự tác động của BLDS lên các quan hệ sở hữu luôn tạo nên những biến đổi tích cực nhất định ở đối tượng bị tác động nhưng kết quả thực tế vẫn còn nhiều tiêu cực chưa phù hợp với mục đích đề ra Nhiều người còn nhận thức thái quá hoặc hiểu không đúng pháp luật sẽ dẫn tới việc xâm phạm quyền sở hữu, chiếm
Trang 7hữu hợp pháp Khi tranh chấp phát sinh, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp làm thế nào để bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho mình, các phương thức có thể áp dụng, điều kiện áp dụng…là vấn đề cần làm sáng tỏ
Từ những yêu cầu lý luận cũng như thực tiễn nêu trên đã gợi mở cho tác giả lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự ”, làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù chế định quyền sở hữu được xây dựng rất lâu trong BLDS, được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu lại là một vấn đề bị hạn chế nghiên cứu vì đây là đề tài rộng, có tính bao quát cao nên chỉ có các bài viết, công trình nghiên cứu, liên quan một phần của đề tài Trước đây có các công trình như: “Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam” năm 1999,
“Bình luận khoa học về tài sản trong luật Dân sự Việt Nam” năm 2001 của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; Một số vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay của Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt năm 2004… Những năm gần đây, có một số bài viết, công trình liên quan như: Kiện đòi tài sản, một phương thức bảo vệ quyền sở hữu, khóa luận tốt nghiệp của Đào Thị Cẩm Loan năm 2006; Tạp chí Tòa án nhân dân
số 16 tháng 8/2006 của Nguyễn Minh Tuấn: Bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản trong pháp luật Dân sự Việt Nam và pháp luật Dân sự của một số nước trên thế giới; Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử của Tưởng Duy Lượng năm 2009 cũng chỉ phân tích một số vấn đề cơ bản về cách thức bảo vệ quyền sở hữu theo quy định BLDS 2005… Chính vì vậy cho đến nay ngoài các quy định của BLDS 2005 thì vẫn chưa có một tác giả nào nghiên cứu đề tài “ Bảo
vệ quyền sở hữu theo quy định của BLDS” một cách đầy đủ và toàn diện
3 Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan tới quyền sở hữu, qua đó, tác giả làm sáng tỏ các khái niệm quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, các biện pháp pháp lý bảo vệ quyền
sở hữu, ưu điểm của từng phương thức bảo vệ quyền sở hữu Ngoài ra trên cơ sở
Trang 8thực trạng của việc giải quyết tranh chấp về sở hữu, tác giả còn làm rõ những nguyên nhân gây vướng mắc trong việc áp dụng các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu Từ đó tác giả xin đưa ra một số kiến nghị cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về bảo quyền sở hữu
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận cơ bản về sở hữu, quyền sở hữu, các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của BLDS 2005 nhưng không bao gồm sở hữu trí tuệ, tranh chấp và các biện pháp áp dụng giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ
5 Phương pháp nghiên cứu
Các vấn đề của khóa luận được nghiên cứu dựa vào các phương pháp phân tích, liệt kê, so sánh giữa các luật chuyên ngành và các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm nhìn nhận các vấn đề một cách toàn diện hơn Tác giả đặt các hiện tượng, các hoạt động pháp lý trong mối quan hệ biện chứng với nhau Việc lý giải và đề xuất kiến nghị cũng không nằm ngoài phương pháp đó
6 Cơ cấu của đề tài
Luận văn ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bao gồm ba chương:
Chương 1: Khái luận về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu
Chương 2: Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân
Qua khóa luận của mình, tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến các thầy cô, gia đình, bạn bè, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả;
Trang 9đặc biệt thầy Nguyễn Xuân Quang, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình tác giả trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận của mình
Trang 10CHƯƠNG I: KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU
VÀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu
Trong bất kỳ một hình thái xã hội nào con người cũng phải lao động để sinh tồn Ngay từ thời nguyên thủy, sơ khai ý thức về xã hội, về cộng đồng còn hạn chế song con người vẫn biết cách sử dụng những công cụ lao động thô sơ để kiếm thức
ăn Theo quy luật khách quan, nhu cầu của con người về tinh thần, vật chất ngày càng nâng cao Do vậy, họ không ngừng tìm tòi, lao động Quá trình đó tạo ra nhiều của cải, vật chất với những mối quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu, làm chủ chúng hình thành nên các quan hệ sở hữu Ở đây chúng ta cũng cần lưu ý sở hữu, quan hệ sở hữu và quyền sở hữu là các khái niệm hoàn toàn khác nhau Sở hữu có trong lòng mọi xã hội, là một phạm trù kinh tế dùng để chỉ việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của một cá nhân, tổ chức, mang tính chất hàng hóa- tiền tệ đặc thù trong đó thể hiện quyền tự định đoạt cao độ của chủ thể Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm giữ các
tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng, chỉ rõ tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng đó thuộc về người này hay người khác, tập đoàn này hay tập đoàn khác, giai cấp này hay giai cấp khác trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Còn quyền sở hữu với tư cách là một chế định pháp luật, chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp, có Nhà nước và pháp luật Vì vậy, quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý, phản ánh các quan hệ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ sở hữu trong xã hội
Ở mỗi nhà nước, mỗi chế độ có nhiều cách hiểu về khái niệm quyền sở hữu nhưng nhìn chung nhất có các cách hiểu sau đây theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Trang 11Theo nghĩa rộng: Quyền sở hữu chính là pháp luật về sở hữu trong một
chế độ sở hữu nhất định Quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và những tài sản khác trong xã hội được ghi nhận trong Hiến Pháp, BLDS, các luật khác và văn bản dưới luật Các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu quy định nội dung, trình tự thực hiện phương thức xác nhận, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Như vậy pháp luật về quyền sở
hữu bao gồm:
thể nhất định (Nhà nước, tập thể, cá nhân) và qua đó quy định pháp lý về trạng thái thực tế chiếm hữu các loại tài sản
Thứ hai, những quy định xác định tính chất và mức độ xử sự của các chủ sở hữu và chủ thể khác khi thực hiện các quyền năng cụ thể của quyền sở hữu: chiếm hữu, mua bán, trao đổi, tặng cho…theo BLDS, Bộ luật Hàng hải, luật Đất đai…
sự, hình chính, dân sự… bảo vệ các quan hệ sở hữu
Theo nghĩa hẹp: Quyền sở hữu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép
một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định, trong khuôn khổ pháp luật Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh Nó tác động trực tiếp, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
Ngoài ra quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự Nó được phát sinh khi có những sự kiện pháp lý nhất định Những sự kiện pháp lý này chính là những căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với các chủ thể Bản thân nó là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ sở hữu Do đó,
Trang 12theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung như các quan hệ pháp luật dân sự khác Ba yếu tố này có mối quan hệ khăng khít, biện chứng bởi thiếu một trong ba yếu tố đó thì cũng không thể hình thành nên các quan hệ về sở hữu
Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan
hệ pháp luật dân sự về tài sản Chính vì vậy, BLDS của các nước trên thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần làm rõ, tạo cơ sở cho việc quy định các chế định khác như: hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế…BLDS Việt Nam năm 2005
đã dành phần thứ hai với tổng số 117 Điều (từ Điều 163 đến Điều 279) để quy định về „„Tài sản và quyền sở hữu‟‟
Điều 164 BLDS 2005: “Quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”
Chế định quyền sở hữu với ba quyền năng cơ bản không chỉ được xây dựng trên nguyên tắc quyền của chủ sở hữu chiếm vị trí trung tâm, là xuất phát điểm để quy định các quy chế pháp lý tương ứng, mà còn có cả những quy định với những xuất phát điểm từ góc độ tài sản Cả ba quyền năng tạo thành một thể thống nhất, chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau nhưng mỗi quyền năng lại mang một ý nghĩa khác nhau Cụ thể: quyền chiếm hữu là tiền đề quan trọng nhưng quyền sử dụng lại có một ý nghĩa thiết thực, vì chỉ có thông qua quyền này chủ sở hữu mới khai thác được lợi ích, công dụng của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu cho mình, còn quyền định đoạt lại xác định ý nghĩa pháp lý quan trọng nhất của chủ sở hữu Do đó, chúng ta không được đồng nhất ba quyền này dễ dẫn đến những sai lầm tệ hại.1
+ Quyền chiếm hữu:
Luật dân sự Việt Nam xác định chiếm hữu là một quyền năng của quyền sở hữu, Điều 182 BLDS qui định: “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” Nắm giữ tài sản là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát
1 Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, năm 2007, trang 213
Trang 13làm chủ và chi phối tài sản đó theo ý chí của mình BLDS đã coi chiếm hữu là một trong ba bộ phận cấu thành quyền sở hữu Liên quan đến vấn đề này, đang còn nhiều tranh luận nhưng nhìn chung có hai quan điểm phổ biến sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền sở hữu chỉ bao gồm hai nội dung: quyền sử dụng và quyền định đoạt Còn chiếm hữu thực ra là một tình trạng chứ không phải là một quyền năng Chiếm hữu là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của quyền sở hữu Đây cũng là quan điểm trong luật dân sự của đa số các nước trên thế giới như Đức, Pháp, Nhật Bản…đều quy định như thế
- Quan điểm thứ hai cho rằng cách quy định như Điều 182 BLDS Việt Nam hiện nay là hoàn toàn hợp lý Những người theo quan điểm này lý giải chiếm hữu
là sự nắm giữ vật, tuy nhiên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà hiện nay có những vật không thể nắm giữ được (như sóng điện thoại, nhãn hiệu hàng hóa, lời bài hát, một bản nhạc….) Muốn chứng minh mình là chủ sở hữu thì tuỳ từng trường hợp: đối với bất động sản phải dựa vào việc đăng ký tài sản, còn đối với động sản thì bản thân sự chiếm hữu cũng là một cách thức để chứng minh
Thiết nghĩ tranh luận chiếm hữu là một tình trạng hay là một quyền sẽ có nguy cơ sa vào tranh luận về mặt học thuật Vấn đề có ý nghĩa đặt ra là: cách quy định chiếm hữu là một bộ phận của quyền sở hữu như BLDS có ích lợi gì không?
Dù chiếm hữu là một tình trạng hay một quyền thì vẫn cần phải có những quy định
để bảo vệ sự chiếm hữu đó Có nghĩa là để đảm bảo sự ổn định của các quan hệ pháp luật dân sự thì nên công nhận tình trạng chiếm hữu thực tế Nếu không ta sẽ phải chứng minh tình trạng sở hữu tuyệt đối – một điều rất khó thực hiện thậm chí làm đảo lộn các quan hệ pháp luật dân sự Qua tìm hiểu pháp luật của các nước trên thế giới (Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc…) chúng ta thấy các nước đều quy định theo hướng đó và do vậy, các quy định về chiếm hữu là một chế định riêng được tách khỏi chế định sở hữu 2
2 TS Nguyễn Hữu Hiên, Bảo vệ Quyền sở hữu dưới góc đô luật so sánh,
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/08/3499/., ngày 08/08/2009
Trang 14Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, nhìn dưới góc độ chủ thể chiếm hữu,
có thể tồn tại hai khả năng: người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản Chủ sở hữu có thể chuyển tài sản cho người khác chiếm hữu theo ý chí của mình hoặc do pháp luật quy định
Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, theo cách hiểu thông thường còn gọi là chiếm hữu hợp pháp và chiếm hữu bất hợp pháp
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật (chiếm hữu hợp pháp):
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật được hiểu là các trường hợp người chiếm hữu thực sự có quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình dựa trên những căn cứ
do pháp luật qui định Đó là hình thức chiếm hữu hợp pháp, theo Điều 183 BLDS
“sự chiếm hữu hợp pháp trước hết đó là sự chiếm hữu tài sản của một chủ sở hữu được pháp luật công nhận.”
Người không phải là chủ sở hữu mà chiếm hữu tài sản thì chỉ được coi là chiếm hữu có căn cứ pháp luật khi rơi vào các trường hợp sau: người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản, người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc, chiếm hữu của cơ quan, tổ chức theo chức năng và thẩm quyền có quyền thu giữ và chiếm hữu tài sản…
Đối với các trường hợp người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản hoặc được giao chiếm giữ tài sản thông qua giao dịch dân sự, người chiếm hữu không thể xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 185,186 BLDS) đồng thời chỉ thực hiện quyền chiếm hữu trong phạm vi, theo cách thức và thời hạn do chủ
sở hữu xác định Hay nói khác đi, người không phải là chủ sở hữu thực hiện các quyền năng chủ yếu không mang tính độc lập
Trang 15Khi quyền chiếm hữu bị xâm phạm, người chiếm hữu hợp pháp tài sản của người khác sẽ được pháp luật bảo vệ theo các quy định về bảo vệ quyền sở hữu từ Điều 255 đến Điều 260 BLDS Lẽ dĩ nhiên, người này phải chứng minh được tính hợp pháp của việc chiếm hữu, chẳng hạn bằng việc xuất trình hợp đồng thuê, mượn tài sản
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật (chiếm hữu bất hợp pháp):
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu trái pháp luật hoặc không dựa vào căn cứ của pháp luật tức là không thuộc các trường hợp được liệt
kê tại Điều 183 BLDS như: bắt giữ gia súc của người khác, lấy trộm tài sản của người khác…Thực chất, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là trường hợp một người thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu đối với một tài sản tức là xử sự như chính mình là chủ sở hữu trong khi thực chất chủ sở hữu đích thực của tài sản lại là người khác Có hai trường hợp xảy ra:
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình: là trường hợp
pháp luật không bắt buộc phải biết hoặc họ không thể biết hành vi chiếm hữu của mình là hợp pháp hay không Do vậy, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không biết và không thể biết được người khác chuyển giao quyền chiếm hữu cho mình có phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản hay không khi họ đang thực tế nắm giữ tài sản và khẳng định tư cách chủ sở hữu của họ qua giao dịch được thực hiện một cách công khai, minh bạch, tài sản được chuyển giao theo đúng giá trị Còn trong trường hợp nào, người chiếm hữu chứng minh được ý chí của họ không thể biết việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật Đó là đối với tài sản có đăng
ký quyền sở hữu pháp luật buộc người xác lập giao dịch liên quan đến tài sản đó phải kiểm tra các giấy tờ đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản để chứng minh tư cách của người chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho mình
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình: là trường hợp
pháp luật bắt buộc một chủ thể phải biết hành vi chiếm hữu của mình là không hợp pháp Thông thường người chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình tuy biết việc chiếm hữu của mình là vi phạm pháp luật nhưng do chỉ nhìn lợi ích của tài sản, vì
Trang 16tham lam, vụ lợi nên chấp nhận thực hiện giao dịch một cách lén lút, lẩn tránh pháp luật hoặc có được tài sản thông qua hành vi phạm pháp: trộm, cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình không được pháp luật bảo vệ và không được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu Trái lại, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được pháp luật bảo vệ trong nhiều trường hợp và được xác lập quyền sở hữu theo thời
hiệu
+ Quyền sử dụng:
Điều 192 BLDS định rõ: “Sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” Khai thác công dụng của tài sản được hiểu là việc dùng tài sản để phục vụ nhu cầu, sở thích của bản thân hoặc xã hội để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là việc chủ sở hữu thu nhận các sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như hoa quả, gia súc, gia cầm sinh con, đẻ trứng… hoặc thu các khoản lợi từ việc khai thác tài sản như: tiền cho thuê nhà, văn phòng, lợi tức cổ phiếu…Việc sử dụng các tài sản là vật tiêu hao, đặc biệt là các vật tiêu hao hết sau một lần sử dụng cũng đồng nghĩa với việc chủ sở hữu sử dụng quyền định đoạt đối với tài sản
Như vậy, thông qua quyền sử dụng chủ sở hữu hoàn toàn có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai thác công dụng của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua các giao dịch dân sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc sử dụng tài sản phải trên nguyên tắc không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Không phải chỉ có chủ sở hữu mới có quyền sử dụng mà các chủ thể khác cũng có thể có thông qua sự chuyển giao quyền này từ chủ sở hữu hoặc theo sự ghi nhận của pháp luật trong ba trường hợp :
Trang 17- Trường hợp thứ nhất, người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng tài sản thông qua hợp đồng Trong trường hợp này, người sử dụng được quyền khai thác tài sản theo cách thức và thời hạn đã được thoả thuận với chủ sở hữu
- Trường hợp thứ hai, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Vì vậy, người này chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm họ biết hoặc buộc phải biết việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật (Khoản 2 Điều 194 BLDS )
- Trường hợp thứ ba, cơ quan hay tổ chức nào đó cũng có quyền sử dụng tài sản của người khác trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc sử dụng tài sản trong tình thế cấp thiết phù hợp với qui định của pháp luật
Thông thường quyền sử dụng đi liền với quyền chiếm hữu Người có quyền
sử dụng thì có quyền chiếm hữu nhưng người có quyền chiếm hữu chưa hẳn đã có quyền sử dụng
+ Quyền định đoạt:
Điều 195 BLDS định rõ “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản” Xuất phát từ tầm quan trọng của quyền định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật ở mức độ cần phải có (Điều 196 BLDS 2005).Việc định đoạt tài sản có thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc quyết định số phận pháp lý của vật (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…) Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định
Mặc dù cùng là quyền năng và tên gọi “quyền định đoạt” như nhau nhưng chủ sở hữu thực hiện chúng theo sự xét đoán của bản thân mình và chỉ bị giới hạn bởi pháp luật trong khi đó những chủ thể khác bị ràng buộc bởi ý chí của chủ sở
Trang 18hữu, là người quy định mức độ, phạm vi định đoạt Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó Do đó, các chủ thể được ủy quyền định đoạt không thể tùy tiện hành động hoặc nếu không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi
Ngoài ra, có những trường hợp tuy không phải là chủ sở hữu, cũng không được chủ sở hữu uỷ quyền, nhưng theo qui định của pháp luật những người có thẩm quyền vẫn có quyền định đoạt tài sản Trung tâm bán đấu giá tài sản theo qui định của pháp luật; hiệu cầm đồ được quyền bán tài sản theo thỏa thuận trong hợp đồng
Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt tài sản của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu
và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền định đoạt có thể bị hạn chế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định,
được thể hiện trong một số trường hợp sau:
Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu
tiên mua Trong trường hợp tổ chức, cá nhân có quyền ưu tiên mua một tài sản
theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các tổ chức, cá nhân đó Ví dụ, bán nhà ở đang cho thuê thì bên thuê được quyền ưu tiên mua trước nếu không có chỗ ở khác và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ (Điều 97 Luật nhà ở năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1.1.2 Đặc điểm quyền sở hữu
Quyền sở hữu thường được thể hiện dưới dạng các giá trị về mặt vật chất, mang những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ rất chặt chẽ Điều 58 Hiến Pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Nhà nước khuyến khích việc khai thác tài sản hợp pháp để thu lợi
và làm giàu chính đáng Nhà nước có chính sách để bảo hộ quyền lợi của người
Trang 19sản xuất và người tiêu dùng Bảo vệ quyền sở hữu là một trong những mối quan tâm lớn nhất của bất kỳ nhà nước nào Trong việc bảo vệ quyền sở hữu, pháp luật được coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất Các quy phạm pháp luật, quy định phạm vi các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, quy định các biện pháp pháp lý
cụ thể, kể cả những chế tài tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền của mình một cách an toàn nhất
Các lợi ích về quyền sở hữu được pháp luật thừa nhận và bảo vệ mang nội dung kinh tế, có thể tính toán bằng một đại lượng tiền tệ nhất định Giá trị tài sản và tiền tệ là những đại lượng tương đương có thể trao đổi ngang giá Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng nó không bao gồm giá trị tinh thần như: bộ sưu tập tranh bằng đá quý mặc dù nó là một tài sản hữu hình có thể định giá được song nó luôn mang một giá trị có ý nghĩa về mặt tinh thần
tách biệt với chủ sở hữu Nó được biểu hiện: có thể chuyển giao cho người khác,
có thể trở thành đối tượng của giao dịch dân sự như: tặng cho, để lại thừa kế hoặc trao đổi, mua bán….để thực hiện nghĩa vụ dân sự Điều đó là hợp lý vì các tài sản mang tính chất có thể chuyển giao Mọi giao dịch có mục đích hạn chế, tước bỏ quyền sở hữu của chủ sở hữu một cách bất hợp pháp đều vô hiệu Quyền sở hữu của chủ thể này không thể trùng lắp hoặc đánh đồng với chủ thể khác có chăng là đồng chủ sở hữu, nhưng khi thực hiện các quyền sở hữu của mình vẫn chỉ thực hiện trong phạm vi cho phép
hữu nhưng để thành thực tế thì họ phải có những khả năng kinh tế nhất định Như mọi người đều có quyền mua nhà, mua xe nhưng để sở hữu nhà, sở hữu xe thì họ phải lao động, tích lũy một số tiền nhất định hoặc được tặng cho, thừa kế…để hiện thực hóa quyền này Như vậy khả năng có được hưởng quyền này hay không phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân của chủ sở hữu chứ Nhà nước không có nghĩa vụ đáp ứng như một số quyền khác: quyền được phổ cập giáo dục, quyền bầu cử…Tuy nhiên cần lưu ý rằng pháp luật cũng đặt ra những quy định, điều kiện
Trang 20nhất định mà cá nhân, pháp nhân phải thỏa mãn mới trở thành chủ thể của một số quyền sở hữu Ví dụ, theo Luật Nhà ở năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung 2009, Nghị Định 51/2009/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết số 19/2008/QH12 về việc người nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam: phải thuộc trong năm đối tượng được mua nhà, chỉ được sở hữu một căn hộ tại dự án nhà ở thương mại, cư trú trong thời hạn tối đa năm mươi năm, chỉ được bán, tặng cho nhà sau thời gian là 12 tháng kể
từ ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
Nếu việc thực hiện các quyền sở hữu của chủ thể không đáp ứng các điều kiện tương ứng, thì ngoài việc các quyền sở hữu sẽ không được đảm bảo thực hiện
và bảo vệ bằng pháp luật mà trái lại có thể bị xem là hành vi vi phạm pháp luật
1.1.3 Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Quyền sở hữu không tự nhiên phát sinh mà phải dựa trên những căn cứ nhất định Tuỳ thuộc vào pháp luật của mỗi chế độ chính trị khác nhau mà các căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu được qui định khác nhau Các căn cứ này phản ánh bản chất và xu thế phát triển của mỗi chế độ xã hội Nội dung các căn cứ có bao quát hay hạn hẹp, cụ thể hay khái lược đều thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở thời điểm nhất định
Hằng ngày con người phải tham gia vào rất nhiều giao dịch dân sự mang tính chất tài sản Giao dịch là một trong những căn cứ phổ biến để xác lập quyền
sở hữu đối với tài sản thông qua thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên Do đó muốn trở thành các bên trong giao dịch thì chính các chủ thể phải có tài sản, tài sản bắt buộc phải được xác lập trên những căn cứ do pháp luật quy định Có thể khẳng định các căn cứ xác lập quyền sở hữu và các quan hệ pháp luật dân sự có mối quan hệ phụ thuộc, chi phối lẫn nhau Việc qui định đầy đủ và chi tiết các căn
cứ xác lập quyền sở hữu là hết sức cần thiết để xác định quyền sở hữu tài sản của
cá nhân cũng như các chủ thể khác Đồng thời, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi khách quan trong lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử khi xảy ra tranh chấp
Trang 21Tính chất, nội dung của từng sự kiện pháp lý qui định từng hình thức sở hữu khác nhau Khi một sự kiện pháp lý xảy ra nó có thể xuất hiện quyền sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu của pháp nhân, hoặc sở hữu của cá nhân Quyền
sở hữu của mỗi cá nhân chỉ được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật qui định đặc trưng cho chủ thể và khách thể của quyền sở hữu Những căn cứ đó là những khả năng xảy ra trong thực tế cuộc sống mà BLDS ghi nhận và nâng lên thành qui định chung, dựa vào đó chủ sở hữu có được tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
Tại Điều 170 BLDS, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản dựa trên những căn cứ sau đây:
“Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp” : Trong quá
trình sống, con người tác động vào thế giới tự nhiên tạo ra nhiều của cải, vật chất phục vụ cho nhu cầu của cá nhân, xã hội Người ta gọi là lao động, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và con người xứng đáng sở hữu thành quả của chính mình Cũng lưu ý rằng quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh phải hợp pháp, tuân theo pháp luật Chẳng hạn thu nhập từ kinh doanh không hợp pháp, trốn thuế thì phần tài sản phải nộp thuế không làm phát sinh quyền sở hữu, không được pháp luật bảo vệ
“Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”: Thoả thuận hợp pháp là cơ sở của hợp
đồng, làm chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng dân sự thì có quyền sở hữu tài sản đó kể từ thời điểm nhận tài sản nếu không có thoả thuận hoặc pháp luật không có qui định khác
“Thu hoa lợi, lợi tức”: Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu
đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản mà họ có quyền sở hữu Đó là hoa lợi do cây cối, hoa màu, súc vật…mang lại theo mối liên hệ nguồn gốc phụ thuộc giữa vật chủ ban đầu với hoa lợi đó Các món lợi bằng tiền hoặc hiện vật thu được do việc chủ sở hữu cho người khác sử dụng tài sản hoặc chính chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng đối với tài sản (cho thuê tài sản, cho vay tài sản )
Trang 22“Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến”: Do có các sự kiện
này mà tài sản của nhiều chủ sở hữu tạo thành vật mới Vật mới có thể là chung hay riêng của từng sở hữu chủ được xác định theo các Điều 236, 237, 238 BLDS Thực tế trường hợp này rất phổ biến: công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty Cổ phần, Hợp danh… cũng là một dạng góp tài sản của nhiều chủ sở hữu để tạo thành một tài sản chung
“Được thừa kế tài sản”: Người để lại di sản thừa kế là người có tài sản
sau khi chết để lại cho người còn sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật, sẽ làm phát sinh quyền sở hữu đối với người nhận thừa kế
“Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật qui định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bỏ quên, chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên”: Thông thường những vật này là động sản thì mới có
thể xác lập quyền sở hữu, nếu vật phát hiện là bất động sản thì thuộc về Nhà nước Khi chủ thể có được vật trong những trường hợp này nếu biết được chủ sở hữu thật sự thì phải trả lại nếu không xác định được thì phải thông báo và giao nộp cho
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại Sau một thời hạn nhất định nếu không tìm được chủ sở hữu thì người chiếm hữu tài sản mới được xác lập quyền sở hữu hoặc nhận được một phần giá trị từ tài sản (Điều 239 đến Điều 244 BLDS)
“Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này” Một người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục,
công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, kể từ thởi điểm bắt đầu chiếm hữu thì trở thành chủ sở hữu tài sản đối với bất động sản, trừ trường hợp tài sản thuộc sở hữu nhà nước
Theo quy định tại Điều 190 BLDS được coi là chiếm hữu liên tục khi việc chiếm hữu tài sản được thực hiện trong một thời gian dài mà không có tranh chấp
về tài sản kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu Nếu trong thời
Trang 23gian chiếm hữu mà xảy ra bất kể quan hệ tranh chấp gì thì không được tính vào thời gian chiếm hữu liên tục
Có ý kiến cho rằng chiếm hữu được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm việc nắm giữ tài sản mà cả việc quản lý tài sản Vì thế, nếu trong thời gian chiếm hữu, người chiếm hữu cho người khác mượn, thuê, v.v., tài sản thì thời gian người chiếm hữu cho người khác thuê, mượn tài sản vẫn được tính vào thời gian chiếm hữu liên tục của người chiếm hữu Do đó, nếu có việc giữa người chiếm hữu và người đang mượn, đang thuê tài sản xảy ra tranh chấp về quan hệ cho thuê, cho mượn tài sản (như đòi lại tài sản cho mượn, cho thuê, đòi tiền cho thuê, v.v., khi hết hạn mà người mượn, người thuê không trả) thì tranh chấp này không ảnh hưởng đến tính liên tục của việc chiếm hữu
Tuy nhiên nếu tranh chấp đó là tranh chấp có tính chất về sở hữu, tức là có một chủ thể nào đó cho rằng tài sản đó là thuộc quyền sở hữu của mình hoặc là được chủ sở hữu ủy quyền chiếm hữu, quản lý tài sản nên dẫn đến tranh chấp quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, thì quan hệ tranh chấp này sẽ mất tính liên tục của quyền sở hữu.3
Như vậy không có tranh chấp là một điều kiện để xác định tính liên tục của việc chiếm hữu
Ngoài tính liên tục thì việc chiếm hữu còn phải có tính công khai Theo Điều 191 BLDS thì việc chiếm hữu tài sản được coi là công khai khi thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm, tài sản chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình
Về thời hạn mười năm, ba mươi năm theo quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS Mặc dù điều luật quy định chưa rõ ràng với cụm từ “trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản” còn tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau: thời hạn này phải tròn mười năm, ba mươi năm hay chỉ cần sau chín năm, sau hai mươi chín năm sẽ được xác lập quyền sở hữu Theo Nghị Quyết
3 Tưởng Duy Lượng, Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội năm 2009,
trang 183,184
Trang 24số 45/2005/NQ-QH ngày 14/0/2005 của Quốc Hội về việc hướng dẫn thi hành BLDS 2005 lại không có quy định hướng dẫn việc áp dụng thời hiệu Song trên thực tế áp dụng giải quyết khi có tranh chấp là thời hạn được tính từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu và thường phải đủ mười năm, ba mươi năm
Tóm lại, những tài sản nào mà không được xác lập theo những điều kiện trên đây thì không được pháp luật thừa nhận và bảo đảm cho việc thực hiện quyền
sở hữu
1.2 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu theo quy định BLDS
Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc
thượng tầng, những quan niệm khác nhau về tài sản, quyền sở hữu…mà chúng ta
có nhiều cách tiếp cận về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu
Nếu tiếp cận quyền sở hữu dưới góc độ như các quyền tự nhiên thì bảo vệ quyền sở hữu là việc ghi nhận các quyền đó thành những quyền thực định của chủ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp trong khuôn khổ pháp luật Bản thân pháp luật quy định các quyền sở hữu như vậy đã là một cách bảo vệ quyền sở hữu ngay cả khi các quyền đó chưa bị xâm phạm “ Bảo vệ” ở đây được hiểu là trao cho cá nhân đó một quyền năng được bảo đảm về mặt pháp lý Quyền năng này được tôn trọng trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa quyền và nghĩa vụ Nghĩa vụ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, vừa với tính cách là trách nhiệm đạo đức của chính mỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với cộng đồng,
và ngược lại
Nếu tiếp cận quyền sở hữu dưới góc độ là quyền mang tính chất pháp lý, thì vấn đề bảo vệ ở đây là đưa ra các biện pháp pháp lý có tính chất chế tài đối với các hành vi xâm phạm các quyền sở hữu Biện pháp này là cơ sở chống lại sự xâm phạm nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các quyền, khôi phục các quyền sở hữu bị xâm phạm hoặc bù đắp một phần nào đó các thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra
Trang 25Theo đó bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự là tổng thể những quy định của pháp luật dân sự, điều chỉnh các quan hệ về quyền sở hữu, quy định các quyền sở hữu cụ thể, để tạo cơ sở pháp lý cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền này đối với tài sản Đồng thời pháp luật dân sự cũng đề
ra các biện pháp lý để bảo vệ các quyền sở hữu khi những quyền này bị xâm phạm
bởi các chủ thể khác Như vậy, nghĩa rộng bảo vệ quyền sở hữu là tất cả các quy
phạm pháp luật đảm bảo cho các quan hệ tài sản phát triển một cách bình thường, còn nghĩa hẹp là tổng hợp các phương thức pháp luật áp dụng trong trường hợp cần chống lại các hành vi xâm hại trực tiếp đến các quan hệ sở hữu
1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu
Nguyên tắc là những quan điểm tư tưởng pháp lý chỉ đạo trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu Việc bảo vệ quyền sở hữu ở Việt Nam được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu:
Đây là nguyên tắc đóng vai trò cơ bản nhất trong việc thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Tài sản không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên xuất hiện một cách đơn giản Như đã phân tích ở trên, con người với quá trình vận dụng kiến thức, kinh nghiệm vào trong lao động, sản xuất mới tạo ra tài sản, cơ sở vật chất Đó là giá trị chân chính mà con người xứng đáng được mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ Việt nam cũng như các nước trên thế giới luôn ghi nhận quyền sở hữu
là một trong những đối tượng quan trọng được BLDS điều chỉnh Đây là loại quan
hệ mang tính chất xã hội sâu sắc phản ánh sự phát triển của từng xã hội, thể hiện thái độ quan tâm của Nhà nước, của Đảng đến từng con người trong xã hội Nhà nước bên cạnh tôn trọng quyền sở hữu còn phải tạo điều kiện cho mọi tầng lớp, mọi thành phần lao động được phát triển Tuy nhiên, do tính chất, trình độ phát triển, điều kiện sinh thái, tập quán của người lao động không đồng đều ở các vùng
Trang 26miền của nước ta, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa nên thái độ quan tâm của Nhà nước không thể không có định hướng đường lối đặc trưng để điều chỉnh hợp
lý Nhà nước cần thông qua luật pháp và chính sách kinh tế cụ thể về không gian, thời gian để nâng đỡ, tạo điều kiện cho những nơi được coi là còn yếu thế có cơ hội phát triển, đuổi kịp mặt bằng phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước Định hướng XHCN phải là sự can thiệp của pháp luật bằng cách phản ánh rõ thái
độ chính trị cũng như mục tiêu phát triển đất nước và khắc phục những mặt trái tự nhiên của cơ chế thị trường
Nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu bằng nhiều biện pháp pháp lý khác nhau:
Nhà nước ta sử dụng rất nhiều ngành luật để bảo vệ quyền sở hữu song mỗi ngành luật bảo vệ quyền sở hữu theo những cách thức, phương pháp điều chỉnh
riêng phù hợp với nhiệm vụ và mục đích của nó
Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp hành chính:
Ngành luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những quy
phạm hành chính nhằm quản lý, bảo vệ tài sản của Nhà nước và các chủ thể khác
Khi tài sản của các chủ thể bị xâm phạm, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng phương pháp điều chỉnh của ngành luật này là mệnh lệnh hành chính để thu hồi tài sản, phạt hành chính, kỷ luật hành chính… Trên thực tế đối tượng mà các chế tài hành chính hướng tới là bảo vệ các quan hệ quản lý hành chính nhà nước, ngăn ngừa, răng đe đối với hành vi gây rối loạn đến sự ổn định, bình thường các quan hệ này, nhưng qua đó cũng là hướng tới bảo vệ quyền lợi con người nói chung và các quyền sở hữu nói riêng
Theo Điều 17 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 số UBTVQH10 sửa đổi bổ sung bởi Điều 12 bởi Nghị định số 128/2008/NĐ-CP
44/2002/PL-“Không áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện bị tổ chức, cá nhân vi phạm chiếm đoạt, sử dụng trái phép mà phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý, người sử dụng hợp pháp ”
Trang 27Hành vi xâm phạm quyền sở hữu sẽ bị xử lý bằng biện pháp hành chính cụ thể tùy theo mức độ vi phạm Hình thức xử phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung: cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Các cơ quan áp dụng biện pháp hành chính: Công an, Ủy ban nhân dân các cấp Biện pháp hành chính được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan trên theo chức năng, nhiệm vụ được nhà nước giao hoặc khi có yêu cầu, thông tin
từ các chủ thể
Hơn nữa biện pháp hành chính cũng giữ một vai trò quan trọng làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, ví dụ trong cấu thành cơ bản của tội xâm phạm sở hữu tại các Điều 137, 138, 139, 140, 142, 143 Bộ luật Hình Sự năm 1999
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đều quy định “…đã bị xử phạt hành chính về hành vi ….” là một trong những yếu tố bắt buộc để áp dụng chế tài hình sự
Tuy vậy biện pháp hành chính là một biện pháp không triệt để, không ngăn chặn được nguồn gốc hành vi xâm phạm quyền sở hữu, thường để xảy ra tình trạng tái phạm do chế tài không đủ mạnh Những chế tài của biện pháp hành chính không đủ khả năng bảo vệ toàn diện các chủ thể chống lại hành vi xâm phạm Không những thế, biện pháp hành chính chỉ có thể áp dụng ở một mức độ hạn chế, với những xâm phạm rõ ràng, cụ thể
Bảo vệ quyền sở hữu bằng các biện pháp hình sự:
Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng cách quy định những hành
vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định các loại các hình phạt tương xứng Các biện pháp này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu ở mức độ nghiêm trọng mà cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Nếu chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì dù chủ sở hữu có yêu cầu đi chăng nữa cơ quan Nhà nước vẫn không thể áp dụng biện pháp hình sự
Bộ luật Hình sự đã đưa ra các chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền
sở hữu tương ứng các tội: Điều 133 đến Điều 145 Bộ luật Hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Đây là một biện pháp chế tài mạnh và được áp dụng
Trang 28một cách triệt để nghiêm khắc nhất đối với hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội
mà pháp luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ nói chung, và qua đó bảo vệ quyền sở hữu nói riêng Vì những chế tài của biện pháp này tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, đặc biệt nó có thể tước đi sự tự do của con người trong một thời gian nhất định như hình phạt tù…Tuy nhiên chủ thể thực hiện khởi
tố hình sự lại là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng biệt, thủ tục lại nghiêm ngặt sẽ khó khăn và không phổ biến đối với các hành vi xâm phạm quyền
sở hữu đơn thuần chỉ mang tính kinh tế, dân sự
Bảo vệ quyền sở hữu bằng các biện pháp dân sự:
Đây là biện pháp có ý nghĩa thực tế, nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Đặc điểm phổ biến của phương thức dân sự là việc thể hiện nguyên tắc tự quyết và tự định đoạt của chủ thể Chủ thể hoàn toàn được lựa chọn phương thức tự bảo vệ hoặc phương thức
kiện dân sự
Khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước nên các khoản tiền phạt phải được nộp vào Ngân sách Nhà nước mà chủ sở hữu không được hưởng Trong khi
đó nếu lựa chọn biện pháp dân sự thì người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải BTTH, trả lại tài sản, chấm dứt hành vi trái pháp luật Với những ưu điểm của mình, biện pháp dân sự được các chủ thể sử dụng khá nhiều so với các biện pháp pháp lý khác
Việc áp dụng sai biện pháp không những không giải quyết được vấn đề mà còn làm phức tạp hệ thống tổ chức cơ quan xử lý, cơ chế ra quyết định và kết quả
xử lý hành vi vi phạm
Trang 291.4 Giới hạn của việc bảo vệ quyền sở hữu
Về nguyên tắc quyền sở hữu là những quyền tuyệt đối được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Trong quá trình thực hiện các quyền không phải bất kỳ lúc nào chủ sở hữu cũng có toàn quyền và biệt lập với những chủ thể khác Bởi lẽ, chủ sở hữu nhưng đồng thời lại là chủ thể của các quan hệ xã hội Họ phải sống trong xã hội và cộng đồng Cho nên, bên cạnh việc thừa nhận một số quyền sở hữu của cá nhân là quyền tuyệt đối, luôn được bảo vệ dưới mọi hình thức nhưng trong một số trường hợp cũng có những giới hạn nhất định Đó là các quyền sở hữu không còn được xem là một đặc quyền bất khả xâm phạm của chủ sở hữu Theo đó các quyền này sẽ không được bảo vệ một cách tuyệt đối, và có thể sẽ bị tước bỏ, bị hạn chế thực hiện, trái với ý muốn của chủ sở hữu Ta gọi là giới hạn bảo vệ quyền sở hữu Các hành vi như: giăng dây điện xung quanh ao cá, tường nhà để chống trộm…dẫn đến người khác bị chết, đều bị coi là hành vi trái pháp luật phải BTTH
và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Những hạn chế này một mặt đảm bảo cơ chế pháp lý rõ ràng cho việc thực hiện các quyền sở hữu bởi nó chịu sự điều chỉnh của luật dân sự và các ngành luật khác trong việc bảo vệ quyền sở hữu, được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Vì lợi ích của nhà nước, lợi ích của cộng đồng, mặc dù các quyền sở hữu được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng không phải vì thế mà đặt nó lên trên lợi ích khác của nhà nước, của tập thể Nó không thể tồn tại một cách tuyệt đối trong trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu thực hiện quyền sở hữu mà có khả năng làm tổn hại đến các lợi ích nhà nước, xã hội Như trong những tình thế cấp thiết có nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của mình hoặc của người khác thì quyền lợi của chủ sở hữu có thể không được bảo vệ Pháp luật buộc họ phải chấp nhận hy sinh vì một lợi ích có ý nghĩa hơn Chủ thể gây thiệt hại trong trường hợp này là hợp pháp
Điều 263 BLDS 2005, nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo vệ môi trường “khi sử dụng, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy
Trang 30định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại” Hiện nay với trình độ phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ vào lao động sản xuất ngày càng cao, nhưng nếu không nhìn thấy mặt trái của nó sẽ làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cuộc sống con người xung quanh
Vì vậy, cùng với quá trình sản xuất kinh doanh, chủ thể khai thác sử dụng tài sản của mình như: xây dựng cơ sở hạ tầng, mua máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động nhưng nếu quá trình đó phát ra nhiều khí độc, nhiều chất thải mà không
xử lý tốt để vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì chủ thể phải chịu xử lý vi phạm hành chính, có thể bị tước giấy phép kinh doanh, đình chỉ hoạt động Ngoài
ra, vì trật tự an toàn xã hội, tôn trọng việc sử dụng ranh giới các bất động sản liền
kề, cấp thoát nước…chủ sở hữu cũng phải thực hiện quyền sở hữu trong một giới hạn nhất định
Cách quy định như trên nhằm làm cho các chủ thể không lạm dụng những đặc quyền dành cho họ mà xâm phạm tới lợi ích của các chủ thể khác, của nhà nước, của cộng đồng Qua đó, đảm bảo sự cân bằng, hài hòa các lợi ích giữa các chủ thể với nhau
Trang 31CHƯƠNG II : CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ
HỮU THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ
Xuất phát từ khái niệm quyền sở hữu như đã trình bày thì đối tượng quyền
sở hữu luôn luôn được bảo vệ ở phạm vi rộng cả về phương diện xã hội và phương diện pháp lý
Về phương diện xã hội, với tính chất là một quyền của con người, quyền
sở hữu được bảo đảm thực hiện trước hết bằng các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội… nhằm kích thích quá trình lao động và tích lũy của cải trong xã hội
Về phương diện pháp lý, quyền sở hữu được ghi nhận là một trong các quyền dân sự do pháp luật dân sự điều chỉnh Do đó, để một quyền dân sự được hiện thực hóa, pháp luật luôn cần có những quy định cụ thể về cách thực hiện quyền, phương thức bảo vệ quyền khi bị xâm phạm nhằm đảm bảo cho quyền đó mang tính khả thi Vì lẽ đó, BLDS 2005 đã đưa ra các phương thức bảo vệ quyền
sở hữu sau:
2.1 Phương thức tự bảo vệ
Tự bảo vệ quyền sở hữu là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản tự mình tiến hành các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình Việc sử dụng các biện pháp
bảo vệ theo ý chí của chủ thể đó trong khuôn khổ pháp luật
Cơ sở thực hiện: dựa trên nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự của
cá nhân, theo đó tại khoản 2 Điều 9 BLDS 2005 quy định “khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của bộ luật này…” Điều 255 BLDS 2005 còn ghi nhận “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.”
Trang 32Phương thức tự bảo vệ cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật Hành vi xâm phạm trước tiên làm phát sinh quan hệ giữa chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp với người xâm phạm Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hơn ai hết là người biết rõ mức độ và hậu quả của hành vi xâm phạm Việc tự bảo vệ gắn liền với quyền lợi thiết thân của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Biện pháp tự bảo vệ cũng xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và nguyên tắc hòa giải Quan hệ tài sản dựa trên cơ sở bình đẳng, độc lập giữa các chủ thể tham gia Vì vậy, khi nảy sinh tranh chấp, pháp luật luôn khuyến khích các bên chủ thể chủ động thương lượng, giải quyết với nhau
2.1.1 Đặc trưng của phương thức tự bảo vệ so với các phương thức
bảo vệ quyền sở hữu khác
Phương thức tự bảo vệ là phương thức được áp dụng rất phổ biến trong đời sống Quan niệm truyền thống của nhân dân ta là “dĩ hòa vi quý”, “vô phúc đáo tụng đình” Người dân rất ngại phải liên quan đến việc kiện tụng Chỉ trong những trường hợp bất đắc dĩ, không có cách giải quyết nào khác họ mới đưa nhau ra Tòa
Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu chỉ được thực hiện có hiệu quả nếu chủ thể thực sự tự bảo vệ một cách tích cực Nói một cách khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu không chỉ thể hiện vai trò chủ động của mình trong việc tự bảo vệ mà ngay cả khi có sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng phải biết phối hợp nhịp nhàng Tự bảo vệ là phương thức thể hiện tính định đoạt cao độ của chủ thể: Khi phát hiện ra hành vi xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chủ động lựa chọn cách thức bảo
vệ phù hợp như: yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, yêu cầu
Trang 33người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại (sau đây viết tắc là BTTH)
Về cách thức: Phương thức tự bảo vệ có thể tiến hành dưới bất kỳ
cách thức nào, thời gian nào miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Về tính kinh tế: Phương thức tự bảo vệ là biện pháp có tính kinh tế
cao nhất do tiết kiệm được thời gian, chi phí tốn kém cho việc đi lại, giải quyết tranh chấp Trong khi việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp khởi kiện không chỉ tốn kém về thời gian cho việc giải quyết theo trình tự tố tụng mà còn tốn kém chi phí cho việc tham gia tố tụng, chi phí giám định
Hiệu quả bảo vệ: Phương thức tự bảo vệ là biện pháp mang tính kịp
thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ đầu Ngay khi phát hiện
ra có hành vi xâm phạm hoặc khả năng xâm phạm quyền sở hữu, chủ sở hữu có thể áp dụng ngay lập tức biện pháp tự bảo vệ mà không cần chờ bất kỳ một thủ tục hay quyết định từ phía cơ quan Nhà nước Đặc điểm này cũng phần nào tránh được vụ việc xâm phạm trở nên nghiêm trọng hơn Nếu dàn xếp được thông thường các bên sẽ tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục và BTTH, không cần thông qua thi hành án, một vấn đề nhức nhối hiện nay khi mà số lượng
án tồn đọng quá nhiều đang đợi thi hành Xét về mặt tình cảm, phương thức này nếu thành công các mối quan hệ làng nghĩa xóm, thân thích, hợp tác kinh doanh…giữa các bên vẫn được duy trì bền lâu trong khi phương thức kiện dân sự các bên khó có thể nhìn mặt nhau khi đưa vụ việc lên Tòa án
Phương thức tự bảo vệ bên cạnh những ưu điểm vẫn còn một hạn chế lớn nhất là hiệu quả bảo vệ không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng chế nhà nước Yêu cầu của chủ thể không được bảo đảm bằng cơ chế mang tính quyền lực Nhà nước mà hoàn toàn trông chờ, phụ thuộc vào sự tự nguyện và thiện chí của bên xâm phạm Do vậy, nếu bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì biện pháp này không mang lại hiệu quả Ví dụ: anh A bị mất một máy cassette sau khi truy tìm mà không
Trang 34thấy, anh A có sang nhà hàng xóm hỏi Họ vì tình làng nghĩa xóm đã thừa nhận con trai của họ thiếu tiền chơi game nên đã lẻn sang trộm của anh A và đem bán
Do đó, họ đồng ý BTTH cho anh A Song cũng có thể họ phủ nhận và anh A mất hoàn toàn tài sản của mình vì không có chứng cứ để chứng minh ai lấy trộm máy cassette Như vậy với phương thức tự bảo vệ thì đôi khi quyền lợi của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp sẽ không được đảm bảo khi các bên không thống nhất được với nhau
Tóm lại, trong việc bảo vệ quyền sở hữu, vai trò tự bảo vệ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là chủ yếu Tự bảo vệ vừa là quyền, trong nhiều trường hợp còn là nghĩa vụ bắt buộc
2.1.2 Các hình thức tự bảo vệ quyền sở hữu
Trước hết chủ sở hữu phải tự chăm sóc, quản lý tài sản và đăng ký quyền sở hữu tài sản trong những trường hợp luật định Cơ sở pháp lý của quyền
này là Điều 167 của BLDS Tuy nhiên, để xác định những loại tài sản nào phải đăng ký thì không chỉ dựa vào BLDS mà còn dựa vào các văn bản pháp luật chuyên ngành khác Thông thường, tài sản đó là quyền sử dụng đất, ô tô, xe máy, tàu thuyền, máy bay…Việc đăng ký tài sản còn có ý nghĩa quan trọng bắt buộc trong một số giao dịch Nó là thời điểm hoàn tất việc chuyển giao quyền sở hữu, đồng thời là cũng là chứng cứ để chủ sở hữu có quyền “đối kháng” với người thứ
ba khi tài sản có tranh chấp Tuy nhiên, cũng phải nói rằng việc đăng ký tài sản ở Việt Nam hiện nay được thực hiện chưa nghiêm túc Nguyên nhân là do thủ tục hành chính còn rườm rà, lệ phí, thuế quá cao so với mức sống của người dân song nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa tốt Đây là một thực tế gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có tranh chấp xảy ra
Trang 35 Chủ sở hữu yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành vi vi phạm, truy tìm đòi lại tài sản, yêu cầu BTTH
Thông thường, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp tài sản rời khỏi sự nắm giữ, quản
lý của họ đến tay người khác ngoài sự kiểm soát của họ Để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu tài sản của mình trong trường hợp này, truy tìm tài sản là hình thức đầu tiên để tự bảo vệ quyền sở hữu, cũng là cơ sở để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được việc tự đòi lại tài sản hoặc kiện đòi tài sản Khi truy tìm được tài sản chủ sở hữu thường phải “tự dàn xếp”, để được nhận lại tài sản Các bên có thể thỏa thuận về cách thức nhận lại tài sản, hoặc BTTH sao cho thuận tiện, hợp lý nhất v.v., Song không phải lúc nào việc “tự dàn xếp” hoặc thỏa thuận cũng được suôn sẻ mà đôi khi phải cần đến sự can thiệp của chính quyền địa phương
Nhận thức được những lợi ích này, Nhà nước ta đã thiết lập cả một thể chế, thiết chế về hoà giải Về thể chế, đó là Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải
ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành Về thiết chế, đó là các Tổ hoà giải ở
cơ sở xóm, thôn, tổ dân phố hoặc Ban Tư pháp xã, phường và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp Tuy nhiên cũng cần lưu ý biện pháp “tự dàn xếp” này cũng có giới hạn nhất định như: Pháp lệnh hoà giải quy định phạm vi hoà giải không bao gồm các vụ việc có dấu hiệu hình sự hoặc hành chính Những vi phạm này cần xử lý với một cơ chế mạnh mẽ hơn mà không thể thông qua hòa giải, thương lượng
Cơ chế tự bảo vệ sẽ không phát huy tác dụng nếu bên vi phạm vẫn cố tình
vi phạm mặc dù chủ sở hữu đã yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, các bên đương
sự không thoả thuận được với nhau về cách thức, mức BTTH…Trong các trường hợp này, chủ sở hữu nếu muốn thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu của mình, thì chỉ còn cách yêu cầu Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác can thiệp
Trang 362.2 Phương thức kiện dân sự
Bảo vệ quyền sở hữu theo phương thức kiện dân sự là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền sở hữu bị xâm phạm yêu cầu tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp, các chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm và người thực hiện hành vi đó Nếu xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu như trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ áp dụng biện pháp bảo vệ có tính tuyệt đối gọi là phương thức kiện đòi tài sản – kiện vật quyền Đối với những hành vi xâm phạm khác, mang tính chất tài sản, xâm hại đến các quyền năng của chủ sở hữu như thuê nhà không trả lại cho chủ sở hữu đúng hạn theo hợp đồng, hoặc gây thiệt hại đến tài sản thuộc quyền sở hữu sẽ áp dụng biện pháp mang tính chất trái quyền Đó chính là kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, kiện yêu cầu BTTH
về tài sản
Biện pháp kiện dân sự được sử dụng phổ biến và hiệu quả trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu thông qua nhiều thủ tục chặt chẽ thường bắt đầu bằng hành vi khởi kiện vụ án dân sự của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Hành vi khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong thủ tục tố tụng dân sự Không có hành vi này sẽ không có vụ án dân sự, nhưng hoạt động bảo vệ chỉ được chính thức thông qua hành vi thụ lý của Tòa án sau quá trình xem xét, đánh giá hồ sơ và yêu cầu của các bên Để đạt được hiệu quả cao nhất khi thực hiện bảo vệ quyền sở hữu theo phương thức này, người khởi kiện có nghĩa vụ đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Chủ thể khởi kiện phải chứng minh hành vi bị xem là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của mình, chứng minh các thiệt hại xảy ra thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp chế tài được
Trong thực tiễn, số lượng án kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu không nhiều trong tương quan chung với các loại án kiện dân sự khác Điều này có thể lý giải
từ lẽ tự nhiên trong đời sống xã hội rằng một người khi thực hiện việc chiếm hữu
Trang 37tài sản mà không biết về nguồn gốc tài sản, nói cách khác là ngay tình trong việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật là ít có khả năng Sự ngay tình nếu có thường có nguồn gốc từ một giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhưng làm phát sinh sự kiện dẫn đến việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hoặc gây thiệt hại đến tài sản của chủ sở hữu
Ý nghĩa của phương thức kiện dân sự:
Nếu đã áp dụng biện pháp tự bảo vệ mà không có hiệu quả hoặc không thể thực hiện được thì nên áp dụng biện pháp kiện dân sự Khi đó nó sẽ trở thành biện pháp bảo vệ quyền sở hữu mang tính tuyệt đối, nhanh chóng khôi phục chính đáng quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp Mỗi phương thức có ý nghĩa nhất định phù hợp với thực tiễn Kiện đòi tài sản giúp chủ sở hữu nhận lại chính tài sản của mình, điều mà các chủ sở hữu mong muốn nhất khi tài sản bị xâm phạm Khi tài sản không thể đòi lại được thì biện pháp kiện BTTH lại có ý nghĩa khắc phục những thiệt hại mà chủ thể có tài sản bị xâm phạm Đối với những hành vi cản trở trái pháp luật làm cho chủ thể có tài sản không thể khai thác, sử dụng tài sản của mình một cách bình thường, thậm chí còn có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng nếu không áp dụng kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đó
Kiện dân sự góp phần bảo vệ pháp chế Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu của các chủ thể lẫn nhau Việt Nam đang hướng đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân trong đó buộc mọi người sống và hành động theo pháp luật Như vậy mới có thể đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân đặc biệt quyền được lao động và sở hữu của cải, vật chất Mỗi công dân phải kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm pháp luật mà nổi bậc là xâm phạm quyền sở hữu: lừa đảo, trộm cắp, cướp giật…gây tổn thất lớn cho chủ thể có tài sản Khi cá nhân, tổ chức nào có sự vi phạm buộc phải chịu sự phán xét của dư luận, đạo đức, nhà nước và pháp luật
Trang 382.2.1 Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền)
Khái niệm:
Kiện đòi tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa
án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp trả lại tài sản cho mình Liên quan vấn đề này Ðiều 256 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Ðiều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc
sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Ðiều 257 và Ðiều 258 của Bộ luật này” Thời gian qua các loại tranh chấp này diễn ra khá phổ biến đặc biệt kiện đòi nhà, đất những tài sản có giá trị lớn BLDS 2005 ra đời có sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề mới so với BLDS 1995, mặc dù vẫn còn nhiều bất cập song vẫn đáp ứng phần lớn việc giải quyết các tranh chấp loại này
Điều kiện áp dụng:
- Điều kiện về chủ thể:
Nguyên đơn: Nguyên đơn là người được giả thuyết có quyền hoặc lợi ích
bị xâm phạm nên đã khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người khởi kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu của tài sản đang tranh chấp Điều này có nghĩa là nguyên đơn phải chứng minh tài sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp Nếu nguyên đơn không phải là chủ sở hữu đối với tài sản thì phải chứng minh mình là người chiếm hữu hợp pháp thông qua một giao dịch dân sự: vay, mượn, trông giữ…tài sản với chủ sở hữu Ngoài ra theo Điều 188 BLDS nguyên đơn còn là người phát hiện vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật bị chôn dấu, chìm đắm, gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc cũng có quyền kiện đòi lại tài sản trong thời gian chiếm hữu hợp pháp của mình Ở đây nguyên đơn phải đưa ra chứng cứ chứng minh việc sở hữu, chiếm hữu tài sản là hợp pháp Chứng cứ càng rõ ràng, khách quan bao nhiêu
Trang 39càng có sức thuyết phục bấy nhiêu đối với yêu cầu của nguyên đơn Nếu nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ hoặc chứng cứ không đầy đủ cho yêu cầu của mình thì phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Bị đơn có quyền phản tố ngược trở lại với tội vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác đồng thời sẽ được mặc nhiên công nhận quyền sở hữu, chiếm hữu hợp pháp của mình (Điều 79 BLDS)
Bị đơn: Người bị kiện là bị đơn trong vụ án Người mà nguyên đơn cho
rằng có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tức là đang thực tế chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của họ Khi bị đơn muốn phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì cũng phải đưa ra chứng cứ chứng minh sự chiếm hữu tài sản của mình là hợp pháp
- Điều kiện về tài sản:
Tài sản vừa là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sở hữu Yêu cầu cơ bản nhất đặt ra đối với tài sản trong BLDS là tài sản đó phải hợp pháp và được phép đưa vào giao dịch dân sự Vì vậy, việc qui định về tài sản và phân loại tài sản trong BLDS là cần thiết để phân biệt tài sản trong quan hệ dân sự với tài sản trong quan niệm thông thường Tài sản với tính cách là khách thể của quyền sở hữu đã được qui định tại Điều 163 BLDS năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, các giấy tờ
có giá và các quyền tài sản”, nhưng qui định này chỉ mang tính chất liệt kê, xác định những loại vật thể và quyền tài sản được coi là tài sản Ngoài ra, BLDS 2005 phân loại tài sản thành động sản - bất động sản, tài sản hữu hình - tài sản vô hình,
đó là những phân loại mang tính truyền thống và phù hợp với thông lệ quốc tế
Song điều đáng nói ở đây tài sản là đối tượng của phương thức kiện đòi tài sản phải hữu hình, hiện đang còn tồn tại, là vật đặc định Tài sản có thể bất động sản, động sản đăng ký hoặc không đăng ký quyền sở hữu Theo Điều 179 BLDS
“vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng:
ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí” Nếu tài sản không là vật đặc định, hoặc không còn tồn tại thì khả năng chứng minh của chủ thể quyền không thực hiện được Họ không thể chứng minh đặc điểm riêng biệt của vật Tuy nhiên đối với tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác
Trang 40lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì không áp dụng việc đòi lại tài sản (khoản 1 Điều 247 BLDS)
- Điều kiện về thời hiệu:
Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác thì thời hiệu khởi kiện
để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước bị xâm phạm (Khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu, cho phép chủ thể có quyền áp dụng phương thức kiện dân sự nhưng phải tiến hành khi sự việc còn trong thời hiệu khởi kiện Thời hiệu là thời hạn mà pháp luật cho phép chủ thể có tài sản được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Nếu thời hạn đó kết thúc thì người đó sẽ bị mất quyền Nhà nước không can thiệp vào mà chủ thể quyền phải tự mình quay trở lại
áp dụng các biện pháp khác: thương lượng, trao đổi, mua lại tài sản nhưng thật sự khó khăn Trên thực tế có nhiều sự kiện bất khả kháng hoặc sự kiện khách quan làm gián đoạn ảnh hưởng đến việc khởi kiện của chủ thể: thiên tai, bão, lũ…hoặc
có hành vi ngăn cản trái luật thì thời gian này không được tính vào thời hiệu khởi kiện (Điều 161 BLDS)
Các trường hợp kiện đòi lại tài sản, hậu quả pháp lý:
Bên cạnh thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu pháp luật còn xem xét đến lợi ích chính đáng của các chủ thể khác trong một số trường hợp nhất định Theo quy định của BLDS về kiện đòi tài sản ta có thể chia kiện đòi tài sản thành các trường hợp chính sau:
Những chủ thể có mối quan hệ trực tiếp với chủ sở hữu:
Người có mối quan hệ tài sản trực tiếp với chủ sở hữu là người có được tài sản từ chính chủ sở hữu mà không qua trung gian một chủ thể khác