1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa luật giá 2012 và các quy định liên quan đến việc sử dụng giá để cạnh tranh trong luật cạnh tranh 2004

62 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 918,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cạnh tranh cũng tác động theo hướng tích cực như vậy, trên thị trường vẫn tồn tại nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, điển

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BAN ĐIỀU HÀNH

CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT GIÁ 2012 VÀ CÁC QUY

ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG GIÁ ĐỂ CẠNH

TRANH TRONG LUẬT CẠNH TRANH 2004

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

HỆ CHÍNH QUY KHOÁ 34 (KHOÁ HỌC 2009-2013)

ĐỀ TÀI MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT GIÁ 2012 VÀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG GIÁ ĐỂ CẠNH

TRANH TRONG LUẬT CẠNH TRANH 2004

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Hoàng Nga

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các thông tin được

sử dụng nghiên cứu trong khoá luận là trung thực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ VÀ CÁC HÀNH VI VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH 2004 BẰNG CÔNG CỤ GIÁ 5

1.1 Lý luận về giá 5

1.1.1 Khái niệm về giá 5

1.1.2 Tác động của giá đối với nền kinh tế 7

1.2 Các hành vi sử dụng giá vi phạm Luật cạnh tranh 2004 8

1.2.1 Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh 2004 8

1.2.2 Các hành vi sử dụng giá vi phạm Luật cạnh tranh 2004 12

CHƯƠNG II: SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT GIÁ 2012 VÀ LUẬT CẠNH TRANH 2004 30

2.1 Luật Giá 2012 và mối quan hệ với Luật cạnh tranh 30

2.1.1 Tổng quan về Luật giá 2012 30

2.1.2 Mối quan hệ của Luật giá 2012 và Luật cạnh tranh 2004 31

2.2 Tác động của Luật Giá 2012 đến các quy định sử dụng giá để cạnh tranh trong Luật cạnh tranh 2004 33

2.2.1 Tác động của Hoạt động điều tiết giá theo Luật giá đến môi trường cạnh tranh 33

2.2.2 Các quy định của Luật Giá 2012 liên quan đên hành vi sử dụng giá để cạnh tranh không lành mạnh trong Luật cạnh tranh 2004 41

2.2.3 Các quy định của Luật Giá 2012 liên quan đến hành vi sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh trong Luật cạnh tranh 2004 Error! Bookmark not defined 2.3 Kiến nghị: 53

KẾT LUẬN: 55

Trang 5

tệ Nếu như chất lượng của hàng hoá được xác định một cách khó khăn bởi phải được thực hiện bởi người có chuyên môn với các thiết bị phục vụ hiện đại, chất lượng của dịch vụ được xác định mang tính chủ quan và trừu tượng thì giá cả hàng hoá lại xác định rõ ràng bằng một con số mà không phải qua một giai đoạn kiểm tra nào Vì vậy, ở

vị trí của người tiêu dùng, cùng một loại hàng hoá dịch vụ giá cả trở thành mối quan tâm hàng đầu và là yếu tố quyết định cho sự lựa chọn hàng hoá, dịch vụ đối với các sản phẩm tương tự nhau Và vì là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng, nên giá cả cũng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và cung ứng dịch vụ đồng thời nó trở thành phương thức cạnh tranh phổ biến của họ

Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh về giá nói riêng là vấn đề tất yếu của nền kinh tế thị trường vì nó là sản phẩm của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh được định nghĩa theo nhiều cách, cạnh tranh theo K.Marx là "sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch"1

, theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm

1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường là "sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”2 Dù được định nghĩa theo cách nào thì bản chất cạnh tranh vẫn là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh, theo cơ chế đó người tiêu dùng hay khách hàng trở thành yếu

tố quyết định cho hiệu suất kinh doanh, lợi nhuận của các nhà kinh doanh Với bản chất

1 “Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh”, Báo điện tử Doanh nhân,

http://www.doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-p53a7678.html, kiểm tra lần cuối ngày 14/7/2013

2 “Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh”, Báo điện tử Doanh nhân,

http://www.doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-p53a7678.html, kiểm tra lần cuối ngày 14/7/2013

Trang 6

-2-

này, cạnh tranh có những tác động tích cực đến nền kinh tế thị trường như cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến

bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cạnh tranh cũng tác động theo hướng tích cực như vậy, trên thị trường vẫn tồn tại nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, điển hình như liên kết bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hay các doanh nghiệp thoả thuận bán hàng hoá, sử dụng vị trí độc quyền để nâng giá, ép giá …Vì vậy Luật cạnh tranh ra đời nhằm điều tiết cạnh tranh, hướng đến môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do; bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bằng cách loại trừ các hành vi cạnh tranh bất chính hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh Theo đó các hành vi cạnh tranh về giá cũng được Luật cạnh tranh điều chỉnh theo hướng này

Mặc dù đã có Luật cạnh tranh điều chỉnh các hành vi cạnh tranh về giá tuy nhiên vẫn chưa đủ để chúng ta yên tâm về vấn đề giá cả có thể ổn định góp phần xây dựng một nền kinh tế thị trường bền vững Bởi nhiều hành vi cạnh tranh về giá gây ra hậu quả rất lớn nhất là trong lĩnh vực các mặt hàng tiêu dùng cần thiết như xăng, điện, lương thực, thực phẩm, thuốc men…hành vi cạnh tranh về giá có thể gây ra sự dư thừa

ở các chủ thể này nhưng có thể gây ra sự thiếu hụt trầm trọng ở các chủ thể khác Với các mặt hàng quan trọng cần thiết, sự thiếu hụt đó gây ra những bất ổn xã hội, nguy hại đến đời sống nhân dân mà bản thân Luật cạnh tranh không thể cứu vãn nổi Để hạn chế vấn đề này, vai trò quản lý kinh tế, quản lý xã hội được đặt ra cho Nhà nước Với vai trò này, Nhà nước phải có cơ chế đề phòng, hạn chế các trường hợp đó xảy ra và hạn chế thấp nhất các hậu quả các trường hợp đó Vì vậy, mọi Nhà nước của nền kinh tế thị trường đều xây dựng cho mình công cụ điều tiết giá nhất định, với Việt Nam trong nhiều năm qua công cụ đó được thể hiện chủ yếu qua Pháp lệnh về giá 2002, nhưng nay xét thấy tầm quan trọng của vấn đề điều tiết giá, pháp lệnh được nâng lên thành Luật

Luật Giá 2012 ra đời đóng vai trò là công cụ vững chắc để nhà nước thực hiện việc quản lý, điều hành giá khắc phục các khuyết tật về giá trong nền kinh tế thị trường và giữ đúng hướng “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội

Trang 7

-3-

chủ nghĩa” như Đảng đã đề ra trong Đại hội IX Tuy vậy, Luật mới ra đời mặc dù có trải qua quy trình soạn thảo chặt chẽ vẫn rất khó khăn trong quá trình áp dụng Một trong những khó khăn là sự hoà hợp với các văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo

hệ thống pháp luật thống nhất và đảm bảo được tính hiệu quả của việc thực thi Luật mới Vì vậy, tìm hiểu các mối quan hệ giữa các quy định pháp lý có liên quan với nhau của các Luật đang áp dụng và Luật mới là cần thiết

Vì lý do trên, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa Luật Giá 2012 và các quy định liên quan đến việc sử dụng giá để cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2004” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp cử nhân của mình

II Phạm vi và mục đích nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu đề tài: đề tài nghiên cứu trong phạm vi mối quan hệ giữa

Luật Giá 2012 và các quy định liên quan đến sử dụng giá trong Luật cạnh tranh Trong phạm vi đó, bài nghiên cứu sẽ phân tích và một số hành vi sử dụng giá để cạnh tranh trong Luật cạnh tranh để làm rõ cách thức các nhà kinh doanh sử dụng giá để cạnh tranh, hậu quả của các hành vi cạnh tranh về giá và chính sách cạnh tranh mà Luật cạnh tranh đặt ra Dựa trên nền tảng đó, bài nghiên cứu đi tìm các mối liên hệ trong Luật Giá

2012 đến vấn đề cạnh tranh về giá, những biểu hiện trong Luật Giá có liên quan đến các quy định sử dụng giá để cạnh tranh trong Luật cạnh tranh

Mục đích nghiên cứu đề tài: tác giả nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm hiểu

về các mối liên quan giữa các luật trong hệ thống pháp luật, cách thức quy định pháp luật ở hai khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề về giá, hiểu được mối quan hệ bổ trợ cũng như khả năng gây mâu thuẫn, chồng chéo của văn bản quy phạm pháp luật sau đối với văn bản quy phạm pháp luật trước Ngoài ra, thông qua khoá luận, tác giả mong muốn rèn luyện các kỹ năng của công việc nghiên cứu, tạo ra được sản phẩm đủ điều kiện tốt nghiệp đại học và mong trở thành nguồn tài liệu tham khảo được cho các bạn sinh viên khoá sau cũng như các học giả nghiên cứu khác

III Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luật cạnh tranh Việt Nam ra đời vào năm 2004 và đã được áp dụng trong gần chín năm nhưng Luật Giá 2012 mới chỉ được thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 , và mặc dù có sự kế thừa nhất định đối với pháp lệnh giá 2002 nhưng Luật Giá cũng bổ

Trang 8

-4-

sung khá nhiều các quy định mới Dựa trên tình hình đó, để nghiên cứu đề tài , tác giả

sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu để có cái nhìn chung nhất về vấn đề

- Phương pháp phân tích để tìm hiểu rõ các vấn đề về giá trong Luật cạnh tranh,

và các quy định có mối liên quan đến cạnh tranh về giá trong Luật giá

- Phương pháp so sánh kết hợp với phân tích và tư duy biện chứng để hiểu ý nghĩa các quy định pháp luật ở mỗi phương diện pháp luật và sự liên hệ, tương tác giữa chúng

IV Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi tìm kiếm tại thư viện Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, nguồn tài liệu do giáo viên hướng dẫn cung cấp và các trang thông tin điện tử, thì đề tài chưa được nghiên cứu bởi tác giả nào khác tuy nhiên có hai tài liệu có liên quan đến mối quan hệ giữa Luật giá 2012 và cạnh tranh về giá, bao gồm bài viết “Dự thảo Luật giá dưới góc độ cạnh tranh” của TS Nguyễn Ngọc Sơn đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03 (212) tháng 2/2012 và bài viết “Vấn đề kiểm soát việc sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng trong luật giá 2012” của TS Trần Hoàng Nga được trình bày trong hội thảo khoa học “Về những điểm mới trong các đạo luật về kinh tế ban hành năm 2012” tổ chức ngày 5/4/2013 của khoa Luật Thương mại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù ít nhưng đây là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá để tác giả hoàn thành bài nghiên cứu này

V Bố cục nghiên cứu đề tài: Bố cục đề tài được sắp xếp theo trình tự Phần mở đầu

Chương I: Lý luận chung về giá và các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh 2004

Trang 9

-5-

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ VÀ CÁC HÀNH VI VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH 2004 BẰNG CÔNG CỤ GIÁ

1.1 Lý luận về giá

1.1.1 Khái niệm về giá

Giá cả cùng với tiền tệ đóng vai trò trụ cột trong hệ thống trao đổi, lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế thị trường Theo kinh tế học Mác-Lênin, giá cả là hình thức tiền hay biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, còn giá trị hàng hoá là hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó3

Sự lên xuống của giá cả trên thị trường là điều tất yếu vì nó hình thành và vận động dựa trên các quy luật vận động của thị thị trường: quy luật giá trị, cạnh tranh và cung cầu

Quy luật giá trị, theo quy luật này, giá cả có thể lên xuống nhưng phải xoay

quanh yếu tố cốt lõi của nó là “giá trị” Khi giá trị sản phẩm tăng thì giá cả sản phẩm

đó cũng phải tăng theo, ngược lại khi giá trị sản phẩm đó giảm thì giá cả hàng hoá đó giảm Giá trị xã hội của một sản phẩm trên thị trường được căn cứ vào hao phí lao động trung bình của xã hội tạo ra nó, ví dụ để sản xuất một đôi giày giống nhau nhưng

ba nhà sản xuất A, B, C với điều kiện khác nhau về lao động, máy móc… nên thời gian sản xuất khác nhau và lần lượt theo thứ tự 3 giờ, 4 giờ, 5 giờ và các khoản chi phí tính theo tiền khác nhau theo thứ tự 300.000 đồng, 400.000 đồng, 500.000 đồng, khi đó hao phí trung bình của xã hội tạo ra đôi giày tính theo thời gian là 4 giờ, tính theo tiền là 400.000 đồng.Trong khi giá trị cá biệt của một sản phẩm do hao phí lao động cá biệt hay các chi phí cá biệt tạo ra, theo ví dụ trên, hao phí lao động cá biệt tính theo thời gian của A là 3 giờ, của B là 4 giờ, của C là 5 giờ; tính theo tiền thì chi phí cá biệt của

A là 300.000 đồng, của B là 400.000 đồng, của C là 500.000 đồng 4 Yếu tố quyết định giá cả thị trường là giá trị xã hội, không phải giá trị cá biệt của nó5 Do đó, điều các nhà kinh tế cần làm không phải là tăng giá trị cá biệt của sản phẩm để tăng giá cả mà là giảm giá cá biệt để tạo ra khoản chênh lệch với giá trị xã hội để kiếm được lợi nhuận

Trang 10

-6-

Quy luật cạnh tranh, là quy luật tất yếu và là tạo nên động lực phát triển của nền

kinh tế thị trường đồng thời quy luật này cũng tác động mạnh mẽ đến giá cả Cạnh tranh được hiểu là ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, nhằm thu được lợi ích nhiều nhất6 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, có hai loại cạnh tranh7 Thứ nhất, cạnh tranh trong nội bộ ngành hàng là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Kết quả của sự cạnh tranh này là các doanh nghiệp cải tiến khoa học, kỹ thuật quản lý… để tạo ra các sản phẩm có chi phí thấp nhất, theo đó giá cả thị trường của sản phẩm đó sẽ giảm Thứ hai, cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp thường chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận Giá cả các mặt hàng hoá trong từng ngành hàng cũng thay đổi theo sự đầu tư của doanh nghiệp Vì thông thường, các ngành nào được các nhà đầu tư chuyển hướng sang đầu tư nhiều sẽ tạo ra nhiều sản phẩm, tạo ra sự dư thừa về sản phẩm, do đó giá thị trường giảm và ngược lại

Quy luật cung cầu, trong nền kinh tế thị trường, cung được hiểu là số lượng một

hàng hoá hay dịch vụ nguời sản xuất sẽ cung ứng ở các mức giá khác nhau trong một thời gian cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, cầu được hiểu là số lượng

mà người tiêu dùng muốn mua và có thể mua ở các mức giá khác nhau8 Sự tương quan giữa cung và cầu luôn ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường Nếu lượng cung càng lớn

so với cầu thì giá cả càng thấp trong khi nếu lượng cầu càng lớn so với lượng cung, thì giá cả càng cao9

Ở nền kinh tế thị trường, các chủ thể hoạt động kinh tế hay chủ thể quản lý kinh

tế khi muốn tác động đến giá vì bất cứ lý do gì cũng phải có sự nghiên cứu, cân nhắc

kỹ lưỡng đối với các quy luật trên vì nếu không hiểu rõ các quy luật này, chủ thể không

6 Ngô Đạt (2009), Tài liệu tham khảo Kinh tế chính trị Mác –Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ,

NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr21

7

Hoàng Trung (2010), “Các loại hình cạnh tranh”, Báo điện tử Doanh nhân,

http://www.doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-p53a7678.html, kiểm tra lần cuôi vào ngày 12/7/2013

Trang 11

-7-

thể dự đoán được đường đi của giá trên thị trường, do đó sẽ không có cách thức tác động thích hợp để đạt được mục đích của mình

1.1.2 Tác động của giá đối với nền kinh tế

Giá cả đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó thúc đẩy các mối quan hệ giao thương được diễn ra dễ dàng, là căn cử để xác định lợi ích kinh tế nhưng nó cũng thể hiện các mâu thuẫn không ngừng diễn ra giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường Người bán luôn luôn mong muốn hàng hoá, dịch vụ bán ra nhiều nhất với giá cao nhất, người mua muốn mua hàng hoá, dịch vụ rẻ nhất trong cùng một chất lượng hàng hoá, dịch vụ Từ những mong muốn này tạo ra những xung đột giữa người bán - người bán, người bán - người mua, người mua - người mua Những lý do trên khiến giá

cả tác động không ngừng đến thị trường theo hai hướng tích cực và tiêu cực

Ở mặt tích cực: Giá cả là “đòn bẩy” kinh tế trong cơ chế thị trường, được coi là một hệ thống tín hiệu khách quan trên thị trường10 Giá cả tạo ra nguồn thông tin đáng tin cậy trên thị trường Từ những nguồn thông tin này, những chủ thể có chiến lược thích hợp cho các hoạt động của mình Doanh nghiệp dựa vào nguồn thông tin này để định hướng được đầu vào, đầu ra từ đó đưa đến các quyết định đầu tư, sản xuất cũng như việc giám sát được tình hình sản xuất, kinh doanh của mình, tích cực thay đổi cơ cấu đầu tư, sản xuất để phù hợp với từng giai đoạn của thị trường Giá cả cũng là căn

cứ để người tiêu dùng đưa ra sự lựa chọn của mình, từ đó tạo ra những xu hướng hàng

hoá, dịch vụ trên thị trường, ảnh hướng đến hoạt động sản xuất Đồng thời, giá cả cũng

là lợi ích kinh tế 11, và trong cuộc chạy đua để tìm kiếm lợi nhuận, các nhà kinh doanh không ngừng thúc đẩy sự tăng tiến trong sản xuất kinh doanh bằng nhiều cách đổi mới công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, tạo ra những phương thức quản lý mới, hiệu quả; như vậy giá cả cũng góp phần đến sự phát triển chung của kinh tế - xã hội

Ở mặt tiêu cực: Đặc trưng của giá cả là tính tự phát điều tiết của nó, chính tính

tự điều tiết này đã làm cho các nhà kinh doanh luôn tích cực chạy theo lợi nhuận,

10 Ngô Trí Long (2013), “Chính sách giá cả trong tái cơ cấu nền kinh tế”, Báo điện tử Thời báo kinh tế Việt Nam,

http://vneconomy.vn/2013030811308516P0C9920/chinh-sach-gia-ca-trong-tai-co-cau-nen-kinh-te.htm, Kiểm tra lại lần cuối ngày 12/7/2013

11

Ngô Trí Long, “Chính sách giá cả trong tái cơ cấu nền kinh tế”, Báo điện tử Thời báo kinh tế Việt Nam,

http://vneconomy.vn/2013030811308516P0C9920/chinh-sach-gia-ca-trong-tai-co-cau-nen-kinh-te.htm, Kiểm tra lại lần cuối ngày 12/7/2013

Trang 12

-8-

khuyến khích sản xuất, kinh doanh như đã nói trên Nhưng tính này cũng có khả năng gây ra những tác động tiêu cực Do giá cả quyết định lợi nhuận, vì lợi nhuận các nhà sản xuất kinh doanh chạy theo sản xuất các hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng cần nhiều hơn và giá cao Một mặt các nhà sản xuất kinh doanh bỏ qua những vấn đề về lợi ích công cộng của xã hội, gây thiếu hụt ở các nhu cầu xã hội cơ bản, mặt khác đến một lúc nào đó, tình trạng này dẫn đến dư thừa ở một lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ, làm lãng phí lao động xã hội Cũng vì lý do này, các nhà đầu tư dễ thay đổi cơ cấu sản xuất, gây bất ổn trong nền kinh tế Hơn nữa, các cuộc chạy đua giá cả tìm kiếm lợi nhuận cũng thường gây ra tình trạng chất lượng hàng hoá kém, tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh…

Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, cần phải hạn chế tối đa mặt tiêu cực của giá cả và hỗ trợ mặt tích cực của nó phát huy tốt nhất Vì vậy câu chuyện để giá cả tự

do vận động theo thị trường và sự kiểm tra, kiểm soát giá cả luôn gắn liền và trở thành hai khía cạnh trong pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến giá trong nền kinh tế thị trường

1.2 Các hành vi sử dụng giá vi phạm Luật cạnh tranh

1.2.1 Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh

Cạnh tranh là yếu tố cần thiết và tự nảy sinh trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh đóng vai trò là động lực phát triển của nền kinh tế song nó chỉ làm đúng vai trò của nó khi nó diễn ra một cách lành mạnh nghĩa là diễn ra một cách sòng phẳng, công bằng và công khai

Nhưng thị trường với sự cuốn hút ghê gớm của lợi nhuận thì mong môi trường cạnh tranh tồn tại một cách lành mạnh theo cơ chế như nó tự sinh ra là điều không tưởng Các hình thức khác của cạnh tranh xuất hiện trên thị trường theo những toan tính thủ đoạn của các nhà kinh doanh phá vỡ môi trường cạnh tranh lành mạnh Pháp luật cạnh tranh ra đời nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh thông qua việc kiểm soát, loại bỏ các hành vi cạnh tranh sai trái trên thị trường Pháp luật cạnh tranh chia các hành vi cạnh tranh sai trái theo hai hình thức: cạnh tranh không lành mạnh và thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Trang 13

-9-

1.2.1.1 Cạnh tranh không lành mạnh

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

12 Khái niệm trên nêu ra bốn tiêu chí để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Thứ nhất, chủ thể hành vi là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, các hiệp hội ngành nghề, cá nhân có đăng ký kinh doanh13

Thứ hai, hành vi đó là hành vi cạnh tranh: hành vi đó phải nhằm mục đích cạnh tranh, nghĩa là phải đem lại những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp thực hiện hành

vi, nếu không nhằm mục đích chính là cạnh tranh, hành vi đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này

Thứ ba, hành vi đó trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh: các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh là một vấn đề trừu tượng, khó giải thích và thật

sự nó cũng không được giải thích theo Luật cạnh tranh Tuy nhiên, một cách chung nhất chúng ta có thể hiểu những các chuẩn mực đạo đức, kinh doanh là những quy tắc

xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Đặc điểm này đòi hỏi cơ quan xử lý về hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để phân định một hành vi có đi ngược lại những quy tắc xử sự chung trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không vì các quy tắc này có thể thay đổi theo thời gian tuỳ tình hình phát triển thị trường

Thứ tư, hậu quả củ

Như thế nào là thiệt hại và mức độ thiệt hại như thế nào thì bị xử lý, vấn đề này Luật cạnh tranh không đưa ra Dựa trên cách xây dựng luật và cách giải quyết hành vi cạnh

Trang 14

-10-

tranh không lành mạnh, thiệt hại không phải nhất thiết đã xảy ra trên thực tế mà có thể được tính ở dạng tiềm năng của hành vi14

Luật cạnh tranh 2004 liệt kê một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh sau đây: (1) Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; (2) Xâm phạm bí mật kinh doanh; (3) Ép buộc trong kinh doanh; (4) Gièm pha doanh nghiệp khác; (5) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; (6) Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; (7) Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; (8) Phân biệt đối xử của hiệp hội; (9) Bán hàng đa cấp bất chính15 Các hành vi khác nếu không thuộc các trường hợp được liệt kê thì khoản 4, Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 trở thành cơ sở để xác định liệu hành vi đó có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không Định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh còn nhiều điều trừu tượng vì vậy, liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là điều hợp lý để nhận diện, quản lý và kiểm soát các hành vi này trong thực tế, đồng thời không bỏ qua định nghĩa chung để chúng ta có cơ sở giải quyết những hành

vi mới phát sinh trong thực tế

1.2.1.2 Hạn chế cạnh tranh

Theo khoản 3 Điểu 3 Luật cạnh tranh 2004, Hành vi hạn chế cạnh tranh, là

hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế

Khái niệm trên đưa ra hai đặc điểm của hành vi hạn chế cạnh tranh:

Thứ nhất, chủ thể của hành vi là các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp Các doanh nghiệp này đã có một sức mạnh thị trường nhất định (nhờ vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường) hoặc hướng đến việc hình thành sức mạnh trên thị trường bằng các thoả thuận hoặc tập trung kinh tế16

Thứ hai, mục đích là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Nhờ sức mạnh thị trường của mình hoặc do liên kết tạo thành, doanh nghiệp hoặc nhóm

Điều 39 Luật cạnh tranh 2004

16 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd, tr25

Trang 15

-11-

doanh nghiệp hướng đến việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, ngăn cản các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường, làm giảm đi sức ép cạnh tranh và sau cùng hướng đến việc bóc lột khách hàng17

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh ba loại hành vi hạn chế cạnh tranh: (i) thoả thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền; và (iii) tập trung kinh tế

Qua đó, ta có thể nhận thấy hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh có những khác biệt như sau:

- Mục đích của hành vi: Hành vi hạn chế cạnh tranh nhằm mục đích làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường trong khi đó hành vi cạnh tranh

không lành mạnh chỉ nhằm mục đích cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh với nhau,

không nhằm mục đích làm ảnh hưởng đến tiến trình cạnh tranh trên thị trường như hành vi hạn chế cạnh tranh

- Cách xác định hành vi: đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, cách xác định

và chứng minh để xác định một hành vi là hành vi hạn chế cạnh tranh hay không, có phần phức tạp và khó xác định, do phải chứng minh thị phần, thị phần kết hợp, thị trường liên quan, khả năng gây hạn chế cạnh tranh hoặc phải chứng minh thỏa thuận

ngầm của các doanh nghiệp Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không cần

chứng minh các căn cứ trên như hành vi hạn chế cạnh tranh, chỉ cần chứng minh hành

vi có các dấu hiệu luật định

- Bản chất tác động của hành vi: hành vi hạn chế cạnh tranh có tác động

đến môi trường cạnh tranh nói chung, ảnh hưởng tới nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên cùng thị trường, lĩnh vực Hành vi hạn chế cạnh tranh có tác động lớn và

rộng trong nền kinh tế Hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường chỉ có tác động

đến một hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể nhằm giành một lợi ích nhất định

Như vậy, xét về tính nguy hiểm thì hành vi hạn chế cạnh tranh nguy hiểm hơn hẳn hành vi cạnh tranh không lành mạnh Do đó, luật cạnh tranh có sự điều chỉnh khác nhau đối với hai loại hành vi này như xác định cơ quan quản lý, thời hạn điều tra, biện pháp xử lý khác nhau Các hành vi cạnh tranh sai trái dù có thể sử dụng nhiều công cụ

17 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd, tr25

Trang 16

-12-

khác nhau như giá, chất lượng, thông tin… nhưng xét dưới góc độ pháp luật cạnh tranh thì chỉ được phân loại theo hai hình thức này

1.2.2 Các hành vi sử dụng giá vi phạm Luật cạnh tranh

Để tồn tại và phát triển, các nhà kinh doanh thường sử dụng nhiều chiến lược để cạnh tranh Chiến lược đó có thể dựa trên nhu cầu tiêu dùng, sự khác biệt hoá và về sản phẩm… và đặc biệt là sử dụng giá để cạnh tranh Có thể hiểu cạnh tranh về giá như sau: các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường sử dụng yếu

tố giá cả là phương thức để ganh đua với nhau nhằm giành được lợi ích nhiều nhất về phía mình

Các hành vi sử dụng giá vi phạm Luật cạnh tranh không được quy định tập trung trong Luật cạnh tranh 2004 Nghiên cứu các hành vi chịu sự điều chỉnh của Luật cạnh tranh có trực tiếp sử dụng công cụ giá chỉ có thể thông qua từng hành vi cụ thể trong các hình thức vi phạm Luật cạnh tranh đã quy định Các xác định hành vi theo các hình thức cạnh tranh này cũng giúp chúng ta dễ dàng đánh giá được tính chất của hành vi, cách thức chứng minh xử lý hành vi theo các lý luận chung đã tìm hiểu

1.2.2.1 Các hành vi sử dụng giá để cạnh tranh không lành mạnh

Theo các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê theo Luật cạnh tranh

2004, các hành vi sau đây có thể sử dụng yếu tố giá:

- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh: Theo điểm a khoản 3

Điều 45 Luật cạnh tranh 2004, cấm doanh nghiệp đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá Đây là hành vi cố ý tạo ra những sản phẩm quảng cáo chứa đựng thông tin không đúng hoặc mập mờ về yếu tố giá cả Giá cả là một phần thông tin để khách hàng phân biệt, lựa chọn các loại hàng hoá, dịch vụ cùng loại trên thị trường Trong trường hợp này, do bị nhầm lẫn về thông tin, người tiêu dùng không

có cơ hội đánh giá đúng đối tượng quảng cáo, các quyết định của người tiêu dùng sẽ trở nên bất hợp lý, thậm chí sai lầm dẫn đến lãng phí Hành vi này trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng Một ví dụ cụ thể cho hành vi này là trường hợp của siêu thị điện máy MediaMart đăng quảng cáo bán sản phẩm máy xay sinh tố Coex với giá 199.000 đồng vào giờ vàng (từ 10h đến 11h trong 3 ngày từ 10 - 12/9/2011) tại các hệ thống của MediaMart Nhưng nhiều khách hàng đến vào giờ vàng thì nhân viên hệ thống bắt buộc phải đợi đến 11h mới bán, chỉ bán với số lượng 10 cái

Trang 17

-13-

và chỉ khách hàng nào bốc thăm trúng thưởng mới được mua với giá đó, nếu bốc thăm trúng thưởng thì phải mua với giá niêm yết Hậu quả là nhiều khách hàng hiểu nhầm, đến sớm chờ đợi hoặc mua hàng quá số lượng khuyến mãi và phải chịu giá cao18

Trong trường hợp này, quảng cáo của MediaMart về chương trình bán giá thấp không nêu đầy đủ thông tin, rất mập mờ vì theo cách hiểu thông thường đối với nội dung đăng quảng cáo đó, các khách hàng sẽ nghĩ chỉ cần đến vào thời gian quy định sẽ được mua hàng với giá rẻ Quảng cáo của MediaMart rõ ràng đã giấu đi thông tin cần thiết là cách thức mua được giá rẻ phải qua bốc thăm Hậu quả, của hành vi này có thể không đến mức buộc khách hàng mua hàng hoá nhưng rõ ràng cũng đã làm cho khách hàng thiệt hại về thời gian, công sức khi đánh giá không đúng thông tin để suy đoán cơ hội mua hàng của mình

- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: Theo khoản 2 Điều

46 Luật cạnh tranh 2004, cấm doanh nghiệp khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng Mục đích của hành vi này là khiến khách hàng nhầm lẫn, tin theo thông tin khuyến mại sai lệch mà mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ đó Việc khuyến mại không trung thực này tác động đến tâm lý

“hám lợi” của người tiêu dùng, hay khách hàng mà khiến họ tiêu thụ nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Đồng thời, việc khuyến mại sai lệch này cũng làm tác động xấu đến đối thủ cạnh tranh, làm giảm mức tiêu thụ hàng hóa của đối thủ cạnh tranh Phương thức khuyến mại không trung thực về giá của hàng hóa sản phẩm, dịch

vụ phổ biến nhất là nâng giá hàng hóa, dịch vụ lên thật cao rồi đưa ra chiêu thức khuyến mại giảm giá thật lớn như “giảm giá 50 – 70%” hay “đại hạ giá” hoặc giảm giá lớn nhưng kèm theo là hàng hoá, dịch vụ chất lượng rất kém Cụ thể như trường hợp siêu thị điện máy Pico (Hà Nội) vào tháng 11/2012 trong dịp khai trương siêu thị thứ năm, đã đưa ra chiêu khuyến mãi cực sốc "Giảm giá gần 50% sản phẩm tivi LCD Sharp 32 inch" khiến hàng nghìn khách hàng tới mua sắm, chen lấn, xô đẩy nhau để nhanh chân vào được mua hàng tuy nhiên Pico không giảm 50% như quảng cáo mà chỉ giảm khoảng 20% Vì cách thời điểm khuyến mãi hai tuần, giá Pico niêm yết đối với

18 P.Thuý, “Mập mờ khuyến mại giờ vàng, MediaMart bị khách tố lừa đảo”, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam,

http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Cham-soc-KH/Map-mo-khuyen-mai-gio-vang-MediaMart-bi-khach-to-lua-dao/56320.gd, kiểm tra lần cuối vào ngày 12/7/2013

Trang 18

-14-

mặt hàng này là 4.990.000 đồng/chiếc, nhưng đến khi khuyến mãi thì doanh nghiệp nâng giá mặt hàng này với giá 6.990.000 đồng và thông báo khuyến mãi 50%19

Chính sách xử lý các hành vi này theo pháp luật cạnh tranh là phạt tiền và có thể

bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục sau đây: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; buộc cải chính công khai Đặc biệt, trong các quy định của pháp luật cạnh tranh, mức xử phạt nặng hơn được áp dụng khi các hành vi cạnh tranh này được áp dụng đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y chăn bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ20

Ngoài các hành vi kể trên, với sức sáng tạo vô bờ bến của các nhà kinh doanh phục vụ cho cuộc chiến tranh giành khách hàng, thu lợi nhuận trên thị trường thì khả năng sẽ còn nhiều dạng hành vi sử dụng giá để cạnh tranh không lành mạnh Lúc này

dù không được liệt kê trong luật cạnh tranh, khoản 4 điều 3 sẽ là cơ sở cho việc xác định hành vi đó có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không Nhưng dễ thấy một điều rằng, áp dụng khoản 4 Điều 3 là một điều vô cùng khó khăn vì các dấu hiệu xác định nên hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều rất trừu tượng và rất khó xác định được mức độ rõ ràng

1.2.2.2 Các hành vi sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh

Khác với quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, việc sử dụng giá để thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh quy định khá nhiều gồm có: (1) Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) Thoả thuận mua bán hàng hoá, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh; (3) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; (4) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá

Trang 19

vụ nằm trong các hành vi liên kết loại bỏ cạnh tranh của các doanh nghiệp

Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất

áp dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hoá, dịch

vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống nhất về giá hàng hoá, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng21 Các doanh nghiệp tham gia thoả thuận là các đối thủ cạnh tranh với nhau trong cùng một ngành hàng, các sản phẩm thường ở một cấp độ Các thoả thuận về giá bán hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp thường áp dụng mức giá cao hơn so với giá được hình thành trong môi trường

có cạnh tranh, và ngược lại trong các thoả thuận về giá mua bán hàng hoá, dịch vụ, giá mua hàng hoá, dịch vụ sẽ là thấp hơn giá cạnh tranh Bản chất thoả thuận là làm cho các đối thủ không còn cạnh tranh về giá và dẫn đến việc khách hàng không còn cơ hội

để lựa chọn mức giá tối ưu nữa mà theo sự sắp đặt của các doanh nghiệp

Dấu hiệu đầu tiên để biết hành vi này đó là có sự thoả thuận hay nói cách khác

là có sự thống nhất về mặt ý chí của các doanh nghiệp về vấn đề ấn định giá Sự thống

nhất ở đây thể hiện ở việc các doanh nghiệp cùng thực hiện hoặc hỗ trợ cho nhau cùng thực hiện sự thoả thuận đó, và sẽ không có sự loại trừ cho trường hợp một doanh nghiệp buộc phải làm theo các doanh nghiệp khác vì một sức ép nào đó Vì không bao giờ chứng minh được cho sự bị ép buộc nào mà nó đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và doanh nghiệp thực hiện hành vi có lợi cho mình mà chỉ vì sự ép buộc

21 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd, tr78

Trang 20

-16-

Dấu hiệu thứ hai là mục đích của ấn định giá phải nhằm xoá bỏ cạnh tranh về

giá Sự thoả thuận có liên quan đến giá nhưng không nhằm mục đích này thì sẽ không

được coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp có thể bằng cách thoả thuận trực tiếp hoặc gián tiếp thì kết quả cuối cùng của thoả thuận ấn định giá sẽ dẫn đến không còn sự cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận với nhau Còn mức giá vô lý đến thế nào để chứng minh cho mục đích xoá bỏ cạnh tranh thì Luật cạnh tranh không đề cập tới, vì vậy không cần phải chứng minh tính vô lý của mức giá

Thoả thuận ấn định giá gây ra nhiều thiệt hại Ngoài việc loại bỏ sự cạnh tranh

về giá, tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn các mức giá cạnh tranh trên thị trường; sâu xa hơn là nó xoá bỏ đi động lực phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, không phải thoả thuận ấn định giá nào cũng bị cấm, Pháp luật cạnh tranh chỉ cấm các thoả thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên hoặc nằm trong các điều kiện sau đây: a) Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; b) Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ; c) Thúc đẩy việc

áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; d) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá; đ) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; e) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế

Hành vi thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp có những biểu hiện cụ thể được quy định tại Điều 14 nghị định 116/2005/NĐ-CP như sau:

- Thống nhất áp dụng giá đối với một số hoặc tất cả khách hàng: nghĩa

là các doanh nghiệp cùng áp dụng một mức giá cố định đối với một hoặc tất cả khách

hàng để khách hàng không có sự lựa chọn về giá Thoả thuận này thường được áp dụng đối với các sản phẩm đồng nhất về chất lượng Mức giá được áp dụng đối với các khách hàng là người tiêu thụ thường là mức giá cao hơn so với giá trị thực của sản phẩm có khả năng đem lại siêu lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi xảy ra trường hợp thống nhất áp dụng giá đối với một khách khàng là người bán, đối tác kinh doanh, các

Trang 21

-17-

doanh nghiệp thường ấn định mức giá thấp nhất để các đối tác không có sự lựa chọn và chịu lỗ

- Tăng giá hoặc giảm giá ở mức độ cụ thể: là việc doanh nghiệp cung

cộng thêm hoặc trừ đi một mức giá cả trên nền tảng giá cả sẵn có trước đó của hàng hoá, dịch vụ Tăng giá thường được các doanh nghiệp thống nhât áp dụng để bóc lột người tiêu dùng, và giảm giá thường được các doanh nghiệp thống nhất áp dụng để gây khó khăn cho các đối thủ không cạnh tranh Tăng giá hoặc giảm giá ở mức độ cụ thể tuy không tạo một mặt bằng chung về giá như thoả thuận ấn định giá nhưng nó cũng làm sai lệch đi các quy luật hình thành giá trên thị trường vì giá không còn hình thành theo quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu nữa, giá hình thành theo ý chí của các nhà doanh nghiệp Và như vậy, người tiêu thụ bỗng dưng bị bóc lột khi các doanh nghiệp tăng giá; khi giảm giá người tiêu dùng được lợi nhất thời nhưng khiến các doanh nghiệp không tham gia thoả thuận chơi vơi trong mớ hỗn độn của thị trường không quy luật

- Áp dụng công thức tính giá chung:

Trong mỗi công thức tính giá, mỗi nhà sản xuất, kinh doanh tự tính chi phí nguyên vật liệu, chi phí lưu thông, chi phí quảng bá…và lợi nhuận thích hợp để tạo ra mức giá cả phù hợp với thị trường Mỗi cấu thành của giá cả của từng doanh nghiệp khác nhau do khả năng quản lý, hoạt động của doanh nghiệp đó, vì vậy nó tạo nên những màu sắc khác nhau về giá cả cho mỗi doanh nghiệp, và cũng tạo ra sự cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp Đối với hành vi thoả thuận cùng áp dụng công thức tính giá chung, các doanh nghiệp không dựa trên quá trình sản xuất kinh doanh của mình để tính giá mà hình thành mức giá chung đối với hàng hoá, dịch vụ trong đó các chi phí đã đẩy lên cao hoặc được cộng thêm để bóc lột khách hàng

- Không chiết khấu giá hoặc áp dụng mức chiết khấu thống nhất: chiết

khấu được hiểu là giảm một số phần trăm nhất định22, chiết khấu giá có thể được thực hiện theo hai cách chiết khấu thương mại hoặc chiết khấu thanh toán Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn, chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm tiền cho người

22

Từ điển Tiếng Việt điện tử, http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Chi%E1%BA%BFt_kh%E1%BA%A5u,kiểm tra lần cuối ngày 12/7/2013

Trang 22

-18-

mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng23 Chiết khấu, thực chất là một hình thức khuyến mại với mục đích xúc tiến, tăng doanh thu, xả hàng tồn, thu tiền nhanh… tại những thời điểm nhất định Việc chiết khấu giá hay không là quyền của doanh nghiệp, tuy nhiên tính chất hạn chế cạnh tranh của hành vi này thể hiện ở việc các doanh nghiệp “thống nhất không chiết khấu giá” hoặc “cùng áp dụng mức chiết khấu thống nhất” Cả hai hành vi này thứ nhất loại trừ sự khác biết trong việc xây dựng chính sách kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, từ đó hạn chế đi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp vì cạnh tranh được xây dựng trên sự khác biệt của mỗi doanh nghiệp, thứ hai các hành vi này buộc khách hàng phải chịu mức giá cao, không được hưởng lợi ích từ việc chiết khấu giá Mặt khác khi số lượng doanh nghiệp tham gia thoả thuận này lớn thì tạo ra sự nhầm lẫn về giá cả, vì khách hàng cho rằng đó

đã là mức giá hợp lý trên thị trường, khi đó các doanh nghiệp không tham gia thoả thuận có áp dụng mức giá chiết khấu nhiều hơn thì cũng dễ gây nghi ngờ cho khách hàng về sự gian lận nào đó đối với sản phẩm ví dụ như hàng giả, hàng kém chất lượng…Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

- Duy trì tỷ lệ cố định về giá của các sản phẩm liên quan:

Trong hoạt động cạnh tranh lành mạnh, giá của các sản phẩm liên quan sẽ thay đổi lên xuống trong mối tương quan với nhau nhờ vào những nỗ lực kinh doanh của từng doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó Tuy nhiên với việc áp dụng hành

vi thoả thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá, các doanh nghiệp không còn thiết tha với các

nổ lực kinh doanh để thay đổi giá cả sản phẩm theo hướng tích cực nhằm thu hút khách hàng nữa Thay vào đó, các doanh nghiệp đặt ra mức giá cao hơn thực tế và chấp nhận

tỉ lệ về giá hiện tại vì nó đã đủ để đem lại một khoản lợi nhuận cao cho họ rồi Hành vi này hướng đến việc bóc lột khách hàng Tính chất hạn chế cạnh tranh được thể hiện ở chỗ này và vì vậy đây là một hành vi bị cấm theo Luật cạnh tranh 2004

- Dành hạn mức tín dụng cho khách hàng

Khái niệm hạn mức tín dụng được sử dụng trong lĩnh vực ngân hàng với ý nghĩa

“là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà tổ chức tín dụng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng” 24

Tương tự, trong hoạt

23 Theo mục 2.2 Thông tư 89/2002/TT-BTC

24 Khoản 7 Điều 3 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN.

Trang 23

-19-

động kinh doanh thương mại thông thường, dành hạn mức tín dụng cho khách hàng được hiểu là người bán dành cho người mua tối đa một khoản dư nợ trong một khoảng thời hạn nhất định Tuy không trực tiếp liên quan đến giá nhưng hành vi này góp phần

hỗ trợ cho sự so sánh về ưu thế giá cả của mỗi doanh nghiệp vì vậy đây được xem là một trong những hình thức của thoả thuận giá Mục đích của hành vi này là để thu hút khách hàng và giữ chân khách hàng Đương nhiên nếu từng doanh nghiệp đưa ra chiến lược này thì không bị pháp luật cấm, nhưng với một số lượng doanh nghiệp nhất định trong ngành thống nhất cùng dành hạn mức tín dụng cho khách hàng, sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp khác, đặc biệt các doanh nghiệp tiềm lực còn yếu không đủ tài chính để có thể dành một hạn mức tín dụng cho khách hàng Hơn nữa, sự thoả thuận của các doanh nghiệp cho thấy ý đồ đẩy các doanh nghiệp còn yếu ra khỏi thị trường,

vì mỗi doanh nghiệp có thể dựa vào nguồn lực tài chính, chiến lược để đề ra chính sách này để thu lợi về phía mình, cùng nhau hoặc có khả năng hỗ trợ cho nhau cùng thực hiện hành vi này cho thấy mục đích không trong sáng của các doanh nghiệp Vì khả năng gây thiệt hại, làm mất cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp khác, hành vi này

- Sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu

Trong mỗi cuộc đàm phán về giá, giá cả ban đầu được các bên đưa ra có vai trò quan trọng trong việc đánh giá về khả năng, nhu cầu của đối tác Và thông qua giá cả ban đầu, các bên có thể đánh giá được thông tin giá cả ngành hàng đó của thị trường Khi các doanh nghiệp nếu thoả thuận sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các

Trang 24

-20-

cuộc đàm phán về giá bắt đầu, thì mức giá thống nhất đưa ra thường có lợi cho các doanh nghiệp (giá cao nếu các doanh nghiệp tham gia thoả thuận đóng vai trò người bán, và giá thấp nếu các doanh nghiệp này đóng vai trò người mua) Với mức giá đưa

ra đàm phán chung, nó gây nhiễu thông tin cho khách hàng, làm họ lầm tưởng rằng đó

là mức giá chung của thị trường Đánh giá sai thông tin có thể đem lại cho họ những thiệt hại nhất định trong cuộc đàm phán về giá

(2) Thoả thuận mua bán hàng hoá, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thoả thuận không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh (điểm b, khoản 2 Điều 19 Nghị định 116/2005/NĐ-CP)

Đây cũng là hành vi thể hiện sự liên kết của doanh nghiệp dưới hình thức thoả thuận, nhưng đối tượng tác động được xác định rõ ràng là doanh nghiệp khác Tính chất hạn chế cạnh tranh thể hiện ở chỗ ngăn không cho các doanh nghiệp khác mở rộng thêm quy mô nghĩa rằng bằng công cụ giá các doanh nghiệp đã tạo ra những rào cản ngăn việc gia nhập thị trường liên quan của một doanh nghiệp khác

Dấu hiệu nhận biết của hành vi trên:

Thứ nhất, có sự thoả thuận ngăn cản một doanh nghiệp mở rộng kinh doanh Giống như thoả thuận ấn định giá, thoả thuận này cũng là sự thống nhất cùng hành động của các doanh nghiệp tham gia

Thứ hai, phương thức thực hiện là thống nhất mua, bán hàng hoá với giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thoả thuận không thể tham gia thị trường liên quan Trên thực tế, các doanh nghiệp tham gia thoả thuận sẽ thống nhất tăng giá mua tăng và giảm giá bán, chấp nhận giảm lợi nhuận mục đích để các doanh nghiệp khác cảm thấy khó khăn và thị trường không còn hấp dẫn nữa trong việc đầu tư và kiếm lợi nhuận trong lĩnh vực kinh doanh này, nhờ vậy mà bảo toàn vị thế của các doanh nghiệp thoả thuận trong hiện tại Còn vấn đề về cơ chế xác định mức giá mua, bán hàng hoá, dịch vụ đủ

để doanh nghiệp không thể tham gia thị trường liên quan thì chưa được pháp luật cạnh tranh giải quyết Nhưng có thể thấy sự thoả thuận về giá ở đây khác với sự thoả thuận

ấn định giá ở trên Vì sự thoả thuận giá ở đây không phải là một mức giá nhất định, hoặc không phải duy trì một tỷ lê chung giữa các giá của doanh nghiệp, mà tuỳ từng trường hợp mỗi doanh nghiệp trong nhóm tham gia thoả thuận áp dụng một mức giá mua, bán đủ để các doanh nghiệp không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh.giảm tính hấp dẫn của thị trường

Trang 25

-21-

Thứ ba, đối tượng của hành vi là ngăn cản là các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng thị trường liên quan nhưng không tham gia thoả thuận Đây có thể là doanh nghiệp đã tham gia kinh doanh trong cùng một ngành hàng với các doanh nghiệp tham gia thoả thuận và bây giờ muốn mở rộng kinh doanh Trong trường hợp này, sẽ có chút mâu thuẫn bởi hậu quả mà các doanh nghiệp thoả thuận đem lại chỉ là làm cho doanh nghiệp khác không thể mở rộng được kinh doanh trong khi doanh nghiệp đó vẫn tồn tại

và các doanh nghiệp tham gia thoả thuận vẫn chấp nhận giảm lợi nhuận, vậy thì thời gian thực hiện thoả thuận sẽ là bao lâu? Ở đây có thể giải thích sự thoả thuận ở đây là ngăn chặn doanh nghiệp đó mở rộng kinh doanh trong một cơ hội thuận lợi Sau đó, cho dù thoả thuận đã bị xoá bỏ thì cơ hội đã qua, có thể ý định mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp khác cũng chấm dứt Đối tượng tác động thứ hai là doanh nghiệp chưa kinh doanh trong lĩnh vực này nhưng muốn mở rộng sang hướng kinh doanh này Trường hợp này, hành vi trên đã tạo ra những thông tin giá cả không chính xác, khiến cho nhà doanh nghiệp không còn mở rộng kinh doanh nữa

(3) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Khác với các hành vi (1) và (2) là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi này là một dạng hành vi lạm dụng vị tri thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền được quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh 2004

Theo lý thuyết kinh tế thông thường, nhà kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận thông qua sự chênh lệch của đầu ra và đầu vào, nghĩa rằng giá bán ra phải cao hơn các nguồn chi phí đầu tư vào hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, vì mục đích cạnh tranh, doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có thể bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với giá bán ra còn thấp hơn cả chi phí đầu tư trong một thời gian dài nhất định trong điều kiện kinh doanh bình thường Việc này dẫn đến các đối thủ cạnh tranh khác phải chịu tình trạng so sánh giá trong một thời gian dài, nếu đối thủ cạnh tranh đó giữ nguyên giá thì sẽ không tiêu thụ được sản phẩm nhưng muốn sản phẩm của mình tiêu thụ được thì phải hạ giá bán theo các doanh nghiệp khác và chấp nhận chịu lỗ Trong tiềm lực kinh tế không đủ mạnh, sự nghiệp kinh doanh của đối thủ cạnh tranh sẽ phải bị tiêu diệt Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm

Trang 26

-22-

Như vậy, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền thị trường bán sản phẩm với giá quá thấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường

Xác định hành vi này dựa trên ba dấu hiệu:

Thứ nhất, chủ thể của hành vi này là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh trên thị trường hoặc có doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường Vì chỉ có những doanh nghiệp này mới có đủ tiềm lực kinh tế đủ lớn để chịu đựng lỗ vốn trong một thời gian dài Theo Điều 11 Luật cạnh tranh 2004 doanh nghiệp

được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp “ có thị phần từ 30% trở lên

trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”

Như vậy, vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp chủ yếu được xác định bằng thị phần trên thị trường liên quan, với con số thị phần 30%, nhà làm luật cho rằng doanh nghiệp đủ quyền lực để chi phối thị trường Ngoài xác định bằng phần trăm thị phần, luật cạnh tranh còn cho rằng vị trí thống lĩnh còn xét trên “khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” khi thị phần của doanh nghiệp dưới 30% trên thị trường liên quan Tuy vậy, khái niệm này không được làm rõ trong Luật cạnh tranh và rất khó để xác định được khả năng này trong thực tế Đối với, nhóm doanh nghiệp thì vị trí thống lĩnh đơn

thuần dựa trên thị trường liên quan “a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên

trên thị trường liên quan;b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan” 25

Điều 12 Luật cạnh tranh 2004 xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền “Doanh nghiệp

được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”

Thứ hai, giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thấp hơn giá thành toàn bộ của

hàng hoá, dịch vụ Giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là giá bán thực tế của doanh nghiệp ra thị trường Trên thực tế, doanh nghiệp có thể bán ra thị trường với nhiều giá khác nhau, giá bán lẻ với giá bán sỉ Trong trường hợp đó, giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ lấy ra để so sánh là giá nào thì Luật cạnh tranh không đề cập đến Giá thành

25 khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004

Trang 27

-23-

toàn bộ theo khoản 1 Điều 23 là tổng các chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ hoặc giá mua hàng hóa để bán lại và chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ Trong đó giá thành sản xuất hàng hoá dịch vụ bao gồm các chi phí trực tiếp như chi phí vật tư trực tiếp (chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và động lực tiêu dùng…), chi phí nhân công trực tiếp (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lương…), chi phí sản xuất chung (khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài…)26 Chi phí lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá, cung ứng dịch vụ sau đây: tiền lương; các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng; hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới; tiếp thị; đóng gói; bao bì; vận chuyển;…27

Thứ ba, mục đích của hành vi là nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc ngăn cản

sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh mới Vì vậy, có những trường hợp hạ giá bán nhưng nhằm các mục đích khác như hỗ trợ người tiêu dùng, ổn định giá cả các mặt hàng cần thiết, hoặc vì mục đích giảm thiệt hại thì hành vi này sẽ không được cấu thành Theo khoản 2 điều 23 nghị định 116/2005/NĐ-CP, các hành vi bán hàng hoá dưới giá thành được loại trừ mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh bao gồm:

“a) Hạ giá bán hàng hóa tươi sống;

b) Hạ giá bán hàng hoá tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng;

c) Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ;

d) Hạ giá bán hàng hoá trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật;

đ) Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh;

e) Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của nhà nước theo quy định hiện hành của pháp luật về giá.”

(4) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

26

Xem Điều 24 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

27 Điều 25 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

Trang 28

-24-

Đối với doanh nghiệp thống lĩnh, vị trí độc quyền thì mức độ chi phối đến giá thị trường rất lớn Bởi trong mọi quan hệ hợp tác họ trở thành người cầm cán và khách hàng trở thành người phụ thuộc Nắm bắt được lợi thế quyền lực thị trường của mình, các doanh nghiệp thống lĩnh, vị trí độc quyền thường có những hành vi gây khó khăn

về giá, buộc khách hàng phải chấp nhận những điều kiện về giá mà không hề có cơ sở của quy luật thị trường

Hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi định giá bất hợp lý của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để trục lợi về giá cho mình và gây thiệt hại cho khách hàng Thông thường, khách hàng phải mua quá cao so với giá trị thực tế hoặc phải bán với giá thấp hơn giá thành của sản phẩm và doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền sẽ có được toàn bộ giá trị thặng dư nhờ vào mức chênh lệch giá ấn định với giá cạnh tranh

Hành vi được nhận biết dựa trên các dấu hiệu sau:

Thứ nhất, hành vi được quy định tại chương khoản 2 Điều 13 Luật cạnh tranh

2004 thuộc Mục 2 về các hành vi lạm dụng vị tri thông lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền; do đó chủ thể của hành vi này là doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị tri thống lĩnh thị trường hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền Các thức xác định vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền giống như đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh như đã phân tích ở trên

Thứ hai, có sự áp đặt một mức giá bất hợp lý khi diễn ra các giao dịch Các nhà

sản xuất kinh doanh được quyền định giá sản phẩm của mình cũng như có quyền chủ động đưa ra một mức giá khi đàm phán; vậy thì sẽ rất bình thường nếu như mức giá đó

là hợp lý theo các yếu tố tương quan của nền kinh tế Hành vi chỉ bị cấm khi nó xuất hiện “sự bất hợp lý” của giá cả mà do một bên là doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hay độc quyền đưa ra Cách thức chứng minh tính bất hợp lý của hành vi được quy định khác nhau tuỳ theo các hình thức áp đặt giá mua bất hợp lý, áp đặt giá bán bất hợp

lý hay định giá bán lại tối thiểu sẽ được trình bày dưới đây

Thứ ba, hành vi đó gây thiệt hại cho khách hàng Như thế nào được xem là thiệt

hại cho khách hàng, thì pháp luật cạnh tranh không đề cập Và chúng ta được quyền hiểu khi đủ hai dấu hiệu trên thì mặc nhiên gây ra sự thiệt hại cho khách hàng

Trang 29

-25-

Hành vi trên được biểu hiện qua ba hình thức:

a, Áp đặt giá mua bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng

Hành vi áp đặt giá mua hàng hoá dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan khi mua hàng hoá, dịch vụ đã áp đặt giá mua được thấp hơn giá thành sản xuất hàng hoá dịch vụ trong điều kiện chất lượng hàng hoá không suy giảm và thị trường không

có biến động về giá bán buôn của hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ

Nhận biết hành vi trên thông qua hai dấu hiệu:

Thứ nhất, giá của hàng hoá dịch vụ đã bị doanh nghiệp thực hiện hành vi áp đặt thấp hơn giá thành sản xuất Giá mua hàng hoá là giá giao dịch thực tế giữa doanh nghiệp thực hiện hành vi với khách hàng Giá thành sản xuất được tính giống như giá thành của sản phẩm được nêu ở hành vi bán hàng hoá dưới giá thành sản xuất nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Thứ hai, việc áp đặt giá mua hàng hoá thấp hơn giá thành là bất hợp lý Hành vi

áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý trong điều kiện sau đây:

“a) Chất lượng hàng hóa, dịch vụ đặt mua không kém hơn chất lượng hàng hóa, dịch vụ đã mua trước đó;

b) Không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp so với trước đó” 28

Dựa trên dấu hiệu thứ hai, tồn tại những trường hợp doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền nếu áp đặt giá mua nhưng hợp lý do chất lượng của hàng hoá, dịch vụ giảm trước đó; hoặc có thiên tai, địch hoạ hoặ biến động bất thường làm giá hàng hoá, dịch vụ giảm dưới giá thành sản xuất

b, Áp đặt giá bán hàng hoá dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng

Hành vi áp đặt giá bán hàng hoá dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng được hiểu tương tự hành vi áp đặt giá mua ở trên nhưng chỉ khác doanh nghiệp có vị

28 Khoản 1 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

Trang 30

- Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5%; hoặc tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá đã bán trước khoảng thời gian tối thiểu đó;

- Không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hóa, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá 29

c, Định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hóa thấp hơn mức giá đã quy định trước 30

Hành vi định giá bán lại được xem là thoả thuận dọc mà bên tham gia gồm có doanh nghiệp có vị trí thống lãnh hoặc độc quyền và các nhà phân phối, các nhà bán lẻ của họ; các chủ thể này không cùng thị trường liên quan mà chỉ là những doanh nghiệp ở những giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, lưu thông sản phẩm Đối tượng bóc lột của hành vi này là người tiêu dùng, khác với ấn định giá trong thoả thuận

về giá là sự thoả thuận tự nguyện của các nhà kinh doanh là đôi thủ cạnh tranh vơi nhau áp dụng giá đã thoả thuận để gây thiệt hại cho đối tác và người tiêu dùng

Giá bán lại tối thiểu là kết quả của sự áp đặt của nhà sản xuất đối với người phân phối Giá bán lại phải “tối thiểu” nghĩa rằng các nhà phân phối không được bán lại với giá thấp hơn giá mà nhà sản xuất đã ấn định Hành vi ấn định giá sẽ là bình thường nếu mức giá ấn định hợp lý theo quy luật cung cầu và doanh nghiệp chỉ muốn thống nhất mức giá để ổn định giá sản phẩm trên thị trường nhưng nếu mức giá đó là

29

Khoản 2 Điều 27 Nghị định 116/2005/Đ-CP

30 Khoản 3 Điều 27 Nghị định 116/2005/Đ-CP

Trang 31

-27-

bất hợp lý, cao hơn giá cả thực của sản phẩm thì đây là hành vi mang tính bóc lột và bị

là hành vi bị cấm theo pháp luật cạnh tranh

(5) Định giá ngăn chặn sự gia nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới

Khoản 3, Điều 31 Nghị định 116/2005/NĐ-CP cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền bán hàng hóa với mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh mới không thể gia nhập thị trường Hành vi này khá giống với hành vi thoả thuận giá bán ngăn cản doanh nghiệp mở rộng quy mô thị trường bởi cách thức áp dụng giá là giống nhau, tăng giá mua, giảm giá bán, hy sinh lợi nhuận để đánh lừa thông tin của các nhà đầu tư mới; tuy nhiên, thực tế nó có những điểm khác biệt như sau:

1, Chủ thể của hành vi này là các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường trong khi chủ thể của hành vi thoả thuận giá bán nêu trên không đòi hỏi vị trí của chủ thể tham gia

2, Đối tượng của hành vi này là những đối thủ cạnh tranh mới, đối tượng tác động của hành vi thoả thuận giá ngăn cản doanh nghiệp mở rộng quy mô cạnh tranh là doanh nghiệp đã hoặc sắp là đối thủ cạnh tranh

Hành vi này cũng khác với các hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Vì với hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ, giá bán có so sánh rõ ràng với giá thành toàn bộ; nhưng với hành vi này nhà sản xuất không cần phải đến mức chịu lỗ, chỉ cần tạo ra một mức giá mà đối thủ cạnh tranh mới cảm thấy khó khăn, không thể đầu tư kiếm lợi nhuận trong ngành hàng này là được Cũng chính điều này thể hiện bản chất hạn chế cạnh tranh khi cố gắng ngăn không cho các doanh nghiệp khác được sinh ra trên thị trường, giữ vững vị trí quyền lực trên thị trường

Tương tự như chính sách xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh cũng sử dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền và các biện pháp khắc phục như Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; Buộc cải chính công khai; Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; Buộc loại bỏ những biện pháp ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w