1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại việt nam

53 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Chế độ pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam” với mong muốn đóng góp một ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

NGUYỄN THỊ DIỆU THU

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM - 2013

Trang 2

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ DIỆU THU

KHOÁ : 34 MSSV : 0955010232

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

TP HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức để tôi có khả năng hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô ThS Nguyễn Thị Thanh Huyền đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô khoa Luật Thương mại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp

đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập tại trường

TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi nghiên cứu và thực hiện, không

có sự sao chép của người khác, mọi nguồn tài liệu đều được trích dẫn đầy đủ theo đúng hình thức mà khoa Luật Thương mại đã quy định

Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan này

TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN

NGUYỄN THỊ DIỆU THU

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 4

1.1 Khái quát về hợp đồng nhượng quyền thương mại và khái niệm chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 4

1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại 4

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại 6

1.1.3 Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại 8

1.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 11

1.2 Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 12

1.2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 12

1.2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 15

1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17

CHƯƠNG 2: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 19

2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện 19

2.1.1 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại khi hết hạn hợp đồng (hợp đồng hoàn thành) 21

2.1.2 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo thỏa thuận của các bên 23

2.1.3 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại khi một trong các bên bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản 23

2.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 26

Trang 7

2.1.4.1 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại do bên nhận quyền vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 26 2.1.4.2 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại do bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 31

2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện 35 2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện 38 2.4 Bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam 42 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43 KẾT LUẬN 1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

NQTM là một hoạt động thương mại, một phương thức kinh doanh được đánh giá là một trong những thành tựu lớn của các nước phương Tây đang thâm nhập vào Việt Nam trong quá trình Việt Nam mở cửa thị trường, hội nhập hơn vào nền kinh tế thế giới và dường như ngày càng phát triển Kinh doanh bằng mô hình NQTM tuy còn mới mẻ ở Việt Nam nhưng sức hấp dẫn và những ưu điểm của nó đã được chứng minh qua thực tiễn ở các nước trên thế giới Trước sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động này, NQTM đã được pháp luật thương mại Việt Nam quan tâm điều chỉnh như: Mục 8 Chương VI Luật Thương mại 2005, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, Thông tư 09/2006/TT-BTC Đây là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất nhằm tạo ra khung pháp

lý định hướng cho hoạt động NQTM phát triển tai Việt Nam Tuy nhiên, những quy định của pháp luật về hoạt động NQTM chưa thật hoàn chỉnh và còn nhiều thiếu sót với sự chồng chéo và mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật khác nhau Điều này sẽ dẫn đến những hạn chế trong hoạt động nhượng quyền đối với các doanh nghiệp đã, đang và sẽ lựa chọn con đường kinh doanh NQTM

Trong khi đó, hoạt động NQTM phát triển nhanh và đa dạng trên nhiều lĩnh vực Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng NQTM là một phương thức kinh doanh rất dễ phát sinh tranh chấp do có rất nhiều ràng buộc giữa các bên trong hợp đồng và khi

đó, vấn đề chấm dứt hợp đồng luôn được các bên cân nhắc Vì vậy, nghiên cứu vấn

đề chấm dứt hợp đồng NQTM là việc cần thiết, góp phần làm rõ các quy định của pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động NQTM tại Việt Nam; giúp các bên yên tâm hơn khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền Trên cơ sở đó, tác giả

chọn nghiên cứu đề tài “Chế độ pháp lý về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam” với mong muốn đóng góp

một phần công sức nhỏ bé vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng NQTM

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khi chấm dứt hợp đồng NQTM dưới góc độ các quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra phương hướng góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng NQTM đặc biệt là trường hợp chấm dứt hợp đồng, cũng như đề xuất cho các bên các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng khi chấm dứt hợp đồng NQTM

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về chấm dứt hợp đồng NQTM của pháp luật thương mại Việt Nam; từ đó liên hệ tới các điều khoản trong hợp đồng NQTM liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng NQTM

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề xung quanh điều khoản hợp đồng NQTM điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng trong mối tương quan với quy định của pháp luật thương mại Việt Nam cụ thể như các trường hợp chấm dứt hợp đồng, các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng…Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, luận văn chỉ ra được những mặt hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

của luận văn cử nhân của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006)

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động NQTM ở mức độ khái quát, chưa thực sự tập trung vào một vấn đề chuyên biệt, ví dụ như chấm dứt hợp đồng NQTM Vì vậy, trong khoá luận này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng NQTM theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam Từ đó, chỉ

ra những vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành và đưa ra một

số giải pháp hoàn thiện

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong suốt khoá luận, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nghiên cứu lịch sử để phân tích và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận chung về hợp đồng NQTM

Trang 10

Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và liên hệ, khoá luận dựa trên

cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật về NQTM nói chung và những quy định của pháp luật thực định liên quan tới chấm dứt hợp đồng NQTM để thấy được những vướng mắc, thiếu sót và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng NQTM nói riêng và pháp luật NQTM cũng như pháp luật thương mại nói chung

Trang 11

CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát về hợp đồng nhượng quyền thương mại và khái niệm chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại, nhiều phương thức kinh doanh đã ra đời và phát triển rộng rãi NQTM (Franchise) là một trong những phương thức hiệu quả được nhiều thương nhân lựa chọn để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình

Thuật ngữ nhượng quyền có nguồn gốc từ tiếng Pháp “francis” có nghĩa là đặc quyền, ưu đãi Mặc dù không có nguồn gốc từ tiếng Anh nhưng các quan hệ NQTM đầu tiên được sử dụng, phổ biến không phải ở châu Âu lục địa mà là ở Hoa Kỳ NQTM xuất hiện ở Hoa Kỳ ở thế kỷ 19, được phổ biến rộng rãi ở Hoa Kỳ và châu

Âu chỉ sau năm 19501

NQTM là phương thức kinh doanh mà thông qua đó BNQ có thể mở rộng được mạng lưới kinh doanh bằng việc cho phép BNhQ được hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa đã nổi tiếng trên thị trường Qua phương thức này, BNQ chiếm lĩnh được thị trường mới (trong và ngoài nước) một cách dễ dàng, bởi vì thông thường BNhQ phải chịu trách nhiệm về cơ sở kinh doanh của mình, tất cả các chi phí đầu tư để mở một cơ sở kinh doanh đều là của BNhQ nên họ rất quan tâm đến việc phát triển cơ sở kinh doanh mà mình đầu tư

Trong hoạt động NQTM, BNQ và BNhQ luôn xác lập với nhau một hợp đồng, nhằm ràng buộc về mặt pháp lý giữa các bên đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết khi phát sinh tranh chấp trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng

Theo Hiệp ước EEC, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thoả thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối

1 PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dương Anh Sơn (2007), Giáo trình Luật hợp đồng

thương mại quốc tế, Nxb.Đại học Quốc gia-Tp.Hồ Chí Minh, tr.234

Trang 12

với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực”2

Tại Đức, hợp đồng NQTM chỉ được xem là một loại hợp đồng hợp tác để phân phối sản phẩm, chứ không phải là một hợp đồng đặc thù Nó chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh với hợp đồng phân phối hàng hóa, dịch vụ với các đặc tính: thứ nhất, trong hợp đồng NQTM, quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ từ phía BNQ cho BNhQ không nhất thiết phải tồn tại với lý do BNhQ có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm; thứ hai, BNQ trao toàn bộ “quyền thương mại” dưới một thể thống nhất cho BNhQ; thứ ba, BNhQ vẫn có tên thương mại của mình trong con mắt pháp luật, mặc

dù dịch vụ hoặc hàng hoá mà bên này cung cấp trên thị trường lại không mang tên thương mại đã đăng ký với nhà nước3

Ở Việt Nam, Điều 285 Luật Thương mại 2005 có quy định Hợp đồng nhượng quyền thương mại nhưng chỉ nói về hình thức hợp đồng và tại Nghị định số 35/2006/NĐ-CP đã có hai định nghĩa khá rõ về hợp đồng phát triển quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp, nhưng lại chưa đưa ra một định

nghĩa về hợp đồng NQTM Tuy nhiên, dựa vào định nghĩa về hoạt động NQTM tại Điều 284 Luật Thương mại 2005 và các quy định pháp luật liên quan, hợp đồng NQTM theo pháp luật Việt Nam có thể được định nghĩa như sau:

“Hợp đồng nhượng quyền thương mại là thỏa thuận giữa bên nhượng quyền

và bên nhận quyền, trong đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền

tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:

- Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

- Bên nhượng quyền được nhận khoản tiền nhượng quyền, có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”4

Trang 13

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Từ những định nghĩa trên, có thể đưa ra các đặc điểm của hợp đồng NQTM như sau:

- Hợp đồng NQTM là hợp đồng song vụ, dài hạn Hợp đồng NQTM ghi nhận

sự thỏa thuận của BNQ và BNhQ trong việc chuyển giao quyền kinh doanh các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ của BNQ để tiến hành hoạt động kinh doanh, đổi lại, BNhQ có nghĩa vụ trả phí nhượng quyền BNhQ phải luôn đầu tư để đáp ứng và duy trì các yêu cầu của BNQ, vì vậy, BNhQ cần có một thời gian đủ dài để khoản đầu tư đó được khấu hao và đem lại lợi nhuận Thực tiễn cho thấy, hợp đồng NQTM thường có thời hạn năm năm với các điều khoản gia hạn hợp đồng thêm một thời gian tương ứng và không giới hạn số lần gia hạn5

- Đối tượng của hợp đồng NQTM là quyền thương mại BNQ cho phép và yêu cầu BNhQ tự mình tiến hành công việc kinh doanh cùng hàng hóa hoặc dịch

vụ theo một hệ thống do BNQ quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bí mật kinh doanh, quảng cáo của BNQ Quyền thương mại không đơn thuần là từng

quyền riêng biệt đã nêu trên mà nó là sự tổ hợp các quyền đó “Tổ hợp” có ý

nghĩa khẳng định các quyền được giao không phải là từng quyền riêng biệt mà

là một đối tượng thống nhất để đạt được mục đích của hợp đồng NQTM6

Chính sự chuyển giao các tổ hợp quyền đã tạo nên sự khác biệt của cơ sở kinh doanh trong hệ thống NQTM, giúp phân biệt với các đối thủ cạnh tranh khác

- Chủ thể của hợp đồng NQTM là các bên tham gia hợp đồng, bao gồm BNQ (Franchisor) và BNhQ (Franchisee) Theo Luật Thương mại 2005, BNQ và BNhQ phải là thương nhân tại thời điểm ký kết hợp đồng NQTM BNQ là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả BNQ sơ cấp và BNQ thứ cấp (Sub-franchisor), phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP như: hệ thống nhượng quyền hoạt động ít nhất một năm, đã đăng ký hoạt động NQTM với cơ quan nhà nước, đối tượng của quyền thương mại phải là hàng hóa được phép kinh doanh BNhQ là thương nhân nhận quyền thương mại, phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại BNhQ luôn là bên yếu thế hơn của hợp đồng, bởi vì hoạt động thương mại có được khi ký kết hợp đồng NQTM

5

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hóa và dịch

vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.339

6

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dương Anh Sơn (2007), tldd, tr.238

Trang 14

đối với họ là hoàn toàn mới mẻ, họ không có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh tương ứng, trong khi đó, lĩnh vực này đối với BNQ hoàn toàn quen thuộc và trong nhiều trường hợp vị trí kinh tế của họ cũng vững vàng hơn Do

đó, để bảo vệ BNhQ thì hợp đồng NQTM có quy định như: BNhQ được độc quyền kinh doanh dưới các quyền thương mại của BNQ trong phạm vi lãnh thổ đã được xác định trong hợp đồng; hay BNhQ được quyền ưu tiên gia hạn khi hết hạn hợp đồng

- Hợp đồng NQTM phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương, đối với hợp đồng NQTM từ nước ngoài vào Việt Nam thì phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Trong đó, các hình thức có giá trị tương đương văn bản gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật7 Hợp đồng NQTM chỉ được công nhận hiệu lực pháp lý khi giao kết bằng văn bản Nếu giao kết bằng hình thức khác như lời nói hay hành động, thì hợp đồng có thể có hiệu lực với các bên nhưng nếu có tranh chấp xảy ra, được giải quyết tại Tòa án thì trường hợp này có thể

bị tuyên bố vô hiệu

- BNQ và BNhQ có mối quan hệ mật thiết với nhau BNQ có nghĩa vụ đảm bảo việc giao cho BNhQ tổ hợp các quyền theo quy định của hợp đồng Theo đó, BNQ chuyển giao cho BNhQ tất cả các tài liệu kỹ thuật và tài liệu thương mại, các tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền Trong suốt thời hạn hợp đồng BNQ phải hướng dẫn, giúp đỡ kỹ thuật, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên BNhQ Khi có bất kỳ sự thay đổi nào trong tổ hợp các quyền được giao, BNQ có nghĩa vụ bổ sung để phát triển và hoàn thiện tổ hợp các quyền này Đây là một nghĩa vụ cho thấy rõ được mối quan hệ giữa BNQ và BNhQ mà mối quan hệ này không thể có được trong các hợp đồng thương mại khác BNhQ phải tuân thủ tổ hợp các quyền được giao, trả phí nhượng quyền và các khoản thanh toán khác cho BNQ theo thỏa thuận Hơn nữa, khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, BNhQ phải chịu sự kiểm tra, giám sát của BNQ8

BNQ có thể chịu trách nhiệm liên đới với BNhQ trong trường hợp hàng hóa

do BNhQ sản xuất trên cơ sở hợp đồng NQTM kém chất lượng (không phải

do khối lượng, loại hàng, đồng bộ, thời hạn và những điều kiện hợp đồng khác của BNhQ với khách hàng của mình) nếu trong hợp đồng có quy định điều

Trang 15

này một cách gián tiếp hay trực tiếp9 Thậm chí khi hợp đồng NQTM chấm dứt các chủ thể này vẫn có mối liên hệ với nhau như BNhQ không được tiết lộ

bí mật kinh doanh đã được nhượng quyền

- Phí nhượng quyền là khoản phí mà BNhQ phải trả cho bên BNQ, đổi lại, họ được nhận quyền thương mại cũng như sự hỗ trợ của BNQ Thông thường, có hai loại phí nhượng quyền đó là phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền hàng tháng

- Trong hợp đồng NQTM chứa đựng những thỏa thuận liên quan đến hạn chế cạnh tranh Các bên có thể quy định về vấn đề phân chia thị trường, bao gồm phân chia lãnh thổ và phân chia khách hàng Trong thỏa thuận về phân chia lãnh thổ thể hiện ở điều khoản về địa điểm bán hàng Theo đó, BNQ cấm BNhQ không được bán hàng ngoài phạm vi của mình; cấm BNhQ mở cửa hiệu thứ hai trong thời hạn hợp đồng hoặc sau khi hết hạn; cấm BNhQ mở một của hiệu có đặc điểm giống hệt hoặc tương tự trong một khu vực mà BNhQ có thể cạnh tranh với thành viên của mạng lưới NQTM trong thời hạn hợp đồng hoặc khi hợp đồng chấm dứt…Những quy định này nhằm hạn chế BNhQ cạnh tranh với BNQ hoặc các BNhQ khác Về thỏa thuận phân chia khách hàng như: BNQ đảm bảo không tranh giành khách hàng với BNhQ; cấm BNhQ quảng cáo ngoài phạm vi của mình vì hành động này có thể dẫn đến việc dịch chuyển khách hàng; cấm BNhQ bán lại hàng hoá không mang nhãn hiệu của BNQ…Ngoài ra, BNQ còn ấn định giá bán cho các thành viên trong hệ thống NQTM Những điều khoản độc quyền này thường dẫn đến hạn chế cạnh tranh

và có thể bị điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh

1.1.3 Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại

Việc xác định được những loại hợp đồng NQTM khác nhau sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM Mỗi loại hợp đồng NQTM sẽ có những đặc điểm đặc trưng của nó, việc nghiên cứu vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM đối với những loại hợp đồng cụ thể sẽ góp phần làm rõ hơn các vấn

đề được quan tâm như các trường hợp dẫn đến chấm dứt hợp đồng hay hậu quả pháp

lý khi chấm dứt hợp đồng Vì vậy, việc phân loại hợp đồng NQTM là cần thiết NQTM tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do đó hợp đồng NQTM được phân loại dựa trên cách phân loại hoạt động NQTM theo các tiêu chí nhất định

9

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dương Anh Sơn (2007), tldd, tr.251

Trang 16

- Căn cứ vào mục đích của việc kinh doanh nhượng quyền ta có thể phân hợp đồng NQTM thành ba dạng cơ bản sau đây10

:

 Hợp đồng nhượng quyền bán sản phẩm (product franchise agreement) Theo hợp đồng này thì nhà sản xuất cấp cho BNhQ được bán sản phẩm của mình, BNhQ hành động với tư cách là một bên phân phối của BNQ

 Hợp đồng nhượng quyền gia công (process franchise agreement) Phương thức này cho phép BNhQ sử dụng một tiến trình, một công thức đặc biệt, một bí quyết và sử dụng tên nhượng quyền trong việc sản xuất, gia công của mình

 Hợp đồng nhượng quyền phương thức kinh doanh (business format franchise agreement) BNQ không chỉ cấp cho BNhQ quyền sử dụng tên

và bán sản phẩm, dịch vụ của BNQ mà còn chuyển giao cho BNhQ toàn

bộ cách thức kinh doanh độc đáo và riêng biệt mà BNQ đã thiết lập và phát triển Cụ thể, BNQ chuyển giao hệ thống hoạt động, chuyên môn kỹ thuật, hệ thống tiếp thị, hệ thống đào tạo, phương thức quản lý, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và tất cả các thông tin liên quan cho BNhQ Ngoài ra BNQ còn cung cấp đào tạo và hỗ trợ thường xuyên cho BNhQ

- Căn cứ vào hệ thống nhượng quyền ta có hợp đồng NQTM một cấp và hợp đồng NQTM nhiều cấp

 Hợp đồng NQTM một cấp có hai loại là hợp đồng NQTM mà BNhQ được cấp quyền thiết lập chỉ một cơ sở kinh doanh theo phương thức nhượng quyền duy nhất và hợp đồng phát triển quyền thương mại (area development agreement)

Hợp đồng NQTM mà BNhQ được cấp quyền thiết lập chỉ một cơ sở kinh doanh theo phương thức nhượng quyền duy nhất là hợp đồng NQTM mà theo đó BNQ tiến hành nhượng quyền trực tiếp cho từng đối tác riêng lẻ

để mở một cơ sở kinh doanh theo một hệ thống do BNQ quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của BNQ11 Đây chính là hình thức NQTM đơn giản và phổ biến nhất, thường áp dụng với các hình thức nhượng quyền trong nước

10

Nguyễn Vĩnh Long (2006), Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.14

11 Điểm a khoản 6 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại

Trang 17

Hợp đồng phát triển quyền thương mại là hợp đồng NQTM theo đó BNQ cấp cho BNhQ quyền được phép thành lập nhiều hơn một cơ sở của mình

để kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại trong phạm vi một đơn vị địa lý nhất định12 Khi tham gia vào hợp đồng này, BNhQ cam kết với BNQ sẽ mở rộng mạng lưới kinh doanh phát triển quyền thương mại theo một tiến trình cụ thể và phải trả phí Thông thường các bên sẽ ký với nhau một hợp đồng phát triển khu vực và các hợp đồng NQTM riêng cho từng cơ sở được thiết lập BNQ cũng có thể ký một hợp đồng duy nhất cho cả quá trình kinh doanh

 Hợp đồng NQTM nhiều cấp hay còn gọi là hợp đồng NQTM chung (Master franchise agreement) Theo đó, BNQ trao cho BNQ thứ cấp được phép cấp lại quyền thương mại cho các BNhQ thứ cấp Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức NQTM hai cấp BNhQ thứ cấp không được phép cấp lại quyền thương mại chung này Trong hệ thống NQTM hai cấp này tồn tại hai loại hợp đồng là hợp đồng NQTM chung và hợp đồng NQTM thứ cấp

Hợp đồng NQTM chung là hợp đồng NQTM được ký kết giữa BNQ và BNhQ sơ cấp BNQ là bên sở hữu một hệ thống nhượng quyền và các nhãn hiệu gắn với nó (franchisor); BNhQ sơ cấp là bên được BNQ giao nhiệm vụ nhượng quyền trong một khu vực địa lý nhất định (sub-franchisor) Theo hợp đồng này, BNhQ sơ cấp được quyền mở và điều hành các cơ sở kinh doanh theo phương thức NQTM và quyền cấp lại quyền thương mại cho chủ thể khác theo một lộ trình cam kết trước với BNQ

Hợp đồng NQTM thứ cấp là hợp đồng NQTM được ký kết giữa BNQ thứ cấp và BNhQ thứ cấp theo quyền thương mại chung BNQ thứ cấp là bên nhận quyền thương mại theo quyền thương mại chung, được phép cấp lại quyền thương mại cho BNhQ ở cấp tiếp theo BNhQ thứ cấp là bên được cấp lại quyền thương mại và BNhQ thứ cấp không được phép cấp lại quyền thương mại chung đó nữa BNQ thứ cấp có quyền thu phí nhượng quyền và có nghĩa vụ thay thế BNQ cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ, trợ giúp nhất định cho BNhQ thứ cấp

12

Khoản 8 Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại

Trang 18

Quan hệ nhượng quyền thương mại giữa BNQ với BNhQ sơ cấp (quan hệ hợp đồng NQTM chung) và giữa BNhQ sơ cấp đó với BNhQ thứ cấp (quan hệ hợp đồng NQTM thứ cấp) là độc lập về mặt pháp lý với nhau, bởi vậy các chủ thể của hai hợp đồng này phải tự tạo nên mối liên hệ với nhau, ví dụ như thỏa thuận trong hợp đồng NQTM thứ cấp về việc chấm dứt hợp đồng này trong trường hợp hợp đồng NQTM chung chấm dứt13

1.1.4 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

Sự hợp tác giữa các bên trong quan hệ NQTM được thể hiện thông qua hợp đồng NQTM Hợp đồng NQTM là kết quả của sự tự do và thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, là căn cứ pháp luật có giá trị ràng buộc cao nhất để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như là cơ sở để giải quyết tranh chấp Nằm trong quy luật vận động của các sự vật và hiện tượng nói chung, hợp đồng NQTM cũng trải qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và chấm dứt Tuy nhiên, khác với các sự vật, hiện tượng khác, hợp đồng NQTM bao giờ cũng được xác lập từ những hành vi có ý thức của các chủ thể Do đó, các sự kiện làm chấm dứt một hợp đồng NQTM không phải là các sự biến sinh ra do sự vận động của

tự nhiên mà đó là những sự kiện được xuất hiện từ hành vi có ý thức của các chủ thể hoặc do pháp luật quy định Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng có nhiều vấn đề nảy sinh dẫn đến chấm dứt hợp đồng NQTM Vì thế cần phải hiểu được thế nào là chấm dứt hợp đồng NQTM Để từ đó có thể hiểu rõ được bản chất của vấn đề,

tìm hiểu sâu hơn về các trường hợp chấm dứt và hậu quả của nó

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “chấm dứt” là làm dừng hẳn lại, kết thúc Chấm dứt hợp đồng có thể hiểu là kết thúc việc thực hiện các thỏa thuận mà các bên đã giao kết khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, làm cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng dừng hẳn lại, bên có nghĩa vụ không có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và bên có quyền không thể buộc bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nữa

BLDS 2005 và Luật TM 2005 không xây dựng một khái niệm cụ thể về chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên từ các quy định của pháp luật về các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự và hậu quả phát sinh thì chấm dứt hợp đồng NQTM có thể hiểu như sau:

Chấm dứt hợp đồng NQTM là hành vi pháp lý của BNQ, BNhQ hoặc theo quy định của pháp luật, theo đó quan hệ hợp đồng NQTM đã được xác lập giữa các

13Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hóa và dịch

vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.341-342.

Trang 19

bên sẽ chấm dứt; kể từ thời điểm chấm dứt, các bên không tiếp tục thực hiện quyền

và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng NQTM nữa, hay nói cách khác, các bên sẽ không còn chịu sự ràng buộc của hợp đồng

Luật Thương mại 2005 không quy định về chấm dứt hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng NQTM nói riêng Vì vậy, khi nghiên cứu về vấn đề này thì những quy định của BLDS 2005 được áp dụng Tại Điều 424 BLDS 2005 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự Theo đó, hợp đồng NQTM có thể chấm dứt trong các trường hợp như:

- Hợp đồng đã được hoàn thành;

- Theo thỏa thuận của các bên;

- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giải thể hoặc tuyên bố phá sản;

- Hợp đồng bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện

1.2 Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

Có thể thấy hoạt động NQTM là hoạt động có tích chất phức tạp và luôn liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của pháp luật Đặc biệt là vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM Về cơ bản các vấn đề pháp lý đặc thù của hợp đồng NQTM khi chấm dứt hợp đồng bao gồm các vấn đề chính như: các trường hợp chấm dứt hợp đồng NQTM, các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM, hậu quả pháp lý

của việc chấm dứt hợp đồng NQTM

1.2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hợp đồng NQTM có hiệu lực trong thời hạn được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, còn nếu hợp đồng được ký không xác định thời hạn thì sẽ có hiệu lực đến thời điểm hiệu lực của nó chấm dứt theo quy định của pháp luật hay thỏa thuận của các bên Vì vậy, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng NQTM được chấm dứt khi hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, trong một số trường hợp có thể chấm dứt trước hạn

Hợp đồng NQTM được chấm dứt khi hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng Lúc này các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ và được hưởng các lợi ích khi thực hiện xong hợp đồng Khi tham gia vào hệ thống NQTM, BNhQ đã đầu tư rất nhiều chi phí vào việc xây dựng hệ thống NQTM, BNhQ cũng đã có những đóng góp không nhỏ vào việc phát triển và mở rộng hệ thống nhượng quyền Nếu như hợp đồng chấm dứt vào thời điểm này thì BNhQ sẽ có những bất lợi khi mà việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền đang phát triển mà BNhQ phải chấm dứt thực hiện các hành vi khai thác quyền thương mại từ hợp đồng Vì vậy, trong hợp

Trang 20

đồng NQTM luôn có thêm điều khoản về việc gia hạn hợp đồng của BNhQ khi mà BNhQ muốn tiếp tục được tham gia vào hệ thống nhượng quyền Theo đó, BNhQ có thể tiếp tục ký hợp đồng NQTM với BNQ với các quyền và nghĩa vụ tương đương với hợp đồng cũ, hơn nữa, số lần gia hạn là không giới hạn

Đây là một quy định không chỉ bảo vệ riêng đối với BNhQ mà cả BNQ cũng

có những lợi ích nhất định Bởi vì, khi chấm dứt hợp đồng NQTM với một cơ sở nhượng quyền xác định, BNQ phải tìm kiếm đối tác khác phù hợp với các điều kiện nhượng quyền, sau đó phải bỏ thời gian đào tạo ban đầu, cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên Chi phí cho các công việc trên không phải là nhỏ và thời gian cũng tương đối dài Trong khi, nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng NQTM với BNhQ thì BNQ sẽ không phải mất những chi phí đó, hơn nữa, BNhQ lại không vi phạm hợp đồng Vì thế, gia hạn hợp đồng đều mang lại lợi ích cho cả hai bên

Hợp đồng NQTM là quan hệ hợp đồng ổn định, liên tục và lâu dài Do vậy, pháp luật cho phép các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng có thể chấm dứt trước thời hạn theo sự thỏa thuận của các bên; hoặc khi không đảm bảo các yêu cầu về mặt pháp lý (phá sản, giải thể, không đáp ứng điều kiện luật định) hoặc một trong các bên

Hợp đồng có thể chấm dứt hiệu lực trước thời hạn trong trường hợp khi một trong các bên không đảm bảo các yêu cầu về mặt pháp lý (giải thể hoặc tuyên bố phá sản) Pháp luật quy định chủ thể của hợp đồng NQTM phải là thương nhân, tồn tại một cách hợp pháp, có quyền hoạt động thương mại phù hợp với đối tượng được nhượng quyền Như vậy, khi mà BNQ hoặc BNhQ bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản thì chủ thể thực hiện hợp đồng đã không còn nữa, hợp đồng NQTM chấm dứt trong trường hợp này

Quá trình thực hiện hợp đồng NQTM là một quá trình tương đối dài Khi thực hiện hợp đồng, các bên không thể tránh khỏi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Chính những vi phạm đó có thể làm cho hợp đồng NQTM bị chấm dứt Nội dung của hợp đồng NQTM luôn được xây dựng bởi BNQ, vì vậy, những điều khoản chấm dứt

14

PGS-TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dương Anh Sơn (2007), tldd, tr.252

Trang 21

thường được BNQ đưa ra đối với BNhQ khi BNhQ vi phạm nghĩa vụ Tùy thuộc vào loại vi phạm và mức độ vi phạm của BNhQ mà BNQ chấm dứt hợp đồng NQTM ngay lập tức hay không Có những vi phạm mà BNQ cho đó là những vi phạm cơ bản, không cần xem xét tới khả năng khắc phục của BNhQ để chấm dứt hợp đồng NQTM Cũng có những vi phạm mà BNQ cho phép BNhQ khắc phục trong một khoảng thời gian quy định, mà hết thời hạn đó nếu BNhQ không thể khắc phục thì BNQ chấm dứt hợp đồng Hoặc hợp đồng NQTM cũng có thể chấm dứt khi mà BNhQ lặp đi lặp lại vi phạm trong thời gian quy định, mặc dù trước đó vi phạm này

đã được khắc phục BNhQ có thể chấm dứt hợp đồng NQTM với BNQ khi mà BNQ

vi phạm các nghĩa vụ được quy định tại Điều 287 Luật Thương mại 2005

Bên cạnh những trường hợp làm cho hợp đồng NQTM chấm dứt đã nêu ở trên, thì đối với một số hợp đồng NQTM còn có những vi phạm đặc thù có thể dẫn tới chấm dứt hợp đồng

Đối với hợp đồng phát triển quyền thương mại thì hợp đồng NQTM này cũng

có thể chấm dứt khi mà một trong số các cơ sở nhận quyền có vi phạm Việc chấm dứt hợp đồng riêng đối với từng cơ sở nhận quyền có thể dẫn tới việc chấm dứt hợp đồng phát triển quyền thương mại (hợp đồng chính) Bất kỳ vi phạm nào của cơ sở nhận quyền cũng làm cho hợp đồng chính chấm dứt hay BNQ dựa vào những căn cứ

cụ thể, xác đáng mới có quyền chấm dứt hợp đồng chính Đây là một vấn đề mà các bên khi tham gia vào hệ thống NQTM dưới hình thức phát triển quyền thương mại cần quan tâm Bởi vì khi một cơ sở nhận quyền vi phạm không có nghĩa là các cơ sở nhận quyền còn lại của BNhQ cũng vi phạm Việc chấm dứt hợp đồng riêng với cơ

sở nhận quyền có vi phạm sẽ không ảnh hưởng nhiều đến các bên trong hoạt động nhượng quyền nếu không làm chấm dứt hợp đồng chính Ngược lại, nếu việc chấm dứt hợp đồng với cơ sở nhận quyền có vi phạm dẫn đến hợp đồng chính chấm dứt thì các cơ sở còn lại của BNhQ cũng chấm dứt theo hợp đồng phát triển quyền thương mại Theo đó, BNhQ sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, tổn thất gây ra không phải nhỏ khi mà hàng loạt các cơ sở nhận quyền chấm dứt hoạt động Hơn nữa, BNhQ không đáp ứng đúng các tiến độ phát triển cam kết trong hợp đồng thì cũng là lý do dẫn đến hợp đồng bị chấm dứt

Hợp đồng NQTM chung cũng có quy định BNhQ sơ cấp phải thực hiện đúng

lộ trình mở rộng mạng lưới nhượng quyền theo kế hoạch đã thỏa thuận Nếu mục tiêu này không đạt được thì đây là cơ sở để BNQ chấm dứt hợp đồng

Trang 22

1.2.2 Các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trong hoạt động NQTM, BNhQ đã có một thời gian dài tiếp xúc với hệ thống nhượng quyền của BNQ, đã nắm được các quy trình, bí mật kinh doanh, trong một số trường hợp BNhQ đã đủ tự tin tách khỏi BNQ, không cần dựa vào trợ giúp của BNQ

mà vẫn có thể hoạt động tốt Hơn nữa, khi mà BNhQ có thể tự mình kinh doanh phát đạt mà lại phải trả phí nhượng quyền cho BNQ, để thoát khỏi sự kiểm soát của BNQ

có thể họ sẽ vi phạm nghĩa vụ để có lý do chấm dứt hợp đồng Vì vậy, BNQ để bảo

vệ hệ thống NQTM cần có những điều khoản để hạn chế được phần nào rủi ro cho mình và các BNhQ còn lại BNQ thường tạo ra một cơ sở pháp lý được xây dựng trong hợp đồng NQTM đó là các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng Trong các điều khoản này, BNQ thường quy định cho BNhQ các nghĩa vụ phải tuân thủ sau khi chấm dứt hợp đồng và các hạn chế áp đặt sau khi chấm dứt

Thứ nhất, nghĩa vụ phải tuân thủ sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM, BNhQ phải chuyển giao danh sách, thông tin chi tiết về khách hàng tiềm năng và các hợp đồng liên quan đến hệ thống NQTM BNhQ thanh toán các khoản nợ, hoàn trả cẩm nang vận hành, các tài liệu thiết bị khác liên quan đến hệ thống nhượng quyền Như vậy, với điều khoản này, BNQ đã tạo được cho mình một cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ hệ thống NQTM của mình khỏi BNhQ sau khi chấm dứt, đảm bảo quyền thương mại của BNQ vẫn còn giá trị pháp lý và cả thực tiễn, bí quyết kinh doanh không bị bộc lộ ra bên ngoài

Thứ hai, các hạn chế áp đặt sau khi chấm dứt hợp đồng NQTM BNQ quy định các điều khoản không cạnh tranh đối với BNhQ, theo đó, BNhQ không được tiến hành các hoạt động kinh doanh cạnh tranh với hệ thống NQTM trong phạm vi lãnh thổ và thời gian được quy định sau khi chấm dứt BNhQ không được lôi kéo các

tổ chức cá nhân từng là khách hàng của BNhQ trong phạm vi lãnh thổ và thời hạn quy định sau khi chấm dứt hợp đồng Hơn nữa, BNQ không cho phép BNhQ lôi kéo người lao động/nhân viên của BNQ và các BNhQ khác trong phạm vi và lãnh thổ được quy định sau khi chấm dứt hợp đồng Sở dĩ, BNQ phải quy định những điều khoản này trong hợp đồng là để phần nào ngăn cản BNhQ sử dụng những điều đã có được khi còn nằm trong hệ thống nhượng quyền với mục đích xây dựng một cơ sở kinh doanh khác cạnh tranh với BNQ

Trang 23

1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại

Bất kỳ hợp đồng nào khi chấm dứt cũng mang lại những hậu quả cho cả hai bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng Trong hoạt động NQTM cũng vậy, khi hợp đồng chấm dứt vì lý do gì thì cũng mang lại cho các bên những hậu quả pháp lý nhất định Khi hợp đồng NQTM chấm dứt, các bên không tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng NQTM là một hoạt động thương mại có những đặc trưng riêng biệt cho nên, khi chấm dứt hợp đồng, sự ràng buộc giữa BNQ và BNhQ vẫn còn tồn tại Đó là các điều khoản mà BNhQ phải tuân thủ sau khi chấm dứt

Trong phần này, tác giả sẽ đề cập đến hậu quả phát sinh đối với hai loại hợp đồng NQTM cụ thể, phổ biến đó là hợp đồng phát triển quyền thương mại và hợp đồng NQTM chung

Khi tìm hiểu về hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng phát triển quyền thương mại có ba vấn đề chính cần được quan tâm nghiên cứu Thứ nhất, việc mất đi quyền phát triển sẽ ảnh hưởng đến các cơ sở đang hoạt động BNhQ không được mở các cửa hàng mới, những thành quả mà BNhQ làm được trong suốt thời gian tham gia vào hệ thống nhượng quyền thuộc hoàn toàn về BNQ, BNhQ không được hưởng Thứ hai, hợp đồng phát triển quyền thương mại chấm dứt sẽ dẫn đến chấm dứt hợp đồng NQTM riêng cho từng cơ sở Các cơ sở của BNhQ lúc này cũng phải ngừng sử dụng các quyền thương mại, do vậy, BNhQ sẽ phải gánh chịu rất nhiều thiệt hại về tài chính khi đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống NQTM này Thứ ba, hậu quả của việc chấm dứt phải được áp dụng như nhau đối với các BNhQ

Đối với hợp đồng NQTM chung, BNQ sơ cấp và BNQ thứ cấp sẽ ký với nhau hợp đồng NQTM chung, BNQ thứ cấp và BNhQ thứ cấp sẽ giao kết hợp đồng NQTM thứ cấp Hệ thống NQTM hai cấp phức tạp do đó khi chấm dứt hợp đồng NQTM chung (ở cấp thứ nhất) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến BNhQ thứ cấp Chính vì vậy, các bên khi ký kết hợp đồng NQTM chung, để không ảnh hưởng nhiều đến hệ thống nhượng quyền, trong hợp đồng thường quy định một điều khoản về chuyển giao hợp đồng NQTM thứ cấp của BNQ thứ cấp cho BNQ sơ cấp Từ đó, nhiều vấn

đề giải quyết hậu quả khi hợp đồng NQTM chung chấm dứt phát sinh như: BNQ thứ cấp chỉ chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đối với BNhQ thứ cấp cho BNQ sơ cấp, liệu rằng hệ thống nhượng quyền thuộc quyền sở hữu của BNQ thứ cấp

có chuyển giao cho BNQ sơ cấp hay không và BNQ thứ cấp được những lợi ích gì

Trang 24

BNQ sơ cấp có nghĩa vụ phải tiếp nhận các cơ sở nhận quyền từ BNQ thứ cấp không, đặc biệt khi hệ thống được vận hành yếu kém Những vấn đề này sẽ được đề cập rõ ở Chương 2

Bên cạnh đó, một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên còn lại thì bên vi phạm có trách nhiệm phải bồi thường các tổn thất

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kinh doanh bằng mô hình NQTM đã không còn quá xa lạ đối với các thương nhân ở Việt Nam, sức hấp dẫn và những ưu điểm của nó đã được chứng minh qua thực tiễn trong những năm gần đây Tính đến nay, có khoảng 101 hệ thống NQTM từ nước ngoài vào Việt Nam, cho thấy thị trường NQTM ở Việt Nam đang rất được chú trọng15 NQTM là một phương thức kinh doanh, trong đó BNQ cho phép BNhQ độc lập với BNQ về tư cách pháp lý, được cùng khai thác giá trị thương mại của BNQ gồm các yếu tố thuộc đối tượng của sở hữu trí tuệ như: tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ, bí mật kinh doanh, quảng cáo, khẩu hiệu…Hoạt động của BNQ và các BNhQ tạo thành một hệ thống NQTM đồng bộ, thống nhất với nhau về quyền lợi

và lợi ích

Hợp đồng NQTM quy định các quyền và nghĩa vụ cho các bên, tạo nên một

cơ sở pháp lý cho các bên khi thực hiện NQTM cũng như giải quyết tranh chấp nếu

có Hợp đồng NQTM có những đặc điểm đặc trưng như: thời hạn, đối tượng của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, hình thức, mối quan hệ giữa BNQ và BNhQ, phí nhượng quyền, các điều khoản quy định trong hợp đồng NQTM liên quan đến pháp luật cạnh tranh Việc tìm hiểu về những đặc trưng của hợp đồng NQTM có ích rất nhiều trong việc phân biệt hợp đồng NQTM với các hợp đồng thương mại khác, từ

đó các vấn đề về chấm dứt hợp đồng NQTM sẽ được tìm hiểu đúng đắn và rõ ràng

Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà ta có các loại hợp đồng khác nhau Hiện nay, khi nghiên cứu về NQTM, hệ thống NQTM cho thấy rõ các đặc trưng của hoạt động NQTM đó là hệ thống NQTM một cấp và hệ thống NQTM hai cấp Tương ứng với mỗi hệ thống nhượng quyền sẽ có những hợp đồng tương ứng được thiết lập Hợp đồng NQTM một cấp thường được áp dụng đối với các hình thức nhượng quyền trong nước, giữa các thương nhân trong một quốc gia với nhau Hợp đồng NQTM hai cấp thường được áp dụng với hoạt động NQTM có yếu tố nước ngoài Khi BNQ muốn mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình, đưa tên tuổi của BNQ đến với khách hàng nhiều hơn phạm vi một quốc gia thì lúc này hợp đồng NQTM chung nên được

15

http://www.moit.gov.vn/vn/pages/Thongke.aspx?Machuyende=TK&ChudeID=61

Trang 25

xem xét Bởi vì, với việc mở rộng hệ thống kinh doanh ở một quốc gia khác sẽ là khó khăn với BNQ do BNQ không thể am hiểu về đất nước cũng như con người ở quốc gia này bằng thương nhân địa phương Vì vậy, để tiết kiệm chi phí cho việc tìm kiếm thị trường, BNQ thường ký kết hợp đồng NQTM chung với BNQ thứ cấp Hợp đồng NQTM được phân thành nhiều loại khác nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau Do đó, việc nghiên cứu về chấm dứt hợp đồng NQTM với mỗi loại hợp đồng cũng sẽ có sự khác biệt Vì vậy, việc phân loại hợp đồng NQTM sẽ giúp việc nghiên cứu được rõ ràng, cụ thể hơn

Chấm dứt hợp đồng NQTM là một vấn đề pháp lý mà đòi hỏi các bên tham gia hoạt động NQTM cần đặc biệt quan tâm Pháp luật nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam cũng quan tâm về vấn đề này Những vấn đề mà pháp luật cần quan tâm khi nghiên cứu về chấm dứt hợp đồng NQTM như: các trường hợp chấm dứt hợp đồng, các điều khoản sau khi chấm dứt hợp đồng, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại (nếu có) Những quy định này, phần nào cũng đảm bảo các giá trị pháp lý khi các bên khi tham gia vào hoạt động NQTM, đảm bảo quyền lợi ích của các bên và sự ổn định của nền kinh tế

Trang 26

CHƯƠNG 2: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Ở Việt Nam, NQTM xuất hiện vào giữa thập niên 90, khi mà đồng loạt hệ thống các quán cà phê Trung Nguyên được hình thành trên khắp mọi miền đất nước Mặc dù, cách làm của Trung Nguyên lúc đó không hoàn toàn là NQTM, nhưng cũng phần nào thể hiện được những đặc trưng cơ bản của phương thức NQTM Hay Phở

24, bánh ngọt Kinh Đô, hàng thời trang Foci (Công ty dệt may Nguyên Tâm), Công

ty cổ phần kiến trúc xây dựng Nhà Vui là những ví dụ về các doanh nghiệp thực hiện hoạt động NQTM16

Trong thời gian đó, khái niệm NQTM gần như xa lạ, chưa được luật hóa Năm

1998, lần đầu tiên Thông tư 1254/BKHCN/1998 hướng dẫn Nghị định 45/CP/1998

về chuyển giao công nghệ, tại mục 4.1.1, đề cập đến cụm từ “hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh – tiếng Anh gọi là franchise ”17

Tháng 02/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 11/2005/NĐ-CP về chuyển giao công nghệ, trong đó quy định cấp phép đặc quyền kinh doanh cũng được xem là chuyển giao công nghệ, chịu sự điều chỉnh của nghị định này Tiếp đến, tại Điều 755 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định rằng hành vi cấp phép đặc quyền kinh doanh

là một trong các đối tượng chuyển giao công nghệ Như vậy, trước khi có Luật Thương mại 2005 thì những quy định về hoạt động NQTM được coi như là một hoạt động chuyển giao công nghệ đơn thuần

Kể từ năm 2006, NQTM chính thức được luật hoá và công nhận Luật Thương mại 2005 (có hiệu lực từ 01/01/2006) đã dành nguyên Mục 8 Chương VI để quy định

về hoạt động nhượng quyền thương mại Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, tiếp theo đó là Thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và Nghị định 120/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w