1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cam kết mở cửa thị trường thuốc lá trong wto và một số hiệp định thương mại khu vực mà việt nam tham gia

105 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số nội dung cơ bản về mở cửa thị trường thuốc lá trong WTO (15)
    • 1.1.1. Phân loại hàng hóa của thuốc lá trong WTO (15)
    • 1.1.2. Mở cửa thị trường thuốc lá trong WTO (17)
    • 1.1.3. Một số tranh chấp liên quan đến việc mở cửa thị trường thuốc lá và Điều XX(b) GATT (19)
  • 1.2. Cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa thị trường thuốc lá (31)
    • 1.2.1. Phân loại thuốc lá trong cam kết gia nhập của Việt Nam (31)
    • 1.2.2. Các cam kết cụ thể về mở cửa thị trường thuốc lá (34)
  • CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG THUỐC LÁ CỦA VIỆT NAM TRONG WTO SO VỚI MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI KHU VỰC (44)
    • 2.1. Cam kết mở cửa thị trường thuốc lá của Việt Nam trong một số Hiệp định thương mại khu vực (45)
      • 2.1.1. Cam kết của Việt Nam trong ASEAN (45)
      • 2.1.2. Cam kết của Việt Nam trong ACFTA (0)
      • 2.1.3. Vấn đề mở cửa thị trường thuốc lá trong đàm phán TPP (50)
      • 2.3.1. Đánh giá các cam kết mở cửa thị trường thuốc lá của Việt Nam (67)
      • 2.3.2. Kiến nghị cho việc thực thi các cam kết mở cửa thị trường thuốc lá của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập (0)

Nội dung

Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thuốc lá vốn không phải là mặt hàng khuyến khích sản xuất và tiêu dùng theo khuyến cáo của Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá Framew

Một số nội dung cơ bản về mở cửa thị trường thuốc lá trong WTO

Phân loại hàng hóa của thuốc lá trong WTO

Các cuộc đàm phán GATT/WTO không chỉ đem đến kết quả áp dụng các quy tắc chung cho tất cả các thành viên mà còn bao gồm các cam kết cụ thể được thực hiện bởi chính mỗi thành viên đó Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, các cam kết này được liệt kê trong văn bản có tên gọi là ―Biểu nhân nhượng‖ 15 Biểu nhân nhượng này phản ánh các nhượng bộ thuế quan và các cam kết khác mà các thành viên đã đưa ra trong bối cảnh của các cuộc đàm phán Đối với các sản phẩm nông nghiệp, các nhượng bộ và cam kết còn liên quan đến hạn ngạch thuế quan, hạn chế trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước

Phần chính trong Biểu nhân nhượng là Phần I – Thuế suất Tối huệ quốc, trong đó chứa đựng cái được gọi là ―thuế quan ràng buộc‖, đây là mức thuế tối đa mà một thành viên cam kết với các thành viên khác Một khi mức thuế là ràng buộc, một thành viên không thể tăng mức thuế này cho một loại hàng hóa nhập khẩu từ các thành viên khác Thuế quan ràng buộc được ghi nhận theo từng dòng thuế cụ thể khi các nhân nhượng được thực thi Các dòng thuế này được dựa trên Hệ thống hài hòa Mỗi dòng thuế trong Biểu nhận nhượng chứa đựng các thông tin về số dòng thuế, mô tả sản phẩm, thuế suất ràng buộc, thời gian thực hiện, quyền đàm phán ban đầu và các khoản phí khác 16

Trong lĩnh vực mở cửa thị trường, WTO thường xuyên hợp tác với WCO Sự hợp tác này liên quan đến việc phân loại hàng hóa trên cơ sở Hệ thống hài hòa (Harmonized System – HS 17 ) Điều II GATT không thiết lập

15 Xem thêm tại Điều II GATT 1994

16 Dayong Yu (2008), “The Harmonized System – Amendments and their impact on WTO members’ schedules”, Economic Research and Statistics Division – WTO, pp 7

17 Hệ thống hài hòa HS là một Danh mục hàng hóa quốc tế được phát triển bởi Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) trên cơ sở Công ước Quốc tế về Hệ thống Điều hòa mô tả và Mã hóa hàng hóa (Hazmonized

Commodity Description and Coding System) Công ước này được gọi tắt là Công ước HS, do WCO thông qua tại Brussel năm 1983 và có các lần sửa đổi vào các năm 1992, 1996, 2002, 2007 và 2012 Công ước HS ra đời là công cụ hữu hiệu để đảm bảo cho hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa được khả thi trên thực một Danh mục cụ thể nên các thành viên đã sử dụng HS để làm tiêu chuẩn trong lĩnh vực phân loại hàng hóa 18 Do đó, trong WTO, việc phân loại hàng hóa được dựa vào “Hệ thống hài hòa” của WCO

Hệ thống này bao gồm khoảng 5.000 nhóm hàng được xác định bởi một mã sáu chữ số, trong đó có thể chia nhỏ hơn nữa để phục vụ các yêu cầu về quản lý hành chính và thống kê của các quốc gia 19 Hệ thống HS đã được sử dụng bởi hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ để phân loại thuế hải quan và thống kê các số liệu về thương mại quốc tế, hơn 98% số hàng hóa trong thương mại quốc tế được phân loại dựa trên các HS 20

Hệ thống hài hòa bao gồm 21 phần và 91 chương, 21 trong đó thuốc lá thuộc Chương 24 với tên gọi ―Thuốc lá và nguyên liệu thay thế thuốc lá đã chế biến‖ 22 Theo cách phân loại của WCO, trong mỗi chương được chia nhỏ theo cấp độ bốn chữ số và sáu chữ số Cấp độ sáu chữ số được gọi là mã HS (HS code) và kèm theo mô tả cho từng loại hàng hóa tương ứng, chi tiết sáu chữ số là nhỏ nhất theo Công ước Thuốc lá trong Chương 24 của Công ước

HS được chia thành 03 nhóm bốn chữ số như sau: 23

 2401: Lá thuốc lá chưa chế biến; Phế liệu thuốc lá

 2402: Xì gà, xì gà nén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu chế biến từ lá thuốc lá hoặc các chất thay thế lá thuốc lá

 2403: Lá thuốc lá đã chế biến và các chất thay thế lá thuốc lá đã chế biến khác; Thuốc lá “thuần nhất” hoặc thuốc lá “hoàn nguyên”; Chiết xuất và tinh chất thuốc lá tế, nhờ đó đã trở thành một hệ thống phân loại hàng hóa toàn cầu Công ước HS hiện nay đã có 141 thành viên HS là công cụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đảm bảo kết nối giữa các tác nhân thương mại

18 https://www.wto.org/english/thewto_e/coher_e/wto_wco_e.htm, [cập nhật ngày 25/ 10/ 2015]

19 https://www.wto.org/english/tratop_e/schedules_e/goods_schedules_e.htm [cập nhật ngày 25/10/2015]

20 http://www.wcoomd.org/en/topics/nomenclature.aspx [cập nhật ngày 27/10/2015]

21 https://www.wto.org/english/tratop_e/schedules_e/goods_schedules_e.htm [cập nhật ngày 26/10/2015]

22 http://www.wcoomd.org/en/topics/nomenclature/instrument-and- tools/hs_nomenclature_2012/hs_nomenclature_table_2012.aspx?p=1 [cập nhật ngày 26/10/2015]

23 Xem thêm tại Phụ lục 3 của Luận văn

Với cách phân loại này, theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO thì thuốc lá thuộc nhóm các sản phẩm nông nghiệp 24 Như chúng ta đã biết, nông nghiệp vốn là mặt hàng nhạy cảm trong thương mại vì có rất nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đã tác động đến chính sách mở cửa đối với nó Điều này còn đặc biệt hơn đối với thuốc lá, khi mà nó là một sản phẩm nông nghiệp có khả năng gây ra các loại bệnh tật và tử vong cho người sử dụng trực tiếp và gián tiếp Và theo khuyến cáo của WHO, hầu hết các thành viên của WTO đều có những chính sách kiểm soát mạnh mẽ đối với thuốc lá khi chấp nhận mở cửa thị trường đối với loại hàng hóa này nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công cộng quan trọng, cân bằng lợi ích giữa kinh tế với sức khỏe cộng đồng Vì vậy, có nhiều vấn đề được quan tâm khi mở cửa thị trường thuốc lá trong WTO.

Mở cửa thị trường thuốc lá trong WTO

Trong WTO, mở cửa thị trường hàng hóa có nghĩa các thành viên nhập khẩu phải cam kết về việc cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan cho hàng hóa nhập khẩu từ các thành viên khác Các cam kết thuế quan đối với mỗi hàng hóa được ghi nhận trong Biểu nhân nhượng thuế quan quan đối với hàng hóa của mỗi thành viên Những biểu nhân nhượng này thể hiện rằng trong các cam kết không áp dụng mức thuế cao hơn mức ―ràng buộc‖, các biện pháp phi thuế quan được tuân theo những thỏa thuận cụ thể của WTO 25

Theo đó, mở cửa thị trường thuốc lá cũng được hiểu là việc giảm bớt các rào cản về vật chất và thủ tục để thuốc lá của các thành viên có thể tiếp cận thị trường nước nhập khẩu một cách thuận lợi, đảm bảo dựa trên các nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO Không phân biệt đối xử trong WTO dựa trên hai nguyên tắc là nguyên tắc là Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử

24 Điều 2 Hiệp định nông nghiệp quy định: ―Hiệp định này áp dụng đối với các sản phẩm trong danh mục tại

Phụ lục 1 của Hiệp định này, sau đây được gọi là sản phẩm nông nghiệp‖ Theo Phụ lục này, nông sản được xác định là tất cả các sản phẩm được liệt kê từ Chương I đến Chương XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các Chương khác trong Hệ thống HS

25 https://www.wto.org/english/tratop_e/markacc_e/markacc_e.htm, [cập nhật ngày 27/10/2015] quốc gia (NT), hai nguyên tắc này là nền tảng của WTO đối với thương mại hàng hóa

Theo nguyên tắc MFN, thành viên nhập khẩu phải dành cho thuốc lá nhập khẩu từ các nước thành viên khác sự đối xử không phân biệt với nhau

Cụ thể là mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau những ưu đãi nhất Nếu một thành viên cho một thành viên khác được hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử đó phải được dành cho tất cả các thành viên còn lại của WTO Ngoài ra, nước nhập khẩu phải đảm bảo dành cho thuốc lá đến từ các nước thành viên của WTO sự đối xử ngang bằng với thuốc lá trong nước theo nguyên tắc NT, tức không có sự phân biệt đối xử giữa thuốc lá nội địa và thuốc lá nhập khẩu sau khi đã hoàn thành các thủ tục hải quan, như là việc thành viên nhập khẩu không được áp dụng thuế và phí nội địa, các quy định và yêu cầu liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc lá trên thị trường nội địa để bảo vệ sản xuất trong nước

Tuy nhiên, để giảm bớt gánh nặng cho các thành viên về thực hiện nghĩa vụ mở cửa thị trường, Điều XX GATT đã ghi quy định về việc áp dụng các ngoại lệ chung.Theo đó, có những trường hợp cụ thể để các thành viên WTO có thể được làm khác đi hoặc không thực hiện một số quy định của GATT nhưng không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế 26

Trong các ngoại lệ chung được ghi nhận tại Điều XX GATT, thì một biện pháp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật” theo đoạn (b) đã cho phép các thành viên có thể áp dụng các biện pháp chính sách không phù hợp với GATT nhưng phải là ―cần thiết‖ để thực hiện mục tiêu này Để xác đinh một biện pháp là ―cần thiết‖ nhằm mục đích bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người theo Điều XX(b) GATT thì đó là một quá trình đánh giá rất nhiều yếu tố bởi cơ quan giải quyết tranh chấp, trong đó có sự đóng góp của các biện pháp và tác động của các biện pháp đó

26 Xem thêm Đoạn mở đầu Điều XX GATT đối với thương mại quốc tế Sau khi phân tích các điều này mà mang lại kết luận rằng biện pháp này là cần thiết, kết quả này phải được xác nhận bằng cách so sánh với các biện pháp khác có thể thay thế mà ít hạn chế thương mại khi cung cấp một biện pháp tương đượng để đạt được các mục tiêu theo đuổi 27

Như vậy, một ngoại lệ chung được ghi nhận tại Điều XX(b) GATT đã thừa nhận một―biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người‖ để các bên có thể thi hành hay áp dụng trái với các nguyên tắc của WTO mà không bị coi là vi phạm nghĩa vụ Từ ghi nhận này, các thành viên đã vận dụng vào công cuộc kiểm soát thuốc lá của quốc gia mình trong thời kỳ hội nhập Vì khi đã chấp nhận mở cửa bằng việc cắt giảm thuế nhập khẩu mà không được phép tăng trở lại, cũng như phải có nghĩa vụ xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan khác, thì ngoại lệ theo Điều XX(b) là một căn cứ quan trọng để biện minh cho các hành động của mỗi thành viên

Thực tiễn đã có nhiều thành viên WTO ban hành những chính sách kiểm soát thuốc lá nghiêm ngặt, thậm chí là cấm nhập khẩu đối với thuốc lá từ các thành viên khác với nhiều mục đích khác nhau, nhưng mục đích ―để bảo vệ sức khỏe cộng đồng‖ luôn là lý do để họ cho rằng biện pháp đó là “cần thiết‖ theo quy định của Điều XX(b) GATT Cũng từ đó, đã dẫn đến nhiều tranh chấp xoay quanh vấn đề này đã được giải quyết bởi cơ quan giải quyết tranh chấp trước WTO theo GATT 1947 28 và trong GATT/WTO.

Một số tranh chấp liên quan đến việc mở cửa thị trường thuốc lá và Điều XX(b) GATT

Số liệu thống kê các vụ kiện có liên quan đến mở cửa thị trường thuốc lá trước WTO và từ khi WTO thành lập đến nay cho thấy, đã xảy ra 03 tranh chấp theo GATT 1947 và đã có 11 tranh chấp theo GATT 1994 giữa các

27 https://www.wto.org/english/tratop_e/envir_e/envt_rules_exceptions_e.htm [cập nhật ngày 27/10/2015]

28 GATT 1947 là tiền thân của GATT 1994 Theo GATT 1947, nội dung của các ngoại lệ chung theo Điều

XX cũng đã được ghi nhận như của GATT 1994 Vì vậy, trong quá trình mở cửa thị trường, các thành viên của GATT 1947 cũng đã vận dụng để biện minh cho chính sách kiểm soát thuốc lá của mình là ―cần thiết‖ theo Điều XX(b) GATT 1947 thành viên Trong đó, có những tranh chấp đến nay vẫn chưa có phán quyết của Ban hội thẩm Trong các tranh chấp này, có những vụ điển hình cho việc mở cửa thị trường thuốc lá với vấn đề bảo vệ tính mạng và sức khỏe con người theo ngoại lệ của GATT 29

1.1.3.1 Vụ kiện Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá (DS10)

Ngày 22 tháng 12 năm 1989, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn với Thái Lan xuất phát từ việc Chính phủ nước này đã duy trì biện pháp cấm nhập khẩu thuốc lá nhưng vẫn cho phép bán thuốc lá trong nước theo Đạo Luật Thuốc lá năm 1966 30 Hoa Kỳ khiếu nại rằng biện pháp hạn chế nhập khẩu này không phù hợp với Điều XI của GATT 1947 về "Loại bỏ Các hạn chế định lượng" và Thái Lan không thể biện minh bằng ngoại lệ cho phép trong Điều XX(b) GATT 1947 liên quan đến các biện pháp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người‖

Thái Lan và Hoa Kỳ tham vấn với nhau không thành công nên ngày 3 tháng 4 năm 1990, Ban Hội thẩm đã được thành lập để giải quyết tranh chấp Trong quá trình giải quyết, các bên đã lập luận để bảo vệ quan điểm như sau: i) Lập luận của Thái Lan

Một là, Thái Lan cho rằng việc hạn chế nhập khẩu thuốc lá là một phần của một chính sách toàn diện để kiểm soát việc sử dụng thuốc lá của quốc gia 31 Hành động này được chứng minh bằng các mục tiêu đảm bảo sức khỏe cộng đồng nhằm giảm việc tiêu thụ thuốc lá có hại cho sức khỏe Do đó, một lệnh cấm nhập khẩu là biện pháp duy nhất có thể bảo vệ sức khỏe cộng đồng

29 Xem thêm thống kê các vụ kiện này tại Phụ lục 4 của Luận văn

30 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 1

31 Với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ, Thái Lan đã thông qua những hành động bao gồm nhưng không giới hạn các chính sách sau để kiểm soát thuốc lá: (i) Thông qua một chương trình quốc gia toàn diện để kiểm soát việc sử dụng thuốc lá; (ii) Thành lập một Ủy ban quốc gia về kiểm soát việc sử dụng thuốc lá để thực hiện chương trình quốc gia; (iii) Áp đặt lệnh cấm quảng cáo trực tiếp và gián tiếp đối với thuốc lá trên tất cả các phương tiện truyền thông; (iv) Thông báo, tuyên truyền cho công chúng biết về sự nguy hiểm của việc hút thuốc; (v) Yêu cầu in luân chuẩn 7 cảnh báo về sức khỏe trên bao bì thuốc lá; (vi) Cấm hút thuốc lá trên phương tiện công cộng, cơ sở y tế … [Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 24] mà bất kỳ biện pháp nào khác, khi vẫn còn cho phép nhập khẩu thuốc lá đều không hiệu quả 32

Hai là, Thái Lan cho rằng thuốc lá sản xuất tại Hoa Kỳ có thể độc hại hơn thuốc lá của Thái Lan Lý do là vì có một số loại hóa chất và các chất phụ gia khác không xác định được sử dụng trong thuốc lá của Hoa Kỳ để bù đắp cho lượng tar và nicotine thấp có thể làm cho chúng gây hại cho sức khỏe của con người nhiều hơn thuốc lá của Thái Lan 33

Ba là, việc hút thuốc lá còn làm giảm mức sống, gia tăng bệnh tật, dẫn đến việc hàng năm, Nhà nước Thái Lan đã phải chi hàng chục tỷ Đô la để trang trải cho các chi phí y tế Kéo theo đó là làm giảm thu nhập thực tế và ngăn chặn việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực con người và thiên nhiên Việc sản xuất thuốc lá không hoàn toàn bị cấm ở Thái Lan bởi vì điều này có thể dẫn đến việc sản xuất và tiêu thụ ma túy, cần sa nó còn độc hại hơn thuốc lá 34

Cần phải lưu ý thêm rằng, ở Thái Lan, nhà nước giữ độc quyền trong việc sản xuất thuốc lá vì Chính phủ cảm thấy cần có sự kiểm soát chặt chẽ như vậy Bên cạnh đó, trường hợp ngoại lệ trong Điều XX(b) GATT 1947 phản ánh sự thừa nhận rằng bảo vệ sức khỏe cộng đồng là trách nhiệm cơ bản của Chính phủ Do đó biện pháp cấm nhập khẩu của Thái Lan được đảm bảo bằng Điều XX(b) GATT Nên mục tiêu chính của Đạo luật 1966 là để đảm bảo rằng thuốc lá được sản xuất với số lượng vừa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước 35

Bên cạnh đó, Thái Lan còn cho rằng, Chính phủ nhiều quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ và Thái Lan, đã cố gắng để ngăn cản việc tiêu thụ và kiểm soát thuốc lá Vì cạnh tranh có thể dẫn đến việc sử dụng tốt hơn các công nghệ tiếp thị như quảng cáo, giảm giá và cải thiện chất lượng Điều này có thể có những

32 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 27

33 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 28

34 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 21

35 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 21 tác động không mong muốn dẫn đến sự gia tăng tổng mức tiêu thụ, đặc biệt là phụ nữ và thanh thiếu niên, điều đó đi ngược với mục tiêu sức khỏe cộng đồng 36

Và, Mỹ dẫn đầu thế giới trong xuất khẩu thuốc lá và xuất khẩu đến Châu Á đã tăng 75% trong chỉ một năm 1988 Từ những hậu quả cho sức khỏe từ việc mở cửa thị trường thuốc lá là một luận cứ quan trọng trong chế độ đối với nhập khẩu thuốc lá của Thái Lan Thái Lan cho rằng đó là ―cần thiết‖ và có các ý kiến tham khảo với các chuyên gia của WHO về kinh nghiệm của một số nước đã thực hiện để mở cửa thị trường thuốc lá Điều này cho thấy rằng một khi thị trường đã được mở cửa, ngành công nghiệp thuốc lá của Hoa Kỳ sẽ nỗ lực lớn để buộc các Chính phủ phải chấp nhận các điều khoản và điều kiện mà có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và chính phủ không có công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách kiểm soát tình hình thuốc lá trong nước 37 ii) Quan điểm của Hoa Kỳ

Trong vụ kiện này, Hoa Kỳ đã đưa ra một số lập luận chính để bác bỏ quan điểm của Thái Lan như sau:

Một là, Hoa Kỳ cho rằng ý định của những nhà soạn thảo GATT 1947 là các biện pháp mà các bên tìm cách để chứng minh theo quy định tại Điều XX(b) cần phản ánh việc bảo vệ các sản phẩm tương tự trong nước Lịch sử soạn thảo Điều XX(b) chỉ ra rằng ngôn ngữ trong lời mở đầu của Điều XX rằng các biện pháp này không được làm hạn chế về thương mại quốc tế có ý nghĩa trong bối cảnh của Điều XX(b) Hoa Kỳ tiếp tục lưu ý rằng biện pháp bảo vệ tương đương với một lệnh cấm nhập khẩu không liên quan đến thuốc lá nội địa 38

Hai là, Hoa Kỳ trả lời rằng các mối nguy hại cho sức khỏe từ việc hút thuốc lá là chủ đề trong nhiều văn bản trong mỗi quốc gia Sự tồn tại của các

36 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 27

37 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 27

38 Thái Lan – Hạn chế nhập khẩu và thuế nội địa đối với thuốc lá, DS10/R-37S/200, đoạn 22 mối nguy hại đó không phải là vấn đề thực sự của tranh chấp này Hoa Kỳ không tin rằng Thái Lan cấm nhập khẩu thuốc lá để phục vụ cho mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng hoặc một biện pháp như vậy là cần thiết để thực hiện mục đích đó 39

Cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa thị trường thuốc lá

Phân loại thuốc lá trong cam kết gia nhập của Việt Nam

Việt Nam đã tham gia Công ước Hài hòa về mô tả hàng hóa từ năm

1998 65 và Công ước này chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01 tháng

01 năm 2000 Việc tham gia Công ước này đã đánh dấu một giai đoạn mới trong việc chuẩn hóa việc phân loại hàng hóa và mã hóa theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa

Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực hàng hóa được thể hiện thông qua các Biểu CLX – Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phần 1 – Biểu cam kết về hàng hóa Biểu CLX chia làm hai mục gồm Biểu cam kết thuế quan hàng nông sản (Mục IA – Thuế suất – Hàng nông sản) và Biểu cam kết thuế quan hàng phi nông sản (Mục II – Hàng phi nông sản) Trong mỗi Biểu cam kết thuế quan này của Việt Nam chứa đựng các thông tin về mã hàng và mô tả hàng hóa đối với cụ thể mỗi loại hàng hóa dựa trên Công ước HS và mức thuế cam kết cắt giảm cũng như lộ trình cắt giảm thuế quan mà Việt Nam phải thực hiện 66

Trên cơ sở đó, Việt Nam đã xây dựng Biểu thuế xuất nhập khẩu để phân loại hàng hóa cũng như áp mức thuế suất phù hợp với từng cam kết của Việt Nam trong Biểu CLX Theo đó thuốc lá vẫn thuộc Chương 24 với tên gọi và cách phân chia, mô tả hàng hóa hoàn toàn tương ứng Chương 24 của Công ước HS theo đúng quy định của Công ước về việc sử dụng toàn bộ các nhóm và phân nhóm của Hệ thống điều hòa, không đưa thêm hay thay đổi gì những mã số có liên quan đến nhóm và phân nhóm Tuy nhiên, để cụ thể hơn trong việc áp thuế xuất nhập khẩu và theo kịp sự đa dạng của các loại hàng hóa,

65 Quyết định số 49/QĐ - CTN ngày 06 tháng 03 năm 1998 của Chủ tịch nước về việc Việt Nam gia nhập Công ước HS

66 Xem thêm tại Phụ lục 1 của Luận văn

Việt Nam thêm một mức mã hiệu phân nhóm 8 số từ năm 2003 đến năm

Từ năm 2010 đến nay, mức độ chi tiết của Biểu thuế đã lên cấp 10 số 68 theo sự cho phép của Công ước HS, mỗi thành viên của Công ước đều có quyền thiết lập những số liệu trên cơ sở sáu chữ số hay ở cấp độ cao hơn 69 Như vậy, so với cách phân loại thuốc lá theo Công ước HS, Việt Nam đã phân loại phù hợp với cách phân loại của Công ước nhưng trên cơ sở chi tiết hơn, tạo thuận lợi trong việc áp thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

Trong các các văn bản do Nhà nước ban hành để hướng dẫn về các hoạt động liên quan đến thuốc lá đều ghi nhận thuốc lá gồm hai hình thức tồn tại là thuốc lá nguyên liệu và sản phẩm thuốc lá, các hình thức này được giải thích như sau:

- Nguyên liệu thuốc lá: là thuốc lá lá dưới dạng lá rời, tấm đã sơ chế tách cọng, sợi thuốc lá, cọng thuốc lá và nguyên liệu thay thế khác dùng để sản xuất thuốc lá 70

- Sản phẩm thuốc lá: là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hay một phần nguyên liệu thuốc lá và được chế biến dưới dạng thuốc điếu, xì gà, thuốc lá sợi dùng để hút tẩu và các dạng sản phẩm khác dùng để hút, nhai, ngửi 71

Căn cứ vào cách giải thích từ ngữ trên để đối chiếu vào phân loại thuế quan của thuốc lá trong Biểu cam kết gia nhập của Việt Nam cũng như Biểu thuế xuất nhập khẩu thì có thể phân loại như sau:

67 Thông tư 85/2003/TT-BTC ngày 29 tháng 8 năm 2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện phân loại hàng hoá theo Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Biểu thuế xuất khẩu Thông tư này đã hết hiệu lực ngày 27/5/2010

68 Thông tư 49/2010/TT-BCT ngày 12/4/2010 của Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

69 Xem thêm Công ước HS, Điều 3

70 Luật Phòng, Chống tác hại của thuốc lá 2012, Điều 2, khoản 3

71 Nghị định 67/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012 về kinh doanh thuốc lá, Điều 3, khoản 2

Nhóm 2401 – ―Thuốc lá chưa chế biến; phế liệu thuốc lá‖ và nhóm

2403 – ―Lá thuốc lá đã chế biến và các chất thay thế lá thuốc lá đã chế biến khác; thuốc lá ―thuần nhất‖ hoặc thuốc lá ―hoàn nguyên‖; chiết xuất và tinh chất thuốc lá‖ là nguyên liệu thuốc lá Nhóm 2402 –―Xì gà, xì gà nén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, chế biến từ lá thuốc lá hoặc từ các chất thay thế thuốc lá‖ là sản phẩm thuốc lá Việc phân loại này sẽ có ý nghĩa trong việc thực thi các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trên thực tế, vì đối với mỗi nhóm hàng hóa, Việt Nam đều đã có những cam kết khác nhau về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan

Cách phân loại hàng hóa của Việt Nam trong Biểu thuế xuất nhập khẩu trên cơ sở Danh mục thuế quan hài hòa ASEAN (Asean Hamornised Tariff Nomenclature - AHTN) 72 do các nước ASEAN soạn thảo AHTN cũng được xây dựng trên cơ sở tuân thủ hoàn toàn Danh mục HS của WCO ở cấp độ bốn chữ số và sáu chữ số, phần tám chữ số của AHTN được xây dựng trên cơ sở kiến nghị của 10 nước thành viên ASEAN Việc xây dựng Danh mục HS thống nhất này của Việt Nam để thực hiện các cam kết mở cửa thị trường đối với các loại hàng hóa trong ASEAN cũng như các Hiệp định thương mại khu vực và trong WTO

Bên cạnh đó, cách phân loại này đã tạo nên sự thuận lợi trong việc áp dụng các quy định của pháp luật riêng cho từng nhóm hàng hóa, cũng như đối chiếu với các cam kết cụ thể của nó trong WTO về thuế quan cũng như các biện pháp phi thuế quan nào được áp dụng cho nhóm hàng Như vậy, Việt Nam đã thống nhất cách phân loại thuốc lá với Công ước HS, điều này tạo nên sự tương đồng trong việc ban hành những văn bản hướng dẫn nhằm thực thi các cam kết mở cửa cho thị trường thuốc lá trong WTO của Việt Nam được chính xác

72 Tất cả các thành viên của ASEAN đều đã ký kết gia nhập WCO, do đó các quốc gia này đều áp dụng hệ thống hài hòa HS Trên cơ sở cải tiến theo quy tắc của WCO, ASEAN xây dựng nhiều cải tiến vượt mức 6 chữ số thành 8 chữ số để tạo thuận lợi trong thương mại [http://www.asean.org/communities/asean- economic-community/item/harmonisation-of-tariff-nomenclature-customs-valuation-and-procedures, cập nhật ngày 25/10/2015]

Các cam kết cụ thể về mở cửa thị trường thuốc lá

Cam kết mở cửa thị trường hàng hóa nói chung và thuốc lá nói riêng khi gia nhập WTO của Việt Nam tập trung vào vấn đề thuế nhập khẩu và các biện pháp phi thuế trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc nền tảng của WTO Ngay khi gia nhập, Việt Nam đã phải dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu thuốc lá đã duy trì từ năm 1990 và thực hiện các cam kết cụ thể để hiện thực hóa việc mở cửa cho thị trường này tại Việt Nam như sau:

1.2.2.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là đối tượng của đàm phán song phương nên Việt Nam chỉ cam kết áp dụng thuế nhập khẩu trên cơ sở MFN cho tất cả các thành viên có quan hệ WTO với Việt Nam 73 Cụ thể cam kết của thuốc lá được cụ thể như sau 74 : i) Đối với nhóm nguyên liệu thuốc lá

Thứ nhất, Nhóm 2401 – Thuốc lá chưa chế biến; phế liệu thuốc lá

Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập 75 của nhóm này ở mức 100%, riêng cọng thuốc lá có mức thuế 80% và không cắt giảm thêm Việt Nam cam kết cắt giảm 76 các mức thuế của nhóm này xuống mức 80% và 90% với thời

73 Tờ trình số 150/TTr-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ về kết quả đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, điểm

74 Xem thêm Phụ lục 1 của Luận văn

75 Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập thể hiện mức thuế suất cam kết ràng buộc cho mã hàng liên quan tại thời điểm gia nhập (ngày 11 tháng 01 năm 2007) Đây là mức thuế nhập khẩu tối đa mà Việt Nam có thể áp dụng đối với mã hàng này kể từ thời điểm gia nhập (không thể quy định mức cao hơn) Các mức cam kết ràng buộc này có thể cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức thuế suất Việt Nam đang áp dụng vào thời điểm tháng 12 năm 2006

76 Thuế suất cam kết cắt giảm (còn được gọi là thuế suất ràng buộc cuối cùng Final bound rate) thể hiện mức thuế nhập khẩu sau khi đã thực hiện cắt giảm cho mã hàng liên quan vào thời điểm kết thúc lộ trình thực hiện Đây là mức thuế nhập khẩu tối đa mà Việt Nam có thể áp dụng kể từ sau thời điểm kết thúc lộ trình thực hiện gian thực hiện 77 là 5 năm, tức đến năm 2012 là Việt Nam phải hoàn thành cam kết cắt giảm này

Ngay sau khi gia nhập, Việt Nam đã tiến hành cắt giảm thuế nhập khẩu cho nhóm 2401 xuống 30%, bằng với thuế suất MFN 78 , riêng cọng thuốc lá đạt mức 15% từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 79 Có thể nhận thấy Việt Nam đã cắt giảm sâu thuế nhập khẩu của nhóm 2401, với mức cắt giảm lên tới 70% so với mức thuế cam kết tại thời điểm gia nhập Mặt khác, thuế suất cắt giảm cũng rất đáng kể, đạt mức 50 – 60% so với thuế suất Việt Nam cam kết cắt giảm chỉ ngay khi gia nhập, sớm hơn 4 năm so với thời gian cam kết thực hiện ban đầu

Như vậy, so với mức thuế suất cam kết cắt giảm và thời gian thực hiện thì Việt Nam đã hoàn thành đúng cam kết cả về mức độ và lộ trình Theo Biểu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành hàng năm, thì mức thuế nhập khẩu của nhóm 2401 được giữ nguyên từ năm 2008 đến nay 80

Thứ hai, Nhóm 2403: Lá thuốc lá đã chế biến và các chất thay thế lá thuốc lá đã chế biến khác; thuốc lá ―thuần nhất‖ hoặc thuốc lá ―hoàn nguyên‖; chiết xuất và tinh chất thuốc lá

Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập của nhóm 2403 là 100% 81 và Việt Nam không cam kết mức thuế suất cắt giảm 82 Từ năm 2008, Việt Nam

77 Thời hạn thực hiện (còn gọi là lộ trình thực hiện) quy định khoảng thời gian quá độ cho phép để Việt Nam thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu từ mức cam kết ràng buộc tại thời điểm gia nhập xuống đến mức cam kết ràng buộc cuối cùng

78 Mức thuế cam kết ràng buộc với WTO có thể hiểu là mức thuế trần tối đa Việt Nam có thể áp dụng trong Biểu thuế MFN kể từ khi cam kết WTO của Việt Nam có hiệu lực Có thể có sự khác nhau giữa mức thuế cam kết WTO và mức thuế MFN áp dụng, nhưng sẽ đảm bảo nguyên tắc: Mức thuế MFN không cao hơn (bằng hoặc thấp hơn) mức thuế cam kết WTO

79 Quyết định 106/2007/QĐ-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi, Chương 24

80 Thông tư 164/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế, Chương 24

81 Trừ một số loại tinh chất thuốc lá khác như Mannitol, D-Glucitol (sorbitol) và Glycerol có mức thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập tương ứng là 10% và 5%

82 Riêng loại tinh chất Mannitol có cam kết cắt giảm là 5% với thời gian thực hiện là năm 2010 đã cắt giảm thuế nhập khẩu đối với nhóm 2403 xuống mức 30% và không thay đổi trong suốt thời gian đó cho đến nay Vậy, với nhóm 2403, Việt Nam cũng đã hoàn thành cam kết mở cửa

Nhóm nguyên liệu thuốc lá vốn không thuộc trường hợp Việt Nam cấm nhập khẩu mà chỉ chịu sự quản lý về hạn ngạch và những điều kiện về thủ tục hành chính khi nhập khẩu Vì trên thực tế, nguồn nguyên liệu thuốc lá trong nước không đáp ứng được nhu cầu để sản xuất cho nhóm sản phẩm thuốc lá chất lượng cao để xuất khẩu 83 Với mức cắt giảm này sẽ tạo điều kiện cho các nguồn nguyên liệu thuốc lá nước ngoài có chất lượng cao nhập khẩu vào Việt Nam để sản xuất ra các sản phẩm thuốc lá để xuất khẩu có tính cạnh tranh trên thị trường nước ngoài ii) Đối với nhóm sản phẩm thuốc lá

Nhóm 2402: Xì gà, xì gà nén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, chế biến từ lá thuốc lá hoặc từ các chất thay thế thuốc lá

ĐÁNH GIÁ CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG THUỐC LÁ CỦA VIỆT NAM TRONG WTO SO VỚI MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI KHU VỰC

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w