1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp biển đông bằng con đường tài phán theo công ước của liên hợp quốc về luật biển 1982

62 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/613585/trung-quoc-keo-gian-khoan-thu-hai-vao-bien-được đề cập trong công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thị Thu Hường 2013, “Đánh giá khả năng sử dụn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

-

LÊ THỊ DIỆU LINH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG BẰNG CON ĐƯỜNG TÀI PHÁN THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2010 - 2014

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

-

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG BẰNG CON ĐƯỜNG TÀI PHÁN THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN

NĂM 1982 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

GV HƯỚNG DẪN : ThS NGUYỄN THỊ VÂN HUYỀN

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả.Toàn bộ nội dung nghiên cứu trong khóa luận là do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Vân Huyền

Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Lê Thị Diệu Linh

Trang 4

Tiếp đến, tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Luật Quốc

tế, Cô giáo cố vấn học tập đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện tốt công trình nghiên cứu của mình Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân

thành đếnCô giáo Nguyễn Thị Vân Huyền.Cảm ơn Cô đã tận tình chỉ bảo, giúp

đỡ, định hướng để tác giả hoàn thành tốt khóa luận này

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè,các bạn sinh viên của lớp Quốc tế 35.4 đã động viên tinh thần trong suốt quá trình tác giả thực hiện công trình nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tác giả xin kính chúc quý Thầy, Cô nhiều sức khỏe và thành công trong công tác

Trang 5

United Nations Convention

on the Law of the Sea

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982

2 ICJ International Court of Justice Tòa án Công lý quốc tế

3 Hiến chương Charter of United Nations Hiến chương Liên hợp

quốc năm 1945

4 Tuyên bố 1970

Declaration on Principles of International Law concerning Friendly relations and Coperation among States in accordance with the Charter

of United Nations

Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế liên quan đến quan hệ thân thiện và hợp tác giữa các quốc gia theo Hiến chương Liên hợp quốc năm 1970

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1 BIỂN ĐÔNG VÀ LỊCH SỬ TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG 7

1.1 Biển Đông 7

1.2 Lịch sử tranh chấp trên Biển Đông 11

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP TÀI PHÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 21

2.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp bằng con đường tài phán 21

2.1.1 Tranh chấp, tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế về biển 21

2.1.1.1 Khái niệm tranh chấp, tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế về biển 21 2.1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế về biển 24

2.1.1.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế về biển 25

2.1.2 Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng con đường tài phán 27

2.2 Các biện pháp giải quyết tranh chấp biển bằng tài phán theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 30

2.2.1 Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) 30

2.2.1.1 Khái quát về Tòa án Công lý quốc tế 30

2.2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án Công lý quốc tế 31

2.2.1.3 Thẩm quyền của Tòa án Công lý quốc tế 31

2.2.1.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án Công lý quốc tế 32

2.2.2 Tòa án quốc tế về Luật biển 35

Trang 7

2.2.2.1 Khái quát về Tòa án quốc tế về Luật biển 35

2.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế về Luật biển 35

2.2.2.3 Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về Luật biển 36

2.2.2.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án quốc tế về Luật biển 36

2.2.3 Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 39

2.2.3.1 Thẩm quyền của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển 40

2.2.3.2 Cách thức thành lập của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển 40

2.2.3.3 Thủ tục tố tụng tại Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển 41

2.2.3.4 Giá trị pháp lý của phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển 42 2.2.4 Tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo Phụ lục VIII của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 43

2.2.4.1 Chức năng của Tòa trọng tài đặc biệt 44

2.2.4.2 Thẩm quyền của Tòa trọng tài đặc biệt 44

2.2.4.3 Cách thức thành lập của Tòa trọng tài đặc biệt 45

2.2.4.4 Thủ tục tố tụng tại Tòa trọng tài đặc biệt 46

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TÀI PHÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIỂN KIẾN NGHỊ CHO VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY 48

3.1 Thực tiễn áp dụngbiện pháp tài phán giải quyết tranh chấp về biển theo Công ước 1982 48

3.1.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp tài phán giải quyết tranh chấp về biển trên thế giới 48

3.1.1.1 Vụ tranh chấp ngư trường Anh – Na Uy năm 1951 49

Trang 8

3.1.1.2 Vụ tranh chấp Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 50

3.1.1.3 Vụ kiện của Philippines phản đối yêu sách “đường lưỡi bò”của Trung Quốc trên Biển Đông 51

3.1.2 Thực tiễn tranh chấp liên quan đến Việt Nam tại Biển Đông 55

3.2 Những kiến nghị nhằm giải quyết tranh chấp Biển Đông tại Việt Nam 58

3.2.1 Đối với Tranh chấp Hoàng Sa, Trường sa 59

3.2.2 Đối với “đường lưỡi bò” phi pháp của Trung Quốc 61

KẾT LUẬN 63

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Biển Đông nằm ở trung tâm Đông Nam Á, có tầm quan trọng về nhiều mặt như phát triển kinh tế, vận tải biển và an ninh quốc phòng không chỉ với các nước nằm trong khu vực mà còn với các cường quốc khác trên thế giới Với nguồn lợi và vai trò to lớn như vậy, Biển Đông được xem là trọng tâm mà các quốc gia hướng tới trong chiến lược phát triển và hưng thịnh đất nước Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tranh chấp trong việc phân định chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển cũng như các đảo và quần đảo trong khu vực này ngày một căng thẳng, đe dọa đến hòa bình và an ninh trong khu vực

Là vùng lãnh thổ không thể tách rời, Việt Nam luôn quan tâm, chú trọng bảo vệ từng tấc biển, bởi với dân tộc Việt Nam, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng, cao quý Thế nhưng gần đây, các cuộc tranh chấp về chủ quyền trên biển ngày càng căng thẳng, phức tạp mà tranh chấp lớn nhất

là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang theo chiều hướng xấu đi, chưa có giải pháp nào hữu hiệu để giải quyết Tàu của ngư dân Việt Nam bị phía Trung Quốc phá hủy, đâm chìm; ngư dân Việt Nam bị đánh đập trong khi đánh bắt trên chính vùng biển của mình Những hành động ngang ngược của Trung Quốc không còn là sự kiện ngẫu nhiên mà đã trở thành một sách lược trong mưu đồ xác định chủ quyền, hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” trên biển.Trước tình hình đó, việc đảm bảo cuộc sống của ngư dân trên biển và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết

Thực hiện đúng nguyên tắc của Luật quốc tế nói chung và Luật biển nói riêng, Việt Nam luôn giải quyết mọi tranh chấp với tinh thần hòa bình, thiện chí, tránh gây va chạm ảnh hưởng đến mối quan hệ láng giềng đã có từ lâu đời với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Nhưng mọi cuộc đàm phán, thương lượng đều không mang lại kết quả khả quan nào Minh chứng là sự kiện gần đây nhất, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD-981 trái phép vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam vào ngày 2 tháng 5 năm 2014, Việt Nam đã tiến hành hơn 30 lần tiếp xúc với các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc nhưng phía Trung Quốc vẫn từ chối đàm phán thực chất1(tính đến thời điểm ngày 19 tháng 6 năm 2014) Đỉnh điểm vào ngày 18-6-2014, trong chuyến đến Việt Nam tham dự cuộc họp Ban chỉ đạo hợp tác Việt Nam – Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện

Trung Quốc Dương Khiết Trì đã khẳng định rằng: “Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc coi

trọng phát triển quan hệ hữu nghị với Việt Nam, nhất trí hai bên cần sớm ổn định tình hình trên biển, kiềm chế không để xảy ra xung đột, không để quan hệ hai nước xấu đi, cùng nhau nỗ lực thúc

1 Báo Tin Tức – Thông tấn xã Việt Nam:

Trang 10

đẩy các mặt hợp tác giữa hai nước để có những bước phát triển sâu rộng và thực chất hơn nữa” Tuy nhiên, thực tế sau đó một ngày, ngày 19.6, Trung Quốc đã kéo giàn khoan thứ hai vào Biển Đông, cụ thể là từ toạ độ 17 độ 38 vĩ Bắc, 110 độ 12 phút 3 kinh Đông tới vị trí có tọa độ 17 độ 14 phút 6 vĩ Bắc, 109 độ 31 phút kinh Đông3

để tiếp tục khai thác trong khi tranh chấp vẫn đang diễn

ra căng thẳng, tiềm ẩn nguy cơ xung đột

Những cam kết “hòa bình, hữu nghị”, “gác tranh chấp cùng khai thác” với Trung Quốc thực

tế chỉ là những lời nói mang tính “ngoại giao” ngoài mặt và Trung Quốc đã không thực hiện biện pháp nào như đã cam kết để cải thiện tình trạng tranh chấp bất ổn hiện nay

Tranh chấp Biển Đông rất phức tạp và càng lúc lại kéo theo sự can thiệp của nhiều quốc gia Những tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông gây nên những hậu quả nặng nề mà Việt Nam có thể sẽ là quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất.Do đó, vấn đề bức thiết hiện nay là cần có một giải pháp

phù hợp và thiết thực để giải quyết Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp

Biển Đông bằng con đường tài phán theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”

làm đề tài Tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Biển Đông từ lâu đã trở thành vấn đề được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế cũng như các học giả.Riêng đối với khía cạnh tranh chấp về biển, đã có khá nhiều công trình của các nhà nghiên cứu Có thể kể ra một số nhà nghiên cứu rất tâm huyết trong vấn đề này như tác giả Nguyễn Hồng Thao hay tác giả Ngô Hữu Phước với các bài nghiên cứu đã được xuất bản như: Ngô Hữu Phước

(2010), Luật quốc tế, NXB Chính trị quốc gia; Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về

Luật biển quốc tế, NXB.Công an nhân dân Hà Nội; Nguyễn Hồng Thao (2000), Tòa án Công lý quốc tế, NXB Chính trị quốc gia; Nguyễn Hồng Thao (2006), Tòa án quốc tế về luật biển, NXB

Tư pháp Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu khác được đăng trên các tạp chí Luật học: Nguyễn Hồng Thao (1997), “Tòa án quốc tế về Luật biển và thủ tục giải quyết tranh chấp biển”,

Tạp chí Nhà nước và pháp luậtsố 109 tháng 5/1997; Nguyễn Hồng Thao (2011), “Khả năng sử

dụng Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển trong tranh chấp Biển Đông”, Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, số 17 (202) tháng 9/2011; Ngô Hữu Phước (2011), “Tìm giải pháp hiệu quả để giải quyết

tranh chấp Biển Đông”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2011; Ngô Hữu Phước (2013), “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”, Tạp

chí Khoa học Pháp lý, số 5/2013 Vấn đề giải quyết tranh chấp biển bằng con đường tài phán còn

Trang 11

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/613585/trung-quoc-keo-gian-khoan-thu-hai-vao-bien-được đề cập trong công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thị Thu Hường (2013), “Đánh giá khả năng sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp bảo vệ chủ quyền biển

đảo Việt Nam trên Biển Đông hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013

Vần đề này cũng được các thế hệ sinh viên của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu với các đề tài:

- Phạm Thị Linh Trang (2001), Vấn đề giải quyết tranh chấp theo Công ước luật biển 1982

của Liên hợp quốc, NXB Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh;

- Trần Thị Hồng Muôn (2009), Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Liên Hợp Quốc

về Luật biển quốc tế năm 1982, NXB Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh;

- Nguyễn Thị Phong Lan (2013), Thẩm quyền của trọng tài quốc tế về Luật biển - nhìn từ

thực tiễn vụ Philippines kiện Trung Quốc, NXB Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh…

Có thể thấy tài liệu và các công trình nghiên cứu về vấn đề tranh chấp Biển Đông hay về các biện pháp tài phán của Công ước 1982 nhằm giải quyết tranh chấp biển khá nhiều Mỗi công trình đều có những giá trị riêng, đáng ghi nhận.Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp trên Biển Đông hiện nay đang diễn biến rất phức tạp.Mỗi thời kỳ, mỗi trường hợp, hoàn cảnh lại đề ra những cách giải quyết khác nhau phù hợp với tình huống cụ thể, phù hợp với vị thế của các bên tranh chấp.Vấn đề đặt ra

là phải xác định đượcbiện pháp nào hiệu quả nhất Vì vậy, xuất phát từ thực tiễn việc Trung Quốc ngang nhiên thực hiện những hành động sai trái để hiện thực hóa “đường lưỡi bò” nhằm độc chiếm Biển Đông, đồng thời tiến hành thăm dò, khai thác trái phép trên vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam khiến tranh chấp leo thang và việc giải quyết bằng con đường ngoại giao đã đi vào bế tắc

vì không mang lại hiệu quả, tác giả đãnghiên cứu một cách có hệ thống con đường tài phán theo Công ước 1982 Từ đó, đề ra biện pháp cụ thể góp phần vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông

tại Việt Nam hiện nay.Vậy nên, “Giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng con đường tài phán theo

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982” là một đề tài mới và có tính ứng dụng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài “Giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng con đường tài phán theo Công ước của

Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”, đầu tiên tác giả mong muốn được tìm hiểu và hoàn thiện

các kiến thức về Công pháp quốc tế mà mình đã được học tại trường đại học Luật, từ đó có nền tảng để hiểu sâu, hiểu rộng hơn về lĩnh vực này, hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Luật quốc tế của mình

Thứ hai, khóa luận hi vọng sẽ giúp ích được phần nào trong vai trò là tài liệu tham khảo cho

những ai quan tâm đến Công pháp quốc tế, đặc biệt là vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông

Trang 12

Thứ ba, khóa luận sẽ góp phần mang lại hiệu quả giải quyết tranh chấp Biển Đông tại Việt

Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tình hình tranh chấp Biển Đông và những vấn

đề lý luận, thực tiễn của các biện pháp giải quyết tranh chấp biển theo Công ước 1982, hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp đó

Đề tài cũng kiến nghị một số giải pháp cụ thể áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông tại Việt Nam hiện nay

Về phạm vi nghiên cứu: Luật Quốc tế ghi nhận rất nhiều biện pháp hòa bình để giải quyết

tranh chấp Tuy nhiên, trong phạm vi của khóa luận, tác giả xin được trình bày về các biện pháp tài phán nhằm giải quyết tranh chấp quốc tế về Biển Đông theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Marx – Lenin và trên quan điểm, định hướng của Đảng cũng như của Nhà nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế

Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, phân tích, so sánh… các thông tin, tài liệu, các vụ việc cụ thể trong thực tiễn giải quyết tranh chấp theo Công ước 1982

6 Cơ cấu của khóa luận

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm có ba chương: Chương 1: Biển Đông và lịch sử tranh chấp trên Biển Đông

Chương 2: Những vấn đề lý luận về các biện pháp tài phán giải quyết tranh chấp biển theo Công ước 1982

Chương 3: Thực tiễn áp dụngbiện pháp tài phán giải quyết tranh chấp về biển Kiến nghị cho việc giải quyết tranh chấp tạiBiển Đônghiện nay

Qua nghiên cứu, tìm hiểu dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên Thạc sĩ Nguyễn Thị

Vân Huyền, tác giả đã hoàn thành khóa luận của mình với đề tài “Giải quyết tranh chấp Biển

Đông bằng con đường tài phán theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”

Trang 13

Khóa luận là một công trình nghiên cứu tâm huyết của tác giả.Nhưng vì thời gian nghiên cứu không nhiều, kiến thức bản thân còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót.Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để hoàn thiện thêm công trình nghiên cứu của mình

Trang 14

Chương 1 BIỂN ĐÔNG VÀ LỊCH SỬ TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

1.3 Biển Đông

Lãnh thổ của Việt Nam tiếp liền với Biển Đông, là biển rìa lớn nhất của Thái Bình Dương Người Trung Quốc gọi biển Đông là Nam Hải, còn người phương Tây sau này khi đến khu vực Đông Á thì gọi là biển Nam Trung Hoa (South China Sea), từ đó đến nay South China Sea được

Bản đồ Biển Đông (Nguồn: www.map.google.com)

Trang 15

dùng như một tên quốc tế để chỉ biển Đông Theo quy định của Uỷ ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn nhất, gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng5 Biển Đông nằm ở phía Nam của Trung Hoa đại lục nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa chứ địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền.Ở Việt Nam, Biển Đông được gọi theo thói quen như một danh từ riêng, bởi biển nằm dọc theo duyên hải phía Đông Việt Nam, gắn bó hàng nghìn năm với cuộc sống và con người Việt Nam

Trải rộng từ vĩ độ 3 lên đến vĩ độ 26 Bắc và từ kinh độ 100 đến 121 Đông, Biển Đông là một trong sáu biển lớn của thế giới, là một biển nửa kín, được bao bọc bởi nhiều quốc gia mà hầu hết là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Biển rộng khoảng 3,5 triệu km2, nối liền hai đại dương lớn: Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương

Về cấu trúc, Biển Đông là biển duy nhất trên thế giới có hai quốc gia quần đảo là Indonesia

và Philippines, đồng thời có hai quần đảo lớn nằm giữa biển là Hoàng Sa và Trường Sa Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands – có nghĩa là “cát vàng”) rộng khoảng 30.000 km2, là một nhóm khoảng

37 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nằm giữa hai kinh tuyến 1120

đến 1170 Đông và giữa hai vĩ tuyến 160 đến 170 Bắc, ở phía Bắc Biển Đông, cách đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam

120 hải lý Các đảo ở quần đảo này được chia thành hai nhóm: Nhóm phía Đông là nhóm An Vĩnh, gồm các đảo chính: đảo Cây, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Hòn Đá, đảo Linh Côn và đảo Phú Lâm Ngoài các đảo trên thì nhóm này còn có các đảo san hô nhỏ chỉ nhìn thấy được khi thủy triều xuống thấp Nhóm phía Tây là nhóm Lưỡi Liềm, gồm: đảo Hoàng Sa, đảo Hữu Nhật, đảo Duy Mộng, đảo Quang Ảnh, đảo Quang Hòa, đảo Bạch Qui và đảo Tri Tôn Trong đó, đảo Hoàng Sa là đảo lớn và quan trọng nhất6

Cách quần đảo Hoàng Sa 200 hải lý về phía Nam và cách thành phố Cam Ranh của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam 250 hải lý là quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) Trường Sa là một quần đảo rộng với hàng trăm đảo lớn nhỏ, bãi cạn, bãi ngầm, bãi đá san hô ở vào khoảng 6,50

đến 120 vĩ Bắc, 111,300 đến 117,200 kinh Đông Trong đó, các đảo chính là Song Tử Đông, Song Tử Tây, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta, đảo Ba Bình, đảo Nam Yết, đảo Sinh Tồn và đặc biệt là đảo lớn Trường Sa Ngoài hai quần đảo nói trên, Biển Đông còn có hai bãi ngầm, là bãi ngầm Macclesfiels và Pratas, hai vịnh lớn ăn sâu vào đất liền: Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi bở biển Việt Nam và Trung

Trang 16

Quốc và vịnh Thái Lan được bao bọc bởi bờ biển của 4 nước Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia

Theo độ sâu, trong Biển Đông hình thành hai khu vực: khu vực biển sâu nằm ở Đông Bắc, diện tích khoảng 1.745 triệu km2, chiếm 49,8% toàn vùng biển; khu vực biển nông là thềm lục địa rộng lớn, chiếm 1.755 triệu km2 (50,2% diện tích toàn vùng biển)7

Từ vị trí thuận lợi nêu trên, Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên quý giá về sinh vật biển, về năng lượng, khoáng vật, du lịch… phong phú, đa dạng có vai trò rất quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các quốc gia xung quanh Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng dầu khí lớn nhất thế giới Ước tính Biển Đông mang lại trữ lượng dầu mỏ khoảng 7 tỷ thùng và hơn 274 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên, đạt sản lượng khai thác khoảng 18,5 triệu tấn/năm Riêng ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng công ty dầu khí vào tháng 3 năm 1996 thì tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn Trữ lượng khí dự báo khoảng 1000 tỷ mét khối Bên cạnh

đó, biển còn đóng góp một phần không nhỏ trong việc điều tiết môi trường Đặc biệt, nhắc đến Biển Đông là nhắc đến con đường huyết mạch nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca, có vai trò là cầu nối tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, giao lưu văn hóa, tôn giáo quốc tế Ước tính, trong khu vực Đông Á và Biển Đông có khoảng 536 cảng biển gồm 5 cảng lớn, 11 cảng trung bình, 73 cảng nhỏ, còn lại là cảng rất nhỏ Các cảng quan trọng là Manila, Singapore, Sài Gòn, Trạm Giang, Băng Cốc8… Do đó, Biển Đông được coi là tuyến đường vận tải nhộn nhịp thứ hai trên thế giới với sự dịch chuyển kinh tế thương mại hết sức tấp nập với hơn một nửa số tàu chở hàng hóa mỗi năm của thế giới và 1/3 toàn bộ giao thông đường biển đi qua vùng biển này và trong tương lai đây sẽ là con đường vận tải biển đầy hứa hẹn vì nó gần như là tuyến đường ngắn nhất cho mọi hoạt động thông thương giữa Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu

- Châu Á, Trung Đông - Châu Á được thuận tiện, dễ dàng và ít tốn kém9

Không chỉ vậy, các đảo và quần đảo trong Biển Đông còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích an ninh, quân sự

Trang 17

Bởi vậy, có ý kiến cho rằng: “Quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế

được cả Biển Đông 10

Với Việt Nam, biển có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế Là một quốc gia ven biển Đông, Việt Nam được biển ưu ái ban tặng một nguồn tài nguyên phong phú, dồi dào để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như: du lịch, dầu khí, thủy hải sản, đóng tàu, giao thông vận tải… Những năm gần đây, kinh tế biển và ven biển luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định, mang lại cho kinh tế nước nhà những thành quả đáng ghi nhận.Khi mà các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt, việc hướng ra biển là một chiến lược đúng đắn.Bên cạnh đó, bờ biển của nước ta còn là tuyến phòng thủ hướng Đông của đất nước, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai

1.4 Lịch sử tranh chấp trên Biển Đông

Dưới góc độ luật biển, Biển Đông là khu vực đặc thù, chứa đựng tất cả các yếu tố liên quan như quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, quốc gia không có biển hay bất lợi về mặt địa lý, các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, vùng nước lịch sử, vùng đánh cá, phân định biển, vấn đề biển kín và nửa kín, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật, các đàn cá di cư xa và các đàn cá xuyên biên giới, khai thác chung, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, chống cướp biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn…11

Sự xuất hiện của khái niệm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong luật biển đã làm cho hầu hết Biển Đông bị bao phủ bởi vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven Biển Đông.Kết quả là nhiều nước trước đây vốn cách trở nay trở thành những quốc gia cùng chia sẻ đường biên giới biển và khiến cho nơi đây chứa đựng nhiều tranh chấp biển, trong

đó có tranh chấp thuộc loại phức tạp và có nhiều quốc gia liên quan nhất thế giới.12

Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không phải là ngoại lệ

Vấn đề tranh chấp có nhiều mặt, nhưng tranh chấp trên Biển Đông chủ yếu thể hiện trên ba phương diện: một là chủ quyền lãnh thổ trên các đảo, hai là phân định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn, ba là quyền tự do hàng hải Từ trước tới nay, trên Biển Đông luôn tồn tại nhiều tranh chấp, riêng đối với Việt Nam, tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa là những tranh chấp

mà chúng ta đã và đang cố gắng tìm giải pháp hợp lý Bên cạnh đó, một vấn đề gây lo ngại không chỉ cho các nước xung quanh Biển Đông mà còn liên quan đến các cường quốc trên thế giới là sự

10

Ngô Hữu Phước và Lê Đức Phương (2011), Hỏi đáp về chủ quyền biển đảo trong Luật quốc tế và pháp luật

Việt Nam, NXB.Lao động, tr.88

11 Nguyễn Ngọc Trường (2014), Về vấn đề Biển Đông, NXB Chính trị quốc gia, tr32

12Nguyễn Hồng Thao (chủ biên) (2008), Công ước biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, NXB.Chính

trị Quốc gia, tr20

Trang 18

kiện xảy ra vào ngày 7 tháng 5 năm 2009.Vào thời gian đó, Trung Quốc đã chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên Liên hợp quốc bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” (còn gọi là đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn) trên Biển Đông.Chính quyền Trung Quốc cho rằng đây là ranh giới thuộc chủ quyền của Trung Quốc và bất kỳ quốc gia nào cũng không được xâm phạm, mặc dù họ không đưa ra được một bằng chứng lịch sử hay pháp lý nào thuyết phục Đây được nhìn nhận là vấn đề phức tạp, có nguy cơ gây bất ổn cho tình hình an ninh, chính trị trong khu vực và trên thế giới

Ngay từ xa xưa, trong các sách cổ đã đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong

Biển Đông Trước thời kỳ thuộc địa, hai quần đảo được biết đến qua các phát hiện của những

người đi biển Những người đánh cá từ các quốc gia khác nhau như Ấn Độ, Ả Rập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đã tới lui các đảo này nhưng chưa có một hành động nào gọi là chiếm hữu hay xác lập chủ quyền trên đó Trong số này, có các nhà hàng hải người Pháp trên chuyến đi đến Viễn Đông, đã đến Hoàng Sa vào ngày 7-3-1568 Đến năm 1698, quần đảo này trở nên nổi tiếng trong các biên niên sử hàng hải với vụ đắm tàu “Amphitrite” dưới thời vua Louis XIV trong khi ông đi từ Pháp sang Trung Quốc Nhưng cho đến thể kỷ XVIII, vẫn chưa có dấu hiệu nào khẳng định chủ quyền của hai quần đảo này13

Dưới thời nhà Nguyễn, các chúa đã thành lập đội Hoàng Savà Bắc Hải có nhiệm vụ đi khai thác và bảo vệ các đảo này

Năm 1816, Vua Gia Long đã tuyên bố chủ quyền của An Nam trên các quần đảo, đến thời vua Minh Mạng, ông nối ngôi và tiếp tục theo đuổi công việc của tiên triều

Năm 1833-1834, vua Minh Mạng ra chiếu dụ xây dựng bia và lập bản đồ quần đảo Hoàng

Sa

Năm 1835-1848, triều đình cho xây dựng các công trình trên đảo.Công việc này liên tục được thực hiện và duy trì trong các năm 1847-1848 Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn còn thực hiện quản lý hành chính bằng việc đặt các quan cai trị, trông coi các đảo, phái người đi khảo sát thực địa và thu thuế ngư dân trong vùng

Trong khoảng hơn hai phần ba thế kỷ từ lúc Pháp xâm chiếm Việt Nam đến cuối Chiến tranh thế giới thứ Hai, bằng hiệp ước về chế độ bảo hộ ký tại Sài Gòn ngày 15-3-1874 và hiệp ước ấn định dứt khoát chế độ bảo hộ (Hiệp ước Patenotre) ký tại Huế ngày 6-6-1884, Pháp kiểm soát toàn

bộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ Ngày 17-10-1887, liên hiệp Đông Dương được thành lập biến thành một

13 Monique chemillier – Gendreau (2011), Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB

Chính trị quốc gia, tr.53

Trang 19

chính quyền thuộc địa dưới sự thúc đẩy của Toàn quyền Paul Doumer Từ đó, quyền lực của triều đình thuộc về tay Khâm sứ

Ngày 26-6-1887, Pháp và Trung Quốc ký kết Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc với nội dung vùng ở phía Đông và Đông Bắc Móng Cái ở phía bên kia của biên giới cùng những hải đảo nằm trên đường chạy dài từ Bắc xuống Nam đi qua mũi phía Đông đảo Trà Cổ thuộc về Trung Quốc, còn các đảo khác nằm ở phía Tây kinh tuyến Paris thuộc về nước An Nam (Việt Nam lúc bấy giờ)

Năm 1895-1896, ở Hoàng Sa đã xảy ra hai vụ đắm tàu lớn, đó là tàu Bellona của Đức và Imegi Maru của Nhật đã gây nên nhiều vụ tranh cãi Lý do là toàn bộ hàng hóa trên tàu vì không thể cứu được nên bị bỏ lại tại chỗ Những người Trung Quốc đã cướp lấy và vận chuyển đến đảo Hải Nam bán lại cho các chủ tàu thuyền Các công ty bảo hiểm Anh (hai chiếc tàu bị đắm do công

ty Anh bảo hiểm) lên án và yêu cầu những người đó phải chịu trách nhiệm, đại diện nước Anh tại

Bắc Kinh và lãnh sự tại Hoihow đã phản đối Tuy nhiên, các quan chức của Trung Quốc đã

không nhận trách nhiệm và cho rằng Hoàng Sa là quần đảo bị bỏ rơi, không thuộc về một nước nào và do đó, không một nhà chức trách nào có nhiệm vụ phụ trách an ninh khu vực đó

Ngày 6-6-1909, Phó vương Tổng đốc Lưỡng Quảng của Trung Quốc đã phái hai pháo thuyền nhỏ do Thủy sư Đô Đốc Lý Chuẩn chỉ huy, tiến hành đổ bộ chớp nhoáng vào các đảo của Hoàng Sa, sau đó rút lui Trong khi đó, Việt Nam mất độc lập từ tay Pháp và Pháp đã không có một

sự phản kháng nào Sự kiện này được coi là mở đầu tranh chấp trên Biển Đông

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, với vị trí kế thừa quyền lực, Pháp đã thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và phản đối những yêu sách từ phía Trung Quốc Cũng trong thời gian này đến suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chiếm một số đảo trên hai quần đảo để làm căn cứ quân sự

Năm 1945, những sự kiện liên tiếp diễn ra đã làm lịch sử Việt Nam có một sự thay đổi lớn Nhật đầu hàng đồng minh, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được thành lập, vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời kỳ phong kiến hàng trăm năm ở nước ta Ngày 2-9, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Trong khi đó, Pháp âm mưu tái chiếm Đông Dương, và sau đó không lâu thì Pháp trở lại, Việt Nam lại phải lo cho kháng chiến Lợi dụng cơ hội đó, cuối năm 1946 Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa Chính phủ Pháp phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp và gửi một phân đội lính Pháp và Việt Nam đến đặt một đồn lính ở đảo Hoàng Sa Dưới sự phán đối của Pháp, Chính phủ Trung Quốc phản kháng và cho ký một sắc lệnh đặt tên Trung Quốc cho hai vùng đảo và tuyên bố hai quần đảo này thuộc lãnh thổ của Trung Quốc Tranh chấp tiếp tục leo thang

Trang 20

Năm 1950, chính phủ Bảo Đại cho quân đội thay thế Pháp ở Hoàng Sa và đến năm 1956, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hòa đưa các lực lượng

vũ trang đến thay thế Pháp ở Hoàng Sa Cũng tại thời điểm đó, Trung Quốc cho quân đổ bộ một cách kín đáo chiếm bộ phận phía Đông của quần đảo Hoàng Sa Như vậy, vào thời điểm năm 1956, Trung Quốc chiếm đóng phía Đông và Việt Nam cộng hòa quản lý vùng phía Tây

Ở quần đảo Trường Sa, vào tháng 3 năm 1956, một công dân Philippines tên là Thomas Cloma cùng một vài người bạn của ông đã đổ bộ và chiếm đóng vài đảo trên quần đảo này, đồng thời thông báo cho Bộ trưởng Bộ ngoại giao Philippines Trong cuộc họp báo tại Manila năm đó, ông tuyên bố quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Philippines và xin Chính phủ nước này cho vùng đất mà ông ta chiếm đóng được hưởng quy chế đất bảo hộ Viên đại diện Philippines tuyên bố ngoài bảy hòn đảo gọi là Trường Sa, tất cả các đảo nhỏ còn lại đều là đảo vô chủ

Năm 1971, Tổng thống Philippines cho biết binh sĩ Đài Loan đã chiếm đóng và củng cố đồn trại ở một đảo trong Trường Sa nhưng không nhắc đến chủ quyền của Philippines trên đảo

Năm 1978, quân đội Philippines chiếm thêm một đảo trong quần đảo Trường Sa Đến năm

1979, Tổng thống nước này tuyên bố chủ quyền của Philippines trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo này

Năm 1983, Malaysia đưa ra vấn đề chủ quyền của họ đối với 3 hòn đảo trong Trường Sa, cũng trong năm này, ngày 25-3, Bộ ngoại giao Việt Nam bác bỏ tuyên bố trên Thế nhưng, đến tháng 6, Malaysia đưa binh lính ra chiếm đóng đảo Hoa Lau và bắt đầu những công trình xây dựng trên đảo này

Tiếp theo đó, Trung Quốc cũng lần lượt chiếm từng đảo nhỏ trong hai quần đảo này

Một sự kiện lịch sử đáng lưu ý là từ ngày 17 đến 20-1-1974, quân đội Trung Quốc đã sử dụng vũ lực đẩy quân đội của Chính quyền Việt Nam cộng hòa ra khỏi Hoàng Sa và chiếm nốt cụm đảo phía Tây do chính quyền Việt Nam cộng hòa đang kiểm soát Đến năm 1988 thì đổ bộ lên một

số đảo của quần đảo Trường Sa

Năm 1995, Philippines đã phản đối Trung Quốc về việc Trung Quốc đã chiếm đảo Vành Khăn – một đảo nhỏ mà Philippines đã tuyên bố chủ quyền

Từ đó đến nay, Trung Quốc thường xuyên thực hiện những hành động xâm chiếm của mình

để bành trướng lãnh thổ, đe dọa an ninh khu vực và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Vào giữa năm

2007, tàu hải quân Trung Quốc đã bắn vào các tàu đánh cá của Việt Nam gần quần đảo Trường Sa, giết chết một ngư dân và làm bị thương 6 người khác, trong khi hãng dầu khí BP của Anh đã phải tạm ngưng hợp đồng xây dựng một đường ống dẫn khí đốt ngoài khơi Việt Nam trị giá 2 tỉ USD

Trang 21

sau lời cảnh báo của Bộ ngoại giao Trung Quốc Kế đến cuối năm 2007, Trung Quốc cũng đã phản đối công ty ONGC Videsh của Ấn Độ đang thăm dò hai lô 127 và 128 ngoài khơi vùng biển Khánh Hòa dẫn đến công ty này phải tạm ngưng tìm kiếm dầu mặc dù đã đầu tư 100 triệu USD Đặc biệt, cũng vào tháng 11 năm 2007, Trung Quốc lại tổ chức diễn tập quân sự để củng cố cho yêu sách lãnh thổ của mình xung quanh quần đảo Trường Sa14

Không những thế, bỏ qua mọi sự phán đối của các quốc gia liên quan đến tranh chấp, sự lên

án của dư luận thế giới, ngày 2-12-2007, Trung Quốc cho thành lập thành phố Tam Sa và thực hiện việc quản lý hành chính đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa Hành động khiêu khích này liên tục bị các nước liên quan phản đối

Năm 2009, căng thẳng Biển Đông dâng cao, nổi bật là vụ đụng độ tàu Imppeccable của Mỹ ngày 8-3, sau đó là các sự kiện bắt giữ tàu cá của Việt Nam trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và ban hành lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc ngày 16-5-2009.Không dừng lại, cũng vào tháng 5-2009, Trung Quốc đưa yêu sách “đường lưỡi bò”- cái mà Trung Quốc gọi là “đường biên giới quốc gia trên biển” ra Liên hợp quốc và yêu cầu cộng đồng quốc tế thừa nhận

Đây là yêu sách được đưa ra một cách không chính thức, thể hiện rõ sự vô lý về nhiều khía cạnh

Một là, “đường lưỡi bò” không có vị trí, tọa độ rõ ràng Lúc đầu, Trung Quốc công bố

“đường lưỡi bò” gồm 11 đoạn vẽ gộp các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa, có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40

Thế nhưng, đến năm 1953, đường 11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong vịnh Bắc Bộ, không rõ nguyên nhân15 Do đó, nhiều chuyên gia nhận định đường này được vẽ một cách tùy tiện

Đường này xuất phát từ biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ,

14 Đinh Kim Phúc (2012), Hoàng Sa, Trường Sa, Luận cứ và sự kiện, NXB Thời đại, tr96

15 Nguyễn Hồng Thao, “Yêu sách “đường đứt khúc chín đoạn” của Trung Quốc dưới góc độ quốc tế”, Tạp

chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4 (79), 12/2009, tr58

Trang 22

chạy xuống phía Nam và Đông Nam Việt Nam tới cực nam của bãi đá san hô Scaborough, sau đó quay ngược lên phía bắc theo hướng song song với đường bờ biển phía tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo biển Bashi nằm giữa Đài Loan và Philippines16 “Đường lưỡi bò” bao phủ gần như trọn vẹn Biển Đông, nằm chồng lấn lên vùng thềm lục địa của các quốc gia ven biển.Trên thực tế, đến nay không có bất kỳ một tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của nó

Thứ hai, “đường lưỡi bò” có nguồn gốc không thống nhất Theo các học giả Trung Quốc,

năm 1947, Vụ địa lý thuộc Bộ nội vụ của Trung Quốc xuất bản bản đồ các đảo trong biển Nam trung Hoa bao gồm cả “đường lưỡi bò” Đây là lần đầu tiên “đường lưỡi bò” xuất hiện Có ý kiến khác thì cho rằng đường này do một viên chức của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẽ Trong khi

đó, các nhà nghiên cứu nước ngoài nhận định đường đứt khúc chín đoạn xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân chứ không phải từ Nhà nước Trung Quốc Rõ ràng nguồn gốc của “đường lưỡi bò” cũng hết sức mơ hồ17

Thứ ba, về ý nghĩa của yêu sách này, không chỉ đối với các học giả quốc tế, ngay cả các học

giả Trung Hoa cũng có những cách lý giải khác nhau Có quan điểm cho rằng thông qua đường này, Trung Quốc yêu sách sở hữu các đảo nằm bên trong chứ không đơn thuần là một đường biên giới biển Một quan điểm khác lại cho rằng con đường này đã tồn tại hơn một nửa thế kỷ nay mà không có một quốc gia nào phản đối Vì vậy, Trung Quốc có quyền đòi hỏi một danh nghĩa lịch sử cho nó Trung Quốc cho rằng vùng nước này được đặt dưới chế độ pháp lý của nội thủy, do đó thuộc chủ quyền của Trung Quốc Đây là chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối Quan điểm thứ ba thì lại cho rằng không nên xem yêu sách “đường lưỡi bò” như yêu sách về vùng nước lịch sử truyền thống mà là yêu sách về quyền chủ quyền và quyền tài phán

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, “đường lưỡi bò” không hội đủ các điều kiện về một vịnh hay một vùng nước lịch sử như nhận định của Trung Quốc vì theo tập quán quốc tế một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử khi tại đó, quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài, hoặc có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng có quyền lợi tại vùng biển này

Cả hai điều kiện Trung Quốc đều không thể đạt được

16 Nguyễn Thị Hồng Yến (2013), “Trung Quốc và yêu sách “đường lưỡi bò” tại Biển Đông – nhìn từ góc độ

pháp luật quốc tế”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2013, tr.67

17Nguyễn Hồng Thao, “Yêu sách “đường đứt khúc chín đoạn” của Trung Quốc dưới góc độ quốc tế”, Tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế, số 4 (79), 12/2009, tr62

“Đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông

(Nguồn: www.bbc.co.uk)

Trang 23

Ngay sau khi Trung Quốc gửi Công hàm về yêu sách “đường lưỡi bò” lên Liên Hợp quốc để khẳng định chủ quyền, Việt Nam và các quốc gia liên quan lần lượt thực hiện các biện pháp để phản đối Ngày 05/04/2011, khi Philippines chính thức gửi Công hàm lên Liên Hợp quốc để phản đối yêu sách vô lý này thì phía Trung Quốc phản đối gay gắt Đồng thời Trung Quốc đã gửi Công hàm đến Liên hợp quốc để phản đối quan điểm của Philippines( ngày 14/04/2011) Điều đáng lưu ý

là hai công hàm của Trung Quốc năm 2009 và 2011 mâu thuẫn nhau “Trong khi công hàm

7-5-2009 của Trung Quốc đòi hỏi “chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông (mà họ gọi là biển Nam Trung Hoa) và các vùng nước kế cận”, có nghĩa là theo yêu sách “đường lưỡi bò”, thì Công hàm 14-4-2011 lại lờ đi “đường lưỡi bò” mà cho rằng quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS 18

Ngoài ra, Trung Quốc còn thường xuyên cho các tàu hải giám, kiểm ngư, tàu quân sự và cảnh sát trá hình vào những khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, cản trở hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên Điển hình là việc cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 2 ngày 26-5-2011 và tàu Viking 2 vào ngày 9-6-2011

Ngày 22-01-2013, để phán đối các hành động gây hấn của Trung Quốc ở bờ biển phía Đông

và hành động quấy rối hoạt động đánh bắt cá của ngư dân Philippines trên biển, nước này đã chính thức khởi kiện Trung Quốc ra Tòa trọng tài quốc tế về luật biển nhằm tìm kiếm một giải pháp pháp

lý vững chắc

Gần đây nhất, Trung Quốc còn cho đặt giàn khoan HD-981 vào ngày 2-5-2014 trong vùng tọa độ 15°29′58″ Bắc và 111°12′1″ Đông cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa 17 hải lý về phía nam, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 180 hải lý về phía Nam và cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Đông nhằm khai thác dầu khí mà thực chất là đang từng bước thực hiện toan tính hợp lý hóa “đường lưỡi bò” nuốt trọn 80% Biển Đông

Có thể thấy, từ những vùng biển, đảo và các đảo thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam, qua các hành động phi pháp, Trung Quốc đã biến những vùng biển này thành vùng tranh chấp Và cho đến thời điểm hiện tại, quần đảo Hoàng Sa là vùng mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền, song song với đó, quần đảo Trường Sa cũng đang tồn tại dưới sự tranh chấp của 6 quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunây và vùng lãnh thổ Đài Loan

18

Tài Thành và Vũ Thanh (2014), Những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam

trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Hồng Đức, tr 391

Trang 24

Từ tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã xuất hiện một loạt các vấn đề liên quan khác bao gồm cả việc xác định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia liên quan trong khu vực, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa19

Bởi tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa hiện nay là một tranh chấp quốc tế đa phương rất phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ xung đột quân sự trên biển giữa các quốc gia hữu quan nếu không tìm ra cơ

chế giải quyết thỏa đáng và hiệu quả

19Ngô Hữu Phước và Lê Đức Phương (2011), Hỏi đáp về chủ quyền biển đảo trong Luật quốc tế và pháp luật

Việt Nam, NXB Lao động, tr93

Trang 25

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP TÀI PHÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 4.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp bằng con đường tài phán

4.1.1 Tranh chấp, tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế về biển

4.1.1.1 Khái niệm tranh chấp, tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế về biển

Ngày nay, xã hội phát triển không ngừng kéo theo nhiều vấn đề nan giải mà không một quốc gia, chủ thể độc lập nào có thể tự mình giải quyết được Việc mở rộng cánh cửa ngoại giao, tiếp thu, hội nhập kinh tế, trao đổi, giao lưu văn hóa, hợp tác cùng phát triển đã thành một nhu cầu, một chiến lược quan trọng trong sự nghiệp lâu dài của các nước Tuy nhiên, trong các mối quan hệ quốc

tế phong phú, đa dạng đó, quyền và lợi ích của các chủ thể mà đặc biệt là các quốc gia – chủ thể cơ bản và chủ yếu của quan hệ quốc tế không phải bao giờ cũng giống nhau, mà nhiều khi mâu thuẫn, trái ngược nhau Sự mâu thuẫn, bất đồng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có khi chỉ dừng lại ở những mâu thuẫn quan điểm, ý kiến nhưng có lúc cũng hình thành nên các tranh chấp phức tạp

Đề cập đến vấn đề này, từ điển Tiếng Việt có khái quát: “Tranh chấp là giành nhau một cách

giằng co cái không rõ thuộc về bên nào, là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”20 Trong thực tiễn đời sống, quyền lợi đó có thể là lao động, dân sự, kinh doanh thương mại…mà các bên mong muốn có được.Trên phương diện pháp lý, tranh chấp là sự không thỏa thuận được các vấn đề và sự kiện pháp lý

Theo giáo trình Luật quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội thì “tranh chấp quốc tế là

hoàn cảnh thực tế mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau Đó là sự không thỏa thuận được với nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến sự mâu thuẫn, đối lập nhau về quan điểm pháp lý hoặc quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau Hoàn cảnh này đặt ra nhu cầu giải quyết các tranh chấp để ổn định lại các quan hệ quốc tế hiện tại, tránh đưa đến xung đột vũ trang hoặc xung đột gây mất an ninh và đe dọa hòa bình quốc tế 21” Theo đó, tranh chấp quốc tế phản ánh quan điểm đối lập của các bên tranh chấp Tùy theo mức độ mà các tranh chấp quốc tế có những tác động tiêu cực đến lợi ích quốc gia và quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế, thậm chí có nguy cơ

đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế

20Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng

21Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an nhân dân, tr386

Trang 26

Cùng có quan điểm về vấn đề này, tác giả Ngô Hữu Phước cho rằng “Tranh chấp quốc tế là

sự mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế hoặc về quan điểm pháp lý trong việc giải thích, thực hiện luật quốc tế về một sự kiện pháp lý quốc tế giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau 22” Được hiểu tương tự như khái niệm trên, nhưng ở đây tác giả đã khái quát một cách ngắn gọn mà đầy đủ các khía cạnh của tranh chấp quốc tế Cũng theo tác giả, xung đột trong tranh chấp quốc tế có thể bắt nguồn từ việc giải thích và thực hiện pháp luật quốc tế hoặc các nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà các chủ thể đã cam kết, hoặc bắt nguồn từ cách giải thích, bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phản đối về một sự kiện pháp lý nào đó diễn ra trong thực tiễn, hoặc cũng có thể xuất phát từ việc quốc gia thực hiện các chức năng lập, hành, tư pháp nhưng ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của các chủ thể khác23

Như vậy, tuy có nhiều định nghĩa về tranh chấp quốc tế nhưng tựu chung lại, có thể kết luận

rằng tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế, mà trong đó các chủ thể tranh chấp có những bất

đồng, xung đột về quan điểm pháp lý, về quyền lợi và nghĩa vụ trong các quan hệ quốc tế Do đó,

họ có những yêu cầu và đòi hỏi trái ngược nhau về cùng đối tượng tranh chấp Một khi sự xung

đột, bất đồng không còn, tranh chấp sẽ chấm dứt

Vậy tranh chấp quốc tế có điểm gì khác với tranh chấp trong pháp luật quốc gia?Mặc dù đều xuất phát từ những bất đồng, xung đột về các quan điểm, quyền và lợi ích pháp lý, tranh chấp quốc

tế và tranh chấp trong pháp luật quốc gia cũng có những điểm khác biệt

Thứ nhất, nếu chủ thể của các tranh chấp quốc tế là các quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính

phủ hay các chủ thể khác của luật quốc tế thì chủ thể của các tranh chấp trong pháp luật quốc gia là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, pháp nhân hay cá nhân tranh chấp

Thứ hai, đối tượng của tranh chấp quốc tế rất đa dạng, có thể là chủ quyền quốc gia đối với

lãnh thổ, cũng có thể là sự kiện pháp lý quốc tế diễn ra trong quan hệ quốc tế hoặc là tư cách thành viên của các quốc gia trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ Trong khi đó, đối tượng của tranh chấp trong pháp luật quốc gia lại là các vấn đề cụ thể phát sinh trong đời sống của các chủ thể pháp luật quốc gia như lợi ích kinh tế, dân sự, lao động…

Thứ ba, tranh chấp quốc tế phát sinh trong quan hệ giữa các chủ thể của pháp luật quốc tế,

không những tác động đến quyền và lợi ích của các chủ thể tranh chấp mà còn đối với các khu vực

và cả cộng đồng quốc tế.Trong khi tranh chấp trong pháp luật quốc gia phát sinh trong các quan hệ

xã hội thuộc sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đó Do đó, quy mô và sự ảnh hưởng của tranh chấp quốc tế lớn hơn nhiều so với các tranh chấp trong pháp luật quốc gia

Trang 27

Thứ tư, khách thể của tranh chấp quốc tế là quyền và lợi ích mà các bên tranh chấp hướng tới

liên quan đến chủ quyền quốc gia, kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng…, còn khách thể của tranh chấp trong pháp luật quốc gia là các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân, quyền và lợi ích trong các quan hệ đó

Thứ năm, pháp luật giải quyết tranh chấp quốc tế là các điều ước quốc tế đã được ký kết và

tập quán quốc tế đã được thừa nhận.Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc gia là cơ sở, chứng cứ pháp lý để các cơ quan tài phán quốc tế xem xét giải quyết.Trong khi đó, những tranh chấp trong pháp luật quốc gia sẽ được áp dụng luật quốc gia để giải quyết

Thực tiễn cho thấy, tranh chấp quốc tế phát sinh ngày càng phức tạp, đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau.Trong đó, tranh chấp về lãnh thổ, biên giới quốc gia là hiện tượng phổ biến trong các quan hệ quốc tế mà tranh chấp quốc tế về biển là một điển hình.Hay nói cách khác, tranh chấp quốc tế về biển là một đối tượng cụ thể điển hình của tranh chấp quốc tế.Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức nào về tranh chấp quốc tế về biển Tuy nhiên, từ những khái niệm về tranh

chấp quốc tế, có thể hiểu tranh chấp quốc tế về biển là sự bất đồng, xung đột về quyền, lợi ích và

nghĩa vụ pháp lý quốc tế liên quan đến việc phân định chủ quyền trên biển của quốc gia, xác định

và thực thi các quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển trong những vùng biển

đó theo quy định của Luật biển quốc tế

4.1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế về biển

Tranh chấp quốc tế về biển có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp quốc tế về biển cũng là các chủ thể của luật quốc tế mà các

chủ thể trước tiên và chủ yếu là các quốc gia Đồng thời, theo quy định tại Điều 153, Phần XI Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước 1982) thì chủ thể của các tranh chấp quốc tế về biển còn là Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, các xí nghiệp, các tự nhiên nhân và pháp nhân Theo đó, Cơ quan quyền lực đáy đại dương thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển (di sản chung của loài người) Các quốc gia thành viên của Công ước 1982 là thành viên đương nhiên của cơ quan này Xí nghiệp ở đây bao gồm các xí nghiệp do Cơ quan quyền lực thành lập và các xí nghiệp Nhà nước Những xí nghiệp này và các tự nhiên nhân, pháp nhân thực hiện các quyền đối với khoáng sản theo quy định của Công ước dưới sự quản lý của Cơ quan quyền lực về nghiên cứu khoa học biển, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển

Thứ hai, đối tượng tranh chấp của tranh chấp quốc tế về biển là vùng biển thuộc chủ quyền

quốc gia, các vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền như vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền

Trang 28

kinh tế, thềm lục địa và việc thực thi các quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển đó

Thứ ba, khách thể của tranh chấp quốc tế về biển là các lợi ích vật chất và tinh thần mà các

bên tranh chấp mong có được và muốn cộng đồng quốc tế công nhận.Đó là các quyền quản lý, khai thác, sử dụng và thụ hưởng các nguồn tài nguyên biển, các đảo, quần đảo và quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển đó

Cuối cùng, nội dung của tranh chấp quốc tế về biển chính là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ

của các chủ thể đối với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của chủ thể

đó Nội dung của tranh chấp biển còn là cách giải thích và áp dụng luật biển, các quan điểm, đánh giá về các sự kiện pháp lý quốc tế liên quan đến biển

4.1.1.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế về biển

Các tranh chấp quốc tế nói chung và tranh chấp quốc tế về biển nói riêng khá phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong luật quốc tế, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể đó nếu tranh chấp kéo dài hoặc giải quyết không hợp lý Do đó, giải quyết tranh chấp quốc tế phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc này phải được tuân thủ và thực hiện một cách triệt để Các nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp quốc tế về biển bao gồm:

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế;

- Nguyên tắc các bên được tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp

Nguyên tắc đầu tiên là hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Nguyên tắc này được quy định trong Khoản 3 Điều 2 và cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc năm

1945 và trong Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế liên quan đến quan hệ thân thiện và hợp tác giữa các quốc gia theo Hiến chương Liên hợp quốc năm 1970 Đồng thời, nguyên tắc cũng được nhắc lại trong quy định về giải quyết tranh chấp của Công ước 198224

Theo nguyên tắc này, các quốc gia phải giải quyết tranh chấp của mình bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình và an ninh quốc tế Đó là đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải và các biện pháp tư pháp.Trong trường hợp các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, các quốc gia vẫn phải tiếp tục tìm kiếm các biện pháp hòa bình khác.Như vậy, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp

24 Điều 279 Công ước 1982

Trang 29

Qua phân tích ở trên, có thể thấy hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là một nguyên tắc vô cùng quan trọng và để thực hiện nguyên tắc này, điều đầu tiên là các chủ thể trong tranh chấp quốc tế tuyệt đối không được sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp25 Điều này có nghĩa, các quốc gia phải từ bỏ việc sử dụng sức mạnh vũ trang hoặc đe dọa sử dụng lực lượng vũ trang để giải quyết tranh chấp Bởi việc sử dụng sức mạnh vũ trang hay các biện pháp quân sự khác sẽ dẫn đến hậu quả nặng nề không chỉ cho các bên tranh chấp mà còn cả nhân loại Đó là thương vong, mất mát mà không một dân tộc, quốc gia nào mong muốn Do đó, để đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế, việc giải quyết tranh chấp trên nguyên tắc hòa bình luôn được đề cao và khuyến khích Tuy nhiên, trong trường hợp có sự đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc có thể sử dụng vũ lực để can thiệp26 Hoặc khi quốc gia thực hiện quyền tự vệ chính đáng trong trường hợp bị tấn công vũ trang, quốc gia này cũng được sử dụng vũ lực cho đến khi Hội đồng bảo an Liên hợp quốc áp dụng những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế27

Bên cạnh đó, các chủ thể được tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khi họ là một bên hữu quan Luật quốc tế tôn trọng thỏa thuận của các quốc gia nên không bắt buộc các quốc gia hay chủ thể nào phải giải quyết tranh chấp của họ bằng một biện pháp cụ thể nào đó mà quy định mở để các quốc gia dễ dàng lựa chọn Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp phải dựa trên sự

tự nguyện của quốc gia đó và biện pháp mà họ lựa chọn phải là biện pháp hòa bình phù hợp với nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật quốc tế

Đồng thời, việc giải quyết tranh chấp quốc tế về biển còn phải tuân thủ các nguyên tắc khác của Luật quốc tế như bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia, tôn trọng và tuân thủ các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế, tôn trọng chứng cứ pháp lý và thực tiễn… Những nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản, nền tảng của pháp luật quốc

tế và trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, các chủ thể cũng phải tuân thủ

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp, đồng thời giúp cho việc giải quyết tranh chấp được tiến hành thuận lợi và thông qua đó đảm bảo hòa bình, ổn định các quan hệ quốc tế, góp phần thực thi luật pháp quốc tế thì việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc trong việc giải quyết tranh chấp là yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể

4.1.2 Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng con đường tài phán

25 Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố 1970

26 Điều 39, 42, 45 Hiến chương Liên hợp quốc

27 Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc

Trang 30

“Tài phán là phân định phải trái và xử lý theo Luật” Tài phán còn được hiểu là toàn bộ các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo luật định nhằm giải quyết các vụ tranh chấp pháp lý hay xử lý vi phạm Còn quyền tài phán là quyền của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật, là quyền xử lý, xét xử đối với các hành vi vi phạm

Như đã nhắc đến ở trên, tài phán là một biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp của Luật quốc tế.Và phương pháp này được thực hiện bởi các cơ quan tài phán quốc tế Đó là những cơ quan độc lập, có cơ cấu tổ chức khác biệt, được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể của pháp luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể bằng trình tự, thủ tục tư pháp Các phán quyết của cơ quan tài phán có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp

Theo phương thức này, cơ quan tài phán quốc tế có hai dạng là Toà án quốc tế và Tòa trọng tài quốc tế

Tòa án quốc tế là thuật ngữ pháp lý quốc tế chung dùng để chỉ cơ quan xét xử và giải quyết

các loại hình tranh chấp quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế29 Ví dụ: Tòa án Công

lý quốc tế, Tòa án của liên minh châu Âu hay Tòa án quốc tế về Luật biển… Tòa án quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên chấp nhận thẩm quyền xét xử của Tòa án Ngoài chức năng xét xử, Tòa án quốc tế còn đưa ra các kết luận tư vấn pháp lý Mỗi Tòa hoạt động theo quy chế riêng, có thành phần xét xử cố định Do đó các bên không có quyền lựa chọn thẩm phán Các quy tắc, thủ tục tố tụng của Tòa án các bên tranh chấp cũng không có quyền thay đổi

Do thủ tục tư pháp của Tòa án quốc tế được quy định chặt chẽ, các bên không thể can thiệp nên việc xét xử mang lại hiệu quả pháp lý cao Phán quyết của Tòa thể hiện tính công bằng và khách quan, được các bên tôn trọng, tuân thủ, đồng thời được đảm bảo thực hiện bằng cơ chế của

cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế (Ví dụ: Đối với phán quyết của Tòa

án Công lý quốc tế, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc có thẩm quyền cưỡng chế thi hành30)

Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án quốc tế cũng tồn tại nhiều hạn chế Vì Tòa án xét xử công khai nên không đảm bảo được bí mật cho các bên tranh chấp Thêm vào đó, thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài, trình tự thủ tục cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt

28Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB.Đà Nẵng

29 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Tranh chấp và giải quyết tranh chấp quốc tế, tài

liệu giảng dạy lưu hành nội bộ của trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tr.14

30 Điều 94 Hiến chương Liên hợp quốc

Trang 31

Tòa trọng tài quốc tế là cơ quan tài phán có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể

của luật quốc tế do các bên tranh chấp lựa chọn dựa trên cơ sở Luật quốc tế Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế có các thiết chế Trọng tài như: Trọng tài thường trực La Haye, Trọng tài quốc tế về Luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước 1982, Trọng tài đặc biệt… Trọng tài quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên mà thẩm quyền của trọng tài được các bên ghi nhận trong một Điều ước quốc tế chuyên biệt hoặc các điều khoản về Trọng tài.Điều ước và các điều khoản này xác định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục xét xử, đối tượng tranh chấp, nguồn luật sử dụng trong xét xử, phương thức thi hành phán quyết của Trọng tài Thành phần trọng tài do các bên thỏa thuận, số lượng luôn là số lẻ (thường là 3 hoặc 5) để thuận tiện cho việc ra phán quyết bởi phán quyết của trọng tài được thông qua theo nguyên tắc đa số

Căn cứ vào tính chất hoạt động, Trọng tài được chia thành Trọng tài thường trực và Trọng tài

vụ việc Trọng tài thường trực là trọng tài được thành lập trên cơ sở một điều ước quốc tế Trọng tài này hoạt động thường xuyên, liên tục, có danh sách trọng tài viên, có quy chế hoạt động và trình tự thủ tục tố tụng được quy định rõ ràng Trong khi đó, Trọng tài vụ việc (còn được gọi là Trọng tài lâm thời hay Trọng tài ad hoc) do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và sẽ chấm dứt hoạt động khi tranh chấp được giải quyết

Thành phần của hội đồng trọng tài do các bên lựa chọn nên rất linh họat; trình tự, thủ tục tố tụng do các bên thỏa thuận nên các bên có khả năng kiểm soát họat động của Trọng tài Tòa trọng tài có thể xét xử kín, do đó đảm bảo uy tín, danh dự, bí mật của các bên liên quan Tuy nhiên, việc thực thi phán quyết của Trọng tài còn tùy thuộc vào sự tận tâm, thiện chí của các bên tranh chấp bởi Tòa trọng tài chưa có cơ chế đảm bảo thực thi phán quyết như đối với Tòa án quốc tế (Tòa án Công lý quốc tế)

4.2 Các biện pháp giải quyết tranh chấp biển bằng tài phán theo Công ƣớc của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

Ngày 16-11-1982, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển ra đời.Công ước 1982 được coi như một Hiến pháp về biển và đại dương của nhân loại Là một bản thỏa thuận mang tính toàn cầu hướng đến lợi ích của tất cả các quốc gia trên thế giới, Công ước đã đưa ra tổng thể các quy định luật pháp bao trùm tất cả các vùng biển, lĩnh vực sử dụng biển và thiết lập trật tự pháp lý mới trên biển Công ước được thừa nhận rộng rãi và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 23 tháng

6 năm 1994

Về nội dung, Công ước là cơ sở pháp lý để các quốc gia xác lập, thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên các vùng biển.Công ước cũng quy định chế độ quản lý và bảo tồn

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w